Month: Tháng Ba 2019

Người làm vườn và cây vả – CN III Mùa Chay, Năm C

Tin mừng Chúa nhật hôm nay kể hai sự kiện:

– Sự kiện vụ án Philatô giết người vô tội, Chúa Giêsu không ủng hộ những người quá khích trong cuộc đấu tranh của họ chống lại Roma. Sứ điệp của Người luôn rõ ràng và rất tập trung: “Thời giờ đã hoàn tất, nước Thiên Chúa đã đến gần. Hãy ăn năm sám hối và tin vào Phúc Âm” (Mc 1,15). Chúa Giêsu cảnh tỉnh: “Nếu các ngươi không sám hối thì cũng bị chết như vậy” ( Lc 13,3.5).

– Sự kiện tháp Silôa đổ xuống đè chết mười tám người ở Giêrusalem. Cũng như trong trình thuật người mù bẩm sinh (Ga 9, 2–3), Chúa Giêsu giải thích rằng “không phải vì anh ta, không phải vì cha mẹ anh ta đã phạm tội, mà anh ta sinh ra đã bị mù loà”. Người khẳng định nơi đây rằng không ai trong bọn họ là nạn nhân của trừng phạt. Thiên Chúa không tìm trừng phạt mà là nâng dậy. Tuy nhiên, mỗi người chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

Người đời thường nghĩ rằng: những kẻ bị tật nguyền, những ai bị tai họa là bởi tội của họ hoặc do tiên nhân để lại. Họ đã đau khổ lại càng đau khổ hơn bởi quan niệm sai lầm này. Trong thực tế mọi người phải chấp nhận giới hạn của mình và hậu quả do mình gây nên hay vì sự liên đới nào đó do người khác mang lại. Chẳng hạn, hai tai nạn Chúa Giêsu đưa ra trong trong đoạn Tin mừng đều có nguyên nhân của nó. Philatô cần có tiền để xây dựng hệ thống dẫn nước đem lại lợi ích cho toàn dân. Vì thiếu tiền nên đã vào đền thờ quyên góp. Nhóm cực hữu cho hành động này là xúc phạm sự thánh nên trang bị khí giới để chống đối và bảo vệ đền thờ. Thấy thế Philatô ra lệnh giết chết họ trong đền thờ. Hành động của họ dù với mục đích tốt nhưng lại thiếu khôn ngoan nên họ đã bị thiệt mạng. Vụ án mạng tháp Silôa sập đè chết mười tám người vì lý do thiếu kỹ thuật trong việc xây cất.Vụ này cũng như vụ việc cầu Văn Thánh rạn nứt hay các công trình xây cất hiện nay bị xuống cấp mau chóng là do bớt xén vật liệu, làm dối làm ẩu. Những tai hoạ đều có nguyên nhân của nó, hoặc là do mình, hoặc là do người khác. Những người Do thái nghĩ là do có tội nên Chúa phạt họ, còn mình vô tội thì được bình yên. Điều này đưa đến sự an toàn giả tạo. Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều là tội nhân nên cần phải sám hối ăn năn.

Nhân hai sự kiện thời sự, những người nổi loạn bị Tổng trấn Philatô giết và mười tám người bị tháp Silôa đè chết, Chúa Giêsu cảnh báo người đương thời phải sám hối. Điều lạ lùng là một đàng, Chúa dạy phải mau mau sám hối; đàng khác, Chúa lại kiên trì chờ đợi con người sám hối qua dụ ngôn “Người làm vườn và cây vả”. Lúc sống yên lành là lúc cần hoán cải. Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn. Cây vả không cho trái độc, không làm hại cây khác, không phá cảnh quang. Nó chỉ có tội làm hại đất, sử dụng đất màu mỡ mà không cho trái. Nhiều người cũng cảm thấy an toàn như cây vả. Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai. Thế nhưng họ lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm. Nhiều người thường tự hỏi: tại sao người tốt cần phải hối cải? Tôi là người thường đọc kinh dự lễ rước lễ, không làm điều xấu hại ai, tại sao tôi phải ăn năn sám hối?

Sống đạo không phải chỉ lo tránh tội mà còn là gieo trồng cái tốt, cái thiện. Có câu chuyện kể của ông chủ tiệm đồ cổ. Vào một đêm đông, trời đã khuya, bão tuyết rơi lạnh lẽo, gió thổi mạnh rít từng cơn. Bỗng dưng có tiếng gõ cửa. Ông chủ cảm thấy khó chịu vì bị quấy rầy giữa đêm khuya. Khi cánh cửa vừa mở, một người thanh niên dáng bụi đời đang run rẫy với một bàn tay xòe ra van xin, một bàn tay đỡ cây gậy trên vai treo ít đồ đạc cá nhân. Thấy hoàn cảnh đáng thương, ông chủ đưa tay với lấy ít bánh mì, vài đồng bạc lẽ trao cho hành khách. Nhận được của bố thí, người thanh niên quay gót trở đi không nói lời cám ơn giã từ. Khi đó chợt một ý tưởng đến trong đầu ông chủ nhà là nên mời người đó vào nghĩ đỡ một đêm, nhà vẫn còn phòng khách trống, còn chăn nệm ấm êm. Tuy nhiên ông lại nghĩ nếu để cho người này ở lại thì căn nhà sạch sẽ của mình sẽ bị ẩm ướt, bị dơ bẩn. Thế rồi ông vội vàng đóng kín cửa. Hai ngày sau, có người thợ đem đến một cây gậy làm bằng gỗ quý. Khi đã thương lượng giá cả, người bán gậy cho biết, anh ta là người thợ chuyên đào mộ ở nghĩa trang. Anh vừa chôn một người thanh niên mới chết, người thanh niên này vô gia cư, không tiền bạc, không người thân. Tài sản anh ta chỉ là cây gậy, người thanh niên chết vì bị lạnh cóng, máu đông lại khi ngũ trên tuyết. Nghe đến đây ông chủ tiệm cảm thấy hối hận và xấu hổ. Ông hối hận không phải vì đã làm điều xấu mà vì điều tốt ông có thể làm cho người thanh niên nhưng ông đã không làm khiến cho anh phải chết rét. Ông chủ tiệm kết thúc câu chuyện với nổi thao thức: điều tôi ao ước là những sự dữ chúng ta làm có lẽ Thiên Chúa sẽ tha thứ. Nhưng những gì tốt chúng ta đã không làm sẽ mãi mãi không được tha thứ.

Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nói qua dụ ngôn cây vả. Mục đích cây vả là sinh trái. Theo truyền thống, cây nho (vườn nho) tượng trưng cho dân tộc Israel (x.Tv 79,9; Osê 10,1; Gr 2,21). Cây vả được trồng trong vườn nho tượng trưng nơi đây cho các môn đệ Chúa Kitô. Người chủ vườn thất vọng không phải là cây vả sinh trái xấu, trái độc, trái chua mà là cây vả không sinh trái tốt. Cứ để thêm một năm chăm bón vun xới may ra cây vả sinh hoa trái. Chúa mời gọi thời gian sám hối hoán cải. Lời mời gọi sám hối không chỉ là lời mời gọi xa tránh sự dữ nhưng còn là lời mời gọi làm việc lành, sinh hoa trái tốt. Bởi đó, việc sám hối liên hệ ràng buộc mọi người. Ai cũng phải làm lành lánh dữ. Lánh dữ, không làm điều xấu chưa đủ, từ bỏ tội lỗi chưa đủ nhưng còn phải tích cực thực hành những điều tốt lành nữa.

Khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn được yên thân, an phận, không muốn làm phiền ai và cũng không muốn ai gây phiền hà cho mình. Vì thế một người ngoan đạo có thể bị rơi vào tình trạng tự mãn, sống ích kỷ mà không hay biết.

Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: “Ðã ba năm nay…” Ngài đã nuôi bao hy vọng: “Tôi ra tìm trái mà không thấy”. Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng. Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta. Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: “Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa”. Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: “Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái”. Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: “Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi”. Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi, đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Chúa Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho chúng ta có thời gian trì hoãn.

Những lời đe dọa của Thiên Chúa trong Kinh Thánh là những lời kêu gọi thôi thúc ăn năn hối cải. Nhưng Thánh Luca thích nhấn mạnh hơn về lòng xót thương và nhấn mạnh lòng nhân từ của người thợ làm vườn nho, nài xin ông chủ vườn nho hãy nhẫn nại: “Xin ông chủ hãy để nó thêm năm nay nữa..”. Người thợ làm vườn nho đầy nhân từ trắc ẩn, đầy quan tâm sát sao và đầy tình yêu đối với cây nho của mình, đó chính thật là Chúa Giêsu mà chúng ta yêu mến.

Mùa chay là mùa ân sủng. Người chủ vườn nhẫn nại và quảng đại cho cây vả thêm một năm nữa để hy vọng nó có thể sinh hoa trái. Mỗi Mùa Chay, Thiên Chúa cho chúng ta thêm cơ hội để đổi mới con người, làm nhiều việc lành bác ái phúc đức. Mỗi người không biết mình sẽ ra đi về với Chúa khi nào. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người kiểm điểm về cây vả đời mình. Thêm một cơ hội, thêm một kỳ hạn nữa. Điều quan trọng là mỗi người đã làm gì với cơ hội và với kỳ hạn đó?

 “Sám hối” là từ thường gặp trong Thánh Kinh, nó được kêu gọi bởi Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu, các tông đồ và hôm nay luôn được lặp lại nơi sứ điệp của Giáo Hội. Bởi sám hối là động thái tiên quyết để đón nhận ơn cứu độ. Còn sống là còn cơ hội để sám hối! Nếu không tận dụng tốt cơ hội Chúa ban thì Ngài sẽ cất đi như cây vả không chịu sinh trái.

Tiên tri Êdêkien ví những cây ăn trái mọc hai bên bờ dòng sông chảy từ Đền Thờ một năm mười hai tháng đều đơm hoa kết trái, trái cây dùng làm lương thực, lá cây dùng làm thuốc (Ed 47,12). Những ai luôn biết sám hối, đời sống của họ sẽ luôn kết hợp với Chúa như cành nho gắn liền với cây nho sẽ trổ sinh hoa trái đồi dào (Ga 15).

Lạy Chúa, xin giúp con luôn sinh nhiều hoa trái thiêng liêng là những việc lành (x. Cl 10,1) nhờ luôn kết hợp với Chúa là nguồn sống của con. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Người Cha và hai người con

I. LỜI CHÚA: Lc 15, 1-3. 11-32

1 Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng.2 Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.”3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:

11 Rồi Đức Giê-su nói tiếp: “Một người kia có hai con trai.12 Người con thứ nói với cha rằng: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con.13 Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

14 “Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu,15 nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo.16 Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho.17 Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói!18 Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.20 Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.

21 Bấy giờ người con nói rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. ..22 Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu,23 rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!24 Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.

25 “Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa,26 liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì.27 Người ấy trả lời: “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.28 Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ.29 Cậu trả lời cha: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè.30 Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!

31 “Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.32 Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.”

(Bản dịch của Nhóm CGKPV)

II. SUY NIỆM:

Trong chương 15 của Tin Mừng theo thánh Luca, Đức Giê-su kể một lúc tới 3 dụ ngôn (Lc 15, 1-32), để giải thích tại sao Ngài không chỉ tiếp đón những người tội lỗi, mà con ăn uống với họ nữa, nghĩa là Người còn kết bạn với họ. Nhưng trên Thập Giá, Người còn đi xa hơn, khi để mình bị bắt và bị lên án như là tội nhân và chịu chết chung với các tội nhân.

Ba dụ ngôn có một thứ tự đặc biệt khiến chúng ta phải chú ý : 100 con chiên trong đó có một con bị mất ; 10 đồng quan, có một đồng bị mất, và 2 người con, một người bị hư mất. Như thế, xét trên bình diện số học, sự mất mát càng lúc càng lớn : một trên một trăm, một trên mười và một trên hai ; hơn nữa, xét về bản chất của điều bị mất, ban đầu là con vật, sau đó là đồng tiền, và trường hợp thứ ba là một người con, mà người con thì vô giá.

Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này, giá trị mất mát càng lớn, thì niềm vui sẽ càng lớn, khi tìm lại được. Chính vì thế, người cha, khi mở rộng vòng tay đón nhận người con hư mất trở về, đã mở tiệc ăn mừng; trong khi với trường hợp con chiên và đồng tiền tìm lại được, người ta chỉ chia sẻ tin vui thôi, với bạn bè và hàng xóm.

1. Một người có hai người con (c. 11-12)

Chúng ta hãy nhìn ngắm ba cha con, đặc biệt là con thứ. Hẳn cha yêu anh đặc biệt. Về người con lớn trình thuật lúc này chưa nói gì về anh.

Chúng ta hãy nghe anh nói với Cha và quan sát việc anh làm, để cảm được sự nghiêm trọng của lời anh nói với cha và hành động của anh: cha chưa chết mà đã đòi chia gia tài ! Và hành động của anh là có kế hoạch: bước một, xin chia gia tài; bước hai, để đó ít ngày; và bước ba, ôm gia tài đi xa. Vậy là, bao nhiêu ơn huệ cha ban anh quên hết; tình yêu của cha và chính con người cha, anh cũng quên luôn; anh chỉ tìm cách thỏa mãn lòng ham muốn của mình mà thôi. Chúng ta có thể nhận ra nơi anh, bản chất của Tội, được mặc khải bởi sách Sáng Thế: quên ơn huệ, quên Đấng ban ơn huệ và chiều theo lòng ham muốn của mình ; ở đây là ham muốn có, ham muốn sở hữu, chiếm hữu bất chấp tương quan con thảo với cha. Chiều theo lòng ham muốn, anh sẽ đánh mất chính điều anh tìm cách chiếm hữu và đánh mất luôn tất cả, tất cả ; tất cả trong đó có chính anh !

Hãy chiêm ngắm người cha, một người cha lạ lùng, vì có tình yêu của mẹ hiền : cha chẳng nói gì, cũng chẳng tìm cách giữ chân anh, cha chiều theo ý muốn của anh. Tại sao vậy ? Cha chẳng nói gì, nhưng trong lòng cha có nhiều « chuyển động nội tâm », nhiều cảm xúc, hẳn là quặn đau, nhưng cũng thương cảm. Chúng ta có bao giờ đặt mình vào tâm tình của cha mẹ chưa, của những người có trách nhiệm chưa, và của chính Chúa chưa ?

2. Người con thứ và người cha (c. 13-24)

a. Đi xa (c. 13-16)

Chúng ta hãy nhìn, nghe và quan sát người con thứ : anh hí hửng thu góp bỏ nhà bỏ cha ra đi để sống điều mà anh nghĩ là « một cuộc sống tự do, hưởng thụ, vui vẻ ». Thật ra anh đang là nô lệ, nô lệ cho lòng ham muốn, cho thú tính, cho đam mê chiếm hữu của anh. Vì thế, chỉ ít lâu sau, anh trở thành nạn nhân, thay vì làm chủ được đời mình : điều anh muốn sở hữu, làm chủ, rốt cuộc rồi sẽ tiêu tán tất cả, không chỉ tiêu tán những gì anh có, nhưng tiêu tán cả chính bản thân anh, chính nhân phẩm của anh, thậm chí chính nhân tính của anh.

Thật vậy, gặp cơn khốn khó, là điều không thể tránh được trong cuộc đời ; và khi đó, anh bị hạ thấp xuống hàng tôi tớ, và tệ hơn nữa, hàng súc vật ; trong khi đó, trong nhà cha, anh được sinh ra là con và mãi mãi là con. Đoạn tuyệt tương quan với cha, thì tất yếu rơi vào tình cảnh như thế. Bởi vì chỉ ở nơi Cha, ở nhà cha, mới có sự sống, ánh sáng, nhân tính được thăng hoa, mới có tình yêu nhưng không ; ở ngoài cha và « nhà của người », chỉ là sự chết, bóng tối, mất nhân tính và ghen ghét, thiếu tôn trọng, bạc đãi…

Chúng ta cũng trở nên người con hoang đàng khi tự biến mình thành chủ nhân những gì mình có và mình là, coi những gì mình là và mình có là « quyền phải có », là « gia tài » Thiên Chúa buộc phải cho phải chia, và sử dụng và phung phí theo ý mình. Xin cho chúng ta nhận ra hậu quả tồi tệ của thái độ này : đánh mất, trở thành nô lệ, mất nhân tính…

b. Hồi tâm (c. 17-24)

Chính tình cảnh đánh mất nhân tính, đánh mất phẩm giá làm con, mà việc thiếu ăn thiếu uống chỉ là biểu hiện, làm cho người con thứ hồi tâm : « Thôi ta đứng lên đi trở về cùng Cha ». Chúng ta hãy hình dung ra hình ảnh : người con đứng thẳng lên, bước đi hướng về nhà Cha, về ngôi vị của Cha ; hình ảnh thật đẹp và đầy ý nghĩa, vì đã diễn tả sự tái sinh mà con tim của người Cha hằng mong chờ.

Hơn nữa, anh được thúc đẩy thân thưa với cha, và chúng ta có thể coi đó như « bản xưng tội » : “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy”. Chúng ta nên bắt chước xưng tội như người con thứ : thay vì cố gắng làm bản thống kê : làm gì, chi bao nhiêu, cho ai, bao nhiêu lần, ở đâu. Một bản thống kê như thế, dù có đúng và đủ, nhưng làm sao đúng và đủ được, xem ra không có ích lợi thiêng liêng gì, và chắc chắn, đó cũng không phải là điều người cha muốn nghe, là điều Chúa muốn nghe. Vấn để là nhận ra gốc rễ, nhận ra thái độ vô ơn, nhận ra những hình ảnh những ý nghĩ sai lầm… đã dẫn đến những hành vi như thế. Thay vì, làm bản thông kê, chúng ta hãy để cho Lòng Thương Xót lôi cuốn chúng ta, làm cho trái tim chúng ta bừng cháy lửa yêu mến Chúa, tái sinh chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi sự dữ và thay đổi tương quan của chúng ta đối với mọi sự, trong đó có chính bản thân chúng ta, như trường hợp người phụ nữ tội lỗi, trong Tin Mừng theo thánh Luca : tội nhiều, được tha nhiều, nên yêu mến nhiều (x. Lc 7, 36-50).

Anh hồi tâm ; anh nhớ nhà ; anh tự xét mình và ra án cho mình : mình chỉ có thể là tôi tớ thôi. Đó là bản án tất yếu, nếu mình là quan tòa của mình. « Thế rồi anh đứng lên đi về cùng cha ». Điều gì đã làm cho anh có can đảm trở về, nếu không phải là « khuôn mặt nhân hậu », mà người cha đã từng ngày và bất chấp tất cả, kiên trì ghi khắc trong tim anh ?

c. Trở về (c. 20-24)

Nhưng rồi khi về, anh đã được cha nhận ra từ xa, khi anh chưa nói gì, vì cha chỉ cần anh « đứng lên trở về » thôi ; và lòng cha rộn lên thay vì quặn đau như lúc anh ra đi; lòng cha rộn lên và bùng phát thành những cử chỉ thật âu ếm : người cha đã không ngại mùi hôi của người con trở về, khi « ôm cổ anh và hôn lấy hôn để », và thành những lời nói vui mừng, mời gọi cả nhà, và chắc chắc cả hàng xóm nữa. Lời cha lấn ắt cả lời tự thú của anh. Anh chửng hửng trước cử chỉ, thái độ và con tim của cha ; chúng ta hãy lưu lại để cảm nếm sự chửng hửng của anh.

Cha đã chờ đợi từng ngày, ngày này qua ngày kia ; cha không trói anh lại, cha không sai người đi bắt anh về ; vì cha là tình yêu ; tình yêu chỉ biết chờ đợi lời đáp tự do mà thôi, và chờ đợi đến tận cùng.

Hơn nữa, đó là « sức mạnh và khôn ngoan » của người cha : cha không chỉ tha thứ, nhưng con muốn chữa lành, giải thoát anh khỏi Sự Dữ, nhưng không phải bằng kết án, hình phạt và bạo lực, nhưng bằng « tình yêu đến cùng ». Sức mạnh và khôn ngoan của người cha nhân hậu trong dụ ngôn, trở thành hiện thực nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Chúng ta được mời gọi xác tín điều này : Thiên Chúa, Người Cha nhân hậu của chúng ta, không muốn kết án chúng ta, vì hành vi này không phù với bản chất của Người, là tình yêu và chỉ là tình yêu. Thật vậy, « kết án », kết án mình và kết án nhau, là hành vi thuộc về ma quỉ và của ma quỉ : « Vì Satan, kẻ tố cáo anh em của Ta… » (Kh 12, 10). Nhưng Thiên Chúa muốn « tái sinh » chúng ta trong niềm vui khôn tả : « chúng ta mở tiệc ăn mừng! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy ».

Chúng ta hãy chiêm ngắm thật lâu cách cha đón nhận anh, vượt xa vô hạn những gì anh chờ đợi : anh đã chết đối với cha, cha cho anh tái sinh trong mắt cha, trong lòng cha, trong nhà cha, và tái sinh trong lòng tất cả mọi người khác trong nhà nữa. Chúng ta hãy nhìn, nghe và quan sát mọi người trong nhà để cảm nếm bầu khí vui mừng lễ hội.

Nhưng có một người không vui ! Và người đó lại là ông anh, là người thân trong nhà. Đáng lẽ ra, anh phải là người vui nhất sau cha. Hiện tượng này thật là kì dị ! Nhưng lại không hiếm thấy, ở mọi nơi và mọi thời.

3. Người con lớn và người cha (c. 25-32)

Chúng ta hãy nhìn, nghe và quan sát thái độ và cử chỉ của người con lớn. Anh làm việc chăm chỉ tận tụy vất vả, nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài, lòng anh đầy bất ổn, ấm ức và bực tức : anh là con, nhưng lại sống như người tôi tớ, sống tương quan chủ tớ với cha ; anh ghen tức với em, không nhìn nhận em, muốn loại trừ em, thay vì nhìn nhận con của cha là em mình, thay vì chúc mừng em « đã chết, nay sống lại », « đã mất, này tìm thấy », « đã không xứng là con, nay được cha phục hồi ». Bản chất của tội mà St 2-3 diễn tả cũng hoành hành ở trong anh nặng nề không kém, và còn hơn nơi người em. Như thế, lòng anh cũng « xa » cha không kém : anh là con nhưng anh tự coi mình là tôi tớ có nhiệm vụ « hầu hạ » và vâng lệnh cha tuyệt đối ; anh nhìn cha như ông chủ ; vì thế đòi trả công và ghen tị với em : anh so sánh rất « cụ thể và chính xác » : dê con (c. 29), bê béo (c. 30) ; anh nổi giận, không chịu vào nhà, nhà của cha, nhà của anh.

Người con này đã trở về nhà, nhưng người con kia lại lựa chọn đứng ở bên ngoài. Tương quan giữa hai anh em tượng trưng cho tương quan giữa chúng ta. Tương quan này có vấn đề vì tương quan gốc có vấn đề, nghĩa là tương quan của từng người con với người cha. Vì vậy, người cha đã kiên nhẫn nhắc lại ân huệ cha dành cho anh, vượt xa vô hạn nhưng gì anh « thèm muốn » : « Con ơi, con của cha, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con » ; sau đó cha mới mời gọi anh nhìn nhận em mình, vui với em, với cha và với cả nhà : « Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (c. 31-32)

* * *

Cha muốn trao ban hết, nhưng những người con của cha lại tính toán : chia chắc, tính công, so đo…. Cha vẫn còn đau khổ chờ đợi, vì người con lớn vẫn chưa trả lời. Và có lẽ, lời nói mà Cha chờ đợi nơi anh là : « tất cả những gì của con là của Cha ». Còn về người con thứ, Cha vẫn sẽ kiên nhẫn đồng hành với hành trình « tái sinh », chắc chắn là lâu dài và không dễ dàng của người con út. Và với chúng ta cũng vậy, Cha vẫn đợi, vẫn kiên nhẫn và bao dung đợi từng người chúng ta.

Dụ ngôn nói về tương quan của từng người chúng ta với Chúa, và tương quan của chúng ta với nhau, tương quan nào cũng bị tổn thương, sứt mẻ, cần được hàn gán, phục hồi, hòa giải. Đó chính là sứ mạng của Đức Giê-su, Ngài lấy lời, hành động và chính thân mình để hòa giải từng người chúng ta với Chúa Cha, và từng người chúng ta với nhau.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

[1] “Chúa là hơi ấm mẹ hiền, trọn đời con nương thân, trọn đời con nương thân” (bài hát Bao La Tình Chúa)

 

Chia sẽ bài viết này trên:

XƯNG TỘI – PHẠM TỘI – MẤT CÔNG?

Một chị ngoại giáo thưa với Cha xứ:
– Thưa Cha, con thấy con chiên của cha cứ đi xưng tội rồi lại phạm tội, phạm tội rồi lại xưng tội, như vậy thì xưng làm gì cho mất công?

– Cha xứ dí dỏm trả lời: Tôi thì lại thấy chị cứ nấu cơm, ăn cơm, rồi lại đi rửa chén, đến mai lại xuống bếp nấu cơm, rồi lại ăn, lại bày bừa, lại lau dọn. Vậy chị nấu cơm, ăn cơm làm gì cho bừa bộn nhà cửa xong lại đi lau chùi dọn dẹp cho mất công, cái điệp khúc nấu rồi lại ăn, ăn rồi lại nấu, rồi lại đi rửa chén tôi thấy cũng đâu có ổn xíu nào?

Quê rồi nha! Mà dễ quê là khó “quề” à nha (‘huề’ nói theo giọng miền nam là ‘quề’). .. Chị vẫn chưa chịu thua tiếp tục vắn vẹo hỏi Cha xứ một câu cắc cớ, hòng cho Cha xứ nọ cứng họng thì mới hả dạ:
– Thưa Cha, đạo Công Giáo của Cha lạ lùng thật, tại sao em bé mới sinh ra được một tháng lại phải đem vô nhà thờ rửa tội, sao không đợi cho nó lớn lên, rồi hỏi xem nó có chịu theo đạo không rồi mới rửa tội?

Không chút lúng túng, băn khoăn:
– Như thế này nhé, sao mới đẻ con ra chị lại cho con bú sữa, sao không đợi cho nó lớn khôn lên, rồi hỏi xem nó có chịu bú hay không rồi hãy cho nó bú?

Tôi không biết tôn giáo của chị nhận thức về tội như thế nào? Phần chúng tôi nhận thức về tội qua lòng lo, miệng nói, mình làm.

Có nghĩa là tội lỗi đến từ trong tâm tư thầm kín, qua lời nói, hoặc hành động. Ví dụ: nếu tôi nghĩ trong trí tôi một điều xấu, trái với lề luật của Chúa, của lương tâm, của Giáo hội thì tôi đã có tội.

Nếu một người đàn ông nhìn một người đàn bà, con gái và có ý muốn được ngủ với cô ta, là tôi đã phạm tội tà dâm. Nếu thấy một vật gì trong hãng, và có ý muốn lấy căp, thì đã phạm tội ăn cắp, dù tay chúng tôi chưa chạm đến vật đó.

Anh kia bị xếp mắng, vì dốt Anh ngữ, vì không thể biện hộ, nhưng anh cứ chửi thầm trong bụng, thì đã mang tội chửi xếp rồi; hoặc tệ hơn, ai đó đã nghĩ, tao phải giết mày, thì đã phạm tội giết người.

Nếu thích nghe kẻ nói xấu người này, người nọ, thì đã phạm tội đồng lõa, và thêm tội dùng thì giờ Chúa ban trái phép. Nếu giầu có, dùng tiền mua nhà to, xe đắt tiền, quần áo, trang sức cho nhiều, cốt để mọi người nể nang, nhưng không nghĩ đến người nghèo khó, thì đã phạm tội thiếu lòng bác ái. Nếu hứa cầu nguyện cho một người bạn, nhưng không làm, thì mang tội và mắc nợ người bạn rồi.

Nếu nóng giận và có những lời dơ bẩn, là đã phạm tội. .. với ý thức về tội như thế, người Công Giáo dễ nhận thấy mình cần phải đi xưng tội.

Qua câu chuyện
Mời các bạn và tôi hãy can đảm đến với tòa cáo giải để được sạch ít là trong mùa chay thánh thiện này.

Sưu tầm

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Viết cho Thánh Cả Giuse!

Thánh Giuse kính mến,

Cách đây mấy tháng con may mắn được thăm ngôi làng và nhà của thánh nhân tại thành phố Nazarét. Dĩ nhiên vào thời của thánh nhân, đó là một ngôi làng nghèo nàn cách xa trung tâm Biển Hồ Galilê. Bên cạnh nhà thánh Giuse, khách hành hương dễ dàng thăm ngôi nhà của Mẹ Maria (Nhà Thờ Truyền Tin). Như thế theo truyền thống, nhà của thánh nhân cạnh nhà của Mẹ Maria. Cũng từ đây, mối tình của hai người được chính Thiên Chúa se duyên nên nghĩa vợ chồng.

Theo truyền thống nơi đây, con nghe người ta nói rằng có thể thân phụ của Đức Maria thấy chàng thanh niên Giuse là người hiền lành đạo đức, có công ăn việc làm nên muốn gả con gái cho Giuse. Về mối tình của hai người trước đó, dĩ nhiên hậu thế không biết chính xác như thế nào. Nhưng chúng con tin rằng hai ngài đã có những ngày rất đẹp của tình yêu đôi lứa. Với tình yêu trọn vẹn như thế, hai ngài đã nên nghĩa vợ chồng trong niềm vui của bà con lối xóm. Thực thế, vào một ngày đẹp trời, dân làng đến chung vui với chú rể Giuse và cô dâu Maria trong lễ đính hôn. Vậy là Giuse thuộc dòng tộc vua Đavít, từ đây có được cuộc sống yên bề gia thất với hiền thê của mình.

Tin vui ấy chẳng được bao lâu thì thánh nhân nhận được một hung tin. Trước khi hai ngài về chung sống với nhau, Maria đã có thai. Chắc hẳn thánh Giuse bàng hoàng và không thể chấp nhận bào thai ấy, vì đó không phải là của mình! Bởi vậy thánh nhân mới định tâm bỏ Maria cách kín đáo (Mt 1,19). Lòng Giuse lúc này rối ren trăm mối tơ vò. Đang khi toan tính như thế, Sứ Thần báo mộng cho Giuse biết đứa con trong bụng của Maria là do quyền năng của Chúa Thánh Thần (Mt 1,20). Maria sẽ sinh con trai và Giuse phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, nghĩa là Chúa cứu chuộc. Chính Người Con này sẽ cứu toàn thể nhân loại khỏi tội lỗi và cái chết.

Bừng dậy sau giấc ngủ, Tin Mừng thuật lại vọn vẹn vài từ để diễn tả tinh thần vâng phục của thánh Giuse: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.”Như vậy người con của Đức Trinh Nữ Maria được thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần và được sinh ra trong nhà Đavít, thuộc dòng dõi vua Đavít. Kể từ đó, Giuse xuất sắc trong vai trò làm chồng của Maria và tuyệt vời trong vai trò làm cha nuôi của Đức Giêsu. Xuất sắc vì trong mọi biến cố, Ngài luôn lắng nghe Thiên Chúa hướng dẫn và mau chóng thực thi: Từ biến cố Hài Nhi Giêsu hạ sinh, trốn sang Ai Cập, đến lúc cả nhà trở về và sinh sống âm thầm nơi làng Nazarét. Tuyệt vời vì lúc nào Giuse cũng yêu mến vợ con và hết lòng với cuộc sống gia đình.

Hậu thế chúng con không biết nhiều về giai đoạn Ngài sống ẩn dật với Đức Mẹ và Đức Giêsu tại Nazarét! Tuy nhiên, chúng con tin rằng đó là những năm tháng tuyệt vời của thánh nhân. Tuyệt vời vì thánh nhân được ở bên cạnh, được đồng hành và cùng với vợ mình là Đức Mẹ dạy bảo Đức Giêsu. Tuyệt vời vì thánh nhân hăng say lao tác, hằng bên cạnh Đức Maria để chăm sóc cho Hài Nhi Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.

Cũng như Đức Mẹ, Ngài chắc hẳn không ít lần thắc mắc về ngày giờ Giêsu sẽ thực thi sứ mạng Nước Trời. Ngài chờ mong ngày ấy nhiều lắm. Nhưng chờ hoài, chờ mãi, chờ đến khi Ngài nhắm mắt xuôi tay, Giêsu vẫn là chàng thanh niên hành nghề thợ mộc giản dị nơi quê nghèo. Tuy vậy đối với thánh Giuse, được sống và được chết cho Giêsu, Ngài xem đó là phần phúc to lớn hơn bất cứ điều gì trên cõi đời này rồi. Được Chúa Tể muôn loài gọi mình một tiếng “cha”, liệu có niềm vui sướng nào to lớn hơn thế? Sau khi hoàn thành trách vụ cao cả của mình, Ngài mỉm cười lìa thế. Đức Giêsu cũng lên đường thi hành sứ mạng Chúa Cha trao phó.

Thánh Giuse biết không, nơi dương thế hôm nay, Giáo Hội đặt thánh Giuse là Đấng quan thầy bảo trợ. Như thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đưa ra lý do: “Thánh Giuse, vì yêu thương chăm sóc Mẹ Maria và vui mừng tận tụy giáo dục Ðức Giêsu Kitô, như thế Ngài cũng giữ gìn và bảo vệ nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội, mà Ðức Thánh Trinh Nữ là hình ảnh và gương mẫu” (Trích Tông Huấn Redemptoris Custos, 1). Theo đó Giáo Hội Việt Nam chúng con cũng hạnh phúc chọn Ngài làm bổn mạng. Rất nhiều đoàn thể cũng diễm phúc được thánh nhân đồng hành; và nhiều người nam chọn thánh nhân làm thánh hiệu. Bởi mỗi người chúng con đều hiểu được vai trò quan trọng và sự thánh thiện của Ngài trước Thiên Chúa Ba Ngôi. Như thế, với sự cầu bầu và đồng hành của Ngài, chúng con có thể vững tin theo Thiên Chúa trong hành trình đức tin và nơi cuộc sống gia đình của chúng con.

Hôm nay 19 tháng 3, Hội Thánh hân hoan mừng kính Thánh Giuse, bạn trăm năm của Ðức Trinh Nữ Maria, cha nuôi Chúa Giêsu. Chúng con tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho nhân loại một món quà là thánh Cả Giuse. Đặc biệt trong năm cầu nguyện cho các gia đình gặp khó khăn, chúng con thiết tha cầu mong thánh Cả luôn đồng hành với người chồng, người cha của chúng con. Họ là những người lao động vất vả mưu sinh, dày công chăm sóc và nuôi dạy chúng con nên người. Xin cho họ luôn biết noi gương Ngài để với vai trò làm chồng và làm cha. Xin Thánh Giuse ban cho họ có được nguồn sức mạnh giúp gia đình vượt thắng những thách đố của cuộc đời. Xin Ngài chúc phúc cho người cha, người chồng, cho từng người trong gia đình của chúng con!

Mừng kính lễ Thánh Cả Giuse 19-3

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Chia sẽ bài viết này trên:

CHIẾC CẦU THANG KỲ DIỆU – Một phép lạ của Thánh Giuse?

… Nơi một Nhà Nguyện tại thành phố Santa Fe thuộc bang New Mexico bên Hoa Kỳ, có chiếc cầu thang thật đặc biệt với nguồn gốc lạ thường đáng được nhắc đến trong khuôn khổ tháng 3 dâng kính Thánh Cả GIUSE.

Cách đây gần 140 năm – vào năm 1872 – Đức Giám Mục giáo phận Santa Fe là Đức Cha Jean Baptiste Lamy (1814-1888), gốc Pháp, dự định xây cất một Nhà Nguyện dâng kính Đức Bà Loreto (Loretto Chapel) với mục đích làm nơi thờ phượng cho Cộng Đoàn gồm 4 Nữ Tu thành Loreto (Sisters of Loretto). Các Chị vừa thành lập Cộng Đoàn ở đây.

Công việc xây cất ủy thác cho kiến trúc sư P. Mouly, người Pháp. Ông khởi công ngày 25-7-1873 và hoàn thành 5 năm sau đó. Nhà Nguyện dài 22,5 mét, rộng 7,5 mét và cao 25,5 mét. Nhà Nguyện dâng kính Thánh Cả GIUSE.

Khi Nhà Nguyện hoàn thành thì người ta mới thấy có một thiếu sót trầm trọmg. Nhà Nguyện không có cầu thang đi lên gác-đàn (dành cho Ca Đoàn). Nhiều nhà chuyên môn được mời đến để nghiên cứu xem phải giải quyết vấn đề như thế nào. Mọi người đều thấy không còn chỗ để xây cầu thang, ngoại trừ việc làm một đường hầm hoặc xây một cầu thang theo hình con ốc.

Sau khi nghe các ý kiến, Các Nữ Tu cảm thấy vô cùng bối rối và lo âu. Nhưng Các Chị đặt trọn lòng tin tưởng nơi sự trợ giúp đặc biệt của Thánh Cả GIUSE, Đấng mà Các Chị rất sùng kính. Các Chị quyết định làm Tuần Cửu Nhật dâng kính Thánh Cả GIUSE, van xin Người cầu bầu cùng THIÊN CHÚA Quan Phòng.

Vào ngày cuối Tuần Cửu Nhật, có Người Khách Lạ xuất hiện nơi cửa Tu Viện. Ông có mái tóc muối tiêu và mang theo con lừa trên lưng chở vật dụng. Người Khách xin gặp Mẹ Bề Trên lúc ấy là Nữ Tu Maddalena. Khi Mẹ Bề Trên ra tiếp thì Người Khách Lạ cho biết Ông sẵn sàng chấp nhận công tác xây chiếc cầu thang.

Kể sao cho xiết nỗi vui mừng của Mẹ Bề Trên và toàn thể Cộng Đoàn. Các Chị thấy rõ lời cầu xin đã được THIÊN CHÚA lắng nghe.

Người Thợ Mộc bắt tay ngay vào việc. Các Nữ Tu thỉnh thoảng ghé qua chiêm ngắm công việc của Ông.

Để làm chiếc cầu thang, Người Thợ Mộc chỉ dùng 3 dụng cụ: cái cưa, thước đo góc và cái búa. Rồi thay vì dùng đinh, Ông chỉ dùng các chốt bằng gỗ và ngâm các chốt này trong nước. Vỏn vẹn sau ba tháng, chiếc cầu thang hoàn thành.

Khi công việc xong xuôi, Mẹ Bề Trên Maddalena chuẩn bị tiền để trả công cho Người Thợ Mộc. Nhưng Ông biến mất không để lại dấu vết và tông tích.

Các Nữ Tu dò hỏi các tiệm thủ-công-nghệ và tiệm bán đồ gỗ trong thành phố thì không nơi nào đã bán bất cứ vật dụng gì cho Người Thợ Mộc. Vã lại, loại gỗ được dùng để xây cầu thang cũng không tìm thấy trong vùng.

Riêng về chiếc cầu thang thì thật là lối kiến trúc diệu kỳ, độc nhất và khác thường, không trông thấy ở bất cứ nơi đâu. Cầu thang bỗng trở thành đối tượng tò mò cho các cuộc viếng thăm hiếu kỳ. Ai ai cũng nức lời trầm trồ khen ngợi.

Cầu thang gỗ có tất cả 33 bậc và xoay quanh trên hai vòng xoắn đúng 360 độ. Cầu thang khởi đầu dưới hầm và lên đến tận gác-đàn dành cho Ca Đoàn. Chỉ có thế thôi. Cầu thang không hỗ-trợ đỡ-nâng bởi bất cứ cột trụ nào khác. Nghĩa là cầu thang tự đứng thẳng trên chính nó. Thêm vào đó, khi bước trên các bậc thang người ta có cảm giác êm-ái nhẹ-nhàng nhún-nhẩy như đi trên các bậc thang làm bằng chất nhựa mềm. Thật lạ lùng và thật khác thường!

Rất nhiều kiến trúc sư và các nhà xây cất đến tận nơi xem xét và chiêm ngắm chiếc cầu thang lạ lùng. Điều kỳ diệu hơn nữa là trải qua hơn 130 năm chiếc cầu thang được sử dụng lên xuống hàng ngày vậy mà nó vẫn đứng vững nguyên vẹn, không bị sụp đổ!

Loại gỗ dùng làm cầu thang cũng không thể xếp vào thứ gỗ nào. Nó cũng không được tìm thấy bất cứ nơi đâu trong toàn tiểu bang New Mexico của Hoa Kỳ và cũng không rõ đến từ vùng nào miền nào trên trái đất này.

Riêng về phía các Nữ Tu Loreto, Các Chị không dám quả quyết Người Thợ Mộc khác lạ kia chính là Thánh Cả GIUSE. Chỉ có điều chắc chắn là Các Chị xác tín rằng Chiếc Cầu Thang hoàn thành nhờ lời chuyển cầu của Thánh Cả GIUSE, Đấng mà Các Chị đặt trọn lòng tin tưởng phó thác và đã cùng nhau sốt sắng làm Tuần Cửu Nhật dâng kính Thánh Cả GIUSE.

Chiếc cầu thang kỳ lạ trên đây hàng năm thu hút khoảng hơn 250 ngàn du khách hiếu-kỳ đến viếng thăm.

… Kinh THÂN LẠY THÁNH CẢ GIUSE.

Con thân lạy Thánh Cả GIUSE, là bàu chủ và Cha kẻ đồng trinh. Bởi Thánh GIUSE giữ lòng trinh khiết, nên đáng gìn giữ Chúa KITÔ là chính sự vẹn sạch, và Đức Nữ Đồng TRinh MARIA. Nhân vì Đức Chúa GIÊSU và Đức Mẹ là hai của cầm châu báu Đức Chúa CHA, thì con nài xin gìn giữ xác con khỏi mọi bợn nhơ, trí khôn con thanh tịnh, lòng con vẹn sạch hầu con nên trung thành tinh khiết cùng Đức Chúa GIÊSU và Đức Mẹ cho đến muôn đời. Amen.

Lm Trần Đức Phương (Sưu tầm từ internet)

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Người Kitô Hữu Đảm Nhận Sự Thách Đố Của Tình Yêu

Đức mến, nhân đức đối thần, là nhân đức mà mỗi Kitô hữu được mời gọi để yêu mến Thiên Chúa vì chính Ngài, và yêu tha nhân vì chính Thiên Chúa – nghĩa là, mỗi tín hữu yêu mến Thiên Chúa trong tha nhân. Họ mặc lấy “tư tưởng của Đức Kitô” (xem 1 Cr 2,16; Rm 12, 2), lấy Thánh ý Thiên Chúa làm ý của chính mình – chiêm ngắm mọi sự như Thiên Chúa nhìn ngắm, và yêu mến thọ tạo theo cách của Thiên Chúa. Không những thế, mỗi kitô hữu biến những nhu cầu, những niềm vui, nỗi buồn, và cả những khát vọng của tha nhân thành của mình, coi mọi điều tốt lành của tha nhân như thể của chính họ.

Hành trình đến Thiên chúa

Khi bắt đầu hành trình đến với Thiên Chúa, chúng ta thường vâng phục vì sợ hãi – sợ hỏa ngục – chứ chưa khởi phát từ tình yêu. Nghĩa là, chúng ta thường vâng lời bằng sự sợ hãi của “người nô dịch” (tức là sợ hình phạt). Tại sao các trẻ nhỏ, ít là ở các thời kỳ đầu, vâng lời cha mẹ? Bởi vì chúng không muốn phải nhận hình phạt. Tuy vậy, nỗi sợ hãi của “lòng hiếu” có thể được thúc đẩy bởi lòng yêu mến – người ta thường sợ làm thất vọng hoặc xúc phạm đến những người mà họ tôn trọng và yêu thương nhất.

Thêm nữa, trong những giai đoạn sơ khởi, chúng ta chưa yêu mến Thiên Chúa vì chính Ngài. Thiên Chúa sẽ đánh động chúng ta trước, bằng những an ủi tinh tế – những chuyển động giúp chúng ta cảm thấy được gần gũi Thiên Chúa hơn. Thiên Chúa Cha ban nguồn an ủi nồng nàn và thương mến giúp chúng ta tiếp tục yêu mến và được mạnh sức hơn. Tuy vậy, dù ơn an ủi thật quan trọng nhưng chúng ta không thể tìm kiếm ơn an ủi như là những cùng đích. Khi nhận được ơn an ủi, chúng ta sẽ vui mừng; nhưng sau đó, ở một thời điểm nhất định, Thiên Chúa lại rút ơn an ủi như một cách giúp chúng ta sống trưởng thành và sống yêu mến cách triệt để hơn. Rốt cuộc, chúng ta không chỉ yêu mến Thiên Chúa vì những ơn an ủi; nhưng qua ơn an ủi, chúng ta nhận biết chính Thiên Chúa là nguồn ban phát mọi ơn lành.

Tình yêu nhân bản

Tình yêu, dầu có thể đi kèm với cảm xúc, nhưng nó không chỉ là một cảm xúc hay cảm giác. Như đã đề cập, tình yêu hệ tại ở việc mưu cầu sự tốt lành của tha nhân như thể là của chính mình. Những nhu cầu của người khác trở thành nhu cầu của tôi – những mục tiêu của họ là mục tiêu của tôi, những niềm vui và những nỗi buồn của họ là của tôi. Như thế, tình yêu vốn dĩ có sự nối kết, làm tất cả trở nên một tâm trí.

Những trở ngại cho tình yêu

Sự đố kỵ đối lập trực tiếp với tình yêu (xem 1 Cr 13, 4). Đố kỵ là buồn phiền trước lợi ích của người khác; nó thường được nhận biết bằng những thái độ cụ thể: “Nếu tôi không thể có điều này, tôi cũng không muốn người khác có.” Như thế, sự đố kỵ vốn là sự chia rẽ: lợi ích của tôi không thể bao hàm lợi ích của người khác, và lợi ích của họ là sự mất mát của tôi.

Hơn nữa, mỗi ngày, mỗi người cần phải vượt lên và làm chủ những phản ứng bộc phát theo cảm xúc. Ví dụ, lối phản ứng vô cùng nguy hại trong đời sống hôn nhân là “lối giải thích tiêu cực”, vợ hay chồng diễn giải động cơ của người bạn đời một cách quá tiêu cực. Nếu việc giải thích tiêu cực đủ mạnh, người khác chẳng thể làm gì được nữa, bởi tất cả hành động của họ sẽ bị diễn giải qua lăng kính tiêu cực: những lý giải tích cực bị bỏ qua một bên và những lời diễn giải tiêu cực trở thành tâm điểm; và điều ấy tạo nên một vòng xoáy tiêu cực khiến người ta khó bề thoát khỏi.

Vậy chúng ta có thể làm gì?

Chủ động tìm kiếm những điểm tích cực khi có những quan điểm đối lập. Chúng ta thường “chộp lấy” điểm thuộc về hành vi của người bạn đời mà những điểm ấy củng cố cho cái thành kiến sẵn có trong chúng ta – chỉ giữ khư khư điểm nào củng cố cho điều chúng ta đã nghĩ trước đó, đồng thời phớt lờ những điểm tốt đẹp khác nơi người bạn đời. Nhưng nếu chúng ta có thể vượt lên trên những phản ứng cảm xúc tự phát và cố gắng tìm ra những điểm tích cực chống lại những giả định tiêu cực vốn tồn tại trong chúng ta ngay từ đầu, chúng ta sẽ nhận ra những thiện chí nơi ngời bạn đời của mình; và như thế, yếu tố có thể gây nên vòng xoáy tiêu cực sẽ bắt đầu chìm xuống. Thế nhưng để thắng vượt những phản ứng tức thời mang tính cảm xúc và làm chủ những ước muốn, lời nói hay những hành động gây tổn thương người khác, người ta vẫn cần đến một đức mến trổi vượt, cao vời.

Như đã đề cập, đức mến là nhân đức tối hậu để mỗi người yêu mến Thiên Chúa trong mọi sự, bao gồm cả những người bạn đời – trao hiến tình yêu chung thủy vô điều kiện. Và Thiên Chúa trao ban cho chúng ta sức mạnh để thực hiện điều này bằng cách tuôn đổ Chúa Thánh Thần vào lòng chúng ta (Rm 5, 5). Vì đây không đơn thuần là tình yêu của con người, nên nó cũng không thể được thực hiện chỉ bằng khả năng của con người.

Làm thế nào để chúng ta có thể vượt lên trên các phản ứng cảm xúc tức thời trong thế giới hôm nay và có thể chọn con đường tình yêu cao hơn – coi người khác trọng hơn mình?

Nguồn: https://www.magiscenter.com/a-christian-take-on-love/

Chuyển ngữ: Pr. Nguyễn Văn Đương, SJ

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

CHƯƠNG TRÌNH MÙA CHAY- PHỤC SINH 2019

TĨNH TÂM MÙA CHAY

1) Dành cho Thiếu Nhi: Chúa nhật IV Mùa Chay (31/3), lúc 8h00.

– Giảng: cha Quản nhiệm.

2) Dành cho Cộng đoàn: Thứ sáu 29/3 và Thứ bảy 30/3.

– Giảng: Cha Giuse Nguyễn Trường Xuân (DCCT).

GIẢI TỘI TẬP TRUNG

Thứ Tư, ngày 10/4/2019 – từ 19h00 đến 20h00

(Các ngày thường của Mùa Chay, Cha sở giải tội trước lễ chiều 30 phút)

Các Tuần của Mùa Chay

  • Ngắm 5 Sự Thương Khó vào các ngày: T2 – T4 – T6 lúc 17h30.
  • Thánh lễ lúc 18h00.

CHÚA NHẬT LỄ LÁ 14-4-2019

Các giờ Lễ như ngày Chúa nhật.

(Nghi thức làm phép lá và rước lá vào Lễ sáng 6h00.)

TUẦN THÁNH

Thứ Hai- Ba- Tư Tuần Thánh, tức ngày 15-16-17/4 năm 2019

  • Ngắm 5 Sự Thương Khó và dâng hạt, lúc 17h30.
  • Thánh Lễ lúc 18h00.

THỨ NĂM TUẦN THÁNH 18-4-2019.

 Sáng không có Thánh Lễ tại Giáo xứ.

THÁNH LỄ TIỆC LY

– 18h00: Thánh Lễ dành cho Thiếu nhi.

– 20h00: Thánh Lễ Cộng đoàn.

Sau Thánh Lễ, rước kiệu và Chầu Thánh Thể luân phiên đến 24h00.

THỨ SÁU TUẦN THÁNH 19-4-2019.

             * Sáng không có Thánh Lễ.

– Từ 6h00 đến 14h30: Chầu Thánh Thể trong thinh lặng.

– 15h00: Ngắm đàng Thánh Giá trọng thể (cộng đoàn).

TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CHÚA GIÊSU

– 18h00: Nghi thức Suy Tôn Thánh Giá (cộng đoàn).

– 20h00: Diễn nguyện Thương Khó (Nhóm những người bạn nhỏ Chúa Giêsu).

* Sau diễn nguyện là nghi thức tháo đanh, táng xác và hôn chân Chúa.

 

THỨ BẢY TUẦN THÁNH 20-4-2019

             * Sáng không có Thánh Lễ.

* Từ 6h00 đến 16h00: Hôn chân Chúa, giữ thinh lặng.

CANH THỨC THÁNH LỄ VỌNG PHỤC SINH

  • 18h00: Thánh Lễ dành cho Thiếu nhi.
  • 21h00: Thánh Lễ Cộng đoàn.

 

CHÚA NHẬT PHỤC SINH 21-4-2019

Các Thánh Lễ như ngày Chúa Nhật.

MỪNG CHÚA PHỤC SINH

ALLELUIA – ALLELUIA!!!

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

NGUỒN GỐC THÁNG KÍNH THÁNH GIUSE

– Người khởi xướng việc tôn sùng Thánh Giuse trước tiên trong Giáo Hội là Đức Hồng Y Patricio Daily.   Ngài đã chép sách để cổ võ cho mọi người tin tưởng tôn kính Thánh Cả.
– Thế kỷ 12, thánh Bênađô, thánh Tôma Aquinô, thánh Bonaventura, rao giảng về Thánh Cả Giuse.

– Thế kỷ thứ 15, nhà thần học Gerson Trường Đại Học Paris,  đã tiếp tục việc cổ động này. Trong Hội Nghị thành Constantinô,  trước mặt đông đủ các vị Sứ Thần Tòa Thánh,  các Thần Học Gia…. Ông đã thuyết trình một bài rất hùng hồn về thế lực và lòng nhân lành của Thánh Cả Giuse.  Kết quả Hội Đồng đã tôn nhận Thánh Giuse là Đấng Bảo Trợ Đại Hội.

– Thế  kỷ  thứ  16, bà Thánh Têrêsa Mẹ cổ động lòng sùng kính Thánh Cả. Bà Têrêsa đã dùng chính đời sống mình để làm gương khuyến khích các chị em trong Dòng.   Bà quả quyết rằng :”Chưa  bao  giờ  tôi kêu cầu Thánh Cả Giuse mà Ngài không giúp đỡ tôi.  Nhất là việc nhờ Ngài tu sửa lại Dòng Kín”.

– Thế kỷ 17, giám mục Bossuet tại nước Pháp đọc diễn văn ca ngợi Thánh Giuse gây tiếng vang tới Rôma, Đức Ubarnô 8 đã nâng lễ thánh Giuse lên bậc lễ buộc trong nước Pháp.

– Tại nước Austria (Áo), vua Leopoldo nhiệt liệt ca tụng Thánh Giuse, đã xin Tòa thánh cho lập lễ Hôn phối thánh Giuse với Đức Mẹ để ghi ơn thánh Cả đã cho sinh con nối dòng và chiến thắng quân Turkey.

– Thế kỉ 19, năm 1870, Đức Piô 9, theo đề nghị của các nghị phụ Công đồng Vatican I, đặt Thánh Giuse làm Đấng Bảo trợ Giáo hội và truyền mừng lễ ngày 19 tháng 3 hàng năm trọng thể .

Năm 1889, Đức Lêô 13 ra thông điệp về Lòng tôn kính Thánh cả Giuse và truyền lấy tháng Ba hàng năm tôn kính Ngài. (Châu Thủy, Thánh Giuse trong Phúc âm, NSTTĐM, 1989, trang 148-150)

Đức Piô 11 tuyên xưng Thánh cả là  Mẫu gương đời lao công.  Và Đức Thánh Cha Piô 12 đã đặt Thánh Giuse làm chủ các gia đình.

Những việc làm kính Thánh Cả:

1. Hàng ngày :  Năng nguyện tắt: “GiêsuMariaGiuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”, và dâng mình cho ba Đấng.  Cầu xin cùng Thánh cả lúc gặp khó khăn hoặc cơn cám dỗ.

Tối trước khi đi ngủ, đọc kinh Thánh Giuse bầu cử, hay đọc 7 kinh Lạy Cha,  7 kinh Kính Mừng,   kính nhớ 7 sự vui mừng và đau khổ của Ngài, kính Ngài và xin ơn chết lành.

2. Hàng tuần : Ngày Thứ Tư kính Thánh Cả,  làm thêm việc lành tùy hoàn cảnh: như đọc thêm kinh,  đọc sách về Thánh Cả, hãm mình, làm việc bác ái, dự lễ.

3. Tháng  Ba: sửa sang bàn thờ gia đình, thêm hoa nến để kính Ngài.

Trong dịp trước lễ kính Thánh Giuse (ngày 19 tháng 3), nên làm tuần 3 ngày dọn mình mừng lễ Ngài cho long trọng,  xưng tội, rước lễ,  xin lễ,  tôn kính Ngài.

Ngoài ra còn nhiều việc sùng kính khác như đeo ảnh trong mình, bày tượng ảnh trong nhà,  lập đài nơi khu xóm,  cất đền nơi xứ đạo,  tôn Ngài làm quan thầy Hội đoàn,   phát hành báo chí,  internet, phổ biến tranh ảnh,  bài hát….  kính Ngài  nữa.

Truyện thánh – 

Con trai được cải hóa, nhờ mẹ và các em cầu nguyện. 

Gần thành Granôpoli, nước Pháp, có một gia đình 5 người. Ông chồng chết sớm. Mẹ con làm ăn nuôi nhau. Bà mẹ có lòng đạo đức, luôn lấy lời nói gương sáng khuyên bảo các con. Hai cô em thì ngoan, còn ông anh cả đi học xa ở Paris thì ôi thôi: phần xác thì ốm đau, phần hồn thì bê bối đủ điều, khô khan tội lỗi. Hắn không cầu nguyện, không dự lễ, mà khi thấy mẹ và các em cầu nguyện, hắn lại chê bai. Ba mẹ con hằng khuyên nhủ và kêu xin Chúa  cải thiện hắn, nhưng vô ích, hắn cứng đầu hơn đá.

Mọi năm nhà này cứ tới tháng Ba là làm việc kính Thánh Cả Giuse. Năm ấy mẹ bảo hai con sốt sắng hơn để cầu nguyện cho người anh khô khan, tội lỗi được ơn cải thiện đời sống.

Hôm trước ngày mùng một, mẹ con trang hoàng bàn thờ Thánh Cả với hoa nến đẹp đẽ. Người anh đi đâu về thấy bàn thờ đã dọn thì hỏi: dọn làm gì? Mẹ trả lời:

– Mai là tháng Thánh Giuse, mẹ và các em có ý kính Người hơn mọi năm để cầu xin cho con được ơn ăn năn cải thiện trở về cùng Chúa, sốt sắng giữ đạo.

Con cả nghe vậy cười lớn và lắc đầu, tỏ vẻ khinh thường.

Ngày mùng một, hai, ba, khi mẹ và 2 em quì gối làm việc kính Thánh Cả, thì cậu con ngồi xa xa cười mẹ và các em mê tín dị đoan.

Nhưng từ ngày 7, 8 trở đi, nó không cười nhạo nữa, nhưng ngồi yên lặng coi bộ suy tư lắm. Đến ngày mùng 10, hắn làm dấu Thánh giá và thỉnh thoảng gặt nước mắt trộm vụng kẻo có ai thấy và thở dài kêu thầm: Lạy Ông Thánh Giuse, xin thương linh hồn tôi.

Đến ngày 15, nó đến thú thật với mẹ rằng: Từ khi con bỏ Đức Chúa Trời, con bối rối lo âu luôn luôn. Nhờ dịp này, con quyết ăn năn cải thiện đời sống, xin mẹ cùng 2 em cầu nguyện để con được ơn cải thiện thật lòng.

Anh ta cầu nguyện và xét mình vài ba ngày, rồi đi tìm linh mục xưng tội rước lễ sốt sắng.

Từ ngày ấy trở đi, anh ta sống đạo rất tốt, làm gương cho các em và làm mẹ vui lòng lắm.

Sau 3 năm, anh ta mắc bệnh nặng, và được chết lành êm ái trong tay Thánh Cả Giuse Bổn mạng của anh ta.

Sưu Tầm

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Cậu bé thiên tài 12 tuổi muốn chứng minh “Thiên Chúa thật sự tồn tại”

Cậu bé thiên tài 12 tuổi muốn chứng minh “Thiên Chúa thật sự tồn tại”

6 tháng tuổi, bắt đầu nhận dạng được chính xác các con số.
7 tháng tuổi, nói được những câu hoàn chỉnh.
21 tháng tuổi, biết làm tính cộng.
2 tuổi biết làm tính nhân, đọc được sách dành cho trẻ em, và viết được một cuốn sách 9 trang của chính mình, nhan đề “Chú mèo hạnh phúc”.

Đến năm 3 tuổi, William biết bảng chữ cái bằng ba thứ tiếng
4 tuổi, học đại số, ngôn ngữ ký hiệu, đọc tiếng Hy Lạp. “Nó luôn luôn có mối quan tâm đặc biệt đến các con số”, ông Peter nói.
5 tuổi, đọc toàn bộ một cuốn sách giáo khoa hình học dày 209 trang chỉ trong một đêm và lúc thức dậy vào sáng hôm sau đã giải những bài toán về chu vi, bộc lộ thiên hướng toán học rõ rệt.
Lúc 7 tuổi, là một chuyên gia về lượng giác…

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Thật bí ấn PHÉP LẠ của THÁNH GIUSE qua lời kể của thánh Têrêsa Avila

Thánh nữ Têrêsa Avila  Nói Về Thánh Giuse:

Tự truyện : “Thấy mình còn trẻ mà bị bất toại, lại thấy tình trạng đáng buồn do các y sĩ trần gian đưa đẩy tôi vào, tôi quyết định chạy đến cùng các y sĩ trên trời để được khỏi bệnh … Tôi nhận Thánh Giuse vinh hiển làm Đấng bàu chữa và bảo hộ tôi. Tôi cậy nhờ Người cách rất thiết tha. Ơn cứu giúp của Người nổi bật nhãn tiền. Đấng bảo hộ và Cha hiền của linh hồn tôi đã cứu tôi khỏi bệnh tật suy tàn về thân xác, cũng như Người đã giải thoát tôi khỏi những hiểm nguy trầm trọng hơn về mặt khác, có thể làm hại hạnh phúc đời đời của tôi. Tôi nhớ rõ, chưa bao giờ tôi cầu xin sự gì cùng Thánh Cả Giuse mà không được như ý. Kỳ diệu thay, những ơn đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi, và đã giải thoát tôi khỏi mọi nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác, do lời cầu bàu của Vị Thánh vinh phúc này”.

“Dường như Đấng Tối Cao ban ơn cho các thánh giúp chúng ta việc này việc nọ, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết thì Thánh Giuse vinh hiển có quyền năng rộng rãi giúp chúng ta trong mọi việc. Như thế là Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng, như xưa Chúa đã vâng phục Thánh Cả dưới thế, đã nhìn nhận Người với quyền làm cha và làm giám quản, thì nay ở trên trời, Chúa cũng sẵn lòng chiều theo ý muốn của Người, mà nhận mọi lời Người cầu xin. Những người khác mà tôi khuyên chạy đến cùng Vị Bảo Hộ này, cũng nhận thấy điều ấy như tôi, do kinh nghiệm. Vậy nên số các linh hồn sùng kính Thánh Cả Giuse ngày càng gia tăng, và những hiệu quả tốt lành do sự chuyển cầu của Thánh Cả ngày càng xác nhận lời tôi nói là sự thật …”

“Qua kinh nghiệm lâu dài như vậy, ngày nay được biết rõ uy thế rất lạ lùng của Thánh Giuse trước toà Thiên Chúa, tôi muốn thuyết phục mọi người tôn kính sùng mộ Thánh Cả Giuse cách đặc biệt. Cho đến nay tôi vẫn thấy những ai có lòng sùng kính Người đích thực và chứng tỏ bằng việc làm, họ điều tiến tới trên đường nhân đức, vì Đấng Thánh Bảo Hộ trên trời hằng giúp đỡ rõ rệt về đường tiến đức cho những ai cậy nhờ Người. Đã từ nhiều năm nay, cứ ngày lễ kính Thánh Giuse, tôi vẫn xin Người một ơn đặc biệt, và tôi luôn được toại nguyện. Khi nào lời cầu nguyện của tôi có điều gì chưa toàn hảo theo mục đích sáng danh Chúa, thì Người điều chỉnh lại cho, để giúp tôi rút được lợi ích lớn lao hơn. Nếu tôi có quyền viết, tôi sẵn lòng thuật lại trong một ký thuật tỉ mỉ, những ơn mà biết bao người cũng như tôi đã thụ lãnh ở nơi Thánh Cả Giuse. Nhưng để không ra ngoài phạm vi mà đức vâng lời đã chỉ định cho tôi, có việc tôi buộc lòng chỉ lướt qua, còn việc khác có lẽ tôi hơi dài dòng, vì tôi quá vụng về không biết giữ đúng giới hạn của sự kín đáo trong việc lành. Vậy tôi chỉ còn biết, vì lòng mến Chúa, nài xin những ai không tin lời tôi, hãy thử mà cậy nhờ, cầu khẩn Thánh Tổ Phụ Giuse vinh hiển và nhiệt thành tôn sùng kính mến Người, là điều ơn ích dường nào !

Nhất là những người nguyện ngắm, càng phải luôn luôn kính mến Người với hết tình con thảo. Tôi không hiểu sao người ta có thể nghĩ đến Đức Trinh Vương Các Thiên Thần và nhớ lại mọi khổ cực Người đã phải chịu trong thời thơ ấu của Chúa Giêsu, mà người ta lại không cám ơn Thánh Cả Giuse. Vì Người đã cứu giúp Mẹ Con Chúa cách tận tình và hoàn hảo đến thế ! Ai không tìm được thầy dạy dỗ cách nguyện ngắm, xin hãy chọn Vị Thánh Cả tuyệt diệu này làm thầy ; và dưới sự dìu dắt của Người, họ sẽ chẳng sợ lầm lạc, khi tôi đã táo bạo dám nói về Người. Tôi công khai biểu lộ lòng sùng kính đặc biết đối với Người, điều ấy rất thật đó, nhưng về các công việc để làm vinh danh Người, và việc bắt chước các nhân đức Người, thì tôi còn thua kém lắm. Vậy mà Người đã làm chói rạng nơi tôi quyền năng và lòng nhân từ của Người, nhờ Người, tôi đã cảm thấy sức lực phục hồi, tôi đứng dậy, tôi đi, tôi không còn bất toại nữa”.

Một vinh quang trong sứ mạng của Thánh Nữ Têrêsa theo ơn Chúa Quan Phòng cho những thế kỷ gần đây, là đã phổ biến việc sùng kính Thánh Cả Giuse trong toàn thể Giáo Hội Công Giáo.

Tác giả lừng danh Patrignant đã viết : “Thánh nữ Têrêsa là một trong những ngôi sao sáng ngời nhất, một trong những kim cương mỹ lệ nhất nơi triều thiên Thánh Cả Giuse. Bà đã được Thiên Chúa chọn để truyền bá việc tôn sùng Thánh Cả Giuse trong khắp thế giới, và để đặt bàn tay cuối cùng, nếu có thể nói như thế, vào công cuộc lớn lao này” (Dévot à Saint Joseph, q.I, ch.XI).

Nhà thờ của Đan viện cải cách đầu tiên do Bà lập được dâng kính Thánh Giuse. Trong 17 Đan viện Bà lập sau Đan viện Avila, thì 12 Đan viện được dâng kính Thánh Tổ Phụ, nhưng Bà đưa việc tôn sùng Thánh Giuse vào tất cả mọi Đan viện. Bà trao phó hết cho Thánh Giuse bảo hộ, Bà luôn luôn đặt tượng Vị Thánh trên cửa vào tu viện. Hơn nữa người ta được đọc trong một hồ sơ pháp lý để phong thánh cho Bà : “Bà tự tay đặt ở cửa vào mỗi tu viện một bức ảnh Đức Mẹ và Thánh Giuse trốn sang Ai cập với lời ghi : Pauperem vitam gerimus, sed multa bona habebimus, si timuorimus Deum : Chúng ta sống khó nghèo, nhưng chúng ta sẽ được tài sản lớn, nếu chúng ta kính sợ Thiên Chúa (Tb 4,23). Trong một khuyến cáo Bà nói : “Mặc dù các chị em tôn kính nhiều vị thánh làm bổn mạng, nhưng chị em hãy có lòng đặc biệt đối với Thánh Cả Giuse, vì Người có quyền thế rất lớn trước toà Thiên Chúa” (Avis, LXV).

Thánh Nữ Têrêsa đã trối lại cho toàn thể Dòng của Bà một lòng nhiệt thành, hăng say làm vinh danh Thánh Cả Giuse. Theo gương Bà, Dòng Cát Minh không ngừng hoạt động phổ biến việc tôn sùng Thánh Tổ Phụ, và người ta có thể nói là Dòng Cát Minh cải cách thi đua nhiệt thành với Dòng Cát Minh cựu thời, đã được Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XIV khen ngợi như sau : “Theo ý kiến các nhà thông hiểu, chính Dòng này đã đưa từ Phương Đông sang Phương Tây tập tục đáng khen ngợi là tôn kính Thánh Cả Giuse bằng việc kính long trọng nhất”.

Đến cuối thế kỷ XVII, nguyên trong dòng Cát Minh người ta đã đếm được 150 nhà thờ mang thánh hiệu Giuse. (Phạm Đình Khiêm, Thánh Giuse Tuyệt Diệu, trang 44-48)
Thánh nữ, một nhà chiêm nghiệm sâu xa và là một nhà năng động hiếm có, là một người rất có lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Lòng sùng kính ấy, cũng như Thánh Bênađô, Bà đã được trong một thị kiến. Bà tự thuật : “Ngày lễ Mông Triệu, tôi được xuất thần như ra khỏi tôi … Tôi được mặc một chiếc áo thật trắng và chói sáng. Thoạt đầu tôi không biết ai đã mặc cho tôi. Nhưng rồi, tôi thấy Đức Mẹ ở bên hữu và Cha tôi, Thánh Giuse, ở bên tả đã mặc cho tôi. Và tôi được nghe : từ đây tôi được rửa sạch mọi tội lỗi của tôi. Sau việc mặc áo, tôi cảm thấy đầy hạnh phúc và sung sướng, và tôi thấy Đức Mẹ cầm tay tôi và nói : “Mẹ rất vui thích khi thấy con tôn sùng Thánh Cả Giuse vinh hiển. Tôi có thể tin rằng ý định lập dòng của tôi sẽ thành tựu. Chúa Kitô và Hai Đấng sẽ được tôn vinh…” 

(Hồng Phúc, Thánh Cả Giuse, Cali, Hoa Kỳ, 1996, trang 98).

Chia sẽ bài viết này trên:

Sứ điệp Mùa Chay 2019 của ĐTC Phanxicô

“Muôn loài thụ tạo những trông ngóng nhìn thấy con cái Thiên Chúa được vinh hiển” (Rm 8,19)

Anh chị em thân mến,
Mỗi năm, qua Mẹ Giáo hội, Thiên Chúa lại “ban cho chúng ta mùa hân hoan này để chúng ta dọn mình mừng mầu nhiệm Vượt Qua với tâm trí đã được đổi mới… khi chúng ta nhớ lại những biến cố lớn lao đã đem lại cho chúng ta đời sống mới trong Chúa Kitô” (Kinh Tiền tụng Mùa Chay I). Vì thế chúng ta bước đi trên hành trình từ Phục Sinh năm này đến Phục Sinh năm khác hướng đến ơn cứu độ viên mãn mà chúng ta đã lãnh nhận nhờ mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô – “vì nhờ cậy trông mà chúng ta đã được cứu độ” (Rm 8,24). Mầu nhiệm cứu độ này, đã hoạt động nơi chúng ta trong cuộc sống trần gian, là một tiến trình năng động bao trùm lịch sử cũng như toàn thể thụ tạo. Như Thánh Phaolô nói, “muôn loài thụ tạo những trông ngóng nhìn thấy con cái Thiên Chúa được hiển dương” (Rm 8,19). Trong viễn cảnh này, tôi muốn đưa ra một vài suy tư để đồng hành với anh chị em trên hành trình hoán cải Mùa Chay sắp tới.

1. Thụ tạo được cứu độ
​​​​​​​

Cử hành Tam nhật Vượt qua về cuộc thương khó, tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô, đỉnh cao của năm phụng vụ, kêu gọi chúng ta hằng năm thực hiện một hành trình dọn mình, bởi biết rằng đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô (x. Rm 8,29) là một món quà vô giá của lòng Chúa thương xót.

Khi chúng ta sống như con cái của Thiên Chúa, như những người được cứu chuộc, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn (x. Rm 8,14) và biết nhìn nhận và vâng nghe luật Chúa, khởi đi từ luật được ghi khắc trong tâm hồn và trong tự nhiên, chúng ta cũng đem lại lợi ích cho công trình sáng tạo bằng cách cộng tác vào công cuộc cứu độ các thụ tạo. Đó là lý do tại sao Thánh Phaolô nói rằng các thụ tạo trông ngóng nhìn thấy con cái Thiên Chúa được vinh hiển; nói cách khác, tất cả những ai được hưởng ân sủng mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu có thể cảm nghiệm được ân sủng ấy sẽ thành toàn trong việc cứu độ chính thân xác con người. Khi tình yêu của Chúa Kitô biến đổi cuộc sống của các thánh trong tinh thần, thể xác và linh hồn, các ngài ca tụng Chúa. Qua cầu nguyện, chiêm niệm và nghệ thuật, các ngài cũng đưa các thụ tạo khác vào lời ca tụng ấy, như chúng ta thấy Thánh Phanxicô Assisi đã diễn tả một cách tuyệt vời trong “Bài ca Vạn vật” (x.Laudato Si’, 87). Tuy nhiên, trong thế giới này, sự hài hòa mà ơn cứu độ tạo nên luôn bị đe dọa bởi sức mạnh tiêu cực của tội lỗi và sự chết.

2. Sức mạnh hủy diệt của tội lỗi

Thật vậy, khi chúng ta không sống như con cái Thiên Chúa, chúng ta thường cư xử theo cách triệt hạ người thân cận và các thụ tạo khác – kể cả chúng ta – vì chúng ta bắt đầu nghĩ, với ý thức ít nhiều, rằng chúng ta có quyền sử dụng chúng theo ý mình. Khi ấy, tính vô độ chiếm ưu thế: chúng ta bắt đầu sống một cuộc sống vượt quá những giới hạn mà chính thân phận và bản tính con người của chúng ta đặt ra. Chúng ta chiều theo những ham muốn bất kham mà Sách Khôn ngoan coi là điển hình của kẻ vô đạo, tức là những người hành động mà chẳng nghĩ gì đến Chúa hoặc hy vọng cho tương lai (x. 2,1-11). Nếu chúng ta không chuyên tâm hướng về lễ Phục sinh, về chân trời Phục sinh, thì não trạng diễn tả trong những khẩu hiệu này sẽ thống lĩnh: “Tôi muốn có mọi thứ và tôi muốn có ngay bây giờ!”, “Quá nhiều thì cũng chẳng bao giờ đủ”.

Gốc rễ của mọi sự dữ, như chúng ta biết, là tội lỗi, mà từ khi xuất hiện lần đầu, nó đã phá vỡ sự hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa, với những người khác và với chính thiên nhiên, mà chúng ta liên kết với nó theo một cách cụ thể qua thân xác của chúng ta. Sự rạn nứt mối hiệp thông với Thiên Chúa cũng huỷ hoại mối tương quan hài hòa của chúng ta với môi trường mà chúng ta được kêu gọi để sống, đến nỗi khu vườn đã trở nên nơi hoang địa (x. St 3,17-18). Tội lỗi đưa con người đến chỗ coi mình là chúa tể của tạo thành, coi mình là chủ nhân tuyệt đối của nó và sử dụng nó, không phải theo mục đích mà Đấng Tạo Hóa đã muốn mà theo lợi ích của riêng mình, gây thiệt hại cho các thụ tạo khác.

Một khi luật của Thiên Chúa, luật yêu thương, bị loại bỏ, thì luật mạnh được yếu thua sẽ thắng thế. Tội lỗi tiềm ẩn trong lòng con người (x. Mc 7,20-23) mang hình dạng của thói tham lam và tìm kiếm an nhàn cách vô độ, thiếu quan tâm đến thiện ích của người khác và thậm chí của chính mình. Nó dẫn đến việc bóc lột thiên nhiên, cả con người lẫn môi trường, do sự thèm muốn vô độ vốn coi mọi ham muốn như một quyền và chẳng sớm thì muộn sẽ hủy diệt tất cả những gì nằm trong tầm tay của nó.

3. Sức mạnh chữa lành của lòng thống hối và ơn tha thứ

Thụ tạo rất cần đến sự vinh hiển của con cái Thiên Chúa, là những người đã trở nên “thụ tạo mới”. Vì “ai ở trong Đức Kitô thì đều là thụ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi” (2 Cr 5,17).Thật vậy, khi được vinh hiển, chính thụ tạo có thể mừng lễ Vượt qua, mở ra cho một trời mới đất mới (x. Kh 21,1). Con đường đến với lễ Phục sinh đòi hỏi chúng ta canh tân bộ mặt và con tim Kitô hữu của mình nhờ việc ăn năn, hoán cải và tha thứ, để sống trọn vẹn ân sủng dồi dào của mầu nhiệm Vượt qua.

Thái độ trông ngóng này, niềm trông đợi này của toàn thể thụ tạo, sẽ được viên mãn khi con cái Thiên Chúa được vinh hiển, nghĩa là khi các Kitô hữu và mọi người quyết tâm đi vào “cơn đau chuyển dạ” của lòng hoán cải. Mọi thụ tạo đều được kêu gọi, cùng với chúng ta, “thoát khỏi sự lệ thuộc vào cảnh hư nát để được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,21). Mùa Chay là một dấu chỉ bí tích của cuộc hoán cải này. Mùa Chay mời gọi các Kitô hữu thể hiện mầu nhiệm Vượt qua cách sâu xa và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của mình, trước hết bằng việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái.

Chay tịnh nghĩa là học cách thay đổi thái độ của chúng ta đối với người khác và với mọi thụ tạo: từ cơn cám dỗ muốn “ngấu nghiến” mọi thứ để thỏa mãn lòng tham đến chỗ sẵn sàng hy sinh vì tình yêu, vốn có thể lấp đầy con tim trống rỗng của chúng ta. Cầu nguyện dạy chúng ta từ bỏ tôn thờ ngẫu tượng và thói tự mãn, đồng thời nhìn nhận rằng chúng ta cần đến Chúa và lòng thương xót của Ngài. Làm việc bác ái giúp chúng ta thoát khỏi sự điên rồ của việc tích trữ mọi thứ cho bản thân mình với ảo tưởng có thể bảo đảm một tương lai vốn chẳng thuộc về chúng ta. Và như thế, để tái khám phá niềm vui của kế hoạch Thiên Chúa đã dành cho thụ tạo và cho mỗi người chúng ta, chính là là yêu mến Chúa, yêu thương anh chị em và toàn thế giới, để gặp được hạnh phúc thực sự của chúng ta nơi tình yêu ấy.

Anh chị em thân mến, thời gian “chay tịnh” 40 ngày mà Con Thiên Chúa đã trải qua ở hoang địathiên nhiên nhằm làm cho nơi ấy lại trở thành khu vườn hiệp thông với Thiên Chúa như trước khi có tội nguyên tổ (x. Mc 1,12-13; Is 51,3). Mong sao Mùa Chay năm nay của chúng ta sẽ là một hành trình trên cùng con đường ấy, mang lại niềm hy vọng của Chúa Kitô cho mọi thụ tạo, để thụ tạo “thoát khỏi sự lệ thuộc vào cảnh hư nát, được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,21). Chúng ta đừng để cho mùa ân sủng này qua đi cách vô ích! Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta cất bước trên con đường hoán cải thực sự. Chúng ta hãy từ bỏ thói ích kỷ và chỉ biết đến mình, để hướng về sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy gần gũi với những người anh chị em của chúng ta đang túng thiếu, chia sẻ với họ của cải tinh thần và vật chất. Như thế, khi đón nhận cuộc vinh thắng của Chúa Kitô đối với tội lỗi và sự chết vào trong đời sống của chúng ta một cách cụ thể, chúng ta cũng sẽ chiếu tỏa quyền năng có sức biến đổi của chiến thắng ấy cho mọi loài thụ tạo.

Ngày 06 tháng 03 Năm 2019

TÁC GIẢ: MINH ĐỨC (CHUYỂN NGỮ)

Chia sẽ bài viết này trên:

Ôi! Cát bụi tuyệt vời – Thứ Tư Lễ tro 2019

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác được nhiều bài hát có giá trị. Những bài hát đó còn sống với thời gian, nghe mãi không chán. Những bài hát đó không những có giá trị về phương diện âm nhạc, mà nhiều bài còn có giá trị về triết lý nhân sinh, một số bài lại bàng bạc tư tưởng Thánh Kinh. Một trong các bài hát của ông là bài “Kiếp con người” đã mang mầu sắc của sách Sáng thế khi ông mở đầu bằng câu: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy”.

Nhân dịp lễ Tro sắp tới, ngâm nga và cảm hứng theo bài hát trên, chúng tôi có một vài suy tư về ngày lễ đó để chuẩn bị tâm hồn chúng ta đi vào Mùa Chay thánh mà Hội thánh sắp mở ra cho chúng ta..

I. THIÊN CHÚA DỰNG NÊN CON NGƯỜI

1. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai vươn hình hài lớn dậy”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không phải là người Công giáo, nhưng ông có những tư tưởng về kiếp sống con người như chúng ta.

Sách Sáng thế nói đến việc Thiên Chúa dựng nên trời đất vạn vật từ hư không. Sau khi hoàn tất công việc tạo dựng, Thiên Chúa mới dựng nên con người.

Thiên Chúa phán: “Chúng ta làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26).

Thiên Chúa đã dựng nên con người như thế nào? Thì đây, sách Sáng thế đã mô tả: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người” (St 2,7).

Theo định nghĩa thì “Bụi” là tên chung cho các vật chất rắn có đường kính nhỏ cỡ vài micromét đến nửa milimét. Nghĩa là nhỏ lắm! Với mắt phàm xác thịt thì không thể nào ta nhìn thấy hạt bụi được. Cho dù bạn có đi cắt mắt bằng tia Laser, hoặc đi thẩm mỹ viện sửa mắt cho to thành hai ba mí cũng không thể nào thấy hạt bụi nhỏ li ti này được. Nhưng bạn sẽ “cảm thấy” rất rõ ràng nếu hạt bụi này vướng trong mắt…

Đối với con người, bụi là cái gì dơ bẩn, là biểu hiệu của cái gì hoang tàn và chết chóc. Thế mà Thiên Chúa đã dựng nên con người bằng những hạt bụi li ti như vậy đó. Vì thế, ngày nay người ta thường nói về thân xác con người là “xác đất vật hèn”.

2. “Ôi! cát bụi tuyệt vời”.

Là người Công giáo, chúng ta tin là nếu hạt bụi có được hóa kiếp là nhờ tình thương của Thiên Chúa. Vì nếu không, muôn đời hạt bụi vẫn mãi mãi là hạt bụi.

Sách Sáng thế đoạn 2 câu 7 nói rõ: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7).

Con người sinh ra từ bụi đất nhưng con người không bằng bụi đất vì con người có hơi thở và hơi thở này là hơi thở Sự Sống của Thiên Chúa, đến từ Thiên Chúa. Các muông thú động vật cũng có hơi thở nhưng sẽ chết đi và biến thành tro bụi. Con người khác xa các loài thụ tạo vì sự sống của con người đến từ Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống. Ngài là Sự Sống: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27).

Con người được Thiên Chúa dựng nên giống Ngài nên con người cũng sẽ được như Ngài là sống bất diệt, chứ không phải để chết như vạn vật.

Chính vì tình yêu mà Thiên Chúa đã biến đổi thân phận của hạt bụi. Và hạt bụi đó được Thiên Chúa biến hóa thành con người giống hình ảnh Chúa để được sống và sống dồi dào trong tình Chúa yêu thương, trong sự thuận hòa với đồng loại.

Ôi ! Cát bụi tuyệt vời !

Cảm nghiệm về tình yêu Thiên Chúa đối với con người hèn mọn, từ đời đời đã yêu thương và đưa con người lên làm bạn thân thiết với Ngài, nhất là cho con người được tham gia vào chức vụ Linh mục của Chúa Kitô, linh mục nhạc sĩ Kim Long đã sáng tác bài “Tình yêu Thiên Chúa”, trong đó có câu:

Bụi tro, ôi thân con là bụi tro đâu đáng
Mà Chúa cao siêu ngập tầng trời
Đã khắc tên con vào lòng Người
Nên bạn tâm phúc từ đây
Giữa hàng khanh tướng quyền uy.

II. NHƯNG CON NGƯỜI ĐÃ ĐI HOANG

“Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi”.

Thiên Chúa là Đấng Thiện hảo. Sau khi dựng nên vạn vật và con người, Thiên Chúa rất hài lòng: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra là rất tốt đẹp” (St 1,31)

Sau khi đã dựng nên con người, Thiên Chúa đã đặt con người vào trong Vườn Địa đàng để hưởng mọi thành quả Thiên Chúa đã dựng nên, và Ngài lại còn ban cho con người có quyền trên tất cả.

Tuy thế, con người cũng phải bị thử thách xem có trung thành với Chúa không. Người phán với con người: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,16-17).

Nhưng con người đã không tuân lệnh Chúa, theo lời khuyên nhủ của con rắn là ma quỷ, đã cả gan ăn trái cấm đó. Con người đã bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng và mất hết mọi hồng ân hồn xác mà Thiên Chúa đã ban cho lúc ban đầu.

Thiên Chúa đã ban mọi hồng ân cho con người, trong các hồng ân ấy sự tự do, một hồng ân mà Thiên Chúa chỉ dành cho con người. Nhưng sau khi con người dùng sự tự do đó mà đi nghịch lại với ý muốn của Thiên Chúa, thì con người đã từ chối sự thánh thiện và sự tốt lành mà Thiên Chúa ban. Con người đã đi vào hư vô, vào quãng “không”. Có nghĩa là con người chìm đắm trong những sự không tốt lành, không thánh thiện, không yêu thương, không bền vững. Con người bị rơi vào vùng bóng tối, vào kiếp đọa đày: “Người sẽ phải đổ mô hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, người đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19).

Làm kiếp con người là vậy đó!

Cái sự đau khổ của con người chịu, càng đau khổ hơn vì con người đã được nếm mùi hạnh phúc, đã biết thế nào là được yêu. Cũng như khi bị tù đày mới khát khao những ngày được tự do; khi bị thất tình mới biết giá trị của những ngày sống hạnh phúc trong tình yêu.

Tuy con người đã lìa bỏ Chúa, nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Thiên Chúa vẫn yêu thương, vẫn mời gọi, vẫn chờ đợi con người. Ngài đã sai Con của Ngài đến giải thoát chúng ta, để toàn thể con người không còn phải trở về kiếp bụi nữa. Chúa Giêsu sẽ cho chúng ta được phục sinh vinh hiển với Ngài. Đó là giao ước của Ngài với con người, với điều kiện là con người biết trở về với Ngài và biết bác ái yêu thương nhau. Nhưng, cũng phải kiên nhẫn đợi chờ. Thiên Chúa như người cha già hằng ngày đợi chờ mong ngóng tin vui chúng ta trở lại với Chúa.

III. CON NGƯỜI CẦN PHẢI TRỞ VỀ

“Xin úp mặt bùi ngùi
Từng ngày qua mỏi ngóng tin vui”.

Hôm nay là ngày Thứ Tư Lễ tro, bắt đầu Mùa Chay thánh, thời gian thuận tiện giúp con người có dịp nhớ lại mình mà làm hòa với Chúa. Con người vì đi hoang nên hay quên bản thân mình, không nhớ mình là bụi tro và có thể trở về với bụi tro bất cứ lúc nào:

Nhiều khi quên thân mình bụi tro
Con người say tìm bóng phù du
Kìa xem, núi cao lên rồi mòn
Hoa tươi lên rồi tàn qua mau ngàn giấc mơ vàng.
(Bụi tro – Phanxicô)

Thái độ của chúng ta lúc này phải chăng là “úp mặt bùi ngùi” để xin ơn tha thứ? Đúng vậy, Thiên Chúa sẽ thứ tha cho tất cả những ai biết ăn năn sám hối vì người ta thường nói: “Đánh kẻ chạy đi không đang người chạy lại”. Đang khi sám hối quay về với Chúa là chúng ta đang “Từng ngày qua mong ngóng tin vui”. Chắc chắn tin vui phải đến với con người sám hối vì Thiên Chúa như người cha đang mong ngóng đứa con đi hoang trở về.

Chúng ta tin tưởng vào Chúa Giêsu. Ngài là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Ngài sẽ giao hòa chúng ta với Chúa Cha. Ngài đóng một vai trò rất đắc lực trong việc hòa giải này.

Chúng ta còn nhớ đoạn Kinh Thánh nói về việc ông Abraham can thiệp cho thành Sôđôma. Ông có tài cù cưa mặc cả với Chúa. Ông nại lý do thân con chỉ là… tro bụi, xin Chúa tha cho anh em đồng loại “cả thành”. Để Thiên Chúa nghe mà mủi lòng. Ông nói: “Mặc dầu con chỉ là tro bụi, con cũng xin mạn pháp thưa với Chúa: giả như trong số năm mươi người lành lại thiếu mất năm, vì năm người đó, Ngài sẽ phá hủy thành sao”? Chúa đáp: “Không, Ta sẽ không phá hủy, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người” (St 18,27-28).

Đọc Kinh Thánh ta thấy, đây không phải là một lần đầu, mà cả ngàn lần sau này con người cứ xin lỗi rồi phạm tội, cứ hứa rồi lại thất hứa với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đầy tình thương, Ngài biết thừa con người thề hứa như thế đấy, mà không phải thế. Ngài đã biết trong con người là hay sa ngã, hay phạm tội, hay thất hứa,vẫn chứng nào tật ấy, nhưng Chúa vẫn cứ thương.

Trong Thánh lễ hôm nay, mỗi người sẽ nhận được một chút tro xức trên đầu. Trong Cựu ước, việc xức tro và mặc áo nhặm được dùng để thực hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đồng Israel. Tro chỉ thân xác chúng ta là tro bụi, sẽ phải chết (St 3,18-27; Gb 6,26; Est 4,13; Giona 3,6).

Ngày xưa, khi ai làm việc gì không chính đáng, họ thường xức tro trên đầu để tỏ dấu chỉ ăn năn thống hối quyết tâm làm điều lành, tránh sự xấu. Tro là dấu chỉ lòng ăn năn thống hối. Mỗi khi trông thấy tro bụi chúng ta liên tưởng ngay đến những gì đã qua, như một cánh đồng, một căn nhà, một khu phố sau cơn hỏa hoạn chỉ còn lại đống tro tàn.

Xức tro là để tỏ lòng ăn năn sám hối. Ngày nay, Giáo hội chỉ dùng một chút tro tượng trưng để nhắc nhở ta. Xức tro trên đầu không quan trọng bằng xức tro trong tâm hồn. Hãy xức tro vào tâm hồn để ta thấy tâm hồn mình đã ra hoen ố vì tội lỗi. Hãy xức tro vào tâm hồn để ta thấy rõ ta đã bôi tro trát trấu vào khuôn mặt Thiên Chúa, làm lem luốc khuôn mặt Hội thánh, làm ô danh cho đạo thánh Chúa. Hãy xức tro vào tâm hồn để ta thấy rõ ta đã làm cho mối quan hệ với tha nhân bị vẩn đục vì những tham nhũng, những ích kỷ, những nhỏ nhen của ta. Hãy xức tro vào tâm hồn để lòng ta xót xa, đau đớn, hối hận vì những tội lỗi đã phạm.

Do đó, Mùa Chay phải là mùa chúng ta biết “úp mặt bùi ngùi”, biết nhắc nhở mình là thân tro bụi, biết Chúa đã tha tội và đang mong mỏi chúng ta trở về để ăn năn thống hối những lỗi lầm đã xúc phạm đến Chúa.

Khi được xức tro trên đầu, chúng ta sẽ được nghe một câu nhắc nhở: “Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin mừng” (Mc 1,15). Thái độ cúi đầu nhận tro là bước đầu để chúng ta tỏ lòng khiêm nhường, hạ mình nhìn nhận thân phận hèn yếu, rất cần tình thương và ơn cứu độ của Chúa. Đó cũng là dấu hiệu tỏ ra chúng ta muốn trở về với Ngài.

Ôi! Cát bụi tuyệt vời! Nhờ Chúa Giêsu mà hạt bụi tôi đây, không còn phải trở về kiếp bụi nữa, mà tôi sẽ được phục sinh. Nhờ Chúa Giêsu mà chúng ta sẽ được sống vinh hiển như Ngài. Chúng ta đã hơn vạn vật là Chúa đã cho chúng ta cùng trở về, lại được sống hòa thuận với mọi người trong nhà Chúa.

Như vậy, tro bụi hôm nay sẽ luôn nhắc nhở ta là hãy ăn năn sám hối, hãy luôn bỏ đường tội lỗi, hãy luôn sống thánh thiện, luôn yêu thương anh em để lúc nào chúng ta cũng sẵn sàng về cùng Thiên Chúa, để được phục sinh vinh hiển, để được hưởng hạnh phúc trường sinh với Ngài trên thiên quốc.

Lm Giuse Đinh lập Liễm

Chia sẽ bài viết này trên:

Mùa Chay Linh Thiêng

Mùa Chay là thời gian linh thiêng đong đầy tình yêu để cầu nguyện, để ăn năn sám hối và để hy sinh hãm mình, nhờ đó mà canh tân bản thân mình ngày mỗi hoàn thiện hơn. “Mùa Chay mời gọi các Kitô hữu thể hiện mầu nhiệm Vượt Qua cách sâu sắc và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của họ, trên hết qua việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí.” (Sứ điệp Mùa Chay năm 2019, số 3).

1. Mùa Chay linh thiêng

Mùa Chay linh thiêng lại về với đời sống tín hữu Công giáo. Mùa Chay là thời gian 40 ngày dọn lòng mừng lễ Phục Sinh, trải dài từ Lễ Tro cho đến Tuần Thánh, lặp lại thời gian 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu năm xưa khi chuẩn bị bước vào đời công khai rao giảng Tin Mừng (Mt 4,2). Con số 40 còn lặp lại nhiều biến cố khác trong lịch sử cứu độ như 40 ngày của Êlia trên núi Horeb dọn mình thực thi sứ vụ Chúa trao (1 V 19,8), như 40 ngày của Môsê trên núi Sinai chuẩn bị đón nhận thập điều Chúa dạy (Xh 34,28), và như 40 năm dân Chúa lưu lạc trong hoang địa dọn lòng đặt chân vào đất hứa. Mùa Chay như vậy là thời điểm thuận lợi để sống mầu nhiệm Tử Nạn của Chúa Kitô thông qua việc chay tịnh để sẵn sàng mừng lễ Phục Sinh. Nhưng Mùa Chay không chỉ là việc chay tịnh, cho dẫu khởi đầu và kết thúc Mùa Chay được diễn ra bằng việc buộc ăn chay và kiêng thịt thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh. Mùa Chay còn là mùa xuân tâm hồn với những sinh hoạt đổi mới đời sống đức tin.

Cầu nguyện, canh tân, chia sẻ: đó là ba sinh hoạt mỗi người chúng ta cố gắng thực hiện trong Mùa Chay năm nay, cũng là ba chiều kích với Chúa, với mình, với tha nhân dệt nên nhịp sống Giáo Hội.

Mùa Chay là thời gian đặc biệt như lời Thánh Phaolô nói: “Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ” (2 Cr 6,2). Đây là thời gian thuận tiện để mỗi người quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, quảng đại giúp đỡ tha nhân.

2. Mùa Chay là mùa tình thương

Hành trình thiêng liêng của Mùa Chay bắt đầu từ tình thương: cầu nguyện, chay tịnh để sống đức ái chia sẻ.

Mùa Chay với hành trình bốn mươi ngày là “thì mạnh” của Năm Phụng Vụ, là “thời Thiên Chúa thi ân và là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2Cr 6,2). Bước vào Mùa Chay, Giáo Hội nhấn mạnh đến những cách thế hy sinh hãm mình để quy hướng về Thiên Chúa, tôn vinh Người, đồng thời cũng quy hướng về tha nhân, để lưu tâm giúp đỡ, sống tình bác ái huynh đệ.

Mùa Chay là thời điểm mà Chúa Giêsu Kitô tuôn đổ muôn vàn ân sủng cho Giáo Hội qua mầu nhiệm Thánh Giá. Mùa Chay thúc đẩy mỗi tín hữu sống tinh thần hy sinh, sám hối và hòa giải cách chân thành và triệt để hơn, theo đúng tinh thần Tin Mừng.

Ngay đầu Mùa Chay, Phụng vụ đã nhắc nhở ta cần phải trầm tư để chiêm niệm về thân phận: “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi”. Ý nghĩa của Lời Chúa quá rõ ràng: mọi người sẽ phải chết. Vậy ta lao tâm khổ trí, vất vả ngược xuôi, ganh đua tranh dành để tìm kiếm của cải, danh vọng, thú vui…, ta nỗ lực học hỏi, tìm tòi, phát minh, xây dựng… nhưng khi cái chết đến, ta mang theo được thứ gì, tất cả có nghĩa gì cho ta? Cuối cùng thì cái gì là đáng quan tâm nhất trong đời? Ðâu là bậc thang giá trị đời ta?

Xin đừng sống dửng dưng, thờ ơ, khép kín trước người nghèo. Hãy luôn chạnh lòng xót thương như Chúa Giêsu đã thương những người cùng khốn. Hãy sống quảng đại cho đi, vui vẻ chia sớt, không chỉ của cải vật chất mà có khi chỉ là một nụ cười thân thiện, một cái bắt tay khích lệ, một lời nói an ủi đở nâng, một lần viếng thăm, một cuộc gặp gỡ kiến tạo sự hiệp nhất bình an. Khi chia nụ cười, ta sẽ nhận về vô số niềm vui. Khi chia vòng tay, ta sẽ nhận về mênh mông ấm áp. Khi chia quan tâm, ta sẽ nhận về bao la yêu thương. Khi chia yêu thương, ta sẽ nhận về rất nhiều hạnh phúc.

3. Mùa Chay và các việc đạo đức

Ba việc đạo đức được nhắc nhở rất nhiều trong Mùa Chay là: bác ái, ăn chay và cầu nguyện. Đây là ba vũ khí tuyệt hảo để chống lại sự tấn công của ma quỷ và đền bù tội lỗi mình. Những việc lành phúc đức này, khi được thi hành thì hãy làm với tất cả tấm lòng của mình; không làm để khoe khoang. Chỉ cần Thiên Chúa thấu hiểu và biết cho chúng ta là đã đủ rồi. Đừng làm để được người đời khen và vì thế mà chúng ta mất đi lời khen tặng của Thiên Chúa. (x.Mt 6,1-6).

Ăn chay và kiêng thịt, chịu tro chỉ là hình thức bên ngoài mà thôi. Canh tân nội tâm vẫn là trọng tâm của Mùa Chay. Kiêng bớt các tội là điều mà Thiên Chúa mong muốn. Sửa đổi tính nết để trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn. Bớt nói hành, giảm nói xấu, siêng năng việc đạo đức.

Trong sứ điệp Mùa Chay 2019, Đức Thánh cha Phanxicô đề nghị những việc làm cụ thể để những thực hành Mùa Chay truyền thống này mang một ý nghĩa mới: Ăn chay có nghĩa là học để thay đổi thái độ của chúng ta đối với người khác cũng như đối với mọi loài thụ tạo: từ cơn cám dỗ muốn “ngấu nghiến” mọi thứ để thỏa mãn sự thèm muốn của mình, đến chỗ có khả năng hy sinh vì tình yêu, và khả năng lấp đầy sự trống rỗng của con tim chúng ta. Cầu nguyện để học biết cách khước từ sự sùng bái thần tượng cũng như tự mãn về cái tôi của mình, đồng thời thú nhận rằng, chúng ta cần tới Thiên Chúa và Lòng thương xót của Ngài. Chia sẻ bác ái để tự giải thoát khỏi tính ngông cuồng, khiến chúng ta chỉ sống cho mình, với ảo tưởng rằng mình sẽ có được một tương lai bảo đảm, trong khi tương lai đó không thuộc về chúng ta” (số 3).

Theo lời dạy của Đức Thánh Cha, chúng ta sống Mùa Chay năm nay trong niềm vui bằng việc ăn chay và cầu nguyện được liên kết với việc làm phúc bố thí. Qua đó chúng ta đem niềm vui có Chúa đồng hành đến với người nghèo, làm cho họ nhận ra sự hiện diện của một vị Thiên Chúa tình yêu luôn quan tâm săn sóc họ và còn tự đồng hóa với họ qua Con yêu dấu của Ngài là Đức Giêsu Kitô.

Tình yêu là một đề tài vừa phong phú, vừa hấp dẫn của văn chương, nghệ thuật, phim ảnh… và luôn mang tính thời sự. Thử hỏi thế nào là yêu thương thì quả thật không dễ trả lời cách rõ ràng và có tính thuyết phục. Ngay cả những việc to lớn như “đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt” thì cũng chưa hẳn là đã yêu thương (x.1Cr 13,3).

Tình yêu là huyền nhiệm vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8). “Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). Như thế, có thể nói yêu thương là thực hiện điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu.

Yêu thương thể hiện bằng hành vi cụ thể, thực tế. Đã yêu là yêu đến cùng. Hoa trái của tình yêu là kết quả của nhiều nỗ lực hy sinh, quên mình. Yêu thương cách đích thực thì sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống (x.Ga 15,13).

Ngôi Lời nhập thể là cách Thiên Chúa diễn tả tình yêu của Người đối với nhân loại. Tình yêu Thiên Chúa đã bước xuống, chấp nhận nhập thể để làm người. “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,7).Tình yêu được diễn tả như vậy nói lên sự từ bỏ mình vì yêu thương. Sự từ bỏ mình như thế là chọn lựa rất tự do của Thiên Chúa toàn năng, vô cùng khôn ngoan, vô cùng sáng suốt, vô cùng thông hiểu. Chính vì thế, mà chọn lựa ấy là vô cùng cao quý.

Mùa Chay giúp ta sống hy sinh từ bỏ, thực hành yêu thương.

Tình yêu đích thực là tình yêu dâng hiến, tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu sẵn sàng chết cho kẻ mình yêu. Tình yêu chân chính đòi hỏi phải chết đi mỗi ngày cho tính ích kỷ và sự hẹp hòi nơi bản thân. Hôm qua cầm trái cây, thấy đẹp cắt ra, bị sâu bên trong. Hư cả trái phải vất bỏ. Ích kỷ, chỉ nghĩ tới mình, chỉ lo cho mình: đó là con sâu nằm trong quả ngọt tình yêu, đục khoét tình yêu.  Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, tôi đã tìm cách mô tả những dấu hiệu rõ nhất về những dấu hiện thiếu vắng tình yêu này: ích kỷ và tinh thần lười biếng, bi quan vô ích, cám dỗ chỉ quan tâm đến mình, chiến tranh liên lỉ giữa chúng ta và tinh thần thế gian khiến chúng ta chỉ quan tâm đến vẻ bề ngoài, và do đó giảm đi lòng nhiệt thành truyền giáo của chúng ta” (Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, 76-109).

 “Chúng ta đừng để mùa hồng ân này trôi qua vô ích! Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta cất bước trên con đường hoán cải thực sự. Chúng ta hãy bỏ lại sau lưng tính ích kỷ và sự tự hấp thụ vào chính mình, nhưng hướng đến sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy đứng bên cạnh những anh chị em đang túng thiếu của chúng ta, chia sẻ những của cải tinh thần và vật chất của chúng ta với họ” (Sứ điệp Mùa Chay 2019).

Thánh Phaolô nói đến những đặc tính của tình yêu là: nhẫn nhục, hiền hậu, khiêm nhường, không ghen tương, không nóng giận, không tìm tư lợi, luôn tin tưởng nhau, chịu đựng nhau và tha thứ cho nhau (x.l Cr 12,31-13,8).

Mùa Chay thêm đức tin cho những ai sống yêu thương. Đặc biệt các đôi bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân.Tình yêu phải có niềm tin. Tin nhau để trao tay cho nhau, thề hứa chung thủy trọn đời trước mặt Thiên Chúa. Gởi ai một đồ quý giá là đã tin tưởng người ấy. Tin yêu là đôi mắt cho đôi bạn nhìn thấu lòng nhau. Tin yêu là đôi chân giúp đôi bạn vượt qua mọi khó khăn. Tin và yêu là đôi cánh giúp đôi bạn nắm tay nhau bay vào bầu trời hạnh phúc. Yêu thì phải tin. Tin sẽ càng yêu. Không tin sẽ khó mà yêu. Không yêu thì không thể tin được.

Tin Chúa đôi bạn sẽ biết tin nhau vì Chúa là Sự Thật, là sự Trung Tín. Tin Chúa đôi bạn sẽ tránh xa những giả tạo và ích kỷ. Yêu Chúa đôi bạn sẽ biết yêu nhau, vì Chúa là Tình Yêu, một tình yêu lớn lao đến nỗi đã hy sinh mạng sống cho người mình yêu. Yêu Chúa đôi bạn sẽ biết hy sinh quên mình quảng đại trong một tình yêu chân thực.

Mùa Chay thiêng liêng là mùa xuân tâm hồn cho những ai sống vững vàng trong đức tin và dạt dào lòng yêu mến.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Ðôi dòng lịch sử Thứ Tư Lễ Tro

Mùa Chay Thánh bắt đầu bằng Thứ Tư Lễ Tro, đánh dấu 40 ngày chay tịnh và kiêng thịt. Ngày đầu của Mùa Chay cũng còn gọi là ngày “Bụi Tro” bởi vì trong ngày này, người tín hữu lãnh nhận tro được ghi hình thánh giá trên trán.

Ngày “Bụi Tro” có nguồn gốc từ “Dies Cinerum” trong Sách Lễ Rôma và được tìm thấy trong quyển Sách Lễ Grêgôriô. Tục truyền rằng, vào thời Ðức Giáo Hoàng Grêgrôriô Cả (590-604) đã bắt đầu nghi thức sức tro trong ngày đầu Mùa Chay.

Trong Cựu Ước, Tro là dấu hiệu của sự khiêm nhường, hối cải và tang chế. Người Kitô Hữu cũng dùng tro trong phụng vụ của ngày Lễ Tro với ý nghĩa trên. Lãnh nhận tro trên trán là dấu chỉ nhắc nhở sự chết và sự ăn năn được đưa vào phụng vụ Tây Phương vào thế kỷ 10, và được phổ biến rộng rãi khắp Tây Phương tại Công Ðồng Benevento năm 1091.

Thuở xưa, người ta dùng tro để sám hối cách riêng, nhưng sau đó trở thành một nghi thức cộng đồng. Trong sư kiện này, tro được rắc trên đầu hối nhân như một sự hiệp thông cầu nguyện cho những hối nhân trở lại. Cuối cùng, tro được dùng trong nghi thức sám hối của Mùa Chay trong ngày Thứ Tư Lễ Tro.

Có thể không đáng tin rằng, việc sức tro cho tất cả mọi tín hữu phát xuất từ lòng sùng mộ và sự hoán cải giữa cộng đồng của các hối nhân. Thế nhưng, qua dòng thời gian, sự đón nhận này, có tính cách phụng vụ đã tượng trưng đặc thù cho việc sám hối. Việc sức tro này, được Công Ðồng Benevento năm 1091 đề nghị cho mọi giới; giáo sĩ cũng như giáo dân. Thế nhưng, cả trăm năm trước đó người Tây Phương đã dùng nghi thức sức tro này rồi.

Dấu Thánh Giá được ghi trên trán là tượng trưng cho dấu linh thiêng hoặc ấn tín mà người Tín Hữu lãnh nhận khi lãnh phép rửa tội. Ðây là dấu chỉ của trẻ sơ sanh được tái sinh trong niềm tin Kitô qua sự giải phóng khỏi nô lệ tội lỗi và xấu xa, rồi được nhập vào hàng con cái Thiên Chúa hằng sống. (Rom. 6:3-18)

Việc lãnh tro cũng được coi như là sự trở về trong vinh quang mà đã được diễn tả trong Sách Khải Huyền, khi chúng ta được lãnh nhận làm con cái của Thiên Chúa. Sách Tiên Tri Edzêkien cũng nhắc đến ấn tín được làm con cái Thiên Chúa, “Hãy rảo khắp thành, khắp Giêrusalem. Hãy ghi dấu chữ thập trên trán những người đang rên siết khóc than về mọi điều ghê tởm đang xảy ra trong khắp thành.” (Ed 9:4)

(Nguồn: tinmung.net)

Chia sẽ bài viết này trên: