Month: Tháng Mười Hai 2019

Như Dạ Lý Mùa Xuân – SN Lễ Mẹ Thiên Chúa 2020

Như Dạ Lý Mùa Xuân – SN Lễ Mẹ Thiên Chúa 2020

“Đã có rất nhiều bài Thánh ca tôn vinh Đức Trinh nữ Maria, thế nhưng những ca khúc viết về Đức Mẹ và Mùa Xuân thì lại còn khá khiêm tốn – trong số đó, ca khúc Như Dạ Lý Mùa Xuân của nhạc sĩ Ngọc Kôn, được coi là đã chạm đến những cung bậc cảm xúc bày tỏ lòng mến yêu đối với Mẹ Thiên Chúa…

Nhạc sĩ Ngọc Kôn, tên khai sinh là Phaolô Võ Văn Côn, sinh năm 1950 tại An Hòa, Châu Thành, An Giang (giáo xứ Năng Gù, giáo phận Long Xuyên). Hiện ở tại số 15/2 đường số 5, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức (Giáo xứ Fatima Bình Triệu).

Thời niên thiếu và thanh niên của Võ Văn Côn đã kinh qua các “lò”  đào tạo linh mục như Tiểu Chủng viện Thánh Phụng (Châu Đốc), Têrêxa (Long Xuyên), Đại Chủng viện Thánh Giuse (Sài Gòn), Thánh Tôma Aquinô (Long Xuyên), học xong tháng 12.1975 (chưa được truyền chức linh mục)… Sau khi tốt nghiệp Đại Chủng viện, thầy Côn tình nguyện đi vùng sâu lập lại giáo họ Ong Dèo (tháng 12.1975). Sau một tai nạn không mong muốn vào năm 1976, thầy Côn lưu lạc nhiều nơi, sống trong mòn mỏi để mong được lãnh tác vụ linh mục. Thời gian này, thầy đã đi học thêm và tạm làm nhạc sĩ sáng tác thánh ca để “chờ thời” và tự nâng đỡ “đời tu một mình” – tức sáng tác thánh ca, và chỉ thánh ca… Khởi đi từ năm 1976, bút danh Ngọc Kôn là do người bạn, linh mục nhạc sĩ Duy Linh Phạm Hồng Nhật (hiện ở giáo phận Long Xuyên) đặt cho.

Trước đó, thầy cũng đã được học âm nhạc với linh mục nhạc sư Tiến Dũng từ năm 1965 (khi ngài vừa về nước), bạn đồng học lúc ấy có linh mục nhạc sĩ Văn Chi (Úc), linh mục nhạc sĩ Duy Thiên, linh mục nhạc sĩ Duy Linh Phạm Hồng Nhật (Long Xuyên) và linh mục nhạc sĩ Dao Kim (Mỹ)… Năm 1987, Ngọc Kôn học tiếp âm nhạc nâng cao, đặc biệt là thánh nhạc chuyên ngành với linh mục nhạc sư Tiến Dũng, sau đó được ngài đề cử sang Rôma thi lấy bằng nhạc sư sáng tác, nhưng không đi vì thiếu kinh phí. Không còn thấy hy vọng được lãnh tác vụ linh mục nên Ngọc Kôn hoàn tục và lập gia đình năm 1996, tuy nhiên, bây giờ thì người nhạc sĩ này sống cô độc với đôi mắt bị thương tật trầm trọng…

Hiện nay, nhạc sĩ Ngọc Kôn cùng với linh mục nhạc sĩ Ân Đức (Ocis), linh mục Giuse Trần Thanh Công (chính xứ Vườn Xoài), nhạc sĩ Phan Thanh Dũng, một số nhạc sĩ, ca trưởng, ca sĩ và nghệ sĩ… tạo một môi trường Thánh ca Phụng vụ thể hiện qua ca đoàn và dàn nhạc Thánh Thi (đàn hát Lời Chúa, đàn hát Lời Chúa với cộng đoàn, đàn hát Lời Chúa với cộng đoàn bằng các tác phẩm có hình thể xứng tầm phụng vụ); sau 4 năm thể nghiệm, nay đang hoạt động thường xuyên trong phạm vị toàn quốc (nơi nào muốn thì ca đoàn “tự thân vận động” đến hát trong thánh lễ, không gây phiền hà hay tốn kém cho bất kỳ ai).

Riêng về tác phẩm Như Dạ Lý Mùa Xuân, nhạc sĩ cho biết là đã sáng tác vào năm 1976, bằng nguồn cảm xúc nóng sốt trong một đêm ngắm hoa Dạ Lý nở về khuya, bằng sự đau khổ trong cuộc sống và do lòng muốn tạ ơn Đức Mẹ đã gìn giữ trong những cơn hoạn nạn… Nhạc sĩ đã viết một mạch hết điệp khúc với cảm xúc đột ngột, tình cờ và cháy bỏng, qua hôm sau mới viết tiếp các phần phiên khúc. Trong trạng thái chất ngất, cảm xúc trào tràn, với Ngọc Kôn, điểm nhấn của ca từ là “Con say sưa tìm đến bên Mẹ, không xin gì cũng chẳng dâng gì, chỉ cần nhìn ngắm Mẹ”… Giai điệu như tiếng lòng thổn thức, tiết tấu tự nhiên như hơi thở, chỉ cốt dâng lên Đức Mẹ lời khen ngợi mọi nét đẹp đa dạng và tuyệt mỹ của Người”. (Hà Đình Nguyên; cgvdt.vn).

Ngày đầu năm mới và cũng là ngày Quốc Tế Hòa Bình, Giáo Hội hân hoan cử hành lễ Đức Maria rất thánh, Mẹ Thiên Chúa. Cả hai sự kiện này cùng diễn ra khi Giáo Hội đang cử hành mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, Ngài là Hoàng Tử Bình An, là hòa bình đích thực của nhân loại.

Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban chính Con của Ngài sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria đã được nâng lên địa vị là Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội muốn đặt lễ hôm nay lên hàng đầu của năm tháng ngày giờ.

Giáo Hội mừng lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày đầu năm Dương lịch,cũng là ngày cầu nguyện cho hòa bình thế giới như một nhắc nhớ việc chiêm ngưỡng Mẹ là một Tạo Vật mới tinh tuyền của Thiên Chúa, một Evà mới khởi đầu một thời đại mới, một tạo dựng mới. Kỷ nguyên cứu độ đã khởi sự qua việc Chúa Giêsu nhập thể trong cung lòng Đức Mẹ sau lời xin vâng. Mẹ được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế để bắt đầu kỷ nguyên cứu độ. Nếu Evà cũ đã bất tuân để vùi lấp con người trong khổ đau và sự chết, thì Đức Mẹ với tâm tình xin vâng đã đưa Chúa Giêsu đến với nhân loại mang lại sự sống và tình yêu. Từ đây nhân loại sẽ bước đi trong ánh sáng cứu độ. Chúa Giêsu vị Vua Thái Bình, Hoàng Tử Bình An đã đi vào lòng thế giới, để thiết lập vương quốc Nước Trời qua Mẹ Maria.

Ðức Thánh Cha Phaolô VI đã viết: “Vì sự trùng hợp tốt đẹp giữa ngày 01 tháng giêng với ngày thứ tám giáp lễ Giáng Sinh mà chúng tôi đã đặt ngày đó là ngày Thế Giới Hòa Bình, mà thế giới mỗi ngày càng hưởng ứng thêm, và thành quả của hòa bình đã phát sinh trong lòng nhiều người.” (Marialis Cultus, số 5).

Chúa Giêsu được xưng tụng là Hoàng Tử Hòa Bình, đến chuộc tội nhân loại, giao hòa con người với Chúa Cha. Mẹ Maria luôn gắn bó, hợp tác, hiệp công với Con của mình nên đã trở nên Nữ Vương Hòa Bình cho toàn thế giới. Mẹ đã đóng góp cả cuộc đời mình cùng với Chúa Giêsu mà giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi.

Mẹ được Thiên Chúa sủng ái, và được trở nên cao trọng, vì Mẹ khiêm nhường. Đức khiêm nhường dẫn Mẹ đến chỗ hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa.Từ biến cố Truyền tin, qua lời đáp xin vâng của Mẹ, Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng dạ Mẹ. Đức Maria trở thành Mẹ Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế. Giáo hội đã tuyên bố Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, Người có ngôi vị duy nhất trong hai bản tính. Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Thiên Chúa làm người, nên là Mẹ của Thiên Chúa. Công đồng Êphêsô 431 đã minh định điều ấy khi tuyên tín Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.

Mẹ Thiên Chúa trở thành một tín điều và là mầu nhiệm của đức tin Công Giáo. Tước hiệu này đã trở nên một phần vĩnh viễn trong những kinh tuyên xưng đức tin và trong phụng vụ của toàn thể Giáo Hội Công Giáo.

Chúng ta đặt năm mới này vào tay Đức Mẹ. Xưa Đức Mẹ đã sinh ra Đấng Cứu Thế mở đầu một nhân loại mới, nay xin Đức Mẹ cũng cho năm mới này được chúc phúc, được cứu độ và được hòa bình. Chúng ta cũng cầu nguyện cho mọi người biết noi gương mục đồng, luôn lắng nghe sứ điệp hòa bình, luôn phấn đấu đi tìm đến nguồn mạch hòa bình và luôn phấn khởi loan tin mừng hòa bình.

Năm 2019 đã trôi qua. Ngày 01.01.2020 là thời gian khởi đầu một năm mới. Năm cũ kết thúc để lại dấu ấn 12 tháng đã trôi qua. Thời gian là một vòng tròn, tuần hoàn đều đặn trong đó, 60 phút trong một giờ, 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần… cứ lặp đi lặp lại. Nhưng thời gian là một đường thẳng gồm những sự kiện, phút, giờ, ngày, tháng, năm riêng biệt, mỗi đơn vị trôi qua trong một chuỗi nối tiếp nhau không bao giờ kết thúc. Thời gian đang xoay vần từ những ngày đông chí đến lập xuân, để bắt đầu một mùa xuân mới. Rõ ràng là thời gian đang qua đi, và thời gian không bao giờ trở lại. Thời gian luôn luôn mới, và thời gian không thể luân hồi.

Thời gian là chiều kích tự nhiên của đời người và người đời.Thời gian gắn liền với thân phận mỗi người. Sống trong thời gian là có một khởi đầu và sẽ có một kết thúc.

Thời gian quý giá vẫn liên tục trôi qua không dừng nghỉ. Hãy sống như thế nào để thời gian trở thành một dòng sông, một dòng suối mát cuộn tràn niềm vui và hạnh phúc đến với ta trong dòng chảy không ngừng của nó. Chỉ như thế chúng ta mới không bỏ phí đi giá trị của thời gian, và mới nhận ra được tình yêu đong đầy trong từng phút giây cuộc sống.

Giờ phút linh thiêng của thánh lễ khởi đầu năm mới hôm nay, chúng ta hãy đặt 365 ngày của năm 2020 này dưới sự che chở và nâng đỡ của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta.

Ngày lễ mừng Mẹ Thiên Chúa, nghe lại ca khúc “Như Dạ Lý Mùa Xuân”, một bài hát ngợi ca vẻ đẹp của Đức Mẹ : Như Dạ Lý mùa Xuân. Mẹ đẹp tươi như Dạ lý ngát hương trinh (Dạ Lý thơm ngát hương trinh). Con say sưa lời hát ân tình. Con dâng Mẹ lòng mến chân thành, với trọn tâm tình (tâm tình)… Như Huệ thắm vườn thiêng. Mẹ kiều diễm như Huệ non núi Si-on (Huệ non trên núi Si-on). Con say sưa tìm đến bên Mẹ, không xin gì cũng chẳng dâng gì : Chỉ cần nhìn ngắm Mẹ…”, chúng ta sẽ thấy lòng dâng trào cảm xúc để cầu nguyện với Mẹ Maria – Nữ hoàng của các Mùa Xuân !

Lễ Mẹ Thiên Chúa kết thúc tuần Bát Nhật Giáng Sinh làm tỏa sáng vẻ đẹp kỳ diệu của tình yêu cứu độ. Ngôi Hai đã vâng phục nhập thể cứu rỗi nhân loại. Với tiếng xin vâng, Đức Maria làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể và làm Mẹ hết thảy những ai được tháp nhập vào thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

Ngày đầu Năm Mới, xin Mẹ ban bình an và cho chúng con thêm tuổi thêm khôn ngoan, thêm nhân đức, thêm ơn nghĩa trước mặt Thiên Chúa và mọi người.Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Thánh Lễ trao Ủy Nhiệm Thư HĐMV Giáo Xứ nhiệm kỳ 2020-2024

Thánh Lễ trao Ủy Nhiệm Thư HĐMV Giáo Xứ An Phú
Nhiệm kỳ 2020-2024

Chúa Nhật Lễ Thánh Gia Thất 29/12/2019, tại Giáo xứ An Phú đã trao Ủy nhiệm thư cho Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ trong nhiệm kỳ mới.

DANH SÁCH HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ AN PHÚ NHIỆM KỲ 2020-2024

Danh sách theo hàng từ trái qua phải bắt đầu từ hàng dưới cùng:

Hàng 1: Ông Giuse Đào Duy Đại (Trưởng Họ giáo Hiển Thánh) – Ông Gioan Baotixita Hoàng Văn Quang (Trưởng Họ giáo Hiển Linh) – Ông Gioan Đặng Thành Long (Phó Chủ tịch Ngoại Vụ) – Ông Phêrô Lê Trung Hóa (Chủ Tịch HĐMV) – Cha Martino Bùi Huy Hòa (Chánh xứ)– Ông Antôn Trần Đình Nghiệp (Phó Chủ tịch Nội Vụ) – Bà Lucia Võ Thị Xuân Thu (Thư Ký HĐMV) – Ông Phaolô Nguyễn Văn Hoàng (Thủ Quỹ HĐMV) – Ông Antôn Phạm Quang Vũ (Trưởng Họ giáo Mông Triệu)

Hàng 2:Maria Nguyễn Thị Liễu (Phó Họ giáo Hiển Thánh) – Bà Maria Nguyễn Thị Hòa (Thủ Quỹ Họ giáo Hiển Linh) – Bà Maria Phạm Thị Hường (Thư Ký Họ giáo Hiển Linh) – Bà Catarina Lê Thị Thu Vân (Phó Họ giáo Hiển Linh) – Ông Phêrô Trần Vũ Hằng (Thủ quỹ Họ giáo Thánh Linh) – Ông Phêrô Nguyễn Hiền Lễ (Thư Ký Họ giáo Thánh Linh) – Ông Phaolô Trương Quyền (Phó Họ giáo Thánh Linh) – Ông Phaolô Trần Mạnh Cường (Trưởng Họ giáo Thánh Linh)

Hàng 3:Maria Nguyễn Thị Tuyết Phượng (Thư ký Họ giáo Hiển Thánh) – Ông Gioan Mai Thế Anh (Thủ Quỹ Họ giáo Hiển Thánh) – Ông Giuse Dương Quốc Thành (Phó Họ Giáo Mông Triệu) – Bà Anna Nguyễn Thị Nguyệt (Thư ký Họ giáo Mông Triệu) – Bà Maria Nguyễn Thị Đoan Trang (Thủ Quỹ Họ giáo Mông Triệu) – Ông Giuse Nguyễn Quang Tinh (Hội Trưởng Phạt Tạ Thánh Tâm) – Bà Catarina Vũ Thị Tình (Hội Trưởng Bà Mẹ Công Giáo) – Bà Maria Nguyễn Thị Hà (Hội Trưởng LEGIO)

Hàng 4: Ông Giuse Phan Hữu Phi Hùng (Ủy viên Phòng Thánh) – Ông Giuse Nguyễn Đức Quân (Trưởng ban Phụng Vụ) – Ông Giacôbê Nguyễn Duy Tường Hưng (Đoàn Trưởng Thiếu Nhi ThánhThể) – Ông Giuse Đặng Văn Tuấn (Đoàn Trưởng Ca đoàn Phanxicô) – Bà Maria Đặng Trương Thị Xuân Bích (Đoàn Trưởng Ca đoàn Thiên Thần) – Bà Catarina Nguyễn Thị Thu Huyền (Đoàn Trưởng Ca đoàn Magnificat) – Ông Antôn Phạm Văn Long (Đoàn Trưởng Ca đoàn Giuse)

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Gia đình Kitô hữu cũng là thánh gia thất

Gia đình kitô hữu cũng là thánh gia thất

Một giảng viên giáo lý đặt câu hỏi với các học sinh: “Hôm nay, chúng ta mừng lễ thánh gia thất. Vậy Anh hỏi các em: trong Hội Thánh, có bao nhiêu thánh gia thất”.

Cả chục cánh tay giơ lên xin trả lời vì xem ra câu hỏi nầy dễ ợt. Khi giảng viên mời lần lượt từng em cho câu đáp, tất cả các em đều chung một ý kiến: chỉ có một thánh gia mà thôi, đó là thánh gia thất của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse.

Giảng viên giáo lý cho rằng như vậy chưa chính xác. Các em tỏ ra ngạc nhiên pha lẫn nghi ngờ.

Giảng viên mời bạn Hùng đứng lên và hỏi: – Gia đình em có bao nhiêu người?

– Thưa Anh có bốn, gồm ba, má, chị Hoa và em, Hùng đáp.

– Cám ơn em. Thế thì cả bốn người đã lãnh bí tích rửa tội chưa?

– Thưa Anh, tất cả đều đã lãnh bí tích rửa tội từ nhỏ.

Giảng viên tiếp tục giải thích: – Bí tích rửa tội làm cho chúng ta trở nên chi thể của Chúa Giêsu (giáo lý công giáo 1267.1Cr 6, 15; 12, 27), cho ta được thông phần bản tính Thiên Chúa (giáo lý công giáo 1265. 2Pr 1,4). Vậy thì bốn người trong gia đình bạn Hùng đều là chi thể Chúa Giêsu, đều được thông phần bản tính Thiên Chúa cả. Vậy cả bốn người đó có phải là thánh không?

Sau giây lát suy nghĩ vì câu hỏi có vẻ mới lạ, các em đáp: – Thưa phải.

– Đúng thế, được tháp nhập vào Thân Mình Chúa Giêsu, mọi kitô hữu đều là thánh vì được hiệp thông nên một với Chúa Giêsu chí thánh. Thế nên, qua các thư của mình, thánh Phaolô gọi các kitô hữu là thánh.

Giảng viên tiếp: – Các em biết không, trong hiến chế Tín Lý về Hội Thánh, Công Đồng Vatican II gọi gia đình là hội thánh thu nhỏ hay hội thánh tại gia (LG 11. glcg 1656). Như thế, huấn quyền của Hội Thánh chính thức công nhận gia đình là thánh gia.

Ngoài ra, chính Chúa Giêsu cũng đã thiết lập bí tích hôn phối để thánh hoá đời sống gia đình, nâng gia đình lên một tầm cao mới.

Nói cụ thể hơn, gia đình bạn Hùng có bốn thành viên đều là kitô hữu, đã được hiến thánh qua bí tích rửa tội, thế thì đó là một cộng đồng, một hội có bốn vị thánh cùng chung sống. Vậy thì gia đình nầy là một hội thánh nhỏ, một hội thánh tại gia hay nói khác đi là một thánh gia thất.

* * *

Để có thể xây dựng một công trình kiến trúc bảo đảm kỹ thuật, mỹ thuật và chất lượng, điều kiện đầu tiên phải có là một mô hình hay bản thiết kế. Người thợ xây chỉ việc nhìn vào bản thiết kế hay mô hình đó để thi công thì công việc xây dựng sẽ được tiến hành dễ dàng, suôn sẻ.

Trong việc xây dựng các hội thánh thu nhỏ hay các thánh gia cũng vậy, các kitô hữu cũng cần một mô hình, một bản thiết kế hoàn chỉnh. Chính Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người và bỏ ra suốt ba mươi năm đằng đẳng nhằm kiến tạo nên mô hình tuyệt hảo là Thánh Gia Nadarét làm mẫu mực cho tất cả các thánh gia khác suốt dòng lịch sử dựa theo đó mà xây dựng thánh gia của mình.

Xây dựng gia đình theo mẫu nhà Nadarét là mọi người trong gia đình phải đối xử với nhau như ba Đấng trong thánh gia nầy, cụ thể là chồng phải yêu thương và phục vụ vợ con như thánh Giuse đã yêu mến và phục vụ Đức Mẹ và Chúa Giêsu; người vợ phải yêu thương và chăm sóc chồng như Mẹ Maria đã yêu mến và phục vụ Chúa Giêsu và thánh Giuse; cha mẹ phải yêu mến và chăm lo cho con cái như thánh Giuse và Mẹ Maria chăm lo phục vụ Chúa Giêsu hết tình; con cái trong gia đình phải hiếu kính và phụng dưỡng cha mẹ như Chúa Giêsu đã làm đối với Cha Mẹ Ngài.

Nguyện xin Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh cả Giuse hằng hiện diện trong gia đình chúng con và giúp chúng con xây dựng gia thất chúng con nên giống thánh gia của Ngài.

(Trích từ ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Ignatiô Trần Ngà)

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Gia đình thánh – Lễ Thánh Gia Thất

Gia đình thánh – Lễ Thánh Gia Thất

Có một em bé hỏi mẹ: Mẹ ơi, gia đình thánh gia là gì hả mẹ?

– Là gia đình mà mỗi thành viên đều biết làm theo thánh ý Thiên Chúa.

– Vậy gia đình mình có được gọi là gia đình thánh không hả mẹ?

– Có, nếu ba, má và con đều sống và thực hành lời Chúa thì gia đình chúng ta cũng trở thành thánh.

Nên thánh, làm thánh là mơ ước của mọi người. Ai cũng muốn làm thánh. Ai cũng muốn được vào Nước Trời. Nhưng con đường nên thánh đòi hỏi chúng ta phải biết từ bó ý riêng để ý Chúa được thực hiện trong cuộc đời chúng ta. Con đường nên thánh đòi hỏi chúng ta phải vào cửa hẹp và tránh tìm sự dễ dãi bản thân. Vì đường thênh thang thì nuông chiều bản thân và tính xác thịt. Đường thênh thang chỉ dẫn tới diệt vong. Còn đường hy sinh, đường từ bỏ mới giúp cho chúng ta chiến thắng sự yếu duối bản thân để nên thánh từng ngày trong cuộc sống.

Nhìn vào gia đình Thánh Gia cho chúng ta thấy các ngài luôn đi vào con đường hẹp. Các ngài luôn sống công chính trước mặt Chúa. Sự công chính hệ tại ở việc để ý Chúa được nên trọn trong cuộc đời các ngài. Chúa Giê-su hằng luôn tìm kiếm ý Chúa Cha và thực thi. Thánh Giu-se đã đón nhận ý Chúa khi nhận Maria về nhà làm vợ. Mẹ Maria đã bỏ ý riêng để sống cho ý Chúa qua lời thưa xin vâng. Nếu Chúa Giê-su không đón nhận ý Chúa Cha thì chén đắng cứu độ sẽ không thể thực hiện. Nếu Mẹ Maria không từ bỏ ý riêng để sống cho ý Chúa thì mùa xuân của ơn cứu độ vẫn chưa thực hiện. Nếu thánh Giu-se không bằng lòng đón nhận Mẹ Maria vì ý Chúa thì sự nguy hiểm thật ghê sợ có thể xảy đến với Mẹ. Thế nhưng, ý Chúa các ngài đã thực thi. Chương trình của Chúa Cha đã hoàn tất nhờ sự vâng phục của các ngài. Cũng nhờ sự chung lòng chung ý mà gia đình thánh gia luôn gìn giữ được sự bình an và hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày.

Thực vậy, gia đình mà mỗi người một ý sẽ tan nát, sẽ chẳng ai nói ai nghe. Gia đình mà ai cũng đề cao ý riêng của mình sẽ là một hỏa ngục vì lúc nào cũng xảy ra tranh cãi tương tàn. Nhưng nếu mỗi người biết bỏ ý riêng để ý Chúa được thực hiện sẽ mang lại cho gia đình những giây phút bình an hạnh phúc. Chính khi biết từ bỏ ý riêng con người mới khiêm tốn đón nhận nhau, yêu thương nhau hầu tránh được những bất hòa đổ vỡ. Nhất là biết đón nhận nhau vì Chúa thì chắc chắn sẽ xây dựng được một gia đình thánh. Một thiên đường hạnh phúc ngay ở cuộc đời này.

Thực thi ý Chúa không phải là lời mời gọi mà là luật buộc chúng ta, vì không phải những ai kêu lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời đâu mà là những ai thực thi lời Chúa mới được vào Nước Trời.

Có một câu chuyện kể rằng: Một nông dân nghèo được vào thiên đàng, ông nhìn thấy người ta mang những vật rất kỳ lạ vào trong nhà bếp. Ông thắc mắc và lên tiếng hỏi: Cái gì thế? Có phải để nấu súp không?

Không phải. Đó là những cái tai của con người. Khi sống ở trần gian, tai giúp họ nghe những điều tốt lành, nhưng họ không làm điều tốt lành đó. Khi chết, chỉ có tai của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.

Một lát sau, người nông dân lại nhìn thấy người ta mang vào nhà bếp những vật kỳ lạ khác. Ông cũng lên tiếng hỏi: Cái gì thế? Có phải để nấu súp không?

Không phải. Đó là những cái lưỡi của con người. Khi sống trên đời, lưỡi khuyên bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ lại không sống; không làm những điều tốt lành đó. Khi chết, chỉ có lưỡi của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.

Gia đình nào cũng muốn được hạnh phúc. Gia đình nào cũng muốn thuận vợ thuận chồng để gia đình thăng tiến. Điều tiên quyết là mỗi người hãy để cho ý Chúa dẫn dắt. Hãy trở thành một khí cụ để thực hiện chương trình của Chúa. Hãy là những người không dừng lại ở lời nói lạy Chúa, lạy Chúa mà là những người luôn lắng nghe và thực thi Lời Chúa.

Ước gì mỗi gia đình trong giáo xứ chúng ta đều là những gia đình thánh. Ước gì từng người luôn là thánh khi biết chết đi cái tôi của mình để sống cho gia đình và nhất là cho ý Chúa được thể hiện. Amen.

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Chia sẽ bài viết này trên:

Đêm nhạc Thánh Ca – Giáng Sinh An Lành

Đêm nhạc Thánh Ca – Giáng Sinh An Lành
Lúc 19g30, Chúa Nhật 22/12/2019.

Với sự góp mặt của các Ca sĩ Diệu Hiền, Khánh Hòa, Xuân Trường, Hoàng Kim, Khắc Thiệu, Nhóm CS Nhạc Viện TP & các giọng ca đặc sắc của các ca đoàn – hội đoàn Giáo xứ An Phú – Giáo xứ Bắc Hà…. Dẫn Chương Trình MC Minh Khoa – Đông Quân

Kính mời cộng đoàn tham dự!

https://www.facebook.com/events/440470109913956/

 

Đêm nhạc Thánh Ca – Giáng Sinh An Lành 2019

Đêm nhạc Thánh Ca – Giáng Sinh An LànhLúc 19g30, Chúa Nhật 22/12/2019.Với sự góp mặt của các Ca sĩ Diệu Hiền, Khánh Hòa, Xuân Trường, Hoàng Kim, Khắc Thiệu, Nhóm CS Nhạc Viện TP & các giọng ca đặc sắc của các ca đoàn – hội đoàn Giáo xứ An Phú – Giáo xứ Bắc Hà…. Dẫn Chương Trình MC Minh Khoa – Đông Quân

Người đăng: Giáo Xứ An Phú – Hạt Tân Định – TGP Sài Gòn vào Chủ nhật, 22 tháng 12, 2019

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Gia đình sống đức tin trong Mùa Vọng và Giáng Sinh

Gia đình sống đức tin trong Mùa Vọng và Giáng Sinh

Giáo hội Công giáo đã dành 4 tuần trước lễ Giáng Sinh làm mùa Vọng, khoảng thời gian “dọn đường” cho Ngôi Hai Thiên Chúa, Thiên Vương và Đấng Cứu Độ. Giáo lý Công giáo, số 524, cho biết: Hằng năm, khi cử hành phụng vụ mùa Vọng, Giáo hội mong chờ Đấng Thiên Sai thể hiện qua việc chuẩn bị cho Đấng Cứu Độ đến lần thứ nhất, đồng thời các tín hữu cũng mong chờ Ngài đến lần thứ hai. Khi cử hành sinh nhật và sự tử đạo của Thánh Gioan Tẩy giả, Giáo hội liên kết chính mình với ước muốn của Thánh Gioan: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3:30).

Nhờ tham dự các truyền thống lâu đời, chẳng hạn làm cây Nô-en tại gia đình, người Công giáo có thể sống Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh.

Chúng ta sống Năm Phụng Vụ với các màu sắc vui và buồn, người Công giáo sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Là cha mẹ Công giáo, chúng ta phải tái lập sự ưu tiên và giáo dục con cái sống đức tin, cả trong và ngoài gia đình.

Mùa Vọng bắt đầu Năm Phụng Vụ mới, đó là thời gian chuẩn bị tâm linh, đánh dấu bằng sự khao khát mong chờ Chúa Cứu Thế Giêsu giáng sinh. Có những cách thực hành Mùa Vọng theo lối cổ xưa, một số được nhắc tới trong YẾU TỐ ĐỨC TIN, giúp chúng ta sống kết hiệp với Đức Kitô mật thiết hơn. Các việc thực hành này đã được kiểm chứng qua thời gian. Người ta dạy giáo lý về ơn cứu độ và sống rộng lòng với Thiên Chúa (x. Giáo lý Công giáo, số 2222-2226). Sống đức tin mạnh mẽ trong gia đình sẽ trở thành gia sản và là cách củng cố tôn giáo tập trung vào phụng vụ.

Hang đá hoặc máng cỏ là gia đình, đầy những cọng rơm là những sự hy sinh nhỏ, cây nến Đức Maria được thắp sáng khi hát Thánh vịnh hoặc đọc kinh nhắc nhở con cái hướng tới lễ Giáng Sinh. Chuẩn bị như vậy trong Mùa Vọng làm cho chúng ta thực sự mừng lễ Giáng Sinh với lòng thành kính thánh thiện. Giáo hội khuyến khích tham dự Thánh lễ hằng ngày trong Mùa Vọng, vì qua Thánh Thể, chúng ta tìm được nguồn sống và mục đích của Mùa Vọng: Chính Đức Kitô đã giao hòa chúng ta với Thiên Chúa (x. Giáo lý Công giáo, số 1436; Eucharisticum Mysterium, số 29).

Giáo hội cử hành Mùa Giáng Sinh từ lễ Giáng Sinh tới lễ Hiển Linh, Đức Kitô tỏ mình cho thế gian biết Ngài là Đấng Cứu Thế (x. Mt 2:1-12). Theo truyền thống, Giáo hội cũng mừng lễ Giáng Sinh trong 40 ngày, đỉnh điểm là lễ Đức Mẹ Dâng Con (ngày 2 tháng Hai).

Đây là một số truyền thống Mùa Vọng:

Vòng lá Mùa Vọng: Có nguồn gốc từ Đức quốc, và là tục lệ Mùa Vọng được biết đến nhiều nhất. Đó là những lá xanh được kết lại thành vòng tròn, là biểu tượng thời gian chờ đợi từ ông Adam tới khi Đức Kitô giáng sinh; đó cũng là những năm tháng chúng ta chờ đợi Đức Kitô tái lâm. Vòng lá có bốn cây nến với khoảng cách đều nhau, ba cây màu tím thắp sáng vào các Chúa Nhật Mùa Vọng “sám hối” và cây màu hồng thắp sáng vào Chúa Nhật “vui mừng” (Gaudete), tức là Chúa Nhật III Mùa Vọng.

Máng cỏ, Hang đá: Các gia đình thường làm máng cỏ hoặc hang đá, lớn hoặc nhỏ, đầy đủ chi tiết hoặc đơn giản. Hang đá nói lên tinh thần phục vụ, hy sinh, hoặc tử tế, làm vậy để mừng Hài Nhi Giêsu như món quà sinh nhật ý nghĩa, trẻ em đặt những cọng rơm vào máng cỏ cho Chúa Giêsu ấm. Hãy khuyến khích trẻ em làm “giường êm” cho Thánh Nhi Giêsu, đó là cố gắng thực hiện các việc làm tốt. Hãy cho trẻ biết rằng dâng Chúa Hài Đồng “món quà” gì cũng được, không cần giá trị vật chất, chủ yếu là tinh thần và nói lên sự đoàn tụ trong gia đình của Chúa.

Thánh gia là hình ảnh một gia đình hạnh phúc, nhắc nhở mọi người phải biết nhường nhịn và yêu thương nhau chân thành. Đức Mẹ và Đức Thánh Giuse vất vả suốt hành trình về quê hương, rồi Chúa Giêsu ra đời trong cảnh nghèo khó. Điều đó nhắc nhở chúng ta hướng về những người nghèo, có thể thì chia sẻ với họ một chút quà thì thật là ý nghĩa, thiện cử này rất đẹp lòng Chúa.

Cây Gie-se: Cây Gie-se nhắc chúng ta nhớ tới gia phả Đức Kitô (x. Mt 1:1-17). Cây Gie-se là biểu tượng gia phả Chúa Giêsu, liên quan Kinh thánh với lịch sử cứu độ, từ khai thiên lập địa tới Đức Kitô. Có thể dùng một cây xanh nào đó để nhắc nhở mọi người về ý nghĩa cứu độ trong Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh.

Lễ Thánh Nicôla: Lễ Thánh Nicôla ngày 6 tháng Mười Hai, làm nổi bật Mùa Vọng. Thánh Nicôla được quen gọi là Ông Già Nô-en, một ông già tốt bụng và hào phóng với các trẻ em ngoan ngoãn. Trẻ em hy vọng nhận được quà của ông già này để biết mình là đứa trẻ ngoan.

Nến Đức Kitô: Đó là cây nến trắng và lớn, biểu tượng của Đức Kitô là Ánh Sáng Thế Gian, Nguồn Sáng Cứu Độ. Nến này được thắp suốt năm vào bữa cơm chiều Chúa Nhật, nhắc nhở mọi người mong chờ Đức Kitô, đồng thời cử hành sự giáng sinh và phục sinh của Ngài.

Nến Đức Maria: Một số gia đình có thói quen trang trí Nến Đức Kitô bằng miếng vải voan vào ngày 8 tháng Mười Hai, lễ Mẹ Vô Nhiễm. Vào ngày lễ trọng này, một số người đặt một cây nến có dải vải xanh trước tượng Đức Mẹ, người đã “xin vâng” để Chúa Con nhập thể làm người và giáng trần. Nến thắp sáng trong các bữa ăn để nhắc nhở việc Đức Maria mang thai Đấng là “Ánh sáng Thế gian”. Điều này cũng nhắc nhở các thành viên trong gia đình giữ cho ánh sáng ân sủng luôn cháy sáng khi mong chờ Đức Kitô đến thế gian.

Bánh Thánh Lucia: Lễ Thánh Lucia, trinh nữ tử đạo, ngày 13 tháng Mười Hai. Lễ này đánh dấu bắt đầu Mùa Giáng Sinh ở Thụy Điển. Người ta có những công thức làm loại bánh truyền thống này.

Bánh Giáng Sinh: Có nhiều công thức làm bánh này. Người ta làm bánh vào khoảng ngày 20 tháng Mười Hai. Đến lễ Giáng Sinh, mọi người trong gia đình cùng nướng bánh và thưởng thức bánh. Ngôi Hai giáng sinh làm người để cứu độ nhân loại, niềm hạnh phúc lớn lao biết bao!

Cây Nô-en: Cũng gọi là Cây Giáng Sinh. Càng ngày người ta càng muốn Cây Giáng Sinh được làm phép, như phước lành của gia đình trong dịp Giáng Sinh thánh đức. Cha mẹ nên nhắc con cái rằng Cây này liên quan các lĩnh vực của đức tin. Chẳng hạn, cha mẹ có thể nhắc nhở rằng cha mẹ đầu tiên của chúng ta không được phép ăn trái của một cây gọi là Cây Cấm, nhưng họ đã bất tuân vì nghe lời xúi dại của ma quỷ. Chúa Giêsu đã phải trả giá cho chúng ta bằng cách phải chết treo trên Cây Thánh Giá (x. Cv 5:29-32).

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Ngôi Lời đã mặc xác phàm và nhập thể qua cung lòng Trinh Nữ Maria để cứu độ chúng con. Xin tạ ơn Ngài. Xin giúp chúng con biết dọn đường cho Chua Con đến, và biết dọn sạch “máng cỏ tâm hồn” để xứng đáng làm nơi ngự xuống hằng ngày. Xin Thánh Linh chuẩn bị cho chúng con để xứng đáng đón tiếp Đấng Cứu Thế. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ CatholicEducation.org)
Nguồn: Giáo phận Nha Trang

Chia sẽ bài viết này trên:

Thư gửi sinh viên, học sinh Công giáo nhân dịp mừng lễ Chúa Giáng Sinh 2019

ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Thư gửi sinh viên, học sinh Công Giáo nhân dịp mừng Lễ Chúa Giáng Sinh 2019

Chúng con thân mến !

Hàng năm, cứ vào những ngày trung tuần của tháng 12 dương lịch, người người ở khắp nơi trên thế giới lại nao nức chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng Sinh, một ngày lễ dường như không còn đóng khung bởi niềm tin Tôn giáo, mà dần trở thành ngày lễ đặc biệt cho hết thảy mọi người. Trong niềm vui của ngày lễ này, cha thân ái gửi lời chào đến với từng người chúng con, kèm theo lời Chúc mừng Giáng sinh thật đơn sơ: cha mến chúc chúng con và gia quyến một Mùa Giáng Sinh An Lành – Thánh Đức. Ước mong cho niềm vui đức tin của người Kitô hữu, luôn hiện diện trong cuộc sống đầy trẻ trung và năng động của chúng con. Nhân dịp này, theo lời Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết: “Hang đá máng cỏ chứa đựng nhiều mầu nhiệm khác nhau về cuộc đời của Chúa Giêsu và làm cho những mầu nhiệm ấy gần gũi với đời sống hằng ngày của chúng ta” (x. Tông thư về ý nghĩa và giá trị của hang đá máng cỏ, số 2), cha cũng muốn chia sẻ với chúng con một chút tâm tình, để cùng với chúng con dâng lời tạ ơn Chúa Hài Đồng khi đứng trước máng cỏ Giáng sinh.

1. Giáng Sinh trong cảnh cơ hàn

Cuộc đời Chúa Giêsu được mô tả trong phúc âm dường như gắn liền với hai chữ “nghèo khó”. Trước nhất, Thánh Giuse, người bảo bọc khiêm nhường tuyệt đối, chỉ được nhắc đến với một tên gọi thật đơn giản như chính công việc hàng ngày của mình: “Người Công Chính” (x. Mt 1, 19). Kế đến, Mẹ Maria xuất hiện trong hình ảnh một thiếu nữ vùng quê bình dị, trong sáng, được biểu lộ qua sự bối rối đầy chân thành trước lời loan báo của sứ thần (x. Mt 1, 28-34). Việc hai ông bà phải trở về nguyên quán để khai sổ bộ theo lệnh truyền của Hoàng đế Augustô lúc bấy giờ (x. Lc 2, 3), như thêm một bằng chứng về việc mưu sinh của những người thiếu thốn. Sự nghèo khó của gia đình Nagiaret này được các Thánh sử mô tả một cách cảm động hơn qua những hình ảnh thật ngỡ ngàng và xúc động trong câu chuyện Giáng sinh: Chúa Hài Đồng mới sinh được đặt nằm trong máng cỏ vì không tìm được chỗ trọ; Những người được đón nhận tin vui đầu tiên không phải là những cao nhân hay văn sĩ trí thức, nhưng là các mục đồng đơn sơ và khiêm tốn (x. Lc 2, 7-8). Tại sao Chúa chúng ta lại chọn sự nghèo khó làm con đường để bước vào trần thế này?

2. Thông điệp của mầu nhiệm Giáng Sinh.

Chúng ta không hiểu được trọn vẹn mầu nhiệm Giáng sinh, nhưng nếu dựa theo cách diễn đạt của Thánh Phaolô để trả lời cho câu hỏi trên, thì chúng ta cũng có thể phần nào hiểu thêm về mầu nhiệm cao cả ấy. Ngài đã viết cho giáo đoàn Côrintô rằng: “Quả thật, anh em biết Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8, 9). Như thế, theo xác tín của vị Tông đồ dân ngoại, lý do sâu xa khiến Thiên Chúa quyền năng vô biên, trở nên nghèo khó đơn sơ khi xuống thế làm người, không phải là sự túng thiếu vì hoàn cảnh phải như thế, nhưng là vì chúng ta và cho chúng ta, để chúng ta nhờ sự nghèo khó của Người, trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa. Thật vậy, Thiên Chúa đã thật sự trở nên nghèo khó khi từ bỏ trời cao, xuống thế làm người để gánh lấy những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta. Cái nghèo nhiệm mầu ấy đưa chúng ta được trở về làm con Thiên Chúa, và được đồng thừa tự với Người trong nước Chúa (x. Rm 8, 16-17). Đồng thời, trong cái nhìn đầy tính nhân văn của Kitô giáo, khi suy tư về máng cỏ Bêlem nghèo khó, Đức Thánh Cha Phanxicô đã làm rõ nét thêm về sự nghèo khó ấy khi viết rằng: “Từ hang đá máng cỏ, với quyền năng dịu hiền, Chúa Giêsu công bố lời mời gọi chia sẻ với những người rốt cùng con đường dẫn đến một thế giới nhân bản và huynh đệ hơn, nơi mà không một ai bị loại trừ và gạt ra ngoài lề” (x. Tông thư về ý nghĩa và giá trị của hang đá máng cỏ, số 6).

3. Sống tinh thần nghèo khó nơi mầu nhiệm Giáng Sinh

Chúng con thân mến ! thật là thích hợp để thêm một lần nữa, trích dẫn lời của vị cha chung của Giáo hội hoàn vũ hôm nay: “Khi nhìn cảnh tượng này trong hang đá máng cỏ, chúng ta được mời gọi suy tư về trách nhiệm của mỗi Kitô hữu như người loan báo Tin Mừng. Mỗi người chúng ta trở thành người mang Tin Mừng cho những người mà chúng ta gặp, làm chứng về niềm vui đã được gặp Chúa Giêsu và tình thương của Chúa bằng những hành động cụ thể về lòng thương xót” (x. Tông thư về ý nghĩa và giá trị của hang đá máng cỏ, số 9). Vậy, mỗi người trong chúng ta khi sống mầu nhiệm Giáng sinh này, hãy là một ánh sao nhỏ chiếu sáng tình thương của Chúa cho gia đình và bạn bè của mình. Có lẽ chúng con sẽ đồng ý với cha rằng chỉ có ai biết sống yêu thương, người ấy mới nhận được hạnh phúc thật. Vậy chúng con đừng chậm trễ nữa, bởi vì rất nhiều người, trong đó có người thân trong gia đình, có bạn bè trang lứa, đang cần nơi chúng con một cái nhìn thiện cảm, một nụ cười cảm thông, một câu nói khích lệ. Chúng con đừng ngại ngùng khi nói một lời tha thứ, đừng chần chừ để thực hiện một cử chỉ bao dung, đừng quá tính toán khi làm một việc bác ái. Hãy nhìn về tấm gương nhẫn nại và kiên trì của các nhà Đạo sĩ trên con đường tìm đến hang đá Bêlem. Bằng cách ấy, cha tin rằng chúng con cũng sẽ gặp được Chúa Hài Đồng nơi máng cỏ và nơi những người chúng con gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày của mình.

4. Lời chào cuối thư

Một lần nữa, với tất cả lòng yêu mến của cha dành cho từng người chúng con, cha cầu xin Chúa Hài Đồng luôn ban cho chúng con niềm vui tươi trẻ của Người. Nguyện xin ánh mắt trìu mến và yêu thương của Người, bao bọc và gìn giữ tất cả chúng ta trong bình an của Tình Yêu Giáng Sinh, như lời Sứ thần loan báo: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2, 14).

Vĩnh Long, ngày 15 tháng 12 năm 2019.
Phêrô Huỳnh Văn Hai
Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long
Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo / HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

Tìm Hiểu về Lễ Giáng Sinh

Tìm Hiểu về Lễ Giáng Sinh

Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi.

Khung cảnh Giáng Sinh được trang trí lộng lẫy khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị, vô số những tấm thiệp được gởi để chúc mừng nhau. Hơn 2000 năm qua, thế giới đánh dấu việc giáng sinh của Chúa Giêsu là lễ hội vui mừng nhất. Không có ngày nào trong năm vui mừng như vậy.

Chưa một Công đồng nào hoặc một Giáo hoàng nào công bố như vậy. Nhưng mỗi năm, Giáng Sinh đến như làn gió Đông bất ngờ thổi vào Tháng Mười Hai, như ánh nắng lấp lánh phản chiếu trên tuyết trắng xóa. Cảm giác rất lạ, đang từ mùa Đông cằn cỗi tới mùa ánh sáng vui mừng.

Giáng Sinh đầu tiên – ngày Chúa Giêsu giáng trần – là “cú sốc” đối với lịch sử nhận loại. Trải qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã sống và đã chết trong tội mà không biết, cảnh khốn khổ của thế gian này không thể tránh khỏi và niềm vui quá ít mà mau qua. Giáng Sinh tới, lịch sử được chia làm đôi: Trước ngày đó (trước Công nguyên), và sau ngày đó (sau Công nguyên). Thế giới hoàn toàn thay đổi. Vì Ơn Cứu Độ khởi đầu từ khi Thiên Chúa hóa thành nhục thể, khi Thiên Chúa hạ sinh tại Belem.

Thiên Chúa đến ở với chúng ta trên thế gian này. Thánh Gioan khởi đầu Phúc Âm bằng cách diễn tả một Thiên Chúa rất quyền năng, rất xa xôi, nhưng Ngài đã vượt qua tất cả vì yêu thương nhân loại: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:1-5).

Đó là Thiên Chúa mà chính các triết gia ngoại giáo cũng biết, họ gọi Ngài là Động Lực Đầu Tiên, Tạo Hóa, Thượng Đế. Kịch bản của Thánh Gioan đã đạt tới đỉnh điểm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).

Đây là tin “giật gân”. Từ trời cao xa, từ thời điểm xa nhất, chính Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể và “cắm lều” ở giữa Dân Ngài. Từ đời đời, Thiên Chúa là Ngôi Lời, nhưng không ai nắm bắt được Ngôi Lời. Bây giờ Ngài hóa thành Hài Nhi, và người ta có thể bồng bế hoặc ôm ấp Hài Nhi.

Theo sự thật lạ lùng của Kitô giáo, không gì táo bạo như điều này: Ngôi lời sinh ra tại một ngôi làng nhỏ, trong một hang đầy thú vật, vào một đêm vừa lạnh giá vừa tăm tối. Ngôi Lời đã làm người và đã thay đổi mọi thứ. Điều này làm cho lễ Giáng Sinh trở thành lễ gây sốc nhất trong lịch.

Ý nghĩa lễ Giáng Sinh được gom lại trong điều này. Thiên Chúa đã sống trong một gia đình như chúng ta. Ngài cũng run người vì lạnh như chúng ta. Ngôi-Lời-mặc-xác-phàm cũng đã bú sữa mẹ như các em bé khác, cũng khóc lóc khi cơ thể bất an. Hoàn toàn như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.

Truyền thống cho chúng ta biết rằng Thánh Gioan viết đoạn mở đầu cho Phúc Âm của ngài khi được linh hứng cao độ. Bạn bè của ngài đã bảo ngài viết chuyện đời Chúa Giêsu, thế nên ngài bảo họ ủng hộ ngài bằng cách ăn chay và cầu nguyện. Khi ăn chay xong, Thần Khí ngự xuống trên Thánh Gioan, và ngài như không còn là chính mình. Ngôn từ cứ tuôn trào – có thể chính là những từ mà ngài cố gắng tìm mà chưa bao giờ tìm được.

Chúng ta có thể thấy lạ trong giọng điệu khi ngài nói với chúng ta rằng Ngôi Lời trở nên người phàm. Khi ngài viết, hẳn là ngài cũng cảm thấy rất hưng phấn, như lần đầu đến nhà của thợ mộc Giêsu ở làng Nadarét, Đấng Được Xức Dầu, Con Thiên Chúa.

Sự ngạc nhiên này cũng có trong thư thứ nhất của Thánh Gioan. Theo truyền thống, Thánh Gioan viết lá thư đó 66 năm sau khi Chúa Giêsu về trời, nhưng vẫn có sự ngạc nhiên trong lối hành văn của ngài. Ngài vẫn như thể không tin được rằng “điều đó là từ khởi đầu” cũng là “điều mà chúng ta nghe, thấy và sờ được”.

* * *

Trong thời Giáo hội sơ khai, lễ Giáng Sinh không là lễ quan trọng. Cuộc đời Chúa Giêsu vẫn là ký ức sống, và sự phục sinh của Ngài vẫn chiếm vị trí trung tâm trong lịch. Nhưng theo thời gian, các thầy dạy giả mạo bắt đầu không chịu nhận nhân tính nơi Chúa Giêsu. Họ cho rằng cơ thể Chúa Giêsu là cách cải trang tinh vi, chứ Thiên Chúa không bao giờ hạ giá chính Ngài bằng cách “mặc lấy xác phàm”. Sau đó, các tà thuyết từ chối việc Đức Mẹ sinh ra Ngôi Lời. Họ nói rằng Đức Mẹ sinh ra “thùng” chứa đựng Ngôi Lời. Các tà thuyết vẫn cho rằng Chúa Con là phần phụ, như thần thánh, chứ không đồng bản thể và vĩnh hằng với Chúa Cha.

Các tà thuyết này có một điểm chung: Không chấp nhận việc làm người của Con Thiên Chúa. Arius là người lập ra tà thuyết Arian, ông là người giỏi về luận lý. Ông từ chối tín điều Tam Vị Nhất Thể (Chúa Ba Ngôi), ông cho rằng ba không thể là một, đó là số học sơ đẳng. Thiên Chúa vô hạn không thể làm người hữu hạn, đó là triết học sơ đẳng. Do đó không thể có việc Thiên Chúa làm người.

Những người lạc giáo như Arius muốn dành cho Thiên Chúa sự sỉ nhục không thể lý giải của sự lệch lạc vì kết hợp quá sát với bản tính nhân loại. Đó cũng là vấn đề tương tự mà nhóm Pharisêu không thể vượt qua: Nếu Ông Giêsu này quá tốt, tại sao Ngài thân thiết với người tội lỗi và người thu thuế? Thật vậy, mặc dù những người theo tà thuyết khăng khăng cho rằng họ bảo vệ sự hoàn hảo của Thần tính, họ vẫn thực sự từ khước sự hoàn hảo của tình yêu Thiên Chúa. Cuối cùng, tình yêu có thể có vẻ bất khả lý luận. Bất kỳ ai đánh giá người khác như chính mình đều có vẻ hoàn toàn thái quá.

Hầu như không thể trùng khớp việc kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giêsu theo lịch sử và theo nghĩa đen, Ngài là con bác thợ mộc bắt đầu đảm trách việc quan trọng hơn khi đức tin đích thực bị choán bởi các sai lầm rất nguy hiểm là tứ chối việc hóa thành nhục thể. Mừng Con Thiên Chúa giáng sinh là tách điều chính thống với tà thuyết. Mừng Chúa Giáng Sinh đưa Giáo hội tới nguyên tắc rõ ràng.

* * *

Từ đầu, không có sự thống nhất về ngày lễ Giáng Sinh. Giáo hội ở Ai Cập đặt ngày Đức Kitô giáng sinh vào tháng Tư hoặc tháng Năm. Các Giáo hội khác đặt vào tháng Ba, hoặc bất kỳ tháng nào mà họ thích. Điều cũng phổ biến là kết hợp lễ Giáng Sinh với lễ Hiển Linh (Ba Vua), đặ cả hai lễ này vào ngày 6 tháng 1. Nhưng khoảng thập niên 400, lễ Giáng Sinh được ấn định ngày 25 tháng 12 cho tới ngày nay.

Có ít nhất ba giả thuyết về lễ Giáng Sinh được mừng vào ngày 25 tháng 12. Cả ba đều hợp lý.

Giả thuyết thứ nhất đơn giản nhất. Chuyện xưa kể rằng, khoảng năm 350, ĐGH Julius I tìm ngày Chúa Giêsu giáng sinh trong hồ sơ điều tra dân số. Không thấy trong hồ sơ có thông tin về 350 năm sau đó. Chúng ta biết qua Phúc Âm theo Thánh Luca rằng Chúa Giêsu sinh ra trong thời gian điều tra dân số. Người Rôma, với sự tôn trọng mệnh lệnh, có thể đã giữ hồ sơ quá kỹ ở nơi nào đó tại Rôma nên không thể phát hiện.

Giả thuyết thứ nhì cho rằng các Kitô hữu không thể bỏ lễ kỷ niệm giữa mùa Đông của người ngoại giáo, nên dùng ngày đó luôn. Xuyên suốt lịch sử, người ta đã bỏ qua những ngày ngắn trong năm như ngày Đông chí hoặc Hạ chí. Khi ngày bắt đầu dài trở lại, nghĩa là mùa Đông cũng qua, và thế giới sẽ tái sinh vào mùa Xuân.

Nguồn gốc ngoại giáo của ngày này không làm chúng ta thành xấu xa. Thật vậy, nhiều truyền thống Kitô giáo đã có nguồn gốc từ ngoại giáo. Chẳng hạn cây Giáng Sinh không liên quan gì tới ngày Chúa Giêsu giáng sinh, nhưng chắc chắn mang ý nghĩa là nghi lễ giữa mùa Đông của ngoại giáo: Nhờ sự thông cảm, chúng ta đem tinh thần này vào ngày lễ bằng một cây xanh – cây này vẫn sống khi các cây khác đã chết khô. Và đó cũng là biểu tượng xứng hợp đối với các Kitô hữu. Cây xanh là phép ẩn dụ minh nhiên về niềm hy vọng của cuộc sống mới mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta.

Còn nữa, đèn nến mà chúng ta thắp sáng khắp nơi trong lễ Giáng Sinh có thể là sự sống còn của nghi lễ ngoại giáo – một lần nữa lại là dạng thông cảm, lửa thắp sáng để làm mặt trời chết sống lại. Nhưng ánh sáng luôn là biểu tượng ưa thích của Kitô giáo.

Chúng ta biết rằng Giáo hội thời sơ khai thường lợi dụng niềm tin hoặc tục lệ của dân địa phương để loan truyền Phúc Âm. Chính Thánh Phaolô đã có một câu nổi tiếng được khắc trên bàn thờ dâng kính một vị thần ở A-thê-na (Athens): “Thưa quý vị người A-thê-na, tôi thấy rằng, về mọi mặt, quý vị là người sùng đạo hơn ai hết.23 Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi thờ phượng của quý vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: Kính thần vô danh. Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17:23). Tinh thần của Thánh Phaolô có rất nhiều trong Giáo hội trong việc phát triển cách hiểu của Kitô giáo về các lễ hội được ưa thích của người ngoại giáo, giải thích cho những người chuyển đạo rằng họ thực sự tôn thờ không chỉ Thần ánh sáng mà là Chúa Nguồn Sáng.

Giả thuyết thứ ba giải thích về ngày 25 tháng 12 là nó thích hợp với khái niệm của Giáo hội sơ khai về sự sống hoàn hảo của Chúa Giêsu. Truyền thống nói rằng Chúa Giêsu chết ngày 25 tháng 3. Các thần học gia lý luận rằng, để sự sống của Ngài hoàn hảo, Ngài cũng phải được thụ thai vào ngày 25 tháng 3, rồi sinh ra 9 tháng sau đó.

Ý tưởng về sự sống của Chúa Giêsu có sự hoàn hảo về mỹ học phải làm thỏa mãn thời đại cho tới thời triết học tân Platon. Điều đó đã làm thỏa mãn các nhà thông thái cũng như lễ hội giữa mùa Đông làm thỏa mãn tình cảm của dân chúng.

Các giả thuyết này đều có thể là thật. Chẳng hạn, người ta tưởng tượng rằng Đức giáo hoàng đã khám phá ngày tháng trong cuộc điều tra dân số, và Giáo hội lợi dụng sự thích hợp đó với ngày tháng của lễ hội ưa thích của người ngoại giáo, cũng như các Kitô hữu lợi dụng tính cân xứng với ngày chết của Chúa Giêsu. Các Kitô hữu đã tới các quốc gia theo cách mà các quốc gia đã được chuẩn bị để nghe biết. Nhờ đưa ra cách hiểu về Kitô giáo đối với phong tục địa phương hoặc ý tưởng triết học hợp lý, Giáo hội đã cho những người mới theo đạo cách hiểu lịch sử của việc Chúa giáng sinh theo cách mà họ có thể hiểu.

* * *

Khi lễ hội này lan tràn khắp các nước mới gia nhập Kitô giáo ở Âu châu và Đông phương, người ta gom các phong tục ngoại giáo cổ xưa hơn và tạo cách hiểu mới. Lễ Giáng Sinh lan truyền tới đâu thì đều có vẻ mới nhưng vẫn quen thuộc với những người mới theo đạo. Có thể chính sự quen thuộc đó đã làm cho lễ Giáng Sinh được người ta yêu thích.

Khoảng năm 1100, lễ Giáng Sinh đã trở nên lễ quan trọng nhất trong năm. Suốt thời Trung cổ, lễ Giáng Sinh được cử hành ở khắp nơi với những cảnh đẹp lộng lẫy và niềm vui mừng. Người ta hát những bài ca giáng sinh mà họ thích; những đám rước nhộn nhịp qua các con đường nhỏ ở các thành phố thời Trung cổ; và bất kỳ nơi nào cũng tỏa mùi thơm từ những món ăn mừng lễ Giáng Sinh.

Tuy nhiên, với cuộc Cải cách Tin Lành, có những thay đổi về văn hóa. Họ hăng hái chống lại mọi sự lạm dụng trong Giáo hội, nhiều nhà cải cách đã nhắm vào lễ Giáng Sinh chỉ là một trong các lễ hội ngoại giáo. Theo nghĩa nào đó, dĩ nhiên họ đúng: Nhiều truyền thống có nguồn gốc ngoại giáo. Nhưng các phe chống lễ Giáng Sinh đã chỉ phê phán bằng “cái gốc” đáng lẽ họ phải phê bình bằng “hoa trái”.

Khi những người theo Thanh giáo chiếm lĩnh ở Anh quốc, họ đã cấm lễ Giáng Sinh. Các cửa tiệm phải mở toang ra. Bất kỳ ai bị phát hiện một miếng bánh nào sẽ gặp rắc rối. Người Thanh giáo cho rằng các loại bánh khúc cây, bánh mận, và những bài hát giáng sinh tạo nên lễ Giáng Sinh truyền thống Anh quốc đều không là gì khác ngoài việc tôn sùng ngẫu tượng ngoại giáo, thế thì phải dẹp bỏ. Có một số người phản đối, thậm chí một số người còn sẵn sàng chết vì bảo vệ lễ Giáng Sinh, nên dân chúng vẫn theo truyền thống dùng lễ Giáng Sinh là ngày nghỉ – nhưng người Thanh giáo vẫn chiếm ưu thế, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

Để phản kháng, người Thanh giáo ra lệnh rằng lễ Giáng Sinh phải là ngày ăn chay. Truyền thống này không bao giờ được tiếp nối. Dễ dàng nói rằng việc ăn chay không bao giờ được theo vì tính yếu đuối nhân loại – cuối cùng, người ta thích ăn mừng lễ hơn ăn chay vì tự nhiên như người ta thích vui hơn thích buồn. Nhưng Mùa Chay không bao giờ bị bỏ ra ngoài lịch. Các Kitô hữu tốt lành sẵn sàng chịu đựng sự từ bỏ mình khi thích hợp. Nhưng điều đó có vẻ không thích hợp với lễ Giáng Sinh.

Có điều người Thanh giáo không hiểu, và có điều nhiều người tốt vẫn không hiểu, đó là không có sự mâu thuẫn giữa việc tôn thờ Thiên Chúa và tận hưởng sự sáng tạo của Thiên Chúa. Không gì xấu để tận hưởng những điều tốt lành mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Phép lạ thứ nhất của Chúa Giêsu là hóa nước thành rượu – mà không chỉ là rược thường, thánh Gioan tỉ mỉ cho biết đó là loại rượu hảo hạng. Rõ ràng Con Người có vị giác rất tốt theo nhân tính.

Một số các Kitô hữu sai lầm như Thanh giáo đều xấu hổ vì hiểu đức tin với niềm vui trần tục. Nhưng mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh là mầu nhiệm Ngôi Lời làm người. Thánh Athanasiô nói rằng chữ “nhục thể” (xác thịt) là sự chính thống anh hùng vô địch khi những đám mây tà thuyết có vẻ đen tối nhất, “nhục thể không loại bỏ vinh quang của Ngôi Lời, tư tưởng còn xa hơn. Ngược lại, nhục thể được Thiên Chúa làm cho vinh quang”.

Một số các Giáo phụ gọi lễ Giáng Sinh là lễ Hóa Thân, theo nghĩa gốc tiếng Latin. Khi Thiên Chúa mặc xác phàm, chính nhục thể trở thành vật thánh, là điều được cử hành bằng hình ảnh, tượng và thiệp giáng sinh.

Thế kỷ VIII, một bè rối nổi lên trong Giáo hội và tự nhận là “Iconoclasts”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “những người đập nát hình ảnh” (tức là phá ngẫu tượng). Họ cố gắng “thanh lọc” và “tâm linh hóa” đời sống Kitô giáo bằng cách xóa bỏ mọi biểu tượng về Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các thánh. Họ phá hủy mọi hình ảnh tôn giáo trong thời Đế quốc La Mã Đông phương, và họ chặt tay các Kitô hữu nào không loại bỏ các ảnh tượng. Họ nói rằng Thiên Chúa không thể được thể hiện qua ảnh tượng; ai làm vậy là thờ ngẫu tượng. Nhưng đây là cách mà Thánh Gioan thành Damascô trả lời họ: “Thời xưa, Thiên Chúa không được thể hiện bằng bất kỳ cách nào. Nhưng ngày nay, vì Thiên Chúa đã mặc xác phàm và sống giữa chúng ta, tôi có thể biểu hiện điều nhìn thấy ở Thiên Chúa. Tôi không tôn thờ chất liệu, mà tôi tôn thờ Đấng tạo nên chất liệu và trở nên chất liệu vì tôi… Qua chất liệu, Ngài hoàn tất ơn cứu độ cho tôi”.

Nói cách khác, sự “hóa thân” làm thành nghệ thuật, và cũng là đồ thánh, cũng như điều đó làm co cơ thể thành vật thánh. Các họa sĩ đã vẽ tranh giáng sinh qua nhiều thế kỷ mà không tạo ra ngẫu tượng. Cách thể hiện của họ là những bài Thánh ca (hymns) ca tụng Thiên Chúa vô hình được làm thành hữu hình.

Nhìn vào bất kỳ tranh giáng sinh cổ điển nào đều có thể cảm nhận Thiên Chúa. Mỗi con vật trong hang đá là một thụ tạo; mỗi cọng rơm trong máng cỏ đều được rút ra bằng sự cẩn thận vô cùng. Trong các cảnh của Kinh thánh, các họa sĩ đã yêu quý vẽ ra từ nhiều thế kỷ qua, lễ Giáng Sinh gợi nhớ sự vui mừng nhất trong niềm vui vẽ tranh, và Thiên Chúa hiện hữu trong từng chi tiết đó.

* * *

Câu chuyện giáng sinh của mọi người là câu chuyện trong Phúc Âm theo Thánh sử Luca. Điều làm cho câu chuyện đó được yêu mến là sự thân thiện. Thánh Luca có vẻ như viết cho dân ngoại, cố gắng tới đúng chỗ Chúa Giêsu sinh ra về phương diện lịch sử và địa lý. Chúa Giêsu giáng sinh không là một ẩn dụ hoặc ngụ ngôn như những câu chuyện thời Trung cổ, mà đó là sự kiện thật ở nơi thật mà lịch sử có thể chứng minh.

Thánh Luca tiếp tục cho chúng ta thấy kỹ năng viết của một sử gia, chính xác các chi tiết mà chúng ta cần biết về sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta biết Thánh Giuse và Mẹ Maria cảm thấy thế nào khi không có chỗ trọ, và các ngài vui thế nào khi tìm được cái hang chiên lừa, và khiến chúng ta cũng cảm thấy như Thánh Giuse và Mẹ Maria. Rất chi tiết. Còn các tác giả Phúc Âm khác không cho chúng ta biết chi tiết như vậy, mà chỉ nói các điểm chính.

* * *

Ngôi Lời hóa thành nhục thể không chỉ là sự kiện một lần trên Thập giá hoặc Thăng thiên. Đức Giêsu Kitô không chỉ đến trong thế gian ở một nơi đặc biệt và vào thời điểm đặc biệt, mà Ngài còn thiết lập Giáo hội là Nhiệm Thể Ngài trên thế gian này. Các cộng đoàn tín hữu sinh sống ở mọi nơi trên hành tinh này – họ là các chi thể của Đức Kitô. Nếu bạn muốn biết Chúa Giêsu như thế nào, hãy vào nhà thờ và nhìn xung quanh bạn.

Hơn nữa, chúng ta còn gặp Đức Kitô hiện thân trong Bí tích Thánh Thể, vì Ngài nói: “Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:55). “Hóa thân” không là điều trừu tượng – đó là điều “cụ thể kỳ diệu” trong đời sống thường nhật của chúng ta. Điều đó không chỉ xảy ra hơn hai ngàn năm trước mà vẫn đang xảy ra từng ngày trong thời đại chúng ta ngày nay.

“Hóa thân” là “hiện thân” của tình yêu hiện hữu trong những điều thực tế mà Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta. Đó không chỉ vì sự hiểu biết của phàm nhân yếu đuối mà các bí tích đều được cử hành bằng các dấu bề ngoài. Chúa Con đã hóa điều đó nên sự thánh.

Chính trong Thánh Thể, chúng ta thấy sự nuôi dưỡng dành cho tinh thần được mô tả trong dạng sơ đẳng nhất của sự nuôi dưỡng dành cho thân xác. Thiên Chúa vĩnh hằng hiện ra với chúng ta trong dạng tạm thời của bánh và rượu: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:26-28). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta được gợi nhớ rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã trở nên xác thịt thực sự để xẻ ra và máu thực sự để đổ ra.

Sự hóa thân đó cho chúng ta cảm thấy niềm vui thực sự thích hợp với lễ Giáng Sinh. Qua sứ vụ của Ngài, Chúa Giêsu thành Nadarét đã chữa lành các bệnh nhân và làm no thỏa những người đói khát. Ngài yêu thương chúng ta không chỉ để đưa chúng ta về Thiên đàng với Ngài, mà Ngài còn muốn chúng ta tận hưởng hạnh phúc ngay khi chúng ta còn sống trên thế gian này. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta một điều duy nhất là yêu mến Ngài, đồng thời yêu thương tha nhân như Ngài đã yêu thương chúng ta.

Người ta vẫn thấy dấu vết của tình yêu Kitô trong các phong tục cổ và thói quen tặng quà giáng sinh. Việc mua thiệp giáng sinh cũng là sự thôi thúc của Kitô giáo là “trao tặng”, như Chúa Giêsu đã dạy: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35).

Chúa Giêsu luôn thấy điều tốt nơi chúng ta và tha thứ lỗi lầm cho chúng ta, Ngài cũng muốn chúng ta phải làm cho người khác hạnh phúc. Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều đó hiện thực nơi mỗi chúng ta.

Đây là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta: Chúng ta có thể xác để dùng nó mà thờ lạy Thiên Chúa, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà phục vụ tha nhân, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà đem lại sự thuận lợi, an ủi và chữa lành, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác vì mục đích làm vinh danh Thiên Chúa.

Lễ Giáng Sinh chan hòa niềm vui: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Chúa Giêsu sinh ra nơi hang bò lừa hôi tanh cho những gia đình lao động nghèo. Đó là điều vinh dự đích thực. Không gì lý tưởng bằng việc Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Con Thiên Chúa sinh ra theo cách rất ư bình thường, thậm chí còn tệ hơn bình thường. Những người đầu tiên biết Tin Vui này là những mục đồng chăn chiên nghèo khổ, chứ không phải những người cao sang quyền thế hoặc hoàng đế Augustô tại dinh thự ở Rôma, cũng chẳng phải bạo chúa Hêrôđê. Đó là sự kỳ diệu của Ngôi-Lời-Làm-Người: Ngôi Lời thực sự là người như chúng ta.

Câu chuyện giáng sinh là câu chuyện kể về cách mà xác thịt hóa thành thánh thiêng, thân xác được thánh hóa, và niềm vui trần tục trở nên thánh ca chúc tụng Thiên Chúa. Như vậy, lễ Giáng Sinh là lễ dành cho ngũ quan. Chúng ta thích nghe đi nghe lại câu chuyện Chúa Giêsu giáng sinh mà không chán, và câu chuyện đó vẫn ở mãi trong chúng ta.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ FathersOfTheChurch.com)

Chia sẽ bài viết này trên:

TÌM HIỂU NGÀY ‘SINH NHẬT’ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

TÌM HIỂU NGÀY ‘SINH NHẬT’ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

Tại Hoa Kỳ, cứ sau lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) nhiều gia đình và nhà hàng bắt đầu trang hoàng trong nhà, cũng như trước cửa nhà để chuẩn bị vào mùa Lễ Lớn: Đại Lễ Giáng Sinh và Năm Mới sắp tới. Một cách đơn giản chúng ta thường hiểu Lễ Giáng Sinh là ngày lễ mừng ‘Sinh Nhật’ (Birthday) của Chúa Giêsu (Thí dụ, ngày 25 tháng 12, 2008 là ngày sinh nhật thứ 2008 của Chúa Giêsu). Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử về ngày lễ nầy, chúng ta thấy có những điều không hẳn đơn giản như vậy.

Một chút lịch sử ơn cứu độ.

Theo truyền thống Do Thái mà nền tảng là Thánh Kinh Cựu Ứơc, sau khi tổ tông (Thủy tổ) loài người là ông Adong và bà Eva sa ngã phạm tội, liền bị mất ân nghĩa với Thiên Chúa (Sách Sáng Thế 3:23). Tuy nhiên vì “Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Chúa” (ST 1:27), Ngài không để con người phải án phạt đời đời, nên Ngài đã hứa ban một Đấng Cứu Thế đến để cứu chuộc tội lỗi nhân loại (ST 3:15) và danh hiệu của Ngài là ‘Đấng Cứu Tinh’ (Messiah). Nguyên ngữ trong tiếng Do Thái ‘Messiah’ có nghĩa là ‘Đấng được xức dầu’. Theo thói tục của người Do Thái thì ai được chọn làm ‘Vua’ làm ‘Tiên Tri’ (Prophet) làm thầy ‘Tư Tế’ đều được phong chức chính thức bằng việc xức dầu (thánh) (dầu ô liu) trên đầu. Danh từ ‘Messiah’ chuyển dịch qua tiếng Hy Lạp là ‘Christos’. Danh từ ‘Christos’ chuyển sang tiếng Latinh là ‘Christus’ và sang tiếng Pháp, tiếng Anh là ‘Christ’, Tiếng Việt Nam (theo các bản dịch Thánh Kinh của Công Giáo và các sách đạo đức) chuyển dịch là ‘Kitô’ (hay Kytô).

Theo Do Thái Gíáo thì Đấng ‘Messiah’ (Kitô) chưa tới cứu độ Dân Ngài. Hàng năm người Do Thái vẫn đến bên bức ‘Tường Khóc’ để cầu nguyện xin ‘Đấng Cứu Độ’ đến.

Theo Kitô Giáo thì ‘Đấng Kitô’ đã Giáng Sinh, và khi Ngài sinh ra thì được đặt tên là ‘Giêsu’ (Jesus) theo như lời Sứ thần truyền tin cho Đức Maria (Luca 1:31 và 2:21). Danh từ ‘Giêsu’ theo nguyên ngữ Do Thái có nghĩa là ‘Đấng Cứu Độ’ (Savior). Vì Chúa ‘Giêsu’ chính là ‘Đấng Kitô’ Thiên Chúa đã hứa, nên tên Ngài thường được gọi là ‘Giêsu Kitô’. Thánh Phaolô trong các thơ gửi các giáo đoàn thường dùng danh hiệu ‘Giêsu Kitô’. Chúng ta cũng nên lưu ý là vào thời xưa một người chỉ có ‘tên gọi’, chưa có ‘tên họ’ và ‘tên đệm’; nhưng có những ‘tên hiệu’ ghép vào ‘tên gọi’ trong một số trường hợp, nhất là trường hợp của các vua chúa hay các ‘Danh Nhân’.

Theo Kinh Thánh, Chúa Giêsu cũng được gọi là ‘Emmanuel’ hay ‘Immanuel’ ( Luca 1:23). Danh từ ‘Emmanuel’ trong tiếng Do Thái có nghĩa là ‘Thiên Chúa ở cùng chúng ta’. Danh hiệu ‘Emmanuel’đã được Tiên Tri Isaia (740-687 B.C.) nói đến ( Isaia 7:14).

Chúa Giêsu sinh ra năm nào?

Năm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người được kể là năm thứ nhất theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay; như thế sinh nhật của Ngài đã chia đôi lịch sử nhân loại.

Theo lịch sử Thánh Kinh thì từ ‘tạo thiên lập địa’ đến năm Chúa Giáng Sinh được gọi là ‘Thời Kỳ Cựu Ước’ và từ năm Chúa Giáng Sinh trở về sau được gọi là ‘Thời Kỳ Tân Ước’. Theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay thì trước thời Chúa Giáng Sinh gọi là trước ‘Công Nguyên’ (thường ký hiệu là B.C. ‘Before the birth of Christ’) và từ năm Chúa Giáng Sinh cho đến ngày ‘tận thế’ thì gọi là sau ‘Công Nguyên’ (thường ký hiệu là A.D. ‘Anno Domini’ ‘Năm của Thiên Chúa’).

Như vậy, thí dụ ngày 25 tháng 12 năm 2008 là ngày chúng ta mừng Sinh Nhật thứ 2008 của Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên vì các nhà làm lịch lúc đầu tính lầm nên năm Chúa Giêsu giáng sinh bị lệch đi mất 6 hoặc 7 năm. Nếu tính đúng thì năm 2008 sẽ phải là năm 2014 (hoặc 2015). Nói một cách khác đơn giản hơn thì vào năm 2008 này tuổi của Chúa Giêsu đã là 2014 (hoặc 2015).

Lý do của việc ‘tính lầm’ nầy là vì vào thời xưa người ta chưa có lịch chung như ngày nay, nên thường tính năm theo triều đại của các vua (như ‘Đời Vua Hùng Vương thứ 18’… chẳng hạn) hoặc theo một biến cố lịch sử nào đó (như năm Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây ‘Vạn Lý Trường Thành’ chẳng hạn). Các Thánh Sử khi viết sách ‘Phúc Âm’ (hay ‘Tin Mừng’) cũng dùng niên hiệu các vua cùng với những biến cố lịch sử nào đó. Thí dụ: Thánh Matthêu viết: ‘Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđêa, thời vua Hêrôđê trị vì… ( Matthêu 2:1… ). Thánh Luca viết: ‘ Vào thời Hoàng Đế Augustô ra ‘chiếu chỉ kiểm tra dân số’… Khi Giuse và Maria đang ở Bêlem, thì Maria đến ngày sinh con… ( Luca 2:1… )

Khi Chúa Giáng Sinh thì nước “Do Thái” (vùng Palestina) đang dưới quyền ‘đô hộ’ của Đế Quốc Rôma. Lúc đó Đế Quốc Rôma đang cai trị nhiều vùng rộng lớn, bao gồm cả vùng Trung Đông. Hoàng Đế Rôma bấy giờ là Augustô. Còn vua Hêrôđê chỉ là một ‘tiểu vương’ thay mặt hoàng đế Rôma cai trị miền Giuđêa (phiá nam Palestina) và nhà vua không phải là người Do Thái. Vùng đất Palestina (nơi người Do Thái sinh sống thời đó) gồm ba miền: Galilê (Bắc), Samaria (Trung) và Giuđêa (Nam). Thành Bêlem nơi Chúa Giáng Sinh và thủ đô Giêrusalem nằm phiá nam, thuộc Giuđêa. Vua Hêrôđê này thường được gọi là vua ‘ Hêrôđê Cả’ (Herod the Great) để phân biệt với Hêrôđê ‘Antipa’ là con. Vua ‘ Hêrôđê Cả’ là người đã tiếp kiến các nhà đạo sĩ phương đông đến triều yết để hỏi đường đến chiêm bái Vị Vua Mới Sinh (Matthêu 2:1…). Cũng nhà vua nầy đã ra lệnh ‘giết các hài nhi mới sinh từ hai tuổi trở xuống…’ (Matthêu 2:16…). Vì thế Thánh Giuse phải đưa ‘Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập (Matthêu 2, 13…). Theo các sử gia thì nhà vua này chết vào năm 4 trước Công Nguyên, tức là sau khi Chúa Giêsu sinh ra chừng 3 hay 4 năm (vì Chúa Giêsu sinh ra vào năm 6 hay 7 trước Công Nguyên, do nhà làm lịch tính lầm năm, như đã nói trên). Khi Thánh Giuse nghe tin nhà vua đã chết, liền đem Đức Maria và Chúa Hài Nhi trở lại quê hương (Matthêu 2,19…) (Như vậy là Thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Hài Nhi Giêsu cũng đã phải trải qua một thời ‘di cư’ sống nơi ‘đất khách, quê người’ như nhiều người Việt Nam chúng ta hiện nay!).

Hêrôđê Antipa (Con của Hêrôđê Cả) là người đã ra lệnh xử trảm Thánh Gioan Tiền Hô (PÂ Matthêu 14:4). Nhà vua này cũng là người đã ‘’Rất mừng rỡ khi gặp mặt Chúa Giêsu…’’ (PÂ Luca 23:6…) khi Người bị bắt và đang bị xử án.

Nếu tính theo triều đại Hoàng Đế Rôma Augustô, thì Chúa Giêsu sinh ra vào ‘đời Hoàng Đế Augustô thứ 20’.

Thực ra người chủ trương lấy năm Chúa Giêsu sinh ra là năm I để bắt đầu Công Nguyên là ông Diônisiô (khoảng năm 556) đã tính lầm năm sinh của Chúa, vì ông căn cứ vào năm xây dựng thành Rôma và tính là Chúa giáng sinh vào cuối năm 753 sang năm 754 (sau khi thành lập thành Rôma) , rồi ông lấy năm 754 là năm I cuả Công Nguyên. Nhưng sau này các sử gia và các học giả Kinh Thánh nghiên cứu lại các thời đại Hoàng Đế Augustô và vua Hêrôđê Cả mới thấy là Chúa Giêsu phải sinh ra sớm hơn; vì thế, Chúa Giêsu bị ghi hụt đi mất 6, 7 tuổi và cũng vì thế mừng sinh nhật cúa Chúa năm 2008 chính ra đã là năm 2014 (hay 2015).

Tóm lại, năm Chúa Giêsu Kitô Giáng Sinh.
+Cách thời của Abraham: 21 thế kỷ;
+Cách Maisen với công cuộc xuất hành khỏi Ai Cập: 13 thế kỷ;
+Cách thời bà Ruth và các thẩm phán: 11 thế kỷ;
+Cách thời vua David được xức dầu phong vương: một ngàn năm;
+Cách năm đại hội Olympics đầu tiên: 776 năm (Đại Hội thứ 194);
+Khoảng 747 năm sau khi thành lập Thành Rôma.

(Qúy vị có thể xem thêm tài liệu trong các sách chú-giải về Kinh Thánh hoặc đọc phần Dẫn Nhập vào Kinh Thánh Tân Ước trong các bản dịch Kinh Thánh của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn; hoặc của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ; hoặc trong The New American Bible; hoặc trong Bible de Jerusalem).

Chúa Giêsu sinh ra ngày nào?
Đọc tiểu sử của các ‘vĩ nhân’ trên thế giới thời xưa, chúng ta thường không thấy nói đến ngày sinh; chẳng hạn Socrate (khoảng 470-399 BC) hay Platon (khoảng 428-348 BC) v.v… Ngay các cụ người Việt Nam chúng ta bây giờ, nhiều vị cũng không nhớ ‘ngày sinh, tháng đẻ’ của mình; nhiều cụ chỉ nhớ là tuổi‘Mùi’ hay tuổi ‘Thìn’. Ngay cả ngày tháng năm sinh của các cụ trên giấy khai sinh cũng không đúng hẳn… Ngày sinh của Chúa Giêsu cũng không được ghi lại đầy đủ trong các sách Phúc Âm (Tất nhiên Chúa Giêsu cũng không có giấy khai sinh hay sổ bộ khai sinh…)

Nhưng tại sao lại mừng ngày Chúa Giêsu ra đời vào 25 tháng 12 hằng năm?

Thực ra, trong ba thế kỷ đầu (các Kitô hửu chỉ họp nhau để kỷ niệm việc Chúa Giêsu đã chịu đau khổ, đã chịu chết và đã sống lại. Đặc biệt tụ họp vào ngày thứ nhất trong tuần (Ngày Chúa Giêsu sống lại từ cỏi chết, Gioan 20,1…) và gọi ngày này là ‘Chúa Nhật’. Việc cử hành phụng vụ này gọi là ‘Nghi Lễ Bẻ Bánh’ (ý nói đến việc cử hành nghi lễ ‘Thánh Thể’) (Tông Đồ Công Vụ đoạn 2, câu 42…). Trong những cuộc ‘họp mặt’ này, các Kitô hữu cùng gặp gỡ nhau, chia sẽ tình thân hữu và niềm tin, rồi cùng nhau cầu nguyện và dự ‘Lễ Thánh Thể’ (Nghi Thức Bẻ Bánh). Lúc đầu chưa có các ‘Thánh Đường’, nên thường tùy tiện họp mặt tại các tư gia hay nơi nào có thể được, như tại ‘hành lang Salomon’ (TĐCV 5:12…). Tuy nhiên việc ‘Cử Hành’ này cũng không được đều đặn, vì ngay từ lúc đầu các Kitô đã bị bách hại và xua đuổi. Đọc sách ‘Tông Đồ Công Vụ’ (The Acts of Apostles), ta thấy rõ điều này: trong khi các tông đồ và các tín hữu ra sức rao giảng ‘Tin Mừng tình thương’ của Chúa cho mọi người ở mọi nơi họ sống, thì họ cũng luôn bị những thế lực thù nghịch chống đối và bách hại; vì ‘bóng tối’ luôn thù nghịch ‘Ánh Sáng’. Những người sống theo ‘thế gian’ thì thù ghét những ai sống ngược lại với lối sống của họ! Tất nhiên ‘Thầy’của mình là Chúa Giêsu Kitô đã bị thù ghét, bị bắt, bị hành hạ và bị giết nhục nhã trên thánh giá, thì các môn đệ của ‘ Thầy’qua các thế hệ đều cũng bị bách hại cách này hay cách khác. Trong ba thế kỷ đầu thì các cuộc bách hại rất dữ dội ngay tại nơi đất nước quê hương của Chúa Giêsu và các tông đồ, và sau đó là ở khắp các nơi trong toàn Đế Quốc Rôma. Hơn nữa, lúc đó chưa có các tổ chức ‘Bảo Vệ Nhân Quyền’ hay ‘Bảo Vệ Tự Do Tôn Giáo’, nên các nhà cầm quyền tự do đàn áp và tàn sát các tín hửu và các vị lãnh đạo tôn giáo của họ, bất kể ở các chức vụ nào. Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng đầu tiên, Thánh Phaolô và các Thánh Tông Đồ đều tử đạo, trừ Thánh Gioan thì bị lưu đày cho đến chết. Các vị Giáo Hoàng tiếp theo cũng như các thành phần trong Giáo Hội đều bị xua đuổi, bị bắt, bị tù đày và bị giết thảm khốc (nhất là dưới thời Hoàng Đế Nêron).

Trong hoàn cảnh cực khổ đó, các vị lãnh đạo và các tín hữu tiếp tục giữ vững đức tin và tiếp tục rao giảng Tin Mừng và họp mặt cầu nguyện và cử hành nghi lễ ‘Thánh Thể’ bất cứ lúc nào và nơi nào có thể được để an ủi và nâng đỡ lẩn nhau trong cuộc sống đức tin đầy khó khăn như thế. (Xin xem thêm về chuyện các ‘Hang Toại Đạo’ ‘Catacombs‘ tại Rôma ngày xưa). Cho mãi đến năm 313, khi một Hoàng Đế Rôma có tên là Constantinô Đại Đế (Constantine ‘The Great’, 280-337, theo đạo Công Giáo , Mẹ là Thánh Helene) ký hiệp ước Milan (Edit de Milan) để bảo đảm quyền tự do tôn giáo, lúc đó Giáo Hội mới được hưởng một thời kỳ an-bình (Paix de L’Eglise) và lúc đó, các Kitô hửu mới được hưởng chút tự do để thờ phượng Chúa và các Thánh Đường được xây cất, các buổi ‘họp mặt’ cầu nguyện, học hỏi Thánh Kinh và cử hành ‘Lễ Thánh Thể mới được thường xuyên hơn. Tuy nhiên đến năm 336 mới thấy việc cử hành ngày Chúa Giáng Sinh (Christmas Day) xuất hiện trong lịch phụng vụ của Giáo Hội. Việc mừng Lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu chắc là trùng hợp với việc các Kitô hữu, khi đã được hưởng thời gian an bình để sống đạo, liền nghĩ đến việc hướng về quê hương của Chúa, nhất là nơi Chúa Giáng Sinh là thành Bêlem và hành hương kính viếng và chung tay xây cất Đền Thờ Chúa giáng sinh tại Bêlem vào năm 330.

Vì ngày Chúa Giáng Sinh không được ghi rõ ràng trong các văn kiện lịch sử cũng như trong các sách Phúc Âm, nên Giáo Hội đã chọn một ngày thích hợp là 25 tháng 12 là ngày gần với ngày đông chí (winter solstice), ngày ngắn nhất đã qua và ánh sáng lại trở lại… và vì thế các dân tộc Trung Đông thời cổ hay mừng ‘ngày ánh sáng’ vào 25 tháng 12; rồi Giáo Hội muốn thánh hóa ngày này bằng việc kính nhớ ngày Thiên Chúa Giáng Sinh ‘Trời Đất Giao Hoà’. Như vậy ngày 25 tháng 12 không phải là ngày có tính cách lịch sử mà chỉ là ngày kỷ niệm mừng Chúa xuống trần để giao hoà với nhân loại và loan báo tin mừng cứu độ (xin xem thêm ‘Preaching the Lectionary’ của R. H. Fuller). Đây chỉ là một việc làm theo ‘thuận tiện’, tạm ví như nhiều cụ khi ở Việt Nam thì không có thói quen mừng ngày sinh nhật (birthday) (tất cả chỉ mừng vào dịp Tết); nhưng đến Hoa Kỳ, giới trẻ thích sống theo văn hóa địa phương, đã có thói quen mừng‘sinh nhật’, và cũng muốn các bậc cha mẹ có một ngày để mừng cho con cháu vui vẻ trong gia đình. Các cụ nào không nhớ được ngày sinh nhật chính thức của mình, đã chọn một ngày nào đó; chẳng hạn có cụ chỉ nghe cha mẹ nói là mình sinh vào dịp tháng tám mưa bão, liền chọn một ngày trong tháng 8. Có cụ chỉ nhớ cha mẹ nói là sinh vào giữa mùa gặt (ở ngoài bắc thì vào tháng 5) nên chọn một ngày vào tháng 5. Kể cả việc ngày giỗ của một số vị trong gia đình cũng không thể đúng ngày; nhiều gia đình có chồng con mất tích trong cuộc chiến, khi biết chắc là đã chết, liền chọn một ngày để kính nhớ (thường hay chọn vào ngày nghe tin mất tích…) Ông cụ trong gia đình chúng tôi, ngày xưa hoạt động cho Quốc Dân Đảng, khi Việt Minh nổi lên, họ mời đi họp để ‘cộng tác làm việc cứu quốc’ và từ ngày đó là biệt tích luôn. Sau đó gia đình biết chắc đã chết, nhưng không biết chết làm sao và vào ngày nào, nên đã chọn ngày ‘rời gia đình’ để con cháu ‘khói hương’ kính nhớ.

Vì ngày mừng lễ Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm không xác thực theo lịch sử, nên thường có những ý kiến chống đối; đặc biệt vào thế kỷ 17 tại Anh Quốc, những người ‘Thanh Giáo’ (Puritans) đã nổ lực để yêu cầu xóa bỏ việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu; nhưng mọi nổ lực đều thất bại, và việc mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm vẫn tiếp tục ở Anh Quốc cũng như khắp nơi trên thế giới. Hơn nửa, việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa không phải chỉ đơn thuần mừng ngày ‘Sinh Nhật’ của Chúa, mà còn có ý nghiã thiêng liêng chuẩn bị tâm hồn đón Chúa vào tâm hồn tín hữu, và ngày Chúa trở lại trần gian lần thứ hai trong ngày thẩm phán. Vì thế có gần một tháng để tín hữu chuẩn bị lễ Giáng Sinh, gọi là ‘Mùa Vọng’ (ngày xưa gọi là ‘Mùa Áp’) (Advent). Mùa Vọng là mùa Giáng Sinh khởi đầu niên lịch phụng vụ của Giáo Hội, tiếp theo là ‘Mùa Thường Niên I’, rồi đến ‘Mùa Chay’ (Lent) để chuẩn bị Đại Lễ Phục Sinh và Mùa Phục Sinh, rồi đến ‘Mùa Thường Niên II’ kéo dài đến ‘Mùa Vọng’ cho một niên lịch phụng vụ mới.

Nơi đây chúng tôi cũng xin nói thêm là trước lễ Giáng Sinh 9 tháng, Giáo Hội có một ngày mừng lễ đặc biệt gọi là ‘Lễ Truyền Tin’ (Annunciation) để kỷ niệm giờ phút sứ thần Thiên Chúa báo tin cho Đức Maria biết Thiên Chúa đã chọn Ngài làm người được diểm phúc cưu mang và sinh Đấng Cứu Thế… Và Đức Maria đã ‘Xin Vâng’ (Luca 1, 26…). Đây chính là giờ phút rất quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ, giờ phút ‘Trời Đất Giao Hoà’, ‘Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Gioan 1,14). Chính vì thế mà trong toàn Giáo Hội có thói quen nguyện ‘Kinh Truyền Tin’ vào ba lúc quan trọng trong một ngày: sáng, trưa, chiều. Khi nghe tiếng ‘Chuông Nguyện’ mọi tín hữu đều ngưng các công việc để nguyện ‘Kinh Truyền Tin’ mà nhớ đến giây phút quan trọng này: ‘Và Ngôi Lời đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria.’ Rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ Công Giáo các nơi đã sáng tác các bài thánh ca hoặc các bài thơ diễn tả giây phút ‘huyền nhiệm’nầy; đan cử như bài thơ của thi sĩ Hàn Mạc Tử, bài ‘Theo Tiếng Thiên Thần xưa Kính Chào’ của Hoàng Diệp, ‘L’Annonce faite à Marie’’ của Paul Claudel (văn hào Pháp).

Ngày nay lễ Giáng Sinh (có nơi gọi là lễ ‘No-en’ ‘Noel’) càng ngày càng lan rộng đi khắp nơi, đến cả các dân tộc ở các vùng hẻo lánh, và ngay cả các nước còn đang dưới chế độ ‘Cộng Sản’ như Cuba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn cũng không thể ngăn cản dân chúng rầm rộ mừng lễ No-en. Đáng tiếc là ngày nay người ta đã ‘thương mại hóa’ dịp lễ này mà làm giảm đi phần nào ý nghĩa thiêng cao cả. Tuy nhiên điều ‘lạm dụng’ đó cũng không thể làm giảm đi tinh thần mừng lễ đích thực trong lòng những người thành tâm thiện chí (Abusus non Tullit Usum) và họ được hưởng ‘ơn phúc lộc’ an bình trong tâm hồn và trong gia đình họ, như lời các Thiên Thần hát mừng trong đêm Chúa Giáng Sinh:

‘Vinh Danh Thiên Chúa trên Trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm!’

Kính chúc quí vị được hưởng nhiều ơn phúc lộc của Chúa trong dịp lễ Giáng sinh này, và những ơn phúc đó sẽ tràn lan sang Năm Mới, đem đến bình an thật của Chúa đến tâm hồn và gia đình mỗi người, cũng như cho toàn thể thế giới và trên quê hương Việt Nam chúng ta.

Lm. Anphong Trần Ðức Phương

Chia sẽ bài viết này trên:

CÂU CHUYỆN TỪ CHIẾC GIỎ TRÊN GÁC ĐÀN (*)

CÂU CHUYỆN TỪ CHIẾC GIỎ TRÊN GÁC ĐÀN (*)

Chúng tôi là ca viên ca đoàn ở một giáo xứ thuộc TGP Sài Gòn, tổ chức đi chơi biển Phan Thiết. Chuyện không vui chẳng ai cầu, ai muốn: trời mưa bão. May mắn, có một người trong chúng tôi quen biết một ca viên ở Giáo xứ nhà quê nọ…cách Phan Thiết hơn 30 cây số.
-Thôi thì mời anh em về nhà mình đi nhé. Khách sạn ngàn sao!
Thế là chúng tôi về đến nhà anh chiều thứ 7. Ăn tối trong mưa nhưng món nào cũng ngon, bởi vui, và căn nhà bống ấm. Hẳn là sức ấm của chúng tôi không đủ làm ngưng gió, làm thôi mưa bão lạnh lùng ngoài kia, nhưng không hiểu sao, mưa bỗng nhẹ dần, gió dịu lại hơn.
Một đêm yên ả sau những ồn ả của chúng tôi ca đoàn thành phố và và một số ca viên thôn quê gặp nhau.
Sáng hôm sau…
Rất vui khi chúng tôi được mời lên gác đàn dự lễ Chúa Nhật với ca đoàn của anh. 25 anh chị em chúng tôi đều có bài hát cầm tay, cùng với hơn 40 ca viên ca đoàn của xứ. Bất ngờ thứ nhất với tôi: ca đoàn nhà quê, mỗi người có bản nhạc cầm tay, còn có cả cho chúng tôi nữa. Những bài hát khá quen thuộc, cộng đoàn đều hát rập ràng theo bảng điện, nếu tôi không lầm chỉ có bài đáp ca, alleluia, và bài hiệp lễ là ít tính cộng đồng hơn.
Bất ngờ thứ hai nhưng là lớn nhất đối với tôi, là: lúc chủ tế bắt đầu giảng, các ca viên của ca đoàn nhà quê kia chuyền nhau một chiếc giỏ (giỏ xóc tiền: vật dụng nhận tiền dâng cúng trong Thánh Lễ Chúa Nhật, có nơi gọi là Quả, nơi khác gọi là Oi….) và mỗi ca viên lần lượt bỏ tiền vào đó….
Sau thánh lễ, anh bạn ca viên giới thiệu với anh ca trưởng về chúng tôi, và anh ca trưởng thay lời ca đoàn chào chúc chúng tôi vui vẻ. Vỗ tay mừng vui với nhau.
Lên xe, ra về. Anh bạn ca viên kia mời chúng tôi đi uống cà phê vườn Lim nổi tiếng.
Tôi định “ghi nhớ những điều ấy và suy niệm trong lòng” rồi, nhưng, không chỉ có tôi, mà còn cả mấy anh mấy chị nữa cũng đang có những thắc mắc giống tôi.
Chúng tôi hỏi nhiều chuyện một lúc, anh bạn kia trả lời:
-Hồi hôm, mình có gọi cho anh ca trưởng, và báo là có khách. Ảnh hỏi số người, rồi ảnh in bài hát tại nhà luôn để sáng nay có hát.
-Mình thật bất ngờ là ca đoàn nhà quê mà hát với bản nhạc cầm tay, thật tuyệt.
-Lỡ rồi các chị ơi, dẫu không biết nốt nào, nhưng bây giờ mà hát với bản lời thôi, là tụi mình không hát được. Cũng có khi nhờ bản nhạc cầm tay ấy mà tụi mình cũng bắt đầu biết vài nốt rồi, dễ cho anh ca trưởng hơn. Với lại, anh ca trưởng hay nói đùa: 4 bài hát trên 2 tờ giấy A4, tiền pho-tô cũng chỉ mất có 700 đồng Việt Nam. Sao lai phải tiết kiệm đến thế. Thời buổi này, cho con nít tờ 1000 chẳng đứa nào thèm lấy.
-Còn chuyện ca viên bỏ tiền vào giỏ nghĩa là sao?
-Xin thưa anh em là mình phải kể câu chuyện dài rồi. Nó phải có đầu có đuôi. Không thể nói liền, nói ngắn được.
Anh em chúng tôi hồi hộp nghe. Nhưng anh bạn kia thì cứ loay xoay như có điều khó nói. Một lúc sau, anh mới bắt đầu:
-Chuyện là, anh ca trưởng nhà mình hay nói với ca đoàn rằng chỉ có một điều làm thành nội quy ca đoàn mà thôi, và điều ấy trong câu hát làm thành lời nguyện chung và riêng cho mỗi người, là: “Lạy Chúa, xin giữ miệng con đây. Nguyện xin canh phòng lưỡi con đây. Xin Chúa đừng để lòng trí con vấn vương mùi đời”.
 
Anh ca trưởng chịu khó luyện giọng và tập hát cho anh chị em, nhưng điều quan trọng nhất không phải là chuyện hát hay, hay hát dở, mà là hát đúng phụng vụ. Trong giờ tập hát, anh thường chia sẻ ý nghĩa Lời Chúa và ý của các bài hát mà anh đã chọn cho ca đoàn hát. Sau giờ tập hát, có khoảng 5 phút cầu nguyện với ý Lời Chúa trong các bài hát đã tập. Anh luôn mong muốn và kêu gọi anh chị em ca đoàn hãy sống gắn bó với Chúa và với nhau.
 
Vào dịp tết, anh ca trưởng thường tặng chúng tôi món quà “BA TỪ” để xài cho cả năm: ví dụ “Chúa Khiêm Nhường”, “Bình Thường Thôi”, “Nhỏ Bé Thôi”, “Việc Phải Làm”, “Thuộc Về Chúa”…Trong năm, anh lại nhắc món quà “ba từ” ấy trong những giờ tập, để anh em chúng tôi tập luyện một cách sống thiêng liêng
 
Anh cũng có những sáng kiến hơi kỳ dị, nhưng vì “giữ miệng lưỡi” nên chúng tôi cứ phải nghe, và dần dần mới thấy ý nghĩa, thấy hợp lý.
 
Chẳng hạn, cách đây 8 năm, tuần 1 vọng, anh nói: Trong năm, mình có ba lễ nghỉ việc xác. Tôi thấy anh em chúng mình lạm dụng ngày lễ thánh quá, không sử dụng đúng muc đích của ngày nghỉ việc xác, bên nam thì uống rượu nhậu nhẹt, bên nữ thì hát karaoke vô bổ. Vì thế, đề nghị chúng ta sẽ làm việc bác ái chung vào ngày ấy. Tiền đâu? Cố gắng tháng 12 này hy sinh, để dành. Lễ đêm Giáng Sinh, mình góp mỗi người một ít cho Thủ Quỹ. Thủ Quỹ kết toán và công bố ngay. Sáng ngày 25, đề nghị các chị ở nhà lo cơm nước cho gia đình mừng Lễ, còn các anh, lo đi chợ mua quà giáng sinh cho người nghèo với số tiền ấy, rồi tập trung về nhà mình mà phân chia ra thành gói quà. 2 giờ chiều ngày 25, cả nam nữ tập trung nhà mình để chia nhóm đi thăm và tặng quà giáng sinh. Thăm xong, về lại nhà mình để ăn mừng lễ với nhau, có gì vui nấy.
 
Khi có đề nghị này, anh em chẳng vui, nhưng sau khi đi thăm và tặng quà Giáng sinh về, ai cũng nhận được niềm vui thiêng liêng quý giá. Từ ấy, tám năm qua, chúng tôi đã thực hiện được hơn 10 lần nghỉ việc xác, làm việc lành.. rất vui, rất vui.
 
Cách đây ba năm, anh ca trưởng lại nói: anh em có thấy mỗi người đi lễ đều có một chút dâng cúng vào giỏ không. Đó là lễ dâng hy sinh, mồ hôi nước mắt của mỗi người hiệp với lễ tế Chúa Giê-su trên bàn thờ. Chúng mình trên gác đàn, hay vì chúng mình là ca viên, mà những người làm nhiệm vụ không đưa giỏ tới. Vì thế nên mình đã xin Cha sở cho ca đoàn cũng được dâng cúng, và số tiền ấy, xin dành cho quỹ bác ái của ca đoàn. Cha sở đã đồng ý.
 
May mắn thay, cũng năm ấy, khi quỹ bác ái có chút chút thì có một đôi vợ chồng ca viên kia bị mất chiếc xe Air Black mới mua hơn 42 triệu. Một tuần sau, không tìm được xe, anh em quyết định xuất quỹ bác ái hơn 20 triệu để góp giúp anh mua lại một chiếc xe ít tiền hơn, có mà đi tập hát với anh em. Thương cả nhà. Vui cả nhà.
 
Từ ấy, chiếc giỏ bác ái của ca đoàn cứ đến Lễ Giáng Sinh, Lễ Phục Sinh lại được trút ra và làm thành những món quà nhỏ gửi đến những người bệnh, người nghèo, cả lương lẫn giáo. Lễ Giáng sinh năm kia, theo đề nghị của anh ca trưởng, anh em thăm và tặng quà chỉ cho người bệnh ung thư. Tưởng ít, ai dè cũng có đến hơn 20 người bệnh ung thư trong một vùng quê đường kính chỉ khoảng 15 cây số….
 
Anh bạn ca viên bỗng ngưng lại, cúi măt xuống. Vì kể tới chuyện người bệnh ung thư chăng. Anh em chúng tôi muốn nghe anh kể tiếp, nhưng anh không kể nữa. Bỗng anh rưng rưng mắt nói:
 
Năm qua, có chín người ung thư được thăm, được quà, đã chết rồi. Trong đó có một nam ca viên ca đoàn mình, anh Phê-rô Trần Ngọc Lan…và Bố của một ca viên: Ông PX. Nguyễn Chiến….
…………………..
Tôi nhớ đến lời thư của Thánh Giacôbê: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” và nghĩ về mình: ca viên phải sống được điều mình đã hát…
Tôi chỉ biết thầm tạ ơn Chúa vì bây giờ chúng tôi mới hiểu ra giá trị của một cơn bão, và việc đi chơi của ca đoàn chúng tôi phải đáp vào một chỗ mà chúng tôi không hề dự tính…
Sài gòn ngày 26-11-2018
Maria Mân Côi
(*) Giỏ: giỏ xóc tiền; vật dụng nhận tiền dâng cúng trong Thánh Lễ Chúa Nhật, có nơi gọi là Quả, nơi khác gọi là Oi….
Chia sẽ bài viết này trên:

Hãy Tĩnh Thức

Hãy Tĩnh Thức

Một nhà quản trị trẻ tuổi đang lái
xe từ thành phố đến một làng nọ,
đang chạy rất nhanh trong chiếc xe Jaguar.
Vừa chạy vừa nhìn xem các trẻ em đang chơi bắn cung tên,
nhưng khi tới gần, anh ta không còn trông thấy ai.

Đột nhiên một hòn đá lớn đã ném từ đàng sau vào bên hông,
chạm vào ngay cánh cửa xe.
Anh ta vội thắng lại,
rồi bước xuống xe.
Với nét mặt đỏ bừng tức giận,
anh ta đến chụp cổ áo thằng nhỏ đã ném đá,
và đẩy nó vào sát kề cạnh xe hét lớn rằng,
“Sao mầy làm vậy, mầy là ai?
Mầy có biết một vét xước đó thôi,
có thể mất nhiều tiền để sữa không?
Tại sao mầy lại làm vậy?”

Thằng nhỏ vừa run sợ, vừa nói lời xin lỗi,
“Xin Ông. . . xin ông tha lỗi. . . cháu không cố ý đâu,
vì cháu không còn cách khác,
chỉ đành dùng cách này mà thôi,
cháu ném cục đá, vì không ai chịu ngừng xe lại. . .”

Tràn trề nước mắt lăn xuống từ trên má,
thằng nhỏ chỉ vào một người đang nằm gần chiếc xe.
“Người đó là anh của cháu,
anh đang ngồi xe lăn,
và đã bị trực bánh ngã xuống lề đường,
nhưng cháu không thể nhất anh lên được.”

Vừa khóc vừa năn nỉ người quản trị gia,
“Xin ông làm ơn giúp cháu đỡ anh lên xe lăn,
anh ấy đang bị đau lắm,
cháu không thể tự mình nâng lên được.”

Cảm thấy xúc động, Anh ta cố gắng đè nén sự tức giận,
đến một tay nhất người bị ngã bỏ lên xe lăn,
và lấy ra một cái khăn lau tay nhỏ,
chấm nhẹ trên những vết thương của người bị ngã,
và nói lời an ủi rằng,
“Không sao đâu, mọi sự sẽ được khỏi mau.”

“Cám ơn và xin Chúa chúc lành cho ông,
Xin chào Ông, cháu đưa anh về,” đứa bé nói.

Qúa rung động bởi những lời của cậu bé,
Anh ta đứng bất động nhìn theo cậu bé đẩy xe lăn đi về nhà.
Sau đó, Anh ta mới bước đi từ từ đến xe.
Vết lõm bởi cục đá vẫn còn đó,
Nhưng Anh ta không nghĩ đến phải đi sữa.

Anh ta muốn giữ lại vết lõm đó,
để nhắc nhở anh ta rằng,
“Đừng sống qúa vội vàng,
để khỏi bị người khác ném đá trấn tĩnh mình.”

Tiếng nói của Thiên Chúa luôn thì thầm bên tai, trong linh hồn, và trong trái tim của mỗi người. Nhưng đôi khi chúng ta không biết chú ý đến lời Người. Vì thế, Thiên Chúa bất đắc dĩ phải ném một cục đá để làm cho tai ta mở rộng, hồn ta bừng tĩnh, tim ta biết lắng động để lắng nghe lời Ngài.

Có nhiều người nói rằng, “Con có lắng tai nghe nhưng chẳng thấy Chúa nói, có chờ đợi mà chẳng thấy Chúa đến.” Đúng vậy, có lắng tai mà không nghe được tiếng Chúa, là vì chúng ta muốn nghe Chúa trong những lúc vui nhộn ồn ào, trong những buổi tiệc liên hoang linh đình. Nhưng tiếng Chúa thường nói với chúng ta trong giây phút yên lặng một mình. Chỉ khi tâm hồn yên tĩnh sẵn sàng, thì Chúa mới đến viếng thăm.

Qúa bận rộn lo cho chính mình, ít khi quan tâm đến người chung quanh, thì khó mà nghe được tiếng Chúa, vì tiếng Chúa thường hay nói với chúng ta qua một trung gian khác. Có thể qua một người quen, một người lạ mặt hoặc những người chúng ta gặp trên đường phố. Một con người sống trong ích kỷ, luôn nghĩ mình trên hết, thì có giờ đâu mà nghĩ đến Chúa, có giờ đâu mà lắng nghe tiếng Chúa.

Vì thế, để khỏi bị Chúa ném đá vào cuộc sống, chúng ta hãy sống cho người khác và vì người khác. Hãy tĩnh thức và cầu nguyện để sẵn sàng đáp lời mời gọi của Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Tầm Xuân, CMC

Chia sẽ bài viết này trên:

TĨNH TÂM MÙA VỌNG 2019 NGÀY 14/12/2019 – LM VINH SƠN PHẠM TRUNG THÀNH (DCCT)

Tĩnh tâm Mùa Vọng 2019 ngày 14/12/2019
Lm Vinh Sơn Phạm Trung Thành (DCCT) giảng phòng

Chủ đề của 2 ngày tĩnh tâm Mùa Vọng:
“CHÚA KI-TÔ ĐANG SỐNG” – Người trẻ với cội rễ​

Bài giảng :

Tài liệu tham khảo: TÔNG HUẤN “CHRISTUS VIVIT” – CHÚA KITÔ ĐANG SỐNG – CHƯƠNG SÁU

Hình ảnh:

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Còn đợi chờ ai? – CN III MV A

Còn đợi chờ ai?

“Có phải Ngài là Đấng sẽ đến, hay chúng tôi phải đợi người khác?”

Bà Terry có một cô con gái tên là Cathy đến tuổi kết hôn. Bà bắt đầu để ý giúp con chọn bạn trăm năm. Cathy rất thân mẹ và tâm sự với mẹ về mẫu người lý tưởng của cô: “Anh ấy phải là người hơn con ít là hai tuổi, phải cùng là Công giáo, tương đối dễ coi, phải bằng con hay hơn con ít nhiều về trình độ học thức nghĩa là phải có bằng BA hay BS, chưa bao giờ kết hôn, không bồ bịch lăng nhăng, biết đàn ca và nhảy đầm chút ít, không hút thuốc hay rượu chè cờ bạc, có công ăn việc làm đàng hoàng, biết cách đối xử với gia đình của anh ấy, và nhất là phải được mẹ bằng lòng.”

Nghe con tâm sự như thế, bà Terry rất đỗi vui mừng vì bà cũng có cùng ý nghĩ như Cathy. Bà sung sướng khi được Cathy kể cho bà nghe các liên hệ tình cảm của nàng để bà góp ý. Có rất nhiều chàng trai để ý Cathy, nhưng không ai hội đủ những điều kiện hợp với mẫu người lý tưởng mà nàng đã đưa ra.

Đến một ngày nọ, bà nghe Cathy kể về một chàng trai đang để ý nàng tên là Tony với tất cả những phẩm chất mà Cathy hằng mong mỏi. Chỉ còn một điều kiện duy nhất Tony chưa có là phải được bà bằng lòng. Thế là bà Terry nói Cathy mời Tony về nhà chơi để bà góp ý. Chỉ sau ít lần gặp gỡ Tony, bà đã nhận ra đây đúng là mẫu người chồng lý tưởng cho con mình và đúng là mẫu rể quý bà hằng mong đợi. Bà nói với Cathy: “Đây chính là người rất xứng hợp với con, mẹ hoàn toàn bằng lòng và sẽ tận tình lo chuyện thành hôn cho hai đứa.”

Nhưng bà ngạc nhiên khi nghe Cathy nói: “Nhưng con sẽ không lấy Tony đâu vì con không có cảm tình với anh ấy.” Bà Terry buồn bực nói với con: “Già kén kẹn hom. Con còn đợi chờ ai?”

Cũng như Cathy đang kiếm tìm một người bạn trăm năm lý tưởng, mỗi người trong nhân loại qua bao thế hệ cũng chờ mong một Đấng Cứu Thế, một mẫu người lý tưởng có thể làm thỏa mãn mọi khao khát chân thiện mỹ của lòng người.

Chúa Giêsu Kitô chính là mẫu người lý tưởng mà con tim nhân loại qua mọi thời đại hằng khao khát mong chờ. Ngài là người duy nhất có thể làm thỏa mãn mọi ước mơ sâu thẳm nhất của lòng người – ước mơ được thóat khỏi ách nô lệ của tội lỗi và nết xấu, ước mơ được sự sống đời đời, ước mơ được biết chân lỳ toàn vẹn, ước mơ được chiếm hữu sự thiện tuyệt đối, ước mơ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp vô cùng. Vì Ngài chính là Đấng Cứu Chuộc nhân thế, là nguồn Chân-Thiện-Mỹ, là Thiên Chúa làm người để đưa con người lên hàng Thiên Chúa, nghĩa là cho con người được chia sẻ chính sự sống thần linh của Thiên Chúa.

Nhưng làm sao có thể biết được Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa làm người và là Đấng Cứu Thế mà nhân loại hằng mong đợi, khi có quá nhiều bậc vĩ nhân từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại, những vĩ nhân đã có hàng triệu người sùng bái như Socrates, Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Mohammed?

Đức Cha Fulton Sheen đã đưa ra ba tiêu chuẩn để giúp ta nhận biết ai là Đấng Cứu Thế đích thực được Thiên Chúa sai đến cho nhân loại.

Thứ nhất: Người ta phải được thông báo trước về sự xuất hiện của người ấy.

Thứ hai: Người ấy phải làm được những phép lạ để mọi người thấy rõ quyền năng của Thiên Chúa ở nơi người ấy.

Thứ ba: Những lời nói và việc làm của người không được đi ngược với lương tâm và lý trí tự nhiên của con người.

Tất cả những nhân vật vĩ đại nói trên đã không thỏa mãn tiêu chuẩn đầu tiên, chưa nói đến hai tiêu chuẩn sau.

Chỉ một mình Chúa Giêsu Kitô đủ cả ba tiêu chuẩn trên.

Sự ra đời, nơi sinh, hoàn cảnh tị nạn, các hoạt động, cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu đều đã được các ngôn sứ nói đến trước đó cả ngàn năm trong thời Cựu Ước.

Chúa Giêsu đã thực hiện rất nhiều phép lạ để chứng minh Ngài thực sự là Đấng Thiên Sai. Phép lạ cả thể và lớn lao nhất mà Ngài đã thực hiện chính là phép lạ phục sinh của chính Ngài.

Tất cả các giáo huấn của Ngài không đi ngược với lương tâm và lý trí tự nhiên của con người, nhưng đã hướng lòng trí con người đến những gì cao trọng nhất và đáng yêu nhất là chính Thiên Chúa. Chính Ngài đã thực hiện hoàn hảo tất cả những gì Ngài hướng dẫn kẻ khác.

Như vậy, Chúa Giêsu Kitô chính là Đấng Thiên Sai, Đấng duy nhất đáng chiếm hữu trọn vẹn tình yêu của trái tim nhân loại.

Đó chính là điều mà Tin Mừng hôm nay muốn nói với chúng ta.

Các môn đệ của Gioan được sai đến với Chúa Giêsu đã thay mặt toàn thể nhân loại qua mọi thời đại để hỏi Ngài câu hỏi quyết định sau: “Có phải Ngài là Đấng sẽ đến hay chúng tôi còn phải đợi người khác?” (Mt 11:3)

Chúa Giêsu đã tự xác nhận Ngài là Đấng Thiên Sai vì chính Ngài đã thực hiện những phép lạ và hoàn tất những lời tiên tri về Ngài như sau: “Các ông hãy tin lại cho Gioan mọi điều tai nghe mắt thấy: Mù được sáng mắt và què được đi, phung hủi được sạch, và điếc được nghe cùng kẻ chết sống lại, và ngườ nghèo khó được nghe báo Tin Mừng; và phúc cho người không bị vấp ngã vì Ta.”(Mt 11:4-6)

Đấng Thiên Sai mà nhân loại mong mỏi đợi chờ qua bao thế hệ đã đến với nhân loại và đã hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chua dành cho chúng ta.

Đó là niềm vui của Hội Thánh suốt hơn hai ngàn năm nay, và Hội Thánh không ngừng mời gọi mọi người chia sẻ niềm vui ấy, nhất là trong mùa vọng.

Thật thích hợp khi Giáo Hội biểu lộ niềm vui lớn lao ấy qua việc gọi Chúa nhật tuần này là “Chúa Nhật Mừng Vui” với việc xử dụng màu hồng trong phụng vụ. Nhưng chúng ta chỉ cảm nhận niềm vui này cách trọn vẹn khi chúng ta có cùng một niềm tin của Hội Thánh nơi Chúa Kitô và chấp nhận bước vào liên hệ tình yêu thiết thân với Chúa Kitô, qua việc lắng nghe và thực hành tất cả những lời Chúa Kitô và Hội Thánh truyền dạy.

Đó chính là điều các thánh đã chọn để thực hiện trong cuộc đời các ngài.

Nếu không chấp nhận Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai, thì chúng ta còn đợi chờ ai?

Lạy Mẹ Maria là Đấng “làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy”, xin Mẹ hãy cầu cùng Chúa cho chúng con ngày thêm xác tín rằng chỉ một mình Chúa Giêsu Con Mẹ là Đấng Thiên Sai, Đấng duy nhất có thể đem lại niềm vui viên mãn và ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống của chúng con. Xin Mẹ cầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con luôn gắn bó với Người trong mọi nơi mọi lúc, và hân hoan làm chứng về Người cho những ai chưa nhận biết Người để niềm vui cứu độ được lan rộng nơi tất cả những tâm hồn thiện chí. Amen.

Lm. Phạm Quốc Hưng

Chia sẽ bài viết này trên:

Tĩnh tâm Mùa Vọng 2019 ngày 13/12/2019 – Lm Vinh Sơn Phạm Trung Thành (DCCT)

Tĩnh tâm Mùa Vọng 2019 ngày 13/12/2019
Lm Vinh Sơn Phạm Trung Thành (DCCT) giảng phòng

Chủ đề của 2 ngày tĩnh tâm Mùa Vọng:
“CHÚA KI-TÔ ĐANG SỐNG” – Người trẻ với cội rễ​

Bài giảng :

Tài liệu tham khảo: TÔNG HUẤN “CHRISTUS VIVIT” – CHÚA KITÔ ĐANG SỐNG – CHƯƠNG SÁU

Hình ảnh:

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Tông Huấn “Christus Vivit” – CHÚA KITÔ ĐANG SỐNG – Chương Sáu

Tông Huấn “Christus Vivit” – “CHÚA KITÔ ĐANG SỐNG”
Chương Sáu – Người trẻ với cội rễ​

179. Đôi khi tôi bắt gặp những cây nhỏ xinh xinh, nhánh chúng hướng lên trời cứ vươn lên cao mãi, tựa như một bài ca hy vọng. Và rồi, sau một cơn bão tôi thấy chúng gục ngã và đã chết. Bởi lẽ, với bộ rễ lưa thưa chúng vươn cành lên cao trong khi rễ không được bén sâu vào lòng đất, nên nhanh chóng bị vùi dập dưới sức mạnh của thiên nhiên. Bởi thế tôi đau buồn khi thấy những người trẻ được gợi ý xây dựng một tương lai mà không có cội rễ, như thể thế giới mới chỉ bắt đầu hôm nay vậy. Vì “chúng ta không thể lớn lên nếu thiếu đi những bộ rễ mạnh mẽ để nâng đỡ mình đứng vững và gắn chặt vào mặt đất. Thật dễ bị cuốn bay đi mất khi chúng ta không có một nơi nào để bám víu, không có chỗ nào để định cư.” [98]

Đừng để mình bị bật rễ

180. Đây không phải là một vấn đề thứ yếu, tôi thấy cần dành một chương ngắn để thảo luận về nó. Nếu hiểu vấn đề này cho đúng, chúng ta sẽ nhận ra sự khác biệt giữa niềm vui của tuổi trẻ với sự sùng bái tuổi trẻ đầy sai lầm – đó vốn là điều một số người đã sử dụng để dẫn dụ người trẻ và lợi dụng họ phục vụ cho mục đích của mình.

181. Chúng ta hãy thử nghĩ về điều này: Nếu có ai đó đề nghị và nói với các con rằng hãy phớt lờ lịch sử và không cần trân trọng kinh nghiệm của các bậc tiền bối; khinh thường quá khứ mà chỉ nhắm đến tương lai được họ thêu dệt nên, thì chẳng phải đó là cách thức dễ dàng để họ lôi kéo các con làm điều họ bảo hay sao? Họ muốn các con nông cạn, mất gốc và hoài nghi mọi sự, để các con chỉ biết tin vào lời hứa và tuân theo theo những kế hoạch của họ mà thôi. Đó chính là cách thức mà các ý thức hệ khác nhau thực hiện. Họ tiêu hủy (hoặc phân rã) mọi sự khác biệt để có thể thống trị mà không bị phản kháng. Để đạt được điều đó, họ cần làm cho người trẻ xem thường lịch sử, chối bỏ kho tàng thiêng liêng và nhân bản được truyền lại qua các thế hệ, và không biết đến tất cả những gì có trước mình.

182. Đồng thời, những kẻ lừa mị còn dùng một nguồn khác, đó là “sự sùng bái tuổi trẻ”, như thể coi tất cả những gì không còn trẻ thì đáng chê bai và lỗi thời. Thân xác trẻ trung trở thành biểu tượng cho trào lưu sùng bái này; và tất cả những gì thuộc về thân xác đó đều được thần tượng hoá và đáng ham muốn vô hạn, trong khi những gì “không trẻ trung” thì bị coi thường. Thế nhưng, đó là một thứ vũ khí rốt cuộc chỉ làm hạ cấp đặc biệt là người trẻ, tước mất của họ những giá trị thực và lợi dụng họ để đạt được những lợi ích cá nhân, kinh tế hoặc chính trị.

183. Các bạn trẻ thân mến, đừng cho phép người ta lợi dụng tuổi trẻ của các con, đẩy các con đến một lối sống nông cạn đồng hoá cái đẹp chỉ với dáng vẻ bên ngoài. Nhưng hãy biết rằng có một vẻ đẹp tuyệt vời nơi một người lao động trở về nhà với vẻ lấm lem phờ phạc, nhưng lại chan chứa niềm vui khi đem cơm bánh về cho con cái. Có một vẻ đẹp kỳ diệu của một gia đình nhỏ hoà hợp quây quần bên mâm cơm gia đình dù rất đạm bạc nhưng biết chia sẻ quảng đại cho nhau. Có vẻ đẹp nơi một người vợ, dẫu hơi nhếch nhác và hình hài đã in dấu thời gian, nhưng vẫn tận tụy chăm sóc người chồng ốm đau, mặc cho đã tuổi cao sức yếu. Dẫu mùa xuân của thời “lưu luyến ấy” đã qua đi, vẫn có một vẻ đẹp của các cặp đôi trung thành yêu thương nhau đi qua mùa thu của cuộc đời và vẻ đẹp của các cụ ông cụ bà vẫn nắm tay sánh bước bên nhau đến cuối cuộc đời. Có một vẻ đẹp, vượt trên cái đẹp ngoại hình và thời trang, nơi những người nam và người nữ theo đuổi ơn gọi của mình với tình yêu, để phục vụ quên mình vì cộng đồng và đất nước, nơi những người làm việc quảng đại để xây dựng một gia đình hạnh phúc, nỗ lực làm việc chăm chỉ trong âm thầm vô vị lợi để tái thiết một xã hội hoà hợp tiến bộ. Khám phá, bộc lộ và biểu dương những vẻ đẹp này, vốn là những phản chiếu sống động vẻ đẹp của Đức Kitô trên thập giá, là ta đã đặt nền tảng cho sự liên đới xã hội đích thật và cho nền văn hoá gặp gỡ.

184. Cùng với những chiến lược sùng bái tuổi trẻ và vẻ bề ngoài sai lạc, ngày nay người ta còn cổ võ một thứ linh đạo không có Thiên Chúa, một kiểu tình cảm không cộng đồng và không dấn thân đến với những người đau khổ, nỗi sợ người nghèo xem họ như một mối nguy hiểm, và rất nhiều đề nghị làm chúng con tin vào một tương lai thiên đường ngày càng xa vời. Cha không muốn giới thiệu với các con những đề nghị như thế, và với cả tấm lòng, cha xin các con hãy cẩn trọng đừng để mình bị ảnh hưởng bởi ý thức hệ đó, bởi nó không những không làm các con nên trẻ trung hơn, mà còn biến các con thành nô lệ. Cha đề nghị với các con một con đường khác, khởi đi từ sự tự do, nhiệt huyết và sáng tạo, hướng tới những chân trời mới, và đồng thời, giúp chúng con chăm sóc những cội rễ nuôi dưỡng và nâng đỡ mình.

185. Theo hướng đó, tôi muốn lưu ý rằng “nhiều Nghị phụ Thượng Hội đồng đến từ những bối cảnh không phải Tây phương đã cho thấy là, tại những quốc gia của họ, hiện tượng toàn cầu hoá cũng đồng thời hình thành nên một hình thức thực dân văn hoá, tách người trẻ ra khỏi những cội rễ văn hoá và tôn giáo của mình. Hội Thánh cần quan tâm đồng hành với những người trẻ trong tiến trình này giúp họ không đánh mất những nét quý giá nhất trong căn tính của họ”. [99]

186. Ngày nay chúng ta thấy một xu thế “đồng dạng hoá” người trẻ, làm mờ nhạt đi những nét độc đáo về nguồn gốc của họ, và biến họ thành những thứ sản phẩm dễ uốn nắn hàng loạt. Điều này tạo ra một sự hủy hoại văn hoá nghiêm trọng tương tự như sự tuyệt chủng của các loài động thực vật. [100] Vì lý do này, khi nói chuyện với các bạn trẻ bản địa quy tụ tại Panama vừa qua, tôi đã khuyến khích họ “chăm sóc cội rễ của mình, bởi vì từ chính cội rễ ấy sẽ phát sinh nguồn sức mạnh, giúp các con lớn lên, triển nở và trổ sinh nhiều hoa trái”. [101]

Tương quan của các con với người cao niên

187. Tại Thượng Hội đồng, chúng ta đã nghe nói rằng “Giới trẻ vươn mình đến tương lai và đầy nghị lực cùng sức năng động để đối phó với cuộc sống. Tuy nhiên […] đôi khi họ có khuynh hướng ít để ý đến ký ức của quá khứ mà mình xuất thân, đặc biệt là những điều tốt họ đã lãnh nhận được từ ông bà, cha mẹ, và hành trang văn hoá mà xã hội đã đem lại cho họ. Giúp người trẻ khám phá một quá khứ phong phú và sống động, bằng cách nhớ đến quá khứ và dựa trên đó để thực hiện những chọn lựa và để phát triển tiềm năng, đó là một hành vi yêu thương đích thực dành cho họ, tạo điều kiện cho họ trưởng thành và để họ thực hiện những chọn lựa nên làm”. [102]

188. Lời Chúa khuyên chúng ta đừng quên tiếp xúc với những bậc cao niên, để có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các vị: “Hãy có mặt khi các bậc lão thành hội họp, thấy vị nào khôn ngoan, hãy hết lòng gắn bó… Thấy người học thức uyên thâm, con hãy năng lui tới, chân đi mòn ngưỡng cửa nhà họ” (Hc 6,34.36). Dù sao đi nữa, những tháng năm dài họ đã sống và tất cả những gì họ đã trải qua trong cuộc sống đều đáng để chúng ta kính trọng các ngài: “Thấy người đầu bạc, ngươi phải đứng lên” (Lv 19, 32). Vì, “sức mạnh là niềm tự hào của giới thanh niên, mái đầu bạc là vinh dự của hàng bô lão” (Cn 20, 29).

189. Kinh Thánh nói với chúng ta: “Hãy lắng nghe cha con, đấng sinh thành ra con, đừng khinh dể mẹ con khi người già yếu” (Cn 23, 22). Lệnh truyền tôn kính cha mẹ là “điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa” (Ep 6,2, x. Xh 20,12; Đnl 5,16; Lv 19,3), và lời hứa đó là: “để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6, 3).

190. Điều đó không có nghĩa là con phải đồng ý tất cả những gì mà các ngài nói, hoặc phải chấp nhận mọi hành động của họ. Một người trẻ cần phải luôn có tinh thần phê bình. Thánh Basiliô Cả khuyên những người trẻ biết quý trọng các tác giả Hy Lạp cổ, nhưng chỉ chấp nhận những gì tốt đẹp mà họ dạy. [103] Vấn đề đơn giản chỉ là mở lòng ra để đón nhận sự khôn ngoan được lưu truyền qua các thế hệ, một sự khôn ngoan gần gũi với thân phận khốn khổ của con người, và không có lý do gì để tan biến trước những cái mới lạ của xã hội tiêu thụ và thị trường.

191. Thế giới chưa bao giờ, và cũng sẽ không bao giờ hưởng lợi ích gì từ sự đoạn tuyệt giữa các thế hệ. Đó là những bài ca quyến rũ làm mê ngủ về một tương lai không cội rễ và mất gốc. Đó là một sự dối trá lừa gạt các con tin rằng chỉ có những gì mới mẻ mới là tốt đẹp. Khi có mối liên kết giữa các thế hệ, thì người ta sẽ nuôi giữ một ký ức tập thể trong các cộng đồng, vì mỗi thế hệ khi ấy sẽ tiếp nhận những giáo huấn từ những người đi trước, rồi chuyển giao những di sản đó cho thế hệ theo sau. Bằng cách này, người ta sẽ có các khung tham chiếu để kiến thiết một xã hội mới vững chắc. Như châm ngôn người xưa có nói: “Nếu như người trẻ có sự hiểu biết và người già có sức mạnh, thì không có gì không thể làm được”.

Những giấc mơ và những thị kiến

192. Tiên tri Giôen có một lời loan báo giúp ta hiểu vấn đề này một cách tuyệt vời. Với lời ấy Đức Chúa phán: “Ta sẽ đổ thần khí Ta trên hết thảy người phàm. Con trai con gái các ngươi sẽ trở thành các tiên tri; người già được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến” (Ge 3,1; x. Cv 2,17). Khi cả người trẻ lẫn người già đều mở lòng ra đón nhận Thánh Thần, họ sẽ là một sự kết hợp tuyệt vời. Người già mơ về những ước mơ và người trẻ thấy những thị kiến. Hai sự việc này bổ túc cho nhau như thế nào?

193. Người cao tuổi có những giấc mơ được dệt nên từ những ký ức và hình ảnh mang dấu ấn những trải nghiệm qua dòng thời gian của họ. Nếu người trẻ biết bén rễ mình từ trong những giấc mơ đó của người già, thì họ sẽ có thể thấy được tương lai, có được những thị kiến mở rộng tầm nhìn đến chân trời và tìm thấy được những lối đi mới. Nhưng nếu người già không mơ, thì người trẻ sẽ không còn có thể nhìn thấy rõ được chân trời đích.

194. Thật tuyệt vời nếu chúng ta tìm thấy được, trong những gì cha mẹ chúng ta lưu giữ được trong ký ức, kỷ niệm nào đó giúp ta hình dung được những giấc mơ mà ông bà nội ngoại đã từng mơ về chúng ta. Mỗi người chúng ta, ngay cả trước khi sinh ra, đã nhận được như phúc lành từ ông bà, một ước mơ đong đầy tình yêu và hy vọng, về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Và nếu đó không phải là ông bà của chúng ta, thì chắc chắn có ông bà cố tổ trước đó của chúng ta đã mơ giác mơ hạnh phúc ấy khí ngắm nhìn con cái hay cháu chắt mình nằm trong nôi. Giấc mơ đầu tiên là giấc mơ tạo dựng của Thiên Chúa, Cha chúng ta, đi trước và đồng hành với đời sống của con cái Ngài. Ký ức về phúc lành này, chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, là một gia sản quý báu chúng ta phải biết giữ gìn cho sống động để rồi chúng ta có thể tiếp tục chuyển giao.

195. Đó là lý do vì sao chúng ta nên để cho những vị lớn tuổi kể những câu chuyện dài của họ, những câu chuyện đôi khi tưởng chừng như mang tính thần thoại, huyễn tưởng. Nhưng, thực ra, chúng là những giấc mơ của người già, thường cũng chứa đầy những kinh nghiệm quý báu, với những biểu tượng hùng hồn và những thông điệp ẩn sâu dưới đó. Những câu chuyện này thường dài cần có một khoảng thời gian để kể lại, chúng ta cần sẵn sàng kiên nhẫn lắng nghe, và hãy để cho chúng lắng đọng, cho dù những câu chuyện ấy thường dài dòng hơn, khác với cách mà chúng ta vẫn quen nghe nhìn trên các mạng xã hội ngày nay. Chúng ta phải nhìn nhận rằng mọi sự khôn ngoan cần thiết cho cuộc sống vượt ra khỏi ranh giới của những nguồn thông tin truyền thông hiện nay.

196. Trong quyển sách “Sự Khôn ngoan của Thời gian” [104] tôi đã diễn tả một số suy tư của mình dưới hình thức các câu hỏi. “Tôi xin gì với các vị cao niên, thuộc nhóm thế hệ của tôi? Tôi xin chúng tôi là những người lưu giữ ký ức. Chúng ta, những người ông người bà, cần phải lập một ca đoàn. Tôi hình dung những người già như một ca đoàn thường trực của một ngôi đền thánh thiêng liêng quan trọng, ở đó các lời cầu nguyện khẩn nài và những bài thánh ca chúc tụng nâng đỡ toàn thể cộng đồng đang làm việc và chiến đấu trong cuộc sống”. [105] Thật là tốt đẹp khi “nam thanh nữ tú, bô lão cùng nhi đồng, cùng ca tụng thánh danh Đức Chúa” (Tv 148,12-13).

197. Chúng ta, những người cao niên có thể truyền lại những gì cho thế hệ trẻ? “Chúng ta có thể nhắc cho những người trẻ hôm nay, những người đang sống những tham vọng táo bạo và cả những bất an, rằng một cuộc sống thiếu vắng tình yêu là một cuộc đời cằn cỗi”. [106] Chúng ta có thể nói gì với họ? “Chúng ta có thể nói với những người trẻ đang sợ hãi rằng họ có thể vượt qua những lo lắng về tương lai”. [107] Chúng ta có thể dạy họ điều gì? “Chúng ta có thể dạy những người trẻ, vốn quá bận tâm về bản thân mình, rằng cho đi thì vui hơn là nhận lãnh. Rằng tình yêu không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn bằng hành động nữa” [108]

Cùng nhau mạo hiểm

198. Một tình yêu hiến thân và hành động, nhiều lúc sai lầm. Kẻ hành động, mạo hiểm, thường mắc sai lầm. Ở đây chúng ta có thể nhận ra chứng tá rất hay của bà Maria Gabriella Perin, bị mồ côi cha sau khi chào đời. Bà đã kể lại ảnh hưởng của biến cố này như thế nào đối với cuộc sống của mình, trong một mối quan hệ không dài lâu nhưng đã biến bà thành một người mẹ và giờ đây là người bà. “Những gì tôi biết đó là Thiên Chúa là Đấng đã làm ra những câu chuyện. Trong quyền năng và lòng thương xót của Ngài, Ngài dùng những chiến thắng cũng như những thất bại của chúng ta, để dệt nên một tấm thảm tuyệt đẹp đầy hài hước. Mặt trái tấm thảm trông có vẻ lộn xộn với những sợi chỉ rối rắm – tức các sự kiện xảy đến trong cuộc sống chúng ta – và có lẽ đây là phía mà chúng ta cảm thấy mất bình an khi có những nghi ngờ. Nhưng mặt phải của tấm thảm thì cho thấy một câu chuyện tuyệt vời, đây chính là mặt Thiên Chúa nhìn thấy”. [109] Khi những người già chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc sống, họ thường trực giác thấy những gì phía sau mớ chỉ rối rắm đó. Và họ nhận ra những gì Thiên Chúa có thể thực hiện sáng tạo ngay cả từ những sai lầm của chúng ta.

199. Nếu chúng ta cùng đi trên cuộc hành trình, người trẻ và người già, chúng ta sẽ có có thể cắm rễ sâu trong hiện tại, và từ đây để cùng nhìn về quá khứ và hướng về tương lai. Ôn lại quá khứ để học bài học lịch sử và chữa lành những vết thương cũ đôi khi còn tái phát. Hướng tới tương lai để nuôi dưỡng lòng hăng hái, để làm cho những giấc mơ nẩy mầm, khơi lên những viễn tượng và làm cho hy vọng nở hoa. Bằng cách đó, chúng ta được hiệp nhất, có thể học hỏi lẫn nhau, sưởi ấm con tim, khơi động tâm trí với ánh sáng của Phúc âm, và thêm sức mạnh mới cho đôi tay của mình.

200. Cội rễ không phải là những mỏ neo cột chặt chúng ta vào quá khứ, ngăn cản không cho ta nhập thể trong thế giới hiện tại để sáng tạo điều gì đó mới mẻ. Ngược lại, chúng là một căn cứ điểm xuất phát, cho ta lớn lên và đương đầu với những thách thức mới. Bởi thế, cũng sẽ chẳng ích gì khi “chỉ ngồi đó mà hoài niệm thời đã qua; chúng ta phải đón nhận nền văn hoá của chúng ta cách thực tế với tình yêu, và làm đầy nó bằng Phúc âm. Ngày hôm nay chúng ta được sai đi để loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu cho thời đại mới. Chúng ta cần phải yêu thời đại này, với cả những cơ hội và rủi ro; với những niềm vui và những nỗi buồn; những sự giàu có và những giới hạn; những thành công và những thất bại của nó”. [110]

201. Trong Thượng Hội đồng, một bạn trẻ trong các dự thính viên đến từ đảo Samoa, đã nói về Hội Thánh như một chiếc thuyền nhỏ, trong đó, người già giúp dẫn đường chỉ lối, bằng việc định vị các ngôi sao, trong khi người trẻ tiếp tục chèo, và hình dung những gì đang chờ họ phía trước. Chúng ta đừng để mình đi lạc đường bởi những người trẻ cho rằng người lớn chỉ là một quá khứ không còn ý nghĩa gì, cũng như những người lớn, vốn tin chắc rằng mình luôn biết người trẻ cần phải hành động như thế nào. Thay vào đó, tất cả chúng ta hãy bước lên cùng một chiếc thuyền và cùng nhau tìm kiếm một thế giới tốt đẹp hơn, với sức năng động luôn luôn mới của Chúa Thánh Thần.

_________________________________

[98] Huấn từ trong buổi Canh thức với Giới trẻ, Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ XXXIV tại Panama (26/01/2019): L’Osservatore Romano, 28-29/01/2019, 6.

[99] VK 14.

[100] X. Thông điệp Laudato Si’ (24/05/2015), 145: AAS 107 (2015), 906.

[101] Sứ điệp video gửi đến Hội nghị Thế giới về Giới trẻ bản xứ Panama (17-21/01/2019): L’Osservatore Romano, 19/01/2019, 8.

[102] VK 35.

[103] X. Ad Adolescentes, I, 2: PG 31, 566.

[104] X. La saggezza del tempo. In dialogo con Papa Francesco sulle grandi questioni della vita. A cura di Antonio Spadaro, Venezia 2018.

[105] Ibid., 12.

[106] Ibid., 13.

[107] Ibid.

[108] Ibid.

[109] Ibid., 162-163

[110] EDUARDO PIRONIO, Thông điệp cho Giới trẻ Argentina tại Hội nghị Giới trẻ Quốc tế tại Cordoba, (12-15/09/1985), 2.

Chia sẽ bài viết này trên: