Month: Tháng Mười 2018

Nước trời là của họ (01.11.2018 – Lễ Các thánh nam nữ)

Nước trời là của họ

(01.11.2018 – Lễ Các thánh nam nữ)

Lời Chúa: Mt 5, 1-12a

1 Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi.
Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.
2 Người mở miệng dạy họ rằng:
3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
4 Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

5 Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7 Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả,
bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.
12 Anh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Suy niệm:

Nếu chúng ta được lên trời để thăm các thánh,
hẳn chúng ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước sự đa dạng.
Các thánh không phải chỉ là những vị được tôn phong,
mà là tất cả những ai đang hưởng hạnh phúc trên trời.
Các thánh thật khác nhau về nhiều mặt:
giới tính, tuổi tác, màu da, tiếng nói, nghề nghiệp,
hoàn cảnh, thời đại, bậc sống, khả năng, tính tình…
Có người không biết viết như thánh nữ Catarina Siêna.
Có người đậu tiến sĩ triết hạng tối ưu như thánh Edith Stein.
Có người làm bao phép lạ phi thường như ngôn sứ Êlia.
Có người sống âm thầm như chị Têrêsa nhỏ.
Nói chung chẳng gì có thể ngăn cản chúng ta nên thánh,
vì Thiên Chúa muốn mọi người nên thánh chẳng trừ ai.

Các mối phúc là con đường nên thánh.
Con đường này chính Ðức Kitô đã đi và mời ta cùng đi.
Ngài mời ta có tâm hồn nghèo khó, hiền lành,
nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa,
có lòng khát khao sự công chính, chỉ mong làm trọn ý Ngài.
Trong tương quan với tha nhân, Ðức Kitô mời ta
có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác,
có tâm hồn trong sạch, nghĩa là sống ngay thẳng, chân thành,
có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội,
nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện từng người và mọi người.
Sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại.
Mỗi vị thánh đều sống nổi bật trong một số mối phúc.
Họ đã nếm phần nào hạnh phúc từ đời này
trước khi hưởng hạnh phúc trọn vẹn bền vững trên trời.

Chúng ta thường nghĩ nên thánh là chuyện cao siêu
dành cho một thiểu số hết sức đặc biệt.
Thật ra mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.
“Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời.”
Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn mọi sự thánh thiện.
Ngài mời chúng ta chia sẻ sự thánh thiện của Ngài.
Nên thánh là đáp trả lời mời đó.
Khi chiêm ngắm các thánh, ta có thể hiểu nên thánh là gì.
Nên thánh là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống,
là ra khỏi cái tôi hẹp hòi của mình
đẻ sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân.
Nên thánh là luôn lắng nghe tiếng Chúa
và trung thành đáp lại trong giây phút hiện tại.
Nên thánh là yêu mến cuộc sống mà Chúa tặng trao,
là để cho Chúa yêu mình, nắm tay mình,
dắt mình vào thế giới riêng tư của Chúa.
Nên thánh là thuộc trọn về Chúa và về anh em,
là để Chúa dần dần chiếm lấy mọi chỗ của đời mình.

Chúa mời tôi nên thánh với con người và hoàn cảnh riêng.
với sa ngã của quá khứ và mỏng giòn của hiện tại,
với cái dằm vẫn thường xuyên làm tôi nhức nhối.
Chúa muốn tôi nên thánh với mặt mạnh, mặt yếu của tôi.
Ước gì đời tôi vén mở một nét nào đó của Chúa.

Cầu nguyện:

Lạy Cha,
con phó mặc con cho Cha,
xin dùng con tùy sở thích Cha.

Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.
Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.

Miễn là ý Cha thực hiện nơi con
và nơi mọi loài Cha tạo dựng,
thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.

Con trao linh hồn con về tay Cha.
Con dâng linh hồn con cho Cha,
lạy Chúa Trời của con,
với tất cả tình yêu của lòng con,

Vì con yêu mến Cha,
vì lòng yêu mến
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,
không so đo,
với một lòng tin cậy vô biên,
vì Cha là Cha của con.

(Chân phước Charles de Foucauld)

  Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Chia sẽ bài viết này trên:

HÃY CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI QUÁ CỐ !

HÃY CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI QUÁ CỐ !

Ngày 25/6/1867, Don Bosco kể cho trẻ em giấc mơ sau đây:

“Chiều kia, trước khi đi ngủ, cha đang suy nghĩ về việc sau khi chết các Linh Hồn sẽ tồn tại thế nào, cha ngủ thiếp đi.

Bỗng nhiên một người xuất hiện trên đường, đứng lại gọi: “Xin cha đến coi linh hồn hữu thể thế nào sau khi chết”.

Nhanh như chớp, người đó và cha đến trước một lâu đài lớn. Qua các hành lang và cầu thang, cha đi từ phòng này sang phòng khác cho đến khi tới một phòng khách rộng lớn. Cha thấy một Giám Mục ngồi trên ghế bành, đang tiếp khách. Cha tiến lại gần để chào và nhận ra ngài: đó là Đức Cha… (Don Bosco nêu tên ngài) đã chết hai năm trước. Diện mạo ngài rạng rỡ và xinh đẹp.

Cuộc nói chuyện bắt đầu. Đức Giám Mục cho cha biết là ngài đã được cứu rỗi, nhưng chưa được xem thấy Chúa, do đó ngài cần được người ta cầu nguyện cho. Cha hỏi ngài:

–   Kính thưa Đức Cha, Đức Cha còn phải chờ bao lâu mới được lên Thiên Đàng?

–  Ngài không trả lời, nhưng đưa cho cha một tờ giấy được trang hoàng bằng những bông hoa xanh, đỏ, tím. Cha không đọc thấy một chữ nào trên đó. Cha ngạc nhiên nhìn vị Giám Mục. Ngài bảo:

–  Con hãy lật ngược tờ giấy lại. Cha lật ngược tờ giấy và đọc thấy ở đó con số 2. Đức Giám Mục tiếp: – Con thấy chứ, sự phán xét của Thiên Chúa hoàn toàn khác với sự phán xét của thế gian.

Khi ấy cha xin ngài vài lời khuyên để nói lại với các trẻ em của cha. Đức Giám Mục trả lời:

– Con hãy bảo chúng cứu lấy Linh Hồn, cái còn lại thì không đáng kể. Và để cứu Linh Hồn, cần phải sống tốt, vâng phục và trong sạch; phải xưng tội nên và năng rước lễ. Hãy khuyên chúng đừng để mình bị lầm lạc vì những quyến rũ giả trá của thế gian: tất cả là phù vân và cay đắng. Hãy bảo chúng vun trồng đức trong sạch, nhân đức sáng chói trên Thiên Đàng. Để vun trồng nhân đức này, phải cầu nguyện, vâng phục, tránh nhàn rỗi và biết xa lánh dịp tội.

Cha chào và vội vã trở về nhà để không quên mất một điều nào trong những lời khuyên tốt lành ấy. Nhưng rồi nhớ là còn phải hỏi vị Giám Mục những soi sáng khác, cha quay trở lại. Cha vẫn nhìn thấy ngài, nhưng trong một tình trạng đáng thương: ngài chịu đau khổ và hấp hối. Cha hỏi ngài:

–  Thưa Đức Cha, con có thể làm gì để thoa dịu nỗi đau của Đức Cha?

–  Xin con cầu nguyện và xin người khác cầu nguyện cho cha. Nói xong, ngài liền biến mất.

Đang khi mọi người vẫn giữ im lặng, Don Bosco thêm: “Khi ấy cha hiểu rất nhiều về Luyện Ngục mà trước đây cha chưa bao giờ hiểu: đó là cần phải cầu nguyện cho những người quá cố khốn khổ”.

Theo “Giáo dục theo gương Don Bosco”.

Chia sẽ bài viết này trên:

Nếu bạn nhận ra

Nếu bạn nhận ra

     Một ngày nọ, khi dừng chân bên giếng Giacóp vào lúc mặt trời đứng bóng, Chúa Giêsu đã gặp một người phụ nữ mang vò ra giếng kín nước. Đó là một phụ nữ Samari. Người Do Thái không bao giờ liên hệ hoặc kết thân với người Samari, vì mối hận thù truyền kiếp giữa hai dân tộc. Vậy mà Chúa Giêsu đã chủ động ngỏ lời xin chị cho nước uống. Trong cuộc trao đổi với người phụ nữ này, Chúa đã muốn chuyển tải cho chị giáo lý về Cha trên trời, giúp chị nhận ra đâu là sự thờ phượng đích thực. Người đã nói với chị: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban…” (x. Ga 5,7-42). Hôm nay, Chúa cũng đang nói với chúng ta những lời gợi mở ấy: “Nếu bạn nhận ra…”. Trong cuộc sống bon chen tính toán này, có biết bao điều tốt đẹp hữu ích thiết thực trong cuộc sống, nhưng chúng ta vô tình hay hữu ý không nhận ra. Có thể vì thế mà chúng ta vẫn nhìn đời với cái nhìn bi quan, tiêu cực. Có thể vì vậy mà chúng ta còn ngại dấn thân để đem niềm vui của Chúa đến cho cuộc đời.

Nếu bạn nhận ra những ân huệ Chúa ban! Người tín hữu xác tín rằng, tất cả những điều tốt lành đều bởi Chúa. Bởi lẽ Ngài là nguồn mạch của sự thánh thiện và là Đấng ban phát mọi ơn lành. Con người sống ở đời được bao bọc và ngập tràn trong ân sủng của Chúa. Ơn của Ngài như hơi thở, như sức sống. Thiếu vắng ơn Chúa, chúng ta sẽ lầm lạc, thậm chí trở về trống rỗng hư vô. Ơn lớn nhất Chúa ban cho chúng ta đó là làm người và hiện hữu trên trần gian. Cha mẹ sinh ra ta, nhưng Chúa dựng nên ta. Cha mẹ dưỡng nuôi ta, nhưng Chúa làm cho chúng ta khôn lớn trưởng thành. Chúa cũng ban cho chúng ta có gia đình, bạn hữu, nghề nghiệp và môi trường sống. Người có đức tin nhận ra mọi loài thụ tạo xung quanh được Chúa dựng nên để phục vụ con người, và giúp con người thăng tiến. Nhận ra ơn Chúa, chúng ta hãy cám ơn Ngài và sử dụng những ơn ấy một cách hữu hiệu, mang lại ích lợi cho bản thân và cho gia đình, xã hội.

Nếu bạn biết nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ là một tác phẩm tuyệt diệu của Thiên Chúa! “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm. Ngày qua mách bảo cho ngày tới, đêm này kể lại với đêm kia” (Tv 19,2-3). Như một họa sĩ tài ba để lại chữ ký của mình trên tác phẩm, Thiên Chúa cũng để lại dấu ấn của Ngài nơi vũ trụ. Khi chiêm ngắm vẻ huy hoàng của thiên nhiên, chúng ta nhận ra Đấng Sáng tạo đã khôn ngoan tài tình dựng nên những điều kỳ vĩ. Nhận ra vẻ đẹp của một bức tranh, chúng ta khen ngợi người họa sĩ đã vẽ nên bức tranh tuyệt tác đó. Cảm nhận sự tuần hoàn của thời tiết bốn mùa thay nhau đắp đổi, chúng ta thấy rõ bàn tay của Đấng toàn năng đã khôn ngoan sắp đặt. Như tác giả Thánh vịnh, chúng ta thốt lên: “Lạy Đức Chúa là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu! Uy phong Ngài vượt quá trời cao” (Tv 8,2).

Nếu bạn nhận ra Chúa Cha là Cha chung của mọi người! “Không có sự khác biệt giữa người Do Thái và người Hy Lạp, vì tất cả đều có cùng một Chúa, là Đấng quảng đại đối với tất cả những ai kêu cầu Người” (Rm 10,12). Chúa Giêsu đến trần gian để quy tụ mọi dân tộc, làm thành một gia đình. Gia đình này có Thiên Chúa là Cha. Người luôn quan tâm, bao bọc yêu thương con người. Người là Đấng sáng tạo vũ trụ trời đất và con người. Người luôn quan phòng gìn giữ công trình tạo dựng và làm cho công trình ấy phát triển tới tầm mức viên mãn. Dù con người phạm tội làm cho các loài thụ tạo bị ảnh hưởng nhơ uế, Thiên Chúa vẫn yêu thương và không bỏ rơi công trình sáng tạo của Ngài. Ngài sai Con Một xuống thế gian, cứu chữa những gì đã hư mất, khôi phục vẻ đẹp nguyên sinh thời ban đầu. Chúa Giêsu là Đấng Cứu chuộc con người. Máu của Người đổ ra trên thập giá, đã thanh tẩy loài người và cả công trình sáng tạo khỏi những vết nhơ của tội lỗi. Nhờ Đức Giêsu, trong Đức Giêsu và với Đức Giêsu, con người có thể thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”

Nếu bạn nhận ra mọi người là anh chị em! Con người sống trên đời không phải một thứ hàng hóa được đúc khuôn hàng loạt, nhưng mỗi người đều có sự khác biệt. Chính sự khác biệt này làm nên cuộc sống phong phú, sinh động. Thiên Chúa biết rõ những khác biệt ấy. Ngài biết rõ từng sợi tóc trên đầu mỗi người. Ngài thấu tỏ từng con chim hoang dại và chăm sóc mỗi bông hoa mong manh trước gió. Nếu mọi người mang những nét khác biệt, thì đó không phải là để gây mâu thuẫn, nhưng là để bổ túc tương trợ lẫn nhau. Người tin Chúa sẽ coi mọi người là anh chị em. Nhận ra mọi người đều cùng chung sứ mạng nên thánh, chúng ta sẽ dễ dàng cảm thông và nâng đỡ nhau trong cuộc đời. Những va chạm sẽ được giải quyết trong yêu thương. Những lỗi lầm sẽ được cảm thông tha thứ. Những niềm vui sẽ được chia sẻ. Những gánh nặng sẽ được đỡ nâng. Tình làng nghĩa xóm vốn được coi trọng trong truyền thống văn hóa Việt Nam “tắt lửa tối đèn có nhau”, nay được thấm nhuần tinh thần bác ái Phúc âm “yêu người như mình ta vậy”, càng trở nên thắm thiết đậm đà.

Nếu bạn nhận ra những niềm vui và hạnh phúc bình dị xung quanh mình! Cuộc sống ích kỷ nhiều khi làm ta quên mất những điều tốt đẹp nơi anh chị em mình. Quả thật, dù trong hoàn cảnh nào, tận thâm tâm con người vẫn còn những điểm sáng của lòng nhân ái. Cũng có thể do ta chưa nhìn thấy; cũng có khi do điểm sáng ấy chưa có cơ hội thể hiện. Mỗi người cần nhận ra những điều tốt đẹp nơi người bạn đời, nơi những người hàng xóm, nơi những đồng nghiệp. Chúng ta thường có khuynh hướng khai thác những khuyết điểm của người khác mà ít khi đề cập tới những điểm tốt nơi họ. Đó cũng là trào lưu và cách thức thông tin thời nay. Người ta thích đọc những tin giật gân, những nội dung phản ánh những điều tiêu cực trong cuộc sống. Ít khi người ta quan tâm đến những nét đẹp bình dị trong cuộc sống, như bác xích lô thực thà nhân hậu, anh xe ôm nghèo sẵn sàng trả lại tiền cho người đánh rơi; người mẹ nghèo kiên trì nhẫn nại chăm sóc chồng con bệnh tật. Những bạn trẻ tình nguyện tham gia những phong trào an toàn giao thông hoặc vì một thành phố xanh sạch đẹp. Đó là những điểm sáng trong cuộc đời, nhằm kết nối yêu thương và nhằm đem lại niềm vui hạnh phúc cho đồng loại.

Những suy tư trên đây đều khởi đầu bằng chữ “nếu”. Điều đó có nghĩa chúng còn là những ước mơ. Tuy vậy, đó không phải là những mơ mộng hão huyền, nhưng là những điều có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta thành tâm thiện chí. Hơn nữa, chúng ta còn có Chúa luôn đồng hành và phù giúp chúng ta. Người phụ nữ Samari đã nhận ra nơi Đức Giêsu là một vị ngôn sứ và là Đấng Thiên sai. Chị đã vượt qua thành kiến mặc cảm, để đón nhận giáo huấn của Chúa. Cuộc đời của chị đã rẽ sang một hướng mới. Chị không chỉ là một tín hữu, mà còn là một môn đệ nhiệt thành truyền giáo. Chị đã bỏ vò nước, chạy vào thành và nói với mọi người: hãy đến đây mà xem…(x. Ga 4,29).

Nếu bạn nhận ra Thiên Chúa là Cha yêu thương bạn, bạn cũng giống như người phụ nữ Samari, vừa cảm nhận sự ngọt ngào của đức tin, vừa được thôi thúc để làm chứng nhân đức tin trước mặt mọi người. Cuộc sống sẽ ngập tràn niềm vui. Thánh Phaolô quả quyết với chúng ta: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9).

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Chia sẽ bài viết này trên:

Có Chúa trong đời

Có Chúa trong đời

Cách nay vài thập kỷ, khi đề cập đến chính trị và tôn giáo, người ta thường tranh luận với nhau về hữu thần và vô thần. Những người vô thần thì cho rằng tôn giáo chỉ là nhất thời, tồn tại theo nhu cầu của một “bộ phận quần chúng”. Theo họ, tôn giáo sẽ biến mất khi khoa học kỹ thuật phát triển và đời sống kinh tế được cải thiện. Những người chủ trương hữu thần thì tìm mọi dẫn chứng để quả quyết Thượng Đế hiện hữu trong thiên nhiên vũ trụ và trong chính cuộc đời con người. Cuộc tranh luận giữa hữu thần và vô thần, dù uyên bác đến đâu, cũng không thể đi đến tận cùng, vì lý trí con người hữu hạn, không thể thấu đạt những lãnh vực siêu nhiên. Con người có thể “chạm tới” Thượng Đế, nhưng cũng phải khoanh tay bất lực khi muốn tìm hiểu về Ngài. Dù con người có tin hay không,  Ngài vẫn hiện hữu trong đời.

Thiên Chúa có hiện hữu không? Con người sau khi chết sẽ đi về đâu? Để trả lời cho những vấn nạn này, ông Blaise Pascal (1623 – 1662), một triết gia, nhà thần học và toán học người Pháp đã diễn tả đức tin như một “cuộc cá cược”. Người tham gia cá cược chấp nhận đem cả cuộc đời của mình cho sự may rủi. Khái niệm “cá cược” do chính tác giả đã sử dụng. Theo ông, tin và không tin có Chúa là hai lập trường song hành. Có thể Thiên Chúa hiện hữu và cũng có thể Ngài không hiện hữu. Nhưng nếu như Ngài hiện hữu thì sao? Vậy, giữa hai lập trường này, ông chấp nhận Thiên Chúa hiện hữu. Con người sinh ra rồi có lúc phải chết, vì cuộc đời này hữu hạn. Vào lúc cuối của cuộc đời, nếu Thiên Chúa hiện hữu, những ai tin vào Ngài sẽ có một chỗ trên thiên đàng. Nếu giả sử Thiên Chúa không hiện hữu, thì những ai tin vào Ngài cũng chẳng thiệt thòi mất mát gì. Hơn nữa, tin vào Thiên Chúa sẽ làm cho cuộc sống luân lý tốt lành hơn.

Trong Tin mừng, Chúa Giêsu đã mời gọi các tông đồ đi theo Người, không phải như một cuộc cá cược, nhưng một dấn thân với niềm xác tín tuyệt đối. Khi Phêrô hỏi: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”. Đức Giêsu đáp: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Mc 10,28-30). Môn đệ chân chính là người “liều lĩnh” đem cuộc đời mình để đánh một ván cờ mà kết quả không chỉ là 50/50, nhưng là ăn chắc 100%. Khi còn đang vá lưới tại bờ biển hồ Galilêa, Phêrô và những môn đệ đầu tiên đã dứt khoát bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu. Tiếng gọi “Hãy theo Ta” rất đơn sơ nhưng cũng rất huyền nhiệm. Tiếng gọi ấy có sức thu hút mạnh mẽ đối với các ông. Họ chấp nhận đánh đổi tất cả những người thân cùng với mọi tài sản mình có, để đi theo Đức Giêsu. Sau này, tuy có những lúc dao động và yếu đuối, các ông vẫn một niềm thành tín với Thày và làm chứng về Thày cho đến hơi thở cuối cùng.

Nếu cuộc cá cược của Blaise Pascal chỉ nhắm tới đáp số ở phút cuối cuộc đời, thì thực ra những ai theo Chúa sẽ được thưởng công ở đời này như Chúa Giêsu đã hứa trên đây. Quả vậy, đức tin khẳng định với chúng ta: những ai dấn thân theo Chúa được Ngài thưởng công. Có những phần thưởng chúng ta đón nhận hằng ngày mà chúng ta không nhận ra. Mỗi người trong chúng ta đã hơn một lần cảm nghiệm sự tốt lành Chúa ban cho mình khi mình thực thi giáo huấn của Chúa để chia sẻ giúp đỡ người bất hạnh, khi tha thứ cho người xúc phạm đến mình, và nhất là khi dấn thân cộng tác loan báo Tin mừng. Vào thời sơ khai của Giáo Hội, các tông đồ đã cảm nhận rõ có Chúa ở với các ông (x. Mc 16,20). Nhờ sự hiện diện kỳ diệu của Đấng Phục sinh mà các ông có thể làm được phép lạ. Do Chúa hiện diện và hoạt động cùng với các ông mà lời giảng dạy của các ông được đón nhận và sinh hoa kết trái. Nhiều người trong chúng ta vô tình, không nhận ra sự hiện diện của Chúa, và vì thế, đức tin và hành động nơi họ bị tách rời. Họ vẫn tuyên xưng đức tin, nhưng không sống theo đức tin. Vì không tin có Chúa hiện diện mọi nơi mọi lúc, nên nhiều người vẫn phạm tội và sống như thể không có Thiên Chúa. Thiếu niềm xác tín vào sự hiện diện của Thiên Chúa, con người dễ sa ngã và lạc đường.

Tin có Chúa hiện diện sẽ làm cho cuộc đời này có ý nghĩa.Tại một số quốc gia giàu có như Nhật Bản và Hàn Quốc, tỷ lệ người tự tử được cho là cao nhất thế giới. Một nguồn khảo sát của cơ quan y tế cho rằng mỗi năm Việt Nam có 36.000 đến 40.000 người tự tử, tức cao hơn 3-4 lần so với con số 10.000 đến 13.000 người tử vong vì tai nạn giao thông. Trong khi đó, Tổ chức Y tế thế giới cho biết mỗi năm có 1.000.000 người trên thế giới chết vì tự tử, trung bình cứ một phút lại có hai người chết. Dự báo đến năm 2020, số người tự tìm đến cái chết sẽ cao hàng đầu trong các loại tử vong (nguồn: Báo điện tử Tuổi trẻ, ngày 11-6-2016). Tại sao người ta tìm đến cái chết? Thưa, vì họ cảm thấy cuộc đời này trống rỗng vô nghĩa. Trong số những người tự tử, có những ngôi sao điện ảnh, người mẫu hoặc người giàu có thành đạt. Tuy vậy, sự nổi tiếng và thành đạt không làm họ hạnh phúc. Họ không tin vào tương lai. Họ cũng không còn hy vọng nơi những người thân và gia đình. Họ đã tìm đến cái chết như tự giải thoát khỏi nỗi khốn cùng bế tắc. Người tin vào Chúa, kể cả trong những lúc bi đát của cuộc đời, vẫn tin rằng có Chúa là nguồn nâng đỡ. Họ cũng tin rằng những khó khăn bế tắc chỉ là nhất thời, sẽ chóng qua. Đặc biệt, họ tin vào sự bất tử của linh hồn, vào hạnh phúc thiên đàng và hình phạt hỏa ngục. Những ai tin vào Chúa sẽ yêu mến cuộc đời này và nhìn nó với cái nhìn lạc quan hy vọng hơn. Bởi lẽ, chỉ có Chúa là Đấng có thể lấp đầy những khát vọng vô biên của con người.

Tin vào Chúa hiện diện, chúng ta sẽ thấy tâm hồn ấm áp, hết cô đơn. Bởi lẽ, chúng ta tin rằng, trong cuộc sống, dù không còn ai lắng nghe lời tâm sự của chúng ta, dù không còn nơi nào cho chúng ta tìm nơi nương ẩn vững chắc, thì vẫn còn có Chúa. Trong tâm tình tín thác, tác giả Thánh vịnh đã quả quyết: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27,10). Chính Thiên Chúa cũng cam đoan với chúng ta: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15). Dù cuộc đời còn nhiều sóng gió, nhưng những ai tin vào Chúa sẽ có sức mạnh để vượt lên những thử thách gian nan. Thiên Chúa là nơi náu ẩn cho những ai trông cậy Ngài, mặc dù đó là những tội nhân, vì lòng thương xót của Ngài thật bao la.  Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã đến trần gian này để chung chia phận người với chúng ta. Người không khước từ hoặc hủy bỏ thập giá, nhưng Người đã mang thập giá trên vai và đã chấp nhận chết treo trên thập giá. Thiên Chúa không hủy bỏ những thử thách cám dỗ trong cuộc đời con người, nhưng đã sai Con của Ngài đến trần gian để cùng vác thập giá với họ, để rồi những ai kiên nhẫn vác thập giá trên đường đời với tâm tình yêu mến và phó thác của Đức Giêsu, sẽ được Người nâng đỡ.

Sau cùng, tin vào Chúa sẽ giúp đời sống luân lý của chúng ta tốt hơn, vì chúng ta xác tín rằng Chúa biết hết mọi sự, kể cả tư tưởng thầm kín của con người. Một khi xác tín điều đó, chúng ta sẽ không còn dám làm điều khuất tất. Những hành động, lời nói cũng như tư tưởng của chúng ta sẽ thận trọng hơn, vì người ta có thể dối trá với con người, chứ không thể dối trá với Thiên Chúa. Trong xã hội của chúng ta hôm nay, sự dối trá ngày càng nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thiếu trung thực là người ta không tin vào Thượng Đế và các vị thần linh. Nhiều người chủ trương rằng cuộc sống con người chỉ thuần túy là vật chất. Họ quả quyết rằng chết là hết; các lễ nghi tín ngưỡng và cả tôn giáo cũng chỉ là những sinh hoạt văn hóa mà thôi. Không tin vào Thượng đế và thiếu lòng tín thác nơi Ngài, con người không thể tự hoàn thiện đời sống của mình trong tương quan đối xử với anh chị em.

Như người lữ khách đang miệt mài bước trên đường mà tin chắc có người thân đang đợi mình ở điểm đến, người Kitô hữu cũng tin chắc có Chúa đang đợi chúng ta ở cuối cuộc đời. Không chỉ chờ đợi chúng ta ở đoạn cuối đường đời, Chúa đang đi cùng với chúng ta trong mỗi bước đường, để rồi, nhờ có Chúa cùng đi, chúng ta sẽ ngập tràn hạnh phúc và nhận ra: có Chúa trong đời.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Chia sẽ bài viết này trên:

Hãy cầu nguyện

Hãy cầu nguyện

     Xem những tin tức thời sự trên truyền hình, chúng ta thường thấy tại một số nước Âu, Mỹ, khi có những biến cố xảy ra như tai nạn, hỏa hoạn, khủng bố, bắt cóc, người dân thường diễn tả sự chia sẻ cảm thông qua những khẩu hiệu hoặc băng-rôn với dòng chữ: “Hãy cầu nguyện cho…- Pray for…”. Có thể nhiều người trong số này chưa có tâm tình cầu nguyện đích thực, nhưng một điều chắc chắn là, ngoài việc mong đợi những trợ giúp trần thế, họ tin vào ơn phù trợ của Đấng quyền năng cao cả là Thiên Chúa. Họ cũng xác tín rằng, nguồn trợ lực thiêng liêng rất cần thiết cho những nạn nhân và gia đình của họ. Lời cầu nguyện vừa nhằm mục đích đem lại sự nâng đỡ cho những người bị nạn, vừa giúp những người có liên quan bao dung quảng đại, tránh giải quyết xung đột bằng báo oán hận thù.

“Hãy cầu nguyện”, lời khuyên xem ra nhàm chán và vô nghĩa đối với một số người, nhưng lại vô cùng quan trọng với người tín hữu. Bởi lẽ cầu nguyện là hơi thở của tâm hồn. Cầu nguyện giúp ta lắng đọng nội tâm, trở về với Chúa và với chính mình. Đã có biết bao châm ngôn về lời cầu nguyện. Những châm ngôn này là kết quả đúc kết từ cuộc sống thực tế, như những chứng từ hùng hồn về hiệu quả của lời cầu nguyện và về ơn phù trợ của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn lắng nghe những tâm tư ước nguyện của con người. Ngài đồng hành với họ trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Lời cầu nguyện chứng tỏ ta tin vào sự hiện diện quan phòng đầy yêu thương ấy.

“Hãy cầu nguyện”, vì cầu nguyện làm nên ý nghĩa của đời sống Kitô hữu. Cầu nguyện là minh chứng của mối tương giao giữa ta với Chúa. Không cầu nguyện, mối tương giao ấy bị gián đoạn, và vì thế đời sống đức tin trở thành vô nghĩa. Đời sống tín hữu không cầu nguyện sẽ như một thứ hàng giả hiệu, chỉ có vỏ bọc bề ngoài mà không có chất lượng.

“Hãy cầu nguyện”, vì lời cầu nguyện soi sáng cho chúng ta cách đối nhân xử thế. Trước một tình huống cam go phức tạp, lời cầu nguyện sẽ giúp ta tìm được ơn khôn ngoan, sự sáng suốt và quân bình. Có những người vốn hiền lành, bỗng dưng trở thành sát nhân, chỉ vì một chút nông nổi vội vàng. Cầu nguyện đem lại cho chúng ta sự bình tâm, tự chủ, nhờ đó cách ứng xử của ta sẽ công minh và hiệu quả hơn.

“Hãy cầu nguyện” để đem lại thế quân bình trong cuộc sống. Cuộc sống hằng ngày cần có “tĩnh” và “động”. Hai trạng thái này cần phải được chú trọng ngang nhau. Những lúc “tĩnh”, chúng ta hồi tâm để tâm sự với Chúa, cảm ơn Ngài về những điều thiện hảo Ngài ban tặng. Đó cũng là lúc ta cảm nhận hạnh phúc đang có xung quanh, để trân trọng những giá trị của cuộc sống. Những ai chỉ có những hoạt động ồn ào bên ngoài, sẽ tạo nên hạnh phúc giả tạo nhất thời và chỉ chạy theo những giá trị chóng qua.

“Hãy cầu nguyện” để hàn gắn những rạn nứt và đổ vỡ trong mối tương giao bằng hữu và gia đình. Tâm lý tự nhiên làm cho con người dễ coi mình là trung tâm vũ trụ, độc đoán coi mình là chuẩn mực cho người khác. Được soi sáng bởi Lời Chúa, những phút giây chìm đắm trong suy tư cầu nguyện sẽ giúp chúng ta khiêm tốn hơn. Khiêm tốn để nhận ra điều tốt nơi những thành viên trong cùng một gia đình. Khiêm tốn cũng giúp chúng ta nhận ra những bất toàn trong cách ứng xử, để rồi chân thành hòa giải và nối lại mối thân tình với những người xung quanh.

“Hãy cầu nguyện” khi gặp niềm vui trong cuộc sống, để khẳng định rằng đó là những ơn huệ Chúa ban. Thông thường, người ta chạy đến với Chúa, với Đức Mẹ và các thánh khi gặp gian nan. Ít có người nghĩ đến việc cảm tạ Chúa khi gặp những điều tốt lành. Câu chuyện mười người phong cùi trong Phúc âm đã phản ánh điều đó. Sau khi được chữa lành, chỉ có một người trở lại tạ ơn Chúa, còn chín người kia không trở lại (x. Lc 17,11-19). Tâm tình tạ ơn khi gặp điều tốt lành, vừa là bổn phận theo lẽ công bằng, vừa là lý do để chúng ta tiếp tục xin Chúa ban ơn trợ giúp.

“Hãy cầu nguyện” để bền chí trong lý tưởng. Kinh nghiệm cho thấy, một số linh mục hoặc tu sĩ bất trung với lý tưởng tu trì, đều khởi đi bằng lối sống coi nhẹ cầu nguyện, sao lãng đời sống thiêng liêng. Thật vậy, thiếu lời cầu nguyện, đời sống linh mục sẽ trở nên vô nghĩa. Họ sẽ bị cám dỗ so bì với những bậc sống ngoài đời, và cảm thấy theo Chúa gây nên những thiệt thòi, mất mát. Thiếu đời sống cầu nguyện, đời tu trở nên đơn điệu, nhàm chán nặng nề. Họ làm việc bổn phận như một cái máy, thiếu niềm vui và ngại dấn thân phục vụ. Lời cầu nguyện làm nên sự phong phú đời tu, đem lại cho tu sĩ niềm vui thiêng liêng, trung thành với lý tưởng.

“Hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Lc 22,46). Chúa Giêsu đã dặn dò các môn đệ, vì Người biết rõ những khó khăn nguy hiểm đang rình rập xung quanh. Chính Chúa Giêsu cũng đã chịu cám dỗ trong hoang địa. Người đã dùng lời Chúa và tâm tình cầu nguyện để chiến thắng mưu thâm chước độc của ma quỷ. Trong Vườn Cây Dầu, Chúa cũng đã phải trải qua thử thách đầu hàng và bỏ cuộc. Để vượt lên những thử thách đó, Chúa Giêsu đã đặt ý Chúa Cha như một mối ưu tiên hàng đầu. Người đã cầu nguyện “Xin đừng theo ý con, một theo ý Cha”. Lời cầu nguyện đã ban cho Người sức mạnh để đi đến cùng của sứ mạng thiên sai.

Đâu là cách thức cầu nguyện đẹp lòng Chúa? Chính Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng và hướng dẫn chúng ta trong nội dung và cách thức cầu nguyện (x. Rm 8,14-17). Lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa luôn phải là tâm tình ca tụng, tạ ơn trước hết, rồi xin ơn lành hồn xác. Lời cầu nguyện cũng phải hướng về tha nhân với tâm tình bác ái hiền hòa để cộng tác xây dựng Nước Chúa nơi trần gian.

Nhiều người viện cớ cuộc sống bận rộn không có thời gian cầu nguyện. Lý do là vì họ chưa có một khái niệm đầy đủ và chính xác về lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện là tâm tình của mỗi người chúng ta đối với Chúa. Vì thế, tâm tình này có thể được thực hiện bất cứ nơi đâu, bất kỳ lúc nào và hoàn cảnh nào. Chúa hiện diện mọi nơi. Ngài luôn lắng tai nghe lời cầu nguyện của chúng ta. Cầu nguyện không chỉ dừng lại ở những công thức mà chúng ta quen gọi là các kinh đọc trong sách cầu nguyện, mà còn là những tâm tình tự phát bộc bạch nỗi niềm trước nhan Chúa, như tâm tình của người con, thỏ thẻ với cha mẹ những khi vui buồn.

“Hãy cầu nguyện”. Ước chi đó là tâm tình của mỗi chúng ta khi gặp gian nan trong cuộc đời. Đó là cách thức thể hiện niềm tin nơi Thượng Đế. Đó cũng là niềm ước mong thế giới này sẽ tốt đẹp và nhân ái hơn, bạo lực sẽ bị loại trừ và tình tương thân tương ái sẽ chan hòa cuộc sống.

 

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
Chia sẽ bài viết này trên:

ĐOÀN THIẾU NHI THÁNH THỂ

ĐOÀN THIẾU NHI THÁNH THỂ

I. Nguồn gốc và danh xưng :

Năm 1865, từ Hội Tông Đồ Cầu Nguyện, hai linh mục Léonard Cross và Ramadiere đã quy tụ các em thiếu nhi thành một đoàn thể có tổ chức và mệnh danh là Đạo Quân riêng của Đức Giáo Hoàng với mục đích bảo vệ tâm hồn các em khỏi bị cuốn theo phong trào tục hoá đang lan tràn trong các trường học Công Giáo Pháp lúc bấy giờ.

Năm 1910, qua sắc lệnh Quam Singulari, Đức Giáo Hoàng Pi-ô X mong muốn và cổ võ các thiếu nhi được rước lễ sớm, phong trào Nghĩa Binh Thánh Thể được chính thức thành lập tại Pháp năm 1917 do một cha Dòng Tên là Besssiere. Phong Trào trực thuộc Hội Tông Đồ Cầu Nguyện.

Năm 1929, nhìn thấy kết quả giáo dục thiếu nhi do Phong trào Nghĩa Binh Thánh Thể tại Pháp, hai linh mục Dòng Xuân Bích đã đem Phong trào Nghĩa Binh Thánh Thể vào Việt Nam và thành lập đoàn đầu tiên tại Hà Nội và tiếp tục tại các thành phố khác tại Việt Nam : Huế, Sài Gòn (1931) ; Phát Diệm và Thanh Hoá (1932) ; Vinh và Vĩnh Long (1935); Quy Nhơn (1936) ; Thái Bình và Bùi Chu (1937) ; Mỹ Tho – Xuân Lộc – Phú Cường (1951).

Năm 1954, do biến cố di cư, gần một triệu đồng bào Công Giáo từ các Giáo Phận miền Bắc vào Nam, mang theo cả Phong trào Nghĩa Binh Thánh Thể, và tiếp tục phát triển mạnh tại đây.

Năm 1957, Hội đồng Giám Mục Việt Nam bổ nhiệm cha Micael Nguyễn Khắc Ngữ làm Tổng Tuyên Uý đầu tiên của Phong trào nghĩa Binh Thánh Thể.

Năm 1965, Bản Nội Quy Thống Nhất được ban hành, theo đó, Nghĩa Binh Thánh Thể được đổi thành PHONG TRÀO THIẾU NHI THÁNH THỂ VIỆT NAM.

II. Tại Giáo Xứ :

Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể của Giáo Xứ An Phú được thành lập từ năm 1968 do Cha cố Mát-thêu Phạm Công Ngơi làm Linh Hướng.

Thời kỳ đầu là các lớp giáo lý thiếu nhi sau phát triển thành Đoàn Thiếu Nhi sinh hoạt theo phong trào TNTT lúc bấy giờ.

Sau 30/04/1975, mặc dù phong trào TNTT-VN gặp nhiều khó khăn, nhưng được sự quan tâm và dìu dắt của Cha chánh xứ Mát-thêu cũng như Cha phó Giu-se Nguyễn Duy Diễm, Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể vẫn được duy trì một cách âm thầm.

Năm 1981, Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể được tái hoạt động theo nghi thức của PT-TNTT-VN (có các anh chị Huynh Trưởng, Tông Đồ Đội Trưởng, các em đeo khăn quàng, phương pháp hàng-đội, sinh hoạt dã ngoại, đi trại hè,…).

Từ 1981 đến 2003, Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể lấy bổn mạng của Giáo Xứ làm bổn mạng của mình với tên gọi là Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể – Xứ Đoàn Đức Ki-tô Mục Tử , do Cha chánh xứ Giu-se Nguyễn Duy Diễm làm Linh Hướng, đã phát triển một cách tốt đẹp và đã tạo nhiều hoạt động cho các em thiếu nhi trong Giáo Xứ.

Từ năm 2003 đến nay, Giáo Xứ có Cha chánh xứ mới là Cha Phê-rô Lê Hoàng Chương, một vị chủ chăn trung niên nhưng đầy nhiệt huyết, với tấm lòng yêu mến thiếu nhi, đã kế thừa và tiếp tục hướng dẫn Xứ Đoàn Đức Ki-tô Mục Tử phát triển theo con đường Chúa Ki-tô đã trao phó. Ngày 26/6/2015 Giáo xứ đón cha Tân Chánh Xứ Giuse Đinh Đức Hậu. Cha sẽ tiếp tục là cha linh hướng của Xứ Đoàn TNTT An Phú.

Hiện nay (2011), Xứ Đoàn Đức Ki-tô Mục Tử có khoảng 260 em thiếu nhi và 36 anh, chị Huynh Trưởng , Giáo Lý Viên và Tông Đồ Đội Trưởng.

Xứ Đoàn được tổ chức thành 3 Ngành theo PT-TNTT-VN : Ấu Nhi – Thiếu Nhi – Nghĩa Sĩ.

Chia thành 10 lớp giáo lý :

Ngành Ấu Nhi (đeo khăn xanh lá mạ) : Khai tâm 1 ; Khai tâm 2 ; Rước lễ 1 ; Rước lễ 2.

Ngành Thiếu Nhi (đeo khăn xanh dương) : Thêm Sức 1 ; Thêm Sức 2 ; Thêm Sức 3.

+ Ngành Nghĩa Sĩ (đeo khăn vàng) : Bao Đồng 1 ; Bao Đồng 2 ; Bao Đồng 3.

+ Lớp Dự bị Tông Đồ Đội Trưởng (dành cho các em 16-17t).


♦ Sơ đồ tổ chức 



Ngoài ra, còn có Ca đoàn Thiếu Nhi – Các Thiên Thần, với thành viên là các em thiếu nhi trong 3 ngành Ấu – Thiếu  – Nghĩa, phục vụ cho các thánh lễ của thiếu nhi.

Ban lễ sinh, do 1 số anh Huynh Trưởng – GLV và các em thiếu nhi nam phụ trách, phục vụ giúp lễ cho các thánh lễ thường nhật của Giáo Xứ.

Xứ Đoàn có nhiều hoạt động, sinh hoạt trong năm dành cho các em thiếu nhi :

+ Khai giảng năm học giáo lý. (tháng 9 hằng năm)

+ Tết trung thu. (tháng 09 hoặc 10 hằng năm)

+ Giáng Sinh. (tháng 12 hằng năm)

+ Tết Âm Lịch. (tháng 1 hoặc tháng 2 hằng năm)

+ Bổn Mạng Đoàn : “Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô” (tháng 5 hoặc tháng 6 hằng năm)

+ Trại hè truyền thống ( tháng 7 hằng năm)

+ Và các sinh hoạt ngoại khóa khác.

III. Các anh / chị Xứ Đoàn Trưởng qua các thời kỳ :

+ Từ năm 1968 :

  • Ông Lu-ca Nguyễn Văn Kính († c )

+ Từ năm 1981-1990 :

  • Chú Phao-lô Nguyễn Văn Quý († c )

+ Từ năm 1990 :

  • Chị Ca-ta-ri-na Nguyễn Thị Thu Huyền.

+ Từ năm 1996 – 2001 :

  • Anh An-tôn Nguyễn Sơn Tùng.

+ Từ năm 2001-09/2004 :

  • Anh Giu-se Vũ Trần Xuân Hiến. (hiện đang định cư tại Hoa Kỳ)

+ Từ tháng 09/2004 đến 08/2006 :

  • Đoàn trưởng: Anh Gia-cô-bê Nguyễn Duy Tường Hưng.
  • Phó ngoại vụ: Anh Anphongso Maria Nguyễn Tiến Thịnh.
  • Phó nội vụ: Anh Don Bosco Đào Trọng Ninh.
  • Thư ký: Anh Giu-se Trần Nguyễn Hoàng Hiệp.
  • Thủ quỹ: Chị Maria Bùi Ngọc Hồng.

+ Từ tháng 09/2006 đến 08/2008 :

  • Đoàn trưởng: Anh Gia-cô-bê Nguyễn Duy Tường Hưng.
  • Phó ngoại vụ: Anh Anphongso Maria Nguyễn Tiến Thịnh.
  • Phó nội vụ: Anh Don Bosco Đào Trọng Ninh.
  • Thư ký: Chị Ma-ri-a Lâm Ngọc Châu.
  • Thủ quỹ: Chị Maria Bùi Ngọc Hồng.

+ Từ tháng 09/2008 đến 08/2011 :

  • Đoàn trưởng: Anh Gia-cô-bê Nguyễn Duy Tường Hưng.
  • Đoàn phó: Anh Don Bosco Đào Trọng Ninh.
  • Thư ký kiêm Thủ quỹ: Chị Maria Bùi Ngọc Hồng

+ Từ tháng 09/2011đến nay

  • Đoàn trưởng: Anh Gia-cô-bê Nguyễn Duy Tường Hưng.
  • Đoàn phó: Anh Don Bosco Đào Trọng Ninh.
  • Thư ký kiêm Thủ quỹ: Chị Maria Nguyễn Thị Thanh Diệu.

 

An Phú, ngày 28 tháng 9 năm 2015

Xứ Đoàn Trưởng

Gia-cô-bê Nguyễn Duy Tường Hưng

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Thánh Cha Phanxicô: Hãy lên án chính mình, đừng lên án người khác

Đức Thánh Cha Phanxicô: Hãy lên án chính mình, đừng lên án người khác

Ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là đồ “trang sức”, nhưng nó mang lại sự biến đổi. Để nhận được ơn cứu độ, ta phải chân nhận mình là tội nhân, nghĩa là biết tự lên án chính mình, chứ không phải lên án người khác. Đức Thánh Cha đã nói như thế trong thánh lễ tại nhà nguyện Marta sáng ngày 06.9.2018.

Trong đoạn Tin Mừng thánh Luca (Lc 5,1-11), Chúa Giêsu hỏi Phêrô để Ngài có thể lên thuyền của ông và giảng dạy cho dân chúng. Sau đó, Ngài mời gọi ông thả lưới và thu được một mẻ cá lạ lùng. Trình thuật này làm ta nhớ lại một mẻ cá lạ khác trong biến cố hậu Phục sinh. Khi ấy, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ xem họ có gì để ăn không. Trong cả hai trường hợp này, ta đều thấy Phêrô được tấn phong: lúc đầu là kẻ đánh lưới người ta, và sau đó là một mục tử, một vị chủ chăn. Chúa Giêsu đã đổi tên của ông, từ Simon thành Phêrô, và như là một người Israel tốt lành, Phêrô hiểu rằng việc thay đổi tên nghĩa là thay đổi sứ vụ. Phêrô “đã cảm thấy tự hào bởi vì ông thực sự yêu mến Chúa Giêsu” và mẻ lưới lạ lùng này cho thấy một bước tiến trong cuộc đời ông.

Hành trình thứ nhất: nhận ra chính mình là những tội nhân

Sau khi nhận thấy lưới sắp rách vì quá nhiều cá, ông đã quỳ xuống dưới chân Chúa Giêsu và nói rằng: Thưa Thầy, xin rời xa con, vì con là kẻ có tội”.

Việc thú nhận chính mình là kẻ có tội chính là một bước tiến quyết trên con đường trở thành môn đệ Chúa Giêsu của Phêrô. Bước đầu tiên này của Phêrô cũng là bước đầu tiên của mỗi người chúng ta, nếu ta muốn đi vào đời sống thiêng liêng, đi vào đời sống của Chúa Giêsu, để phục vụ Người, để theo Người. Tự thú nhận mình là điều cần thiết. Nếu không biết tự lên án mình, ta không thể bước vào đời sống của người Kitô hữu.

Ơn cứu độ của Chúa Giêsu không phải là đồ trang sức nhưng mang lại sự biến đổi

Tuy nhiên, có một nguy cơ ở đây. Tất cả đều “nhận mình là kẻ có tội” nhưng “không dễ” thú nhận mình là những tội nhân cách cụ thể. Chúng ta thường quen miệng nói rằng “con là kẻ có tội”, nhưng cũng cùng một cách như thế, ta nói rằng “con là con người” hoặc “con là công dân Ý”. Tự thú nhận thì phải cảm nhận được sự đau xót nơi chính mình: cảm thấy sự đáng thương, nghèo nàn của mình trước mặt Thiên Chúa. Đó cũng chính là việc cảm thấy hổ thẹn. Và (đôi khi) điều này cần phải được thực hiện bằng con tim, chứ không phải bằng lời nói. Nghĩa là, ta cần phải kinh nghiệm cách cụ thể như Phêrô: ông đã xin Chúa Giêsu tránh xa mình vì mình tội lỗi. Phêrô thực sự nhận thấy mình là kẻ có tội và rồi ông đã được cứu. Ơn cứu độ mà Chúa Giêsu mang lại cho ta cần một sự xưng thú chân thành vì “nó không phải là một thứ trang sức, thứ làm đẹp,” thứ chỉ làm thay đổi khuôn mặt với “hai cái quẹt”; nhưng ơn cứu độ biến đổi ta, vì khi bạn bước vào đó, bạn phải dành chỗ cho nó bằng sự xưng thú chân thành về chính những tội lỗi của mình. Và từ ấy, ta kinh nghiệm được sự ngạc nhiên như Phêrô.

Đừng nói về những người khác

Tóm lại, hành trình đầu tiên trong cuộc hoán cải là tự lên án, tự thú nhận chính mình với sự xấu hổ và cảm thấy sự ngạc nhiên vì mình được cứu. Ta cần phải hoán cải, ta cần phải sám hối. Có những người thường thích nói về người khác, lên án người khác, và không bao giờ suy nghĩ về chính họ. Rồi khi đến tòa giải tội, người ấy xưng tội thế nào? Như một con vẹt? “Bla, bla, bla … Con đã làm thế này, thế kia…” Nhưng liệu điều bạn đã làm có đụng chạm đến bạn, đến con tim? Và trong nhiều lần, thì không. Bạn đến đó để xức mỹ phẩm, để trang điểm, để trông đẹp hơn khi ra về. Nhưng việc này không hề đi vào con tim của bạn, vì bạn không cho nó không gian, vì bạn không để cho mình tự lên án chính mình.

Ân sủng của việc nhận thấy mình là tội nhân thực sự

Vì vậy, hành trình đầu tiên là một ân sủng: đó là mỗi người hãy học cách tự lên án chính mình chứ không phải lên án người khác.

Một dấu chỉ cho thấy một người không biết, hay một Kitô hữu, không biết cách tự lên án chính mình là khi người ấy hay cố cáo người khác, xía mũi vào chuyện của người khác. Đó là một dấu hiệu xấu. Tôi có đang làm điều này không? Đó là một câu hỏi tốt và cần thiết để đi vào con tim của ta. Ngày hôm nay, chúng ta xin Chúa ân sủng, ân sủng để gặp gỡ chính mình trong ánh nhìn của Ngài, với sự ngạc nhiên rằng ngài đang hiện diện, và ân sủng để nhận thấy mình là những tội nhân, nhưng một cách cụ thể và để nói như Phêrô: “xin tránh xa con vì con là kẻ có tội.”

Trần Đỉnh, SJ – Vatican

Chia sẽ bài viết này trên:

ĐTC Phanxicô: Chúa nhật là ngày nghỉ để chiêm niệm, tạ ơn Chúa

ĐTC Phanxicô: Chúa nhật là ngày nghỉ để chiêm niệm, tạ ơn Chúa

Đối với các Kitô hữu, ngày Chúa nhật, ngày lễ nghỉ, là thời điểm để chiêm ngưỡng và chúc tụng, là ngày để cảm tạ Thiên Chúa vì sự sống, vì lòng thương xót, vì tất cả các ơn Chúa ban. Trung tâm ngày của Chúa là Thánh Thể có nghĩa là “tạ ơn”.

Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 05/09/2018, ĐTC Phanxicô tiếp tục loạt bài giáo lý về Mười Điều Răn. Ngài đã quảng diễn ý nghĩa giới răn về ngày nghỉ ngơi, như viết trong chương 20 sách Xuất Hành: “Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính Giavê, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Giavê đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Giavê đã chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh.” (Xh 20,8-11).

Kỹ nghệ giải trí không tạo nên sự nghỉ ngơi thật sự

ĐTC nói: cuộc du hành qua Mười Lời hôm nay đưa chúng ta tới điều răn về ngày nghỉ. Xem ra là một điều răn dễ thực hành, nhưng đó là một cảm tưởng sai lầm. Thật thế, nghỉ ngơi không đơn sơ, bởi vì có sự nghỉ ngơi giả tạo và sự nghỉ ngơi đích thật. ĐTC giải thích: Xã hội ngày nay khát khao giải trí và nghỉ hè. Kỹ nghệ giải trí rất phát triển, và quảng cáo vẽ ra thế giới lý tưởng như một công viên giải trí, nơi mọi người vui chơi. Ý niệm cuộc sống thống trị ngày nay không có trọng tâm nơi sinh hoạt và dấn thân, nhưng trong việc trốn thoát. Kiếm tiền để vui chơi, để thỏa mãn. Hình ảnh kiểu mẫu là hình ảnh của một người thành công, có thể cho phép mình có các khoảng không vui thú rộng rãi khác nhau. Nhưng tâm thức này làm cho người ta trượt vào tình trạng không thỏa mãn về một cuộc sống bị giải trí đánh thuốc mê, không phải là nghỉ ngơi, nhưng là tha hóa và trốn chạy thực tại. Con người chưa bao giờ nghỉ ngơi nhiều như ngày nay, nhưng nó đã không bao giờ sống kinh nghiệm sự trống rỗng quá chừng như ngày nay. Các phương tiện giải trí, đi ra ngoài, các du thuyền, các chuyến du lịch, biết bao nhiêu điều không trao ban cho bạn sự tràn đầy của con tim. Trái lại, chúng không cho bạn sự nghỉ ngơi.

Ngày Chúa nhật là ngày của việc chiêm ngưỡng và chúc lành, sống trong an bình với cuộc sống

Các lời của Mười Điều Răn kiếm tìm ra trọng tâm của vấn đề, bằng cách rọi một ánh sáng khác cho biết sự nghỉ ngơi là gì. Giới răn có một yếu tố đặc thù: nó cung cấp một lý do. Nghỉ ngơi nhân danh Chúa có một lý do chính xác: “Vì trong sáu ngày, Giavê đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Giavê đã chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh.” (Xh 20,11). Điều này quy chiếu sự kết thúc việc tạo dựng, khi Thiên Chúa nói: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31). Và khi đó bắt đầu ngày nghỉ, là niềm vui của Thiên Chúa đối với những gì Ngài đã tạo dựng. Đó là ngày của việc chiêm ngưỡng và chúc lành.

Như vậy, nghỉ ngơi theo điều răn này là gì? Nó là lúc của việc chiêm niệm, là lúc của việc chúc tụng, chứ không phải của việc trốn thoát. Đó là thời gian để nhìn thực tại và nói: cuộc sống đẹp biết bao! Chống lại sự nghỉ ngơi như là trốn chạy thực tại, Mười Điều Răn đưa ra sự nghỉ ngơi như là việc chúc lành cho thực tại. Đối với chúng ta là các Kitô hữu, trung tâm ngày của Chúa, ngày Chúa nhật, là Thánh Thể, Eucaristia có nghĩa là “tạ ơn”. Đó là ngày để nói lên với Thiên Chúa: con cảm tạ Chúa vì sự sống, vì lòng thương xót, vì tất cả mọi ơn Chúa ban cho con. Chúa nhật không phải là ngày để xóa bỏ các ngày khác, nhưng là để nhớ đến chúng, chúc lành cho chúng và làm hòa với sự sống. Có biết bao người có điều kiện giải trí, nhưng không sống trong an bình với cuộc sống! Ngày Chúa nhật là ngày để làm hòa với cuộc sống bằng cách nói: cuộc sống quý báu; nó không dễ dàng, đôi khi nó đau đớn, nhưng quý báu.

Bình an không phải là điều được áp đặt nhưng là một chọn lựa

Được dẫn đưa vào sự nghỉ ngơi đích thật là một công trình của Thiên Chúa nơi chúng ta, nhưng nó đòi hỏi tránh xa sự chúc dữ và sức hấp dẫn của nó (x. EG, 83). Thật ra, bắt buộc con tim chịu sự bất hạnh, bằng cách nhấn mạnh các lý do của sự không hài lòng, thì rất dễ. Việc chúc phúc và niềm vui bao gồm một cởi mở cho sự thiện, là một chuyển động của con tim. Sự thiện thì dễ thương và không bao giờ áp đặt. Nó được lựa chọn.

Hòa bình được lựa chọn, chứ không thể áp đặt và không được tìm thấy một cách tình cờ. Khi rời xa các nếp gấp cay đắng của con tim mình, con người cần làm hòa với điều nó chạy trốn. Cần hòa giải với lịch sử của chính mình, với các sự kiện mà chúng ta không chấp nhận, với các phần khó khăn của cuộc sống. Tôi xin hỏi anh chị em: mỗi người đã hòa giải với lịch sử của riêng mình hay chưa? Đây là một câu hỏi giúp suy tư: Tôi đã hòa giải với lịch sử của tôi chưa?

Hòa bình đích thực, thật ra, không phải là thay đổi lịch sử của mình, nhưng là đón nhận nó và trao ban giá trị cho nó, như nó xảy ra.

Có biết bao nhiêu lần chúng ta đã gặp các Kitô hữu đã an ủi chúng ta với một sự thanh thản không tìm thấy nơi những kẻ vui chơi và những người sống hưởng lạc. Và chúng ta đã thấy những người khiêm tốn nghèo nàn vui sướng vì các ơn bé nhỏ với một hạnh phúc vĩnh cửu.

 “Chỉ trong Thiên Chúa linh hồn tôi mới an nghỉ”

Chúa phán trong sách Đệ Nhị Luật: “Hôm nay, tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh (em): tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn sống để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống” (Đnl 30,19). Sự lựa chọn này là tiếng “fiat” xin vâng của Đức Trinh Nữ Maria, là một rộng mở cho Chúa Thánh Thần, làm cho chúng ta bước theo dấu vết của Chúa Kitô, Đấng đã phó mình cho Thiên Chúa Cha trong lúc thê thảm nhất, và như thế dẫn vào con đường đưa tới sự phục sinh.

Vậy khi nào cuộc sống trở thành xinh đẹp? Khi người ta bắt đầu nghĩ tốt về nó, dù cho lịch sử của chúng ta có là gì đi nữa. Khi ơn của một nghi ngờ mở đường: ơn biết rằng tất cả là ơn thánh, và tư tưởng thánh thiện đập bể bức tường nội tâm của sự không thỏa mãn, bằng cách khai mào sự nghỉ ngơi đích thực. Cuộc sống đẹp khi ta mở con tim cho Chúa Quan Phòng; và ta khám phá ra điều Thánh Vịnh nói là thật: “Chỉ trong Thiên Chúa linh hồn con mới nghỉ yên” (Tv 62,2). Câu này của Thánh Vịnh thật là đẹp: “Chỉ trong Thiên Chúa linh hồn tôi mới an nghỉ”.

Linh Tiến Khải – Vatican

Chia sẽ bài viết này trên:

Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? (22.10.2018 Thứ Hai 29 TN)

Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?

(22.10.2018 Thứ Hai 29 TN)

Tin Mừng: Lc 12,13-21

Khi ấy, có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi.” Người đáp : “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh ?” Và Người nói với họ : “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.”

Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này : “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng : ‘Mình phải làm gì đây ? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa mầu !’ Rồi ông ta tự bảo : ‘Mình sẽ làm thế này : phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng : hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !’ Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta : ‘Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?’ Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.”

 

Suy Niệm

Cái kho là quan trọng.

Kho bạc quan trọng đối với một đất nước.

Kho lẫm cần cho người làm nghề nông.

Mỗi gia đình, mỗi công ty thường có kho riêng.

Có thể là một tủ sắt để trong nhà hay ở ngân hàng.

Mọi lợi nhuận đều thu vào kho.

Ai cũng muốn cho kho của mình bành trướng.

 

Sau một vụ mùa bội thu,

mối bận tâm lớn nhất của ông phú hộ trong dụ ngôn

là tìm cho ra chỗ để tích trữ hoa màu của mình,

vì những kho cũ không đủ sức chứa nữa.

Cuối cùng ông đã tìm ra giải pháp này:

phá những kho cũ, làm những kho mới lớn hơn,

rồi bỏ tất cả hoa màu, của cải vào đó,

khóa lại cho thật kỹ, đề phòng kẻ trộm.

Khi nhà kho đã an toàn

thì tương lai của ông vững vàng ổn định.

Nhiều của cải cho phép ông sống thoải mái trong nhiều năm.

Những cái kho lớn cho ông tha hồ vui chơi, ăn uống.

Ông thấy mình chẳng cần đến Chúa, chẳng cần đến ai.

Của cải trong kho bảo đảm cho ông sống hạnh phúc.

Những cái kho là nơi ông đặt lòng mình (x. Lc 12,34).

Xin đừng ai xâm phạm vào chỗ thiêng liêng ấy.

Kho là nơi của cải đổ vào, sinh sôi nẩy nở.

Kho không phải là chỗ chia sẻ cho người khác.

Ông phú hộ sống cô độc, khép kín như cánh cửa kho.

Ông sống với cái kho, sống nhờ cái kho.

Ông tưởng mình đã tính toán khôn ngoan,

nhưng ông không ngờ cái chết đến lúc đêm khuya,

hay có thể có biết bao rủi ro khác xảy đến.

Ông chợt nhận ra mình phải bỏ lại tất cả.

Cái kho không níu được ông, cũng không vững như ông nghĩ.

Những gì ông thu tích như giọt nước lọt qua kẽ tay.

 

Ai trong chúng ta cũng có một hay nhiều kho.

Có thể chúng ta ôm mộng làm giàu hay đang giàu lên,

chúng ta định nới kho cũ hay xây kho mới.

Chúng ta chăm chút cái kho cho con cháu mai này.

Thật ra của cải không xấu, xây kho cũng không xấu.

“Nhưng phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam” (12,15).

Phải mở rộng những cánh cửa kho của mình,

để kho không phải chỉ là nơi tích trữ cho tôi,

nhưng là phương tiện để tôi giúp đỡ tha nhân.

 

Ðừng để nhà kho, két sắt, ví tiền thành mục đích.

Người giàu đáng yêu trước mặt Thiên Chúa

là người biết mở kho để trao đi

và thấy Thiên Chúa liên tục làm cho kho mình đầy lại.

Làm thế nào để khi ra trước toà Chúa,

chúng ta thấy kho của mình trống trơn

vì vừa mới cho đi tất cả.

 

Cầu Nguyện

 

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng

tấm bánh để dành của con thuộc về người đói,

chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi,

tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.

 

Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng,

có bao điều con lãng phí

bên cạnh những Ladarô túng quẫn,

có bao điều con hưởng lợi

dựa trên nỗi đau của người khác,

có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu.

Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công chẳng ở đâu xa.

Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con.

Con phải chịu trách nhiệm về cảnh người nghèo trong xã hội.

 

Lạy Cha chí nhân,

vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó

là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng.

Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt,

vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.

Thế giới còn nhiều người đói nghèo

là vì chúng con giữ quá điều cần giữ.

Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu,

nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.

 

Lm. Anton Nguyễn Cao Siêu, SJ.

Chia sẽ bài viết này trên:

Khốn cho các ngươi (17.10.2018 – Thứ Tư Tuần 28 TN )

Tin Mừng: Lc, 11, 42-46

Khi ấy, Đức Giê-su nói : “Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ. Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu ! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng. Khốn cho các người ! Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay.”

Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói : “Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa !”  Đức Giê-su nói : “Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật ! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào.”

 

 Suy niệm:

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu trách các nhà lãnh đạo.

Họ là những người Pharisêu, những nhà thông luật.

Họ được dân chúng kính nể vì học thức, vì chức vụ, vì đời sống đạo đức.

Nhưng họ cũng có những khiếm khuyết cần sửa đổi.

Đức Giêsu ba lần nói “Khốn cho” đối với người Pharisêu (cc. 42-44).

 

Khốn cho thứ nhất vì họ quá chú tâm giữ những điều lặt vặt, phụ thuộc,

mà xao lãng cái chính yếu và quan trọng.

Họ nộp thuế 10% về những thứ rau cỏ ngoài vườn để tỏ lòng đạo đức.

Tiền thuế này được dùng để giúp đỡ các tư tế và các thầy Lêvi.

Nhưng tiếc là họ không để ý đến sự công bình đối với tha nhân,

và lòng yêu mến đối với Thiên Chúa (c. 42).

Tương quan hai chiều của họ bị tổn thương.

Việc nộp thuế, dâng cúng cho nhiều cũng không sao kéo lại được.

Đức Giêsu đòi giữ cả hai, nhất là những bổn phận chính yếu:

“Các điều này phải làm mà các điều kia cũng không được bỏ.”

 

Khốn cho thứ hai vì họ thích tiếng khen từ người đời.

Không yêu mến Thiên Chúa, nhưng họ lại yêu mến ghế đầu nơi hội đường,

và yêu thích được chào hỏi nơi công cộng (c. 43).

Địa vị, tiếng tăm là điều họ tha thiết tìm kiếm.

Mọi việc họ làm đều nhằm tôn vinh cho cái tôi.

Chính vì thế một đời sống bề ngoài có vẻ sống cho Chúa,

kỳ thực lại là một tìm kiếm hư danh cho chính mình.

 

Khốn cho thứ ba gắn liền với sự giả hình trên đây.

Đức Giêsu ví họ với mồ mả người chết chôn dưới đất.

Vì không có gì làm dấu, nên chẳng ai biết đó là mồ mả để tránh.

Nhiều người giẫm lên nên bị ô nhơ mà không hay.

 

Nghe Đức Giêsu nói, một nhà thông luật cảm thấy bị xúc phạm.

Đức Giêsu cũng sẽ nói ba lần Khốn cho đối với các vị này.

Họ là những nhà chuyên môn giải thích luật và là thầy dạy dân chúng.

Khốn cho đầu tiên vì họ đã làm cho luật trở nên một gánh quá nặng.

Những giải thích của họ làm sinh ra bao cấm đoán và đòi buộc

vượt xa những gì chính bản văn lề luật đòi hỏi.

Thí dụ trong ngày sabát, có 39 loại công việc không được phép làm.

Luật thay vì là nguồn vui, nguồn hạnh phúc, thì lại trở nên ách nặng nề.

Nhiệm vụ của người thông luật không phải chỉ là dạy luật,

mà còn là giúp người khác giữ luật.

Với thái độ đứng ngoài, không muốn động vào,

không muốn trợ giúp, dù bằng một ngón tay (c. 46),

người thông luật sẽ không làm cho người ta cảm thấy tình yêu Thiên Chúa.

Những lời Khốn cho của Đức Giêsu cách đây hai mươi thế kỷ

vẫn còn nguyên giá trị cho Hội Thánh của các Kitô hữu hôm nay.

Để có thể xây dựng một Hội Thánh Việt Nam cho kỷ nguyên mới,

chúng ta cần tránh những lỗi của người xưa.

 

Cầu nguyện:

 

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận,

xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,

xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,

xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,

xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi,

Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng,

xin cho các Kitô hữu chúng con

trở thành tình yêu

cho trái tim khô cằn của thế giới.

Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài,

biết sống nhờ và sống cho tha nhân,

biết quảng đại cho đi

và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh,

xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa

ở sâu thẳm lòng chúng con,

và trong lòng từng con người bé nhỏ.

 

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.

Chia sẽ bài viết này trên: