Month: Tháng Tám 2019

Chỗ ngồi nơi bàn tiệc – CN XXII TN C

Chỗ ngồi nơi bàn tiệc

Suy Niệm 1. NHỮNG CHỖ NGỒI DANH D

Đức Giêsu được mời đến nhà của một người lãnh đạo nhóm Pharisêu để dùng bữa. Khi Người đến, Người cảm thấy những người Pharisêu dò xét Người. Vì thế Người quyết định dò xét lại họ đôi chút. Cảnh quan mà đôi mắt Người bắt gặp không có tính cách xây dựng. Những người Pharisêu là những người rất mộ đạo, và tự coi mình là những người gương mẫu. Tuy nhiên, ở đây họ tranh giành những chỗ ngồi danh dự, điều đó chỉ chứng tỏ thực ra họ rất tự mãn, phù phiếm và ích kỷ. Họ không ở đó để làm vinh dự cho chủ nhà nhưng để làm vinh dự cho chính họ. Không có đời sống tâm linh chân thật nếu không có sự khiêm nhường. Đức Giêsu nói “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng cao”.

Khi chúng ta bước vào một ngôi nhà thờ lớn, lập tức chúng ta cảm thấy phải khiêm cung. Chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé và vô nghĩa. Chúng ta nhận thấy mình lệ thuộc vào những điều tầm thường giả tạo. Nhưng một cách lạ lùng, chúng ta cũng được nâng cao. Bởi lẽ khi chúng ta hạ mình xuống và buông bỏ những sự vật đã cho chúng ta một cảm thức giả tạo về tầm quan trọng và cao siêu của mình, khiến chúng ta cách biệt với những người khác, lúc đó chúng ta thấy mình được nâng cao. Chúng ta bắt đầu nhận thức sự cao cả thật của chúng ta không ở trong chính mình, mà ở trong sự kiện chúng ta là con cái của Thiên Chúa.

Mỗi Chúa nhất, chúng ta được mời đến dự tiệc –bữa tiệc Thánh Thể. Ở đây Đức Giêsu là chủ, còn chúng ta là khách của Người. Ở đây không có những chỗ ngồi đặc biệt- bạn có thể ngồi vào chỗ nào mà bạn muốn. Ở đây đặc quyền, địa vị, tầng lớp không còn ý nghĩa gì. Sự khác nhau không đáng kể. Đó là vì trước mặt Thiên Chúa tất cả chúng ta đều bình đẳng.

Không phải vì chúng ta đã bị hoá đồng mẫu số. Đúng hơn vì tất cả chúng ta đều được nâng cao. Chúng ta giống những người đang ở trên đỉnh núi. Trên đỉnh núi mà nói chỗ đầu, chỗ cuối hoặc chỗ cao hơn, chỗ thấp hơn thì thật là ngớ ngẩn. Điều đó cũng được áp dụng cho ngôi nhà của Thiên Chúa. Ở đây, mọi chỗ đều là chỗ danh dự. Bước vào đây làm cho mọi người được bình đẳng. Khi chúng ta bước qua ngưỡng cửa này, mọi đặc quyền bay đi như làn khói, và tất cả chúng ta đều trở nên khiêm hạ nhưng cũng được nâng cao lên. Trước hết, chúng ta phải hạ mình xuống để được tôn lên. Sau đó chúng ta phải mang theo tinh thần này vào đời sống với chúng ta.

Một lần nọ, ông thị trưởng của một thành phố mời tất cả dân chúng của thành phố đến dự tiệc. Trong số những người đến dự, có một người rất lỗi lạc có tên là Daniel. Ông Daniel là một học giả lớn và là một người khôn ngoan. Dĩ nhiên, ông rất khiêm nhường và không thích được tôn vinh khi ông đến, dĩ nhiên ông thị trưởng mời ông ngồi ở đầu bàn. Ông Daniel cám ơn ông thị trưởng và nói rằng ông thích ngồi ở giữa những người nghèo ở cái bàn gần cửa nhất. Và ông đã làm như thế.

Khi những người khách mời danh giá khác đến, ông thị trưởng mời họ ngồi bất cứ nơi nào họ thích. Dĩ nhiên họ đã chọn ngồi ở bàn đầu. Phòng tiệc đã đầy ắp và tình cờ chỗ duy nhất còn lại ở bàn cuối. Thế mà vào phút chót con người danh giá ấy đến. Ông thị trưởng không có chọn lựa nào khác hơn là dẫn ông này đến chỗ trống.

“Nhưng đây là chỗ ở bàn cuối” người khách phản đối,

“Không, đây là chỗ bàn đầu”, ông thị trưởng đáp.

“Tôi không hiểu” người khách nói.

“Nơi nào có ông Daniel ngồi thì chỗ ấy là bàn đầu”. Ông thị trưởng đáp.

Bài học luân lý của câu chuyện: không phải chỗ ngồi làm vinh dự cho người khách, nhưng người khách làm vinh dự cho chỗ ngồi. Chúng ta không biết Chúa Giêsu ngồi ở chỗ nào trong suốt bữa ăn, nhưng dù Người ở nơi nào thì nơi ấy là một chỗ vinh dự.

Bữa tiệc là một biểu tượng của Nước Trời. Chúng ta không nên quan tâm đến việc tìm kiếm chỗ ngồi vinh dự trong Vương Quốc. Chúng ta hãy coi việc mọi người chúng ta đều được mời là một đặc ân. Dù trong tình huống nào, mọi chỗ trong Vương Quốc đều là một chỗ danh dự.

Suy Niệm 2. SỰ CHO CHÂN THẬT

Sự ban cho hoặc dâng tặng là tâm điểm của Tin Mừng, và thuộc về bản chất của đời sống Kitô hữu. Nhưng không phải mọi sự cho đều chân thật.

Nicholas, một con người nổi tiếng là quảng đại, ông chết và được lên thiên đàng. Thánh Phêrô đợi ông ở cửa. Ở đó, Thánh Phêrô chỉ cho ông hai đống vàng, một đống nhỏ và một đống lớn gồm những cục vàng có kích thước khác nhau.

“Những cái này là gì vậy?” Nicholas hỏi.

Đây là những hành động ban tặng mà ông đã thực hiện ở trần gian –mỗi hành động là một cục vàng”.

Ông Nicholas cảm thấy trong lòng đầy sự tự hào. Nhưng rồi, Thánh Phêrô lại nói: “Khổ nỗi, không phải mọi sự cho đều là sự chân thật. Nhiều lần nó bị dính bén bởi vì lòng ích kỷ. Vì thế chúng ta phải tiến hành trắc nghiệm những hành động ban tặng của ông. Vì thế, những cục vàng trong đống vàng lớn không được tính đến”.

“Sao vậy?” Nicholas hỏi.

“Chúng tượng trưng cho những lần ông ban tặng cho bạn bè, người thân, bồ bịch v.v… Chúng không tạo nên vàng thật. Kể cả bọn kẻ cướp cũng tốt với người thân của chúng”.

Nói đến đây những cục vàng trong đống lớn biến thành cát. Thánh Phêrô cầm một cái sàng có mắt rộng đặt những cục vàng trong đống nhỏ vào sàng. Sau khi lắc sàng, chỉ còn lại trong sàng những cục rất lớn.

“Ngài đang làm gì vậy?” Nicholas hỏi.

“Tôi sàng sảy những sự ban tặng mà ông chỉ làm để được đáp lại một điều gì đó. Cho như thế là một thứ đầu tư. Ông có được sự trả lại mà đôi khi có lời hậu hĩ”.

Đến đây, Thánh Phêrô đổ những cục đã sàng được qua một bên và chúng trở thành cát bụi. Rồi ngài làm cho các mắt sàng nhỏ lại và hốt đống vàng còn lại vào sàng. Ngài lại sàng tiếp và đổ bỏ qua một bên các cục còn giữ lại trong sàng.

“Làm thể để làm gì?” Nicholas hỏi.

Để sàng sảy những việc lành mà ông đã làm để được những người khác ngợi khen. Người ta có thể làm mình trở nên một thần tượng qua việc ban tặng”.

Thánh Phêrô làm cho các mắt sàng nhỏ hơn nữa, rồi sàng tiếp phần còn lại. Ngài nói: “Bây giờ chúng ta loại bỏ những việc lành mà khi ông làm chỉ vì những cảm giác ông cảm nhận khi thực hiện”.

Nicholas nhìn thánh Phêrô bỏ những cục vàng còn giữ lại trong sàng mà khi vào không khí chúng trở thành bụi bặm. Thánh Phêrô lại thu gom phần còn lại cho vào trong sàng sau khi đã làm cho mắt sàng nhỏ lại.

“Bây giờ đến cái gì vậy?” Nicholas hỏi:

“Bây giờ chúng ta sẽ sàng bỏ những sự ban tặng mà ông chỉ làm vì ý thức của bổn phận”.

Ngài lắc sàng. Những gì còn giữ lại ngài đổ bỏ sang một bên và chúng chịu chung số phận với những cục vàng đã thành cát bụi.

“Dừng lại thôi!” Nicholas kêu lên: “Nếu ngài tiếp tục như thế thì chẳng còn lại gì cả. Như thế làm sao tôi có thể được thông hành vào thiên đàng?”.

“Chúng ta phải tiếp tục thôi”. Thánh Phêrô nói: “Chúng ta phải nhìn thấy cái giá của việc ông ban tặng. Giả sử chúng ta loại bỏ những vật ông ban tặng mà không tốn kém gì cho ông thì có bao nhiêu lần ban tặng sẽ biến mất? Và ông đã ban tặng những gì chỉ vì người nhận là một người mà ông cảm thấy xứng đáng với quà tặng của ông?”.

Nhưng ông Nicholas không còn muốn nghe gì nữa: “Thật là một cảm giác khủng khiếp như khi người ta có vàng trong tầm tay mà sau đó bị giật lấy khỏi tay bạn”, ông kêu lên:

“Nhưng nếu nó không trở thành vàng thật mà là vàng gi”. Thánh Phêrô nói thêm. “Này ông Nicholas, sự cho thật rất hiếm, cũng như vàng thật rất hiếm. Cho mà không mong được đáp trả lại gì cả trừ phần thưởng cao cả là thiên đàng mới chính là sự cho chân thật. Nhưng hãy vui mừng lên, tôi có một tin mừng cho ông”.

“Tin mừng gì?” Nicholas hỏi.

“Chúa là Đấng ban tặng cao cả nhất. Hành động ban tặng của Người là vàng ròng. Nhưng chúng ta đã nói chuyện nhiều rồi. Đây là lúc phải gặp chính Chúa”

“Nhưng tôi chỉ có tay không”. Nicholas kêu lên.

Điều đó có nghĩa là ông nghèo khó”. Thánh Phêrô đáp: “Nhưng đừng bao giờ hoảng sợ. Chúa ban cho một cách rất quảng đại những người nghèo khó mà không xấu hổ thừa nhận mình nghèo. Thôi, đi nào”.

McCarthy

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

MẸ MARIA DIU HIỀN XINH ĐẸP

MẸ MARIA DIU HIỀN XINH ĐẸP

Lần nọ, có 1 thanh niên ao ước được thấy Đức Mẹ hiện ra. Anh được Chúa soi sáng cho biết là người trần mắt thịt sẽ không chịu đựng nổi ánh sáng vinh quang chói loà của Đức Mẹ. Nếu chấp nhận nhìn thì sẽ bị mù mắt.

Với lòng ao ước mạnh mẽ, anh chấp nhận mù để được nhìn thấy Đức Mẹ dù chỉ 1 lần. Đức Mẹ nhân từ đã đáp ứng nguyện vọng của anh và đã hiện ra cho anh nhìn. Nhưng để có thể tiếp tục cuộc sống trần gian, khi Đức Mẹ hiện ra, anh đã vội vàng nhắm mắt phải, chỉ để mắt trái thấy Đức Mẹ thôi. Khi thấy Đức Mẹ đẹp quá, anh mở luôn mắt phải để nhìn nhưng Đức Mẹ đã nhanh lẹ biến mất.

Từ đó anh bị chột 1 mắt vì mắt trái đã mù. Sau đó, anh cứ mơ tưởng Đức Mẹ ngày đêm vì Đức Mẹ quá đẹp. Anh lại nài nẵng cầu xin Đức Mẹ hiện ra 1 lần nữa. Anh chấp nhận mù luôn con mắt phải còn lại, miễn là được chiếm ngắm Đức Mẹ, người Mẹ tốt lành của anh.

Lời cầu nguyện của anh đã được chấp nhận. Đức Mẹ nhân từ lại hiện ra âu yếm nhìn anh, còn anh thì cố gắng mở to mắt để nhìn Mẹ.

Sau đó, thay vì con mắt phải bị mù, Đức Mẹ đã cho anh sáng lại cả 2 con mắt. Vì Mẹ là Nữ Vương quyền phép nhưng cũng là Nữ Vương tình thương. Đặc biệt là tình thương với những người con bé nhỏ, ngoan ngoãn năng chạy đến với Mẹ.

Chuyện Kể Về Mẹ, CRM

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

RỬA TỘI – Một Thắc Mắc

RỬA TỘI – Một Thắc Mắc

Đang lúc làm việc, có một người đàn ông điện thoại nhờ giúp ý kiến. Ông tâm sự ông có một cô con gái đã lập gia đình, giờ có con nhưng ông bảo cho cháu rửa tội mặc dầu đưa ra nhiều lý do để thuyết phục cho cháu được rửa tội, nhưng cô nại lý do rằng: con của cô còn bé chưa biết gì đợi nó lớn lên và tự quyết định có muốn rửa tội hay không. Lúc đó cũng không muộn.

Tôi nói lý do của cô cũng hay nhưng ông có thể đề nghị lại rằng bây giờ cứ rửa tội cho cháu, sau này khi cháu lớn lên lúc đó nó cũng có thể tự quyết định tiếp tục giữ đạo hoặc bỏ đạo cũng đâu có muộn.

Tin mừng thánh Mathêu (Mt 19:13-15) thuật lại việc các môn đệ ngăn cản không cho người ta đem các trẻ nhỏ đến với Chúa. Và Chúa bảo các ông: “Cứ để trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng.”

Ngày nay, nhiều khi chúng ta rơi vào tâm thức của các môn đệ ngày xưa không đem con cái đến với Chúa Giêsu, nại nhiều lý do khác nhau. Ơn cứu rỗi được ban cho tất cả mọi người. Chúng ta là ai mà dám xét đoán về điều kiện tuổi tác để được Chúa chúc lành và ban ơn cứu rỗi.

Khi còn bé, tôi không thích đi học chỉ muốn đi chơi lêu lỏng với bạn bè cùng tuổi, nhưng cha mẹ tôi buộc tôi phải đi học. Không hiểu giờ này, tôi có nên trách cha mẹ là tại sao cha mẹ lại buộc tôi phải đi học khi còn quá nhỏ để có thể quyết định có nên đi học hay không nhỉ?

Nguồn: Thắp Sáng Tin Yêu (GX Công Lý)

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Hai chiến lược mà ma quỷ tưởng tượng để cám dỗ con người

Hai chiến lược mà ma quỷ tưởng tượng để cám dỗ con người

Ma quỷ rất ghét chúng ta tiến bộ. Khi chúng ta lớn lên trong đức hạnh, trong thánh thiện, chúng không để mất cơ hội, chúng cố gắng gấp đôi để lôi kéo chúng ta phạm tội bằng con đường đức hạnh.

Dĩ nhiên, như tên của chúng, chúng có tên là quỷ quyệt thì chúng làm việc một cách quỷ quyệt! Nhưng chúng ta có thể học cách để chặn chiến thuật của chúng.

Trong tác phẩm “Cuộc chiến thiêng liêng”, một tác phẩm có từ thế kỷ 16, tu sĩ người Ý Lorent Scupoli lột trần các mưu chước của quỷ để giúp chúng ta quay về với con đường thánh thiện. Đặc biệt tu sĩ phân biệt hai mưu chước.

Mưu chước thứ nhất, quỷ cám dỗ chúng ta qua các công việc tốt đẹp vượt quá sức chúng ta. Sau đó khi chúng ta chán nản vì không làm được, chúng ta buông rơi để đi vào con đường tội lỗi, thay vì tiếp tục cố gắng làm dù cho mục đích này khó đạt được. Tác giả Scupoli đưa ra ví dụ về một người bệnh muốn làm việc tốt nhưng không có khả năng.

Ví dụ trường hợp của một người bệnh kiên nhẫn chịu đựng cái đau của mình, ma quỷ sợ người đó có được thói quen kiên nhẫn, nó sẽ cám dỗ người đó làm những điều tốt nếu người này ở trong một tình trạng khác: chúng thuyết phục người bệnh nếu họ khỏe, họ sẽ kính Chúa hơn, họ sẽ hữu ích cho chính mình và cho người anh em. Khi nó khơi lên ham muốn giả tạo nếu mình lành bệnh, nó bám rịt đến mức người bệnh đau buồn vì không thể có được những gì mình muốn và khi ham muốn càng đốt cháy thì lo lắng càng tăng.

Chìa khóa để chống lại mưu chước này là đặt hết lòng tin tưởng vào Chúa, tập trung vào tình trạng hiện tại của chúng ta, hài lòng với những gì chúng ta có thể làm trong giây phút hiện tại. Thay vì cứ lặp đi lặp lại những câu “nếu”, “phải chi”… , chúng ta nên tập trung vào những gì có thể làm “ở đây và bây giờ”. Chúa sẽ chăm sóc phần còn lại.

Biến một đức tính thành kiêu ngạo

Mưu chước thứ nhì là biến các đức tính của chúng ta thành niềm tự hào. Chúng có thể cám dỗ để chúng ta nghĩ rằng chúng ta tốt là nhờ chỉ vào ý chí của mình, hoặc chúng ta tốt hơn người khác. Tính kiêu ngạo này sẽ nhanh chóng dẫn chúng ta đi trên con đường sai lầm.

Con rắn già tìm cách cám dỗ bằng chính các đức tính chúng ta có, để rồi biến các đức tính này là dịp để chúng ta phạm tội. Nó làm cho chúng ta nghĩ mình có giá và hài lòng với chính mình, nâng mình lên cao đến mức chúng ta không thể không vướng vào danh vọng hão. Vì vậy, phải luôn chiến đấu, và luôn kiên định ý thức về sự hư vô của mình; luôn nghĩ từ sâu thẳm lòng mình, mình chẳng là gì cả, mình không biết gì và mình không thể làm gì (nếu không có Chúa).

Chúng ta phải luôn ghi nhớ trong lòng, dù chúng ta tiến bộ trong đời sống tâm linh, nhưng điều này không phụ thuộc vào chúng ta, mà chỉ duy nhất phụ thuộc vào Chúa. Và chúng ta phải hết sức cảnh giác, vì khi chúng ta mong muốn tiến bộ trong đức hạnh, ma quỷ sẽ dùng khát vọng này để làm cho chúng ta quay lưng lại với Chúa.

fr.aleteia.org, Philip Kosloski, – Marta An Nguyễn dịch

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Khiêm tốn – CN XXII TN C

Khiêm tốn

1) Nhân một bữa tiệc

Chúa Giêsu được một thủ lãnh nhóm Pharisêu mời dùng bữa. Thời Chúa Giêsu, người Do thái chia thành nhiều nhóm. Có nhóm của Hêrôđê. Có nhóm cách mạng chống đế quốc La-mã. Có nhóm Essenien khắc kỷ. Có nhóm Saduce tư tế. Nhóm Pharisêu gồm các tiến sĩ và luật sĩ chuyên giải thích lề luật. Nhóm này tự cho là mình thông hiểu lề luật, sống đạo đức, là mẫu mực và là thày dạy của dân, nên họ tách biệt khỏi quần chúng. Như thế thủ lãnh của nhóm Pharisêu phải là người có thế lực rất lớn.

Được mời dự bữa tiệc hôm nay, Chúa Giêsu quan sát thấy ai cũng muốn ngồi cỗ nhất. Một phần vì theo thói thường, ai cũng muốn tỏ mình nổi nang, được mọi người kính trọng. Phần khác vì chủ nhà là thủ lãnh nhóm Pharisêu, là một người rất có thế lực, nên ai cũng muốn ngồi gần ông hoặc để gây uy tín, hoặc có dịp nhờ vả ông giúp cho một việc gì.

Vì ai cũng muốn ngồi gần ông chủ ở chỗ nhất nên cỗ nhất thiếu chỗ. Có những bậc vị vọng đành phải xuống cỗ dưới. Có lẽ Chúa Giêsu, vốn không muốn tranh giành, lại coi thường những chức danh phù phiếm, nên đã tự động ngồi vào cỗ chót.

Trong tình huống ấy, chủ nhà buộc lòng phải mời những khách không mấy quan trọng xuống khỏi cỗ nhất. Chủ nhà mời Chúa Giêsu lên cỗ nhất, một phần vì uy tín của Người, nhưng cũng để nghe Người nói mà dò xét, bắt bẻ.

2) Chúa Giêsu đã dạy một chân lý trong đời sống xã hội.

Nhân hoàn cảnh đó, Chúa Giêsu đã lên tiếng dạy ta bài học khiêm tốn.

Kiêu ngạo là thói thường ở đời. Ai cũng muốn mình hơn người khác. Nổi nang hơn, giỏi giang hơn, giàu có hơn, thế lực hơn. Vì muốn nổi hơn người, nhiều người không ngần ngại tìm cách chà đạp người khác.

Kiêu ngạo chống lại kiêu ngạo. Nên không ai ưa người kiêu ngạo. Và nhất là những người kiêu ngạo càng không ưa nhau. Trái lại, người khiêm tốn được mọi người yêu mến.

Sách Trang tử thuật chuyện: Dương Chu sang nước Tống vào một trọ nhà kia. Chủ nhà có hai nàng hầu, một đẹp, một xấu. Để ý quan sát, Dương Chu thấy trong nhà ai cũng quý trọng nàng hầu xấu mà khinh rẻ nàng hầu đẹp. Lấy làm lạ, Dương Chu hỏi thằng bé trong nhà. Chú bé nói: Người thiếu đẹp tự cho mình là đẹp nên mất đẹp. Chẳng ai nhìn thấy cái đẹp của nàng nữa. Còn người thiếp xấu tự biết mình xấu mà quên xấu. Không còn ai nhìn thấy cái xấu của nàng nữa. Dương Chu liền gọi học trò đến dặn: Các con nhớ ghi lấy. Giỏi mà bỏ được cái thói tự cho mình là giỏi, thì đi đâu mà chẳng được người ta yêu quý tôn trọng.

Vì thế Chúa Giêsu đã khuyên ta nên biết khiêm nhường. Đi ăn tiệc cứ chọn chỗ cuối cùng mà ngồi. Nếu được chủ nhà mời lên thì thật vinh dự. Tự cho phép mình ngồi chỗ trên hết, lỡ bị chủ nhà mời xuống thì thật xấu hổ.

3) Nhưng nhắm đến thực tại Nước Trời

Lời Chúa Giêsu dạy, không chỉ nhắm sửa đổi một lề thói xã hội, nhưng trên hết, Người nhắm tới những sự thực về Nước Trời. Trong bàn tiệc Nước Trời, những ai càng khiêm tốn lại càng được nâng lên cao. Vì khiêm tốn là đi vào con đường của Thiên Chúa, là trở nên giống Thiên Chúa.

Hãy nhìn vào gương Chúa Giêsu. Người luôn luôn chọn chỗ cuối cùng. Là Thiên Chúa, nhưng Người không đòi cho mình được ngang hàng với Thiên Chúa, trái lại, Người đã tự huỷ mình, mặc lấy thân phận nô lệ hèn yếu như ta, trừ tội lỗi.

Hãy nhìn vào hình ảnh bữa Tiệc Ly. Trong bàn tiệc ai là người cao trọng nhất? Thưa là Chúa Giêsu. Thế mà Người đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ. Thiên Chúa đã quỳ trước mặt nhân loại. Thực là một sự khiêm tốn thẳm sâu. Trong khi con người kiêu ngạo muôn vươn lên làm Chúa, thì Thiên Chúa lại khiêm tốn hạ mình xuống làm người. Trong khi con người hèn hạ muốn nâng mình lên bằng cách chà đạp người khác, thì Chúa Trời cao cả lại hạ mình xuống để nâng con người lên. Hạ mình, đó là con đường của Thiên Chúa. Khiêm nhường, đó là khuôn mặt của Thiên Chúa. Vì thế những ai khiêm tốn là trở nên giống Thiên Chúa, xứng đáng ngồi đồng bàn với Thiên Chúa trên Nước Trời. Nói xứng đáng không phải là do công phúc của ta, nhưng là do tình thương của Chúa.

Ai tự nâng mình lên thì không có giá trị gì. Ai được người khác nâng lên, giá trị có đó, nhưng rất mong manh. Ai được Thiên Chúa nâng lên, giá trị đó mới thực cao quý, bền vững. Mà Chúa chỉ nâng cao những người khiêm tốn.

Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là hèn nhát. Trái lại chỉ những ai dũng mạnh, can đảm mới dám hạ mình phục vụ anh em. Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là nô lệ. Trái lại khiêm tốn phục vụ là một cử chỉ đầy tình yêu, một thái độ hoàn toàn tự do, cao quý. Khiêm tốn hạ mình phục vụ là thoát khỏi cái tôi chật hẹp ích kỷ để đi vào con đường tự do thênh thang của Thiên Chúa, của Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết khiêm tốn phục vụ như Chúa đã làm gương. Amen.

 

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Qua cửa hẹp mà vào – CN XXI TN C

Qua cửa hẹp mà vào

Có khó để vào nước thiên đàng không? Chúa Giêsu nói như thế khi Ngài cảnh cáo: “Hãy cố gắng vào qua cửa hẹp”. Lời cảnh cáo của Ngài có một điều gì đó làm bối rối, từ Ngài nói rằng: “Mọi người sẽ đến từ Đông sang Tây, từ Bắc chí Nam nhiều người sẽ đến chỗ của mình nơi bữa tiệc trong nước Thiên Chúa”. Lời tiên tri của Isaia hôm nay đã nói về cùng một điều này. Nói cách khác sẽ có nhiều dân tộc ở trong vương quốc. Vậy tất cả những người đó họ làm thế nào để đi qua cửa hẹp được?

Tôi nghĩ điều gì xảy ra trên xa lộ “siêu tốc” khi có một tai nạn tệ hại xảy ra. Cảnh sát liền đóng cửa ba ‘len’ chỉ cho một ‘len’ duy nhất còn lại để chạy giống như một cửa hẹp vậy, tất cả phương tiện giao thông đều phải giảm tốc độ và lần lượt đi qua một cái chốt hẹp. Khi đó tôi nghĩ về cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã ám chỉ tới, tôi thấy mọi người đều phải xếp hàng giống như những chiếc xe hơi trên xa lộ, di chuyển một cách chầm chậm xếp hàng qua một ‘len’ mở duy nhất. Những tài xế đều bực bội, họ ồn ào giận dữ và trao đổi với nhau những cử chỉ tục tĩu. Những chiếc xe hơi và khí hậu thì quá nóng. Nơi chốt đóng thì chật ních các xe. Tội lỗi cũng giống như tai nạn xảy ra trên xa lộ, là nguyên nhân của mọi sự phiền phức.

Đây không phải là một cảnh mời mọc, hình ảnh này có nghĩa là chúng ta phải vào thiên đàng. Nhưng khi tôi nghĩ rõ ràng hơn về hình ảnh cái cửa hẹp, tôi nhận thấy rằng thật sự chỉ có một người có thể đi qua cửa ấy. Con người đó là Chúa Giêsu. Khi Người đi qua cửa đó mà tới thiên đàng Ngài đã đi vào trong mầu nhiệm Vượt Qua là sự chết và sự sống lại của Người. Chúng ta cũng phải buộc chính chúng ta đi qua cửa hẹp. Tất cả chúng ta đều cần làm điều đó, để bảo đảm rằng chúng ta được hiệp nhất với Chúa Giêsu. Nhiều người đã không đi qua cánh cửa độc nhất đó là thân mình của Đức Kitô, Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo Hội.

Tuy nhiên Chúa Giêsu đã cảnh cáo một lần thứ hai, Chúa Giêsu nói với mọi người sẽ phải minh chứng với chủ nhà: “Chúng tôi đã ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài đã dạy dỗ trên đường phố của chúng tôi”. Nhưng ông chủ sẽ trả lời: “Tôi không biết các anh từ đâu đến, hãy xéo ra khỏi mặt Ta hỡi phường bị chúc dữ”.

Đây là sự phiền muộn bởi vì chúng ta đã ăn và uống trước sự hiện diện của Chúa tại Thánh Lễ chúng ta đã tham dự và thông dự vào Thân Mình và Máu Người. Dĩ nhiên là tham dự cách thụ động trong Thánh Lễ thì không đủ. Lãnh nhận Thánh Thể mà không có một sự sốt sắng thúc giúc thì làm sao Chúa Giêsu biến đổi chúng ta thành những giá trị thiêng liêng được. Những gì mà chúng ta đã thực hiện nơi Thánh Lễ, đặc biệt là khi lãnh nhận Thánh Thể phải ảnh hưởng tới cung cách sống của chúng ta. Chúa Giêsu không dạy chúng ta trong những đường phố, nhưng Ngài đã dạy dỗ trong nhà thờ của chúng ta trong phần phụng vụ lời Chúa. Đó là lý do vì sao chúng ta phải để tâm lắng nghe những bài học trong Thánh Kinh, ví dụ như trong thư gởi tín hữu Do Thái ngày hôm nay: “Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy và có nhận ai làm con cái thì Người mới cho roi cho vọt”.

Với tất cả những điều như thế thì đòi hỏi không thể thiếu được là chúng ta phải trở nên một dân trung thành, chúng ta vẫn phải hợp nhất với Chúa Kitô trong thân thể mầu nhiệm của Người là Giáo Hội. Đó là phương cách để bảo đảm rằng chúng ta sẽ phải đi qua tất cả sự ồn ào chán nản của thế gian này mà vào vương quốc đời đời.

 

Charles E. Miller (Trích dẫn từ ‘Giảng Lễ Chúa Nhật’)

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Ngày 22/08: ĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG

Ngày 22/08: ĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG

Ngày 1 tháng 11 năm 1954, bốn năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Maria hồn xác về trời, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng đội triều thiên lên tượng Đức Trinh Nữ là “sự cứu rỗi của dân Roma”. Đây là cử chỉ tượng trưng biểu thị sự công bố về vương quyền phổ quát của Đức Mẹ Maria.

Đoàn người đông đảo đứng chật quảng đường đền thờ thánh Phêrô, nhân danh cả hoàn cầu, dâng cao niềm hoan hỉ.

 Đức Thánh Cha cầm những vòng vàng dát đá quí từ khắp thế giới gởi về, để đặt trên đầu tượng Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài nói: “Xin Mẹ cai quản trên Giáo hội, trên mọi trí khôn, mọi cõi lòng, mọi cá nhân, mọi gia đình cũng như mọi xã hội và mọi quốc gia, trên mọi cộng đoàn, những người quyền thế. Xin mẹ hãy cai trị trên mọi nẻo đường và mọi quảng trường, trong thành thị và chốn thôn quê, trên nền trời, cũng như trên mặt đất và cả biển khơi.”

Ngài còn nói: “Vương quyền của Đức Maria là một thực tại siêu vượt thế trần, đồng thời lại thấm nhập mọi cõi lòng và chạm tới phần cốt yếu sâu thẳm nhất có tính cách siêu nhiên và bất tử nhất của con người.”

Đức Maria là Mẹ thánh, tước hiệu này khiến cho Mẹ được đặc ân không bị thương tổn vì tội lỗi. Vô nhiễm nguyên tội, Mẹ cũng không bị thương tổn vì sự chết. Khi kết thúc cuộc đời trần gian cũng như từ những lời đầu tiên buổi truyền tin, mẹ là tuyệt đỉnh của nhân tính bất khả xâm phạm luôn hiệp nhất với Ngôi Lời để hoàn tất công cuộc cứu rỗi thế gian. Không một ý tưởng, hành vi nào của Mẹ lại rời khỏi con Mẹ trong việc chinh phục bản tính nhân loại và việc chinh phục vũ trụ.

Trong kinh lạy Nữ Vương chúng ta xưng tụng “Thân lạy Nữ Vương, lạy Mẹ từ bi, Mẹ là sự sống, sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con”. Mẹ Maria được xưng tụng như Esther trong Cựu Ước đã cứu dân ra khỏi hoạ diệt vong, Nữ Vương có mọi quyền hành bên Đức Vua và là Đấng bầu cử linh thiêng nhất bên cạnh Đức Vua. Ngày nay, những lời ca tụng Đức Mẹ hướng về vẻ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ và uy quyền của Mẹ bên ngai tòa Chúa Giêsu. Mẹ là hoa quả tuyệt vời của ơn cứu rỗi và là hoa trái tuyệt mỹ của thập giá Chúa Giêsu “Một người nữ mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Mẹ Maria là người Mẹ đầy uy quyền trước mặt Chúa: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5).

Lễ Mông Triệu (Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời) kéo dài một tuần đến lễ Đức Trinh Nữ Vương, lễ này cho thấy Đức Mẹ Maria sáng chói như Nữ Hoàng và như Bà Mẹ, Ngài là Đấng cầu bầu cho chúng ta bên cạnh Đức Vua muôn thuở.” (Marialis cultus, 6)

Kinh Lạy Nữ Vương.

Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy, thân lạy Mẹ! Chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy kêu đến cùng Bà, chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương.

Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mắt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.

Gốc Tích Kinh Lạy Nữ Vương.

Vào khoảng năm 1100, bên Ðức, có một gia đình sang trọng đạo đức, sinh được một con trai đặt tên là Herman. Herman lọt lòng với một hình thù xấu xa lại tàn tật. Ðứa bé thấp lùn, mồm méo, lớn lên lưng còng như đai thùng, ăn nói thì ngập ngọng, lại thọt một chân. Tâm trí thì u mê tối tăm, dáng bộ ngờ nghệch không biết gì. Cha mẹ thấy con mình tàn tật dốt nát làm vậy thì thương hại, lại xấu hổ không cho con ra khỏi nhà.

Herman lên 12 tuổi, cha mẹ rước một thầy Dòng về nhà để dạy con mình. Suốt hai năm trời, Herman chỉ học được mấy lẽ cần trong đạo như: Một Thiên Chúa ba ngôi, dựng nên trời đất, tổ tông phạm tội, Ngôi Hai xuống thế làm người trong lòng Trinh Nữ Maria, chịu chết trên Thánh Giá để chuộc tội thiên hạ…

Herman lên 16 tuổi mới đủ trí khôn nhận thấy mình tàn tật và kém chúng bạn. Herman sinh buồn bã, đêm ngày những than thân tủi phận.

Thầy Dòng thấy học sinh của mình buồn bã đêm ngày, thì khuyên bảo cậu chạy đến cùng Ðức Mẹ và vững vàng trông cậy Người cứu giúp. Herman vâng lời thầy, cầu xin Ðức Mẹ ba năm trời, mà chẳng được kết quả gì. Mặc dầu vậy Herman không ngã lòng, cứ tiếp tục cầu nguyện.

Một ngày kia, Herman cảm thấy mình sầu khổ hơn mọi khi, liền đến trước bàn thờ Ðức Mẹ kêu van rằng: “Lạy Mẹ là Nữ Vương trời đất, là Mẹ nhân ái, là sức sống, là nguồn vui, là hy vọng của con, con là con cháu khốn nạn của Evà, ở chốn khách đầy đau khổ, kêu van xin Mẹ ghé mặt thương xót. Ðến giờ sau hết xin cho con được về Trời xem thấy Chúa Giêsu Con của Mẹ, lạy Mẹ nhân ái”.

Sau mấy lời kêu van thống thiết, Herman thấy Ðức Mẹ hiện ra sáng láng tốt đẹp và bảo: “Herman, con yêu của Mẹ, Mẹ đã nghe lời con cầu xin. Mẹ cho con chọn một trong hai điều này: một là khỏi các bệnh tật phần xác, hai là được trở nên thông thái, con muốn điều nào tùy ý.”

Herman bấy lâu khổ cực vì bệnh tật cũng như đau lòng vì trí khôn thấp kém. Cậu nghĩ ngợi một lúc, rồi quả quyết trả lời: “Con xin Mẹ trí thông minh.” Ðiều Herman xin đẹp lòng Ðức Mẹ. Người cho Herman được trí thông minh lại cho khỏi các tật bệnh phần xác nữa.

Từ đó Herman chăm chỉ học hành, nổi tiếng thông minh vượt hẳn chúng bạn. Sau Herman trở nên một nhà tu hành thông thái chép nhiều sách có giá trị. Ðể tạ ơn Ðức Mẹ, thầy Herman đặt lại kinh Nữ Vương cho mọi người đọc.

                 Trích sách THÁNG ĐỨC BÀ

 

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

CON TIM CHO ĐI

CON TIM CHO ĐI

Tại văn phòng bác sĩ tâm lý, một thiếu phụ xinh đẹp giàu có giãi bày:

“Bất cứ thứ gì tôi muốn, chồng tôi đều mua. Có mọi thứ nhưng lòng tôi trống vắng vô cùng. Xin bà hãy cho tôi một lời khuyên”.

Nhà tâm lý không trả lời, nhưng bảo cô thư ký của bà kể chuyện đời mình.

Cô thư ký kể,

“Chồng tôi chết cách đây ba tháng, con tôi chết vì đụng xe. Tôi mất tất cả. Tôi không ngủ, không muốn ăn cũng chẳng bao giờ cười. Một hôm đi làm về khi trời đã khuya, một chú mèo con cứ lẽo đẽo theo tôi. Trời lạnh, tôi thấy tội nghiệp nên mở cửa cho nó vào. Tôi pha cho nó một ly sữa, nó kêu meo meo và cọ mình vào chân tôi.

Lần đầu tiên tôi cười. Rồi tôi nghĩ, nếu việc giúp cho một chú mèo con có thể làm tôi cười thì việc giúp cho người nào đó có thể làm tôi hạnh phúc.

Thế là hôm sau tôi nướng vài ổ bánh đem cho bà cụ hàng xóm đang bệnh; hôm khác, hái một ít trái cây đem cho mấy trẻ bán xăng. Mỗi ngày tôi cố làm một vài việc gì đó cho những người tôi gặp.

Và quả thực tôi đã thấy hạnh phúc. Tôi nghiệm ra rằng, chúng ta sẽ không hạnh phúc khi chỉ chờ người khác đem hạnh phúc cho mình; ngược lại, sẽ rất hạnh phúc khi làm cho người khác hạnh phúc”.

Nghe đến đó, người thiếu phụ trẻ bật khóc. Cô đã có bất cứ thứ gì đồng tiền mua được nhưng cô đã đánh mất cái mà tiền không mua nổi, đó là lòng nhân ái. Và cô quyết định noi gương cô thư ký.

***

Nhiều người trong chúng ta rất muốn cho đi nhưng lại không có nhiều để cho vì lực bất tòng tâm. Dẫu thế, chúng ta có thể cho đi cái chúng ta đang có, cho đi con tim.

Người giàu nhất hay nghèo nhất, không ai không có con tim. Con tim biết cho đi không cần đợi đến lúc có hoặc có dư thừa mới cho. Con tim biết cho đi luôn sẵn sàng.

Cho đi lời cầu nguyện, cho đi thời giờ, cho đi tài năng. Một con tim không biết cho đi là một con tim chết; trái lại, càng tim hào phóng, tim càng giàu thêm.

Bởi lẽ, con tim có khả năng làm những việc mà đôi khi đôi tay không thể và chúng ta đừng quên, chỉ có thể mở được con tim người khác, khi chúng ta mở tim mình ra.

Thượng Đế cười với ta trên khuôn mặt của người nghèo khi ta dám tặng cho họ một điều gì đó.

Khi cho đi tự nhiên trong lòng ta phát ra một niềm vui không thể diễn tả được!

      Charlene Johnson

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Ai ở gần Ta, là ở gần lửa – CN XX TN C

Ai ở gần Ta, là ở gần lửa

Lửa trong Cựu Ước tượng trưng cho quyền năng tối thượng, tác động thanh luyện và sự hiện diện đáng sợ của Thiên Chúa. Tiến xa hơn, Tân Ước nhìn thấy trong lửa biểu tượng của tình yêu vô biên và làm biến đổi của Thiên Chúa đối với loài người. Nói về lửa Người mang đến thế gian, Chúa nghĩ nhiều nhất đến sứ mạng của Người giữa nhân loại. Chúa đem đến một sự hiện diện mới mẻ của Đấng Tối Cao. Thiên Chúa không chỉ là Đấng tạo nên khởi nguyên đầu tiên, Người là Toàn thể Tình yêu đến biến đổi con người bằng một sáng tạo mới. Origênê, một tác giả thời đầu Giáo hội, gán cho Đức Giêsu dụ ngôn này: Ai ở gần Ta là ở gần lửa. Làm sao có thể khác được? Trong các ngôn ngữ khắp địa cầu, tình yêu bao giờ cũng chọn lửa làm phương cách diễn tả huống hồ là Tình yêu nóng cháy vô cùng của Thiên Chúa so sánh với một lò lửa đỏ rực. Đức Kitô là sự mạc khải về Tình yêu ấy. Không thể đến gần Đức Kitô mà không thấm được ánh sáng và sức nóng. Khi Chúa phán thêm rằng Người phải nhận lãnh một sự thanh tẩy (Chúa ám chỉ sự thanh tẩy do Thương khó và Phục sinh), Đức Giêsu vạch rõ sự thể Người đến tạo ra một khởi nguyên mới. Thực tại trước kia nay biến đổi nhờ được ghép thêm một thực tại cao quý hơn, con người được nâng lên hầu tham gia sự Tuyệt Đối. Theo hướng suy niệm ấy, chúng ta chú ý đến hai việc:

1) Ngọn lửa bên trong Đức Giêsu Kitô không chỉ là sự thanh khiết tuyệt đỉnh trong tâm hồn và sự tự do thiêng liêng thượng đẳng. Loài người hằng cố gắng đạt tới cao độ thanh khiết và tự do ấy, chúng ta thấy trong lịch sử hoặc xung quanh chúng ta có những cố gắng biểu lộ một tấm lòng thật sự cao quý. Nhưng điều mà Chúa mang đến không phải là thành quả nỗ lực nhân loại. Đây là một điều gì từ cõi cửu trùng ban xuống, thấm đượm con người. Bài tường thuật về sáng tạo cũ bắt đầu bằng câu: Lúc khởi nguyên. Lịch sử cuộc đời Đức Kitô mở đầu bằng một câu tương tự: Lúc khởi nguyên đã có Đức Giêsu Kitô. Điều này đúng cho toàn bộ lịch sử nhân loại do Đức Kitô đảm nhiệm, và pahỉ đúng cho mỗi Kitô hữu. Cuộc đời mỗi Kitô hữu đều có một khởi điểm là Đức Giêsu Kitô. Chúng ta nói thêm, nếu Chúa có ở lúc bắt đầu, tất phải có ở lúc giữa và lúc kết thúc.

2) Ngọn lửa bên trong Đức Giêsu Kitô phải thấm đượm điều gì tốt nhất trong chúng ta, khiến nó thành vững chắc, lâu bền, trong sạch. Chúng ta biết, trong Chúa chúng ta tiến lên đời sống siêu nhiên, – do đó chúng ta rút ra những hệ luận thực tiễn. Yêu thương anh em, ra sức hoạt động cải thiện thế giới, vẫn chưa đủ – xả thân cho hạnh phúc nhân loại, vẫn còn thiếu, vì chung cục có gì là chắc? Chỉ còn lại cái Bước đầu như trên là cần, nhưng phải tiến xa hơn nữa. Phải yêu mến Đức Kitô, sống Đức Kitô. Theo mức độ ân huệ nhận được, Kitô hữu có trách nhiệm làm cho tình yêu của Đức Kitô hiện diện trong thế giới. Kitô hữu phải tin chắc điều này: Thế giới cần được ơn trên soi sáng để hiểu rõ tại sao có mình, hơn là cứ mỗi thế kỷ lại nêu ra không biết bao tham vọng mỗi lần dưới một bộ mặt đổi khác, muốn tự tổ chức thành thiên đường hạ giới, mơ tưởng xây dựng một thiên đường tình yêu. Kitô hữu phải đóng góp vào những nỗ lực cải thiện thế giới, có trách nhiệm lái những nỗ lực ấy theo phương hướng Chúa muốn.

 

Achille Degeest (Trích dẫn từ Lương Thực Ngày Chúa Nhật)

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Thời Gian Quyết Định – CN XX TN C

Thời Gian Quyết Định – Chúa Nhật XX Thường Niên Năm C 2019

Hôm 15/08 vừa qua, khi máy bay A321 của Ural Airlines đâm phải đàn chim sau khi cất cánh từ sân bay Zhukovsky, Moskva để tới Crimea. Một số con chim lọt vào động cơ khiến cả hai động cơ máy bay đều hỏng, đẩy 226 hành khách và 7 thành viên phi hành đoàn vào tình huống nguy hiểm. Cơ trưởng mới chỉ có 3.000 giờ bay nhưng đã quyết định cho máy bay hạ cánh an toàn xuống cánh đồng ngô rộng lớn cách sân bay chưa đầy 1km cứu mạng sống của 233 người. Cơ trưởng Yusupov chia sẻ với báo chí sau đó: “Có những lựa chọn khác và thật tốt nhưng chúng tôi đã không sử dụng. Nếu chúng tôi cố quay lại sân bay, tôi không biết điều gì sẽ xảy ra”. Trong thời khắc định mệnh, đòi hỏi người ta phải có quyết định dứt khoát.

Đoạn Tin Mừng Chúa Nhật XX TN hôm nay diễn ra trong bối cảnh Đức Giêsu cùng với các môn đệ của Ngài đang trên đường lên Giêrusalem. Và đây là thời khắc quyết định cho sứ mạng thiên sai của Đức Giêsu, là thời điểm sống còn cho lịch sử Kitô giáo. Vì thế mà các nhà chú giải đặt cho đoạn Tin mừng này chủ đề thời gian quyết định.

  1. Trong thời gian quyết định này, Đức Giêsu có 2 ước muốn cháy bỏng liên quan đến sứ mạng của Ngài: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12, 49-50). Lửa và phép rửa là 2 ước muốn cháy bỏng của Đức Giêsu.
  • “Lửa” ám chỉ sự thanh luyện như “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Đức Giêsu đến thế gian này để chuẩn bị cho con người đón nhận ơn cứu độ. Sứ điệp đầu tiên của Ngài dành cho nhân loại là Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” (Mt 4, 23). Ngài ao ước ngọn lửa thanh luyện bùng lên để con người và thế gian được sạch hầu xứng đáng đón nhận ơn cứu độ.
  • “Phép rửa” là dìm mình trọn vẹn trong đau khổ, ám chỉ cuộc thương khó của Đức Giêsu. Đức Giêsu đến thanh luyện trần gian bằng chính Máu của Ngài. “Lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12, 50b). Vì thế việc bước vào cuộc khổ nạn không phải là tình huống bất ngờ, nhưng là sự chủ động để vâng theo thánh ý Chúa Cha. Và vì vậy con đường thập giá trở thành con đường vinh quang cho những ai muốn bước vào Thiên Quốc.

Trong thời gian quyết định, thời khắc sống còn chúng ta không chọn lựa may rủi như cơ trưởng Yusupov của Nga hôm 15/08, nhưng là chắc chắn sẽ được sống đời đời nếu chấp nhận thanh luyện và bước vào cuộc khổ nạn cùng với Đức Giêsu.

  1. Liền sau đó, Đức Giêsu nói lên sự thật hiển nhiên trong cuộc sống con người đó là quyết định của mỗi người liên quan đến đến đời sống đức tin, đến ơn cứu độ. Đứng trước lời mời gọi của Chúa, mỗi người có quyền theo hoặc không theo. Mà một khi không theo thì chuyện chống đối là đương nhiên, có khi ngay chính trong gia đình mình: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51).
  2. Đức Giêsu đã đến trần gian mang lửa yêu thương vào đời, để ở đâu có tình yêu thương, ở đó sẽ được thanh luyện sạch mọi ích kỷ, giận hờn, ghen ghét…; ở đâu có tình yêu thương, ở đó sẽ được thanh luyện khỏi mọi mưu toan nham hiểm của con người; ở đâu có tình yêu thương, ở đó sẽ có sự thông cảm, tha thứ, nâng đỡ và dìu dắt nhau; ở đâu có tình yêu thương, ở đó không còn mắc nợ, mà là tình nghĩa để con người được hỗ trợ thêm.

Vì thế mỗi chúng ta hãy cố gắng thanh luyện bản thân, gia đình, cộng đoàn và môi trường mình đang sống bằng tình yêu thương chân thành. “Hãy làm mọi sự vì đức ái”.Đến đâu, hiện diện nơi nào cũng với châm ngôn “đến để phục vụ” giống Đức Giêsu.

Mẹ Têrêxa Calcutta đã “làm mọi sự vì đức ái” bằng cách “đến để phục vụ” những người nghèo khổ, bé mọn nhất trong xã hội. Mẹ nói rằng: Tình yêu là loại quả của cả bốn mùa, và nằm trong tầm với của mọi bàn tay. Chúng ta đừng sợ mình không có khả năng, không có điều kiện… Hãy sợ mình không có tình yêu.

  1. Một khi đã chọn sống yêu thương – phục vụ bằng tất cả tình yêu thương là chúng ta đã chọn con đường thập giá của Đức Giêsu. Chọn lựa như thế cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận những gian nan khốn khó mà Đức Giêsu gọi là những chia rẽ.

Thánh Phanxicô Assisi là vị thánh của tình yêu. Ngài là một người trung thực, lời nói đi đôi với việc làm, suy nghĩ sao hành động vậy. Ngài yêu mến Đức Giêsu khó nghèo nên quyết định sống nghèo thực sự giống Đức Giêsu. Ngài bán hết tài sản của mình cho người nghèo, ngay cả tấm áo choàng Ngài cũng cởi trả lại cho gia đình. Ngài sống vui tươi, bình an với thiên nhiên, vạn vật mà không lo nghĩ gì đến của cải thế gian. Ngài chỉ mong sao được phục vụ những người nghèo khổ… Chính thái độ sống của Ngài đã trở thành một sự chống đối cho gia đình Ngài. Lời Đức Giêsu nói trong đoạn Tin Mừng hôm nay là đúng.

Bằng Tình Yêu và sự Phục Vụ, môn đệ Đức Giêsu rất nhiều khi gặp phải những mối bận tâm, thao thức. Làm sao để cho người khác sống đạo tốt hơn? Làm sao để lo cho những người nghèo? Làm sao để có tiền cho các em đi học? Làm sao để có những cơ sở cần thiết cho việc phục vụ?…  những mối bận tâm nhiều khi làm kiệt quệ cả tinh thần và sức lực của người môn đệ.

Đáng sợ nhất là bằng Tình Yêu và sự Phục Vụ nhưng người môn đệ của Đức Giêsu vẫn gặp phải những nỗi cô đơn, chán chường, trống vắng, đôi khi là sự chống đối, bất hợp tác.

Đó là thân phận của ngôn sứ như Giêrêmia trong bài đọc thứ nhất. Chẳng còn ai ngoài những người bạn thân tín, yêu thương nên đã tìm cách để cứu ông. Đó là thân phận của Đức Giêsu đã chết vì yêu. Vì vậy chúng ta không sợ, không chán nản khi dám sống yêu thương.

Lạy Chúa, xin cho con dám quyết định sống yêu thương – phục vụ dù biết rằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Xin cho con đừng chán nản, nhưng cứ dấn thân vì tin chắc rằng tình yêu sẽ chiến thắng.

Lm. Giuse Nguyễn

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Bàn thờ ở các gia đình Công giáo

Bàn thờ ở các gia đình Công giáo

Tôi có nhiều dịp thăm các gia đình người công giáo Châu Âu. Điều khiến tôi ngạc nhiên là nhà họ không có bàn thờ như ở các gia đình Việt Nam. Với họ, bàn thờ chỉ có ở những nơi thờ phượng như nhà thờ hoặc nhà nguyện. Và họ cũng không cầu nguyện tại tư gia như các gia đình Việt Nam, đọc kinh sớm tối. Tuy nhiên, khi đạo Công giáo từ Châu Âu đến Việt Nam (khoảng 1615), các nhà truyền giáo đã rất khéo léo hội nhập và “rửa tội” cho những truyền thống con rồng cháu tiên. Một trong những nét đẹp ấy phải kể đến: bàn thờ ở mỗi gia đình.

Phải thừa nhận rằng người Việt có nhu cầu về đời sống tâm linh một cách cụ thể. Nét đẹp tâm linh ấy chúng ta có thể thấy nơi những bàn thờ. Người Phật Giáo có bàn thờ Đức Phật. Tín đồ đạo Cao Đài có hình Thiên Nhãn đặt ở nơi cao giữa nhà. Người theo tín ngưỡng nhân gian có bàn thờ thổ địa hoặc thần tài. Người lương dân có bàn thờ ông bà tổ tiên. Và người Công Giáo có bàn thờ Thiên Chúa, đặt trên bàn thờ tổ tiên. (Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình. Theo quyết nghị của Ủy Ban Giám Mục về Truyền Bá Phúc Âm ngày 19 tháng 4 năm 1972). Đó thực sự là những dấu chỉ cho thấy gia đình người Việt theo tín ngưỡng nào.

Hẳn nhiên, bàn thờ luôn là chỗ trang trọng, linh thiêng và là trung tâm của tư gia. Cũng như bàn thờ trong Thánh Đường, bàn thờ ở mỗi gia đình là nơi quy tụ các thành viên nguyện cầu. Đặc biệt trong những dịp trọng đại (lễ cưới, tân niên, lễ giỗ…), bàn thờ luôn là nơi để thờ phượng và giúp cho các thành viên thêm gắn kết. Ở nhiều thế hệ trước, chúng ta thấy ông bà, cha mẹ và con cháu quây quần đọc kinh sáng tối. Nhất là những nơi thiếu vắng linh mục, việc nguyện cầu tại tư gia luôn là nguồn sức sống cho mỗi thành viên. Tiếc là thế hệ trẻ hôm nay không còn để tâm đến kinh nguyện sớm hôm. Tệ hơn nữa, nhiều gia đình trẻ Công giáo không mấy quan tâm đến bàn thờ tư gia của gia đình mình.

Bàn thờ của người Công giáo thường có tượng Chúa chịu chết trên cây thánh giá nơi nhiều gia đình. Đấy thực sự là dấu chỉ mạnh mẽ thể hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngoài ra, chúng ta có thể thấy ảnh hay tượng Thánh Gia. Đó là những ảnh tượng đã được làm phép. Hình ảnh đức Mẹ và thánh Giuse chăm sóc cho Hài Nhi Giêsu nhắc nhớ người cha, người mẹ để tâm đến con cái mình. Cũng vậy, hình ảnh Chúa Giêsu dưới mái gia đình, nhắc những bậc làm con cháu biết vâng lời cha mẹ, thảo kính và đức độ với mọi người. Thánh Gia luôn là mẫu gương tuyệt vời cho mỗi gia đình noi theo. Với nhiều loại ảnh tượng khác nhau, ước gì mỗi thành viên ngồi lại bên bàn thờ Chúa để nguyện cầu, xin ơn. Chắc là từ ngai tòa Chúa, mỗi người đều nhận được ơn lành hồn xác, để cùng nhau đi tiếp con đường.

Nhiều lần nghe các bạn khẳng định với tôi rằng: “Đạo tại tâm. Giữ đạo trong tâm hồn là đủ rồi, bề ngoài không quan trọng lắm!” Theo họ, việc trưng bày ảnh tưởng hoặc những nghi thức bề ngoài không mấy cần thiết. Theo những anh em Tin Lành, họ không chấp nhận ảnh tượng vì đó trái với Kinh Thánh. Họ cho rằng người Công Giáo “thờ ngẫu tượng”. Thực vậy, “Ngươi không được tạc tượng thần, hay bất cứ hình ảnh gì trên trời, dưới đất, hay trong nước dưới mặt đất: ngươi không được thờ lạy chúng hay phụng sự chúng.” (Xh 20,4-5). “Than ôi, những người này đã phạm trọng tội; chúng đã tạo cho chúng các thần bằng vàng.” (Xh 32,31). Tuy nhiên, cũng trong Cựu Ước, Đức Chúa ra lệnh cho Vua Ðavít “làm hai tượng thần hộ giá bằng vàng gò” (x. Xh 25,17-22). Hoặc trong Sa mạc, Ðức Chúa liền nói với Môsê: “Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.”  (Ds 21,8). Đó là hình ảnh tiên trưng của Đức Giêsu treo trên thánh giá vào thời Tân Ước.

Trên đây là những cuộc tranh luận đã một thời khiến người công giáo băn khoăn. Tuy nhiên, cần phân biệt là chúng ta không thờ bức tượng, hình ảnh; nhưng qua đó, chúng ta thờ chính Thiên Chúa. Chẳng hạn, di ảnh người đã khuất không phải là người đã khuất, nhưng qua đó, chúng ta nhớ đến họ. Ai xúc phạm đến ảnh ấy, cũng là xúc phạm đến người thân của ta! Tranh tượng thánh cũng vậy. Công Ðồng Trent (1566) dạy rằng, được xem là tội thờ ngẫu tượng khi “thờ các tượng thần và hình ảnh như thờ Chúa, hoặc tin rằng những tượng ấy thánh thiêng hay có đức tính đáng được thờ phượng, để cầu xin, hay đặt tin tưởng nơi các tượng thần ấy.” Hơn nữa, Giáo Lý Công Giáo khẳng định rằng: “Tôn thờ ngẫu tượng đã bóp méo cảm thức tôn giáo bẩm sinh của loài người. Kẻ thờ ngẫu tượng là người ‘đem ý niệm bất diệt về Thiên Chúa mà gán cho bất cứ những gì không phải là Thiên Chúa’.” (2112-2114). Bởi thế, Công Đồng Vaticanô II xác định: “Phải kiên quyết duy trì thói quen đặt ảnh tượng thánh trong các thánh đường cho các tín hữu tôn kính.”(Hiến Chế về Phụng vụ Thánh, số 125).

Với lòng đạo đức và truyền thống Đức Tin, hy vọng mỗi gia đình Công Giáo chú tâm đến bàn thờ tại tư gia. Nơi đó thực sự giúp chúng ta cảm nhận Thiên Chúa đang hiện diện và hằng giúp đỡ con người. Dù vui buồn hay sướng khổ, Thiên Chúa luôn là điểm tựa và là chỗ nương nhờ cho những ai đang vất vả mang gánh nặng nề. Xin đừng để bàn thờ Thiên Chúa quá xa lạ với đời sống đạo của gia đình. Ngược lại, để tâm đến đời sống đức tin, đến thờ phượng hay nguyện cầu sẽ cho con người được hạnh phúc bình an.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Nước Trời cho anh em

 Nước Trời cho anh em

Từ năm 1945 cho đến nay, cứ vào ngày 06 tháng 08, hàng trăm ngàn người đã đến tượng đài Hòa Bình ở Nagazaki đứng chờ đúng 11 giờ 30 từng hồi chuông đổ ngân vang trên khắp nước Nhật, nhắc nhở thế giới mặc niệm hơn 147.000 người của hai thành phố Nagazaki và Hiroshima đã bị thiêu hủy dưới sức tàn phá của hai trái bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới. Suốt 45 năm thế giới luôn luôn nơm nớp lo sợ trong chiến tranh lạnh dưới sức đe dọa khủng khiếp của hàng triệu triệu tấn bom nguyên tử trong kho vũ khí các cường quốc có thể phát nổ bất cứ lúc nào. Mãi cho tới năm 1990, thế giới mới có tin mừng; chiến tranh lạnh chấm dứt, vũ khí hạch nhân đang bị loại bỏ.

Các môn đệ đang đi theo Đức Giêsu trong cuộc hành trình tiến về Giêrusalem để tưởng niệm lễ Vượt qua của dân tộc thoát ách nô lệ Ai Cập. Nhưng nghe Thầy tiên báo Thầy phải vượt qua một khổ nạn sắp tới, các ông linh cảm thấy một sức mạnh ghê gớm đe dọa làm các ông lo sợ. Thực vậy, các ông chỉ là đoàn chiên bé nhỏ có mười hai người quê mùa, kém cỏi, đi theo một mục tử hiền hòa, nhân hậu, làm sao đương đầu được với một lực lượng đầy quyền thế hùng hậu của thủ đô và một đoàn quân dũng mãnh của đế quốc Rôma. Trước những lo ngại ấy, Đức Giêsu đã trấn an các ông: “Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, anh em đừng sợ, vì Cha của anh em đã vui lòng ban nước trời cho anh em”.

Nước Trời mới thực là Tin Mừng muôn thuở. Đời sống anh em được Cha trên trời bảo đảm vững chắc, không một sức mạnh thế gian nào dám xâm phạm tới, không quân dữ nào dám nhào tới, anh em không còn sợ bị chết nữa, không còn sợ bất cứ chiến tranh, bom đạn nào nữa. Không còn sợ đau khổ, hận thù, cực hình nào nữa. Không còn sợ bất kỳ đói khát, bệnh tật, bất công, bất nhân nào nữa. Vì thế ngay đầu đoạn Tin Mừng này, Đức Giêsu đã nói với các ông:

“Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy được biết: anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa. Thầy sẽ chỉ cho anh em biết phải sợ ai: hãy sợ Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hỏa ngục. Thật vậy, Thầy nói cho anh em biết: anh em hãy sợ Đấng ấy” (Lc. 12, 4-5).

Đấng ấy là Cha trên trời đã ban cho anh em nước trời rồi, anh em đâu còn sợ chi nữa! Nước trời là hạnh phúc vô biên cho anh em rồi. Nước trời là Tin Mừng mang lại cho anh em cuộc sống vinh quang, toàn thiện, toàn mỹ trong tình thương bao la của Thiên Chúa rồi. Không còn đâu vui mừng hạnh phúc cho anh em hơn nước trời nữa.

Vậy để được hưởng nước trời, Đức Giêsu đã khuyên các môn đệ và chúng ta phải cố gắng thực hiện những điều sau đây:

Thứ nhất: phải quyết tâm đạt được nước trời với bất cứ giá nào, dù phải bán hết của cải đem đi bố thí, cũng sẵn sàng vui lòng, vì nước trời là “túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, là kho tàng vô giá chẳng bao giờ thiếu hụt, là kho tàng trên trời, nơi không có trộm cướp bén mảng, không có mối mọt đục phá”.

Thứ hai: Phải thắt lưng làm việc như tôi tớ, như bồi bàn, như Thầy đã thắt lưng rửa chân cho các môn đệ, đã dọn tiệc bằng Thịt Máu Thầy cho các môn đệ ăn. Đến lượt các ông cũng làm như Thầy, dù có phải thắp đèn thức khuya suốt đêm chờ chủ về, suốt đời chờ Chúa đến, chúng ta vẫn phải trung thành chu toàn mọi việc của Chúa trao phó. Nếu sơ sót, lơ là, chểnh mảng, biếng nhác, bất cứ lúc nào, chủ về, Chúa đến, thì khốn cho đầy tớ đó. Thật phúc cho đầy tớ đang tỉnh thức lúc chủ về, lúc Chúa đến!

Thứ ba: Phải luôn luôn là những người quản gia, quản lý trung tín và khôn ngoan như Abraham mau mắn vâng nghe lời Chúa dậy, sẵn sàng từ bỏ quê hương, từ bỏ mọi sự, đi theo con đường Chúa chỉ, không phải tìm trú ẩn an toàn ở dưới đất, mà tìm quê hương trên trời. Phải luôn luôn tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa như Abraham dầu phải vác con lên núi, sát tế, ông sẵn sàng hy sinh mạng sống con mình và cả mạng sống mình để thực thi ý Chúa (Bài đọc II)

Sau nữa: Phải trông cậy kiên trì vào lời Thầy: “Cha của anh em đã vui lòng ban nước trời cho anh em” như dân Chúa xưa “các ngài đã kiên trì trông đợi đêm vượt qua …, để các Ngài được phấn khởi hân hoan, vì biết chắc về những lời thề hứa của Chúa mà các ngài đã tin tưởng” (Bài I)

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết kiên trì tin tưởng và trông đợi lời hứa không bao giờ lay chuyển của Chúa, để luôn luôn tỉnh thức chu toàn mọi công việc Chúa trao như một tôi tớ trung tín và khôn ngoan, cho tới khi Chúa đến gõ cửa, chúng con được vui mừng ra đón rước Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

ViKiNi
(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống – CN XIX TN C

Chúa Nhật XIX Thường Niên Năm C 2019

“Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống”

Điểm chính yếu của phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật 19 Thường niên năm C nằm ở câu mở đầu của đoạn Tin Mừng Luca 12, 32-48, bằng những lời chất chứa yêu thương và thắm đượm nghĩa tình của Đức Giêsu: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của người cho anh em” (Lc 12, 32). Đức Giêsu cho chúng ta 1 sự thật và 1 lời nhắn nhủ. Sự thật là “Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” ; và lời khuyên là: “đừng sợ!”.

Với nghĩa tình của Đấng đã dành mọi ưu ái cho ta, hãy cùng nhau khám phá ý nghĩa sâu xa của sứ điệp lời Chúa hôm nay như một cách sống có tình nghĩa và đáp lại ưu ái của Ngài.

Trong Bài đọc thứ nhất (Kn 18, 6-9), Tác giả sách Khôn Ngoan nhắc đến biến cố Vượt Qua trong sách Xuất Hành. Qua mọi thời, biến cố này luôn khắc ghi trong tâm khảm của người Do Thái. Đó là một bất ngờ tiêu cực với người Ai Cập, nhưng lại là bất ngờ tích cực với người Do Thái. Qua đó tác giả khuyên nhủ thế hệ sau phải sống xứng đáng là con cháu của những người đã trải qua biến cố bất ngờ này, bằng cách là luôn nhớ đến những công trình tay Chúa làm ra để luôn sống theo sự hướng dẫn của Ngài.

Đoạn Tin Mừng (Lc 12, 32-48) liệt kê cho ta liên tiếp những phụ từ “Hãy”, biểu thị ý yêu cầu có tính chất mệnh lệnh hoặc thuyết phục, động viên nên làm việc gì đó, nên có thái độ nào đó:

“Hãy bán tài sản của mình mà bố thí…” (Lc 12, 33a)

“Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách…” (Lc 12, 33b)

“Hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sáng…” Lc 12, 35)

“Hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về…” (Lc 12, 36)

Tất cả những mệnh lệnh này nói lên sự khôn ngoan đích thực của con người mà tự bản thân của ta không thể nào nhận thức được nếu không có sự hướng dẫn của Đức Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác nó chính là tình yêu của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã phải thao thức, ấp ủ, gói ghém tất cả trong cả cuộc đời của Ngài để trao ban cho ta để ta có được hạnh phúc đời đời.

Vì vậy điều căn bản đầu tiên trong mối tương quan với Thiên Chúa là phải biết rằng Chúa thương mình, Chúa lo lắng cho mình, Chúa hy sinh tất cả mọi sự cho mình. Khi cảm nhận được tình thương đó, con người sẽ cố gắng để đáp trả ít là bằng việc nghe lời Chúa dạy.

Một người thương mình thật sẽ nhận tất cả những gì của mình về phía họ. Đừng nghĩ mình thiệt thòi khi người thương mình nhận tất cả những gì của mình về phía họ. Điều tuyệt vời trong tình yêu đích thực là không bao giờ người ta bận tâm đến những giá trị vật chất, mà chỉ nghĩ cách để làm sao cho tình yêu đó thêm triển nở, vì vậy vật chất trở thành điều thứ yếu trong tình yêu chân thật; Hơn thế nữa, còn mang vào họ cả những khuyết điểm, những yếu đuối, những tội lỗi của ta. Điều đó được thể hiện cụ thể nơi Đức Giêsu khi Ngài gánh lấy tội lỗi của Ta và hy sinh tính mạng vì ta.

Nhiều người đặt ra suy nghĩ: “Vậy phải làm sao để trả ơn người đã làm ơn cho ta?” Trong tình yêu chân thành không hề có việc trả ơn, vì tất cả chỉ là cái tình cái nghĩa dành cho nhau. Chỉ cần biết rằng dù mình như thế nào thì vẫn có một người sẵn sàng che chở, bênh vực.

Vì vậy những mệnh lệnh của Đức Giêsu hôm nay nếu được đặt trong mối liên hệ một người bạn chân thành thì chắc chắn ta sẽ có thái độ cố gắng hơn vì biết có người yêu thương ta quá nhiều.

Kế đến ta tìm cách để thực hiện những lời dạy của Đức Giêsu, không phải để trả ơn Ngài, nhưng để ta được điều tốt hơn.

Những lời dạy của Đức Giêsu trong đoạn Tin mừng này cho thấy sự thật về thế giới hôm nay, một thế giới bị giá trị vật chất quay cuồng khiến người ta không còn tỉnh táo để phân định đâu là giá trị thật.

“Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí…” là lời khuyên mang tính mệnh lệnh cho những người biết sống tình nghĩa với Chúa, vì Chúa biết rằng tài sản vật chất nếu chỉ giữ cho riêng mình thì chẳng có giá trị gì. Sự thật là “Phù vân nối tiếp phù vân, trần gian tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1, 1).

Mạnh Thường Quân là người nghĩa hiệp thời chiến quốc, làm tể tướng nước Tề, có người hầu cận thân tín là Phùng Hoan. Một hôm Mạnh Thường Quân sai Phùng Hoan đi đòi nợ ở ấp Tiết. Khi đến nơi, Phùng Hoan xé giấy nợ cho tất cả người dân ấp Tiết, về nhà nói với Mạnh Thường Quân: “Trước khi đi tôi đã xem xét kỹ lưỡng, thấy nhà của tướng công ngọc ngà châu báu chứa đầy kho, người đẹp đầy nhà, chó ngựa cũng đầy chuồng, chẳng thiếu thứ gì. Chỉ có chữ nhân nghĩa là chưa đủ, nên hôm nay đi đòi nợ tôi đã dùng số tiền đó mua chữ nhân nghĩa cho tướng công rồi”. Về sau, Mạnh Thường Quân bị vua Tề thu hồi ấn tướng và đuổi về ấp Tiết. Dân ấp Tiết nhớ ơn xưa nên đã đón tiếp cách nồng hậu. Mạnh Thường Quân là thế, là người bỏ tài sản của mình để giúp đỡ người khác. Nếu bo bo giữ của, đòi cho được tiền thì chắc chắn Mạnh Thường Quân sẽ mất tất cả.

Hơn cả bài học về đối nhân xử thế, Đức Giêsu còn dạy chúng ta lấy tiền của để đổi lấy tình nghĩa và đạo đức. Chính điều đó mới là điều kiện để chúng ta được vào Nước Trời.

Sau cùng Đức Giêsu nói lên sự thật mà người thời nay không để ý tới. Rất quen với câu trả lời của nhiều người khi được hỏi có đi lễ Chúa Nhật không? Họ trả lời: “Khi nào cuộc sống ổn định, khi nào cất được nhà, khi nào trả nợ xong… con sẽ đi lễ”… Khi nào là khi nào? Đức Giêsu nói với ông phú hộ: “Đồ ngốc, nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi” (Lc 12, 20). Khi có ý thức về ngày chết người ta sẽ sống tốt hơn. Đó là câu trả lời cho câu hỏi: “nếu chỉ còn một ngày để sống?”. Có lẽ người ta sẽ sống tốt hơn, sống có tình có nghĩa hơn, lo làm nhiều việc đạo đức, bác ái hơn…

Nghe lời Đức Giêsu về sự tỉnh thức, mỗi người chúng ta hãy quyết tâm sống như hôm nay là ngày cuối cùng để nếu chưa đi xưng tội hãy lo đến với tòa giải tội; nếu đã lâu chưa đến nhà thờ, hãy đến ngay; nếu còn vướng mắc những giận hờn, ganh ghét với ai hãy bỏ qua ngay; nếu điều gì muốn làm mà chưa làm cho người thân thì hãy làm ngay.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy Chúa thương ta, để rồi mời gọi ta hãy đáp trả lại tình thương đó bằng chính cách sống của mình, không phải để Chúa vui, mà để mưu cầu lợi ích cho ta. Đáp trả bằng việc không bám víu vào những giá trị chóng qua, mà hãy tận dụng tất cả để mua cho được cái tình với Chúa và với tha nhân ; Hãy tỉnh thức bằng cách luôn sẵn sàng để làm những gì tốt nhất. Hãy có lòng biết ơn với Chúa và với mọi người thì giây phút hiện tại cuộc đời ta sẽ rất đẹp.

“Là con người cần có một tấm lòng

Để trải rộng trao cuộc đời trước mặt

Để ý chí luôn lớn hơn vật chất

Để chúng ta sống chân thật bên nhau

Nếu chẳng may ai hoạn nạn nơi đâu

Đừng nghĩ rằng tiền sẽ mua được hết

Đừng mặc cả bán cuộc đời, cái chết

Hãy nhớ: đồng tiền bạc trắng hơn vôi

Vật chất nào đổi được tấm lòng người

Giữa đời thường bon chen và gấp vội

Cầm bát cháo, khắc lời ông cha nói

Bước lên bờ lưu luyến bến đò xưa

Được ai giúp xin đừng quên gửi thưa

Một lời đáp là ngàn vàng cao giá

Cùng ánh mắt sẽ thay cho tất cả

Trước một tấm lòng ta hãy nhớ: Cảm ơn!” (sưu tầm)

Lm. Giuse Nguyễn

 

Chia sẽ bài viết này trên: