Month: Tháng Chín 2019

LOÀI HOA THẤU CẢM

LOÀI HOA THẤU CẢM

Thánh nữ “Bông Hoa Nhỏ” Teresa Lisieux (Teresa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan) có tiếng là người lặng lẽ và khiêm tốn. Đúng vậy. Thánh nữ phát triển khả năng đối xử tử tế với mọi người, kể cả những người khó chịu nhất.

Trong cuộc sống, ai cũng có những người “dị ứng” – những người mà chúng ta khó có thể hợp ý, hoặc những người “không ưa” chúng ta, thậm chí tìm cách chê trách chúng ta đủ thứ, giống như người Việt có câu: “Không ưa dưa cũng có giòi.” Luôn có những người ghét chúng ta ra mặt, khiến chúng ta cảm thấy không thoải mái khi đối diện với họ, dù chỉ là một cái nhìn cũng có vẻ “chói mắt” lắm.

Không có cách nào để tránh né họ. Kinh nghiệm của Thánh Teresa cho thấy như vậy. Họ ở khắp nơi, ngay cả trong tu viện. Chị thánh mau chóng làm chủ nghệ thuật đối xử với những người khó chịu và biết cách cảm thông cho họ. Chị thánh là một loài hoa bé nhỏ nhưng lại có cách thấu cảm độc đáo.

Có người cho rằng có thể Chị thánh đã từng là người khó chịu với người khác. Không phải vậy. Chị thánh sinh ra có bản chất mạnh mẽ và nóng nảy. Người mẹ cho biết: “Nó tức giận khi có những điều không vừa ý. Nó lăn ra đất nếu người khác không làm theo ý nó. Đôi khi nó uất lên.” Chị thánh cho biết trong tự truyện Một Tâm Hồn rằng tính khí của Chị có thể dễ trở thành “người độc ác” nếu Chị không nhờ cha mẹ tốt lành đã giúp Chị vượt qua.

Khi mới vào dòng, Chị cho biết: “Mọi thứ trong tu viện quyến rũ tôi.” Nhưng không lâu sau Chị biết ngay rằng Chị có các xu hướng khó chịu và cứ tiếp diễn, các nữ tu khác cũng thế. Chị có vấn đề với bề trên mới, bà luôn nghiêm khắc với Chị. Và Chị cho biết: “Tôi không bao giờ gặp bà mà không bị trách mắng về điều gì đó. Tôi nhớ có lần tôi nhìn mạng nhện trong tu viện, bà nói với tôi trước mặt các nữ tu khác: ‘Được một bé gái 15 tuổi quét mạng nhện thì tu viện dễ coi lắm!’”

Điều xấu hổ này phù hợp với việc bị kết tội lười biếng, và bề trên thường nói: “Cô bé này vô tích sự!” Teresa phải tìm cách đối xử với bề trên, bởi vì dù muốn dù không thì họ cũng dành nhiều thời gian để giao tiếp thân mật. Tệ trước, tốt sau. Chị nói rằng vấn đề quá tệ đến nỗi Chị lo lắng mình có điều gì đó sai mà không sửa được.

Qua thời gian, Chị nhận thấy rằng vấn đề không do mình, và Chị tìm cách đối xử với những người khó chịu. Đây là lời khuyên của Chị Thánh Teresa:

  1. TÌM GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC Những người khó chịu luôn tiêu cực. Họ tìm điều họ không thích, dù có thật hoặc bịa đặt, rồi tập trung vào đó. Chẳng hạn, bề trên cho rằng Teresa lười biếng và cứ chú ý vào đó. Chắc chắn bạn sẽ thắc mắc không biết mình đúng hay sai bởi vì bạn cứ bị nói về điều đó hoài, mặc dù điều đó hoàn toàn không đúng.

Chị Thánh Terese giải quyết vấn đề đó bằng cách không chú ý tới điều người ta nói xấu hoặc bới lông tìm vết. Chị cứ lặng lẽ làm việc của mình, không chú ý tới bề trên nữa. Chị hoàn tất công việc hết sức mình và để tôn kính Thiên Chúa. Thật vậy, Chị thường làm cho người khác tin tưởng về công việc mà Chị làm bởi vì Chị biết điều đó làm cho họ hạnh phúc. Khi Chị không quan tâm những gì bề trên chú ý hoặc nói Chị lười biếng, Chị giải thoát mình khỏi tính tiêu cực.

  1. ĐỪNG BIỆN HỘ VÔ ÍCH

Chị Thánh Teresa không có ý nói chúng ta nên để cho người khác xô đẩy mình, mà là khi chúng ta bị hiểu sai hoặc bị kết án, chúng ta đừng cho phép mình chống lại. Khi bề trên cứ khăng khăng cho rằng Teresa lười biếng, Chị muốn cãi lại và đấu khẩu, nhưng Chị biết chỉ vô ích mà thôi. Có lần Chị bị kết tội làm bể chiếc bình và cứ để đó. Chị thấy rằng ai làm bể cũng không thành vấn đề, dù Chị không làm bể, và cũng không đáng để biện minh, Chị vẫn im lặng và dọn dẹp. Qua thời gian, hành động nói to hơn ngôn ngữ, sự nhịn nhục có thể chiến thắng cả những con người khó chịu nhất. 

  1. HOÀN THIỆN TÌNH YÊU THƯƠNG

Dễ dàng yêu thương gia đình và bạn bè, nhưng khó khăn yêu thương những người khó tính khó nết. Chị Thánh Teresa nói về một nữ tu mà Chị cảm thấy không thích, nhưng Chị nhận ra rằng tình yêu là một hành động chứ không là một cảm giác, nữ tu kia là con người hoàn hảo đã dạy Chị cách yêu thương nhiều hơn. Chính Chị cũng đã từng thay đổi nhờ tình yêu thương kiên trì của cha mẹ, thế nên Chị biết có sức mạnh của việc yêu những con người khó yêu.

Chị nói: “Tôi cố gắng làm nhiều việc theo khả năng, và khi nào tôi bị cám dỗ nói lời không hay với bà thì tôi lại cười vui vẻ với bà.” Sau một lúc, Chị cho biết rằng cảm giác khó chịu bắt đầu thay đổi.

Cuối cùng, người khó chịu chỉ có thể ảnh hưởng bạn nhiều vì bạn muốn. Chị cho biết rằng luôn có cách chọn lựa khác. Có thể khó hoặc không thể, nhưng tấm gương của Chị thánh cho thấy rằng ngay cả những người khó chịu nhất cũng có thể trở thành một thánh nhân.

Lm Michael Rennier
TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Aleteia.org)

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Tổng lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa

Tổng lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa

Thiên Chúa dựng nên các thiên thần để chầu kính, hầu hạ Đức Chúa Trời, giúp đỡ loài người và gìn giữ vũ trụ.

Theo như các lần các ngài xuất hiện, hiện ra, ta thấy các ngài là những vị thiêng liêng, tốt lành, quyền phép, mạnh mẽ và mau lẹ. Các ngài cũng đã từng trải qua cuộc thử thách. Trong cuộc thử thách này có một số đông đã tỏ ra không chịu thần phục Thiên Chúa. Đứng đầu là Luciphe nên đã bị Thiên Chúa loại bỏ.

 Trong bức tranh vẽ trên trần nhà, tường vách thánh đường kính các Thiên Thần ở Palermo có hình cùng tên và chức vị của bảy vị Tổng lãnh Thiên Thần:

  1. Michael – Victoriosus – Người chiến thắng
  2. Gabriel – Nuntius – Sứ gỉa
  3. Raphael – Medicus – Thầy thuốc
  4. Uriel – Fortis Socius – Người đồng hành mạnh mẽ
  5. Jehudiel – Remunerator – Người làm ơn
  6. Barachiel – Adjutor – Người trợ giúp
  7. Sealthiel – Oarator – Người bầu cử

Tổng lãnh Thiên Thần Michael

Tổng lãnh Thiên Thần Michael đứng đầu bảy vị Tổng lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa. Tiên Tri Daniel đã diễn tả Tổng lãnh Thiên Thần Michael đứng về phía Thiên Chúa: “Thời đó, Michael là đấng vẫn thường che chở dân người.” ( Daniel 12,1).

Tổng lãnh Thiên Thần Michael được xưng tụng với danh xưng bằng tiếng Latinh: Quis ut Deus?Ai bằng Thiên Chúa?.

Theo tương truyền:

– Thiên Thần Michael được liệt vào hàng Thiên Thần quân đội chiến đấu đã đánh thắng Thiên Thần quỉ dữ Lucifer.

-Thiên Thần Michael đã vâng lệnh Thiên Chúa cầm gươm đuổi Ông Bà nguyên tổ Adong-Evà ra khỏi vườn địa đàng, sau khi Ông bà phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa.

– Thiên Thần Michael cũng là vị Thiên Thần thổi kèn Posaune đánh thức gọi những người đã qua đời sống lại ra khỏi mồ.

Tổng lãnh Thiên Thần Michael là vị Thiên Thần có sức mạnh khả năng đi đến quyết định dứt khoát lại mang chiến thắng cho Thiên Chúa, khi giết chết con rồng mãng xà ma qủi, như sách Kinh Thánh thuật lại:

“Bấy giờ, có giao chiến trên trời: thiên thần Mi-ca-en và các thiên thần của người giao chiến với Con Mãng Xà. Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến.8 Nhưng nó không đủ sức thắng được, và cả bọn không còn chỗ trên trời nữa.9 Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xa-tan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó.” (Khải Huyền 12, 7-9).

Tổng lãnh Thiên Thần Michael, theo vâng mệnh Thiên Chúa, đã quyết định lằn ranh giữa Trời và hỏa ngục. Vì thế, Vị Tổng lãnh Thiên Thần Michael được chọn là quan thầy bầu cử cho những người trong giờ phút cơn hấp hối.

Tổng lãnh Thiên Thần Gabriel

Tên Gabri-El có ý nghĩa  “sức mạnh của Thiên Chúa”. Là Vị sứ giả của Thiên Chúa được sai đến báo tin cho thiếu nữ Maria ở làng Nazarethê, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa sẽ đầu thai làm người trong cung lòng Maria:“ Sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng sẽ phủ rợp bóng trên chị… ( Lc 1, 26-38).

Khi hiện ra với Ngôn sứ Dacharia trong đền thờ, vị Tổng lãnh Thiên Thần đã nói: ” Tôi là Gabriel, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông.“ ( Lc 1,19).

Hằng ngày trong đời sống đức tin của Hội Thánh, vào lúc 12.00 giờ trưa chuông thánh đường đổ hồi, kinh tuyền tin được xướng đọc lên. Như vào mỗi ngày Chúa Nhật lúc 12.00 giờ trưa, Đức Thánh Cha từ trên cửa sổ văn phòng làm việc cùng đọc kinh truyền tin với mọi người Gíao dân đứng tụ tập ở quảng trường Thánh Phero bên Vatican.

Tiếng chuông lúc 12.00 trưa và Kinh Truyền tin nhắc nhớ đến Tổng lãnh Thiên Thần Gabri-El, là Sứ Gỉa của Thiên Chúa mang loan báo tin vui Chúa Giêsu Con Thiên Chúa xuống trần gian làm người.

Tổng lãnh Thiên Thần Rafael Tên Rafa-El mang ý nghĩa  ” Thiên Chúa chữa lành“. Trong Kinh Thánh sách Tobia thuật lại Thiên Thần Rafael vâng mệnh Thiên Chúa chữa lành bệnh mắt cho Tobia:  “Ngay lúc ấy, lời cầu xin của hai người là Tô-bít và Xa-ra đã được đoái nghe trước nhan vinh hiển của Thiên Chúa. Và thiên sứ Ra-pha-en được sai đến chữa lành cho cả hai. Ông Tô-bít thì được khỏi các vết sẹo trắng ở mắt, để ông được ngắm nhìn tận mắt ánh sáng của Thiên Chúa.“ ( Tobia 3, 16“)

Thiên Thần Rafael luôn hằng đồng hành che chở Tobia trên đường đi. (Tobia 6, 10) Tổng lãnh Thiên Thần Rafael trở thành bổn mạng phù hộ cho con người đi xa du lịch

***

Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường nào, Ngài sai các thiên thần là một loài cao cả hơn chúng ta, đến giúp đỡ chúng ta trên đường lữ hành. Các thiên thần biểu lộ lòng yêu thương săn sóc của người Cha đối với từng người chúng ta. Xin cảm tạ ơn Thiên Chúa.

Lễ kính các Tổng Lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa, 29.09.

Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Giám đốc Vatican News: Chúng tôi chờ những chứng tá từ Việt Nam

Giám đốc Vatican News: Chúng tôi chờ những chứng tá từ Việt Nam

Hôm 26/09/2019, nhân chuyến đi Roma tham dự hội nghị do Bộ truyền thông của Tòa Thánh tổ chức tại Vatican từ 23-25/09/2019, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giám mục giáo phận Mỹ Tho, Tổng Thư ký HĐGM Việt Nam, thành viên của Bộ Truyền thông Tòa Thánh, đã đến thăm Radio Vatican, gặp gỡ ông Andrea Tornielli, Giám đốc Biên tập Vatican News. Đây là cuộc gặp chính thức của một giám mục đại diện HĐGM Việt Nam và giám đốc biên tập mới của Vatican News.

Làm truyền thông là làm chứng như các vị tử đạo

Trong buổi gặp gỡ, ông Andrea Tornielli nhấn mạnh đến việc làm truyền thông là làm chứng tá như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói trong cuộc tiếp kiến dành cho Bộ Truyền Thông vào ngày khai mạc Hội nghị. Ông nói: “Truyền thông là làm chứng như các vị tử đạo được xem như là hướng đi của truyền thông của Giáo hội: dám nói về sự thật, và dám làm chứng cho sự thật bằng chính đời sống của mình.”

Nói về Giáo hội Việt Nam, ông Tornielli nhấn mạnh đến việc làm chứng với niềm vui. Các vị tử đạo, dù trong những hoàn cảnh khó khăn, vẫn sống với niềm vui. Và Giáo hội Việt Nam vẫn đang tiếp tục làm chứng với niềm vui như vậy. Dù bị bách hại, nhưng chữ “hận thù” không có trong ngôn ngữ và lối sống của các Kitô hữu. Họ tiếp tục sống tha thứ, quảng đại, hiến mình vì Thiên Chúa và vì Giáo Hội.

Một bước tiến mới trong truyền thông tại Việt Nam

Về phần mình, Đức cha Phêrô, cũng nhấn mạnh đến tương quan giữa truyền thông của Tòa Thánh và của Giáo hội Việt Nam, cách cụ thể là tương quan giữa Vatican News và Ủy ban truyền thông xã hội của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Ngài hy vọng một bước tiến mới trong việc mở ra những cánh cửa thông tin để hiệp thông giữa giáo hội địa phương và giáo hội hoàn vũ.

Theo đó, Đức cha Phêrô, thành viên của Bộ Truyền thông Công giáo, đề cao Vatican news như là tiếng nói chính thức của Đức Thánh Cha, nguồn cung cấp những thông tin xác thực về Tòa Thánh, về Đức Thánh Cha với những bài giáo lý và huấn dụ, những cuộc gặp gỡ và đối thoại của Ngài. Nhờ đó, Giáo hội Việt Nam được hiệp thông cách cụ thể và nhanh chóng với những chuyển động của Giáo hội hoàn vũ. Bên cạnh đó, ngài cũng hy vọng sự cộng tác hơn nữa giữa truyền thông của Giáo hội Việt Nam và Vatican News để những thông tin về Giáo hội Việt Nam có thể đến với thế giới.

Vatican News chờ những chứng tá từ Việt Nam

Tiếp đến, ông Tornielli cũng đề cập đến những chứng tá của Kitô hữu đến từ những nền văn hóa và vùng miền khác nhau. Những chứng tá có sức mạnh biến đổi và nối kết trong một đức tin. Ông nhấn mạnh: “Vatican News chờ đợi những câu chuyện cuộc đời, những chứng tá đời sống trong một Giáo Hội nhiều sức sống như Giáo hội VN – một Giáo hội đang cố gắng làm truyền thông bằng chứng tá cụ thể, hiệp thông hơn là chia rẽ, tình yêu hơn là hận thù.”

Trong bài phát gần đây, ông chỉ ra rằng truyền thông trong Giáo hội không chỉ theo đuổi số lượng like và view (xem và thích) nhưng là tạo nên mối dây liên kết hướng tới vẻ đẹp, sự thật và hy vọng cho các độc giả.

Vatican News hiện có 40 ngôn ngữ được phát trên sóng ngắn, sóng trung, sóng FM, vệ tinh và internet. Vatican News trực thuộc Bộ Truyền thông và đang hoạt động tại 61 quốc gia khác nhau.

Trần Đỉnh, SJ – Vatican News

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Khi Con Người Vô Cảm.. Xã Hội Sẽ Ra Sao? – CN XXVI TN C

Khi Con Người Vô Cảm.. Xã Hội Sẽ Ra Sao?
Suy niệm Chúa Nhật 26 TN, năm C

Ngày nay chúng ta hay nói đến hai chữ vô cảm. Vậy vô cảm là gì? Thưa, vô cảm chính là sự dửng dưng, thờ ơ, “máu lạnh” với những cuộc sống xung quanh. Ra đường gặp cái đẹp không mảy may rung động; gặp cái tốt không ủng hộ; thấy cái xấu, cái ác không dám lên án, không dám chống lại…

Trong vụ thảm sát tại Đan Phượng – Hà nội đã cho chúng ta thấy rõ một xã hội vô cảm đến lạnh lùng.

Ngày 1/9, đối tượng Nguyễn Văn Đông đã cầm dao sang truy sát cả nhà em trai của mình. Đáng nói, sự việc xảy ra có nhiều người chứng kiến nhưng không ai dám xông vào can ngăn. Khi em trai Đông đã gục xuống, Đông vẫn tiếp tục hạ sát. Đông còn tiếp tục vung dao chém hết thảy 5 người và 4 người đã chết tại chỗ! Tại sao cả một khu phố không hô hào nhau bảo vệ người làng của mình? Tại sao lại hèn nhát vậy? Nếu nói rằng hung thủ quá hung hãn, vậy thử hỏi nếu người bị hại là người thân của mình có vô cảm vậy hay không? Có lẽ, nếu đó là người thân của ta, thái độ của ta sẽ khác và sẽ không vô cảm như vậy.

Nhưng đáng tiếc, bệnh vô cảm này dường như đã trở thành một lối sống thiếu tình liên đới của người Việt Nam hôm nay.

+ Đã nhiều lần chúng ta từng bắt gặp một người ăn xin, rồi liền quay mặt đi một cách lạnh lùng?

+ Đã nhiều lần chúng ta từng lướt qua một vụ tai nạn với ý nghĩ “Mình đang vội mà. Sẽ có người lo thôi!”

+ Đã nhiều lần chúng ta từng chứng kiến những vụ chồng đánh vợ, nữ sinh đánh nhau, vụ móc túi trên xe bus,…mà chỉ đứng nhìn? (thậm chí móc điện thoại ra quay để có bài đăng facebook cho tối nay!)

Có lẽ điều mà giáo dục hôm nay cần quan tâm đó là xây dựng một xã hội đồng cảm và chia sẻ. Một xã hội mà nơi đó mọi người biết yêu thương nhau, giúp đỡ và sẻ chia cùng nhau. Một xã hội mà nơi đó mọi người biết sống tử tế, vị tha và quan tâm tới nhau hơn.

Thời Chúa Giê-su, có lẽ cũng không thiếu những loại người vô cảm trước nỗi thống khổ của tha nhân. Họ vô cảm đến nhẫn tâm bước qua một phận người lây lất trên đường từ Giê-ru-sa-lem tới Giê-ri-cô. Họ có “rất nhiều của cải”  nhưng lại không dám “bán những gì (họ) có mà cho người nghèo”. Sự vô cảm đó còn len lỏi đến cả những môn đệ của Chúa khi họ xin Chúa giải tán đám đông để tự đi mua thức ăn.

Thầy Giê-su đã nhẹ nhàng nhắc nhở sự vô cảm nơi con người qua dụ ngôn: “Ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó”. Ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó tuy “rất gần mà lại xa”! Họ rất gần nhau, gần đến nỗi chỉ cách “một cái cổng nhà”, thế nhưng lại rất xa, xa bởi chính “sự-vô-cảm” nơi ông nhà giàu.

Sự vô cảm đến độ hằng ngày ông vẫn ăn mặc lụa là gấm vóc, yến tiệc linh đình và để mặc cho anh Lazaro nghèo khó: “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà của ông” sống lây lất từng ngày.

Thế nhưng, cuối câu chuyện là một sự đảo ngược lạ thường. Ông nhà giàu lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta! Trước kia Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Thì hôm nay ông “thèm” được Lazaro: “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi ông cho mát, vì ở đây ông bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”

Như vậy, sự giàu có không là tội mà sự vô cảm mới chính là nguyên do dẫn ông nhà giàu chịu cảnh đau khổ ở đời sau. Ông đã bỏ rơi đồng loại trong khi ông có khả năng giúp đỡ họ. Ông đã phớt lờ những mảnh đời bất hạnh bên cạnh sự giàu có xa xỉ của ông. Hậu quả là ông cũng bị mọi người lương thiện nhân ái bỏ rơi ông trước cửa Nước Trời.

Thiên Chúa tạo dựng con người có một trái tim để yêu thương, để cảm nhận nỗi thống khổ của tha nhân mà chạnh lòng thương xót. Đừng vô cảm trước phận đời bất hạnh. Đừng bàng quan trước nỗi đau của anh em. Ngày phán xét Chúa sẽ không hỏi chúng ta giàu có hay nghèo đói. Chúa cũng không hỏi chúng ta chức tước địa vị gì, mà Chúa sẽ hỏi về tình yêu liên đới của chúng ta với tha nhân. Chúng ta có bác ái với tha nhân hay không? Chúng ta có quá vô cảm đến vô tâm với anh em không?

Nguyện xin Chúa Giê-su luôn chạnh lòng thương xót mọi phận người, xin giúp chúng con luôn biết sống chia sẻ với những anh em nghèo khó. Xin đừng để chúng con vô cảm mà bàng quan trước những phận người khổ đau. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khổ – CN XXVI TN C

Người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khổ
CN XXVI TN C

Một câu chuyện kể rằng, có một em thiếu nhi con nhà giàu, học giỏi và đạo đức đến cầu nguyện với Chúa rằng, con chúc tụng và tạ ơn Chúa đã cho con sinh ra trong một gia đình đạo đức và hạnh phúc. Nhưng tại sao Chúa lại cho người bạn thân của con phải cực khổ, gia đình nghèo khó, bố hắn là lao động chính trong gia đình nay bị đau nặng. Mấy anh chị em vừa phải bán vé số, bán báo vừa đi học nay phải nghỉ vì không đóng học phí. Chúa không thưởng bạn của con sao?

Chúa trả lời: Con thật là một thiếu nhi ngoan, một người bạn tốt biết quan tâm đến người khác, biết nghĩ đến người bạn kém may mắn hơn mình. Nhưng này con, con hãy nhớ rõ điều này là chính vì Ta thương nó mà Ta đã dựng nên con và cho nó kết bạn với con.

Đã có lần Chúa Giêsu tuyên bố: “Người nghèo khó thì luôn luôn ở với các ngươi”. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn về người phú hộ giàu có và Ladarô nghèo khó là một thực tế của cuộc sống trong xã hội trần gian, và đó cũng là phần nào hệ quả của Nước Trời mai sau. Hai hình ảnh trái ngược nhau luôn đi kèm với nhau, một bên là giàu có sống trên nhung lụa, ngày ngày yến tiệc linh đình, còn một bên là cùng khổ, ghẻ lác và nghèo đói. Một bên là quằn quại trong lửa hỏa ngục, còn một bên là hạnh phúc ngồi trong lòng Abraham trên thiên đàng. Nếu chỉ đọc bài Tin Mừng này với bài đọc I trích sách tiên tri Amos chúng ta tưởng có dị ứng sai lạc với những người giàu có và an phận trong sự khốn nạn của bần cùng. Đừng nghĩ rằng, Nước trời chỉ dành cho những người nghèo, còn những người giàu phải trầm luân dưới hỏa ngục. Chúng ta hãy đọc kỹ lại bài đọc II trích thơ thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gởi cho Timôthêu thì chúng ta mới thấy rõ ý nghĩa của bài Tin Mừng này.

Giàu có chưa phải là hạnh phúc đích thực của con người. Có biết bao nhiêu người giàu có đã chẳng được bình an đó sao? Thậm chí có người phải vào tù ra khám, có những gia đình phải tan nát đó sao? Và cũng đừng nghĩ rằng, người giàu có đương nhiên là bị loại ra khỏi Nước Trời. Thực tế lịch sử đã chứng minh cho chúng ta rằng, như thánh nữ Elizabeth, hoàng hậu nước Bồ Đào Nha; thánh Louis, vua nước Pháp. Họ là những vua chúa, hoàng hậu sống trên nhung lụa và đầy quyền lực, vậy mà họ đã nên thánh. Chúng ta cũng không nên cực đoan một chiều hiểu Nước Trời chỉ dành cho những người nghèo khổ để rồi chúng ta trở nên lười biếng, sống mãi trong sự bần cùng, nghèo đói, khổ đau. Nhưng Nước Trời và hạnh phúc đích thực như thánh Phaolô đã xác tín chính là kiên vững trong đức tin và sốt sắng trong lòng mến. Nó hệ tại ở việc lắng nghe Lời Chúa và tuân giữ giới răn của Ngài. Điều này đẵ được lặp đi lặp lại nhiều lần bằng nhiều cách trong các thời đại qua những ngôn sứ, đặc biệt qua Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Chúng ta không thể nào an phận trong khó nghèo, chờ đợi được như Ladarô ngồi vào lòng Abraham để nhìn cảnh cực kỳ nhốn nháo nơi âm phủ. Chúng ta lại càng không thể như anh em nhà phú hộ trong Tin Mừng chờ đợi một phép lạ mới chịu tin và sống giới răn của Chúa. Nhưng phải biết đón nhận và tạ ơn những hồng ân Chúa ban, để ta sống trở nên thánh thiện và công chính hơn.

Thánh thiện chính là tin tưởng vào lòng yêu thương của Thiên Chúa, là biết quan tâm và quảng đại chia sẻ với người khác một cách vô vị lợi, không tính toán, không đòi hỏi, không lợi dụng.

Quả thật, không có cái giàu nào cho bằng cái giàu về tình thương và cũng không có cái nghèo nào cho bằng cái nghèo về tấm lòng. Tuy nhiên, ơn Chúa không phải lúc nào cũng dễ chịu, nhưng đòi hỏi chúng ta biết can đảm đón nhận và tạ ơn. Cũng như thánh thiện không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng ta phải cố gắng kiên trì tập luyện và thi hành. Vì đó chính là con đường đưa đến với Chúa và được hạnh phúc không những cho đời sau mà cho cả đời này nữa. Còn có biết bao nhiêu người như Ladarô nghèo khó xung quanh chúng ta, đang chờ đợi chúng ta yêu thương đón nhận và chia sẻ. Và rồi còn có biết bao cái nghèo cõi lòng mà chúng ta phải tích lũy làm giàu, đó là lòng yêu thương, lòng quảng đại, sự nhẫn nại và hiền hòa.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta trở nên người nghèo của Tin Mừng, để chúng ta khiêm tốn trước tình thương của Thiên Chúa và đón nhận ân sủng của Ngài, cho mỗi người chúng ta trở nên giàu có về lòng nhân ái, để chúng ta quảng đại với hết mọi người.

Xin mọi người chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin.

(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’ – Veritas)

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Tình Thương Phải Bắt Đầu Từ Đâu?

Tình Thương Phải Bắt Đầu Từ Đâu?- CN XXVI TN C

Bài đọc 1 Chúa Nhật tuần này tiếp nối lời ngôn sứ Amos công kích người giàu có mà sống vô cảm, dửng dưng, không có tình thương. Với lối nói cay độc chua chát, Amos đã tiên báo những sự trừng phạt khủng khiếp dành cho những kẻ giàu có đang hưởng thụ xa hoa mà không biết xót thương người khốn khổ. Của cải vật chất đã trở thành bức tường khép kín, người giàu có sống an toàn mãn nguyện trong không gian riêng mình. Chính họ đã tạo ra khoảng cách vực thẳm. Họ không cần Thiên Chúa cũng chẳng cần biết đến tha nhân, khoảng cách đó lớn dần và kéo dài đến đời sau.

Vực thẳm ngăn cách con người ở đời sau là do con người đã tạo ra ở đời này. Sau khi chết, không còn có thể thay đổi được số phận. Địa ngục là do con người tự tạo ra từ đời này.

1. Khoảng trống không thể kết nối

Tác giả Ron Rolheiser viết: Chúa Giêsu dạy rằng có địa ngục và ai cũng có khả năng sa vào đó. Nhưng địa ngục mà Chúa Giêsu nói không phải là một nơi chốn hay tình trạng, lúc người ta nài xin một cơ hội cuối cùng, chỉ xin thêm một phút trong đời để làm một hành động ăn năn hối hận, nhưng Thiên Chúa lại khước từ. Thiên Chúa hiện thể và mặc khải trong Chúa Giêsu, là Thiên Chúa luôn mãi mở ra cho sự ăn năn, luôn mãi chờ đợi chúng ta trở về từ những nẻo đường hoang đàng.

Với Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ hết cơ hội. Bạn có thể hình dung Thiên Chúa nhìn một con người ăn năn, mà nói rằng: ‘Xin lỗi! Với con, đã quá muộn rồi! Con đã có cơ hội! Đừng xin thêm nữa!’ Chúa Cha không như thế.

Nhưng các Phúc âm lại có thể khiến chúng ta có ấn tượng như thế. Ví dụ như, dụ ngôn về người giàu làm ngơ người nghèo trước cửa nhà mình, rồi ông chết và vào hỏa ngục, còn người nghèo Lazarô giờ ở trên thiên đàng trong lòng của Abraham. Giày vò trong địa ngục, người giàu xin Abraham sai Lazarô cho ông ít nước, nhưng Abraham trả lời rằng có một khoảng trống không thể kết nối giữa thiên đàng và địa ngục, và không ai từ bên này qua bên kia được. Đoạn này cùng với lời cảnh báo của Chúa Giêsu trong dụ ngôn tiệc cưới, là một sự chấm dứt bất di bất dịch, khiến dẫn đến một hiểu lầm chung rằng, có một điểm một đi không trở về, một khi vào địa ngục là quá trễ để ăn năn.

Nhưng đó không phải là lời dạy trong những đoạn văn này cũng như trong những lời Chúa Giêsu cảnh báo phải ăn năn sám hối. Khoảng trống không thể kết nối mà dụ ngôn người giàu và Ladarô, là một khoảng trống không bao giờ kết nối trong đời này giữa người giàu và người nghèo. Và nó vẫn còn không thể kết nối, là bởi sự ngoan cố, không biết động lòng, thiếu ăn năn, chứ không phải bởi Thiên Chúa hết kiên nhẫn mà nói rằng: ‘Đủ rồi! Không còn cơ hội nào nữa!’ Nó vẫn không thể kết nối là bởi, chúng ta theo lề thói mà bám chặt vào những đường lối không thể thay đổi tâm hồn và có sự ăn năn thật.

Dụ ngôn người giàu và Ladarô thực sự rút ra từ một câu chuyện Do Thái cổ hơn nữa, minh họa sự ngoan cố này: Trong dụ ngôn Do Thái, Thiên Chúa nghe lời kêu xin của người giàu từ địa ngục xin một cơ hội thứ hai, rồi ban cho ông toại nguyện. Người giàu, giờ có những giải pháp mới, trở lại cuộc đời, và đi thẳng đến chợ, mua thức ăn chất đầy xe. Trên đường về nhà, ông gặp Ladarô. Ladarô xin người giàu một ổ bánh. Người giàu nhảy khỏi xe và đưa cho Lazarô một ổ, nhưng bởi đó là một ổ bánh lớn, nên cái tôi cũ của ông bắt đầu phản ứng. Ông bắt đầu suy nghĩ. ‘Người này không cần cả ổ bánh lớn! Tại sao không đưa cho nó một phần thôi! Và tại sao lại đưa bánh mì mới, ta có thể cho nó bánh mì khô mà!’ Ngay lập tức, người giàu thấy mình rơi xuống hỏa ngục. Ông ta không thể kết nối qua được khoảng trống đó. (J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ “Our Fear of Hell”).

Dụ ngôn phú hộ và Ladarô cho thấy có một khoảng trống không thể kết nối ở đời này và đời sau.

Sống ở đời này, phú hộ dư ăn dư mặc, Ladarô nghèo nàn đói lả. Người phú hộ mặc toàn lụa là gấm vóc, Ladarô rách nát tả tơi. Phú hộ nhà cao cửa rộng, Ladarô lê lết bên cổng ăn xin. Phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình, Ladarô không có một chút bánh để ăn. Người sống chốn thiên đàng dương thế, kẻ chịu cảnh hỏa ngục trần gian.

Cái chết đến và tất cả đều đảo ngược. Đời sau, Ladarô được đưa lên mây trời, phú hộ bị đày xuống vực thẳm. Ladarô được hưởng phúc thiên đàng, phú hộ phải trầm luân hỏa ngục. Có một khoảng cách nghìn trùng giữa hai người mà bên này muốn qua bên kia không được và bên kia muốn qua bên này cũng không thể. Ladarô hạnh phúc trong cung lòng tổ phụ Abraham. Phú hộ chịu cực hình nài xin với Abraham “sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước nhỏ trên lưỡi con cho mát vì ở đây bị lửa thiêu đốt”. Khi chết, Ladarô đã tìm được những người bạn hữu: các thiên thần, Abraham tổ phụ, những người có đức tin.  Ngược lại, phú hộ chẳng có bạn bè, chẳng có trạng sư biện hộ cho hoàn cảnh của ông ta : hỏa ngục, chính là nỗi cô đơn. Nhất là ông vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa, vì đã sống xa cách anh em. Ðây là một cực hình khủng khiếp nhất.

2. Tình thương phải là căn tính.

Xét cho cùng, ông phú hộ bị trầm luân địa ngục vì tội vô tâm, hững hờ, sống dửng dưng trước nỗi cùng khốn của tha nhân. Ông không có tình thương.

Vì Tình thương là căn tính của con người, nên thiếu Tình thương là sự nghèo khó thảm hại và nguy hiểm nhất. Nó tác động đến bản chất, nó làm cho con người ra thoái hóa, bần tiện và vong thân. Nó hủy diệt con người từ tâm hồn đến dung mạo, nó hạ thấp con người. Thánh Phaolô viết: “Giả như tôi được nói tiên tri, được thông hiểu mọi điều bí nhiệm và mọi lẽ cao siêu nhưng không có lòng mến, thì tôi chẳng là gì” (1Cr 13, 2). Ðó là tình cảnh của những người độc ác, những kẻ giết người, những tên tội phạm chiến tranh, những người nặng óc kỳ thị, thù oán, vu khống, ích kỷ, vụ lợi, tham ô, làm giàu trên xương máu của người khác. Sự nghèo thiếu căn tính này càng gia tăng khi nó xuất phát từ những bè phái, những băng đảng, những nhóm lợi ích, những tập đoàn chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của phe nhóm mình mà chà đạp trên nhân phẩm, nhân quyền, sự sống và hạnh phúc của người khác hay của những dân tộc khác.

Ðối diện với những người hay những tập đoàn giàu có đầy quyền lực và quyền bính nhưng thiếu tình thương này là hàng triệu và có khi cả tỷ người cùng khốn, cô đơn, tàn tật, bệnh hoạn, bị bỏ rơi, bị xã hội khai trừ. Họ đang khao khát tình yêu, lòng thương xót, sự chia sẻ, sự cảm thông như người hành khất Ladarô không được chiếu cố, yêu thương và nâng đỡ.

Bài đọc một và bài Tin mừng đều mở một cuộc xét xử những người giàu có. Tội của những người giàu là sống trong dư dật mà không biết nghĩ đến những người túng quẫn. Sự giàu sang thừa thãi làm cho người ta không còn nhạy cảm với những đau khổ của những con người sống bên cạnh họ, làm cho người ta thành đui mù điếc lác trước nhu cầu của người khác. Cả hai hạng người thiếu tình thương nói trên đều đáng thương. Thế giới hôm nay, giàu về vật chất, nhưng lại nghèo nàn về tình thương. Có những nước không ngần ngại bỏ ra những số tiền khổng lồ để mua sắm vũ khí. Có những chính phủ đốt hằng ngàn tỷ đồng để xây “tượng đài nghìn tỷ”, xây cất cơ quan dinh thự xa hoa, trong khi người dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, học sinh đi học phải đu dây qua sông, người nghèo chết phải bó xác chở về nhà bằng xe honda…Chỉ mới hai ông Danh và Thanh thôi mà đã gây thất thoát cả 10 ngàn tỷ đồng (Ngày 9-9-2016, Tòa án nhân dân TPHCM đã kết án ông Phạm Công Danh 30 năm tù vì làm thất thoát của nhà nước 9.000 tỷ đồng. Tối 16-9, Bộ Công an phát lệnh khởi tố và truy nã quốc tế với ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị PVC với tội danh “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, để điều tra khoản thua lỗ gần 3.300 tỷ tại Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam). Ðó là chưa nói đến sự chênh lệch giữa người giàu với người nghèo, giữa những người được ưu đãi nhờ thời thế, thân thế 5 c (con cháu các cụ cả) và những người cô thân cô thế. Nền văn minh xã hội cần được xây dựng không phải trên của cải vật chất, mà trên tình thương: Nền Văn Minh Tình Thương.

3. Tình thương phải bắt đầu từ đâu ?

Một người nhà giàu nằm mơ thấy một đám rất đông những người nghèo và những người bệnh tật đang kêu xin giúp đỡ. Cảnh tượng ấy khiến ông xúc động và hạ quyết tâm sẽ đi tìm để giúp những người ấy. Sáng hôm sau ông lên xe đi tìm. Vừa ra khỏi cửa nhà, ông gặp ngay một người ăn mày đang ngửa tay xin tiền. Ông định dừng xe lại, nhưng tự nghĩ hãy đi thêm để biết thêm. Chiếc xe chạy qua những con đường, những khu chợ, những quảng trường… Càng đi ông càng thấy những người nghèo khổ đông quá. Trong đầu ông bắt đầu vẽ ra rất nhiều dự án để cứu giúp rất nhiều hạng người. Nhưng ông bối rối chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Đến chiều, ông quay xe về nhà, và gặp lại người ăn mày trước cổng, với cũng một tư thế ấy và những lời van xin ấy. Tối hôm đó ông lại nằm mơ và lại nghe thấy những tiếng kêu xin cứu giúp. Nhưng lần này những tiếng ấy không xuất phát từ đám đông, mà từ chính người ăn mày nằm trước cổng nhà ông. Và ông hiểu ra : phải bắt đầu từ chính người ăn mày ấy.

Mẹ ThánhTêrêsa Calcutta nói: “Tôi luôn nghĩ rằng tình thương phải bắt đầu từ gia đình mình trước, rồi đến khu xóm, đến thành phố… Yêu thương những người ở xa thì rất dễ, nhưng yêu thương những người đang sống với mình hoặc đang ở sát cửa nhà mình mới là khó. Tôi không đồng ý với những cách làm ồn ào. Tình thương phải bắt đầu từ một cá nhân : muốn yêu thương một người, bạn phải tiếp xúc với người đó, gần gũi với người đó”. Ngài còn kể: “Lần kia tôi đi dự một hội nghị ở Bombay về việc cứu giúp những người nghèo. Đến cửa phòng hội, tôi thấy một người đang hấp hối. Tôi đưa người ấy về nhà, sau đó người ấy chết, chết vì đói. Đang lúc đó bên trong phòng hội, hàng trăm người đang hăng hái bàn luận về nạn đói và về vấn đề lương thực : làm thế nào để có lương thực, để có cái này, để có cái kia… Đang lúc họ vạch ra kế hoạch cho cả 15 năm, thì người này phải chết vì đói”. Ngài nói tiếp : “Tôi không bao giờ nhìn những đám đông như là trách nhiệm của tôi. Tôi chỉ nhìn đến những cá nhân, bởi vì mỗi lần tôi chỉ yêu thương được một người, mỗi lần tôi chỉ nuôi được một người. Tôi đã đưa một người về nhà, nhưng nếu tôi không đưa một người ấy về nhà thì tôi đã không đưa 42.000 người về nhà. Toàn thể công việc của tôi chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng nếu tôi không góp một giọt nước ấy thì đại dương sẽ thiếu đi một giọt”.

Người giàu thật là người biết cho, người nghèo thật là người chỉ biết nhận. Người giàu thật là người có rất ít nhu cầu nên luôn cảm thấy đủ, người nghèo thật là người có quá nhiều nhu cầu nên luôn cảm thấy thiếu. Sự giàu có thật là giàu trong tâm hồn, sự nghèo nàn thật là một tâm hồn trống rỗng. Bởi vậy cái giàu vật chất thường hay đi đôi với cái nghèo tâm hồn.

Xin đừng sống dửng dưng, thờ ơ, khép kín trước người nghèo, mà luôn chạnh lòng xót thương như Chúa Giêsu đã thương những người cùng khốn.

Hãy sống quảng đại cho đi, vui vẻ chia sớt, không chỉ của cải vật chất mà có khi chỉ là một nụ cười thân thiện, một cái bắt tay khích lệ, một lời nói an ủi đở nâng, một lần viếng thăm, một cuộc gặp gỡ kiến tạo sự hiệp nhất bình an. Khi chia nụ cười, ta sẽ nhận về vô số niềm vui. Khi chia vòng tay, ta sẽ nhận về mênh mông ấm áp. Khi chia quan tâm, ta sẽ nhận về bao la yêu thương. Khi chia yêu thương, ta sẽ nhận về rất nhiều hạnh phúc.

Siêng năng đến với Chúa Giêsu nhận lãnh tình thương để chúng ta chân thành trao ban tình thương mỗi ngày cho anh em.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Chúng Ta là Những Người Hợp Tác Làm Ăn Với Chúa

Chúng Ta là Những Người Hợp Tác Làm Ăn Với Chúa

Chúa ban cho chúng ta thân thể – mắt, mũi, miệng, tay, chân, trí óc, khả năng tưởng tượng, tình cảm, lý trí, ngôn ngữ…Vì thế chúng ta không thể không chia lại một phần nào đó cho người đang họp tác làm ăn với chúng ta.

Một ngày nọ, đang lúc dạo phố, một người đàn ông giàu có nhìn thấy một người ăn xin ngồi bên vệ đường. Nhìn người ăn xin, ông hỏi: Làm sao ông lại trở thành người ăn xin như vậy?

Người ăn xin trả lời: Thưa ông, suốt năm nay tôi đã nhiều lần nộp đơn xin việc nhưng không ai mướn tôi cả. Trông ông có lẽ là một người giàu có. Thưa ông, nếu ông có thể giúp để tôi có một công việc để làm, thì tôi sẽ không còn ăn xin nữa.

Người đàn ông giàu có mỉm cười và nói: Tôi muốn giúp ông. Tuy nhiên tôi không cho ông một công việc nào cả nhưng muốn ông trở thành người hợp tác làm ăn với tôi. Chúng ta bắt đầu việc hợp tác làm ăn này ngay lập tức nếu ông đồng ý.

Người ăn xin ngạc nhiên bởi vì ông không thể tin được điều mà người nhà giàu đó đang đề nghị. Vì thế ông hỏi lại: Thưa ông! Ý ông muốn nói gì?

Người nhà giàu giải thích: Tôi làm chủ một nông trại trồng lúa. Tôi muốn anh bán gạo của tôi tại ngôi chợ này. Tôi sẽ cung cấp gạo cho anh. Tôi cũng sẽ trả tiền mướn sạp bán gạo. Trong vòng 30 ngày đầu tiên, tôi cũng sẽ trợ cấp thực phẩm cho ông mỗi ngày. Việc duy nhất mà mà ông làm là bán gạo cho tôi. Cuối tháng, như là một người họp tác làm ăn, chúng ta sẽ chia lợi tức với nhau.

Với những giọt nước mắt vui mừng chảy trên gò má, người ăn xin nói: Thưa ông! Ông là món mà Chúa ban cho tôi. Ông là lời đáp trả cho những lời cầu nguyện của tôi. Cảm ơn! Cảm ơn! Cảm ơn! Ngừng một lúc, người ăn xin hỏi: Thưa ông, làm sao chúng ta có thể chia lợi tức? tôi giữ 10% và ông sẽ giữ 90%. Hoặc tôi giữ 5% còn ông 95%?. Tôi vui lòng tất cả mọi điều kiện do ông sắp xếp.

Người nhà giàu lắc đầu và nói: Không! Anh sẽ giữ 90% và chỉ đưa tôi 10%.

Nghe vậy người ăn xin nghẹn ngào không nói được lời nào. Ông không thể tin vào lỗ tai của ông. Sự phân chia có vẻ rất phi lý.

Người nhà giàu mỉm cười và giải thích: Này anh bạn. Tôi không cần tiền bạc. Tôi rất giàu và anh có thể không tưởng tượng được tôi giàu như thế nào. Tôi muốn anh chia cho tôi 10% lợi tức để qua đó anh có thể trưởng thành trong sự trung tín và biết ơn.

Người ăn xin quỳ gối trước người nhà giàu và nói: Thưa ông! Ngay bây giờ, tôi rất biết ơn vì những gì mà ông làm cho tôi!.

Mỗi ngày, người ăn xin mở cửa tiệm bán gạo trong chợ. Ông làm việc rất chăm chỉ. Thức khuya dậy sớm. Và công việc buôn bán cáng lúc càng phát đạt, vì gạo mà người nhà giàu cung cấo thuộc loại rất tốt. Sau 30 ngày, lợi tức thật cao.

Cuối tháng, đang lúc người ăn xin đếm tiền, một cảm giác thích tiền ẩn hiện trong đầu, và một ý tưởng nẩy sinh từ. Ông nói với chính mình. Tại sao tôi lại phải chia 10% lợi tức cho người nhà giàu đó? Suốt tháng này, ông ta đâu có đến đây để làm việc? Tôi là người duy nhất ở đây để bán gạo. Tôi làm mọi việc! vì thế tôi đáng để nhận lấy 100% tiền lời!.

Vài phút sau, người giàu có đến gõ cửa. Người ăn xin mở cửa và nói: ông không đáng để hưởng 10% lợi tức. Tôi làm việc vất vả suốt ngày để bán gạo. Tôi đáng để được hưởng tất cả. Nói xong ông đóng cửa lại.

Nếu tôi là người họp tác làm ăn với người đó. Đâu là cảm giác của tôi?

Chúa ban cho chúng ta tất cả. Chúa là người chung phần làm ăn với chúng ta. Chúa ban cho chúng ta sự sống, mỗi thời điểm, mỗi hơi thở, mỗi giây phút. Chúa ban cho chúng ta khả năng để nói, để sáng tạo, để kiếm tiền… Chúa ban cho chúng ta thân thể – mắt, mũi, miệng, tay, chân, trí óc, khả năng tưởng tượng, tình cảm, lý trí, ngôn ngữ…Vì thế chúng ta không thể không chia lại một phần nào đó cho người đang họp tác làm ăn với chúng ta.

Lm Nguyễn Văn Tuyết

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Chuyển Đổi Của Cải Phù Du Thành Kho Tàng Vĩnh Cửu – CN XXV TN C

Chuyển Đổi Của Cải Phù Du Thành Kho Tàng Vĩnh Cửu

Tất cả những gì ta có là do Chúa tạm ứng cho ta

Thân xác của ta không do ta mà có, mà là do Chúa ban. Mai đây Chúa sẽ lấy đi, ta không thể giằng lại được. Đến ngày Chúa gọi ta về thế giới bên kia, ta không thể nói: “Con không đi! Con không đi! Con phải ở lại đời này, con đang quyến luyến đời này, không đi đâu hết!”

Sức khỏe của ta không do ta mà có, nhưng là do Chúa ban. Về phần ta, lúc nào ta cũng  muốn mình được khỏe mạnh, cường tráng, muốn sống lâu trăm tuổi chưa vừa; ngoài ra, ai cũng rất sợ đau ốm, sợ ung thư, sợ đột quỵ… Nhưng không ai có thể duy trì sức khỏe trong tình trạng tốt mãi được. Nay mai, ta phải già đi, phải suy yếu đi, phải mắc hết bệnh này tới bệnh khác, phải nằm liệt giường, phải rên la đau đớn… chẳng còn chút hơi sức nào!

Ngôi nhà của ta, xe cộ, vàng bạc châu báu và rất nhiều đồ dùng của ta… hôm nay, chúng còn thuộc về ta, nhưng mai đây, tất cả những thứ đó đều không còn là của ta nữa mà phải sang tay cho người khác.

“Của vào nhà khó như gió vào nhà trống”

Đúng vậy, sức khỏe, của cải, vàng bạc, châu báu … đến với ta cũng như luồng gió lùa vào gian nhà trống, chúng chợt đến rồi chúng lại bay đi. Không ai có thể nhốt được gió cho riêng mình. Cũng thế, không ai ôm ghì lấy sức khỏe, tài sản, vàng bạc châu báu cho mình mãi được. Chúng chợt đến rồi chúng chợt đi. Ai khư khư giữ lấy chúng là chưa khôn ngoan sáng suốt.

Tốt nhất là biết cấp tốc chuyển đổi chúng thành tài sản vĩnh cửu cho mình.

Công nghệ năng lượng gió

Hiện nay, trên đất nước ta có nhiều tua-bin (turbine) gió được lắp đặt nhiều nơi. Những cánh quạt của tua-bin vươn ra đón lấy những làn gió thoảng qua rồi biến chúng thành nguồn năng lượng hữu ích cho muôn người, trước khi để gió thổi vèo qua nơi khác. Biến gió thành điện là một công nghệ tuyệt vời.

Vậy thì chúng ta cũng nên ứng dụng “công nghệ” này vào cuộc sống của mình, bằng cách đón lấy của cải chóng qua đời này, như những cánh quạt của tua-bin đón gió, rồi biến chúng thành kho tàng thiêng liêng cho cuộc sống mai sau.

Người quản lý trong Tin mừng hôm nay đã nắm được “công nghệ” này. Khi biết chủ sắp sa thải mình và biết rằng lúc đó thì anh không còn nơi nương tựa, không còn cơm ăn áo mặc như xưa nay, anh nghĩ ra một diệu kế:

Anh khôn khéo gọi các con nợ của chủ đến, dùng quyền hạn chủ trao cho mình, tha bớt phần nợ cho họ. Khi làm như thế, anh hy vọng mai đây, khi anh bị sa thải, những con nợ nầy sẽ đền ơn anh và sẽ đón rước anh vào nhà họ.

Qua dụ ngôn này, Chúa Giê-su dạy ta: “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”  hay nói khác đi, hãy dùng của cải ta có hôm nay mà mua lấy một chỗ ở trên thiên đàng.

Đó là một chọn lựa khôn ngoan, vì cho dù hôm nay, ta cố sức bám trụ vào mặt đất nầy, bám víu thật chắc vào những tài sản của mình, ra sức thu gom thật nhiều tiền bạc, tài sản, ruộng vườn… thì mai đây, chúng ta cũng sẽ bị bứt ra khỏi cuộc đời nầy như chiếc lá lìa cành trong cơn lốc dữ…

Tất cả những gì ta mua sắm được hôm nay, người khác sẽ sử dụng. Những gì ta đang sở hữu sẽ thuộc về người khác… Rốt cuộc, ta chẳng còn gì !

Vì thế, người khôn ngoan là người biết chuyển đổi của cải chóng qua thành gia tài vĩnh cửu trên trời, y như tua-bin của các giàn điện gió chuyển đổi những làn gió thoảng qua thành năng lượng hữu ích cho muôn người.

Lạy Chúa Giê-su, xin cho Lời khôn ngoan của Chúa đánh thức chúng con khỏi quyến luyến của cải đời này, nhưng biết khôn ngoan đánh đổi những tài sản phù du để thu về những lợi ích vĩnh cửu.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Con không thể tìm thấy Chúa nhưng Chúa sẽ tìm thấy con.

Con không thể tìm thấy Chúa nhưng Chúa sẽ tìm thấy con.

Một câu chuyện có thật xảy ra trong khoá học về đức tin do cha John Power, dòng Tên dạy tại đại học Chicago.

Trong lớp đó, có một sinh viên vô thần ghi danh, vì là vô thần nên anh luôn bác bỏ hay mỉa mai về tình yêu và sự hiện hữu của Thiên Chúa. Sau kỳ thi cuối khoá, với giọng mỉa mai, anh hỏi cha giáo rằng: “Thưa cha có nghĩ là một ngày nào đó con sẽ gặp được Chúa hay không?”

Cha John trả lời: “không. Anh hỏi lại: tại sao không? Con nghĩ đó là điều mà cha rất muốn mà. Vừa nói anh vừa bước ra cửa.”

Cha John nói theo: “Tommy! Cha không nghĩ con sẽ tìm thấy Chúa, nhưng cha chắc chắn rằng Chúa sẽ tìm thấy con!”

Chàng sinh viên nhún vai bỏ đi. Một thời gian sau, anh ra trường và rồi một thời gian sau đó cha nghe tin anh bị ung thư. Trước khi cha đến thăm anh thì anh đã đến gặp cha. Vừa gặp mặt, cha John chào: “Tommy, cha suy nghĩ nhiều về con. Cha nghe nói con đang bị bệnh.”

Anh trả lời: “Vâng, con đang bị ung thư. Có lẽ chỉ còn sống được vài tuần.” Sau khi nói vài câu xã giao, anh nói với cha rằng điều mà anh thực sự muốn đến đây để gặp cha là vì vài điều mà cha nói với anh vào ngày cuối của khoá học.

Anh nhắc lại: “Lúc đó con hỏi rằng cha có nghĩ con sẽ tìm thấy Chúa hay không và câu trả lời không của cha khiến con ngạc nhiên và rồi cha lại nói nhưng Chúa sẽ tìm thấy con.

Con suy nghĩ rất nhiều về điều này, ngay cả việc tìm kiếm Thiên Chúa của con lúc đó không được sốt sắng cho lắm. Nhưng khi bác sĩ khám phá ra cục bướu và cho biết đó là bướu ác tính, lúc đó con mới thực sự tìm kiếm Thiên Chúa. Khi ung thư lan đến những nơi khác trong cơ thể, con thực sự đã đến gõ cửa thiên đàng nhưng Chúa không bước ra để tiếp con. Cuối cùng con cảm thấy mệt mỏi và bỏ cuộc. Con quyết định sẽ không để ý đến Chúa, đến cuộc sống đời sau nữa. Con sẽ dùng thời gian còn lại để làm một điều gì đó hữu ích hơn. Con nhớ đến cha, đến lớp học, và con nhớ một vài điều khác mà cha đã nói: Đau khổ nhất của con người là trải qua cuộc sống mà không có tình yêu. Nhưng một điều đau khổ không kém nữa đó là trải qua cuộc sống và rời khỏi thế giới này mà chưa bao giờ nói cho người thân yêu rằng mình yêu họ.”

Vì thế con đã bắt đầu với người khó nhất đó là bố của con. Một ngày nọ, lúc bố đang đọc báo con đến gần và nói: Chào bố.

Ông đáp lại nhưng mắt vẫn dán vào tờ báo: “Có gì không?.”
Con nói: “Con muốn nói với bố một điều rất quan trọng.”

Bố trả lời nhưng mắt vẫn dán vào tờ báo: “Điều gì vậy?.”

“Con muốn nói với bố rằng con rất yêu bố. Đó là điều quan trọng mà con muốn bố biết.”

Tờ báo trên tay bố rơi xuống sàn nhà. Và con nhớ hai điều mà bố con chưa bao giờ làm trước đây. Ông khóc, và ôm con vào lòng. Lúc đó con cảm thấy thật bình an, được nhìn thấy nước mắt của bố, và cảm nhận được sự ấm áp khi được ông ôm và nghe nói: Bố cũng rất yêu con.

Anh cho biết: “Điều mà con thực sự hối tiếc là con đã không làm điều này sớm hơn. Giờ đây, con mới bắt đầu mở rộng tâm hồn cho những người mà con đã từng khép kín với họ trước đây. Con cũng làm điều này với mẹ và người thân trong gia đình. Sau khi làm những việc này, nhìn chung quanh con đã tìm thấy Thiên Chúa. Chúa không đến với con khi con cầu xin Người. Rõ ràng Chúa đã làm việc tùy theo cách và thời gian của Người. Nhưng điều quan trọng là Chúa vẫn ở đó. Chúa đã tìm thấy con! Cha đã nói đúng. Chúa tìm thấy con ngay cả khi con đã chấm dứt để tìm kiếm Chúa. “

Anh tâm sự rằng: “cách bảo đảm nhất để tìm thấy Chúa là đừng biến Chúa trở thành tài sản cá nhân của riêng mình, cũng đừng xem Chúa như là một người giải quyết vấn đề, hoặc một sự an ủi tức thời khi mình đau khổ nhưng là mở rộng tâm hồn với tình yêu.”

Cha John đề nghị anh đến lớp học hiện tại của cha để chia sẻ những điều anh vừa nói với cha. Anh đồng ý, cả hai sắp xếp thời gian. Tuy nhiên, anh không bao giờ thực hiện được điều đó. Anh có một cuộc hẹn khác quan trọng hơn là cuộc hẹn với cha và với lớp học của cha.

Anh qua đời. Kết thúc cuộc hành trình đức tin của anh. Hành trình từ một người vô thần đến một người tin vào Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.

Trước khi qua đời, anh gọi điện thoại cho cha John và nói: “con không thể đến lớp học của cha. Nhưng xin cha nói cho các sinh viên của cha và cho toàn thế giới biết điều mà con đã nói với cha.”

Nguồn vietcatholicsydney (FX Tuyết Nguyễn Chuyển dịch)

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Tiền, theo Kinh Thánh

Tiền, theo Kinh Thánh

Chắc hẳn mỗi người đều có quan niệm khác nhau về tiền bạc. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa cho chúng ta những góc nhìn thú vị về mối bận tâm này của con người.

Trong Tân Ước:

  1. Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó. (Mt6, 21)
  2. Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. (Rm, 13, 8)
  3. Trong cách ăn nết ở, anh em đừng có ham tiền, hãy coi những gì mình đang có là đủ, vì Thiên Chúa đã phán: Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không bỏ rơi ngươi! (Dt13, 5)
  4. Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi. (Mt19, 21)
  5. Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được. (Mt 6, 24)
  6. Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé. (1Tm 6, 10)
  7. Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. (Mt 13, 44)
  8. Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá. (Lc 12, 33)
  9. Nhưng ông Phêrô đáp: Tiền bạc của anh tiêu tan luôn với anh cho rồi, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa! (CV 8, 20)
  10. Ngươi nói: Tôi giàu có, tôi đã làm giàu, tôi chẳng thiếu thốn chi; nhưng ngươi không biết rằng ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ, đui mù và trần truồng.  (Kh 3, 17)

 Trong Cựu Ước:

  1. Các ngươi hãy đem tất cả thuế thập phân vào nhà kho, để có lương thực trong Nhà Ta. Hãy làm thế thử xem Ta có mở cổng trời cho các ngươi, hoặc có tuôn đổ phúc lành dư dật xuống trên các ngươi không? – Ðức Chúa các đạo binh phán. (Ml3, 10)
  2. Người thích tiền bạc có bao nhiêu cũng không lấy làm đủ; kẻ bo bo giữ của chẳng thu được lợi lộc gì. Ðiều ấy cũng chỉ là phù vân! (Gv, 5, 9)
  3. Ít tiền ít của mà là người công chính, hơn nhiều vàng nhiều bạc mà là kẻ ác nhân. (Tv 37, 16)
  4. Của cải mau tăng sẽ mau giảm, ai từ từ thu góp sẽ giàu lên. (Cn13, 11)
  5. Ðức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có. Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao. (1 Sm2, 7)
  6. Ðể sắm được khôn ngoan, tiền bạc trong tay đứa ngu ích lợi gì, bởi vì nó quá ư đần độn? (Cn17, 16)
  7. Anh em không được đưa vào nhà Ðức Chúa tiền công của một con điếm hay tiền lương của một thằng điếm để làm lễ vật khấn hứa, vì cả hai đều ghê tởm đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em. (Dnl 23, 19)
  8. Kẻ biếng nhác phải chịu cảnh nghèo hèn, người siêng năng được giàu sang phú quý. (Cn10, 4)
  9. Con coi trọng luật Chúa truyền ban hơn vàng muôn bạc triệu. (Tv 119, 72)
  10. Của cải làm ra, con hãy dùng mà tôn vinh Ðức Chúa, và hãy dâng lên Người phần hoa lợi đầu mùa của con.

 Thay lời kết:

 Ước gì trong muôn vàn vất vả làm ăn, con người không quên Thiên Chúa. Mọi bôn ba ở đời này là gì nếu không phải là con người đi tìm hạnh phúc. Tiền bạc có thể cho con người hạnh phúc, khi người ta xem tiền bạc chỉ là nô lệ; ngược lại, một khi tiền là ông chủ, nó khiến cuộc sống con người vắng bóng bình an.

 

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Cấm ly dị là vô nhân đạo?

Cấm ly dị là vô nhân đạo?

Một ông Công giáo ở tuổi năm mươi, góa vợ. Một cô cán bộ ở tuổi bốn mươi, lỡ thời. Hai người đến gặp cha xứ để làm đơn xin chuẩn hôn nhân khác đạo. Cha xứ xởi lởi, cởi mở, hướng dẫn họ làm đơn và đính kèm lá thư xin đức Giám Mục ký thuận.

Thấy cô cán bộ tủm tỉm cười hoài, cha xứ hứng khởi trình bày một hơi về hôn nhân Kitô giáo.

– Hôn nhân Kitô giáo có hai điểm đặc thù: Một, đơn nhất tính, tức là một vợ, một chồng. Hai, vĩnh cửu tính, tức là hai người phải chung thủy cho đến chết. Trước hết đạo Công giáo chỉ cho phép một vợ, một chồng. Vậy cô có ý kiến gì về luật này?

– Tôi hoan nghênh tối đa.

– Cám ơn cô. Nhưng đạo Công giáo chúng tôi đã phải khổ gần hai mươi thế kỷ, vì cái luật một vợ một chồng này. Sienkiewics – tác giả cuốn Quo Vadis, giải Nobel văn chương năm 1905, đã cho ta biết thời đạo Công giáo được truyền bá rộng rãi ở Rôma, thì người phụ nữ Công giáo bị gọi một cách mỉa mai là “con mẹ một chồng”. Đàn ông nhiều vợ thì sang. Đàn bà nhiều đời chồng, thì được khen là tuyệt vời. Khi đạo Công giáo được truyền bá ở Phi Châu thì luật một vợ một chồng là một cản trở lớn. Các tộc trưởng da đen đều đa thê. Có những tộc trưởng sẵn sàng theo đạo và đưa cả bộ lạc vào đạo, nhưng… với điều kiện là cho giữ lại hết các bà vợ. Các nhà truyền giáo đành giơ tay đầu hàng.

Khi đạo Công giáo được truyền bá sang Việt Nam thì luật một vợ một chồng bị tác giả cuốn “Gia Tô Bí Lục” gọi là “kế ngu dân” của Đức Giêsu.

Phải chờ cho tới sau Cách Mạng Tháng Tám, luật một vợ một chồng mới được chính thức công nhận là luật tiến bộ. Hai ngàn năm. Ôi! Hai mươi thế kỷ bị chống đối, bị chế giễu, bây giờ mới được ngước mặt lên hãnh diện với đời.

Như vậy là chị đồng ý và hoan nghênh luật một vợ một chồng?

– Đúng thế. Một ông hai bà, một bà hai ông sẽ lung tung lắm. Cứ ghen nhau không thôi, cũng đủ chết rồi.

– Còn luật chung thủy cho đến chết, tức là không cho ly dị, thì chị nghĩ sao?

– Ai cũng muốn vợ chồng chung thủy, nhưng hôm nay là thế, ngày mai sẽ ra sao? Yêu nhau mà sống với nhau thì tuyệt vời. Không yêu nhau, thậm chí ghê tởm nhau mà phải bắt sống với nhau, thì có khác gì sống trong Hỏa ngục. Đạo không cho ly dị thì có khác gì đày đọa kiếp người.

Yêu nhau mà sống với nhau là tuyệt vời. Ghét nhau mà không cho ly dị thì vô nhân đạo.

Tôi hoan nghênh tình yêu chung thủy. Nhưng tôi yêu cầu Giáo Hội Công giáo khoan dung đối với những đôi vợ chồng bất hạnh. Yêu nhau mà trao thân gửi thịt cho nhau là tuyệt diệu, là trên tuyệt vời. Nhưng ghét nhau, khi dể nhau, mà phải trao thân gửi thịt cho nhau, thì thật là ghê tởm, là quái đản. Hỏa ngục trần gian có thể chỉ là thế.

Ông cha xứ cúi đầu ngẫm nghĩ. Không ngờ, một cô gái lỡ thời mà lại cảm nghiệm được đời sống lứa đôi và cảm nghiệm được cả nỗi đau của những cặp vợ chồng hụt hẫng đến như thế. Cha xứ nghĩ đến những cặp vợ chồng bất hạnh trong giáo xứ. Cha thương họ. Cha muốn họ được giải thoát. Cha muốn Giáo Hội khoan dung, theo yêu cầu của cô gái lỡ thời.

Nhưng Bỗng cha xứ ngẩng đầu lên, giảng thuyết một cách hùng hồn.

– Hai người yêu nhau, lấy nhau, trao thân gửi thịt cho nhau, sinh con đẻ cái, nuôi nấng và dạy dỗ để con cái thành nhân. Tất cả bấy nhiêu chi tiết đều nằm trong bản thiết kế chung của Đấng Tạo Hóa. Mục đích của hôn nhân là tạo dựng nhân vị có nhân phẩm, có nhân cách. Tình yêu là phương tiện tất yếu để đạt được mục đích. Chính vì thế tình yêu phải chung thủy. Thiếu chung thủy thì công việc giáo dục con cái sẽ hụt hẫng.

Cảnh sát quốc tế đã khẳng định rằng hầu hết các thiếu niên phạm pháp đều là con cái của gia đình ly dị, hoặc bất hạnh. Như thế ly dị là thảm họa của xã hội. Cho ly dị là vô nhân đạo với con cái và đối với xã hội.

– Như vậy thì tốt nhất đừng lấy vợ, lấy chồng.

– Đúng vậy. Nhưng hãy lấy vợ, lấy chồng, khi đã có một tình yêu chân chính.

– Thế nào là tình yêu chân chính?

– Tình yêu chân chính là tình yêu quên mình để chỉ lo cho người mình yêu được hạnh phúc.

– Nhưng yêu mà bị phản bội thì sao?

– Tình yêu chân chính sẽ chinh phục người yêu phản bội. Tình yêu chân chính không bao giờ loại trừ. Chỉ yêu một lần và yêu mãi mãi.

– Yêu mà phải khổ suốt đời sao?

– Có sao đâu. Mẹ sanh con, thì muốn con mình lành mạnh. Nếu chẳng may sanh con tàn tật, thì mẹ vẫn yêu, vẫn nuôi, và yêu đứa con ấy nhiều hơn yêu các đứa con không tàn tật. Tại sao vợ chồng lại không bắt chước tình yêu mẫu tử?

Tình yêu chân chính là tình yêu tha thứ, chấp nhận. Nếu không tha thứ, không chấp nhận, thì chưa phải là tình yêu chân chính.

– Cha không có  vợ, cha không thông cảm với người có vợ có chồng. Nếu cha có vợ có lẽ cha sẽ bao dung hơn đối với những đôi vợ chồng không may mắn.

– Tôi nghĩ đến họ. Tôi thương họ. Tôi muốn bao dung với họ. Nhưng tôi lại thương các bé thơ, tôi lại thương đời sống an sinh của xã hội. Xin chị cứ thương các đôi vợ chồng lỡ dở. Nhưng xin chị xác tín rằng: “Ly dị là thảm họa của gia đình và xã hội”. Rồi sau đó chị sẽ thấy rằng không cho ly dị là vô nhân đạo hay là cho ly dị mới là vô nhân đạo?

Xin kết luận rằng:

1.Phải chuẩn bị hôn nhân kỹ lưỡng.

2.Phải học hỏi nhiều về ý nghĩa và cuộc sống hôn nhân.

3.Phải xác tín rằng vợ chồng chỉ là thợ xây, nên phải trung thành với bản thiết kế của hôn nhân do Tạo Hóa vẽ.

4.Vợ chồng là cộng tác viên của Thượng Đế chứ không phải là chủ công trình.

Tạp bút của Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Lạy Chúa, Ngài là ai?

Lạy Chúa, Ngài là ai?

Các bạn trẻ thân mến,

Hoang mang là tâm trạng thường thấy nơi những người trẻ chúng ta. Có những giai đoạn chúng ta rơi vào tình trạng không thể hiểu nổi mình: chúng ta không biết mình phải làm gì, không biết mình muốn gì, không biết mình là ai… Bước chân vào đời, nhiều lần chúng ta phải đối diện với bao khủng hoảng về lý tưởng sống, về căn tính của mình, về ý nghĩa cuộc đời mình, về căn cội nguồn gốc của mình.

Thời gian khủng hoảng thường là thời gian khó sống, là lúc chúng ta như đang bước đi trong đêm tối của cuộc đời và của tâm hồn mình. Thế nhưng khủng hoảng thường đánh dấu một bước ngoặc của cuộc đời. Khủng hoảng có thể giúp người ta lột xác để lớn lên. Được dẫn ra khỏi đêm tối, trước mắt chúng ta sẽ là vùng trời ngợp ánh sáng.

Trong sách Công Vụ Tông Đồ, Thánh Phaolô kể lại biến cố ngã ngựa của mình như một cuộc khủng hoảng (Cv 22,1-21). Biến cố ấy làm thay đổi trọn vẹn cuộc đời ông và giúp ông nhận ra ơn gọi đích thực của mình trên hành trình theo đuổi lý tưởng cuộc đời và tìm kiếm phụng sự Thiên Chúa.

Vốn là một người Pharisiêu chính gốc, Thiên Chúa và lề luật của Thiên Chúa là lẽ sống, là tất cả cuộc đời của chàng trai Saul. Việc trung thành với luật lệ và những giá trị truyền thống đã khuôn đúc nên một Saul mạnh mẽ, đầy xác tín và cũng đầy những tham vọng cá nhân. Bằng tất cả nhiệt huyết và lòng hăng hái của một người trẻ, Saul lập ra những kế hoạch rất rõ ràng cho chính mình… Đâu ngờ, đang lúc hùng dũng và mạnh mẽ nhất thì chàng thanh niên bị đánh ngã. Đang lúc tưởng mình ở chót vót trên đỉnh cao của thành công thì chàng bị hất tung xuống đất mặt đất. Đang lúc tưởng mình sáng suốt nhất thì chàng trở nên mù lòa. Mọi kế hoạch và toan tính sụp đổ. Niềm hăng hái và nhiệt khí tiêu tan… Khi được bao bọc bởi luồng ánh sáng từ trời cao chiếu xuống, khi nghe tên mình được gọi lên từ trời cao, Saul ngước mắt lên trời thầm thĩ: “Thưa Ngài, Ngài là ai?

Thưa các bạn,

Không ít lần trong cuộc đời, chúng ta kinh nghiệm về sự sụp đổ như Phaolô. Chúng ta sắp xếp cuộc đời mình theo một tiến trình khoa học với những bước tính toán hết sức kỹ càng. Vậy mà cũng có lúc tất cả sụp đổ tan tành với chỉ một trục trặc nho nhỏ, một biến cố nho nhỏ. Rất nhiều lần chúng ta đã bị đẩy vào đêm tối, khi những cánh cửa cuộc đời bỗng dưng sập đóng trước mắt chúng ta. Những lúc ấy, chúng ta thường đặt cho mình rất nhiều câu hỏi tại sao, nhưng câu hỏi nào dường như cũng chỉ dẫn chúng ta vào ngõ cụt của khủng hoảng. Khủng hoảng có thể đẩy chúng ta vào trong đêm tối của đức tin, chúng ta đặt nhiều câu hỏi Chúa tại sao với Chúa? Chúa là Đấng nào? Có Chúa hay chăng?

Những lúc ấy, sẽ thật hữu ích nếu chúng ta đặt mình vào vị thế của Phaolô mù lòa đang lặng lẽ nghiền ngẫm lại đời mình. Thời gian sống trong mù tối là khoảng thời gian thanh luyện để Phaolô bước vào hành trình hoán cải, để ông đọc ra ý định của Thiên Chúa trên cuộc đời mình. Đó là khoảng thời gian chuyển giao cần thiết để chúng ta chết đi con người cũ và sống lại với con người mới.

Thiên Chúa luôn có thể làm những cuộc lật đổ ngoạn mục trong cuộc đời mỗi người chúng ta. Ngài luôn có thể làm nên những cuộc cách mạng trong chính lý tưởng sống, mục đích, ước mơ, và những điều chúng ta vốn gắn bó ôm ấp… Liệu chúng ta có dám chấp nhận để cho Thiên Chúa lật ngược hoàn toàn thang giá trị trong cuộc đời chúng ta? Liệu chúng ta có dám xin cho mình có được kinh nghiệm hoán cải để có thể tuyên tín mạnh mẽ như Phaolô: “những gì trước đây tôi coi là lợi lộc, thì bây giờ trong Đức Kitô, tôi coi đó là thiệt thòi. Tôi coi mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi, vì Người tôi đành mất hết, và tôi coi mọi sự như rác rưởi để được biết Đức Kitô và được kết hợp với Người”(Pl 3, 7-8). Vâng, chính việc biết Đức Kitô và kết hợp với Người đã mang lại cho cuộc đời của Phaolô niềm hạnh phúc vô bờ, bất chấp bao thử thách chông gai, bao tù đày đòn vọt. Sau bước ngoặc cuộc đời, Phaolô thuộc trọn về Thiên Chúa. Ông ra khỏi hành trình tìm kiếm và phục vụ lý tưởng riêng của mình, để bước vào trong hành trình tìm kiếm ý muốn của Thiên Chúa và phục vụ Thiên Chúa.

Hành trình mới của Phaolô bắt đầu với lời nguyện thầm thĩ: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Đây là lời nguyện thật đẹp mà mỗi người trẻ chúng ta luôn có thể thân thưa với Chúa trong những thời khắc khó khăn và tối tăm nhất của cuộc đời mình: “Lạy Chúa, Ngài là ai? Ngài muốn con làm gì?… Trong bàn tay Thiên Chúa, những thử thách của khủng hoảng không phải là điểm kết thúc, nhưng là điểm khởi đầu. Biết quy hướng về Thiên Chúa, bất cứ một khủng hoảng nào cũng đều có một giá trị và một ý nghĩa đặt biệt. Trong Thiên Chúa, mỗi thách đố là một cơ hội giúp chúng ta triển nở trong cuộc đời và trong ơn gọi đích thực của mình.

Tác giả: Nguyễn Mai Kha, S.J. – Cao Gia An, S.J.

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Xưng tội với linh mục là chuyện buồn cười?

Xưng tội với linh mục là chuyện buồn cười

Một người đàn ông đồ sộ vỗ vai một ông linh mục, vừa hỏi vừa cười hóm hỉnh:

– Chỗ anh em với nhau, tôi hỏi thiệt tình, anh đừng giận tôi nha.

– Chuyện gì mà vô đề long trọng dữ vậy?

– Tôi nghe người ta nói: đạo của anh bắt tín đồ có tội phải đi xưng tội với cha cố và cha cố tha tuốt luốt. Cái đó có không?

– Có. Thì đã sao nào?

– Thì đạo của anh buồn cười quá à.

– Những gì làm anh buồn cười, thì kể cho tôi nghe coi.

– Nhiều lắm. Thứ nhất: linh mục các anh là người như người ta; cũng biết ăn gian nói dối; cũng biết ngoại tình thì tại sao lại dám ngồi tòa tha tội cho người gian dối, gian dâm?

– Ông chánh án ngồi tòa: tha bổng, kêu án tử hình, kêu án tù chung thân, thì ông chánh án là người hay là thiên thần?

– Ông chánh án cũng là người nên cũng có thể phạm tội, nhưng ông ngồi tòa với tư cách là đại diện công lý, đại điện cho dân.

– Thì linh mục chúng tôi có tha tội cho tín đồ với tư cách của cá nhân mình đâu. Chúng tôi tha tội nhân danh Chúa và do yêu cầu của Chúa. Đức Giêsu trước khi về trời đã nói với các Tông đồ rằng: “Điều gì chúng con tha dưới đất, thì trên trời cũng tha”.

– Tội phạm tới Chúa thì xưng với Chúa và xin Chúa tha, hà cớ gì Chúa lại trao quyền ấy cho các anh?

– Để tôi kể cho anh một câu chuyện:

Có một người mẹ đang mổ cá, tay dơ quá. Thằng cu tí của bà đang chạy chơi trên sân sũng nước, vì trời mới mưa, bỗng té ạch một cái. Bà không dám bỏ rổ cá đang dang dở, vì con mèo cồ đang ngồi liếm mép. Bà kêu cô chị của thằng cu tí: “Hai! Con đi tắm cho em!”. Cô chị cũng chẳng sạch sẽ gì, mới quét chuồng heo xong, thoang thoảng mùi cháo thiu, vội vàng dìu cu tí đi tắm. Cu tí sạch boong, thay quần áo mới, tóc rẽ ngôi láng coóng, thơm thơm mùi nước hoa của mẹ, nhảy tưng tưng, cười toe toét, thương chị quá chừng.

Vậy đó. Bây giờ tôi hỏi anh: Ở trên đời này, có thằng cu tí nào thắc mắc với cô chị nó rằng: “Chị lấy quyền gì mà tắm cho tôi? Chị có sạch sẽ gì đâu mà dám tắm cho tôi, chải đầu cho tôi, thay đồ cho tôi, lại còn lấy dầu thơm của mẹ mà xức cho tôi nữa. Bày đặt!”. Xin lỗi anh. Nếu trên đời này có thằng cu tí nào nói như thế, thì nó chính là anh đấy.

– Anh trả lời hay. Cho anh mười điểm.

– Còn thắc mắc gì nữa nào?

– Thắc mắc thứ hai: Có tội thì phải phạt. Còn các anh thì tội gì cũng tha tuốt luốt. Như vậy là các anh vẽ đường cho hươu chạy, là xúi người ta cứ phạm tội tối đa.

– Linh mục chúng tôi là cô chị của thằng cu tí. Cô chị chỉ mong muốn một điều là thằng em hết dơ. Dĩ nhiên là thằng cu tí chẳng muốn té. Nhưng có thể là nó sẽ còn té nữa. Nếu nó té nữa, thì cô chị lại tắm cho nó, an ủi và khuyên nhủ nó. Như vậy đâu phải là cô chị vẽ đường cho hươu chạy. Nói cho vui vậy thôi, chứ vấn đề tha tội trong đạo không đơn giản như thế. Theo giáo lý, thì muốn được tha tội, thì phải có điều kiện. Điều kiện một là phải thành tâm sám hối, mà thành tâm sám hối, thì bao hàm việc quyết tâm chừa tội. Điều kiện hai là phải đền tội xứng đáng. Nếu ăn trộm, phá hoại thì phải bồi thường. Bồi thường tiền của. Bồi thường danh dự, vân vân Xét về mặt tâm lý, người Công giáo xưng tội xong cảm thấy tâm hồn sung sướng, giàu nghị lực để tránh tội, chứ không có ý đồ phạm tội lại, phạm tội thêm. Đó chính là tâm tư của thằng cu tí sau khi được chị nó tắm cho. Chị tắm và em được tắm nảy ra một tình cảm rất thân thương. Thằng cu tí thấy mình sạch quá, đẹp quá, thơm quá và chẳng muốn ở dơ chút nào.

-Cho anh thêm mười điểm nữa. Không ngờ mà đạo của anh vừa có tình vừa có lý. Vàbây giờ là thắc mắc thứ ba. Nếu tôi là tín đồ Công giáo, tôi chỉ dám xưng ba cái tội lặt vặt thôi, còn tội quan trọng, thì tôi hổng dám đâu.

-Ví dụ tội gì nào?

– Ví dụ tôi xưng tội ăn cắp xe của bố anh, mà em của anh là trưởng ban công an xã, thì thế nào anh cũng móc điện thoại đi động gọi cho em của anh ngay. Ví dụ tôi xưng tội tò tí với em dâu của anh, thì thế nào anh cũng bật mí cho thằng em trai của anh liền. Đúng không nào?

– Chà. Kẹt dữ ạ.

– Vậy là anh thua rồi phải không?

– Có thể thua thôi, chứ chưa thua đâu. Nếu tôi vì quá thương bố mất xe, vì quá thương thằng em làm công an đang bí lối và thương thằng em trai bị vợ cắm sừng, thì tôi có thể làm bật mí tội của anh. Trong trường hợp này, theo Giáo Luật, thì tôi phạm một tội rất nặng. Tội này có tên là “Lỗi ấn tòa xá giải”. Sau khi phạm trọng tội này, tôi không thể đi xưng tội với bất cứ một linh mục nào. Tôi phải xin ơn tha tội nơi Tòa Thánh.

– Đã có một linh mục lỗi ấn tòa xá giải rồi.

– Ai và ở đâu?

– Một tín đồ ở miền Tây theo cách mạng, rải truyền đơn chống Pháp, đi xưng tội. Thế là ông cha báo cò Tây đến bắt, đày ra Côn Đảo.

– Rải truyền đơn chống Pháp thì tại sao lại bảo là tội, tại sao lại đi xưng làm chi? Người làm cách mạng không lẩm cẩm như vậy đâu. Về vấn đề “lỗi ấn tòa” tôi khẳng định với anh rằng: linh mục là người, thì có thể phạm lỗi ấy. Nhưng trên thực tế, thì tôi chưa thấy xảy ra điều đó, dù bên Tây hay bên Đông, dù thời xưa hay thời nay. Ngược lại có nhiều linh mục vì bảo vệ ấn tòa mà lâm nạn. Tôi kể cho anh nghe hai chuyện thôi:

*Chuyện một. Sau thế chiến thứ hai ở bên Ý xảy ra một chuyện rất thương tâm. Một linh mục chánh xứ đang làm việc tại bàn giấy. Vào lúc 20 giờ 30 có người gõ cửa. Mở cửa ra thì gặp người khách lạ xin xưng tội. Hắn quỳ mọp xưng tội rất vội vã, rồi vội vàng rút lui y như người bị rượt đuổi.

Hắn vừa đi khỏi thì cảnh sát tới.

– Thưa linh mục, vừa có một vụ cướp của, giết người xảy ra ở nhà ga. Theo kinh nghiệm chuyên nghiệp của chúng tôi, thì hắn còn luẩn quẩn đâu đây. Vậy xin linh mục giúp chúng tôi chu toàn nhiệm vụ.

– Tôi không biết.

– Ủa, sao lại có khẩu súng lục ở trong sọt rác này?

– Tôi không biết.

– Nếu là súng của linh mục, thì xin vui lòng cho chúng tôi coi giấy chủ quyền. Nếu không phải của linh mục, thì xin vui lòng cho biết ai là chủ của nó. Khẩu súng này mới xài tức thời, vì nòng của nó có mùi khen khét.

– Tôi không biết.

– Chúng tôi sẽ khởi tố linh mục về tội sở hữu vũ khí bất hợp pháp. Linh mục còn phải trả lời trước tòa: tại sao súng mới nhả đạn lại nằm trong sọt rác, dưới gầm bàn của linh mục, ngay sau thời gian có vụ nổ súng tại nhà ga.

Quả thật, linh mục chánh xứ ấy phải đứng trước vành móng ngựa. Quan tòa và công tố viên đặt ra rất nhiều câu hỏi. Nhưng câu hỏi nào cũng được trả lời y như nhau: “Tôi không biết” – Cuối cùng tòa buộc hai tội: cướp của – giết người và khinh dể tòa án. Rồi tuyên án tù chung thân.

Một linh mục đi tù chung thân vì tội giết người cướp của. Buồn quá! Nhục quá! Mà cũng oan khiên quá! Nhưng linh mục ấy đã cúi đầu chấp nhận chỉ vì lương tâm không cho phép bật mí bất cứ điều gì mình biết trong tòa xá giải.

Mười ba năm sau, tên trộm ấy ra tự thú. Linh mục đi tù oan được trả cả tự do lẫn danh dự. Chua quá! Nhưng cũng vinh dự quá!

 

*Chuyện hai. Chuyện này xảy ra trong một gia đình bất hạnh. Ông chồng thì đam mê cờ bạc, rượu chè, trai gái. Bà vợ thì cắn răng chịu đựng. Chịu đựng mãi thành hiện tượng dồn nén. Dồn nén mãi thì phải bùng vỡ. Hôm ấy ông chồng đi chơi mãi tới quá nửa đêm mới về. Ông gọi cửa. Bà mở cửa. Ông vừa đưa đầu vào, thì một lưỡi dao phập xuống

Cơn điên qua rồi, bà vợ khóc lóc thảm thiết. Bà đến nhà thờ xưng tội với cha xứ, rồi đi thú tội với công an xã. Công an xã mời linh mục chính xứ tới để bổ túc hồ sơ.

– Bà Nguyễn Thị M. khai rằng bà đã đi xưng tội, kể lể hết mọi hành vi tội ác. Vậy yêu cầu linh mục cho chúng tôi biết bà M. đã khai gì với linh mục?

– Tôi không biết.

– Đương sự đã khai với linh mục, thì linh mục có nhiệm vụ phải khai với chính quyền, vì đây là vụ án quan trọng.

– Tôi không được nói, vì theo Giáo Luật, tôi không được làm lộ những gì người ta xưng trong tòa.

– Như vậy là ông coi thường chánh quyền. Nếu ông ngoan cố, tôi sẽ còng tay ông.

Ông trưởng ban công an xã đập bàn, giận dữ. Ông chủ tịch Mặt trận phải vội vàng chạy qua góp ý.

– Luật của đạo Thiên Chúa như vậy đó. Các anh cứ ghi nhận những gì bà M. đã khai – Bà M. đã tự thú, thì bà còn giấu giếm làm chi. Lời khai của bà là đủ rồi.

– Thôi, cụ đi về đi.

Anh công an hạ giọng, gấp hồ sơ, đứng dậy, đi tìm điếu cày

Ông cha xứ 90 tuổi đi về, lòng buồn man mác. Anh công an rít một điếu thuốc lào, lòng nhẹ lâng lâng.

– Tôi giải đáp như thế là hết lời, hết ý rồi đấy. Anh vừa lòng chưa?

– Mới vừa lòng 90 phần trăm thôi.

– 90 hay 100 đã là “bên tám lạng bên nửa cân”. Tôi mừng lắm rồi. Chào anh.

Tạp bút của Lm Piô Ngô Phúc Hậu

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Tại sao Các tín hữu Công giáo sử dụng thập giá có Đức Giêsu trên đó?

Tại sao Các tín hữu Công giáo sử dụng thập giá có Đức Giêsu trên đó?

Việc các tín hữu Công giáo sử dụng hình thập giá là đi theo một truyền thống cổ xưa vốn tôn kính hiến tế tối cao của Đức Giêsu.

Trong khi thập giá đơn thuần là một biểu tượng chung của Kitô giáo được sử dụng bởi tất cả các giáo hội Kitô thì Công giáo lại thường xuyên sử dụng thập giá, một thập giá có thân thể bị tra tấn của Đức Giêsu Kitô.

Tại sao vậy?

Giáo hội Công giáo từng tôn kính hy tế tối cao của Đức Giêsu Kitô trên thập giá từ những buổi sơ khai nhất của Kitô giáo. Lúc đầu, điều này được thực hiện một cách giấu kín bằng những hình thức mang tính biểu tượng để diễn tả Đức Giêsu trên thập giá. Khi ấy, những ký tự tau (T) và rho (P) được đặt vào giữa và tạo nên một hình ảnh trừu tượng trông có vẻ như một ai đó trên thập giá.

Cũng thế, các Kitô hữu thời sơ khai được biết tới qua việc sử dụng một hình con cá uốn cong mình được bện lại xung quanh một cái đinh ba cạnh vốn là những biểu tượng vay mượn từ thần thoại Hy lạp được áp dụng cho cuộc hiến tế của Đức Giêsu trên thập giá.

Tuy nhiên, khi Kitô giáo được công nhận hợp pháp, các hoạ sĩ có thể phác hoạ hiện thực và mở ra hơn, những Kitô hữu tự do vẽ Đức Giêsu trên thập giá. Một trong số những gợi hứng đằng sau sự diễn tả mang tính nghệ thuật này là từ thư gửi tín hữu Côrintô của thánh Phaolô, trong đó, Ngài viết : “chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Dothái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ.” (1 Cr 1, 23)

Mục đích của thập giá luôn để biểu lộ tình yêu bao la mà Đức Kitô đã dành cho hết thảy nhân loại và nhắc nhớ chúng ta về niềm hy vọng sự Phục sinh sẽ chiến thắng nhờ cuộc vinh thắng của cuộc khổ nạn của Đức Giêsu.

Vào thế kỷ thứ 4, Thánh Augustine  đã đưa ra một tóm kết hoàn hảo về lý do những tín hữu Công giáo sử dụng cây thập tự.

Cái chết của Thiên Chúa là Chúa chúng ta không nên là một cớ làm chúng ta xấu hổ; nhưng nên là niềm hy vọng lớn nhất, niềm vinh dự cao cả nhất của chúng ta. Chính việc tự mình mang lấy cái chết vốn tự có nơi chúng ta, Người đã trung tín trong lời hứa đem lại sự sống nơi Người cho chúng ta, sự sống mà chúng ta không thể tự có nơi mình.

Người yêu chúng ta đến nỗi, chính Người vô tội nhưng đã chịu đau khổ vì chúng ta là những kẻ tội lỗi, chịu những hình phạt mà đáng ra chúng ta phải nhận vì tội lỗi của mình. Vì Người là nguồn của sự ngay chính, nên làm sao Người có thể không trao cho chúng ta phần thưởng nếu chúng ta đáng nhận được vì sự ngay chính của mình? Người là Đấng luôn trung tín trong lời hứa, thì sao lại không trao tặng phần thưởng cho những người sống thánh hiện khi Người mang lấy hình phạt của các tội nhân cho được, dẫu chính Người không phạm tội?

Hỡi anh em, hãy can đảm thừa nhận và thậm chí tuyên bố công khai rằng Đức Kitô đã chịu đóng đinh vì chúng ta; hãy thú nhận điều ấy, không phải trong sự sợ hãi nhưng với niềm vui, không phải trong sự hổ ngươi nhưng với niềm vinh dự.

Sau cùng, thập tự nhắc nhớ chúng ta rằng, không có phục sinh nếu không có thập giá; chúng ta được mời gọi để mang lấy những thập giá của mình và bước theo Đức Giêsu. Người đã cho chúng ta thấy mẫu gương sống động của người Kitô hữu đích thực và chúng ta nên bắt chước Người và tình yêu lớn lao mà Người dành cho nhân loại hết thảy, sẵn sàng làm bất cứu điều gì, ngay cả việc phải trao hiến cuộc sống mình vì người khác.

Philip Kosloski
Chuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.
Nguồn: https://aleteia.org/2019/03/22/why-do-catholics-use-crucifixes-that-show-jesus-on-the-cross/

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Đòi hỏi của Chúa Giêsu có còn hợp với thời đại Goolge, Youtube, 5G, và với Xã hội 5.0?

Đòi hỏi của Chúa Giêsu có còn hợp với thời đại Goolge, Youtube, 5G, và với Xã hội 5.0 ?

Giữa dòng đời hôm nay, người người sẽ trở nên lạc lõng nếu không update, không cập nhật hoá được những trào lưu sống của thời đại internet và robot. Con người được mời gọi và một cách gián tiếp “bị bắt buộc” chạy theo làn sóng của máy kiếm tìm Google, của Youtube, của Instagram, của Facebook, của Twitter, đến nỗi có một số người đã “chìm sâu” vào trong đó và được những làn sóng hiện đại này hướng dẫn cuộc sống của họ, và đi sâu vào trong suy nghĩ của họ, trong lời họ nói, cũng như trong cả những hành vi thường ngày của cuộc sống.

Rồi một số người chú ý đến một khuynh hướng mới. Đó là trí tuệ nhân tạo (AI: Artificial Intelligence) và người máy – robot. Trong bức tranh mới của cuộc sống hôm nay, chúng ta từ từ thấy các nhà máy tự động hoàn toàn trong sản xuất, các xe vận tải không người lái, các sân bay, bến cảng sẽ có những nhân viên “ảo”, bệnh viện hay nhà thương hoạt động bằng những robot bác sĩ … được kết nối và điều khiển thông qua một “trí tuệ nhân tạo AI”, sẽ ngày càng trở nên phổ biến. Các viễn cảnh trong một bộ phim khoa học không còn quá xa lạ.

Có lần tờ báo La Croix đưa tin về sáng kiến của một mục sư người Đức về robot – mục sư. Nhân dịp kỷ niệm 500 năm Cuộc Cải Cách Tin Lành, vị mục sư đã lắp đặt một robot-mục sư tại nhà thờ Wittenberg (Sachsen-Anhalt), với mục đích khơi lên cuộc tranh luận về tương lai của Giáo hội trong thời đại của trí tuệ nhân tạo. Robot-mục sưđầu tiên có tên BlessU-2. Với giọng nam hay nữ, bằng tiếng Đức, tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha hoặc tiếng Ba Lan, robot đa ngữ này có thể đọc các trích đoạn Kinh Thánh và kết thúc với một câu thân mật: “Xin Chúa chúc lành cho bạn và gìn giữ bạn!” Khi đọc lời chúc lành, robot-mục sư cũng đưa hai tay lên, lòng bàn tay phát ra ánh sáng trắng, và cử động cặp lông mày.

Rồi còn thế hệ kế tiếp “5G” của mạng lưới điện thoại và internet mới. Rồi cụm từ “xã hội 5.0” được nhắc đến với những viễn tượng đầy hứa hẹn. Những trào lưu sống hiện đại này đưa lại cho con người những thách đố, đặt ra những điều kiện cho sự phát triển và sự sống còn của con người. Vì thế, con người mỗi ngày rơi vào những áp lực thật lớn. Ai update được, thì có thể sống vui, thoải mái và cũng có thể trở nên giàu có cũng như nỗi tiếng. Nhưng chiều ngược lại cũng xảy ra nhiều. Ai update không được, thì không chỉ bị tụt hậu, mà còn có thể rơi vào dòng sông “depression” và rồi tự đào thải giữa một xã hội phát triển quá nhanh và quá hiện đại này.

Giữa thế giới của Google, của Youtube, của Instagram, của Facebook, của Twitter và trong xã hội 5.0  cùng với làn sóng 5G của những chiếc điện thoại, những đòi hỏi và điều kiện của Chúa Giêsu đưa ra cho người môn đệ còn có hợp thời hay không?

Chúng ta cùng chiêm ngắm hình ảnh của Chúa Giê-su và những lời Người nói. Bối cảnh câu truyện là Chúa Giêsu đang đi trên đường, và ở đây là con đường Người lên Giêrusalem. “Người nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Lc 9,51). Như thế, con đường Chúa đi không phải là con đường dễ dàng và được trải nhung lụa. Ngược lại, con đường Chúa đi đầy chông gai và nhiều thách đố. Con đường này dẫn Chúa đến với thập giá, khổ đau và cái chết. Trên con đường đó, Luca nói rằng, có nhiều người đi với Chúa: “Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giêsu. Người quay lại bảo họ” (Lc 14,25). Nhưng họ đi theo Chúa để làm gì? Họ đi tìm gì trên hành trình theo Chúa? Tìm cơm gạo ư? Tìm quyền lợi chăng? Tìm sự bảo đảm sao? Hay tìm một con đường dễ dàng đưa họ đạt được danh vọng, quyền lực, vinh quang và hạnh phúc theo lăng kính của cuộc đời? Chúa cũng đã từng hỏi các môn đệ: “Các anh đi tìm gì vậy?”. Một câu hỏi rất căn bản và quan trọng dành cho đời môn đệ. Câu hỏi này cần phải được lập đi lập lại luôn mãi trên hành trình theo Chúa, và người môn đệ cần phải thành tâm trả lời lại luôn mãi.

Có nhiều người đi với Chúa, nhưng thực ra ai trong số nhiều người đó có quyết định dứt khoát để bước theo Chúa trên đường thập giá? Có lẽ Chúa rất thực tế và Ngài không viễn vông, khi quay lại và nói với đám đông điều cần phải nói. Ngài nói điều gì? “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Hôm nay, trong thế giới của Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và xã hội 5.0 lời của Chúa nói vẫn vang lên và đến với những ai tin vào Chúa, những ai muốn bước theo Chúa.

Hai câu nói này được diễn tả trong thể “điều kiện”, và hai câu nói tương hợp với nhau. Câu đầu tiên nói về sự dứt bỏ trên đường theo Chúa. Câu thứ hai nói về việc sẵn sàng vác thập giá theo Chúa. Ở cuối hai câu đều có cụm từ: “thì không thể làm môn đệ tôi được”. Nhưng từ ngữ môn đệ chỉ về ai vậy? Từ ngữ môn đệ ở đây chỉ về tất cả các Ki-tô hữu, những người tin vào Chúa Ki-tô và cố gắng sống đúng theo tinh thần của Chúa dạy. Như thế, từ ngữ môn đệ này không “gói gọn” cho nhóm người tu sĩ hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa.

“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Với cụm từ ai đến với tôi”, Chúa Giê-su muốn nói cho tất cả mọi người theo Chúa, không trừ một ai cả. Như thế, ai thực tâm muốn theo Chúa thì cần phải chú ý lắng nghe, và thành thật xét lại tâm tình và ý hướng cùng động lực của mình. Sau đó, Chúa diễn tả rõ ràng rằng, ai muốn làm người môn đệ, thì phải dứt bỏ nhiều điều. Trước hết dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em. Ở đây trong nghĩa đen là dứt bỏ những mối tương quan máu mủ trong gia đình, những mối tương quan quý giá nhất của đời người. Chúng ta nhớ lại lời Chúa nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37). Thánh Grêgôriô Cả giải thích câu “khó nghe” này, ngài viết: ”Ở đời này hãy yêu tất cả, kể cả kẻ thù, nhưng ta phải ghét những ai ngăn cản ta trên bước đường dẫn tới Chúa, dầu đó là người thân. Như vậy ta phải yêu người lân cận, phải có lòng bác ái đối với tất cả, với kẻ gần và người xa, nhưng không được vì yêu họ mà ta xa tình yêu Chúa”. Như thế, sứ điệp Chúa nói ở đây là: khi chọn lựa con đường theo Chúa, thì phải đặt Chúa là ưu tiên hàng đầu, là yêu Chúa trên hết mọi tình yêu con người, dù là tình cha hay tình mẹ, tình anh chị em trong gia đình hay là tình yêu đôi lứa. Một sự đòi hỏi dành cho người môn đệ và người tín hữu.

Tiếp đến Chúa còn mạnh mẽ hơn khi nói rằng, người nào theo Chúa còn phải dứt bỏ cả mạng sống mình nữa. Đó là một sự tự huỷ thực sự. Tự huỷ như chính Chúa đã tự huỷ theo tinh thần kenosis – làm cho mình trở nên trống rỗng hoàn toàn, để trao ban cho Chúa toàn bộ con người của mình.  Có thể nói, đây là một điều kiện khó khăn, vì là con người ai cũng đi tìm cái tôi, nhất là trong thời đại Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và xã hội 5.0, cái tôi luôn được đề cao.

Cái tôi được chú ý quá nhiều và được mọi người “đi tìm không ngưng nghỉ”, nên có thánh nhân nói rằng: “khi con người chết đi, thì 15 phút sau cái tôi mới chết”. Cái tôi luôn to lớn và luôn muốn là “cái rốn của vũ trụ”. Trong mọi câu chuyện, trong mọi hành động và trong mọi suy tưởng, cái tôi luôn chiếm một chỗ lớn và quan trọng. Đó là lẽ thường tình của cuộc đời.

Chúa đòi hỏi người môn đệ và người tín hữu muốn theo Chúa phải từ bỏ cái tôi này, vì chỉ khi từ bỏ được cái tôi này, họ mới trở nên tự do thực sự, không còn bám víu vào những điều mình thích, không còn màng tới điều mình muốn, và không còn loay hoay đau khổ và buồn bã chỉ vì cái tôi không được thoả mãn những gì “ấp ủ trong lòng”. Chúa đòi hỏi người môn đệ và người tín hữu muốn theo Chúa phải từ bỏ cái tôi này, để khôn ngoan tránh xa được những hứa hẹn hão huyền của những xu hướng sống hiện đại chỉ quy về cái tôi.

Nếu cái tôi vẫn còn, thì Chúa không thể lớn lên được. Chỉ khi nào người môn đệ và người tín hữu ý thức liên lỉ sống tinh thần: “Chúa phải lớn lên và tôi cần phải nhỏ lại”, thì lúc đó con đường theo Chúa mới tìm được ý nghĩa và giá trị đích thực.

Hơn nữa, khi để cho Chúa lớn hơn và cái tôi của người môn đệ và của người tín hữu nhỏ lại, là họ trở nên “rỗng tuếch” hoàn toàn. Lúc đó,  họ sẵn sàng thưa với Chúa rằng: “Thầy đi đâu con xin được đi đấy, Thầy đón nhận gì xin cho con được đón nhận như Thầy. Xin cho con trở nên một với Thầy trên mọi chặng đường đời con đi. Chặng vui và chặng buồn, chặng thập giá và chặng vinh quang”.

Khi để cho Chúa lớn hơn, là người môn đệ khoét rỗng chính mình và chuẩn bị một chỗ khang trang trong tâm hồn của mình cho Chúa ngự, như anh Charles de Foucauld nói: “Tất cả chúng ta phải đi qua sa mạc để đón nhận ân sủng của Thiên Chúa. Vì trong sa mạc, mỗi người sẽ khoét rỗng chính mình, loại ra khỏi mình những gì không phải là Thiên Chúa và những gì không thuộc về Ngài, chuẩn bị và trang hoàng tâm hồn chúng ta cho khang trang và thoáng mát cho Chúa ngự”.

Câu thứ hai Chúa Giêsu nói đụng tới thập giá: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Ở đây, chúng ta tự hỏi Chúa muốn nói gì qua lời kêu gọi này? Trong câu này, trước hết chúng ta thấy cụm từ “vác thập giá mình” “vắng bóng” yếu tố Ki-tô học, nhưng đọc kỹ và với cụm từ “đi theo tôi (theo Chúa)” thì chúng ta nhận ra rằng Chúa Giê-su mời gọi cùng đi chung đường với Chúa, nghĩa là đi theo Chúa. Trên đường đó, Chúa đã vác thập giá thì môn đệ cũng vác thập giá. Trên đường theo Chúa, môn đệ sống kết hiệp và hiệp nhất hoàn toàn với Chúa. Trái tim người môn đệ không sẻ chia với ai, mà chỉ dành cho Chúa. Và Chúa là chủ duy nhất đối với người môn đệ, nghĩa là người môn đệ không làm tôi hai chủ. Người môn đệ sẵn sàng đón nhận thập giá như Chúa đã đón nhận.

Nhưng chúng ta vác thập giá như thế nào? John Newton đề nghị với chúng ta cách vác thập giá: “Những khổ sở mà đời chúng ta phải chịu cũng giống như một bó củi rất to và rất nặng. Chắc chắn chúng ta vác không nổi. Nhưng Thiên Chúa đã thương tháo dây bó củi đó ra, rồi chia nó ra để mỗi ngày chỉ chất lên vai ta một khúc thôi. Hôm sau một khúc nữa, và hôm sau tiếp tục… Cuối cùng ta cũng vác xong hết bó củi. Nhiều người lại không làm như thế: chẳng những họ chất lên vai khúc củi của hôm nay và còn thêm vào đó khúc củi của hôm qua và khúc củi của ngày mai. Lạ gì họ không vác nổi”!

Hơn nữa, vác thập giá là sống tinh thần hiệp thông với Chúa, nghĩa là có Chúa có mình, cả hai cùng vác thập giá với nhau. Thánh Basil the Great nói rằng: “Điều mà Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta là chịu đóng đinh với Chúa Giêsu, chịu chết với Ngài và chịu mai táng với Ngài trong phép rửa”. Như thế, người môn đệ đón nhận thập giá mình để vác nhưng luôn hiệp thông với Chúa Giêsu, Đấng đã vác thập giá. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Chúa Giêsu chấp nhận tất cả khổ đau và tội lỗi của nhân loại với vòng tay rộng mở, mang trên vai Thánh Giá của chúng ta và nói với chúng ta rằng: Hãy can đảm! Các con không vác Thánh Giá một mình, Ta mang nó với các con. Ta đã vượt qua cái chết và Ta đã đến để ban cho các con hy vọng, để mang đến cho các con sự sống”.

Thế giới của Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và xã hội 5.0 hứa hẹn nhiều viễn tượng rất đẹp có còn thập giá không? Với sự tân tiến của trí tuệ nhân tạo và với các người máy siêu thông minh, biết cảm thụ và nhận thức, có thể đưa ra các quyết định thay cho con người, thập giá sẽ bị “xoá bỏ” trong cuộc sống con người?

Thập giá vẫn còn, khi con người vẫn còn, vì nơi con người luôn chất chứa yếu đuối, ích kỷ, tham vọng, bất nhân, tàn ác và tội lỗi. Vì thế, con người dù muốn hay không vẫn phải vác lấy thập giá.

Thật vậy, Google, Youtube, Facebook, Instagram, G5 và xã hội 5.0 không thể “xoá bỏ” thập giá, và các khuynh hướng sống này cũng khó có thể làm cho thập giá nhẹ đi.

Vì thế, thập giá còn đó và con người dù thông minh và tiến bộ đến mấy vẫn tiếp tục sống với đau khổ.

Vì thế, lời mời gọi và đòi hỏi đầy khôn ngoan và yêu thương của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ thời Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và xã hội 5.0 vẫn luôn hợp thời, và vẫn luôn đòi update.

Update để làm gì? Update lời mời gọi trở nên người môn đệ của Chúa trong lòng thế giới đang cần đến những người thực sự tự do, không bám víu vào bất cứ thứ gì, chỉ bám chặt vào Chúa, bước theo Chúa và cùng Chúa đón nhận những vất vả, lầm than, khổ đau và thập giá trên đường. Update lời mà Chúa nói rõ rệt: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35). Nhưng không chỉ cập nhật hoá trên trí hiểu, trên môi miệng lời mời gọi yêu thương trên, mà người môn đệ cần cập nhập hoá – update tinh thần tình yêu vào trong chính suy tư, nụ cười, lời nói và cách sử xự cùng hành động để người ta có thể tìm thấy chính Chúa qua tinh thần yêu thương, hy sinh xả thân quên mình trong tự do của người môn đệ. Trên Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và trong xã hội 5.0 người ta chào mời nhiều điều hấp dẫn lắm, vậy chúng ta là con cái của Chúa nên chào mời điều gì trên những mạng lưới đó? Là người môn đệ của Chúa, chúng ta cần chào mời món quà của tình yêu, món quà của lòng thương xót mà chính Chúa đã và đang tiếp tục ban tặng cho nhân loại. Hơn hết, trên Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và trong xã hội 5.0 chúng ta cần giới thiệu dung mạo Thiên Chúa, Đấng Giàu Lòng Thương Xót cho mọi người. Thế giới hôm nay đang khát khao Thiên Chúa, đang cần đến “vị ngọt” thực sự của tình yêu đến từ trời cao. Khi sống đúng theo tinh thần tình yêu này, chúng ta trở nên những người môn đệ đích thực của Chúa, là ánh sáng chiếu soi thế giới, là muối đất cho đời; vâng giữa lòng thế giới và cuộc đời với Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và trong xã hội 5.0 hiên đại.

Là người môn đệ sống xả thân vì tình yêu, thì người môn đệ chắc chắn sẽ vui vẻ đón nhận thập giá, vì yêu thương đích thực như Chúa Giê-su là dang rộng đôi tay để đón nhận vất vả và khổ đau, là sẵn sàng để cho người khác làm phiền đến mình, là sẵn sàng gật đầu đồng ý được bẻ ra và chia sẻ cho người khác, đặc biệt những người bất hạnh và khổ đau.

Update yêu thương là update thập giá và update thập giá là update khổ đau. Thật vậy, yêu thương, thập giá và đau khổ hình như thích đi chung với nhau. Nhưng ở đây chúng ta hỏi xem chúng ta nên vác thập giá thế nào, để tinh thần tình yêu và an bình vẫn được nở rộ? Có khuynh hướng văn minh hiện đại nào hướng dẫn chúng ta không? Chắc là cũng có chứ. Các nhà tâm lý trị liệu có thể đưa ra biết bao phương pháp hứa hẹn giúp con người biết “vác thập giá”, những phong trào hay tổ chức xã hội hay du lịch có thể chào hàng nhiều chương trình wellness, thư giãn, nghỉ ngơi và hưởng thụ để như muốn con người đừng “ngó” tới thập giá và “làm ngơ” với đau khổ. Ai muốn có thể theo lời chào mời đó. Kết quả thế nào, thì đoạn cuối mới tỏ.

Còn đối với người môn đệ và tín hữu của Chúa, chúng ta được mời hướng nhìn Chúa Giê-su. Người vác thập giá thế nào, thì chúng ta sẽ vác thập giá của mình giống như vậy. Karl Rahner suy tư như sau: “Chúng ta được kêu gọi tiếp nối Đức Ki-tô để sống cuộc đời bị đóng đinh và biến nó thành bản tuyên tín và hy vọng, thành sự kiên nhẫn và tình yêu. Như chính thánh Phao-lô đã nói trong thư gửi tín hữu Cô-lô-sê, rằng một tín hữu, dù là giáo sĩ hay giáo dân, phải ‚lấy vào thân cho đủ mức những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu’ (Cl 1, 24). Liệu chúng ta có dám tự nhủ rằng: tôi mang trong mình dấu tích của cái chết Đức Ki-tô như dấu chỉ của sự chọn lựa cá nhân trong đời tôi không?

Chúng ta có thể nhớ lại những gì chúng ta đã nói về ý nghĩa của việc hãm mình như là thực tập để sẵn sàng đi vào cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô. Lúc này chúng ta cũng tự vấn mình trước thập giá: đâu là chỗ, ít ra là chỗ tăm tối trong lúc này, trong đời tôi, nơi mà tôi đang cố trốn khỏi thập giá? Dù tôi coi việc tôi trốn chạy, phản kháng nội tâm hay để mình rơi vào trạng thái cay đắng là điều tự nhiên, nhưng tôi cũng chẳng coi chúng là hình bóng thập giá Đức Ki-tô. Tuy nhiên, chính trong những điều ấy mà thập giá Đức Ki-tô trở nên rất thực trong đời tôi và có thể chúc phúc cho tôi bằng ân sủng viên mãn của Người”.

Như thế, cùng với Đức Ki-tô vác thập giá, cùng với Đức Ki-tô chúng ta chịu đau khổ bởi thập giá, nhưng chính thái độ tưởng như “tiêu cực” đó lại là cơ hội để chúng ta được chúc phúc, bởi vì trong đó chất chứa tình yêu cùng hy sinh. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Không ai có thể tiếp cận và chạm vào Thánh Giá Chúa Giêsu mà không để lại một cái gì đó của chính họ dưới chân Thánh Giá, và không mang lấy một cái gì đó của Thánh Giá Chúa Giêsu vào cuộc sống riêng của mình.”

Thật vậy, là môn đệ và tín hữu của Chúa Giêsu, Đấng vác thập giá và chịu chết trên thập giá, mà lại chối từ thập giá, thì thật là “môn để giả hiệu”, là “tín hữu chỉ mang nhãn hiệu” mà thôi. Chúng ta nhớ lại một lời rất nổi tiếng của Đức Thánh Cha Phanxicô nói với hàng giáo phẩm: “Chúng ta có thể là những Giám mục, những Linh mục, Hồng y, Giáo Hoàng, nhưng chúng ta sẽ không là môn đệ của Chúa, nếu chúng ta để Thánh giá lại phía sau”.

“Vác thập giá đi! Dứt bỏ mình đi! Từ bỏ mọi người thân thuộc đi! Từ bỏ cả tài sản vật chất, danh vọng và quyền lực đi! Rồi theo Chúa và sẽ trở thành môn đệ đích thực và người tín hữu đúng nghĩa của Chúa”. Nói thì dễ, nhưng làm thì rất khó. Hiểu thì cũng dễ, nhưng để sống được điều mình hiểu mới là vấn đề nan giải.

Chúa Giê-su đã biết rõ điều đó, nên Người đã kêu gọi các môn đệ và các tín hữu theo Chúa đừng viễn vông mộng tưởng, đừng sống trong ảo ảnh với những việc đạo đức bên ngoài, hay với những công việc bác ái từ thiện theo kiểu “làm cho lương tâm được an”. Chúa đã nhắc nhớ những ai muốn theo Chúa cần phải biết chuẩn bị. Thật đẹp khi Chúa đã dùng hai dụ ngôn với hai hình ảnh để dạy dỗ người môn đệ và tín hữu ý thức chuẩn bị.

Dụ ngôn thứ nhất Chúa nói: “Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không?  Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc” (Lc 14,28-30).

Dụ ngôn nói về việc xây dựng. Ở đây là xây một cây tháp. Có thể lý do là để bảo vệ hoa màu trong ruộng nương trước sự phá phách và trộm cắp. Điều cần thiết với người xây dựng là sự chuẩn bị. Nghĩa là anh ta phải ngồi xuống tính toán phí tổn cho việc xây dựng, để xem coi khả năng tài chính có đủ để hoàn thành công trình hay không.

Như thế, việc đặt móng để xây tuỳ thuộc vào việc chuẩn bị và nhận định về khả năng tài chính. Sự nhận định chín chắn và tốt đẹp sẽ dẫn đến một quyết định đúng đắn, để qua đó tránh được tình trạng: đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc”.

Dụ ngôn thứ hai diễn tả về hình ảnh của cuộc giao chiến: “Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà” (Lc 14,31-32).

Trước khi vị vua đi giao chiến với vua khác – tương tự như dụ ngôn thứ nhất – thì cần phải chuẩn bị. Vua sẽ ngồi xuống để bàn tính chung với những cận thần về lực lượng quân lính có đủ để đánh trận hay không. Cụ thể nếu chỉ có một vạn quân mà phải đối đầu với hai vạn quân của đối phương thì thật là viễn vông. Sức lực không đủ, thì thất bại đã được nhìn thấy trước. Như thế, sự chuẩn bị và nhận định chín chắn và tốt đẹp sẽ dẫn đến một quyết định đúng đắn. Đó là “nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà”.

Qua hai dụ ngôn, chúng ta thấy Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự chuẩn bị, nhận định để đi đến quyết định. Đó là sự khôn ngoan của những môn đệ theo bước Chúa. Sức lực và khả năng cũng như tiềm lực có đủ không? Nếu thiếu những hành trang cần thiết thì phải quyết định thế nào? Hay nếu thấy thiều điều gì, nên bổ túc và trang bị điều đó. Để rồi khi lên đường sống đời phục vụ, người môn đệ sẽ không phải ngỡ ngàng và đối diện với những thất bại và ngõ cụt, người môn đệ không ngỡ ngàng với thập giá và đau khổ.

Vào thời của Đức Giêsu, có một câu tục ngữ: “Nếu bạn muốn săn sư tử, hãy phóng cái lao của bạn xuống đất. Nếu bạn không thể phóng cái lao thật sâu, thì đừng đi săn sư tử!”

Tục ngữ ca dao Việt Nam có nói về việc ý thức chuẩn bị, nhận định để đi đến quyết định cho đúng đắn với những từ ngữ ngắn gọn: “Xem giỏ bỏ thóc” và “Đừng vung tay quá trán”.

Vì vậy, chúng ta cũng thấy rằng, công việc huấn luyện cho người Giáo Dân làm việc tông đồ, huấn luyện cho các Linh Mục Tu Sĩ cả đời hiến dâng phục vụ cho Chúa và Giáo Hội quan trọng và cần thiết biết bao nhiêu. Đức Ki-tô chỉ thi hành sứ mạng chính thức có 03 năm, nhưng Ngài đã sống ẩn dật 30 năm để chuẩn bị sứ mạng quan trọng mà Chúa Cha trao phó, chuẩn bị cho con đường lên Giê-ru-sa-lem, đón nhận thập giá, đi con đường khổ nạn, chịu chết trên thập giá và sống lại.

Việc chuẩn bị quan trọng nhất là đời sống tinh thần, chuẩn bị trái tim có một thái độ dứt khoát từ bỏ mọi sự trên đường theo Chúa, vì như Chúa đã nói: “ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”.

Như thế, sứ điệp quan trọng và những đòi hỏi mà Chúa Giêsu nhắc nhớ người môn đệ và các tín hữu trong thời xa xưa, cũng như nhắc nhớ chúng ta sống trong thời Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và xã hội 5.0 vẫn rất hợp thời và mời gọi chúng ta update lại mãi: luôn ý thức chuẩn bị con đường bước theo Chúa.

Sách Huấn Ca có nhắc nhớ rằng:

“Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự Đức Chúa,
thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón chịu thử thách.
Hãy giữ lòng cho ngay thẳng và cứ kiên trì,
đừng bấn loạn khi con gặp khốn khổ.
Hãy bám lấy Người chứ đừng lìa bỏ,
để cuối đời, con được cất nhắc lên.
Mọi chuyện xảy đến cho con, con hãy chấp nhận,
và trải qua bao thăng trầm, con hãy cứ kiên nhẫn.
Vì vàng phải được tôi luyện trong lửa,

còn những người sáng giá
thì phải được thử trong lò ô nhục” (Hc 2,1-5).

Vâng, ai muốn dấn thân phục vụ Chúa, dù trong tư cách là Giáo Dân hay là Linh Mục hoặc Tu Sĩ đều phải biết chuẩn bị tâm hồn. Chúng ta không được phép chểnh mảng, ảo tưởng và tự lừa dối mình qua những hào nhoáng bên ngoài, qua thói tự kiêu của cái tôi.

Chúng ta không để ánh sáng chói loà đến từ Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và xã hội 5.0 ru ngủ chúng ta, để rồi chúng ta quên đi thập giá, quên đi tinh thần biết từ bỏ để yêu thương, quên đi tinh thần biết tự huỷ, quên đi tinh thần của Chúa Giê-su, là cùng chia sẻ với Người trên Đường Khổ Nạn, để rồi cùng với Người bước vào vinh quang của Người.

Có một số người Giáo Dân dấn thân làm việc tông đồ 10 năm hoặc 20 năm thật tốt, nhưng vẫn thiếu thiện chí học hỏi và trau dồi. Họ còn nói rằng, tôi có đủ kinh nghiệm rồi, tôi biết hết rồi, tôi biết mọi sự cần làm rồi. Đó là một ảo tưởng và sai lầm đáng tiếc. Ai không học hỏi, thì tự dừng chân tại chỗ. Mà dừng chân là thụt lùi rồi. Xã hội và cả Giáo Hội hôm nay luôn đòi hỏi người làm việc tông đồ phải ý thức trau dồi và học hỏi thêm. Có rất nhiều vấn đề trong cuộc sống cần được update-cập nhật hoá. Cứ nhìn con cháu chúng ta tiến như thế nào và nếu chúng ta không chịu chuẩn bị, không chịu cập nhất hoá và học hỏi, thì chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc giáo dục Đức Tin cho các con các cháu.

Hơn nữa, chúng ta không thể là môn đệ Chúa, khi chỉ nghe Lời Chúa bằng lỗ tai, mà trái tim chẳng “đụng đậy” gì cả, và rồi cuộc sống vẫn “ngựa quen đường cũ”. Hành trình bước theo Chúa sẽ có khổ đau và vất vả, có từ bỏ và tự huỷ, có thập giá và Phục Sinh. Người môn đệ sẽ đối diện với biết bao thăng trầm, khi thì bị người ta sỉ vả khinh thường, khi thì có người mưu mô quyết hãm hại môn đệ Chúa bằng những mánh lới xảo quyệt và bất nhân, như kiểu “ném đá dấu tay” hay kiểu của thời hiện đại “mobbing” để làm cho người môn đệ mất uy tín và sẽ dễ dàng chùn bước.

Chỉ khi nào người môn đệ bám chặt vào Chúa, như cành nho bám vào chặt vào thân cây nho; chỉ khi nào người môn đệ ý thức từ bỏ hết những gì mình có, chỉ khi nào người môn đệ ý thức hiệp thông với Chúa Giê-su đón nhận thập giá và vác thập giá theo bước chân Người, chỉ khi nào người môn đệ ý thức biết tỉnh táo sống chuẩn bị, không để bất cứ gì ru ngủ và làm cho trở nên mù quáng, chỉ khi nào người môn đệ update thực sự tinh thần tình yêu của Chúa Giêsu, thì mới có thể sống đời môn đệ của Chúa, Đấng Yêu Thương đã như chiên hiền lành bị đem đi giết mà không hé răng để biện minh và để kêu đau.

Cuối cùng, qua lời của Chúa Giêsu, trong cầu nguyện chúng ta tự chất vấn bản thân: Nếu tôi muốn là người môn đệ đích thật của Chúa, nếu tôi muốn là người tín hữu chân chính trong thời đại Google, Youtube, Facebook, Instagram, 5G và xã hội 5.0 hôm nay, tôi cần phải tự hỏi mình:

  • Tôi đang bám chặt vào của cải vật chất, gom góm tiếng thơm và danh vọng, gom góp quyền lực và sử dụng người này người khác cho bản thân?
  • Tôi có tinh thần từ bỏ, dứt bỏ để trở nên người môn đệ tự do của Chúa như thế nào?
  • Tinh thần tự huỷ của Chúa Giê-su có ý nghĩa và giá trị gì đối với tôi?
  • Là môn đệ Chúa, tôi đang đi tìm gì vậy?
  • Tôi đang đi tìm công việc của Chúa hay tôi đang đi tìm Chúa?
  • Là môn đệ của Chúa, tôi nên ý thức sống chuẩn bị như thế nào, nên ý thức như thế nào trong việc học hỏi và trau dồi cũng như cập nhật hoá những điều cần thiết về Giáo Lý, Giáo Huấn của Hội Thánh, Thần Học, Thánh Kinh và những điều quan trọng cho đời sống tâm linh?
  • Thập giá có đang được mang vác trên đôi vai tôi không?
  • Thập giá có ý nghĩa gì với tôi?
  • Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 35). Lời này của Chúa Giê-su có ý nghĩa gì với tôi?

Kết thúc bài chia sẻ này, chúng ta cùng đọc lại 14 bước theo Đức Giêsu của Đấng Đáng Kính Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận.

  • Bước lang thang ra chuồng bò ở Be lem.
  • Bước hồi hộp trốn sang Ai cập.
  • Bước bồn chồn trở về Nazareth.
  • Bước phấn khởi lên đền thánh với cha mẹ.
  • Bước vất vả suốt 30 năm lao động.
  • Bước yêu thương ba năm rao giảng Tin mừng.
  • Bước thao thức kiếm tìm chiên lạc.
  • Bước xót xa vào Giêrusalem đầm đìa nước mắt.
  • Bước cô đơn ra trước tòa không một người thân.
  • Bước ê chề vác Thánh giá lên đồi tử nạn.
  • Bước thất bại chết chôn mồ kẻ khác, không tiền không bạc, không manh áo, không bạn hữu.
  • Bước khải hòan sống lại, hãy vững lòng Thầy đã thắng thế gian.
  • Bước khổng lồ đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng.
  • Bước liều mạng lăn xả vào thử thách, chấp nhận mọi hậu quả, vì Chúa đã dạy con liều mạng”

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

 

Chia sẽ bài viết này trên: