Month: Tháng Mười Một 2019

Năm 2020: “Đồng hành với người trẻ trong tiến trình hướng tới sự trưởng thành toàn diện”.

Năm 2020: “Đồng hành với người trẻ trong tiến trình hướng tới sự trưởng thành toàn diện”.

 Theo Thư Chung của hội đồng giám mục Việt Nam gửi cho cộng đồng dân Chúa, và các bạn trẻ:  

Chương trình Mục vụ Giới trẻ 3 năm (2020 – 2022) với các chủ đề sau:

– 2020: Đồng hành với người trẻ hướng tới sự trưởng thành toàn diện.

– 2021: Đồng hành với người trẻ trong đời sống gia đình.

– 2022: Đồng hành với người trẻ trong đời sống Giáo hội và xã hội.

Chúng tôi muốn ngỏ lời với tất cả các bạn trẻ Công giáo tại Việt Nam.

Các con rất thân mến,

Khi chiêm ngắm hai người trẻ trong hành trình Emmaus, Đức Thánh Cha Phanxicô viết như sau: “Chúa Giêsu cùng đi với hai môn đệ… Người bước vào trong đêm tối của họ. Khi lắng nghe Người, họ cảm thấy lòng ấm lên và trí sáng ra; khi Người bẻ bánh, mắt họ mở ra. Chính họ chọn đi trở lại ngay lập tức con đường vừa đi, để về với cộng đoàn và chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục Sinh” (Tông huấn Chúa Kitô đang sống, số 237).

Như hai người trẻ trên đường Emmaus, các con hãy đến với Chúa Giêsu, tâm sự với Người trong cầu nguyện, lắng nghe lời Người trong Sách Thánh, đón nhận sức sống của Người trong Thánh Thể, nhờ đó biết nhìn cuộc đời với cặp mắt mới và nhận ra Chúa luôn đồng hành với các con.

Như hai người trẻ trên đường Emmaus, các con hãy đến với cộng đoàn Giáo hội ở nơi các con đang sinh sống, học hành, làm việc. Đức tin Kitô giáo luôn mang chiều kích cộng đoàn. Các con không sống đức tin một mình nhưng với cộng đoàn và trong cộng đoàn. Hãy tích cực tham gia các sinh hoạt của giáo xứ, hội đoàn, hoặc cộng đoàn Kitô hữu nhỏ; nhờ đó các con cảm nhận được sự nâng đỡ trong những lúc khó khăn, đồng thời học mở lòng ra trước nhu cầu của tha nhân.

Như hai người trẻ trên đường Emmaus, các con hãy mạnh dạn kể lại cho các bạn trẻ khác về kinh nghiệm đức tin của mình, kể bằng lời và bằng chính cuộc sống tốt lành của các con. Hơn ai hết, chính các con phải là tông đồ cho người trẻ, những người cùng trang lứa, sống trong cùng một thời đại và môi trường với các con. Được như thế, các con sẽ trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng của Chúa Kitô Phục Sinh cho mọi người, đồng thời góp phần dựng xây quê hương và dân tộc Việt Nam thịnh vượng, công bằng và hạnh phúc.

Vào thời điểm sứ thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria, Mẹ cũng là một người trẻ. Mẹ đã lắng nghe, suy đi nghĩ lại trong lòng, và quảng đại đáp lại tiếng Chúa kêu gọi. Và một khi đã thưa ‘Xin vâng’, Mẹ dấn bước với tất cả tình yêu trung tín, kể cả trong những lúc khó khăn và thử thách nhất. Mẹ thực sự là mẫu gương và hơn nữa, là Ngôi Sao Hy Vọng, dẫn bước chúng ta vượt qua mọi gian nan thử thách để bước đi trên con đường của Tin Mừng. Chúng ta cùng hướng về Đức Maria với tâm tình cậy trông và yêu mến. Nguyện xin Mẹ luôn đồng hành và chúc phúc cho chúng ta.

 

+ Giuse Nguyễn Chí Linh

Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam

+ Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Mùa Vọng: Mùa màu xanh – CN I Mùa Vọng A

Mùa Vọng: Mùa màu xanh

Tun qua có dp v quê, mi bước vào nhà, đứa cháu nh  tui mu giáo đi hc giáo lý v tiếđến chào mi người. Khi biết tôi đang  đó, nó chy li qun quít hi: “Mùa Vng, bác có lì xì cho cháu không?”. Tôi chưa biết tr li ra sao thì nó đã líu lo quanh qun gii thích. Thì ra  lp giáo lý, giáo lý viên đã dy rng: tun ti, tc hôm nay, Phng V chuyn sang năm mđược khđầu bng Mùa Vng. Đứa bé chng biết Phng V là gì, nhưng đã nh rt k ch “năm mi”, vì thế mi có chuyn vòi lì xì. Đành phi chiu thôi. Nhưng ch được mt lát, nó đã vòng li khoe: cháu còn biết viết ch “mùa vng” na. Tôi bo nó viết. Nó nm bò trên sàn nhà nn nót ra chiu kh s lm, ri cui cùng cũng xong và đưđến cho mi người xem. Nhưng ôi thôi, thay vì “Mùa Vng”, cháu đã viết ln mt nét để thành “Màu Vng” khiến c nhà được cười mt trn.

Tôi ra đi trong tiếng cười ấy và sự lẫn lộn của đứa cháu như đeo bám lấy mình, để cuối cùng bất giác tự hỏi: Mùa Vọng màu gì nhỉ? Xin được mượn tâm tư ấy làm chủ đề cho Mùa Vọng năm nay. Đó là gọi tên Mùa Vọng bằng những sắc màu.

Hôm nay Chúa Nhật I Mùa Vọng, xin được gọi Mùa Vọng là mùa màu xanh, hay đúng hơn là mùa xanh lên niềm hy vọng. Gọi thế sẽ nêu hai ý nghĩa:

1) Mùa Vng là mùa Thiên Chúa hy vng vào con người.

Đã đành, lúc nào Thiên Chúa mà chẳng hy vọng vào con người. Do hy vọng, Ngài đã tác sinh con người giống hình ảnh Ngài, cho họ bước vào vận hành sự sống của chính Ngài. Cho hy vọng, Ngài đã không ngừng hứa hẹn và kết ước yêu thương với họ, dù cho họ có ngàn lần sa ngã lỗi phạm và xa bỏ Ngài. Nhưng Mùa Vọng chính là thời gian, chính là một mùa qua đó Giáo Hội muốn khắc họa rõ hơn dung mạo của Thiên Chúa: Đấng đã hy vọng vào con người qua lịch sử Dân Chúa, Đấng vẫn hy vọng vào con người trong lịch sử Giáo Hội và Đấng mãi hy vọng vào người đời trong chính cảnh huống cụ thể của từng đời người.

Dung mạo Thiên Chúa ấy được thể hiện nơi Đức Kitô qua những chuyến viếng thăm chính thức của Người. Lần thứ nhất trong mầu nhiệm Nhập Thể, Người đã đến âm thầm làm một người chan hòa giữa muôn người để đảm lĩnh lấy thân phận con người cho đến tột cùng bằng cái chết để rồi Phục Sinh mở ra nẻo đường cứu độ cho những kẻ tin. Thế nhưng, lúc Người về trời, công trình của Người vẫn còn dở dang. Mọi sự dường như mới bắt đầu. Ơn cứu độ khách quan đã xong, nhưng chủ quan, áp dụng cho từng con người lại cứ tiếp tục phải khởi sự. Thế nên, Người hứa sẽ đến lần thứ hai vào ngày chung kết vũ trụ và con người, trong vinh quang để đặt mỗi người đối diện với chính Người như chuẩn mực phân chia đôi bờ thiện ác và đặt mỗi người đối diện với chính mình như trách nhiệm cuối cùng đối với ơn cứu rỗi.

Lần thứ nhất, do hy vọng, Người đến gieo ơn cứu rỗi và lần thứ hai, cho hy vọng, Người đến gặt những gì mình đã gieo và giữa hai lần đến chính thức ấy là cơ man nào mà kể những lần âm thầm đột xuất ngẫu hứng bất ngờ, Đức Kitô vẫn sáng kiến hy vọng mà bước đến với con người, qua những biến cố xảy đến với Giáo Hội, cộng đoàn hoặc cá nhân; qua những khuôn mặt người anh chị em dẫu lạ hay quen ta tiếp cận; và nhất là qua những cảm nghiệm đến với lòng ta và lòng người, cho xanh lên niềm hy vọng cứu rỗi. Và bất ngờ lớn nhất giữa những cái bất ngờ vẫn là cái giờ và cái cách Chúa đến với mỗi cá nhân trong cảnh tranh sáng tranh tối của họ giữa chốn chợ đời. Mùa Vọng là mùa Thiên Chúa hy vọng vào con người.

2) Mùa Vng là mùa con người hy vng vào Thiên Chúa.

Thiên Chúa hy vọng vào con người là để cho con người được hy vọng vào Thiên Chúa, và bởi Thiên Chúa luôn hy vọng vào con người qua những đường đến bất ngờ, nên con người chỉ có cách là hy vọng vào Thiên Chúa qua niềm tỉnh thức không mỏi mệt của mình.

Tỉnh thức trong hy vọng là nhn thc rằng người đời có một Thiên Chúa yêu thương và đời người có một vận mệnh tương lai. Có nhiều thứ tương lai lắm: tương lai gần như hôm nay đối với ngày mai; tương lai xa như đời này đối với đời sau; tương lai hẹp như chỉ giới hạn trong đời ta, tương lai rộng như mở ra với đời người; tương lai từng phần tùy theo mức độ khả thi và tương lai toàn phần chỉ có thể có khi con người tiến về vĩnh cửu. Nhưng điều quan trọng ở chỗ tương lai ấy không phải là một sự kiện mà chính là một Đấng, mà Đấng ấy vốn đã hy vọng vào ta, đợi chờ ta từ thuở nào, để khỏi phải tay chân thừa thãi ỏn ẻn làm quen mà gặp được là đã tay bắt mặt mừng đến độ thân tình của lòng trông cậy, để khỏi phải rỉ tai nhau như thế kỷ XIX với khẩu hiệu “con người là tương lai của con người” nên dẫn đến chiến tranh đổ vỡ, mà sẽ là hô vang sứ điệp “Thiên Chúa là tương lai của con người” cho xanh lên niềm hy vọng đượm thắm lẽ cậy trông.

Tỉnh thức trong hy vọng cũng là canh thức để cộng tác với ơn Chúa mà thể hiện niềm hy vọng đời mình. Sẽ là một thứ hy vọng quắt quay như những em bé ve chai gập mình bới tìm sự sống trên đống phế thải; sẽ là một thứ hy vọng mong manh như kẻ qua đường mua tấm vé số và sẽ là một thứ hy vọng đầy rủi ro như kẻ hùn hạp làm ăn mà không nắm trong tay vốn kiến thức kinh doanh; nhưng sẽ là một niềm hy vọng “bốn mùa” xanh tốt, khi con người biết kiên định phát triển vốn liếng ơn thánh và khả năng nơi mình, cho dẫu cuộc sống vẫn còn đầy dẫy những thử thách cam go.

Và cuối cùng, tỉnh thức trong hy vọng cũng có nghĩa là thao thức thường xuyên cùng với Giáo Hội để gieo niềm hy vọng vào chính môi trường mình sống. Hy vọng vào Thiên Chúa cũng như một cuộc lên Đền từng bước, nhưng biết rằng ở đỉnh cao có Chúa đang chờ đợi. Hy vọng vào Thiên Chúa cũng giống như kẻ đắp xây hòa bình, hãy đúc gươm đao thành cuốc thành cày, hãy rèn giáo mác nên liềm nên hái. Từng hạt lúa gieo, từng bước đi tới, rất âm thầm nhưng sẽ dẫn tới những cánh đồng bát ngát màu xanh hy vọng. Hy vọng vào Thiên Chúa cũng như một chuyến đi có đích và có ích; đừng để trở thành “Chuyến đi không đến đâu” như bộ phim Úc mới chiếu trên tivi.

Sống Mùa Vọng như thế chính là sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa là Đấng hy vọng vào con người. Và như vậy là êm đềm gợn sóng màu xanh lên chính cuộc đời tín hữu của mình. Mùa Vọng là mùa màu xanh.

Sáng nay ngang qua cuối nhà thờ Tân Định thấy bày la liệt những cây thông Noel. Hai, ba tuần trước đã thấy nhưng vẫn còn xa lạ, nhưng hôm nay cùng với tiết trời trở lạnh và nhịp Phụng Vụ trở mình bước vào Mùa Vọng, tôi mới thấy những cây thông ấy đẹp làm sao, không vì kiểu dáng chất liệu cho bằng chính sắc màu của nó. Trong mắt nhìn của tôi, màu xanh của những cây thông ấy chính là màu xanh của niềm hy vọng vươn lên.

Chúc mỗi người có một cây thông xanh thiêng liêng hy vọng nơi mình, để dẫu sống giữa những vòng quay điên đảo thử thách trăm bề, vẫn luôn kiên định trong niềm hy vọng vào Thiên Chúa giống như đứa bé đòi lì xì, cứ “lì” ra trong niềm hy vọng, Thiên Chúa sẽ “xì” ra bàn tay cứu độ. Và thế là gặp gỡ đẹp xanh hy vọng.

(Suy niệm của ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống – Trích từ ‘Nút Vòng Xoay’ – trg. 7)

Chia sẽ bài viết này trên:

MÙA VỌNG: CHÚA ĐẾN

MÙA VỌNG: CHÚA ĐẾN

Giáo Hội khai mạc một năm phụng vụ mới với Chúa Nhật I Mùa Vọng vào ngày 1– 12 – 2019.

Mùa Vọng – bắt nguồn từ tiếng Latinh ad venio có nghĩa là “đến” – là mùa phụng vụ mong đợi “Chúa Đến”, Adventus Domini.  Chúng ta chuẩn bị cho “Mặt Trời Công Chính” đến thắp sáng tâm hồn chúng ta bằng ánh sáng và tình yêu của Ngài.

Ngôi Lời Vĩnh Cửu, Ngài ở ngoài thời gian, đã Nhập Thể trong thời gian, do đó hiến thánh tất cả thời gian. Trong Mùa Vọng, chúng ta chờ đợi Chúa đến trên mọi lãnh vực mà chúng ta trải qua thời gian: trong quá khứ – như một em bé trong chuồng ngựa ở Bêlem; trong hiện tại – ân sủng trong tâm hồn chúng ta; và trong tương lai – là Đấng Phán Xét ngày tận thế.

Mùa Vọng được đầy tràn sự chuẩn bị và mong đợi. Mọi người đang sẵn sàng đón Giáng Sinh – mua sắm và trang hoàng, làm bánh trái và dọn vệ sinh. Tuy nhiên, chúng ta quá bận rộn chuẩn bị về vật chất đến nỗi chúng ta mất đi rất nhiều lý do thực sự cho những hoạt động của chúng ta : Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể đến cư ngụ giữa chúng ta. Người Kitô hữu được thúc giục giữ trọng tâm linh thiêng của Mầu Nhiệm Giáng Sinh ở giữa xã hội thế tục và tiêu dùng thịnh hành.

Ở giữa cảnh nhộn nhịp của mùa này, chúng ta hãy cố gắng giữ Mùa Vọng là mùa của chờ đợi và khao khát, của hoán cải và hy vọng, thường xuyên suy gẫm về tình yêu nhưng không và khiêm tốn của Thiên Chúa chúng ta tượng thai trong lòng Trinh Nữ Maria. Trong mua sắm và làm bánh trái, chúng ta hãy nhớ mua và chuẩn bị cái gì đó cho người nghèo. Khi chúng ta dọn dẹp nhà cửa, chúng ta hãy chia sẻ vài thứ chúng ta có cho những người túng thiếu. Trong khi chúng ta trang hoàng nhà cửa, chúng ta đừng quên chuẩn bị một nơi bình an trong tâm hồn để Chúa Cứu Thế đến cư ngụ.

Tập Trung Vào Phụng Vụ   

Luôn luôn có 4 Chúa Nhật trong Mùa Vọng, cho dẫu không cần thiết đầy đủ bốn tuần. Màu phụng vụ của mùa này là màu tím, trừ Chúa Nhật III Mùa Vọng, được gọi là Chúa Nhật vui, khi chủ tế mặc lễ phục màu hồng. Trong suốt Mùa Vọng không hát kinh Vinh Danh, nhưng vẫn hát Alleluia.

Sách tiên tri Isaia được đọc trong suốt Mùa Vọng, nhưng tất cả các bài đọc mùa này tập trung vào những nhân vật chính của Cựu ước và Tân ước. Những người được Thiên Chúa chọn và chuẩn bị cho cuộc nhập thể xảy đến : Đức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, thánh Gioan Tẩy Giả, thánh Êlisabét và Giacaria.

Niềm mong đợi lên cao điểm từ ngày 17 đến 24 thánh Mười Hai khi phụng vụ vang lên bảy danh hiệu rạng ngời của Đấng Cứu Thế trong các bài Điệp ca “Lạy” (O Antiphon – điệp ca Tin Mừng trong các giờ kinh chiều bắt đầu bằng từ “Lạy”).

Mùa Vọng cũng có trọng tâm về Mẹ Maria và phò sự sống. Chúng ta suy niệm về mầu nhiệm tuyệt vời của Ngôi Lời Đã Làm Người với nhiều háo hức như Mẹ Ngài, Đức Maria đã chuẩn bị và chờ đợi ngày sinh con.  Những ngày các vị thánh truyền thống khác được tổ chức nhằm chuẩn bị cho Giáng Sinh gồm : thánh Nicôla, quan thầy các trẻ em vào ngày 6 tháng Mười Hai, và vị thánh về ánh sáng, thánh Lucia vào ngày 13 tháng Mười Hai.

Lm. G.B. Nguyễn Kim Ngân chuyển ngữ

 

Chia sẽ bài viết này trên:

THƯ GỞI EM: Những Vị Thánh trẻ

THƯ GỞI EM: Những Vị Thánh trẻ

Có khi nào em đặt câu hỏi: Mục đích em cần phải đạt đến trong cuộc đời em là gì? Chắc em sẽ trả lời ngay. Có chứ! Mục đích của cuộc đời em là làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm kiến trúc sư, làm chủ một doanh nghiệp, phấn đấu để vươn đến chức vị giám đốc một công ty. Hoặc có thể những mơ ước nhỏ hơn: Làm chủ một shop nhỏ, làm chủ một quán ăn, xây được căn nhà, có thu nhập ổn định và có một vài đứa con, gia đình hạnh phúc… Chỉ vậy thôi.

Em có những mục đích và ước mơ như vậy, thật đáng để ngưỡng mộ. Nhưng có bao giờ em nghe ai đó nói với em: Mục đích cuộc đời em là phải trở thành thánh. Quá xa lạ đối với em? Và dường như, chuyện trở thành thánh chỉ dành cho những bậc tu hành, chuyên tâm kinh kệ, tụng niệm… Chẳng liên quan gì đến em.

Không! Không phải như vậy em à! Việc em trở thành bác sĩ, kỹ sư hay giám đốc, chủ cả… cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là trở thành thánh. Em trở nên thánh trong nghề nghiệp bác sĩ của em. Em trở nên thánh trong cương vị giám đốc hay chủ cả của em. Em trở nên thánh trong vai trò cha mẹ trong gia đình của em.

Em đừng nghĩ chuyện trở thành thánh là xa vời, ảo tưởng, không thiết thực. Không phải như vậy, trái lại rất gần gũi, sát sườn với cuộc sống hiện tại của em. Trong Hội thánh luôn có những con người trẻ trung như em, và đã trở thành thánh ngay chính trong nghề nghiệp của mình.

Nếu em đang tham gia trong quân đội. Hãy nghĩ ngay đến thánh Sebastianô sống vào thế kỷ III, là chỉ huy trẻ trong lực lượng Cận vệ Hoàng đế, đi đâu cũng làm cho người đồng đội của mình theo đạo.

Nếu cuộc sống em đang chật vật, thiếu trước hụt sau, em đừng thất vọng, vì đã có thánh Phanxicô Assisi là người trẻ đầy mơ ước, ngài dùng chính đời sống nghèo khó của mình để cải tổ Hội thánh.

Nếu em là một người trẻ sống ở vùng quê, nông thôn hẻo lánh, chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Cơm ăn còn chưa no mà nghĩ đến chuyện thành thánh. Không! Em đừng nghĩ tiêu cực như vậy, đã có thánh Jeanne dArc sinh năm 1412 là một thiếu nữ nông dân, đã trở thành thánh nhờ vào lòng yêu quê hương đất nước.

Và nếu em có lòng hăng say nhiệt thành, tham gia vào những sinh hoạt ở nhà thờ nơi em đang sinh sống. Em hãy nhớ đến Chân phước Anrê Phú Yên là thanh niên Việt Nam sống vào thế kỷ 17 là Giáo lý viên, cộng tác hăng say với các cha sở trong việc dạy giáo lý.

Cũng trong thế kỷ 17, xa hơn đất nước Việt Nam, ở mãi tận vùng Bắc Mỹ, đã có thánh Kateri Tekakwitha một thiếu nữ thổ dân, một người trẻ dám can đảm chết cho đức tin của mình.

Và còn rất nhiều, rất nhiều những con người trẻ đã trở thành thánh bằng chính đời sống hết sức bình thường, giản dị. Như thánh Đaminh Saviô nên thánh bằng đời sống vui vẻ. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu nên thánh bằng những việc làm bé nhỏ với lòng tín thác và yêu Chúa.

Chân phước Isidore Bakanja là một giáo dân người Congo hăng say giới thiệu Chúa cho các bạn trẻ. Chân phước Ceferino Namuncurá là thanh niên người Argentina, con trai của một thủ lãnh lớn của một bộ tộc bản địa, đã hăng hái đưa những người trong bộ tộc mình đến với Chúa. Chân phước Pier Giorgio Frassati, qua đời năm 1925, ngài đáp lại tình yêu của Chúa bằng cách đi thăm và giúp đỡ những người nghèo.

Gần đây là chân phước Marcel Callo thanh niên người Pháp qua đời năm 1945 bị giam trong trại tập trung ở Áo, ngài đã củng cố đức tin cho các bạn tù giữa môi trường lao động khổ sai.

Gần đây nhất là Chân phước trẻ Chiara Badano qua đời năm 1990, đã cảm nghiệm rằng: đau khổ có thể được biến đổi nhờ tình yêu, và ngài đã đón nhận bệnh tật như biểu lộ huyền nhiệm ý Chúa.

Em! Có những vị thánh, những chân phước, em chưa hề nghe đến tên bao giờ. Nhưng không sao. Em đừng lo. Đừng bối rối. Đừng suy nghĩ nhiều. Chỉ muốn nói với em: Trong mọi hoàn cảnh sống của cuộc đời này, tất cả đều có những nẻo đường để trở thành thánh. Và cho dù nẻo đường em chọn để đi là bác sĩ, kỹ sư, giám đốc, chủ cả, công nhân, làm thuê, nông dân… Thì những nẻo đường này, phải dẫn đưa em đến đích cuối cùng là trở thành thánh.

Em! Cuộc đời này rồi sẽ phải kết thúc. Đau khổ, vui sướng, hạnh phúc, hỉ nộ, ái, ố, giàu sang phú quý, chức quyền, địa vị, tiền bạc, danh vọng… tất cả phải qua đi. Chỉ có… tên của em là còn mãi. Tên của em còn mãi với một điều kiện: Em phải trở thành thánh. Một vị thánh được mừng lễ cùng với các thánh nam nữ vào ngày 01 tháng 11 hằng năm.

Hẹn gặp em trong thư sau: Thế giới này là của em

Ban Văn hóa Giáo dục – Giáo phận Mỹ Tho
Nguồn: Giáo phận Mỹ Tho

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

10 điều bạn cần biết về Mùa Vọng

10 điều bạn cần biết về Mùa Vọng

Hầu hết trong chúng ta có một sự hiểu biết trực quan về Mùa Vọng dựa trên kinh nghiệm, nhưng những văn kiện chính thức của Giáo Hội thực sự nói gì về Mùa Vọng.

Dưới đây là một số câu hỏi cơ bản và những hồi đáp (chính thức!) về Mùa Vọng.

Một số trong đó thật bất ngờ!

1. 
Mục đích của mùa Vọng là gì?

Mùa Vọng là một mùa trong niên lịch phụng vụ của Giáo Hội – chính xác hơn, thuộc niên lịch của Giáo Hội Latinh, là Giáo Hội lớn nhất hiệp thông với Đức Giáo Hoàng.

Những Giáo Hội Công giáo khác – cũng như nhiều Giáo hội không phải Công giáo — có tổ chức Mùa Vọng nhưng theo cách thức riêng của họ.

Theo những quy luật chung của năm phụng vụ và niên lịch, Mùa Vọng có một đặc tính với hai khía cạnh:

·                  Là một mùa để chuẩn bị cho Giáng Sinh khi chúng ta tưởng niệm việc Đức Kitô đến lần thứ nhất.

·                  Như là một Mùa mà việc nhớ lại ấy hướng tâm trí của chúng ta tới sự chờ đợi cho lần trở lại của Đức Kitô trong ngày sau hết.

Do đó, Mùa Vọng là một thời kỳ sốt sắng và mong đợi trong hân hoan. (quy luật 39)

Chúng ta thường nghĩ về Mùa Vọng chỉ như là một mùa chuẩn bị cho Giáng sinh hay tưởng nhớ việc Đức Kitô đến lần thứ nhất, nhưng như những quy luật tổng quát chỉ ra, thật quan trọng để nhắc nhớ rằng Mùa Vọng còn là dịp để chúng ta hướng tới sự trở lại của Đức Kitô. Cho nên, có thể nói Mùa Vọng đưa tâm trí chúng ta hướng về hai lần đến thế gian của Đức Kitô.

2.  
Những màu phụng vụ nào được sử dụng trong mùa Vọng?

Những ngày đặc biệt và những nghi thức cử hành nào đó có thể có những màu riêng (thí dụ, màu đỏ dành cho lễ kính các thánh tử đạo, màu đen hay trắng vào dịp lễ an táng), nhưng màu thông thường của Mùa Vọng là tím. Hướng dẫn Tổng quát trong sách lễ Roma đưa ra: Màu tím hay đỏ tía được sử dụng trong Mùa Vọng và Mùa Chay. Các màu này cũng có thể được mặc trong những nghi thức và Thánh lễ an táng (346).

Ở nhiều nơi, có một ngoại lệ đáng chú ý cho Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng, được biết tới như là “Chúa Nhật vui” (Gaudete) : Màu hồng có thể được sử dụng trong ngày Chúa Nhật vui và Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay (Laetare). (GIRM 346f).

3. 
Phải chăng Mùa Vọng là mùa thống hối?

Chúng ta thường nghĩ về Mùa Vọng như là mùa thống hối bởi vì màu tím trong phụng vụ, giống như màu của mùa Chay – màu dành cho mùa sám hối.

Tuy nhiên, sự thực là Mùa Vọng không phải là mùa thống hối. Thật ngạc nhiên!

Theo điều khoảng của Giáo Luật: số 1250: những ngày và những lần sám hối trong Giáo Hội hoàn vũ là mọi thứ sáu trong cả năm và cả mùa Chay.

Mặc dầu các đấng bản quyền địa phương có thể thiết lập thêm những ngày sám hối, song, trên đây đã là một danh sách đầy đủ của những ngày và những lần thống hối trong Giáo Hội Latinh cũng như toàn thể Giáo Hội, và Mùa Vọng không phải là một trong số đó.

4. 
Mùa Vọng bắt đầu và kết thúc khi nào?

Theo những quy luật tổng quát: Mùa Vọng bắt đầu với giờ Kinh Chiều I của Chúa Nhật ngày hoặc gần ngày 30/11 nhất; Mùa Vọng sẽ kết thúc vào trước giờ Kinh Chiều I của lễ Giáng Sinh (số 40).

Chúa Nhật đúng vào hay gần với ngày 30.11 nhất có thể trong khoảng 27.11 – 3.12, tùy theo năm.

Trong trường hợp một Chúa Nhật, giờ Kinh Chiều I được xem như vào Kinh Chiều I trước đó (thứ 7). Theo hướng dẫn tổng quát của các giờ kinh phụng vụ: Được cử hành ngay trước Thánh lễ, giờ Kinh Chiều được gộp vào cùng một cách thức như Kinh Sáng. Giờ Kinh Chiều I của những lễ trọng, các Chúa Nhật hay lễ kính Chúa rơi vào ngày Chúa Nhật có thể không được cử hành cho tới sau Thánh lễ của ngày hôm trước hay thứ bảy.

Điều này có nghĩa rằng, Mùa Vọng bắt đầu vào buổi chiều của thứ 7 giữa 26/11 – 2/12; kết thúc vào chiều ngày 24.12, lúc cử hành Kinh Chiều I lễ Giáng Sinh (25/12).

5. 
Vai trò của các Chúa Nhật trong Mùa Vọng?

Có 4 Chúa Nhật trong Mùa Vọng. Các quy luật tổng quát tuyên bố: Các Chúa Nhật của mùa này được gọi là Chúa Nhật thứ nhất, thứ Hai, thứ Ba và thứ Tư của Mùa Vọng (số 41)

Chúng ta đã đề cập trước đó về Chúa Nhật thứ ba có tên đặc biệt là Gaudete – từ Latinh có nghĩa là “niềm vui” là từ đầu tiên trong ca nhập lễ của Thánh lễ trong ngày này.

Giáo Hội gán cho các Chúa Nhật này có tầm quan trọng đặc biệt, những ngày ưu tiên hơn tất cả những cử hành phụng vụ khác. Vì thế, các quy luật tổng quát tuyên bố: bởi vì tầm quan trọng đặc biệt của ngày này, cử hành Chúa Nhật chỉ dành cho lễ trọng hay lễ kính Chúa. Các Chúa nhật của Mùa Vọng, Mùa Chay và Phục Sinh được ưu tiên trên tất cả các lễ trọng và lễ kính Chúa. Các dịp lễ trên nếu rơi vào những Chúa Nhật này sẽ được cử hành trong các ngày thứ 7 trước đó (số 5).

6. 
Những gì diễn ra với các ngày trong tuần?

Các bài giảng dành cho các ngày trong tuần của Mùa Vọng được khuyến khích đặc biệt. Quy luật tổng quát cũng chỉ ra vai trò đặc biệt các ngày trong tuần của tuần lễ trước Giáng sinh: các ngày trong tuần từ 17-24/12 hướng tới việc phục vụ chuẩn bị trực tiếp hơn dành cho sinh nhật của Đức Kitô. (số 41).

Vai trò đặc biệt ấy được minh chứng trong các bài đọc Kinh Thánh được sử dụng trong phụng vụ trong những ngày này.

7. 
Các nhà thờ được trang hoàng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?

Trong suốt Mùa Vọng, việc trang trí hoa cho bàn thờ nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù hợp với đặc tính của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa Giáng sinh. (x GIRM 313).

8. 
Âm nhạc được sử dụng như thế nào trong suốt Mùa Vọng?

Trong suốt Mùa Vọng, việc sử dụng đàn organ và những nhạc cụ khác nên được lưu tâm bởi một sự vừa phải phù hợp với đặc tính của thời kỳ này trong năm, không diễn tả trước niềm vui Chúa Giáng sinh. . (x GIRM 313).

9. 
Kinh Vinh danh có được đọc hay hát trong suốt Mùa Vọng Không?

Kinh Vinh danh không được đọc hay hát trong dịp này.

10. 
Những việc đạo đức riêng nào chúng ta nên thực hiện để trở nên thiết thân với Thiên Chúa hơn trong suốt Mùa Vọng?

Có nhiều việc đạo đức khác nhau mà Giáo Hội đã chấp nhận cho sử dụng trong suốt Mùa Vọng. Phổ biến hơn cả là Vòng hoa mùa Vọng.

Tác giả: Jimmy Akin

 

Chia sẽ bài viết này trên:

CHƯƠNG TRÌNH MÙA VỌNG – GIÁNG SINH NĂM PHỤNG VỤ 2019-2020

CHƯƠNG TRÌNH MÙA VỌNG GIÁNG SINH
NĂM PHỤNG VỤ 2019-2020

∞†∞

TĨNH TÂM MÙA VỌNG

1) Dành cho Cộng đoàn: Thứ sáu 13/12 và Thứ bảy 14/12, lúc 18g00.

– Giảng: Cha Vinh Sơn Phạm Trung Thành (DCCT).

2) Dành cho Thiếu Nhi: Chúa nhật III Mùa Vọng (15/12), lúc 8h00.

– Giảng: cha Quản nhiệm.

GIẢI TỘI TẬP TRUNG

Thứ Ba, ngày 17/12/2019 – từ 19h00 đến 20h00

(Các ngày thường của Mùa Vọng, Cha sở giải tội trước lễ chiều 30 phút)

Thánh Ca Mừng Chúa Giáng Sinh

19g30 Chúa Nhật ngày 22/12/2019

Lễ Chúa Giáng Sinh

+ Thứ ba, ngày 24 tháng 12 năm 2019 :

Lễ sáng 5g00.

Lễ Thiếu nhi : 18g00.

Lễ người lớn : 21g00.

+ Thứ tư, ngày 25 tháng 12 năm 2019 :

Thánh lễ : 5g00 & 18g00.

+ Chúa Nhật, ngày 29 tháng 12 năm 2019 : lễ Thánh Gia Thất

  • Thánh lễ : 6g00 – 08g00 – 17g30.

+ Thứ ba, ngày 31 tháng 12 năm 2019 : 23g00 – 24g00

  • Chầu Thánh Thể.
  • Nghi thức chúc lành đầu năm mới Dương Lịch.

 

MỪNG CHÚA GIÁNG SINH

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Chúa Kitô Vua

Chúa Kitô Vua

Trên báo Tuổi Trẻ cách đây khá lâu, tôi gặp một chuyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, mang tựa đề “Tôi thích làm vua”, truyện kể về một đội kịch khi đã dàn dựng xong một vở xoay quanh vai chính là một ông vua. Nhưng đến lúc trình diễn, người thủ vai ông vua đã không có mặt. Đang còn lúng túng thì may sao tác giả chuyện ngắn lù lù dẫn xác tới. Bằng sức ép của tình thân người ta xếp ngay ông vào vai ông vua với lời trấn an: “Làm vua dễ lắm! Chỉ cần áo mão cân đai, trong ngai bệ vệ thị oai xong liền”. Tác giả đã làm như thế và buổi diễn được xem là thành công. Truyện chỉ có thế, nhưng qua mạch kể, dẫn tới kết luận: làm vua quá dễ và xét cho cùng, làm vua cũng có nghĩa là chẳng phải làm gì cả.

Phụng vụ hôm nay cũng đặt tín hữu đối diện với một vị vua: Đức Kitô. Nhưng Người là vị Vua thế nào? Đường lối làm vua của Người có nhàn hạ không?

  1. Đức Kitô khởi đầu sự nghiệp bằng việc tự hiến.

Ngay từ đời đời, Đức Kitô đã là vua trên cả tạo thành, nhưng vì không muốn cho con người chỉ thấy nơi Người tự bản tính đã là vua, mà còn muốn tỏ bài cho họ hiểu để “là vua” Người phải “làm vua” nữa. Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã trở thành Vua muôn vua.

Dẫu là Vua Trời, Người đã chấp nhận từ bỏ tất cả để bước xuống với đời sống con người. Sự bước xuống ấy chẳng phải là một chuyến vi hành như kiểu những ông vua trong truyện “Nghìn lẻ một đêm”, ban ngày thì thét ra lửa, nhưng ban đêm lại cải trang giả dạng thường dân len lỏi vào những ngõ ngách cuộc sống để nắm bắt tình hình dân chúng, rồi bước sang ngày mới, lại áo mão nghêng ngang ra dáng đức vua oai vệ.

Sự bước xuống ấy cũng chẳng phải là những chuyến du hành như những chuyến đi lại của những ông vua hiện đại luôn được bao vây bởi những vệ sĩ cận kề hoặc những fan hâm mộ cuồng nhiệt, có muốn quan sát sự tình cũng khó mà thấy sự thật.

Nhưng sự bước xuống ấy là một chuyến đồng hành theo nghĩa mạnh nhất của từ ngữ này, nghĩa là Vua Trời đã làm người thực thụ giữa muôn người trần gian để đồng hành với con người trong cuộc phiêu lưu cứu độ.

Từ trời cao hạ cố bước xuống với con người, chưa đủ; từ Thiên Chúa tự nguyện bước xuống làm người vì chúng ta, cũng chưa đủ; từ con người vô danh tiểu tốt lại khiêm nhường bước xuống làm một tội nhân dẫu chẳng mang tội gì, cũng chưa đủ. Qua Phúc Âm hôm nay, người ta còn thấy Người bước xuống nữa, từ một tội nhân lại nhận vào mình cái án của tên tử tội.

  1. Đức Kitô xưng vương bằng việc tận hiến.

Đọc kỹ trang Tin Mừng hôm nay, người ta sẽ vô cùng sửng sốt, bởi vì hình ảnh vị vua thì quá nhạt nhòa trong khi hình ảnh của người tử tội lại thật đậm nét, đến nỗi cái chết của người ấy cũng không thể gọi là một cái chết bình thường nếu không muốn nói là “cái chết dữ”, theo ngôn ngữ Việt Nam. Thay vì triều thiên là một vòng gai, thay vì long ngai là một Thánh Giá, thay vì xa giá oai phong lẫm liệt lại chỉ là những tiếng nhục mạ thách thức của đủ mọi thành phần dân chúng. Kỳ mục ghen ghét nên nhục mạ đã đành, lính tráng liên quan gì mà phải lên tiếng, đến như anh trộm dữ chết đến nơi rồi mà vẫn không hết cay xè cà cuống độc mồm độc miệng.

Nhưng người ta càng sửng sốt hơn nữa khi biết rằng người tử tội ấy là Chúa Kitô, và cái chết của Người chính là đỉnh cao tận hiến, đi đến cùng trong lựa chọn hiến thân cho loài người. Nếu sinh thời Người đã nói “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến thân vì bạn hữu” thì câu nói đó trước hết đã ứng nghiệm nơi Người. Người chết thay cho nhân loại mà Người hằng yêu mến, Người chết cho họ được sống. Nhưng chính lúc Người chết lại là lúc Người tỏ mình là Vua như hàng chữ trên Thánh Giá đã ghi rõ.

Người làm Vua bằng con đường tận hiến. Như hạt lúa phải thối đi mới sinh nhiều bông hạt; như cỗ máy phải chấp nhận hao mòn đi mới phát sinh công suất; như bông hoa phải chịu ngắt đi mới trang hoàng đẹp bàn thờ; và cũng như cây nến phải chấp nhận hao mòn đi mới có thể đem cho ngày lễ ánh sáng lung linh.

  1. Chúa Kitô cai trị bằng thánh hiến.

Nếu toàn cảnh Phúc Âm hôm nay là một bầu khí ảm đạm thì câu kết thúc lại là một cảnh hoàn toàn khác. Từ đỉnh cao Thập Giá, Chúa Kitô hứa Thiên Đàng cho anh trộm lành. Trong lời hứa, người ta đã thấy tỏ hiện vương quyền trời cao; trong cách hứa, người ta đã thấy vinh quang rạng ngời vương quốc; và vượt trên tất cả, trong tương quan của người trao và người nhận lời hứa, là sáng lên dung mạo của vị Vua bao dung thánh hiến tất cả để đặt vào tình trạnh sống mới.

“Hôm nay, anh sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta”. Trong bảy lời Chúa Giêsu phán ra từ Thập Giá, đây là lời oai phong nhất, không là lời của người tử tội, mà là lời của một vị Vua quyền uy trong Vương quốc của Người là Thiên đàng. Đây cũng là lời đậm màu cứu độ nhất vì anh trộm khi chẳng còn hy vọng nào khác đã biết bám víu vào Chúa Giêsu, nên anh đã nhận được ơn cứu rỗi, tức là được thánh hiến để sẵn sàng tháp tùng Người bay thẳng vào chốn Thiên Đàng không cần qua một trạm trung chuyển nào. Sướng thật. Rõ trộm chuyên nghiệp nên phút cuối cùng còn trộm được cả Thiên Chúa.

Có lẽ cũng nên nói một chút về hai chữ “hôm nay” của lời hứa đặc biệt này, một chữ nhiều gợi ý, nhưng gắn liền với việc Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thánh Giá, nên chữ ấy cũng liên quan đến việc thánh hiến của vì Vua cứu độ. Ngay từ lúc Chúa Giêsu chịu chết, Vương quốc Thiên Đàng của Người đã tỏ hiện, vương quyền thánh hiến của Người đã phát huy, để chữ “hôm nay” trở thành chữ hiện thực muôn đời của tấm lòng vị Vua Cứu Thế.

Qua việc thánh hiến lòng cậy trông của ông trộm lành, Đức Kitô đã khẳng định đường lối làm vua của Người mãi mãi. Người thánh hiến trọn vẹn mỗi người và mọi người, như kiểu nói của thánh Phaolô: “Người thâu họp tất cả trong một đầu mối chính là Người, để mà dâng lên Chúa Cha”.

Tóm lại, Đức Kitô là một vị Vua rất khác lạ, Người làm tất cả chỉ vì muốn cứu độ muôn người: Người tự hiến cúi xuống với con người; Người tận hiến mạng sống cho con người, và Người thánh hiến để con người được sống muôn đời với Người trong vương quốc vĩnh cửu. Vấn đề còn lại là hãy tôn vương Chúa Kitô ngay trong cuộc sống hôm nay.

Có lần đến một xứ đạo vùng Hố Nai dâng Thánh Lễ, tôi không xác định được phương hướng, phải nhờ một bác tài xế chỉ cho. Bác bảo: tới ngã ba thấy tượng Chúa Kitô giang tay, hãy đi về phía tay phải, sẽ gặp địa chỉ muốn tìm. Rõ ràng chỉ là một câu nói, nhưng đầy gợi ý: hãy đi về phía tay phải Chúa Kitô bằng một cuộc sống tốt lành, người ta sẽ gặp được địa chỉ mong ước, đó là Nước Chúa Kitô, là quê hương hạnh phúc.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống (Trích từ ‘Nút Vòng Xoay’)

Chia sẽ bài viết này trên:

Khi Tình Yêu Lên Ngôi – LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

Khi Tình Yêu Lên Ngôi

Nhạc sĩ Cao Huy Hoàng viết bài thánh ca cho lễ hôn phối với tựa đề thơ mộng “Khi Tình Yêu Lên Ngôi” và nội dung sâu sắc, diễn tả đúng tình yêu của Thiên Chúa là căn bản cho mọi tình yêu: Khi tình yêu lên ngôi ngát hương thơm cuộc đời. Khi tình yêu lên ngôi lòng yêu mến như biển khơi. Lạy Cha Rất Thánh xin tình yêu tình yêu chung thuỷ, hy sinh vì yêu, chết cho tình yêu, trăm năm tình yêu, tình yêu tuyệt vời.”

Chúa Nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, Giáo hội muốn cùng với con cái mình tôn vinh Đức Giêsu Kitô là Vua, vị vua không có vương quốc, không có vương quyền theo kiểu thế gian, vì Ngài là Vua Tình Yêu và vương quốc của Ngài là ranh giới của yêu thương. Vì vậy khi tình yêu lên ngôi là lúc vương quốc của Thiên Chúa hiển trị.

Sau khi vua Saul băng hà các chi tộc ở miền Nam Israel đã phong Đavit lên làm vua. Một thời gian sau, các chi tộc ở miền Bắc cũng đến gặp Đavit để xin ông làm vua của họ. Họ khao khát một vị vua yêu thương và tận tình chăm sóc họ. Họ đã lấy lời Chúa ra để nói với vua Đavit: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Israel” (2 Sm 5, 2b). Thế là họ đã xức dầu tấn phong Đavit làm vua. Kể từ đây đất nước được thống nhất dưới quyền trị vị củ vị vua yêu thương ; kể từ đây “hòa bình đã đến, xóm làng yên vui, ấm no về đây”. Tuy nhiên Đavit chỉ là hình ảnh của Đức Giêsu, là Vua toàn thể vũ trụ, và vương quốc cửa Ngài sẽ vững bền mãi mãi.

Khi bị treo trên thập giá, Đức Giêsu bị mọi người khinh bỉ, cười chê: “Dân chúng đứng nhìn, các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo,… lính tráng cũng chế giễu… Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ người” (x. Lc 23, 35-43). Xem ra Ngài đã thất bại khi đến thế gian này.

Tuy nhiên còn có một tên gian phi nói với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi” (Lc 23, 42). Chắc chắn tên gian phi này biết rằng Nước của ông Giêsu không ở trần gian, và vương quyền của Ngài không theo kiểu người đời, vì nếu tìm kiếm những điều đó thì hắn đã mất ngay trước mặt, không có gì cả. Nhưng bởi vì anh ta tin một Vương Quốc khác, một Vương Quyền mới nên anh ta đã được toại nguyện: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 43). Đức Giêsu đã đưa lên Thiên Đàng một người tin và đem đến sự an ủi cho Ngài trong lúc những người xung quanh đều không tin và hất hủi Ngài, dù người đó có quá khứ bất hảo. Đúng là khi tình yêu lên ngôi vương quốc của Chúa sẽ hiển trị.

Đức Giêsu đến trần gian này để giới thiệu cho chúng ta một Vương Quốc mới mà Ngài gọi là Nước Trời. Chúng ta chẳng thấy, chẳng biết Nước Trời, nhưng nhìn vào cung cách phục vụ, yêu thương của Đức Giêsu, chúng ta tin và muốn được vào Vương Quốc đó; để từ đây ta không còn gọi là Nước Trời nữa vì nghe có vẻ xa xăm, nhưng ta gọi đó là Vương Quốc Tình Yêu, vì nó hiển trị nơi Đức Giêsu và những ai biết sống yêu thương. Quả thật ở đâu có tình yêu ở đó có Nước Trời.

Giáo hội nỗ lực thực hiện mệnh lệnh của Đức Giêsu là “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”. Tin Mừng đó chính là Nước Trời, là Vương Quốc Tình Yêu. Vì vậy người rao giảng phải hiểu cốt lõi của vấn đề để thực hiện đúng sứ mạng đó, kẻo cả và Giáo hội chỉ chú tâm đến việc làm sao rửa tội cho thật nhiều người, và cứ tính tỉ lệ người được rửa tội mà tự hào về việc loan báo Tin mừng.

Nếu hiểu việc loan báo Tin Mừng là sống tình yêu thương trong Vương Quốc của Thiên Chúa thì Kitô hữu sẽ dễ dàng thực hiện sứ mạng của mình hơn. Còn nếu quan niệm việc loan báo Tin Mừng là cho người ta biết về Chúa Giêsu, biết giáo lý của Ngài, biết những điều luật của Hội thánh…, ai tin và chấp nhận thì rửa tội cho gia nhập vào Hội thánh… quả thật mông lung và xa vời quá vì chính bản thân Kitô hữu cũng chưa hiểu biết về những điều đó.

Tuy nhiên nếu người ta thấy ở đâu có tình yêu, có sự tôn trọng, nâng đỡ, khích lệ, che chở… thì người ta sẽ tìm đến; và nếu đó là cộng đoàn người Công giáo thì người ta sẽ tin Đức Giêsu của chúng ta bằng những minh chứng cụ thể đó.

Vì vậy mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn được mời gọi loan báo Tin mừng bằng việc sống và san sẻ yêu thương. Nhìn vào cách sống của cá nhân, gia đình và cộng đoàn người ta sẽ biết có Chúa hay không.

Câu chuyện của 2 bạn trẻ đi nhặt xác thai nhi ở Hà Nội đêm 19-11-2019, trên đường về bị một người phụ nữ vượt đèn đỏ va quẹt với chiếc xe. Sau đó còn gây hấn, đạp thẳng vào xe máy của 2 bạn làm xác thai nhi đổ ra đường, lại gọi người đến đánh các bạn. Khi người dân xung quanh hay tin đã chạy đến bảo vệ các bạn, còn báo công an đến giải quyết. Khi biết việc làm của hai bạn công an và người dân đã nhanh chóng hỗ trợ kể cả việc không ai bảo ai, gom tiền lại để các bạn đưa xác thai nhi về nhà càng sớm càng tốt. Sau đó người ta còn tìm hiểu và biết rõ việc làm của 2 bạn trong nhóm thiện nguyện bảo vệ sự sống này, biết rành hằng tháng các bạn có Thánh lễ an táng các thai nhi tại một Đất Thánh ở Bùi Chu. Qua đó hình ảnh bàn thờ, tượng chuộc tội, Đất Thánh của người Công giáo… lan tràn trên các tờ báo. Rõ ràng ở đâu có tình yêu thì Vương Quốc của Chúa sẽ hiển trị. Các bạn trẻ Công giáo này đã không giới thiệu về Chúa bằng Giáo lý hay Thánh kinh mà bằng tình yêu trong việc bảo vệ sự sống.

Người Công giáo phải tự hào được sống trong Vương Quốc Tình Yêu của Vua Giêsu và phải có bổn phận làm cho Nước đó được lớn mạnh. Vì vậy khi biết quan tâm đến người nghèo, khi xót xa trước những cảnh khổ, khi nổ lực để san sẻ yêu thương… là lúc Kitô hữu đang làm cho Nước Chúa hiển trị ngay tại thế gian này.

Xin Chúa qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ và các thánh đang sống trong Nước Trời giúp mỗi người chúng con biết để cho tình yêu lên ngôi trong chính cuộc đời mình để sẵn sàng làm “mọi sự vì Đức Ái” (1Cr 16,14). Và xin cho cộng đoàn chúng con trở thành một cộng đoàn đức tin được thể hiện bằng tình yêu thương.

Lm. Giuse Nguyễn

Chia sẽ bài viết này trên:

Con đường gặp Chúa

Con đường gặp Chúa

“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Tôi cũng muốn trả lời thẳng thắng như thánh Phêrô khi xưa đã đáp lại: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống! Một câu trả lời chẳng khó mà lại rất quen thuộc. Nhưng trong đó nó bao hàm tất cả nội dung Đức Tin của chúng ta, là nền tảng của Hội Thánh, là đường, là sự thật và là sự sống của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Chúng ta hiểu, ý thức và đang sống được mấy phần của sự thật nầy? Tôi xin kể bạn nghe con đường Thiên Chúa đã dẫn tôi đi.

Tôi tìm Chúa.

Tôi đang bước đi từng bước để gặp Chúa…

Từ khi bước chân vào đời tôi đã đứng lại và không đi tìm Chúa nữa. Ngược lại tôi chỉ biết tạo cho mình một vị trí xứng đáng trong xã hội. Tôi muốn làm cho cha mẹ tôi tự hào về tôi, nhưng đối với Người Cha trên trời tôi lại thờ ơ. Tuy mỗi lần đọc Kinh Lạy Cha tôi gọi Ngài là Cha nhưng tôi chẳng có ấn tượng gì về Ngài. Ngài quá xa vời đối với tôi. Tôi chỉ biết kính sợ Ngài và cố gắng giữ các luật đạo vì sợ phạm tội. Tôi không cố tình gạt Ngài ra khỏi đời sống của tôi. Nhưng cuộc sống của tôi đã chứa đầy những bận rộn của thế gian, không còn chỗ cho Thiên Chúa. Tôi vẫn luôn tìm Chúa chứ, tôi tự hỏi Thiên Chúa là ai, Ngài như thế nào, có thật sự hiện hữu không, tôi sống để làm gì, ý nghĩa của đời sống là gì…? Trong đầu tôi chứa rất nhiều thắc mắc mà tôi lại không gặp ai có thể cho tôi câu trả lời. Một ngày nào đó tôi nhận ra rất nhiều người tin vào Đức Giêsu và rất ngưỡng mộ Người, nhưng đối Thiên Chúa thì họ lại chẳng có ấn tượng hay muốn biết gì, vì Ngài quá xa vời, quá huyền bí. Tôi lại càng thắc mắc và đặt vấn đề?

Thiên Chúa đã cứu tôi.

Tuy vẫn có những suy nghĩ về Thiên Chúa, nhưng thời gian tôi lại dành hết để chu toàn bổn phận trong cuộc sống. Có lẽ Thiên Chúa rất hiểu tôi và biết tôi đang cần gì và Ngài đã mời gọi tôi theo cách thức của Ngài. Ngài lấy đi những bận rộn của cuộc sống tôi, Ngài cho tôi trải nghiệm thời gian đen tối của đau khổ. Nhưng tôi vẫn luôn cứng đầu, chỉ biết trách móc và than thở…

Khi tôi không còn bám víu vào điều gì trong cuộc sống nữa, khi tôi mặc kệ mọi thứ cứ trôi theo dòng đời, Thiên Chúa đã nhẹ nhàng bước vào tâm hồn tôi… Đọc được vài đoạn trong một cuốn sách đạo, tôi hiểu được Cựu Ước không phải là những câu chuyện cổ tích, mà là chính Lời Chúa dùng lời lẽ của con người để nói với con người. Tôi đọc chuyện tiểu sử của một người đã đi tu ba lần và ngồi tù ba lần. Người này đã nhận ra Đức Mẹ đã đưa mình vào tù để qua đó được lãnh nhận những ân huệ lớn lao cho phần rỗi đời này cũng như đời sau. Tôi nhận ra những biến cố đã xảy ra trong đời của tôi có ý nghĩa tương tự. Tôi được bắt đầu lại cuộc sống mới, tôi nhận được cơ hội để học hỏi và lãnh hội nội dung đức tin. Tôi khám phá Kinh Thánh mở ra cho tôi một thế giới mới mẻ,  tôi tìm được một con người mang tên Giêsu vô cùng thú vị và đồng thời cũng là một vị Thiên Chúa rất gần gũi. Người là phản ảnh của Chúa Cha trên trời. Người đã biến đổi những tiêu chuẩn tiêu cực là tám mối phúc thành bản năng tích cực chỉ qua cuộc sống nhân loại của Người.

Con đường gặp Chúa.

Bây giờ tôi mới hiểu, vì sao nhiều người lại tin vào Đức Giêsu mà đối với Thiên Chúa thì lại chẳng có ấn tượng gì. Vì trước đây 2000 năm Người đã sống thật, chứ không như tôi đơn thuần nghĩ tất cả chỉ là một câu chuyện cổ tích. Tin vào một người tên Giêsu đã từng sống trước đây 2000 năm đồng nghĩa với tin vào tất cả những gì Người đã nói, đã làm, tin vào cái chết cứu độ cũng như tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa qua sự Phục Sinh Con Một của Người. Tin vào Đức Giêsu đồng nghĩa tin vào những gì đã được mặc khải trong Cựu Ước về Người, chúng ta cần phải tin vào Hội Thánh mà Người đã thiết lập qua lời kêu gọi 12 vị Tông Đồ đầu tiên. Qua cái chết đau thương trên Thập giá và sự Phục sinh của Người, Người không chỉ mặc khải cho chúng ta biết quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa Ba Ngôi, mà còn bày tỏ tình yêu bao la Người đã dành cho chúng ta. Qua bí tích Thánh Thể Người đã thể hiện một Thiên Chúa luôn muốn gần gũi với chúng ta và giữ lời hứa sẽ ở cùng chúng ta cho đến ngày sau hết. Trong Cựu Ước Thiên Chúa mặc khải về kế hoạch cứu độ của Ngài. Trong Tân Ước chúng ta học biết Con Một của Ngài là Đức Giêsu. Con đường tới Chúa Cha là con đường ngang qua Chúa Giêsu. Bước chân theo Chúa Giêsu, học hỏi nơi Ngài và kết hợp với Ngài là con đường duy nhất đưa chúng ta tới cuộc sống sung mãn.

Tôi hy vọng bạn cũng cho mình cơ hội để học hỏi và lãnh hội đầy đủ nội dung đức tin, cũng như cho Thiên Chúa cơ hội để tỏ mình ra cho riêng bạn. Tôi hy vọng bạn có thể dành chút thời gian để cầu nguyện và suy niệm những gì đã xảy ra trong cuộc sống của bạn để nhận ra con đường Thiên Chúa đã và đang dẫn dắt bạn đi đến gặp Ngài.

Đường lối của Thiên Chúa Quan Phòng thật nhiệm mầu, nào ai thấu hiểu được. Ngài càng yêu thương ai, càng dẫn đưa người ấy vào con đường Thánh Giá, con đường đưa tới vinh quang.

“Đêm đen đã xuống thật sâu,
và quê hương còn xa xôi lắm,
xin hãy dẫn bước con!”

(Thánh John Henry Newman)

Maria Ánh Thiện

Chia sẽ bài viết này trên:

Sứ điệp ĐTC nhân Ngày Thế Giới Người nghèo lần thứ 3, ngày 17/11/2019

Sứ điệp ĐTC nhân Ngày Thế Giới Người nghèo lần thứ 3, ngày 17/11/2019

Chúa nhật 17/11/2019, chúa nhật 33 mùa thường niên, lần thứ 3 Ngày Thế Giới người nghèo được cử hành. Nhân dịp này, ĐTC Phanxicô gửi sứ điệp có tựa đề: “Hy vọng của người nghèo sẽ không bị thất vọng”, trích từ thánh vịnh số 9 câu 18.

Nội dung chính của sứ điệp:

Người nghèo trong Thánh Kinh

“Kẻ nghèo khổ chẳng tuyệt vọng bao giờ” (Tv 9,19). Những lời của Thánh vịnh biểu lộ một chủ đề đáng kinh ngạc: đức tin nền tảng của những người nghèo trong việc khôi phục lại niềm hy vọng đã mất trước những bất công, đau khổ và những bấp bênh của cuộc sống.
Thánh vịnh số 10 mô tả tình trạng của người nghèo và sự kiêu ngạo của những người ức hiếp họ (Tv 10, 1-10). Thánh vịnh cầu xin Thiên Chúa phán xét, khôi phục lại công lý và vượt qua sự gian ác (Tv 10, 14-15). Dường như lời Thánh vịnh, câu hỏi kéo dài hàng thế kỷ ngày nay trở lại: làm thế nào Thiên Chúa có thể dung thứ sự chênh lệch này? Làm sao Ngài có thể cho phép người nghèo bị sỉ nhục, không được giúp đỡ? Tại sao Thiên Chúa cho phép những người ức hiếp có một cuộc sống hạnh phúc trong khi hành vi của họ phải bị lên án trước đau khổ của người nghèo?

Từ người nghèo trong Kinh Thánh đến người nghèo ngày nay

Ngày nay, điều này không khác lắm. Khủng hoảng kinh tế đã không ngăn cản nhiều nhóm người làm giàu thường xuất hiện bất thường, và gia tăng nhiều người nghèo thiếu những nhu cầu thiết yếu và đôi khi bị áp bức và khai thác. Hàng thế kỷ trôi qua, nhưng tình trạng người giàu và người nghèo vẫn không thay đổi, như thể kinh nghiệm lịch sử chẳng dạy được gì. Như vậy, những lời của Thánh vịnh không nói đến quá khứ, nhưng là hiện tại trước sự phán xét của Thiên Chúa.

Hậu quả: mỗi ngày chúng ta gặp các gia đình buộc phải rời khỏi vùng đất của họ để tìm kiếm các hình thức sống ở nơi khác; những trẻ mồ côi đã mất cha mẹ hoặc bị tách ra khỏi cha mẹ một cách bạo lực; những người trẻ cố gắng học một công việc, nhưng lại bị ngăn cản, từ chối do chính sách kinh tế thiển cận; các nạn nhân của nhiều hình thức bạo lực, từ mại dâm đến ma túy. Hơn nữa, làm thế nào chúng ta có thể quên hàng triệu người nhập cư là nạn nhân của rất nhiều lợi ích che dấu, thường bị lợi dụng cho mục đích chính trị, những người bị từ chối liên đới và bình đẳng? Và rất nhiều người vô gia cư và những người bị gạt ra bên lề đi lang thang trên đường phố?

Người nghèo sống nhờ các khu đổ rác

Bao nhiêu lần chúng ta thấy những người nghèo tại các khu phế thải, bới rác để tìm kiếm những đồ bị loại đi hoặc dư thừa, để nuôi sống bản thân hoặc tìm kiếm áo quần để mặc. Chính họ trở nên thành phần của nhân loại bị đối xử như rác rưởi, mà những người đồng loã với tình trạng này không hề cảm thấy mặc cảm tội lỗi nào.

Thánh vịnh mô tả thái độ của những người giàu cướp bóc người nghèo: “Chẳng khác nào sư tử phục sẵn ở trong hang, nó phục nơi ẩn khuất rình bắt người nghèo khổ, lừa vào lưới nó giăng” (Tv 10, 9). Bối cảnh mà Thánh vịnh mô tả mang màu sắc buồn, vì sự bất công, đau khổ và cay đắng mà người nghèo phải gánh chịu. Mặc dù vậy, Thánh vịnh cũng cung cấp một định nghĩa đẹp về người nghèo. Người nghèo là người “tin cậy vào Chúa” (câu 11), “biết Chúa của họ”, và trong ngôn ngữ Kinh Thánh, “biết” này chỉ mối quan hệ cá nhân tình yêu.

Ảo tưởng an ninh từ các tường thành và hàng rào

Người ta có thể xây bao nhiêu bức tường và chặn các lối vào để có ảo tưởng mình được an ninh với những giàu sang của mình, gây thiệt hại cho những người bị bỏ ở ngoài. Nhưng sẽ không mãi mãi như thế. “Ngày của Chúa”, như được các ngôn sứ mô tả (Xc Am 5,18; Is 2-5, Gl 1-3), sẽ phá hủy các hàng rào được dựng lên giữa các nước và thay thế sự kiêu hãnh của một thiểu số bằng tình liên đới của bao nhiêu người. Tình trạng bị gạt ra ngoài lề của hàng triệu người không thể kéo dài nữa. Tiếng kêu của họ gia tăng và bao trùm cả trái đất. Như cha Primo Mazzolari đã viết: “Người nghèo là một sự phản đối liên tục chống lại những bất công của chúng ta. Người nghèo là thùng thuốc súng. Nếu lửa được dí vào, thì cả thế giới sẽ nổ tung”.

Nước Thiên Chúa thuộc về người nghèo

Trong các Mối Phúc Chúa Giêsu đã chỉ ra: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó” (Lc 6, 20). Ý nghĩa của lời loan báo nghịch lý này là Nước Thiên Chúa thuộc về người nghèo, bởi vì họ có điều kiện lãnh nhận. Nhiều thế kỷ trôi qua, Bát Phúc Tin Mừng ngày càng trở nên nghịch lý hơn bao giờ hết; người nghèo lại càng nghèo hơn. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã khai mạc Vương quốc, đặt người nghèo ở trung tâm, muốn nói với chúng ta điều này: Ngài đã khai mạc, nhưng giao cho chúng ta, các môn đệ của Ngài, nhiệm vụ đưa nó tiến về phía trước, với trách nhiệm mang lại hy vọng cho người nghèo, đặc biệt trong thời đại chúng ta, cần làm sống lại niềm hy vọng và tin tưởng. Đó là một chương trình mà cộng đoàn Kitô không thể đánh giá thấp.

Sứ mạng của Giáo Hội và mỗi tín hữu đối với người nghèo

Trong sự gần gũi với người nghèo, Giáo Hội khám phá thấy mình là một dân tộc, rải rác trong các dân nước, có một ơn gọi làm sao để không một ai bị cảm thấy là xa lạ hoặc bị loại trừ, vì Giáo Hội liên kết tất cả mọi người trong một hành trình cứu độ chung. Thân phận người nghèo bó buộc chúng ta không được xa cách Thân Mình của Chúa đang đau khổ trong người nghèo. Đúng hơn, chúng ta được kêu gọi động chạm đến thân mình của Chúa, để đích thân tham gia vào một việc phục vụ cũng là một công cuộc loan báo Tin Mừng thực sự.
Thăng tiến về mặt xã hội cho người nghèo không phải là một dấn thân ở bên ngoài việc loan báo Tin Mừng, ngược lại nó cho thấy một đức tin Kitô và giá trị lịch sử của nó là một thực tế. Tình yêu mang lại sức sống cho đức tin vào Chúa Giêsu không cho phép các môn đệ co mình lại, không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến đời sống xã hội.

Các tình nguyện viên

Các tình nguyện viên hãy nhìn vào mỗi người nghèo để biết những gì họ thực sự cần; không chỉ dừng lại ở nhu cầu vật chất. Tất nhiên, người nghèo đến với chúng ta vì họ cần thức ăn, nhưng những gì họ thực sự cần vượt xa những nhu cầu vật chất chúng ta cung cấp cho họ. Người nghèo cần đôi tay của chúng ta để nâng họ lên; cần con tim của chúng ta để một lần nữa cảm nhận sự ấm áp của tình thân thương, cần sự hiện diện của chúng ta để vượt qua nỗi cô đơn. Đơn giản họ cần tình yêu.

Thiên Chúa không bỏ rơi những ai tìm kiếm và kêu cầu Ngài

“Thiên Chúa không quên tiếng kêu của người nghèo” (Tv 9, 13). Tình trạng nghèo khó của người nghèo không làm cho họ bị mất phẩm giá mà họ nhận được từ Đấng Tạo hóa. Người nghèo tin rằng họ sẽ được chính Thiên Chúa phục hồi. Thiên Chúa thấy những lo lắng và đau đớn của người nghèo, Ngài ôm lấy, cho họ sức mạnh và can đảm (TV 10,14).

Đối với tất cả các cộng đồng Kitô giáo và những người cảm thấy cần phải mang lại hy vọng và an ủi cho người nghèo, hãy làm việc để Ngày Thế giới Người nghèo có thể làm gia tăng ý chí hợp tác hiệu quả để không ai cảm thấy thiếu sự gần gũi và liên đới. Những lời của ngôn sứ tuyên bố một tương lai khác đi: “Đối với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên” (Ml 3,20).

Ngọc Yến – Vatican

Chia sẽ bài viết này trên:

SỐNG VÌ ĐẠO – Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

SỐNG VÌ ĐẠO

Chúng ta đang sống trong một xã hội văn minh vật chất. Khuynh hướng tìm chiếm hữu, hưởng thụ, an nhàn là rất mạnh. Thế mà Lời Chúa hôm nay kêu gọi ta phải từ bỏ mình, phải vác thập giá, phải hy sinh mạng sống. Phải chăng Chúa muốn ta tàn lụi đi? Hay Chúa muốn ta trở nên dại dột? Thưa không phải như thế. Chúa khuyên bảo ta hãy biết từ bỏ mình vì lợi ích của ta.

Chúa chỉ đường cho ta đến những giá trị cao quý hơn. Trong đời sống, cơm áo gạo tiền là cần là quý. Nhưng còn những thứ cao quý hơn. Ví dụ như danh dự, tình yêu, lòng chung thủy. Mạng sống là quý. Nhưng có những giá trị còn cao quý hơn. Ví dụ như đức tin, tổ quốc. Thân xác là quý. Nhưng linh hồn còn cao quý hơn. Vì thế, khi không thể chọn cả hai, ta phải biết chọn những giá trị cao quý hơn.

Chúa chỉ đường cho ta đến những giá trị bền vững hơn. Vật chất là quý. Nhưng giá trị của nó không lâu bền. Chết rồi ta chẳng mang theo được vật chất theo mình. Những giá trị tinh thần bền vững hơn. Dù chết rồi vẫn còn tồn tại. Tục ngữ có câu: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”. Cuộc sống đời này là quý. Nhưng cuộc sống đời này không kéo dài lâu. Cuộc sống đời sau mới trường tồn vĩnh cửu. Khi không thể chọn lựa mọi giá trị, ta phải biết lựa chọn những giá trị có tính cách vĩnh cửu.

Chúa chỉ cho ta đường đến với Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự thiện hảo. Chọn Chúa mới là chọn những gì tốt đẹp nhất. Chúa là giá trị cao quý nhất. Chúa là giá trị vĩnh cửu nhất. Chúa là hạnh phúc hoàn hảo nhất. Hạnh phúc ở nơi Chúa làm ta no thỏa. Hạnh phúc ở nơi Chúa không bao giờ tàn lụi. Hạnh phúc ở nơi Chúa cho ta đạt được mọi ước mơ của con người.

Chúa chỉ cho ta con đường đi theo Chúa. Khi dậy dỗ ta, Chúa Giêsu không nói suông. Chính Người đã thực hành. Người đã từ bỏ mình, vác thánh giá. Người đã liều mạng sống, chịu chết vì chúng ta. người đã từ bỏ tất cả những giá trị trần gian để vâng theo thánh ý Đức Chúa Cha. Cuối cùng Người lại được tất cả. Chết rồi được Phục Sinh. Tự hủy mình ra không lại được trở thành Vua vũ trụ. Người đã từ bỏ tất cả, nay Đức Chúa Cha lại ban cho Người tất cả, khi đặt mọi sự dưới chân Người.

Yêu mến Chúa là vâng theo Lời Chúa, các thánh Tử đạo Việt Nam đã đi theo con đường của Chúa. Để bảo vệ đức tin, các ngài đã chịu mất tất cả cuộc sống an vui, mất danh vọng chức quyền, mất nhà cửa của cải. Vì hiểu rằng đức tin là gia tài cao quý nhất. Hướng về sự sống đời sau, các ngài đã sẵn sàng chịu giam cầm, chịu nhục nhà, chịu hành hạ đau đờn. Vì biết rằng những đau khổ đời này rồi sẽ qua đi, hạnh phúc đời sau mới vĩnh cửu. Để trung thành với Chúa, các ngài sẵn sàng chịu mất mạng sống. Vì biết rằng Chúa sẽ ban lại sự sống mới, sự sống vĩnh cửu cho các ngài. Các ngài thật can đảm. Vì khi chọn lựa từ bỏ như thế, phải chịu nhiều đau đớn, khổ nhục.

Đó là chọn lựa tuyệt đối quyết liệt, dám liều mất cả mạng sống cho sự lựa chọn của mình. Các ngài thật khôn ngoan. Đã biết từ bỏ cái tầm thường để lựa chọn điều cao quý. Đã biết từ bỏ cái tạm bợ để lựa chọn điều vĩnh cửu. Đã biết từ bỏ những giá trị tương đối để lựa chọn Chúa là giá trị tuyệt đối.

Cuộc sống hôm nay cũng đặt chúng ta trước nhiều lựa chọn. Để sống đúng lương tâm công giáo, ta phải chối từ những mối lợi bất chính. Để chu toàn luật Chúa, ta phải từ chối những hưởng thụ ngọt ngào. Để thực hành luật yêu thương tha thứ, ta phải cắn răng chịu nhịn nhục. Để chọn Chúa, ta phải vác thánh giá. Những lựa chọn đó nhiều khi khiến lòng ta đau đớn như bị vết thương. Vết thương rỉ máu âm ỉ suốt cuộc đời. Những lựa chọn đó nhiều khi khiến ta rơi lệ. Những dòng lệ đau đớn xót xa.

Đó thực là những cuộc tử đạo. Cuộc tử đạo không thấy máu. Vì máu chỉ rỉ trong tâm hồn. Cuộc tử đạo không thấy lệ. Vì lệ đã nuốt ngược vào trong. Máu ri rỉ đau đớn nhức nhối lắm. Lệ nuốt vào cay đắng lắm. Để lựa chọn như thế phải có ơn khôn ngoan của Chúa. Để lựa chọn như thế cần phải có ơn sức mạnh của Chúa. Nhưng có lựa chọn như thế ta mới xứng đáng là môn đệ Chúa và xứng đáng là con cháu các thánh anh hùng tử đạo. Chính những lựa chọn đó đem lại cho ta sự sống đích thực.

Chính những lựa chọn đó đưa ta đến hạnh phúc vĩnh cửu.

– ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

______________________________

Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Ngày 19/06/1988, Đức Gioan Phaolô II đã phong hiển thánh cho 117 vị, trong số 130.000 người Tử Đạo tại Việt Nam, gồm có :

8 Giám mục ; 50 Linh mục ; 14 thầy giảng ; 1 chủng sinh, 44 giáo dân. Trong đó có 10 vị người Pháp, 11 vị người Tân Ban Nha, còn lại 96 người Việt.

Các thánh trên đã Tử Đạo bởi 5 triều đại vua sau đây:

  • Trịnh Nguyễn (1745-1773) : 4 vị.
  • Cảnh Thịnh (1798) : 2 vị.
  • Minh Mạng (1820-1840) : 50 vị.
  • Thiệu Trị (1841-1847) : 3 vị.
  • Tự Đức (1848-1883) : 58 vị.

Các ngài chịu đủ mọi cực hình :

*Bá đao (mỗi người bị cắt 100 miếng thịt) : 1 vị.

*Lăng trì (chặt chân tay trước khi chém đầu) : 4 vị.

*Thiêu sống : 6 vị.

*Chém đầu : 75 vị.

         *Xử giảo (quấn dây vòng cổ rồi kéo hai đầu cho đến chết : 22 vị.

*Rũ tù : 9 vị.

Người cao tuổi nhất như cha Loan 84 tuổi ; trẻ nhất như Tô-ma Thiện 18 tuổi. Trong số 117 vị Tử Đạo chỉ có một phụ nữ là bà A-nê Lê Thị Thành (thánh Đê.)

Các vị trên đủ mọi thành phần trong đạo-đời, quan có, lính có, dân có ; nhưng đa số là giáo sĩ trong Hội Thánh : Giám mục, Linh mục, chủng sinh. Số người trẻ từ 18 đến 40 tuổi chiếm 1/3 trong 117 vị Tử Đạo.

Ngày 15/10/1989, Hội Đồng Giám mục Việt Nam xin Tòa Thánh ghi vào lịch Phụng Vụ thế giới : ngày 24/11 là ngày kính các thánh Tử Đạo, nhằm kỷ niệm ngày thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1958, và được Bộ Phượng Tự chấp thuận ngày 14/02/1990, và đặc biệt được kính trọng thể vào Chúa nhật 33, áp Chúa nhật 34, lễ Chúa Kitô Vua, với hàm ý : 117 vị thánh Tử Đạo tại VN đã phần nào diễn tả chiến thắng của Chúa Giêsu là Vua vũ trụ.

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Ý nghĩa bức họa Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Ý nghĩa bức họa Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Đây là bức tranh được trưng bày trong đại lễ suy tôn Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ngày 19-06-1988 tại quảng trường thánh Phêrô tại Roma, do họa sĩ Gordon Faggetter trình bày.

Bức tranh lấy cảm hứng từ câu 9 trong đoạn 7 của sách Khải Huyền: “Tôi đã thấy một đoàn người đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng rước ngài Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”Theo Thánh Gioan, đám người đông đảo tượng trưng cho muôn vàn vị Tử Ðạo trong lịch sử Giáo Hội hoàn vũ đã bỏ mình vì trung kiên với Thiên Chúa, và hiện nay đang vinh hiển trong cõi hoan lạc trường sinh. Còn trong Giáo Hội VN, 117 Thánh Tử Ðạo tượng trưng cho trên dưới 130,000 bạn đồng hành đã anh dũng hy sinh mạng sống trong suốt 261 năm bách hại: từ sắc chỉ cấm đạo đầu tiên năm 1625, cho tới hết thời Văn Thân (1886).

Đứng hàng thứ nhất chính giữa hình là sáu vị đứng đầu danh sách 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, được XƯỚNG DANH trong nghi thức SUY TÔN đó là: Linh mục Anrê Dũng Lạc, Thanh niên chủng sinh Tôma Thiện và Cụ Trùm gia trưởng Emmmanuel Lê Văn Phụng, đại diện chính thức cho 96 vị thánh Việt Nam, thuộc ba miền Bắc Trung Nam.

Hai giám mục Dòng Đaminh Hermosilla Liêm và Valentino Vinh, đại diện cho 11 thừa sai Tây Ban Nha Dòng Đaminh (6 giám mục – 5 linh mục) và 27 vị khác quốc tịch Việt Nam thuộc gia đình Đaminh, (11 linh mục, 6 thày giảng, 3 linh mục và 7 giáo dân dòng Ba Đaminh)

Linh mục Théophane Vénard Ven, (áo chùng đen, cổ có ba gạch trắng) đại diện cho 10 thừa sai Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris. (gồm 2 giám mục, 8 linh mục). Cũng ở hàng đầu từ trái qua phải là: Linh mục Phaolô Lê Bảo Tịnh, Hai vị Dòng Đaminh tử đạo tiên khởi trong danh sách 117 là cha Vinhsơn Phạm Hiếu Liêm là cha Castaneda Gia (quỳ phía trước).

Quỳ phía bên phải: Quan Thái bộc Micae Hồ Đình Hy.

Sau lưng là ba vị gia đình cụ Án Đaminh Phạm Trọng Khảm, với con trai Luca Phạm Trọng Thìn và người em Giuse Phạm Trọng Tả.

Riêng thánh nữ Annê Lê Thị Thành cũng đứng ngay gần giữa bức tranh, đại diện duy nhất của nữ giới Giáo hội Việt Nam. Thánh nữ đã 60 tuổi, nhưng họa sĩ đã xin phép được vẽ trẻ hơn một chút tính theo tuổi của Nước trời.

Họa sĩ Gordon Faggetter còn chủ tâm vẽ rải rác trong bức họa đủ tám mũ Giám mục, thêm 24 Linh mục triều mặc lễ phục trắng đeo dây stola đỏ, và 7 Thánh Binh trong y phục quân nhân.Dưới chân bức họa là một số dụng cụ gia hình trong các cuộc tử đạo: gông cùm, xiềng xích, dây thừng thắt cổ, roi đòn, kìm kẹp và thanh đao xử trảm.

Cụm hoa sen chỉ ý nghĩa trong sáng của cuộc đời 117 vị thánh, theo biểu tượng văn hóa Việt Nam, Sen tượng trưng người quân tử: “Trong đầm gì đẹp bằng sen… gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Phía sau bức tranh là giang sơn gấm vóc của đất Việt, tượng trưng bằng một số KIẾN TRÚC:

– Chùa Một Cột (Bắc), chùa Thiên Mụ (Trung) và chợ Bến Thành (Nam)

– Và 5 ngôi thánh đường:

Chính tòa Sài Gòn: nơi còn bảo toàn hài cốt một số các vị Tử Ðạo miền Nam;

 La Vang (Huế): chỗ Ðức Mẹ đã hiện ra an ủi đoàn con bị truy nã vì tin theo Chúa Giêsu Kitô (1789);

 Phát Diệm: ngôi thánh đường duy nhất theo kiến trúc Á Ðông, và là nơi vị linh mục chánh xứ Trần Lục xưa kia đã một thời bị bách hại (1858),và bị đầy trên Lạng Sơn (1859-1860);

Bùi Chu: giáo phận đã đóng góp con số tử đạo nhiều nhất (26 vị trong số 117), vì thế mà vẫn là nơi sản xuất dân số Công Giáo đông nhất trong 26 giáo phận Việt Nam;

 Chính tòa Hà Nội: một trong hai giáo phận đầu tiên tại Bắc Việt (1679), là xuất xứ của nhiều vị Tử Ðạo (16 vị, trong đó có Cha Thánh Anrê Dũng Lạc).

– Mở rộng đến tận chân trời là biển khơi và cánh đồng lúa, chính là môi trường truyền giáo của các con cháu các vị Anh Hùng. Họ được kêu mời thêm tin tưởng vững bước tiến vào tương lai. Vì từ trên cao, Đức Kitô với một tay mở rộng đón đợi và một tay đang chúc lành, như muốn lập lại lời Ngài xưa: “Trong thế gian anh em sẽ còn phải gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thày đã thắng thế gian”(Ga 16,33).

Trích “Uống nước nhớ nguồn” của LM-PX- Đào trung Hiệu

Chia sẽ bài viết này trên:

THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2019

ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO
NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2019

“ Cầu chúc toàn thể anh chị em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13, 13).

Kính gửi Quý Thầy Cô giáo !

Tôi xin mượn lời Thánh Phaolô tông đồ của Chúa chúng ta, để thay cho lời chào đầu tiên, đầy chân thành và yêu mến của tôi, người kế tục công việc của Đức Cha nguyên chủ tịch đáng kính Giuse Đinh Đức Đạo, gửi đến tất cả quý thầy cô nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam. Và cũng bằng một tấm lòng như thế, tôi cũng nhớ đến và chào thăm từng người anh chị em giáo chức, vì tuổi tác hay vì bất cứ hoàn cảnh nào, nay đã không còn tiếp tục sự nghiệp giáo dục, mà anh chị em đã một thời tâm huyết. Nhân dịp này, tôi cũng muốn chia sẻ với tất cả anh chị em một chút tâm tình, kèm theo một vài thao thức của tôi trong sự nghiệp “trăm năm trồng người” này.

1. Quý Thầy cô thân mến ! Giờ phút này, với tất những ký ức sâu nặng của tình nghĩa thầy trò mà tôi còn giữ lại, tôi xin phép được cùng với tất cả các bạn học sinh, sinh viên, cả những ai đang thọ giáo trong bất cứ ngành nghề hay lãnh vực nào, bày tỏ lòng tri ân và ngưỡng mộ sâu sắc nhất, đến tất cả quý ân sư, quý thầy cô giáo. Tôi thành tâm kính chúc quý vị, không phải chỉ có ngày đặc biệt này, mà mọi ngày trong cuộc sống của mình, luôn an vui hạnh phúc và ân sủng dồi dào của Chúa ở cùng anh chị em hết thảy ( x.Tt 3, 15 ).

2. Tôi gửi lời chúc dồi dào ân sủng Chúa cho anh chị em, không chỉ đơn thuần là để lời chúc của tôi mang màu sắc Kitô giáo, nhưng là để ước mong cho anh chị em luôn nhớ rằng: công việc của một “kỹ sư tâm hồn” không những là một công việc cao quý, mà còn là một bổn phận nặng nề. Điều này đưa chúng ta đến gần hơn với nền tảng của Giáo Dục Kitô Giáo nơi Công đồng Vatican II: “Nền giáo dục ấy còn giúp họ biết cách thờ phượng Thiên Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4,23), cũng như huấn luyện họ biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (Ep 4, 22-24). Bởi đó, trong cái nhìn đức tin Kitô giáo, sứ mệnh của một người thầy đúng nghĩa, cần và rất cần đến sự trợ giúp của ơn Thánh Chúa, để anh chị em thực thi tốt nhất sứ mạng của mình, cũng như sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh chị em (Ep 4, 1).

3. Trước sự bùng nổ có thể nói là vô tận của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hứa hẹn một diện mạo mới cho nhân loại, nhưng cũng mang theo nhiều thách thức mới cho toàn cầu. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đưa xã hội lên tầm cao mới, nhưng cũng đặt con người trước những thách đố nặng nề. Là một Kitô hữu giáo viên, anh chị em còn được mời gọi thực thi sứ mạng của mình, không chỉ là người chuyển tải kiến thức cho các thế hệ kế tiếp, hay dạy cho học trò biết sống tử tế hiền hòa, nhưng theo tinh thần của Vatican II, chúng ta còn hướng về Chân – Thiện – Mỹ, hướng về Trời Mới – Đất Mới.

4. “Đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa” (2 Tm 1, 8). Đó là lời của Thánh Phaolô khích lệ tất cả chúng ta trong đời sống đức tin của mình. Từ xa xưa trong Cựu Ước, qua trung gian của tổ phụ Môsê, Chúa đã truyền lệnh như một lời tự nguyện cam kết rằng: nếu các ngươi muốn sống và sống hạnh phúc trong phần đất mà Chúa đã hứa ban, thì các ngươi hãy gìn giữ và thực hành những huấn lệnh của Ta. Đồng thời, các ngươi cũng hãy dạy cho con cháu các ngươi những điều ấy”( x.Đnl 4, 1-2. 6-8). Trong Tân Ước, Chúa Giêsu được dân chúng nhìn nhận, dù lúc thuận tiện hay không, luôn là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa (x.Mt 22, 16). Tôi muốn gợi nhớ lại những sự kiện này, để cùng với anh chị em, những giáo chức công giáo trong môi trường giáo dục, thực hiện lời dạy của Thánh Phaolô tông đồ: chúng ta hãy làm chứng cho Chúa trong công việc của mình. Chúng ta chưa có cơ hội để nói về Chúa bằng lời, nhưng chúng ta có nhiều cơ hội để giới thiệu Chúa bằng sự hiện diện của chính mình, sự hiện diện của một Kitô hữu chân chính. Chúng ta chưa có điều kiện để nói về Chúa bằng môn học, nhưng chúng ta nhiều dịp để dạy về Chúa bằng những ứng xử thân ái và chân tình trong cuộc sống của mình.

5. “Hãy ra khơi thả lưới” (Lc 5, 4). Chúng ta hãy học lấy kinh nghiệm của Phêrô và các môn đệ. Trước mắt các ngài, những ngư phủ lâu năm dày dặn kinh nghiệm, là một lời đề nghị vô ích. Thế nhưng, một Phêrô dám vượt lên mọi thách thức của cuộc sống để đáp lại rằng: “vâng lời Thầy, con xin thả lưới” (x.Lc 5, 5). Phêrô và các môn đệ đã can đảm làm lại một lần nữa điều mà các ngài đã từng làm nhiều lần, và giờ đây, đang phải đối diện với nỗi buồn của thất bại. Thế nhưng lần này, lần của hạ mình xuống để làm theo lời Thầy, mang đến một thành công lớn nhất trong cuộc đời ngư phủ của các ngài:“họ đã bắt được rất nhiều cá” (x. Lc 5, 6). Mỗi người trong chúng ta hãy là một Phêrô của 20 thế kỷ về trước, can đảm và tin tưởng thả vào ngôi trường của mình chiếc lưới của lòng nhân ái và bao dung, thả vào lớp học của mình chiếc lưới của tận tình và trách nhiệm. Tôi tin chắc rằng: một kết quả tươi đẹp và mỹ mãn sẽ đến với cuộc sống chúng ta.

6. Cuối cùng, cho phép tôi gửi thêm lời chào thân ái đến tất cả học sinh, sinh viên, những người đang trong giai đoạn trang bị kiến thức cho tương lai đầy hy vọng của mình. Cha ước mong rằng: trong những ngày rộn ràng của Tết Nhà Giáo Việt Nam, cùng với những cánh thiệp của lòng yêu mến, những bông hoa của lòng biết ơn, các con hãy luôn kính trọng thầy cô của mình. Đó không những là nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam biết “tôn sư trọng
đạo”, mà nó còn là một đòi buột được nêu lên trong Giáo lý của Giáo hội Công giáo. (x.GLGHCG, số 2199) Đây mới là món quà cao quý nhất mà mọi người đang mong chờ nơi chúng con, không chỉ là trong ngày đặc biệt này, mà còn trong suốt cuộc đời của các con.

Nguyện xin Đức Maria là gương mẫu cho nền giáo dục Kitô giáo, đồng hành và hướng dẫn chúng ta trong sứ mạng cao quý này.

Thân ái trong Chúa Kitô.

Vĩnh Long, ngày 10 tháng 11 năm 2019
Phêrô Huỳnh Văn Hai
Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long
Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo

File đính kèm UBGDCG20

 

Chia sẽ bài viết này trên: