Month: Tháng Ba 2020

Đức Giêsu Kitô – ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Chương trình mục vụ giới trẻ 2020-2022
Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô

Đức Giêsu Kitô – ĐƯỜNG TÌNH YÊU
Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 4 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng của Mùa Chay Thánh, đặc biệt là chuẩn bị bước vào Tam Nhật Vượt Qua, tưởng niệm việc Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể, sự đau khổ, sự chết và Phục Sinh của Người, đỉnh cao của Năm Phụng Vụ. Trong tháng Ba vừa qua, cùng nhau chúng ta suy niệm chủ đề ‘Đức Giê-su – Đường Thập Giá’. Tháng Tư này, chúng ta suy niệm chủ đề ‘Đức Giê-su – Đường Tình Yêu’. Người đã đi Đường Tình Yêu để đến với con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, hầu thông phần, biến đổi và dẫn đưa tất cả về với Thiên Chúa.

Tình yêu Thiên Chúa là khởi nguyên, là đỉnh cao và là trung tâm của đời sống con người. Trong thông điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người (Redemptor Hominis, 1979), thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nhấn mạnh: “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người vẫn là hữu thể mà chính mình không thể hiểu được, cuộc sống con người vô nghĩa, nếu tình yêu không được biểu lộ, nếu con người không gặp gỡ tình yêu, nếu con người không kinh nghiệm tình yêu và làm cho tình yêu ở lại nơi mình, nếu con người không tham dự vào tình yêu cách mật thiết” (Redemptor Hominis 10). Tình yêu chính là mối dây liên kết con người với Thiên Chúa và với nhau. Do đó, giới răn cao cả nhất của Thiên Chúa là ‘giới răn tình yêu’, yêu Chúa và yêu người.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã chọn Dân Do Thái làm Dân Riêng và đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập (Đnl 7,6-11), nên hằng ngày họ lặp đi lặp lại Lời Thiên Chúa: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4-5). Người cũng nói với họ: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18). Điều này có nghĩa rằng ai yêu Chúa, thì cũng yêu người và ngược lại. Để có thể thực thi giới răn tình yêu, Thiên Chúa luôn mời gọi Dân Do-thái hãy đi theo đường lối của Người. Do đó, lịch sử tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Do-thái cũng là lịch sử của việc Thiên Chúa mời gọi họ đi theo đường lối của Người. Trong sách Đệ Nhị Luật, Mô-sê nói với Dân Do-thái: “Anh em hãy lo thực hành như Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em, không đi trệch bên phải bên trái. Anh em hãy đi đúng con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em” (Đnl 5,32-33). Tác giả Thánh Vịnh 27 cầu cùng Thiên Chúa: “Xin dạy con đường nẻo Ngài, lạy Chúa, dẫn con đi trên lối phẳng phiu” (Tv 27,11).

Dưới nhãn quan Kinh Thánh Cựu Ước, Thiên Chúa không chỉ là Chủ của muôn vật muôn loài, mà còn là người Cha hằng quan tâm con cái mình: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3). Hơn thế nữa, chúng ta cũng gặp được hình ảnh Thiên Chúa như Người mẹ tận tình chăm sóc những đứa con thơ: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15). Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu vô điều kiện. Chúng ta có thể nhận ra ‘bóng dáng tình yêu vô điều’ kiện trong gia đình nhân loại. Chẳng hạn, tình yêu của cha mẹ dành cho con cái: Cho dù con cái mình ngoan ngoãn hay ngỗ nghịch, lành lặn hay khiếm khuyết, giỏi giang hay kém cỏi, trung thành hay bất tín… cha mẹ luôn yêu thương. Tuy nhiên, tình yêu của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại còn lớn lao hơn thế nữa, lớn đến mức không ai có thể cảm nghiệm hết được.

Theo quan điểm thần học của Trường Phái Tư Tế, Thiên Chúa của Cựu Ước là Thiên Chúa vô hình, Người ‘tiếp cận’ Dân Do-thái qua ‘cột mây’, ‘cột lửa’, hay qua trung gian các ngôn sứ và những vị lãnh đạo của Dân. Người cũng không cho họ biết Tên của Người. Sách Xuất Hành tường thuật: “Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa: Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao? Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: Ta là Đấng Hiện Hữu” [có nghĩa rằng Ta là Ta] (Xh 3,13-14). Trong Tân Ước, “Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,2). Người là Đức Giê-su Ki-tô. Trong Bữa Tiệc Ly, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, thánh Tô-ma hỏi Đức Giê-su “thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?“. Đức Giê-su trả lời: ‘Thầy là Đường’ (Ga 14,6). Đức Giê-su là Thiên Chúa. Tuy nhiên, Người không trả lời như trong Cựu Ước ‘Thầy là Thầy’, mà là ‘Thầy là Đường’. Trong hành trình trần thế, Đức Giê-su minh chứng rằng Người là Đường, và Đường đó chính là Đường Tình Yêu.

Mặc khải Kinh Thánh Tân Ước cho chúng ta biết rằng từ đời đời, Đức Giê-su là Thiên Chúa, nên một với Thiên Chúa và là Con Thiên Chúa (Ga 1,1). Trong môi trường không gian, thời gian, Đức Giê-su chính là tình yêu Thiên Chúa nhập thể. Nhờ Người, tình yêu Thiên Chúa không còn là điều gì trừu tượng nữa, mà ‘có hình’, ‘có dạng’, mang thân xác loài người và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Nhờ Người, ‘Thiên Chúa vô thủy vô chung, phép tắc vô cùng, thông minh vô cùng, trọn tốt trọn lành, ở khắp mọi nơi’ trở thành Đấng mà con người có thể gặp gỡ, đụng chạm và đi vào mối tương giao thân mật (1 Ga 1,1). Nhờ Người, tình yêu cứu độ được thực hiện, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Nhờ Người, tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ cách rõ nét và viên mãn.

Lịch sử nhân loại cho chúng ta biết không ai, không vị sáng lập tôn giáo hay tư tưởng gia lỗi lạc nào khẳng định mình là đường cho tất cả mọi người. Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm nhờ người khác chỉ đường để tới chỗ này chỗ kia. Không những thế, có những người còn nhiệt tình dẫn chúng ta tới nơi chúng ta muốn đến nữa. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa người chỉ đường hay người dẫn đường với chính con đường. Còn Đức Giê-su, Người không những là người chỉ đường hay người dẫn đường, mà Người là Đường. Như vậy, Đường là một Nhân Vị, là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa làm người ở giữa gia đình nhân loại.

Đường Tình Yêu của Đức Giê-su in dấu trên mặt địa cầu, nơi mảnh đất Pa-lét-tin và những vùng phụ cận. Trong hành trình dương thế, Đức Giê-su đã đến với tất cả mọi người, chứ không chỉ những người Do-thái. Tuổi thơ ấu, Người đã đến Ai Cập vì sự truy lùng của vua Hê-rô-đê (Mt 2,13-14). Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Người đã gặp gỡ những người thuộc dân ngoại, chẳng hạn như Người gặp gỡ những người ở Sa-ma-ri, những người ở thành Tia và thành Xi-đon hay miền Thập Tỉnh. Các dấu lạ Người thực hiện, như chữa bệnh, trừ quỉ không chỉ dành riêng cho người Do-thái thuộc dân tộc, máu mủ của Người, mà cho tất cả mọi người. Trong khi đó, sự quan tâm của những người lãnh đạo tôn giáo hay dân sự Do-thái chỉ dành riêng cho người cùng chủng tộc mà thôi. Điều đó nói lên rằng chương trình của Đức Giê-su là chương trình hoàn vũ.

Chúng ta có thể nhận thức rằng Đức Giê-su, Đường Tình Yêu, là Đường của Thiên Chúa, Đường của con người, và là Đường nối kết giữa Thiên Chúa và con người. Nhờ Đường Tình Yêu cùng với Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tạo dựng con người và muôn vật muôn loài. Nhờ Đường Tình Yêu cùng với Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa cứu độ con người và muôn vật muôn loài. Nhờ Đường Tình Yêu cùng với Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa thánh hóa con người và muôn vật muôn loài. Như vậy, Đường Tình Yêu của Đức Giê-su là Đường nối kết giữa Đấng Sáng Tạo với thế giới thụ tạo, giữa Đấng thánh thiện và con người tội lỗi, giữa Đấng toàn năng và con người yếu đuối, giữa Đấng hằng sống và con người hay chết.

Toàn bộ Cựu Ước quy về giới răn yêu thương, với rất nhiều chi tiết quy định để hành động. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Đức Giê-su gọi đây là ‘giới răn mới’. Điểm đặc biệt của ‘giới răn mới’ không phải là ‘yêu’ theo nghĩa của Cựu Ước, không chú trọng đến những gì phải làm theo quy định của Lề Luật (what) mà chú tâm đến cách thế yêu (how), đó là ‘yêu như Đức Giê-su đã yêu’. Cũng trong bối cảnh đó, Đức Giê-su giải thích thêm, “không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy” (Ga 15,13-14). Đức Giê-su yêu các môn đệ như thế đó, yêu đến nỗi gọi các môn đệ là bạn và chết vì họ. Ở đây, chúng ta thấy được khoảng cách lớn lao giữa ‘yêu người khác như chính mình’ của Cựu Ước và ‘yêu như Đức Giê-su đã yêu’ của Tân Ước (Lv 19,18; Ga 15,13-14).

Đường Tình Yêu của Đức Giê-su được diễn tả cách đặc biệt trong Biến Cố Vượt Qua (Passio/Passion), tức là sự đau khổ, sự chết và sự sống lại của Người. Chúng ta có thể khẳng định rằng Biến Cố Vượt Qua chính là biến cố trong đó Đường Tình Yêu của Đức Giê-su đạt đỉnh điểm. Khi đau khổ của Người đến tận cùng, cũng là khi tình yêu của Người trở nên trọn vẹn. Nhờ tình yêu đó, Đức Giê-su đã giải thoát tất cả mọi người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Do đó, Biến Cố Vượt Qua mãi mãi là Biến Cố cao trọng nhất trong mặc khải của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại, từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế.

Tình yêu Đức Giê-su (cũng là tình yêu Thiên Chúa) rất mạnh, mạnh đến nỗi thế giới thụ tạo được dựng nên. Tình yêu Đức Giê-su rất mạnh, mạnh đến nỗi tha thứ mọi tội lỗi cho con người. Tình yêu Đức Giê-su rất mạnh, mạnh đến nỗi con người được thánh hóa và trở thành con Thiên Chúa. Tuy nhiên, vì tham dự thân phận con người, Đức Giê-su trở nên yếu đuối. Người trở nên yếu đuối đến nỗi ai cũng có thể từ chối Người. Người trở nên yếu đuối đến nỗi ai cũng có thể nhạo báng, nhục mạ Người. Người trở nên yếu đuối đến nỗi bị các môn đệ, kẻ thì từ chối Người, kẻ thì bán Người, kẻ khác thì bỏ chạy khi Người lâm nguy. Người trở nên yếu đuối đến nỗi chịu chết, chết trên cây thập tự. Đường Tình Yêu của Đức Giê-su thật là Đường nghịch l‎ý (1 Cr 1,22-25). Nhờ Đường nghịch l‎ý đó, bản tính yếu đuối của con người được biến đổi, tội lỗi của con người được xóa bỏ và sự chết của con người bị tiêu diệt. Như vậy, Đường nghịch l‎ý nhất lại trở thành Đường hữu l‎ý nhất, bởi vì, nhờ Đường này, con người và muôn vật muôn loài được biến đổi và kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa Tình Yêu.

Là Ki-tô hữu, chúng ta được mời gọi theo Đức Giê-su, Đường Tình Yêu. Chúng ta được mời gọi theo các dấu chân Người trong hành trình trần thế. Người xuống sông Gio-đan để chịu Phép Rửa bởi Gio-an Tẩy Giả. Người tới sa mạc vùng Giu-đê-a để chịu cám dỗ 40 đêm ngày. Người rảo bước khắp miền Pa-lét-tin và các vùng phụ cận để loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Người đến với những người nghèo khó để an ủi họ. Người tới nhiều vùng đất thuộc dân ngoại để thông truyền chân l‎ý của Thiên Chúa. Sau cùng, Người vác thập giá tới đồi Can-vê, và từ đây người không thể tiến bước nữa, vì Người đã bị đóng đinh vào thập giá. Tuy nhiên, sau khi sống lại và trong Chúa Thánh Thần, Đường Tình Yêu của Đức Giê-su vươn rộng đến tận cùng trái đất nhờ sự cộng tác trung tín của các môn đệ Người.

Trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su dùng nhiều dụ ngôn để diễn tả Đường Tình Yêu của Người. Chẳng hạn, dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành cho chúng ta biết ai là người đi Đường Tình Yêu, ai là người đi ‘đường duy truyền thống’, ‘đường duy tập quán’, ‘đường lãnh đạm’ (Lc 10,29-37). Trớ trêu thay, người Sa-ma-ri, người ngoại giáo lại đi Đường Tình Yêu, còn thầy tư tế, thầy Lê-vi là những người có ‘Đạo’, những người ở trong ‘truyền thống tình yêu Thiên Chúa’ lại không đi Đường Tình Yêu; những người ‘nhân danh Luật Tình Yêu’ và giữ rất ngặt các quy định về luật ô uế của Đền Thờ lại bỏ qua việc thể hiện tình yêu đối với tha nhân sắp chết nằm bên vệ đường. Điều đó cho chúng ta nhận thức rằng, những ai đi Đường Tình Yêu không cần quan tâm lắm đến tước hiệu, tên gọi hay bất cứ hình thức phân chia nào mang tính văn hóa, truyền thống, xã hội. Điều quan trọng đối với những người đi Đường Tình Yêu là nồng độ tình yêu mình diễn tả qua các tương quan trong cuộc sống hằng ngày.

Hôm nay, Đức Giê-su vẫn đang nói với mỗi người chúng ta: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?” (Lc 9,23-25). Trong tương quan với những người khác, Đức Giê-su mời gọi chúng ta: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,43-44). Còn thánh Gio-an, người môn đệ Chúa yêu, thì khẳng định: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20).

Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta nhận thức rằng con người ham sống sợ chết, ham khen sợ chê, ham khỏe sợ mệt, ham sướng sợ khổ, ham giàu sợ nghèo, ham vui sợ buồn. Đức Giê-su đã đi ngược đường của ‘con cháu A-đam và E-và’. Đường Tình Yêu của Đức Giê-su là Đường hẹp. Người nói: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14). Trái lại, ma quỉ, thế gian, xác thịt luôn mời gọi chúng ta đi đường rộng và thưởng thức những gì dễ dãi, đỡ tốn công, không vất vả. Đức Giê-su luôn mời gọi chúng ta hãy đi đường chật và qua cửa hẹp trong hành trình trần thế. Người môn đệ Đức Giê-su là người biết hy sinh, biết quên mình, biết từ bỏ. Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy rằng những gì chúng ta có được nhờ hy sinh, quên mình, từ bỏ, thì quí giá và đáng trân trọng hơn những gì chúng ta có được mà không cần phải nỗ lực, không cần cố gắng, không đổ mồ hôi.

Đức Giê-su mời gọi chúng ta đi Đường Tình Yêu của Người. Tuy nhiên, chúng ta thường thay Đường Tình Yêu của Đức Giê-su bằng đường của chúng ta. Đây không phải là câu chuyện cá biệt, mà là câu chuyện phổ biến trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Chẳng hạn, trong cuộc Xuất Hành về Đất Hứa, có lúc Dân Do-thái không còn thờ phượng Thiên Chúa, Đấng dẫn họ ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, lại thờ bò vàng do mình làm nên (Xh 32,1-6). Trong Tân Ước, khi Đức Giê-su loan báo Người lên Giê-ru-sa-lem chịu đau khổ và chịu chết thì Phê-rô đã can ngăn Người (Mt 16,21-23). Hôm nay cũng vậy, chúng ta thường cầu nguyện cho ý chúng ta được thể hiện hơn là ý Thiên Chúa được thể hiện. Chúng ta than trách A-đam và E-và, chúng ta than trách Dân Do-thái trong Cựu Ước, chúng ta than trách những người Pha-ri-sêu, kinh sư, luật sĩ Do-thái khi đối xử bất công với Đức Giê-su. Thế nhưng, nhiều người trong chúng ta cũng đang đi theo đường của mình với các hình thức khác tinh vi hơn.

Chúng ta không thể đi Đường Tình Yêu, nếu chúng ta không thành tâm học hỏi, suy niệm giáo huấn Đức Giê-su và cộng tác với Thiên Chúa trong việc biến đổi bản thân mình. Các môn đệ Đức Giê-su, trong hành trình theo Người, đã chứng kiến nhiều điềm thiêng, dấu lạ Đức Giê-su thực hiện, nhưng họ cũng luôn tối tăm, yếu đuối và lầm lạc như bao người khác. Họ theo Đức Giê-su với hy vọng Người sẽ nâng cấp thân phận mình so với những người khác trong xã hội Do-thái, cũng như làm cho dân tộc mình được nở mặt nở mày so với các dân tộc khác trên trần gian này. Tuy nhiên, với Biến Cố Vượt Qua của Đức Giê-su, họ hoàn toàn biến đổi, họ hiểu được bản chất của Đường Tình Yêu và trung thành đi Đường Tình Yêu cho đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta cần học Đường Tình Yêu suốt đời, với hy vọng rằng nhờ ơn Thiên Chúa trợ lực, chúng ta mới có thể theo Đường Tình Yêu đến cùng.

Đức Giê-su không bắt buộc ai cũng phải đi Đường của Người. Tuy nhiên, Người luôn mời gọi tất cả mọi người ‘hãy đến mà xem’ (Ga 1,39). Thánh Mát-thêu trình thuật: “Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? Đức Giê-su trả lời: Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,2-5). Người luôn kiên nhẫn chờ đợi mọi người đến gặp gỡ, để có thể hoán cải và biến đổi cuộc sống mình. Những dụ ngôn trong Tân Ước cho phép chúng ta hiểu điều đó, chẳng hạn như dụ ngôn lúa và cỏ lùng, cả hai cùng tồn tại cho đến mùa gặt (Mt 13,24-30) hay khi thánh Gio-an nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta. Đức Giê-su bảo: Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,38-40). Điều này dẫn chúng ta tới nhận thức rằng Đường Tình Yêu của Đức Giê-su không phải là ‘Đường loại trừ’ (the exclusive Way), mà là ‘Đường bao gồm’ (the inclusive Way), bao gồm tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.

Với bản tính và khả năng mình, không ai trong gia đình nhân loại có thể đến với Thiên Chúa. Đó là l‎ý do giải thích tại sao Thiên Chúa đã gửi Con Yêu Dấu của Người là Đức Giê-su đến trần gian để con người ‘tập làm quen với Người’ và đi Đường Tình Yêu của Người mà đến với anh chị em mình, đến với thế giới thụ tạo và đến với Thiên Chúa. Đức Giê-su cho chúng ta biết Người là Đường Duy Nhất: “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Các môn đệ của Đức Giê-su, qua thời gian được ở với Người, được thấm nhập những tư tưởng và hành vi của Người, nhờ đó các ngài đã nhận ra Người là Đường Tình Yêu, Đường Sự Thật và là Đường Duy Nhất. Các ngài đã trở nên những mẫu gương xán lạn cho tất cả chúng ta. Thánh Phao-lô cũng đã nhận ra những sai lầm của mình trong giai đoạn trước khi gặp Đức Giê-su Phục Sinh tại Đa-mát. Từ đó, thánh nhân đã hy sinh tất cả để theo Người: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người” (Pl 3,7-9). Hơn thế nữa, thánh nhân đã trở nên khí cụ hữu hiệu của Đức Giê-su, trong hành trình trần thế và minh chứng cho Người bằng cái chết của mình.

Chúng ta tin tưởng rằng khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi bóng tối ma quỉ, thế gian, xác thịt sẽ bị đẩy lui. Khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi hận thù không có chỗ đứng, chiến tranh không còn leo thang, hòa bình, công l‎ý được thiết lập. Khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi không có vực thẳm nào mà con người không thể bắc cầu, không có núi cao nào mà con người không thể san bằng, không có khoảng cách nào mà con người không thể vượt qua. Khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi mọi người được bình an và ngày càng sống xứng đáng hơn với phẩm giá của mình là con cái của Thiên Chúa Tình Yêu Vĩnh Cửu.

Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

Bạo lực và hiền lành – Thứ 4 tuần V MC

Bạo lực và hiền lành

Ngày 01 tháng 4 năm 2020
Thứ tư, sau Chúa Nhật V Mùa Chay

II. LỜI CHUA: (Đnl 3, 14-20.91-92.95 ; Ga 8, 31-42)

31 Vậy, Đức Giê-su nói với những người Do-thái đã tin Người: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi;32 các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông.”

33 Họ đáp: “Chúng tôi là dòng dõi ông Áp-ra-ham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao ông lại nói: các ông sẽ được tự do? “34 Đức Giê-su trả lời: “Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội.35 Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi.36 Vậy, nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do.37 Tôi biết các ông là dòng dõi ông Áp-ra-ham, nhưng các ông tìm cách giết tôi, vì lời tôi không thấm vào lòng các ông. 38 Phần tôi, tôi nói những điều đã thấy nơi Cha tôi; còn các ông, các ông làm những gì đã nghe cha các ông nói.”

39 Họ đáp: “Cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham.” Đức Giê-su nói: “Giả như các ông là con cái ông Áp-ra-ham, hẳn các ông phải làm những việc ông Áp-ra-ham đã làm.40 Thế mà bây giờ các ông lại tìm giết tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà tôi đã nghe biết từ Thiên Chúa. Điều đó, ông Áp-ra-ham đã không làm.41 Còn các ông, các ông làm những việc cha các ông làm.”

42 Đức Giê-su bảo họ: “Giả như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. Thật thế, tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Người đã sai tôi.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

1. Đức Giê-su và người Do Thái

Các bài Tin Mừng trong những ngày này kể lại cho chúng ta cuộc đối thoại dài giữa Đức Giê-su và người Do Thái. Trong cuộc đối thoại này, Đức Giê-su càng mặc khải căn tính đích thật của Ngài, thì người Do Thái càng phản đối :

  • Đức Giê-su nói : « Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông » (c. 31-32). Người Do thái đáp : « Chúng tôi là dòng dõi ông Áp-ra-ham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao ông lại nói: các ông sẽ được tự do? »
  • Sau đó, Đức Giê-su nói : « Giả như các ông là con cái ông Áp-ra-ham, hẳn các ông phải làm những việc ông Áp-ra-ham đã làm. Thế mà bây giờ các ông lại tìm giết tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà tôi đã nghe biết từ Thiên Chúa. Điều đó, ông Áp-ra-ham đã không làm » (c. 40). Người Do thái đáp lại : « Chúng tôi đâu phải là con hoang. Chúng tôi chỉ có một Cha : đó là Thiên Chúa » (c. 41)
  • Đức Giê-su đáp lại : « Giả như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. » Với những lời này, chỉ một lát nữa, họ lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ.

Người Do Thái tự cho mình là tự do, là dòng dõi Abraham và là con Thiên Chúa, nhưng rốt cuộc họ hành động bạo lực : họ ném đá Đức Giê-su (c. 59 và xem c. 40. Còn Đức Giê-su cũng mặc khải mình là Con Thiên Chúa, nhưng hành động cách hiền lành. Chính những cung cách hành động như thế cho thấy, ai ở trong sự thật và ai ở trong gian dối. Gian dối đi đôi với bạo lực, còn sự thật đi đôi với hiền lành.

Bạo lực của con người, nhưng đằng sau hay ở chiều sâu là chính Sự Dữ, và hiền lành của Thiên Chúa sẽ hoàn toàn lộ diện và đạt tới cực điểm trong cuộc Thương Khó của Đức Giê-su. Trong cùng một biến cố, bạo lực của con người nêu bật sự hiền lành của Thiên Chúa và sự hiền lành của Thiên Chúa nêu bật bạo lực của con người.

Hình ảnh những người trẻ, trong bài đọc 1, trích sách Đanien, đi lại thanh thản ngay trong lò lửa, ngay trong bạo lực và sự dữ tận cùng, diễn tả cách tuyệt vời sự kiện : Họ lượm đá ném Người, nhưng Đức Giê-su lánh đi, và nhất là diễn tả chính mầu nhiệm Vượt Qua, Thương Khó và Phục Sinh, của Ngài.

 2. «Lời Thập Giá »

a. Thập Giá và Sự Dữ

Khi nhìn lên Thập Giá, chúng ta thường bị cuốn hút vào một mình Chúa với sự đau đớn thể xác, rồi khóc lóc, rồi diễn lại và có khi còn tự hành hạ mình để nên « giống Chúa ». Có lẽ, đó không phải là « Lời Thập Giá » (1Cor 1, 18), thậm chí lệch lạc, vì đó là một hình thức bạo lực, không phù hợp với Tin Mừng và cũng không có nền tảng nhân học ! Thánh sử Gioan muốn nhấn mạnh hình ảnh của “Đấng, họ đã đâm thâu” (Ga 19, 37), muốn chúng ta nhìn thân thể nát tan và bị đâm thủng của Đức Giê-su do hành động của “họ”, nhìn ra hình dạng thật sự của Tội và Sự Dữ hiện hình nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Vì thế, chúng ta đừng tự tạo thập giá cho mình và đừng chất thập giá lên vai nhau, vì thập giá tự bản chất là hành động (action) của Sự Dữ và là hình ảnh diễn tả Sự Dữ, dưới mọi hình thức.

Đức Giê-su để cho mình bị treo trên thập giá, được đặt trên đồi cao, thân thể nát tan, chính là để chúng ta nhìn thấy những điều thật hữu hình, thật cụ thể, đập vào mắt loài người chúng ta. Chúa muốn chúng ta nhìn thấy những gì loài người chúng ta đã làm cho Chúa, và vẫn còn đang làm cho Chúa qua thân thể của Ngài là những con người bé nhỏ, bất hạnh, bị bỏ rơi, chịu thiệt thòi vì hoàn cảnh, chịu thiệt thòi ngay khi sinh ra (mù, điếc, khiếm khuyết, tâm thần), người nghèo, người vô tội…

Thực vậy, thánh Phaolô nói, Ngài lại tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8, 3) ; và Ngài “đồng hóa mình với tội” (2Cr 5, 21 và Gl 3, 13). Tội có bản chất là ẩn nấp, khó nắm bắt, giống như con rắn, nhưng đã phải hiện ra nguyên hình nơi thân xác nát tan của Đức Kitô. Thánh Giá Đức Kitô mặc khải cho loài người chúng ta hình dạng thật của Tội[1] 

b. Thập Giá và Lề Luật

Ngoài ra, chúng ta còn được mời gọi nhìn lên cây giá gỗ, trên đó Đức Giêsu chịu đóng đinh, là một dụng cụ thi hành công lí của Lề Luật. Thập giá là hình phạt tiêu biểu mà Lề Luật dành cho người phạm trọng tội.Vì thế, thập giá là biểu tượng cho công lí của con người. Thế mà, người chịu đóng đinh là chính Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vô tội, Đấng công chính hoàn hảo; vì thế, sự công chính của con người chỉ là giả tạo, gian dối và chỉ có vẻ bề ngoài.

Sa-tan
(nơi những con người cụ thể)
Đức Ki-tô
Bề ngoài Thập Giá, dụng cụ hành hình, công lí của Luật Kẻ tử tội
Sự thật
(được mặc khải bởi Tin Mừng)
Gian dối,
bạo lực
Đấng Vô Tội,
hiền lành

Sâu rộng hơn, nơi Thập Giá, Đức Kitô muốn giải thoát chúng ta khỏi sự công chính, đến từ chính chúng ta, dựa vào việc giữ Luật dưới mọi hình thức và trong mọi lãnh vực; bởi vì sự công chính này, xét cho cùng chỉ có vẻ bề ngoài, không đụng chạm và không thể đụng chạm đến chốn sâu thẳm và thầm kín của đời người và của nội tâm. Và Ngài muốn trao ban cho chúng ta sự công chính của chính Ngài, sự công chính đích thật của con Thiên Chúa. Như thánh Phao-lô đã xác tín:

Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy. Quả thế, không phàm nhân nào sẽ được nên công chính vì làm những gì Luật dạy. (Gal 2, 16)

Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi không làm cho ân huệ của Thiên Chúa ra vô hiệu, vì nếu người ta được nên công chính do Lề Luật, thì hóa ra Đức Ki-tô đã chết vô ích! (Gal 2, 20-21)

Vì thế, chúng ta được gọi ngưng ngay việc lên án mình và lên án nhau, bởi vì chúng ta đã được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ, với và trong Đức Ki-tô; như Thánh Phao-lô xác tín: “Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8, 1). Hơn nữa, hành vì lên án, tự nó là điều dữ, thuộc về sự dữ, là hành vi đặc trưng của Satan[2].

3. Nên công chính nhờ tin vào Đức Ki-tô

Trong đời sống đức tin, chúng ta được mời gọi xưng thú liên tục tội lỗi của mình, và việc đạo đức này bình thường sẽ mang lại cho chúng ta sự bình an và làm cho chúng ta khoan hồng hơn với những người tội lỗi. Tuy nhiên, trong thực tế còn có một khả thể khác: Satan, Kẻ Tố Cáo « chuyên nghiệp », có thể dễ dàng đi vào bằng cánh cửa sẵn sàng “cáo mình” của chúng ta và chắc chắn nó biết đó chính là « yếu điểm » của người Kitô hữu[3]. Phải chăng để ngăn chặn Satan đi vào cửa này, mà các Thánh Vịnh đề nghị chúng ta nói với nó: “Tôi có không gì đáng trách !”

Lạy CHÚA là Đấng xét xử muôn dân nước,
xin CHÚA xử cho con, vì con công chính và vô tội. (Tv 7, 9)

Con chẳng theo thói đời buông những lời sai trái
Con tuân giữ mọi lời Chúa dạy,
tránh xa đường lối kẻ bạo tàn,
dõi vết chân Ngài, con không vấp ngã. (Tv 17, 4-5)

CHÚA ban thưởng cho tôi, bởi tôi sống ngay lành,
và tay tôi trong sạch, như mắt Người đã thấy. (Tv 18, 25)

Chúng ta thường mau mắn thú nhận mình là tội nhân, nhưng sự mau mắn nhận mình là tội nhân lại thường là một cách thức quanh co tin vào sự công chính riêng của mình. Lời cáo buộc mà chúng ta tuyên bố chống lại chính chúng ta, phải chăng đó không phải là “người công chính tuyệt đối” mà chúng ta nuôi dưỡng cách bí mật trong lòng của mình, đã nói lên lời đó ? Một « cái tôi công chính » tưởng tượng rất bén nhạy bách hại « cái tôi tội lỗi » nơi chúng ta, dưới vẻ bề ngoài khiêm tốn. Tất cả những điều này đã trở thành một hệ thống và làm cho những tội lỗi thật sự của chúng ta vẫn còn bị che đậy : « cái tôi công chính » của chúng ta mới là tội nhân đích thực, vốn ẩn núp dưới đức khiêm tốn nơi chúng ta. Kiểu kiêu ngạo này dường như ít hồn nhiên hơn kiểu của người Pharisiêu. Chính khi những người tội lỗi trở nên không thể chịu đựng được nữa đối với chúng ta, sự kiêu ngạo trá hình có nơi chúng ta sẽ bị lộ ra.

Vì thế, cần phải cầu nguyện trước tòa án của sự thật. Các tác giả Thánh Vịnh nói mình là tội nhân  cũng nói mình là công chính. Để có thể nói với sự thật: “chỗ này con đã làm sai”, cần phải có khả năng nói cũng với sự thật: “chỗ kia con đã làm đúng” ! Như thế, các Thánh Vịnh dạy chúng ta biết nhận định nơi chính mình.

Các Thánh Vịnh sẽ mất hết ý nghĩa, nếu chúng ta giới hạn lời nguyện của tác giả vào hoàn cảnh riêng tư của chúng ta thôi. Để buộc chúng ta cầu nguyện với những người khác, các Thánh Vịnh làm cho chúng ta nói những từ ngữ được viết bởi những người khác. Vậy thì tại sao chúng ta không nói được rằng Cộng Đoàn đang đọc hay hát Thánh Vịnh cùng với chúng ta là “không có gì đáng trách”, bởi vì đó là một phần của Giáo Hội thánh thiện và không tì vết. Đúng là dưới mắt của nhiều người, Giáo Hội thường bị đặt vào chỗ của người thu thuế bị buộc tội ; nhưng chúng ta hãy học nhìn Giáo Hội với lòng thương cảm mà Thiên Chúa dành cho Giáo Hội. Thiên Chúa nhìn thấy Con của Ngài nơi Giáo Hội và lời nguyện của các Thánh Vịnh, khi được thực hiện nhân danh Đức Kitô, sẽ tuyên xưng sự công chính của chúng ta như hoàn toàn đến từ Đức Kitô và như là sự công chính của chính Đức Kitô (x. Rm 3, 23-24).

*  *  *

Tin rằng Thiên Chúa coi chúng ta là những người công chính trong Đức Giêsu-Kitô, là phương cách thích hợp nhất với Tin Mừng, để cuối cùng có được sự xấu hổ đối với tội của chúng ta và nhất là có được nhiều lòng thương cảm hơn đối với tội của những người khác.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

[3] Đó chính là kinh nghiệm bị dằn vặt đến độ muốn tự tử của thánh Inhã Loyola (1491-1556) khi ở Manresa. Dù đã xưng tội rất chi tiết nhiều lần, ngài luôn nghĩ mình còn điều gì đó chưa xưng ra, hoặc chưa xưng chính xác đủ những gì đã xưng rồi, như thể lòng thương xót của Thiên Chúa hoàn toàn lệ thuộc vào sự đầy đủ và chính xác của hành vi xưng tội (Inhã, Những bước đường theo Chúa, bản dịch và chú thích của Hoàng Văn Đạt, S.J., Hiển Linh, 2002, số 22-25).

Chia sẽ bài viết này trên:

Thứ Ba 31/03/2020 – KÝ ỨC YÊU THƯƠNG

Trong ánh sáng mờ nhạt ở căn gác xép, một ông cụ đang mở lại một cuốn album cũ. Đôi mắt một thời sáng tỏ giờ đây lờ mờ tìm kiếm đến tha thiết từng kỷ niệm một. Này là những tấm ảnh về người vợ quá cố, gợi lại những hồi ức êm đềm về tình yêu của đời ông. Này là những tấm ảnh của đứa con trai khi nó còn tấm bé. Và đây là những tấm ảnh vui nhộn về những buổi đi câu cá và ăn uống dã ngoại của vợ chồng ông và đứa con trai…

Xem xong quyển album, ông lại mở quyển nhật ký về thời thơ ấu của người con trai đã trưởng thành của ông. Ông không thể nhớ mình đã trông thấy nó bao giờ; có lẽ cậu con trai đã cất kỹ cuốn nhật ký đó từ thời lâu lắm. Mở những trang nhật ký, liếc nhìn những câu chữ ngăn ngắn, vành môi ông nở một nụ cười vô thức. Trong sự yên tĩnh của không gian, những ngôn từ của đứa bé sáu tuổi ngây thơ đã cuốn trôi ông về lại quãng thời gian đã hầu như hoàn toàn quên lãng. Ông lướt nhẹ ngón tay gầy guộc trên những con chữ như thể đang âu yếm đứa con trai yêu dấu. Những chữ cái nguệch ngoạc, ấn sâu vào mặt giấy: “Ngày… tháng… năm… Ngày hôm nay được đi câu cá với bố. Một ngày đẹp nhất của đời tôi!”

Giữa những khoảnh khắc cô đơn khi người vợ quá cố ra đi mãi mãi và đứa con trai duy nhất cũng đang sống với gia đình của nó ở nơi xa, quá khứ êm đềm và những ký ức yêu thương của gia đình đã làm cho trái tim già nua của ông cụ ấm áp những niềm vui…!

Quý vị và các bạn thân mến,

Theo năm tháng của cuộc đời, ký ức là một phần không thể thiếu trong cuộc đời mỗi người.  Từ điển Tiếng Việt định nghĩa rằng ký ức là một quá trình tâm lý phản ánh lại trong trí óc con người những hình ảnh của sự vật đã tri giác được hoặc những tư tưởng, tình cảm, hành động về những sự vật đó. Nói cách khác, ký ức thường được hình thành bởi những điều có thật mà con người đã trải qua, chứ không được dệt nên bởi những điều chỉ có trong trí tưởng tượng của con người. Ít nhiều, chúng ta cũng kinh nghiệm được điều này trong cuộc sống của mình. Những hình ảnh thân thương và cử chỉ chăm sóc của ai đó mà chúng ta nhận được đâu đó rất xưa cũ, cũng tạo nên những ký ức rất đỗi êm đềm và hạnh phúc trong nhiều khoảnh khắc của hiện tại. Và dĩ nhiên, những cảm giác cô đơn, sợ hãi bởi sự ngược đãi và bất công mà chúng ta từng va chạm, dù đã xa rồi theo thời gian cũng vẫn là những ký ức đau thương khó mờ nhạt trên đường đời chúng ta đang cất bước.

Những ký ức buồn khiến con tim người ta nhói đau và bước chân trở nên chông chênh và nặng nề. Nhưng những ký ức đẹp lại có khả năng làm hồi sinh những con tim đang héo hắt và củng cố sức mạnh cho những đôi chân có thể tiến bước mạnh mẽ hơn. Đối với ông cụ trong câu chuyện mà chúng ta vừa nghe, nơi những tấm ảnh và dòng chữ đã mờ nhạt theo năm tháng, ký ức về hình ảnh những người thân yêu và bao khoảnh khắc êm đềm, hạnh phúc của gia đình đã đem đến niềm an ủi sâu lắng, giúp cho ông cụ có được niềm vui để sống tiếp những ngày tháng của tuổi già cô độc. Đặc biệt, trong câu chuyện về Người Cha Nhân Hậu với đứa con hoang đàng mà chúng ta đã rất quen thuộc trong những suy niệm của Mùa Chay, ký ức là yếu tố quan trọng khiến người con đi hoang quyết định trở về mái nhà của cha mình. Trong lúc đói khát và túng quẫn, mặc dù ký ức của người con này không có những điều tốt đẹp về cuộc sống của anh trong nhà cha mình, mà chỉ có ký ức về sự no ấm của những người làm công trong nhà, nhưng điều đó cũng đủ đem đến cho anh niềm hy vọng và quyết tâm quay bước trở về.

Ký ức dù vui hay buồn, nhạt nhoà hay sống động vẫn có một ý nghĩa rất lớn đến cảm xúc và cuộc sống của con người ở nhiều khoảnh khắc đặc biệt trong cuộc sống hiện tại. Cho nên, gọi về những ký ức cũng là một cách thức đặc biệt giúp chúng ta sống tâm tình Mùa Chay để trở về với Chúa và tìm về với anh chị em của mình. Như người con thứ đang mải mê rong ruổi trên nẻo đường trần tục, như cụ già đang mỏi mòn trong nỗi u buồn và sự cô đơn, ký ức về những lần được Chúa tha thứ bao lỗi lầm và ban ơn bình an, có khả năng khiến con tim đang trĩu nặng những nỗi mặc cảm và hoang mang vì tội lỗi của chúng ta bồi hồi rung lên những nhịp đập của hy vọng và bước chân lại hân hoan muốn mau mắn trở về với Chúa.

Lạy Chúa, xin khơi dậy trong chúng con những ký ức yêu thương mà chúng con đã có với Chúa trong cuộc đời khi chúng con gặp được Chúa và cảm nhận được tình thương và ơn tha thứ của Chúa, nhờ đó chúng con có thể vượt qua những nỗi sợ hãi và thất vọng để tiến bước và hoàn tất hành trình cuộc đời mình trong niềm tin yêu và phó thác vào tình thương của Chúa. Amen. 

Duy An   

Chia sẽ bài viết này trên:

“Tôi” tìm lại “Tôi” trong mùa đại dịch

“Tôi” tìm lại “Tôi” trong mùa đại dịch

“Lo âu, sợ hãi rồi vững tin”, đó là tâm trạng của tôi trong những ngày qua, khi cơn đại dịch Covid-19 đang hoành hành khắp thế giới, ảnh hưởng đến cả Giáo hội hoàn vũ nói chung và Giáo hội Việt Nam nói riêng. Các giáo phận lần lượt ra những thông báo về việc ngưng các Thánh lễ và các sinh hoạt cộng đoàn… khiến nhiều người Công giáo, trong đó có tôi, không khỏi hoang mang, sợ hãi; đặc biệt thời điểm xảy ra ngay trong những ngày cuối mùa Chay 2020 này. Thế rồi, qua những sinh hoạt tôn giáo trong mấy ngày qua, đặc biệt qua sự theo dõi buổi cầu nguyện và ban Phép Lành “Urbi et Orbi” của Đức Thánh Cha (ĐTC) lúc 18 giờ thứ Sáu, ngày 27.03.2020 (giờ Roma), để chúc lành đặc biệt cho các tín hữu và toàn thế giới giữa cơn đại dịch, tâm hồn tôi đã lắng đọng để suy nghĩ và tìm ý Thiên Chúa muốn giáo huấn tôi:

Vượt qua sa mạc

Khi theo dõi buổi cầu nguyện và ban Phép Lành “Urbi et Orbi” của ĐTC, tôi đã chạnh lòng và rơi nước mắt! Trước mắt tôi là hình ảnh Đức Giáo Hoàng Phanxicô, là người luôn được mọi người yêu mến và chào đón mỗi khi ngài xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, lại đứng đơn độc trong cơn mưa giữa quảng trường có sức chứa trên 30 ngàn người, nhưng nay trống trải không một bóng người, để cầu nguyện cho thế giới qua cơn dịch bệnh Covid-19. Giữa khung cảnh này, ta thấy xuất hiện cây Thánh giá linh thiêng và linh ảnh Đức Maria – Phần rỗi dân thành Rôma. Đây chính là 2 điểm tựa vững chắc để chúng ta cùng hiệp ý với ĐTC, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Thiên Chúa giàu lòng thương xót sẽ giải thoát thế giới khỏi cơn đại nạn này.

Hình ảnh trên khiến tôi liên tưởng đến hành trình mà ông Môsê dẫn đưa dân Israel qua sa mạc 40 năm. Tại Rơphiđim, dân Israel phải đương đầu với người Amalếch tới đánh họ. Trong khi ông Giosuê và một số người Israel giao tranh với người Amalếch, ông Môsê đứng trên núi dang tay cầu nguyện cho dân Israel. Khi ông giơ tay lên thì người Israel thắng thế, khi ông hạ tay xuống thì quân Amalếch thắng thế. Nhưng ông Môsê mỏi tay, vì thế người ta lấy một hòn đá để ông ngồi, còn ông Aharon và ông Khua thì đỡ tay ông mỗi người một bên. Nhờ vậy, ông Môsê cứ giơ tay được mãi cho tới khi mặt trời lặn và dân Israel chiến thắng người Amalếch (Xh 17,8-13). Đây là một trong những hình ảnh rất đẹp và ý nghĩa của ông Môsê, vị lãnh đạo cầu nguyện cho dân trong cuộc chiến năm xưa.

Như vậy, chính sự tĩnh lặng trong thời điểm 40 ngày mùa Chay Thánh đang diễn ra, đã giúp tôi nghe được lời ngọt ngào của tình yêu Thiên Chúa muốn tôi đến gặp gỡ Ngài, như Ngài đã mời gọi: “Ta sẽ dẫn chúng vào sa mạc, lòng kề lòng, Ta thổ lộ tâm can” (Hs 2,16). Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm Thiên Chúa đang thử thách niềm tin, tình yêu và sự trung tín của tôi đối với Ngài, để tôi khám phá ra sự thật của chính mình trong sự huyền nhiệm của Thiên Chúa.

Để tin và phó thác

Sau khi lắng nghe ĐTC diễn giảng bài Tin Mừng theo Thánh Marco (Mc 4,35-41) thuật lại sự kiện các môn đệ đang ở trên thuyền, khi Chúa Giêsu đang ngủ, thì giông bão nổi lên. Các môn đệ hoảng sợ, đánh thức Ngài dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” Chúa Giêsu đã truyền cho sóng im biển lặng và ngài bảo họ: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”. Tôi cảm thấy não lòng khi dõi theo từng bước chân khập khiễng và chậm rãi của ĐTC vượt qua cơn mưa để đến cầu nguyện trước linh ảnh Đức Maria và cây Thánh giá linh thiêng – đã từng cứu dân thành Roma thoát khỏi đại dịch hạch đen vào thế kỷ XVI. Trong giây phút lắng đọng này, tôi cảm thấy vững tin và phó thác như lời Chúa nói: “Tại sao các con sợ hãi? Các con chưa có niềm tin sao?”.

Nhìn hình ảnh ĐTC cầu nguyện trước linh ảnh Đức Maria, tôi tin chắc rằng ĐTC và chúng ta đều cảm nhận được sự hiện diện của Mẹ với con cái của Mẹ mọi lúc, mọi nơi và mọi thời đại. Mẹ luôn đồng hành, dõi theo và khuyên nhủ đàn con của Mẹ và biết chúng ta đang cần gì. Giây phút này đây, Mẹ vẫn đang thì thầm bên tai chúng ta: “Người bảo gì các con hãy làm theo” (x. Ga 2,5).

Cũng vậy, khi nhìn ĐTC đứng cầu nguyện dưới chân thập giá, tôi nhớ lại bài giảng của ĐTC: “Chúng ta có một cái neo; trong thập giá của Chúa, chúng ta được cứu độ. Chúng ta có một hoa tiêu: trong thập giá của Ngài, chúng ta được cứu chuộc. Chúng ta có một hy vọng: trong thập giá của Chúa, chúng ta được chữa lành và ấp ủ vì không có gì và không một ai có thể tách biệt chúng ta ra khỏi tình thương cứu độ của Chúa”.

Với những suy nghĩ trên, tâm hồn tôi không còn dao động nhưng vững tin, vì hiểu rằng nếu không có Chúa và Mẹ Maria, chắc chắn tôi sẽ bị đắm chìm trong tội lỗi và sự dữ! Vì thế, tôi tin tưởng phó thác cho Chúa và Mẹ Maria những lo sợ của mình, để các Ngài mang sự bình an và ơn giải thoát cho tôi và cho mọi người.

Sám hối và cầu nguyện

Nhìn lên Chúa Giêsu trên cây Thánh giá, nhìn vào thân thể bầm dập của Chúa với những giọt máu, trong khi những giọt nước mưa đang rỉ rả rơi trên thân thể Chúa Giêsu, ĐTC đã lặng lẽ cúi xuống hôn bàn chân Chúa, trước khi ngài tiến vào Đền thờ Thánh Phêrô. Thật xúc động! Tôi đã nhận ra rằng, chính bản thân tôi cũng là một tội nhân gây nên cái chết của Chúa!

Tham dự nửa giờ chầu Thánh Thể với ĐTC, ai chẳng cảm thấy hụt hẫng với hình ảnh một vị Giáo hoàng đơn côi đang ngồi cầu nguyện trước Mình Thánh Chúa. Rồi tôi chợt liên tưởng đến 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang địa để bắt đầu cho sứ vụ công khai của Ngài. Nơi đây, Chúa Giêsu phải chiến đấu để vượt qua cơn cám dỗ của ba thù: ma quỷ, thế gian, xác thịt. Trong niềm tín thác vào Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đáp lại ma quỷ: “Ngươi chớ có thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”.

Cũng vậy, trong vườn Cây Dầu, tâm hồn Chúa Giêsu trở nên xao xuyến, vì trong bóng tối của sự dữ, Ngài đã phải chiến đấu với chính mình – một cuộc chiến nội tâm đã xâu xé làm cho tâm hồn Ngài tan nát, đến độ Người đã đổ ra những giọt mồ hôi máu… đến độ Ngài phải thốt lên: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này…”. Tuy nhiên, sau khi cầu nguyện, Ngài đã tìm lại được sự bình an nội tâm và bước ra khỏi vườn Câu Dầu trong ánh sáng, sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống, thì con xin vâng ý Cha”.

Chính vì thế, trong khung cảnh cô quạnh này, tôi đã nghe được tiếng nói thánh thiêng trong tâm hồn mình. Tôi hiểu rằng Chúa muốn mời gọi tôi đi vào sa mạc nội tâm, để cùng được sống những kinh nghiệm “sa mạc” với Ngài. Trong sự thinh lặng của cõi lòng, tôi sẽ cầu nguyện để cảm nhận được tình yêu vô biên của Chúa đã dành cho tôi và mọi người. Cũng chỉ vì yêu chúng ta, Ngài đã hy sinh chính thân mình, chịu chết trên thập giá và ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế trong Bí tích Thánh Thể. Đây chính là thời gian ân sủng để “Tôi” tìm lại “Tôi” khi nhận ra con người thật của chính mình với đầy những yếu đuối và thiếu sót, để sám hối, ăn năn và trở về với Chúa. Chính vì thế, đối với tôi, mùa Chay Thánh 2020 này thật kỳ diệu chưa từng có, vì ngay khi lâm vào hoàn cảnh bi đát, đau thương hay thất vọng, tôi cần phải ra sức làm những việc cần thiết để được giao hòa và hiệp thông với Chúa hầu được Ngài chữa lành, và giải thoát thế giới khỏi cơn đại dịch này.

Trong buổi cầu nguyện này, có thể thấy, từ Tòa Thánh đến khắp nơi trên khắp thế giới, mọi người đều hiệp nhất nguyện xin Thiên Chúa ban sức mạnh thể xác và ơn an ủi cho mọi người, mọi tâm hồn và nhân loại đang bị nạn Covid-19 hoành hành.

Đón nhận hồng ân

Cuối cùng, giây phút linh thiêng đã đến, tâm hồn tôi thật thanh thản, bình an khi cúi đầu lãnh nhận hồng ân, là Phép Lành Urbi et Orbi, Phép Lành cho Kinh Thành Rôma và cho toàn thế giới.

Vâng, phải chăng Chúa đang nói với chúng ta lúc này? Chính khoảng thời gian này, giữa lúc mọi người phải chịu cách ly, phong tỏa, chúng ta mới có dịp trở về để nhận ra rằng Thánh Giá Chúa là mầu nhiệm trung tâm của cuộc đời. Mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Đức Kitô mới chính là câu trả lời cho chúng ta, những người đang mải mê tìm kiếm thế sự phù vân mà lãng quên cùng đích của đời mình (x. Bài Giảng của ĐTC).

Văn Chiến
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

Một không gian cư ngụ có Thiên Chúa ở cùng

Một không gian cư ngụ có Thiên Chúa ở cùng

Cả thế giới đang phải gánh chịu và đối phó với một tai họa rợn rùng: đại dịch Vũ Hán hay còn gọi là Covit 19.

Để đối phó với đại họa này, nhiều nhà bác học đang nghiên cứu để tìm ra phương thuốc điều trị. Nhiều chính phủ đã đưa ra các biện pháp, nếu không muốn nói là các đạo luật để giúp người dân tránh bỊ lây nhiễm bởi con siêu vi trùng quái ác này, hầu bảo toàn sinh mạng. Bởi vậy từ Nhà Nước cho đến Nhà Thờ, hai bên đều ra lệnh và khuyên nhủ mọi người giảm bớt các cuộc vui chơi hội họp, thậm chí ngay cả các sinh hoạt tôn giáo như đi lễ, đi nhà thờ cũng được giảm bớt và thu gọn lại. Mỗi người được khuyên về nhà và ở lại đó trong thời gian cơn dịch đang hoành hành dữ dội.

Gần dây có một bài báo nhỏ bằng tiếng Pháp trên mang, đề là: L’humanité ébranlée et la société effondrée par un petit machin, ký tên Moustapha Dahleb, người nước Tchad (xin tạm dịch: Nhân loại bị rung chuyển và xã hội sụp đổ vì một cái con con nhỏ bé). Bài này vắn tắt nhưng sâu sắc, nên đọc và suy nghĩ.

Tình cảnh chung quanh lúc này có một vẻ gì thật yên lặng trầm tĩnh. Đối với nhiều người, tình cảnh này xem ra tiêu điều ảm đạm. Mà thật thế. Trước kia, thành phố ồn áo sinh động, nhịp sống tưng bừng náo nhiệt bao nhiêu thì bây giờ buồn thiu, ai nấy ở trong nhà, ra đường phố cũng bị hạn chế. Buồn thật. Nhưng trong cái buồn cũng có cái vui. Người ta buồn vì không biết làm gì hay không có cái gì để làm. Còn vui là thấy có nhiều việc để làm như dọn dẹp nhà cửa, sửa chữa chổ này chỗ kia, chăm sóc vườn tược, đọc kinh, đọc sách, đối xử với nhau trong tình tương thân tương ái trọn hảo hơn vv… trong khi chờ đợi cho tai qua nạn khỏi.

Đây là cơ hội tốt cho mỗi người có thể tạo ra một không gian cư ngụ, trong đó có Chúa ở cùng. Thật thì đức tin dạy các người Công Giáo rằng Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi, chẳng có nơi nào mà chẳng có Đức Chúa Trởi, Nhưng Chúa là Đấng vô hình thể, cách ở của Người không giống như cách ở của chúng ta. Chúng ta ở chỗ nào là thân xác ở chỗ đó, nhưng Chúa thì không vì Người là Thần Khí. Vì thê, khi nói có Chúa ở cùng là có ý nói về cách thế Chúa ở nơi chúng ta, như khi Người nói: “Thầy ở lại cùng anh em mọi ngày cho đến tận thê. Anh em hãy ở lại trong Thầy”.

Trong giai đoạn này, không gian cu ngụ của mỗi người là nhà mình. Mỗi người nên dùng thời gian này để sống trong không gian cư ngụ của mình với Chúa cách mật thiết hơn. Bằng cách nào? Thưa bằng cách nhớ rằng mình đang có cơ hội đặc biệt được Chúa ở cùng, trong sự thinh lặng. Có thể là mình đang lo sợ bị lây nhiễm dịch bệnh. Vậy, hãy tin cậy vào Chúa vì Người là núi đá, là thuẫn đỡ khiên che cho dân con Người trong lúc lúc gian nan khốn khó. Có lời thánh vịnh chép rằng:

“Khi tôi trung cầu cứu đến Ta, Ta liền đáp lại.
Lúc ngặt nghèo có Ta ở kề bên.
Ta giải cứu và ban nhiều vinh dự
Cho sống lâu, tuổi thọ an nhàn”

Lúc này tương đối chúng ta có nhiều thời giờ hơn để ở gần bên Chúa. Mỗi người có thể dùng quãng thời gian này dể đọc Kinh Thánh, Các Giờ Kinh Phụng Vụ, lần hạt. Đây không chỉ là những việc dành cho các tu sĩ hay linh mục mà chính là của những người nghĩa thiết hay muốn nên nghĩa thiết với Chúa. Mà là nghĩa thiết thì được Chúa ở cùng và ban ơn phù trì che chở, như chính Người nói: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thấy.” (Ga 15,11)

Đây cũng còn là dịp để mỗi người cầu nguyện nhiều hơn hay tập cầu nguyện nếu chưa biết, đồng thời có cơ hội để nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy và nếm thử Chúa ngọt ngào xiết bao. Chỉ người có kinh nghiệm mới cảm và tin được như thế. Nhân dịp này, chúng ta thử tập cho có kinh nghiệm ở với Chúa và ở gần bên Người. Người sẽ gõ cửa và sẽ vào dùng bữa tối với chúng ta trong tình thân mật: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy.” (Ga 3, 20)

Nói tóm lại, giai đoạn này tạm gọi như thời kỳ “cấm cung” hay “cấm vận” với những hạn chế và bất tiện, nhưng cũng là thời cơ có thể giúp căn phòng hay ngôi nhà của mỗi người thành nơi cử ngụ, trong đó có Chúa ở cùng mà tỏ lòng tôn kính mến yêu, tâm sự với Người như với một người cha hay một bạn thân tình, không còn xa cách, không còn lạnh nhạt..

Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.

Chia sẽ bài viết này trên:

Covid-19 và tình yêu của muối

Covid-19 và tình yêu của muối

Khi tình hình đại dịch Covid-19 trở nên nghiêm trọng, khi tin tức nước Mỹ là nước đứng đầu về con số ca nhiễm bệnh truyền đi khắp nơi, tôi bắt đầu nhận được nhiều tin nhắn và điện thoại thăm hỏi và quan tâm cùng với sự cầu nguyện từ người thân và bạn bè. Tôi báo tin cho mọi người rằng, tạ ơn Chúa, tôi đang sống trong một nơi rất an toàn tại cộng đoàn dòng Ngôi Lời thuộc thủ đô nước Mỹ Washington DC. Đây là nơi có ít người nhiễm bệnh so với New York và các bang khác. Tuy nhiên, đã hơn hai tuần nay, để bảo đảm sự an toàn chúng tôi dừng mọi sinh hoạt bên ngoài, tất cả đều diễn ra trong cộng đoàn, việc học đã bắt đầu bằng trực tuyến.

Nghe vậy ai nấy đều cảm thấy yên tâm, tuy nhiên nhiều người còn nhắc tôi phải cẩn thận, đặc biệt có nhiều người bảo tôi phải ngậm nước muối hằng ngày vì nước muối có khả năng diệt virus corona. Tôi không phải là bác sĩ để đưa ra lời phán đoán đúng sai, mà chỉ nghe theo và thực hiện việc súc miệng bằng nước muối hằng ngày, trước hết để cám ơn những ai đã dành sự quan tâm và tình yêu cho tôi, và cũng để bảo vệ sức khỏe của mình.

Nhân chuyện súc miệng nước muối, tôi nhớ một câu chuyện cổ tích tôi nghe từ lúc còn nhỏ. Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa, có một vị vua sinh được ba nàng công chúa xinh đẹp. Thật chẳng may, hoàng hậu lâm trọng bệnh và qua đời khi ba nàng công chúa ấy còn rất nhỏ. Tuy hoàng hậu mất sớm, nhà vua vẫn không lấy hoàng hậu khác, mà ở vậy một mình nuôi dạy ba cô con gái lớn khôn bằng tất cả tình yêu thương của mình.

Một hôm, khi các cô công chúa xinh đẹp đã lớn, vị vua kia cho gọi họ đến để hỏi xem tình yêu họ dành cho vua như thế nào, vua hỏi: “Các công chúa xinh đẹp của cha, các con hãy nói cho cha biết các con yêu cha như thế nào ?”

Cô gái thứ nhất đến thưa với vua cha bằng một giọng nói hết sức ngọt ngào: “Thưa cha, tình yêu con dành cho cha ngọt như mật ong ạ”. Vua cha rất vui, hiền bảo cô công chúa: “Con thật có phúc, vì đã dành cho cha thứ tình yêu ngọt ngào như mật ong vậy. Cha sẽ cầu xin Chúa trời chúc phúc cho con”. Cô công chúa thứ hai đến, cũng với giọng nói dịu dàng thưa với vua cha: “Tình yêu của con dành cho cha ngọt như vị đường vậy”. Đức vua cũng vui vẻ khen con gái khôn ngoan và chúc lành cho cô.

Rồi đến lượt cô con út, cô hơi bối rối, vì tất cả những lời đường mật các chị đã nói hết cho vua cha. Nhưng từ xưa tới nay tình thương của cô dành cho vua cha vẫn rất chân thật, và mặc dầu hơi e thẹn nhưng cô cũng can đảm tiến lên thưa với vua cha: “Dạ, tình yêu của con dành cho cha như vị mặn của muối trong thức ăn ạ”. Nghe vậy, hai chị của cô phá lên cười; còn vua cha thì nổi giận và quát: “Tại sao con lại không nói được lời ngọt ngào như hai chị của con ? Bao nhiêu năm cha dành tình thương cho con, giờ này con dám đối xử với cha như thế ? Hãy đi sa ra khỏi ta với thứ muối của con”.

Khi công chúa nhỏ thấy vua cha tức giận vì lời nói không ngọt ngào nhưng chân thật của mình, một lần nữa cô cũng lấy hết can đảm để xin lỗi vua cha: “Hãy tha thứ cho con, con không cố ý mang lại nỗi buồn cho cha. Xin cha hiểu tình yêu của con dành cho cha cũng giống như các chị” Nghe vậy, nhà vua càng tức giận, quát mắng: “Sao con dám so sánh tình yêu của con với các chị được ?” Rồi ông đuổi cô ra khỏi hoàng cung.

Bị đuổi ra khỏi cung điện, công chúa út hết sức buồn bã, cô chỉ kịp lấy vài thứ cần thiết cho mình rồi lủi thủi ra đi. Công chúa đi xa thật xa, tới một nơi mà cô không hề biết đấy là chỗ nào. Qua một vương quốc khác, cô mệt nhoài và đói lả, ngồi nghỉ ở cổng một cung điện rồi cô ngủ thiếp đi. May thay, người giúp việc trong cung điện phát hiện, thấy cô tiều tụy, liền dẫn vào phía trong nhà bếp để chăm sóc và nhận làm người giúp việc cho bà.

Từ ngày vào hoàng cung, cô bắt đầu học nhào bột, làm thức ăn và làm việc với mọi người rất vui vẻ. Vì vậy cô được mọi người trong cung điện yêu quý, đến nỗi chẳng ai chê trách công chúa một điều gì. Tiếng lành đồn xa, sự chăm chỉ của nàng đã truyền đến tai của hoàng hậu, rồi hoàng hậu chọn cô làm người hầu cho mình. Chính nhờ vậy mà cô có dịp gặp hoàng tử trong cung, nhất là chăm sóc cho chàng khi chàng bị thương sau một trận chiến nọ. Hoàng tử bắt đầu yêu mến cô và trình với vua cha và hoàng hậu rằng chàng muốn cưới cô làm vợ.

Sau khi cân nhắc cẩn thận, nhà vua và hoàng hậu đồng ý để hoàng tử kết hôn với công chúa nhỏ. Hôn lễ của họ được tổ chức rất linh đình, khách mời đến cả những nước lân cận, trong đó có vị vua cha của công chúa.

Trong tiệc cưới, khách mời được thưởng thức mọi thứ thức ăn ngon và khoái khẩu. Ai nấy đều vui mừng, nhưng vị vua cha của công chúa khi ăn các món ăn mà công chúa chuẩn bị riêng cho ông, thì vua đùng đùng nổi giận, ông quát: “Sao món gì cũng nhạt như thế ?” Lúc này công chúa nhỏ tiến lại gần nhà vua và dịu dàng thưa: “Thưa đức vua, vì các món ăn của ngài chỉ được gia vị bằng vị ngọt của mật ong và của đường, rất tiếc chúng thiếu đi vị mặn của muối mà ngài đã không ưa thích và từ chối ạ”.

Nghe vậy, nhà vua liền nhận ra tân nương ngày hôm đó chính là con gái út của mình. Ông cũng nhận ra rằng, vì giận giữ mà ông đã đánh mất đứa con gái xinh đẹp và thật thà của mình. Ông tự trách mình và mong được cô con gái tha thứ.

Bạn thân mến, câu chuyện trên đây giúp ta học được một bài học rất sâu sắc, đó là cuộc đời của ta thường bị lôi cuốn và hấp dẫn bởi những thứ nghe rất hấp dẫn nhưng thật chóng qua như tiền bạc, bằng cấp, danh vọng, tương quan xã hội, mà quên đi một thứ rất cần thiết đó là sức khỏe của ta.

Qua đại dịch covid-19 này, ta chứng kiến có hàng trăm ngàn người nhiễm bệnh và hằng chục ngàn người bị cướp đi tính mạng, ta mới phát hiện ra sức khỏe là một phần rất quan trọng mà xưa nay ta thường lãng quên. Sự sống của ta là món quà Thiên Chúa ban cho, ta cần biết tạ ơn Ngài, trân quý và bảo vệ món quà này nhiều hơn. Khi ta có nhiều tiền, khi ta đạt danh vọng cao sang, hay bạn bè đông đúc mà đánh mất sức khỏe thì những thứ ta đang có thật chẳng có ý nghĩa gì. Mất đi sức khỏe là ta mất đi tất cả, còn khi có sức khỏe thì ta có thể làm nên tất cả.

Câu chuyện này cũng giúp ta hiểu được tầm quan trọng của món quà thiêng liêng mà Chúa ban cho nhiều người chúng ta, đó là ĐỨC TIN. Khi đứng trước tình hình đại dịch Covid-19, chắc chắn ai trong chúng ta cũng cảm thấy hoang mang và lo sợ. Riêng cá nhân tôi, tôi cũng đã trải qua những giây phút lo sợ như vậy, nhất là đã hai tháng nay tôi xem tin tức về dịch bệnh từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và thế giới. Tôi luôn cầu nguyện cho bệnh dịch nhanh chấm dứt.

Nhưng rồi dịch bệnh đã đến ngay trên nước Hoa Kỳ, thậm chí chỉ trong mấy ngày này nó lan truyền khắp mọi tiểu bang. Tôi cảm thấy sự nguy hiểm đã đến rất gần. Như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng của giờ cầu nguyện và ban phép lành Urbi et Orbi hôm 27 tháng 3, rằng: “Những bóng đen dầy đặc phủ trên các quảng trường, các đường phố và thành thị của chúng ta; chúng chiếm hữu cuộc sống chúng ta, làm đầy mọi sự bằng một sự im lặng gây choáng váng và một sự trống rỗng thê lương, làm tê liệt mọi sự khi nó đi qua”. (Vatican News 27/3/20)

Vâng, “chúng ta đang ở trên cùng một con thuyền, tất cả đều mong manh và mất hướng”, (Vatican News 27/3/20) chúng ta đang đối diện với sự lo sợ bị lây nhiễm căn bệnh Covid-19, thậm chí ta đang đối diện với cái chết chứ không phải ai khác. Bệnh dịch và cái chết đang đến rất gần.

Thật vậy, “Tình Yêu Của Muối” trong chuyện cổ tích được ví như đức tin của ta. Đức tin đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của ta. Như vị vua kia, vì thích nghe những lời đường mật giả tạo mà quên lời nói không mấy dễ nghe nhưng rất chân thành của cô công chúa nhỏ, nhiều lúc ta cũng thích chọn lựa những sinh hoạt vui chơi, những cuộc hội tụ bạn bè để ăn uống, hò hét và giải trí mà bỏ quên hoặc từ chối tham dự thánh lễ hay các giờ kinh nguyện.

Trong những lúc gian truân thế này, khi hằng ngày ta phải “xem lễ” trực tuyến, ta mới cảm nghiệm được vai trò của đức tin quan trọng thế nào; đức tin giúp ta vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác hoang mang. Những giờ kinh nguyện, những bài thánh ca, đã giúp ta có được sự bình an và nhất là có được những giấc ngủ ngon mà nhiều người không có đức tin không được tận hưởng.

Bởi thế, tôi xin mượn lời Đức Thánh Cha Phanxicô để tiếp tục mời gọi mọi người: “Hãy phó thác cho Chúa những lo sợ của chúng ta để Ngài chiến thắng chúng. Vì sức mạnh của Thiên Chúa là: tất cả những gì xảy ra cho chúng ta, cả những điều bất hạnh, đều mưu ích cho chúng ta. Chúa đưa sự thanh thản vào trong những bão tố của chúng ta, vì với Thiên Chúa, sự sống sẽ không bao giờ chết”. (Vatican News 27/3/20)

Lm. Antôn Phạm Trọng Quang, SVD

Chia sẽ bài viết này trên:

Rước lễ thiêng liêng: tính thần học và niềm an ủi từ Chúa Kitô

Rước lễ thiêng liêng: tính thần học và niềm an ủi từ Chúa Kitô

Giáo hội đã trải qua nhiều giông bão trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Chiến tranh, dịch bệnh, đói khổ, bách hại – tất cả đã in sâu trong ký ức của Mẹ Giáo Hội, tạo nên sự khôn ngoan lâu đời và khơi lên những quan tâm mục vụ.

Một trong những ý niệm tài tình, hình thành từ những thử thách, chính là việc rước lễ thiêng liêng.

Thần học của việc rước lễ thiêng liêng cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc về chính bản chất của Bí tích Thánh Thể.

Thánh lễ (còn gọi là Bí tích Thánh Thể) là cội nguồn và đỉnh cao của đời sống Giáo hội. Và như thế, đó cũng là trung tâm của chính Kitô giáo. Trước hết và chủ yếu, Thánh lễ là hành vi hiến tế của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha.

Nói cách khác, Bí tích Thánh Thể trước tiên là một hy tế. Từ “hy tế” bắt nguồn từ hai chữ Latinh: “sacra” có nghĩa là “thánh”, và “facere” nghĩa là “làm nên”. Do đó, Thánh lễ là việc Chúa Kitô “thánh hóa” thân thể mầu nhiệm của Ngài là Giáo hội. Chính Chúa Giêsu, qua bàn tay của các linh mục, hòa giải thế gian với Chúa Cha. Thánh Phaolô đã nói rất đẹp về điều này: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình.” (Cl 1:19-20).

Đây là lý do tại sao thời điểm quan trọng nhất của Thánh lễ không phải là lúc rước lễ, mà là lúc dâng lên lời ca tụng: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần, đến muôn đời. Amen!” Trong những lời này, chúng ta nghe được lý do cử hành Thánh lễ, là để ta chứng kiến và tham gia vào hoạt động cứu độ của Chúa Kitô, Đấng nối kết chúng ta với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cho chúng nên một, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha” (Ga 17:21).

Ở đây, chúng ta thấy mục đích đầu tiên của việc rước lễ thiêng liêng, đó là kết hợp trái tim và linh hồn của ta với hy tế của Chúa Kitô được các linh mục cử hành trong Thánh lễ. Mặc dù chúng ta không thể đích thân tham dự thánh lễ vì những tình huống đặc biệt, các giám mục và linh mục vẫn cử hành Bí tích Thánh Thể cách riêng tư.

Như thế, chúng ta được mời gọi hợp nhất trái tim của chúng ta với trái tim của những vị chủ chăn – những người đã thay ta trò chuyện với Chúa và thực thi mệnh lệnh của Chúa Kitô: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22:19). Bất cứ nơi nào linh mục trung thành cử hành thánh lễ, ở đó có Giáo hội! Linh hồn của những người có mặt và vắng mặt được hòa nhập vào một bản giao hưởng tình yêu duy nhất mà dâng lên Chúa Cha. Mặc dù hôm nay, chúng ta phải xa cách nhau vì sự an toàn và ngăn ngừa, chúng ta vẫn có thể hợp nhất với nhau thông qua lời cầu nguyện và chiêm niệm.

Việc rước lễ thiêng liêng theo truyền thống cũng dạy chúng ta rằng: Khao khát Chúa Kitô cũng chính là hiệp thông với Ngài. Vì thế, Giáo hội ngay từ thời cổ đại đã công nhận những người tử đạo mà chưa lãnh Bí tích Rửa tội thì cũng đã thành Kitô hữu rồi. Mặc dù thân xác họ chưa lãnh nhận nước Rửa tội , nhưng họ đã lãnh Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát.

Trường hợp Rửa tội đầu tiên bằng niềm khao khát chính là tên trộm lành trên thập giá, được Chúa Giêsu đưa vào thiên đàng mặc dù hắn chưa được rửa tội.

Một ví dụ xúc động khác là những lời trong bài điếu văn của Thánh Ambrôsiô dành cho hoàng đế La Mã Valentinian II khi nhà vua qua đời:

“Bạn có đau buồn vì nhà vua chưa được rửa tội không? Hãy nói cho tôi biết: Bạn còn có quyền lực nào khác ngoài niềm khao khát và sự kêu cầu không? . . . Vậy đức vua có nhận được ân sủng mà ngài hằng mong muốn hay không? Đức vua có nhận được ân sủng mà ngài hằng kêu cầu hay không? Và bởi vì đức vua đã cầu xin, nên đã nhận được.”

Niềm khao khát được ở với Chúa Kitô của hoàng đế Valentinian đã cho phép nhà vua đón nhận được các ơn ích của Bí tích, mặc dù hoàn cảnh đặc biệt không cho phép nhà vua nhận bí tích cách hữu hình. Thánh Tôma Aquinô tái khẳng định giáo huấn này trong cuốn Tổng luận Thần học của mình:

Người ta có thể lãnh nhận Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát; chẳng hạn, khi một người muốn được rửa tội nhưng do một căn bệnh hiểm nghèo nào đó, họ đã chết trước khi nhận phép rửa tội. Một người như thế có thể được cứu rỗi dù không thực sự được rửa tội, nhờ niềm ước ao được rửa tội; niềm ước ao đó là kết quả của đức tin được tạo ra từ đức ái, nhờ đó, Thiên Chúa – với quyền năng không chỉ gói gọn nơi các bí tích hữu hình – đã thánh hóa người đó ngay từ bên trong. (Summa, 3.68.2)

Cũng tương tự như thế khi nói về Bí tích Thánh Thể.

Đã có một số lần trong lịch sử, Giáo hội phải tạm dừng việc cử hành các nghi thức phụng vụ cộng đồng. Quyết định này chưa bao giờ là nhẹ nhàng. Kết quả là, các tín hữu được mời thể hiện niềm khao khát Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, tin tưởng rằng Chúa sẽ kết hiệp với linh hồn của mình. Điều này được gọi là rước lễ thiêng liêng. Thánh Tôma Aquinô định nghĩa rước lễ thiêng liêng là “niềm khao khát mãnh liệt được đón nhận Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và trìu mến ôm lấy Ngài vì đã được đón rước Chúa rồi”.

Trong những tuần sắp tới, vào giờ bạn thường đi dự lễ, hãy cùng nhau xem Thánh lễ trực tuyến và đọc Kinh Rước lễ thiêng liêng, do trang web cung cấp trên màn hình máy tính.

Bạn cũng có thể mời gọi cả gia đình cùng nhau tham dự Phụng vụ Lời Chúa, đọc Kinh thánh trong ngày theo quy định. Sau các bài đọc ấy, hãy quỳ xuống hoặc đứng cùng nhau trước thánh giá và cầu xin Chúa Giêsu lấp đầy trái tim bạn bằng tình yêu và ân sủng của Người. Hãy cho Người biết rằng bạn khao khát đi dự lễ biết bao nhưng không thể được. Kế đến, hãy xin Người kết hợp trái tim của bạn với Thánh Tâm của Người đang hiện diện nơi Nhà Tạm gần nhất với bạn tại thời điểm đó.

Có nhiều người lo lắng bối rối trước nhu cầu phải đình chỉ các nghi thức phụng vụ cộng đồng do dịch bệnh covid-19. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Nhưng chúng ta không thể cho phép nó đánh cắp sự bình yên và niềm vui của chúng ta – là những người con của Chúa.

Chúa Giêsu hiểu con tim, ý muốn và niềm khao khát của bạn. Hãy cho phép tất cả trở thành lời cầu nguyện dâng lên Chúa trong thời gian khủng hoảng này, để những tuần lễ sắp tới sẽ không là nguyên nhân gây ra căng thẳng, mà là cơ hội để sống thánh thiện.

Lm Blake Britton (WordonFire) / Thu Phượng chuyển ngữ

Chia sẽ bài viết này trên:

Khi các ông giương cao Con Người lên… – Thứ 3 Tuần V MC

Khi các ông giương cao Con Người lên…

Ngày 31 tháng 3 năm 2020
Thứ Ba, sau Chúa Nhật V Mùa Chay

I. LỜI CHÚA: (Ds 21, 4b-9; Ga 8, 21-30)

21 Đức Giê-su lại nói với họ: “Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi tôi đi, các ông không thể đến được.”22 Người Do-thái mới nói: “Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói: “Nơi tôi đi, các ông không thể đến được”? “

23 Người bảo họ: “Các ông bởi hạ giới; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này.24 Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết.” 25 Họ liền hỏi Người: “Ông là ai? ” Đức Giê-su đáp: “Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông đó.26 Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói.”27 Họ không hiểu là Đức Giê-su nói với họ về Chúa Cha.

28 Người bảo họ: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy.29 Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người.”30 Khi Đức Giê-su nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM:

Tất cả các bài Tin Mừng mà Giáo Hội cho chúng ta nghe trong tuần này, trong đó có bài Tin Mừng hôm nay, kể lại cuộc trao đổi giữa Đức Giê-su và người Do Thái. Cuộc trao đổi càng ngày càng quyết liệt này làm bộc lộ bóng tối và sự chết có nơi người Do Thái và sẽ đi đến cùng là dự án giết Đức Giê-su mà chúng ta sẽ nghe kể lại trong bài Thương Khó vào Chúa Nhật Lễ Lá sắp đến.

Tuy nhiên, cuộc trao đổi này cũng làm sáng tỏ căn tính đích thật của Đức Kitô: “Các ông bởi hạ giới, còn tôi, tôi bởi thượng giới”. Và điều này sẽ đạt tới đỉnh cao nơi Thập Giá:

Khi các ông dương cao Con Người lên,
bấy giờ các ông sẽ là Tôi Hằng Hữu. 
(c. 28)

Như thế, điều tồi tệ nhất loài người dành cho Đức Giêsu, nhưng lại được Ngài dùng để bày tỏ căn tính đích thật của mình trong tương quan với Thiên Chúa. Bài đọc I của Thánh Lễ hôm nay, trích sách Dân Số, ngang qua hình ảnh Con Rắn, còn giúp chúng ta hiểu sâu rộng hơn về mầu nhiệm “Con Người được giương cao” trên Thập Giá trong tương quan toàn bộ lịch sử cứu độ.

 1. Nghi ngờ Thiên Chúa

Đi trong sa mạc trong một thời gian dài, thiếu ăn thiếu uống. Đó là một thử thách rất thật và rất lớn, vì của ăn của uống là nhu cầu thiết yếu cho sự sống. Tuy nhiên, vấn đề là lòng họ hướng về đâu ? Họ tìm gì khi bỏ Ai Cập ra đi theo tiếng gọi của Đức Chúa dưới sự hướng dẫn của Mô-sê ? Nếu con tim của họ chỉ hướng về việc thỏa mãn những nhu cầu của mình thôi, thì tất yếu đến một lúc nào đó, họ sẽ mất kiên nhẫn. Bởi vì nhu cầu thì không có cùng tận.

Trước hết là nhu cầu của cái nhìn, họ đi theo Chúa dưới sự hướng dẫn của Môsê là nhằm để thỏa mãn cái nhìn. Vì thế, họ nhìn thấy bao dấu lạ, nhất là dấu lạ vượt qua Biển Đỏ khô chân, nhưng họ vẫn không chịu tín thác vào Đức Chúa (x. Tv 106). Chẳng lẽ Chúa lại phải làm cho họ dấu lạ mỗi ngày ? Ngang qua một vài dấu lạ, họ được mời gọi trao ban lòng tin, lên đường và đi đến cùng. Giống như, những người cùng thời với Đức Giêsu, chứng kiến bao dấu lạ Ngài làm, và chính ngôi vị của Ngài là một dấu lạ, thế mà vẫn cứ đòi dấu lạ từ trời. Lúc Đức Giêsu chịu đóng đinh trên Thập Giá, họ vẫn đòi dấu lạ: “xuống khỏi Thập Giá đi để chúng ta thấy, chúng ta tin” (Mt 27, 39-44). Họ cứ nghĩ là thấy thì tin, đó là ảo tưởng. Bởi vì thấy, thì thấy một lần trong một thời điểm và nơi chốn nhất định; trong khi tin là tin vào một ngôi vị, tin suốt đời ở mọi nơi mọi lúc. Tin lúc Chúa ban dấu lạ ; và tin cả lúc Chúa không ban dấu lạ, như tác giả Thánh Vịnh nói: “tôi đã tin, cả khi mình đã nói: ôi nhục nhã ê chề” (Tv 116, 10). Trong thực tế cuộc sống, như mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm, và chính Dân được Đức Chúa tuyển chọn cũng có cùng một kinh nghiệm, những ngày không có dấu lạ gì mới là nhiều ; và có những ngày, những giai đoạn đầy đau khổ và thử thách :

Tôi tự bảo : điều làm tôi đau đớn,
là Đấng tối cao chẳng còn ra tay nữa. 
(Tv 77, 11)

Hành trình đi theo Đức Ki-tô của chúng ta cũng thế, chúng ta nhận ra dấu lạ nào đó Chúa ban cho mình và chúng ta được mời gọi tin vào tình yêu trung tín của Chúa và chúng ta đáp lại suốt đời ngang qua đời sống hàng ngày, những ngày rất đỗi bình thường cũng như những ngày đầy thách đố, khó khăn. Nhưng chúng ta cũng có kinh nghiệm này: khi tin rồi, chúng ta sẽ thấy mọi sự đều lạ.

Mà ham muốn nhìn cũng chính là ham muốn ăn: đói thì Chúa cho ăn; ăn manna một hồi thì thèm thịt, Chúa cho ăn thịt chim cút; ăn chim cút một hồi, rồi thì cũng chán: “Chúng tôi chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này”. Nhất là khi chứng kiến dân ngoại, họ ăn uống cao lương mĩ vị, dân sẽ càng thèm muốn hơn nữa. Những chuyện như vậy cứ lập đi lập lại nhiều lần : điều Ngài đã làm hôm qua, Ngài sẽ làm hôm nay không ? Đức Chúa có ở giữa chúng ta hay không ? (Xh 17, 7) Làm sao « biết » được đây ? Ham muốn của cái nhìn, ham muốn của cái bụng, ham muốn của cái biết gặp gỡ nhau. Và cuối cùng, thái độ của con người được hình thành, khi kêu trách: « Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? » À ra như thế, Thiên Chúa muốn chúng ta chết, Mô-sê muốn chúng ta chết. Đó chính là thái độ « thử thách ».

Trong Kinh Thánh, câu nói “thử thách Thiên Chúa” mang một ý nghĩa đặc biệt, đó là không tin Thiên Chúa: trong sa mạc, Dân Chúa thử thách Thiên Chúa đến 10 lần, nghĩa là lúc nào cũng thử thách Thiên Chúa, cũng không tín thác nơi Thiên Chúa (Ds 14, 22: thử thách 10 lần; Tv 106, 14); và tội nguyên tổ cũng là một dạng của hành vi thử thách Thiên Chúa, nghĩa là không tin Thiên Chúa không tín thác nơi Chúa trong thực tế cuộc sống. Vì thế, yếu tính của tội nguyên tổ, nghĩa là của mọi tội, là không tin nơi Thiên Chúa, không tín thác nơi ngài trong thiếu thốn, trong gian nan khổ đau của thân phận con người. Hành vi vi phạm giới răn chỉ là hệ quả của một thái độ nội tâm, quên ơn huệ và vì thế nghi ngờ Thiên Chúa.

Như thế, tất cả mọi sự Thiên Chúa đã làm cho họ trở thành vô nghĩa, thậm chí trở thành kế hoạch giết chết. Chúng ta hãy dừng lại đây thật lâu để nghiệm được hết mức độ nghiêm trọng của những lời dân Israel thốt ra đây. Đó là chính là thái độ nghi ngờ Thiên Chúa, và tội nghi ngờ Thiên Chúa tất yếu dẫn đến những hành vi gây chết chóc, gây chết chóc cho chính mình và cho người khác. Nghi ngờ Thiên Chúa, nên họ quay ra thờ ngẫu tượng, vì ngẫu tượng có vẻ “linh” hơn; “linh” có nghĩa là có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu, phát xuất từ lòng ham muốn ; ham muốn nhìn, ăn và biết của họ. Và vì nghĩ rằng mình được dẫn vào sa mạc là để bị bỏ mặc cho chết (trong khi mục đích của hành trình là Đất Hứa, nghĩa là Miền Đất Sự Sống trong Đức Chúa), nên họ nổi loạn ném đá toan giết chết Môsê (x. Xh 17).

 2. Con Rắn

Trong trình thuật về Tội Nguyên Tổ (St 3, 1-7), lời dụ dỗ của con rắn đã làm cho bà Evà và ông Adam nghi ngờ Thiên Chúa : Thiên Chúa nói rằng, ăn trái cây đó thì chắc chắn sẽ chết, nhưng con rắn nói: « chẳng chết chóc gì đâu ! » Tin vào lời con rắn, đồng nghĩa với việc cho rằng Thiên Chúa nói dối ! Đó là cho rằng, Thiên Chúa lừa dối con người, vì Ngài không muốn chia sẻ sự sống của mình ; đó là nghĩ rằng, Ngài tạo dựng con người để bỏ mặc con người trong sa mạc cuộc đời và nhất là cho số phận phải chết. Tin vào lời con rắn, chính là bị con rắn cắn vào người, chính là bị nó tiêm nọc độc vào người. Và hậu quả là tương quan tình yêu giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với con người bị phá vỡ. Hậu quả tất yếu là chết chóc, như Thiên Chúa đã báo trước : « Ngày nào ngươi ăn chắc chắn ngươi sẽ phải chắc chắn ngươi sẽ phải chết » (St 2, 17). Mười một chương đầu của sách Sáng Thế cho thấy rõ, Lời Chúa là chân thật.

Dựa vào trình thuật Vườn Eden, chúng ta hiểu ra rằng, rắn độc mà sách Dân Số nói đến, chính là hình ảnh diễn tả sự nguy hại chết người của thái độ nghi ngờ Thiên Chúa : kế hoạch cứu sống, khi gặp khó khăn lại bị coi là kế hoạch giết chết. Nghi ngờ Thiên Chúa, đó là để cho mình bị rắn cắn, đó là mang nọc độc vào người.

Chắc chắc chúng ta cũng có kinh nghiệm nghi ngờ Thiên Chúa, nghi ngờ ý định tốt lành của Thiên Chúa, khi cho chúng ta được làm người và sống trong một ơn gọi : Tại sao Chúa lại sinh ra con như thế này: thiếu đủ thứ, kém cỏi đủ thứ, thua thiệt đủ thứ ? Sao con không như anh kia, chị nọ? Tại sao con lại ra nông nỗi này, rơi vào tình cảnh khổ sở như thế này, Chúa dẫn vào đây để làm gì? Những lúc khủng khoảng như thế, chúng ta cũng kinh nghiệm được những hậu quả tai hại của thái độ nghi ngờ. Trong khi đó, mỗi người chúng ta, theo Tv 139, là một tuyệt tác, mà nhiều khi chúng ta lại mù quáng không nhận ra:

Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!
Hồn con đây biết rõ mười mươi. 
(Tv 139, 13-14)

3. « Khi các ông giương cao Con Người lên »

Đức Giê su nói với người Do Thái : « Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là tôi hằng hữu ». Khi nói lời này, chắc chắn Chúa muốn gợi lại điều mà Ngài đã từng nói với một bậc thầy Do Thái khác :

Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc,
Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,
để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. 
(Ga 3, 14-15)

Hơn nữa, phụng vụ Lời Chúa của Ngày Lễ Suy Tôn Thánh Giá (ngày 14/9) nối kết bài đọc Dân Số hôm nay với bài Tin Mừng này (Ga 3, 13-17). Theo lời của Đức Giê su, như con rắn đồng được giương cao trong sa mạc, Ngài cũng sẽ được giương cao như vậy.

Như thế, Lời Chúa trong sách Dân Số và trong Tin Mừng Gioan, qua hình ảnh “Con Rắn”, đưa chúng ta đi xuyên suốt lịch sử cứu độ, khởi đi từ kinh nghiệm phạm tội trong sa mạc (Ds 21, 6), trở về với thời điểm khởi đầu của sự sống (St 2-3), sau đó đi đến ngôi vị của Đức Ki-tô (Ga 3, 14) và vươn xa tới tận thời cánh chung (Kh 12, 7-10). Nhưng tại sao Con Người cũng sẽ phải được giương cao, như con rắn đồng trong sa mạc ? Nếu chúng ta hình dung ra (hay tốt hơn là vẽ ra : một bên là con rắn đồng treo lên cây cột, và bên kia là Đức Kitô chịu đóng đinh trên thập giá), chúng ta sẽ cảm nhận được phần nào sự « ô nhục và điên rồ » mà thánh Phaolô nói tới (x. 1Cr 1, 23).

CON RẮN CON NGƯỜI
Con rắn bị treo lên cây cột Con Người được giương cao lên Thập Giá

Tại sao Con Người để cho mình bị treo lên cây gỗ, như con rắn, cách điên rồ và sỉ nhục như vậy? Tại sao Đức Giêsu Kitô lại so sánh chính mình với con rắn ? Đây là câu hỏi lớn nhất và sẽ mãi mãi là một câu hỏi không có câu trả lời thỏa đáng, vì đó là mầu nhiệm khôn dò của Thiên Chúa như thánh Phaolô nói :

Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào !
Quyết định của Người ai dò cho thấu !
Đường lối của Người, ai theo dõi được ! 
(Rm 11, 33)

Một bên là « Con Rắn » bị giương cao trên cây gỗ, một bên là Đức Ki-tô được giương cao trên cây thập giá, thay vì là Sự Dữ, là Sa-tan, bởi vì theo luật, chỗ trên cây thập giá phải là chỗ của tử tội, của chính Tội, của Con Rắn. Như thế, Đức Kitô trong Cuộc Thương Khó, sẽ tự nguyện thế chỗ cho con rắn. Thực vậy, thánh Phaolô nói, Ngài lại tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8, 3) ; và Ngài “đồng hóa mình với tội” (2Cr 5, 21 và Gl 3, 13). Tội có bản chất là ẩn nấp, khó nắm bắt, giống như con rắn, nhưng đã phải hiện ra nguyên hình nơi thân xác nát tan của Đức Kitô : “tội để lộ chân tướng và cho thấy tất cả sức mạnh tội lỗi của nó” (Rm 7, 13). Thập Giá Đức Kitô mặc khải cho loài người chúng ta hình dạng thật của Tội. Chính vì thế mà trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô, Đức Giê-su dạy, chứ không phải báo trước, các môn đệ về cuộc Thương Khó của Người (x. Mc 8, 31). Vì, thế, chúng ta được mời gọi nhìn lên Đức Ki-tô chịu đóng đinh, để nhìn thấy:

  • Thân thể nát tan của Người vì roi vọt, kết quả của lòng ghen ghét, của lòng ham muốn, của sự phản bội, của sự bất trung, và của những lời tố cáo, lên án vô cớ, của vụ án gian dối.
  • Đầu đội mạo gai của Người, tượng trưng cho những lời nhạo báng, diễu cợt trên ngôi vị.
  • Chân tay của Người bị đanh đâm thủng và ghim vào giá gỗ; hình ảnh này cho thấy con người đã đánh mất nhân tính, và hành động theo thú tính.
  • Và cạnh sườn của Người bị đâm thủng, thấu đến con tim. Sự Dữ luôn đi đôi với bạo lực; và bạo lực luôn muốn đi tới tận cùng, là hủy diệt (x. Dụ ngôn “Những tá điền sát nhân”). Nhưng đồng thời cũng ở nơi đây, trên Thập Giá, tình yêu, lòng thương xót, sự thiện, sự hiền lành và cả sự sống nữa, của Thiên Chúa cũng đi tới tận cùng!

Theo lời của Đức Chúa, Mô-sê khi đó đã treo một con rắn bằng đồng lên cột gỗ và ai nhìn lên nguyên nhân gây ra cái chết được phô bày ra đó, thì đã được chữa lành. Nếu hình phạt bị rắn độc cắn là nặng nề, để cho thấy rằng, thái độ nghi ngờ và kêu trách tự nó mang nọc độc giết người, thì ơn chữa lành thật nhẹ nhàng và nhưng không: “Ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống”. Cũng giống như khi người ta chữa bệnh: trước tiên phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh; và khi tìm được, thì hoặc dùng thuốc hóa giải nó đi, hoặc phải cắt bỏ ra khỏi cơ thể.

Như Dân Chúa trong sa mạc nhìn lên con rắn đồng, chúng ta được mời gọi ngước nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19, 37). Nhưng thay vì bị lên án, loài người chúng ta được mời gọi nhìn lên Đức Ki-tô Chịu Đóng Đinh với lòng tin để đón nhận ơn tha thứ và được chữa lành.

Ơn tha thứ. Thập Giá, chính là lời diễn tả tình yêu thương xót nhưng không và vô biên của Thiên Chúa. Vì thế, khi nhìn lên Thập Giá Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nghiệm ra tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu có thể chịu đựng mọi tội lỗi của con người đến như thế.

Ơn chữa lành. Đúng là Thập Giá mặc khải cho con người bản chất của Tội, nhưng không phải là để lên án con người, mà là để cứu sống con người. Thiên Chúa không thể tha thứ cho con người mà không đồng thời chữa lành, bằng cách làm cho con người nhìn ra hình ảnh thật sự của Tội, của Sự Dữ và tất cả những gì liên quan đến Sự Dữ.

Chữa lành khỏi hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa. Và Thập Giá con mặc khải cho chúng ta rằng thân phận con người không phải là một hành trình dẫn đến chỗ chết. Con người muốn vươn lên bằng Thiên Chúa, nhưng Con Thiên Chúa làm người và làm người đến tận cùng (Ph 2, 5-11), để nói với chúng ta rằng, Thiên Chúa tạo dựng nên con người không phải để đầy đọa, thử thách và lên án, và thân phận con người, dù có như thế nào, là con đường dẫn đến Thiên Chúa, nguồn Sự Sống, như Thánh Phao-lô xác tín:

Không có gì tách được chúng ta ra khỏi
tình yêu của Thiên Chúa thể hiện
nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta. 
(Rm 8, 39)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

Khoảng cách và sự khát khao

Khoảng cách và sự khát khao

Sự hỗn loạn.

Trong tuần trước, đại dịch virus Corona đã tạo ra một tinh thần hỗn loạn tại Hoa Kỳ, giống như đã xảy ra ở châu Âu. Sự lây lan của COVID-19 đã đột ngột làm tạm dừng lại nhịp sống và thói quen hàng ngày của chúng ta. Nó cũng ảnh hưởng đến công việc cũng như việc vui chơi của chúng ta. Đó là một tình huống siêu thực.

Bởi vì nó là một cái gì đó hoàn toàn mới và chưa ai biết đến, nên chúng ta cảm thấy không chắc chắn. Sự không chắc chắn tạo ra sự nhầm lẫn. Sự nhầm lẫn tiếp tục dẫn đến hoảng loạn. Và hoảng loạn sinh ra hỗn loạn.

Sự hỗn loạn tất nhiên có nghĩa là thiếu sự thống nhất, hòa hợp và trật tự đúng đắn, nơi những điều này có thể và nên có mặt. Vì chúng ta là những tạo vật có lý trí, trật tự là một cái gì đó hấp dẫn, một thứ mà chúng ta lấy làm thỏa mãn và tìm thấy sự bình yên. Khi điều đó vắng mặt, nó có thể khiến chúng ta cảm thấy ít nhân tính hơn. Chúng ta cư xử ít lý trí hơn (do đó dẫn đến hoảng loạn). Đó là một tình huống bấp bênh khi rơi vào.

Điều mà chúng ta đang đối phó không chỉ là một tinh thần hỗn loạn nói chung; đại dịch dường như đang dẫn đến sự hỗn loạn tâm linh nói riêng. Chẳng hạn, một trong những trang web khiêu dâm nổi tiếng nhất thế giới đã quyết định cung cấp dịch vụ cao cấp miễn phí trên mạng của họ, miễn phí cho người Ý trong suốt tháng Ba, để giúp giảm bớt sự đau khổ vì virus Corona tại quốc gia này, như một tiêu đề của báo New York đã đăng lên. Như thể giết chết linh hồn có thể giúp cho cơ thể! Ngoài ra, tới một chừng mực mà virus đã khiến nhiều nhà thờ phải đóng cửa thì việc đến gần với Chúa Kitô trong các bí tích càng khó khăn hơn trong thời gian thử thách thiêng liêng này. Đức ông Charles Pope cho rằng: việc đình chỉ tất cả các cử hành Thánh lễ công cộng tại một số giáo phận là dấu hiệu cho thấy con người hiện đại chúng ta đặt mối bận tâm về thể lý còn trên cả tâm linh. Sự thận trọng cách ly xã hội là một chuyện. Sự xa cách tâm linh là một vấn đề hoàn toàn khác.

Chừng nào virus còn tiếp tục lây lan, thì nó cũng sẽ gây ra sự hỗn loạn tâm linh. Tuy nhiên, bất chấp tất cả sự không chắc chắn và sợ hãi, bất chấp bóng tối, điều vẫn luôn đúng, đó là: Thiên Chúa có thể mang lại trật tự giúp chúng ta thoát khỏi sự hỗn loạn.

Sự khao khát mang lại trật tự trong cuộc sống của chúng ta có thể tạo ra một sự khao khát về Nguồn gốc của mọi trật tự. Năm nay với tư cách là một giáo sĩ trợ lý tại Đại học Providence, tôi đã và đang giúp cho chương trình RCIA (Giáo lý tân tòng dành cho người trưởng thành), chương trình này có gần bốn mươi sinh viên chuẩn bị lãnh nhận các Bí tích vào tháng tới. Tối thứ Tư tuần trước, khi được thông báo rằng: các lớp học đã bị đình chỉ cho đến sau lễ Phục sinh, các sinh viên đã đến hỏi tôi trong vòng vài phút: “Chúng tôi sẽ làm gì cho chương trình Giáo lý tân tòng dành cho người trưởng thành?” “Tôi muốn được lãnh nhận Bí tích Rước lễ Lần đầu”, một người lên tiếng. Họ đã mong chờ dịp tuyệt vời này. Nhưng bây giờ họ có một khao khát mới. Mối đe dọa có khả năng đánh mất những gì họ mong muốn và điều đó làm cho họ khao khát nó nhiều hơn nữa. Một người Công giáo trẻ khác đã viết cho tôi rằng, tôi đã gần như xem nhẹ vì được tham dự rất nhiều Thánh lễ hàng ngày gần nơi tôi ở, có rất nhiều các buổi Chầu Thánh Thể. Sẽ không bao giờ được lặp lại.” Khi bị xa cách thì dẫn đến niềm khát khao, mong muốn, và sự biết ơn sâu sắc hơn nhiều.

Chúng ta vẫn có thể ngợi khen Thiên Chúa giữa những đau khổ, cậy trông nơi ngài, và tìm kiếm niềm hy vọng giữa những điều vô vọng. Theo quan sát của người kể chuyện trong cuốn tiểu thuyết “Dịch Bệnh” của Albert Camus thì một khi có sự khuấy động dù yếu ớt của niềm hy vọng, sự thống trị của dịch bệnh đã chấm dứt.

Ở đâu có sự khát khao về Thiên Chúa, mọi thứ khác sẽ theo sau – khi đúng thời đúng lúc, theo một trình tự tốt đẹp. Lạy Chúa, xin cho giờ đen tối này làm tăng lòng ham muốn của chúng con đối với Chúa. Xin thương xót chúng con, và tỏ lộ ra cho chúng con sự cứu rỗi của Chúa.

Tác giả: Br Jordan Zajac, O.P.
Nguồn: [www.dominicanajournal.org]
Chuyển ngữ: Nt. Maria Nguyễn Thị Ánh Hồng

Chia sẽ bài viết này trên:

ẤM ÁP TÌNH NGƯỜI, Thứ Hai 30/03/2020

Có hai người bạn cùng nhau vượt qua đoạn đèo cao của dãy Hymalaya hùng vĩ. Giữa đường, họ chợt trông thấy một người đang nằm bẹp trên tuyết lạnh. Người thứ nhất rất muốn dừng lại để cứu giúp. Anh nói: “Giữa trời tuyết buốt giá như thế này, anh ta sẽ chết mất thôi. Chúng ta nên đưa anh ta ra khỏi nơi này với chúng ta”. Tuy nhiên, người thứ hai lại không đồng ý. Anh ta nói: “Thật là phiền toái nếu mang người này theo! Làm sao chúng ta có thể vác anh ta suốt một chặng đường dài giữa thời tiết như vầy cơ chứ? Sự mệt mỏi và trì hoãn sẽ khiến chúng ta mất mạng ở đây cả thôi”.

Người thứ nhất vẫn không đành lòng để mặc người đang gặp nạn phải chết trong trời giá rét. Anh quyết định đưa người ấy theo mình. Tức giận trước quyết định đó của bạn, người thứ hai nói: “Nếu anh muốn đưa người này theo thì hãy tự xoay sở lấy. Tôi sẽ đi trước anh vậy”. Nói rồi, anh ta nhanh chóng băng mình vào làn tuyết trắng xóa. Người thứ nhất lập tức đỡ người gặp nạn dậy vào cõng lên vai, cố gắng tiếp tục chặng đường đầy khó khăn. Nằm trên thân mình ấm áp của người bộ hành thứ nhất, thân người lạnh cứng kia dần dần ấm lại, và anh ta bắt đầu hồi tỉnh. Không lâu sau, cả hai người họ đã cùng kề vai tiến bước bên nhau. Trên đường, họ bắt gặp xác một người đã nằm chết cóng. Đó chính là người bạn đã rời đi trước đó một mình.

Quý vị và các bạn thân mến,

Hơi ấm của tình người có khả năng tái tạo và duy trì sự sống. Trong câu chuyện mà chúng ta vừa nghe, hơi ấm từ thân mình của người khách bộ hành thứ nhất đã làm ấm lại một thân thể lạnh cóng đang mất dần sự sống, và cũng chính sự ấm áp nơi tấm lòng nhân hậu của người khách bộ hành ấy đã cứu được một người khỏi vực thẳm cái chết bởi sự bất lực và bị bỏ rơi. Sự ấm áp ấy đã giúp họ cùng nhau vượt qua được cái lạnh của khí trời và giữ được sự sống. Trái lại, vì sự ích kỷ và thái độ vô tâm trước hoàn cảnh khốn khó của người khác mà người khách bộ hành thứ hai đã mất mạng. Anh ta đã chết trong sự lạnh giá của thời tiết và sự cô độc của chính mình.

Nhà văn người Nga Maxim Gorky đã nói rằng: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương”. Theo vị trí địa lý, Bắc Cực là điểm nằm ở tận cùng phía Bắc của trái đất, nơi có khí hậu khắc nghiệt, quanh năm lạnh giá với nhiệt độ trung bình năm luôn dưới 0oC, băng tuyết dày đông cứng và những trận bão tuyết cực mạnh. Chỉ nghe mô tả sơ qua, chúng ta đã thấy rùng mình sợ hãi trước sự khắc nghiệt của vùng băng tuyết dữ dội đó! Tuy nhiên, cái lạnh của vùng Bắc Cực này không phải là điều mà mọi người phải nếm trải, mà cái lạnh do thiếu vắng tình người mới là điều mà mọi người đều có thể cảm nghiệm được vì nó ở gần lắm: ngay trong chính cõi lòng và hoàn cảnh sống của chính mình. Cái lạnh đó chính là sự cô đơn do thiếu vắng tình thương, sự cảm thông và quan tâm, nâng đỡ của con người dành cho nhau. Cái lạnh đó làm đóng băng mọi niềm vui, hy vọng và khát vọng sống của biết bao người trong thế giới hôm nay.

Trong những ngày này, mọi quốc gia và tất cả mọi người đều đang nỗ lực chiến đấu với đại dịch toàn cầu Covid-19. Có lẽ hơn bao giờ hết, đây là thời điểm mà nhân loại cần đến sự ấm áp của tình người. Có biết bao bác sĩ, y tá và nhân viên y tế miệt mài và tận tình xông pha, cứu chữa các bệnh nhân. Có không ít những vị mục tử đã tìm ra những cách thế sáng tạo và hữu hiệu để hiện diện và đem Chúa đến cho đàn chiên đang đau khổ. Có rất nhiều nhà lãnh đạo quốc gia chân chính đang thao thức tìm những giải pháp tốt nhất nhằm bảo vệ sự an toàn cho người dân và đất nước của mình trước đại dịch. Và cũng có không ít những nhà thiện nguyện đã và đang dấn thân trong việc chia sẻ của ăn và các phương tiện cần thiết cho những người đang phải sống trong các khu vực cách ly và phong tỏa… Những nỗ lực tuyệt vời đó của họ đem lại sự ấm áp tình người cho những người đang đối diện với những khủng hoảng trong tinh thần và đau đớn nơi thân xác. Cùng với mọi con tim và đôi tay đang vun đắp tình người giữa đại dịch này, trong khi tuân thủ các lời khuyên và chỉ thị phòng tránh dịch bệnh, chúng ta cũng không quên đem sự ấm áp của mình đến cho các bệnh nhân và thân nhân của họ qua những ánh mắt, nụ cười và thái độ đầy cảm thông cùng với lời cầu nguyện thiết tha xin Chúa chữa lành cho họ và cả thế giới.

Lạy Chúa, hằng ngày có biết bao người xung quanh chúng con đã chết đi một cách đau đớn, cô quạnh và cũng có vô số người đang phải sống trong tình trạng cô đơn, và u buồn bởi thiếu vắng sự ấm áp của tình người. Xin Chúa thương đem đến niềm vui và hy vọng cho nhân loại chúng con, và cho những người đang sống xung quanh chúng con có thể cảm nhận được tình thương của Chúa nhờ sự hiện diện thân tình và ấm áp của chúng con. Amen.

Duy An (Chân Lý Á Châu)

Chia sẽ bài viết này trên:

Thứ Hai 30-3: Hãy đi và đừng phạm tội nữa (Ga 8,1-11)

Thứ Hai   30-3     Hãy đi và đừng phạm tội nữa

Ga 8,1-11

1 Còn Đức Giê-su thì đến núi Ô-liu.2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ.3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa,4 rồi nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình.5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? “6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.”8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất.9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa.10 Người ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? “11Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

Suy niệm:

Bạn có sẵn sàng thay đổi và thích ứng với sự thánh thiện như Đức Kitô không? Thiên Chúa không bao giờ khước từ ơn sủng của Người với chúng ta. Tình yêu kiên vững và lòng thương xót của Người luôn mới mỗi ngày (Ac 3,22-23). Ngang qua ân huệ của Chúa Thánh Thần chúng ta có thể thay đổi và nên mới trong Đức Kitô. Người có thể giải thoát chúng ta khỏi những ước muốn và đam mê phóng túng.

Những lời kết án bất công chống lại Đức Giêsu

Các Tin mừng thường mô tả cách thức Đức Giêsu đã đối mặt với những lời buộc tội cách bất công của người Pharisêu, các bậc kỳ lão của dân Israel. Họ rất bực mình với giáo huấn của Đức Giêsu và họ muốn làm cho Người mất uy tín bằng mọi cách có thể được. Họ không chỉ muốn làm cho Người im lặng, mà còn trừ khử Người bởi vì Người tuyên bố mình nói với uy quyền của Thiên Chúa. Khi tình trạng luân lý khó xử hay nghi vấn khó khăn nảy sinh, người Dothái thường đem vấn đề đến một vị Rabbi để cho quyết định. Các người luật sĩ và Pharisêu đem tới cho Đức Giêsu một người đàn bà bị bắt vì tội ngoại tình. Gioan viết rằng họ muốn “thử” Đức Giêsu về vấn đề xử phạt, để có bằng cớ tố cáo Người (Ga 8,6).

Luật Do thái coi sự ngoại tình là một trọng tội vì nó vi phạm mệnh lệnh của Thiên Chúa và phá hủy sự bền vững của hôn nhân và đời sống gia đình. Nó là một trong ba trọng tội bị án tử hình. Nếu Đức Giêsu nói phải tha thứ cho người đàn bà, Người sẽ bị buộc tội vi phạm luật Môisen. Nếu Người nói phải ném đá người đàn bà, Người sẽ đánh mất danh tiếng là bạn hữu có lòng thương xót với các tội nhân.

Đức Giêsu đã làm một điều ngoài dự tính của họ – Người bắt đầu viết trên cát. Hạn từ “viết” được dùng ở đây trong bản văn Tin mừng theo nghĩa đen có nghĩa là “viết xuống bản buộc tội chống lại ai đó” (xin xem sách Gióp 13,26 để biết thêm một ví dụ khác). Có lẽ Đức Giêsu đang viết xuống một danh sách tội trạng của những kẻ buộc tội đang đứng trước mặt Người. Giờ đây, Đức Giêsu đã đảo ngược sự thách đố về phía những người buộc tội. Thực tế Người nói: Cứ ném đá cô ấy đi! Nhưng hãy để người nào sạch tội ném viên đá đầu tiên. Chúa đặt vấn đề cho lương tâm của chính họ.

Tha thứ, phục hồi, và sự sống mới

Khi người đàn bà phạm tội ngoại tình còn lại một mình với Đức Giêsu, Người vừa bày tỏ lòng thương xót và Người mạnh mẽ khích lệ cô đừng phạm tội nữa. Các kinh sư muốn kết án, Đức Giêsu muốn tha thứ và phục hồi sự lành mạnh cho tội nhân. Sự thách đố của Người liên hệ đến sự chọn lựa – hoặc trở lại với con đường tội lỗi và chết chóc trước kia, hoặc vươn tới con đường sự sống và hạnh phúc mới với Người. Đức Giêsu ban cho cô ta sự tha thứ và sự khởi đầu cuộc sống mới. Ơn sủng của Thiên Chúa giúp chúng ta đối diện với tội lỗi của mình vì những gì nó là – sự bất trung với Thiên Chúa, và trở về với Thiên Chúa bằng một tấm lòng thống hối và một tinh thần biết ơn về lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa. Bạn có biết niềm vui của sự thống hối và một lương tâm trong sạch không?

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con thấy khó khăn để đến với Cha, bởi vì sự hiểu biết của chúng con về Cha thật bất toàn. Trong sự nông cạn của mình, chúng con hình dung Cha là kẻ thù của mình; chúng con đã suy nghĩ sai lạc rằng Cha sung sướng trong việc xử phạt những tội lỗi của chúng con; và chúng con dại dột nghĩ rằng Cha là một bạo chúa trên cuộc đời con người. Nhưng vì Chúa Giêsu đã đến giữa chúng con, Ngài đã bày tỏ rằng Cha rất đáng yêu mến, và sự phẫn uất của chúng con về Cha là vô căn cứ. Nên chúng con đến với Cha, cầu xin Cha tha thứ cho sự ngu dốt trong quá khứ của chúng con, và muốn ngày càng hiểu biết về Cha và tình yêu tha thứ của Cha hơn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. (Lời cầu nguyện của thánh Augustine)

Tác giả: Don Schwager
(http://dailyscripture.servantsoftheword.org/readings/)
Bro. Paul Thanh Vu 
– chuyển ngữ

Chia sẽ bài viết này trên:

BÁC ÁI VÔ ĐIỀU KIỆN

BÁC ÁI VÔ ĐIỀU KIỆN

Chuyện kể rằng một ngày kia, khi những người có vai trò quan trọng trong một ngôi làng đang cùng nhau sửa chữa lại một nhà kho thì họ trông thấy trong góc nhà có một cái ổ chuột. Họ bèn dùng dùng khói để đuổi mấy con chuột trong đó chạy ra. Quả thật, một bầy chuột đã chạy ra, từng con, từng con một… Sau đó mọi người nghĩ rằng chuột đi hết rồi. Nhưng khi họ vừa mới bắt đầu dọn dẹp thì thấy hai con chuột nữa đang cố gắng cùng nhau chạy ra khỏi miệng ổ. Điều kỳ lạ là sau khi ra ngoài ổ, hai con chuột này không chạy đi liền mà vẫn không rời nhau, dường như con này đang muốn kéo con kia.

Mọi người kinh ngạc lại gần coi thử, thì họ thấy có một con bị mù, không thấy gì cả, còn con kia đang cố gắng để cho con mù cắn đuôi nó, để kéo con mù đi tẩu thoát. Sau khi chứng kiến sự việc xảy ra, ai nấy đều xúc động, không nói nên lời. Tới giờ ăn, nhóm người ngồi quây quần và bắt đầu bàn luận về những gì xảy ra giữa hai con chuột. Một vị bô lão đầy kinh nghiệm lên tiếng: “Tôi nghĩ mối quan hệ giữa hai con chuột đó giống như là vợ với chồng. Người chồng dẫn dắt người vợ”. Mấy người kia ngẫm nghĩ một hồi cũng thấy điều này có lý, nên đồng tán thành. Một thanh niên cũng góp ý thêm: “Tôi nghĩ mối quan hệ giữa hai con chuột kia cũng giống như tình phụ tử và mẫu tử. Người cha, người mẹ không bao giờ bỏ rơi đứa con tội nghiệp của mình”. Những người kia suy nghĩ và cảm thấy điều này có lý hơn. Họ tỏ ra tán thành lần nữa. Nhưng ngay lúc đó, một người khác lại lên tiếng: “Hai con chuột đó sao lại phải có quan hệ gì với nhau chứ? Thấy đồng loại của mình gặp khốn khó thì cứ ra tay cứu giúp thôi, đâu phải chỉ làm điều tốt cho những người có liên hệ nào đó với mình.”

Quý vị và các bạn thân mến,

Tình thương ngự trị ở nơi rất sâu thẳm trong cõi lòng con người. Trong khung trời yêu thương của mình, người ta luôn sắp sẵn những thứ bậc và vị trí cho những người mà họ yêu thương. Điều đó có nghĩa là người ta thường dành mối quan tâm và những sự ưu ái đặc biệt cho những người có quan hệ họ hàng ruột thịt hay có mối liên hệ thân thiết nào đó với mình. Cho nên trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta không thấy lạ gì với những lối suy nghĩ và hành động theo kiểu: “nhất thân, nhì thế” hay “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Một cách rất tự nhiên, khi rơi vào những hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo, bất cứ ai cũng sẽ ưu tiên cứu giúp những người thân trong gia đình mình rồi mới lưu tâm đến những người khác ở xung quanh.

Do vậy mà trong câu chuyện chúng ta vừa nghe, rất nhiều người đã cho rằng việc một chú chuột lành lặn cố hết sức cứu chú chuột mù trong hoàn cảnh hiểm nghèo này bởi vì chúng có mối liên hệ ruột thịt hay có một mối tương quan gắn bó nào đó. Nếu nghĩ như vậy thì hành vi tốt đẹp đó chẳng có gì đáng lưu tâm và thán phục cả. Tuy nhiên, vượt xa hơn những suy nghĩ thông thường đó, vẫn có một ý tưởng rất đẹp cho rằng dù không có liên hệ gì, chú chuột lành lặn vẫn có thể cứu giúp chú chuột mù chỉ vì một lý do rất đơn giản đây là đồng loại của mình, và dù tật nguyền, chú chuột mù ấy vẫn đáng được sống. Cứu giúp một người xa lạ, không có tương quan gì thân thiết với mình đó mới chính là hành vi bác ái đáng trân trọng.

Sống bác ái là bổn phận của người Kitô hữu chúng ta để trở nên dấu chỉ là môn đệ của Chúa Giêsu – Đấng đã dành trọn tình thương và sẵn sàng ra tay thi ân giáng phúc cho tất cả mọi người dù là người ruột rà thân thích, bạn bè và các môn đệ, hay những người xa lạ thường xuyên gây khó dễ và chống đối Người. Chúa Giêsu muốn chúng ta cũng biết thực thi bác ái một cách vô điều kiện qua thái độ không chọn lọc đối tượng để yêu thương và cũng không có sự phân biệt trong cách đối xử với người khác. Người dạy rằng: “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Ðấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6, 32-35). Chúng ta cầu xin Chúa ban ơn giúp chúng ta kiên trì tập luyện nhân đức bác ái vô điều kiện để xứng danh là con của Thiên Chúa và xứng đáng được hưởng phần thưởng mà Người đã hứa ban.

Lạy Chúa, chúng con thường mau mắn thực thi bác ái cho những người thân cận với mình nhưng lại so đo và ngần ngại giúp đỡ những người không quen biết. Xin Chúa giúp chúng con vượt qua được những tính toán nhỏ nhen hằng ngày để sống quảng đại với tất cả mọi người như Chúa luôn rộng lòng ban mọi phúc lành cho chúng con. Amen.                                                                

Nt. Rosa Lê Ngọc Thuỳ Trang, MTGCQ
Nguồn:  Chân Lý Á Châu

Chia sẽ bài viết này trên:

Trả giá hay thánh giá?

Trả giá hay thánh giá?

Suốt những ngày tháng qua, dường như Mẹ Trái đất đang khóc thương những đứa con yêu dấu của mình vì chúng bất lực ra đi từng giờ từng phút vào cõi ngàn năm. Đồng thời, khi nhìn lại, người mẹ ấy cũng đã phải chịu quá nhiều những vết thương do chính con cái mình gây ra. Trái đất ngày càng nóng lên, hạn hán nhiều chỗ, cháy rừng “tưng bừng” khắp nơi, hiệu ứng nhà kính thì hình như không có đối thủ cạnh tranh, băng tan tràn lan như “tức nước vỡ bở” khiến nước biển dâng cao cứ muốn lao lên bờ, sinh vật biển tự nhiên thành vật hiến tế cho rác thải, ni-lông,.v.v. Tất cả những vết “trọng thương” ấy có phải là lỗi của tôi và của bạn chăng? Thế mà, giờ đây, hình như Cô Vy đang muốn “thay trời hành đạo”, đi dạo khắp ngõ ngách, gõ cửa từng nhà, rà từng con người.

Cô Vy xuất hiện, bao người phải hứng chịu, bao kẻ phải đợi trông. Người ta đâu dám ra ngoài chặt phá rừng trên từng cây cả bóng giày lâu năm. Thế là, cây cỏ có chỗ đứng, động vật có chỗ nằm. Người ta đâu được đi du lịch, nghỉ dưỡng ngoài bãi biển nữa. Hóa ra, bãi kia vắng bóng người, giảm chất thải, tự nhiên trả lại làn nước trong bầu khí lành cho các loài sinh vật tha hồ vui đùa mà không lo bị lừa vì ăn nhầm bao bì, ni-lông, rác thải nhựa. Công nhân đâu dám đi làm, các nhà máy gần như hết hoạt động, các KCN dần đóng cửa. Thành ra, điều ấy trả lại cho bầu trời vẻ trong lành, xanh mát vốn có của nó. Người dân hạn chế đi lại, tụ tập, đồng nghĩa với chuyện giảm khí thải bớt tiếng ồn, nhất là trên bầu trời không còn “vết chân” CO2 của những chuyến máy bay nữa. Đường phố bỗng trở nên tĩnh lặng lạ thường, nhường chỗ cho thiên nhiên mặc sức thể hiện, những làn gió chiều nhè nhẹ, tiếng chim ca thánh thót, từng đàn sóc lượn quanh…Giờ này, ta có thể nghe rõ tiếng thầm thì của thiên nhiên trong yên bình, lặng thinh. Hay chăng băng sẽ bớt tan, hiệu ứng nhà kính sẽ “im tiếng”, nước biển “biết điều” hơn. Thế ta mới hiểu:
Nắng mưa đâu chỉ chuyện trời
Đó còn là chuyện của người của ta.

Vì Cô Vy, phần lớn các sự kiện, hoạt động có sự hiện diện của đông người đều bị hoãn hay hủy bỏ. Cô Vy đặt ngay cái biển to tướng “GIẢM TỐC ĐỘ” ngay trước mặt mọi người, làm người ta tránh xa chỗ ồn ào, náo động, khiến họ chậm lại hơn với nhịp bước “PHÓNG NHANH VƯỢT ẨU” đã từng tước đi của họ bao cơ hội như vàng như ngọc. Cô Vy khiến bao người phải dẹp bỏ lợi ích của bản thân mình, sống tình liên đới với tha nhân. Cô Vy khiến họ phải dẹp cái tôi “chính hiệu to tướng” của mình, nhường chỗ cho tinh thần cộng tác yêu thương. Giờ đây, “tinh thần cộng đồng” vốn là nét đẹp của Văn hóa Việt xưa này được sống lại lần nữa.

Do Cô Vy, người ta “phải” ở nhà, vì nó an toàn hơn ra ngoài phố. Có thể “nhà” vốn chỉ là chốn dừng chân, nơi nghỉ trọ của không ít người, nay lại được trở về với vẻ nguyên vẹn thuở xưa của nó, một tổ ấm. Người bôn ba, kẻ tha hương nơi xứ người nay trở về với mái nhà thân yêu thuở nào. Kẻ có cơ hội đoàn viên “bất đắc dĩ”, hay là chuyện có một không hai. Người được ngủ đầy giấc, tận hưởng từng bữa cơm mà lâu nay vô tình quên ngoài đường quá, phố xá xa lạ. Kẻ đỡ cái gánh, cái áp lực nơi công sở, căn thẳng chốn thương trường…Trong chính thời “loạn lạc” này, thất nghiệp, lương thiếu khiến bao người cần hiểu triết lý tiết kiệm phải hiện diện trong nhà mình. Thế mới tránh phung phí nhu cầu hưởng thụ, lãng phí đồ ăn, thức uống theo thói quen “dư giả” của ta, vì kiếm đâu ra tiền để mua, tìm đâu ra chỗ để bán. Đúng là, “thà vô sự mà ăn cơm hẩm còn hơn đâu bệnh mà uống sâm nhung”. Cũng có người dành nhiều thời giờ hơn cho cha mẹ, người thân. Biết đâu những rạn nứt lâu nay lại được gắn hàn. Biết đâu lúc đã vương chút mùi đời, ta mới hiểu tình cha tình mẹ thương ta thế nào. Biết đâu lúc đã nếm vị nhớ nhà, ta lại tha hồ hưởng vị ngọt của công cha, hương thơm của nghĩa mẹ. Biết đâu khi đã xa mùi anh hương chị, ta được đi lại những kỷ niệm tháng năm thuở nào. Biết đâu khi đang thèm câu kinh gia đình, đang khát lời nguyện cùng mẹ cha, ta có dịp tìm về cội nguồn đức tin, cảm thức ngày nào dưỡng ta khôn lớn. Lẽ nào ta đang phải trả cái giá quá đắt vì “chẳng may” quên mái nhà thân yêu, lãng phí lời mẹ, phung phí sức cha. Giờ đây, có thể là cơ hội “vàng ngọc” để học lại bài biết ơn, ôn lại bài yêu thương ngày trước.

Có Cô Vy, ta không thể cùng nhau tham dự Thánh Lễ. Không Thánh Lễ, có thể nhiều người sẽ tiếc nuối một thời “bỏ lễ” vì dễ dãi với chính mình, có người thèm lời kinh điệu hát, khát bài giảng có lúc bỏ ngơ. Không Thánh Lễ, có người lỡ “đánh rơi” ân sủng của Lời Chúa, vô tình “làm rớt” tình yêu trong Thánh Thể dành cho riêng mình. Giờ đây, ta mới trân quý giá trị của Thánh Lễ, ta mới hiểu đỉnh cao của Phụng vụ Giáo Hội là thế nào.

Đúng là phải trả giá! Cái giá đáng giá bao nhiêu? Nhưng trong chuyện này, có lẽ nhân loại cũng đang vác thánh giá cùng với Đức Giê-su lên đồi Can vê năm xưa.

Chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa Giê-su:
Phải chăng nhân loại đang lãnh bản án “Covid-19” trong cuộc thương khó mùa chay 2020 này?
Thế ai là tên phản bội Giu-đa? Ai là những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu hay người dân Do thái kết án, buộc tội nhân loại? Nhân loại có đáng phải chịu bản án này?
Những vết thương của nhân loại như thế nào?
Những người môn đệ ở đâu trong giờ này?
Trong hành trình 14 chặng đàng thánh giá, nhân loại đang ở chặng thứ mấy?
Tôi và bạn ở đâu, là ai trong cuộc thương khó này của nhân loại?
Nhưng “nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8)?

Lyeur Nguyễn
Nguồn Dòng Tên

Chia sẽ bài viết này trên:

Coronavirus và Những Căn Bệnh Thiêng Liêng

Coronavirus và Những Căn Bệnh Thiêng Liêng

      Cách đây vài ngày, tình cờ tôi đọc được bài suy tư về Coronavirus của một nhà tỷ phú người Mỹ, Bill Gate. Ông là một nhân vật nổi tiếng. Bài viết của ông đã được dịch ra tiếng Việt và được đăng ở nhiều trang mạng đạo đời khác nhau[1]. Bill Gate đã chia sẻ nhiều bài học rút ra được từ đại dịch Covid-19 này. Với cá nhân, tôi thích nhất những ý tưởng này: “Tôi là một người tin tưởng mạnh mẽ rằng có một mục đích tâm linh đằng sau mọi thứ xảy ra, cho dù đó là những gì chúng ta cho là tốt hay xấu…Trong khi nhiều người coi Covid-19 là một thảm họa lớn, tôi thích xem nó như là một sửa chữa tuyệt vời. Nó được gửi đến để nhắc nhở chúng ta về những bài học quan trọng mà chúng ta dường như đã quên và tùy vào mình mà ta có học được chúng hay không”. Có lẽ Bill Gates là một người ngoại, không phải theo đạo Công Giáo, nhưng những lời chia sẻ của ông có một “mục đích tâm linh” và nó đã đánh động tôi, khiến cho tôi suy tư, thấy thấm thía, đồng thời muốn tìm hiểu xem qua đại dịch Covid-19 này, Thiên Chúa muốn sửa chữa, muốn chữa trị những căn bệnh nào của con người.

     Thế là tôi dành thời gian thinh lặng, suy nghĩ, cầu nguyện và nhận thấy những căn bệnh thiêng liêng trong cuộc sống của con người hôm nay. Xin ghi lại những loại bệnh ấy như một chút tâm tình cùng chia sẻ với các bạn trong hoàn cảnh đặc biệt này.

  1. Căn bệnh ồn ào. Thế giới và xã hội hiện đại hôm nay quá ồn nào, náo nhiệt, náo động. Cuộc sống, tâm hồn của chúng ta cũng như thế: ồn ào, đi nhiều, nói nhiều, phê bình và chỉ trích cũng nhiều… Corona bất ngờ đến. Nó buộc ta phải tạm dừng, ngưng hoạt động, đeo khẩu trang, cách ly. Thiên Chúa mời gọi ta hãy tập sống thinh lặng.
  2. Căn bệnh lo lắng. Con người thời nay có quá nhiều việc, có lắm thứ điều lo lắng: việc đạo, việc đời, việc bên ngoài, việc hàng xóm, việc của người khác, việc gia đình, việc của bản thân… Chúng ta quá vất vả và nặng nề. Corona đột nhiên xuất hiện. Nó buộc ta phải tạm dừng. Thiên Chúa muốn con người bớt lo lắng về nhiều chuyện. Chúa Giêsu cũng muốn nói với ta chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi, đó là ngồi dưới chân Chúa, quỳ bên chân Chúa.
  3. Căn bệnh vật chất. Con người thời nay chú trọng nhiều đến vật chất, dành quá nhiều thời gian để đi tìm danh, lợi, thú. Ta bị cám dỗ chỉ quan tâm đến sắc đẹp, cơm ăn, áo mặc và những thực tại của thế gian này. Corona đột nhiên đến. Nó giúp ta hiểu tất cả đều là phù vân, ngay cả mạng sống là điều quý giá nhất. Thiên Chúa nhắc nhớ ta hãy quan tâm đến sự sống tinh thần, đến đời sống thiêng liêng, niềm tin, đời sau.
  4. Căn bệnh ích kỷ. Con người thời nay sở hữu nhiều thứ, giàu có hơn, có nhiều phương tiện hiện đại, nhưng có lẽ điều mà nhiều người còn thiếu đó là tình yêu. Corona xuất hiện. Nó bảo ta đừng tìm sở hữu những thứ đó. Thiên Chúa mời gọi ta hãy dẹp bỏ tính ích kỷ, sống tình liên đới, biết quan tâm và giúp đỡ tha nhân, nhất là những người bệnh tật, đau khổ và đói nghèo.
  5. Căn bệnh kiêu ngạo. Con người thời nay đang sống trong thời đại của khoa học và công nghệ. Con người có thể chế tạo và phát minh ra được nhiều sản phẩm cực kỳ thông minh. Có lúc con người tự cao, tự đại và tự mãn. Corona vô hình xuất hiện, giết chết nhiều ngàn người, khiến cho con người phải lo lắng, hoảng sợ. Thiên Chúa giúp ta hiểu ta chỉ là hạt bụi nhỏ bé, hạt cát nhỏ xíu trong một đại dương mênh mông. Vì thế, ta cần phải biết sống khiêm tốn và hạ mình.
  6. Căn bệnh chủ nghĩa cá nhân. Con người thời nay đang chạy theo chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa này đang ngự trị trong mỗi người. Ta bị cám dỗ đề cao bản thân, không muốn lắng nghe người khác, thiếu khả năng hợp tác và làm việc với tha nhân. Corona đến. Nó có thể lây lan cho người khác một cách nhanh chóng. Vì thế, chúng ta phải cùng nhau, hợp tác để chống lại căn bệnh nguy hiểm này. Thiên Chúa mời gọi ta hãy sống tinh thần liên đới, gắn bó với nhau. Mỗi người phải có trách nhiệm đối với tha nhân.
  7. Căn bệnh tội lỗi. Con người thời nay đã làm nhiều điều ác. Sự dữ có mặt ở khắp mọi nơi. Đạo đức đang xuống cấp trên quê hương chúng ta.Tội lỗi đang cư ngụ trong mỗi người. Tội trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Corona đến. Nó giết chết nhiều ngàn người. Thiên Chúa mời gọi ta hãy ăn năn sám hối, hoán cải, thay đổi đời sống vì cái chết luôn đến bất ngờ.
  8. Căn bệnh lãng quên gia đình. Con người thời nay, cách riêng là những bậc làm cha, làm mẹ trong gia đình, có lẽ thời gian qua, ta chú trọng quá nhiều đến những cái bên ngoài. Ta dành nhiều thời gian cho công ty, đồng nghiệp, đối tác, bạn bè, công việc… mà lãng quên dành thời gian cho gia đình, cho những người thân yêu. Corona đến. Nó buộc ta phải tạm ngưng lại. Thiên Chúa mời gọi ta hãy trở về với gia đình, dành thời gian cho gia đình. Cha mẹ có bổn phận chăm sóc và giáo dục con cái.
  9. Căn bệnh lãng quên Thiên Chúa. Con người thời nay, trong đó có những người tín hữu, chúng ta dành hầu hết thời gian để đi tìm của cải vật chất, địa vị trong xã hội, vui chơi giải trí… mà lãng quên Thiên Chúa, không dành thời gian cho Thiên Chúa, bỏ lễ ngày Chúa Nhật… Corona đến. Nó bảo ta phải tạm dừng. Thiên Chúa nhắc nhở ta hãy nghĩ đến Người, dành thời gian cho Đấng đã ban thời gian và nhiều ơn lành khác cho chúng ta.
  10. Căn bệnh nổi tiếng. Trong các xứ đạo có nhiều đoàn thể và nhiều sinh hoạt đạo đức khác nhau. Đó là một tín hiệu vui, đáng mừng… nhưng tiềm ẩn bên trong có lẽ ta thường bị cám dỗ hăng say làm những việc đó vì sự nổi tiếng của bản thân, vinh quang của nhóm mình, hơn là làm vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Thế là gây ra chia rẽ nhau, mất đoàn kết yêu thương. Corona đến. Nó bảo hãy tạm ngưng lại. Thiên Chúa nhắc nhớ ta hãy làm tất cả mọi việc vì lòng yêu mến Thiên Chúa.
  11. Căn bệnh giữ đạo hình thức. Có người tín hữu nghĩ rằng giữ đạo là chỉ đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ. Có người chỉ giữ đạo nhưng không sống đạo. Corona đến. Ở vài nơi cửa nhà thờ tạm thời khép lại, không có Thánh Lễ cho cộng đoàn như thời gian trước đây. Thiên Chúa mời gọi ta hãy thờ phượng Người trong tâm hồn, trong cuộc sống và trong mỗi gia đình.

Chắc là còn nhiều căn bệnh khác nữa mà mỗi người, từng người có thể khám phá ra khi ta biết nhìn lại, suy tư và cầu nguyện.

      Kết luận

      Cha Giuse Phạm Đình Ngọc, dòng Tên nói về đại dịch Covid-19 như là một “dấu chỉ thời đại”. Ngài viết: Thiên Chúa thực sự đang “vặn loa” thật to để mời gọi con người trở về với Ngài… Ước gì mỗi người lắng nghe được tiếng nói của Chúa Thánh Thần đang lớn tiếng trong cơn dịch này”[2].

     Còn Đức Tổng Giuse Nguyễn Năng nhận định: “Nạn dịch tự nó là một sự xấu không ai muốn có. Tuy nhiên, là môn đệ Đức Kitô, chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa và học được nhiều điều từ biến cố đau buồn này”[3].

      Quả thật! Coronavirus là một đại dịch, là một viên thuốc độc, một viên thuốc đắng đối với con người hôm nay. Độc vì nó đã giết chết nhiều ngàn người. Đắng vì nhiều người đã mất đi những người thân yêu, mất công ăn việc làm…Tuy nhiên, đại dịch này cũng là một bài học thiêng liêng, bài học đức tin vì nó giúp ta nhận ra được những căn bệnh của con người thời đại hôm nay, trong đó có mỗi người tín hữu chúng ta.

     Để có thể tiêu diệt được những căn bệnh thiêng liêng này, ta hãy dành thời gian để chạy đến vị bác sĩ nổi tiếng ở mọi thời, đó là Chúa Giêsu. Ta hãy tha thiết xin Người chữa lành cho chúng ta. Bên cạnh đó, Giáo Hội còn mời gọi ta hãy thường xuyên thực hành ba việc đạo đức quen thuộc của Mùa Chay, đó là ăn chay, cầu nguyện và bác ái. Trong thời gian này, chúng ta không có Thánh Lễ tham dự như trước đây. Tuy nhiên, ta có thể thực hành ba việc đạo đức này, như là ba viên thuốc chữa trị những căn bệnh thiêng liêng của mình. Hy vọng với ba viên thuốc hữu hiệu đó sẽ giúp cho đời sống đức tin của ta được lớn lên, phát triển và sinh nhiều hoa trái thiêng liêng trong Mùa Chay đại dịch năm 2020 này.

Lm. Phaolô Trương Hoàng Phong

[1]Nguồn:https://coronavirusnewslive.com/coronavirus/bill-gates-says-coronavirus-reminds-us-we-are-all-equal-in-powerful-open-letter-the-sun/ Bản dịch Saigon Nhỏ.

[2] https://dongten.net/2020/03/12/dich-virus-covid-19-co-phai-la-dau-chi-cua-thoi-dai .

[3] https://tgpsaigon.net/bai-viet/toa-tong-giam-muc-sai-gon-huong-dan-muc-vu-mua-dich-covid-19-ngay-19032020-59918.

Chia sẽ bài viết này trên:

“Ta là sự phục sinh của ngươi” – CN V MC A

“Ta là sự phục sinh của ngươi” – CN V MC A

Trong buổi nói chuyện với Matta, Chúa Giêsu đòi hỏi có một tiếng khẳng định quan hệ giữa chúng ta với Ngài:

 Ta là s sng li và là s sng. Ai tin Ta thì du có chết cũng s sng; h ai sng và tin Ta s không bao gi chết. Con có tin như vy không?

Dĩ nhiên chúng ta nhanh chóng trả lời “Có! Ngài là sự sống”. Nhưng sự sống nào? Chúng ta là những người đang sống. Ngài thêm gì vào sự sống của chúng ta? Thực ra, chúng ta là những sinh vật nhỏ bé bị cái chết rình rập. Chúa Giêsu muốn làm chúng ta trở thành những kẻ chiến thắng sự chết.

Trong trần thuật dài và bi thảm nói về sự sống lại của Lagiarô, ba cái chết được gợi ra và xen lẫn vào nhau: cái chết của Lagiarô, cái chết của Chúa Giêsu và cái chết của chúng ta. Trong khi đi tới nhà Lagiarô, Chúa Giêsu biết rằng cái chết cũng đang đe dọa Ngài: “Người Do thái mun ném đá Thy, sao Thy còn quay tr lđó na?”, các môn đệ nói với Ngài như thế.

Khi thấy Maria quá buồn khổ, Chúa Giêsu cũng bối rối cảm động. Ngài cảm thấy sâu sắc sự tuyệt vọng của thân phận con người, Ngài khóc bạn, Ngài thông hiệp với nỗi khổ của các chị của bạn và nghĩ đến cái chết của mình đang đến gần. Chưa bao giờ Ngài chìm đắm trong nỗi buồn khổ của chúng ta như thế. Những người chung quanh nói: “Kìa, Ngài yêu bn mình biết bao!”

Nhưng họ ngạc nhiên, cả chúng ta nữa: “Chẳng phải Đấng quyền năng đã nói: Ta đếđể mang li s sng cho các ngươi. Ta là s sng li và là s sng?” hay sao?

Không phải Chúa Giêsu muốn làm cho chúng ta sống mạnh mẽ ở bên ngoài những khó nhọc, những thảm kịch của chúng ta và thậm chí cái chết nữa. Ở tận thâm sâu sự tuyệt vọng mà Chúa Giêsu chịu đựng cùng với chúng ta, Ngài sẽ cho chúng ta một dấu hiệu hùng hồn về cuộc sống vinh quang. Ngài đứng dậy và nói lớn lên: “Hi Lagiarô, hãy đi ra!”

Như mọi khi, đứng trước một dấu hiệu, phải thấy rõ rằng đó là một dấu hiệu, nghĩa là một lời mời gọi đi xa hơn nữa. Sự sống lại của Lagiarô là sự chiến thắng cái chết, nhưng là một sự chiến thắng tạm thời. Thế đã là nhiều rồi, một sự hy vọng điên rồ có thể nổi lên, cái chết không còn là phiến đá đè bẹp tất cả. Chúng ta đứng dậy để nghe mặc khải tối hậu vượt lên trên sự sống lại đơn giản:

– Ta là s phc sinh.

Đây là một điều khác hẳn! Chúa Giêsu không sống lại như Lagiarô. Sự sống lại của Chúa Giêsu là sự chiến thắng hoàn toàn trên sự chết, bước vào cuộc sống “vĩnh cửu”, không chỉ theo nghĩa vô tận, mà còn có nghĩa là một cuộc sống khác. Cuộc sống này chắc chắn vẫn là của con người, tuy vậy với những tính chất và chiều kích khác biệt.

Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta cuộc sống khác này. Ban tặng ngay tức khắc! Do đó mới có lời này: Ta đếđể chúng được sng”. Và tất cả điều khẳng định lạ lùng này được dùng ở thì hiện tại: Ai nghe Ta thì được sng đờđời, ngườđó s vượt qua cái chết mà đến s sng (5,24). Chúa Giêsu đã là “sự sống lại” cho Ngài và sẽ là “sự sống lại” cho chúng ta. Đây là lời tuyên xưng đức tin khó khăn nhưng chúng ta vẫn làm. Điều chúng ta ít hiểu đó là Chúa Giêsu là sự phục sinh như thế nào.

Ngài là sự phục sinh bởi vì Ngài có thể thông truyền cuộc sống phục sinh của Ngài, cuộc sống “thuộc về sự sống lại” của Ngài cho chúng ta. Khi chúng ta uống nước ở nguồn mạch này, chúng ta bắt đầu hiện hữu như thể chúng ta sẽ hiện hữu đời đời, trong khi hiệp thông tình yêu với Thiên Chúa và với anh em.

Đây không phải là những điều dễ nhận thấy được. Chúng ta tin rằng Mẹ Maria và các thánh đã trải qua một cuộc sống yêu đương trong sáng ở dưới thế này để đi đến sự viên mãn vĩnh cửu. Nhưng chúng ta, chúng ta có lẽ sẽ sống cho đến cuối đời một cuộc sống pha lẫn cái chết, bởi vì chúng ta không thông hiệp với cuộc sống của Chúa Kitô cho đủ.

Tôi nhớ lại một nữ tu bị bệnh ung thư đã chăm chú nghe tôi nói về tác động hin ti có thể có của sự sống lại. tôi nói với chị: mỗi lần sự can đảm và tình yêu chiến thắng tội lỗi di căn nơi chúng ta, thì chính sức mạnh của sự phục sinh của Chúa Kitô đã giành lấy con người phục sinh từ cái chết rồi vậy.

André Sève.

Chia sẽ bài viết này trên: