Month: Tháng Bảy 2020

ẢNH THÁNH TRONG NHÀ THỜ

ẢNH THÁNH TRONG NHÀ THỜ

Chúng ta đã xem xét những đòi hỏi về chức năng của kiến trúc nhà thờ, với những đề nghị hay yêu cầu để kiến trúc ấy phù hợp với phụng vụ và phù hợp với các khía cạnh khác trong đời sống của giáo xứ. Nhưng còn một điều khác nữa mà kiến trúc nhà thờ cần đáp ứng ngoài các khía cạnh chức năng: nhà thờ cũng có giá trị quan trọng về mặt biểu tượng. Nghĩa là, hình thức của nhà thờ tự nó nói lên được ý tưởng về “nhà thờ” vừa cho cộng đoàn giáo xứ vừa là một thành phần trong cơ cấu kiến trúc đô thị. Một cách nào đó nhà thờ cần nói lên được mình là cái gì: không phải là một toà nhà thế tục có Thánh giá đứng trên, nhưng là một toà nhà thánh: một nơi dành riêng cho Thiên Chúa và dân của Ngài. Hơn nữa, kiến trúc nhà thờ cần nói cho chúng ta về Nhiệm Thể Chúa Kitô, về Vương Quốc của Thiên Chúa, hay về Đền Thánh Giêrusalem trên Trời. Ở một chừng mực nào đó, một nhà thờ có thể bắt đầu có được đặc tính này nếu thật sự được sắp đặt hợp lý cho việc cử hành phụng vụ và cho đời sống của giáo xứ. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhìn xa hơn việc bài trí theo chức năng để ngay cả ngôn ngữ và văn phạm của kiến trúc cũng có thể góp phần làm cho con người hiểu được những điều thuộc về Thiên Chúa. Để đưa ra một hướng dẫn cho vấn đề về các khía cạnh biểu tượng trong kiến trúc toà nhà, có thể sẽ hữu ích khi chúng ta nhìn trước hết vào ảnh tượng thánh, còn được gọi là icon, trên quy mô nhỏ, xem xét giá trị thần học, cách thực hiện trong lịch sử, và vị trí của ảnh tượng trong nhà thờ ngày nay. Rồi chúng ta sẽ chú ý đến toàn bộ kiến trúc nhà thờ và xem xét ý tưởng nhà thờ là một linh ảnh, nhà thờ đã có ý nghĩa nào trong lịch sử và trong thời đại ngày nay.

I. THẦN HỌC VÀ LỊCH SỬ VỀ LINH ẢNH

Trong suốt dòng lịch sử Kitô giáo, ảnh tượng thánh luôn là một phần quan trọng trong việc bài trí nhà thờ. Qua các bức bích hoạ, tranh khảm, tượng tạc trên đá và gỗ, hoạ ảnh và kính màu, các nghệ nhân đã đóng góp lớn lao vào chất lượng của khung cảnh nhà thờ bằng cách đặt vào nhà thờ (và trong tâm trí chúng ta) những ảnh tượng mô tả Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các thiên thần, các thánh, kể lại những câu chuyện trong Kinh Thánh và hạnh các thánh. Các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai đã minh hoạ những nơi tụ họp và những nơi chôn cất bằng những dấu hiệu diễn tả đức tin của họ: các hình ảnh và biểu tượng về Chúa Kitô, chân dung các thánh Tử đạo và các bức bích hoạ về những biến cố trong Kinh Thánh hoặc về Thiên đàng. Họ đã thực hiện điều này vì nhiều lý do: để tưởng nhớ về những con người và những biến cố đã qua, để giúp cầm trí cầu nguyện và suy niệm, và để dạy đức Tin cho trẻ em và người dự tòng. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là nhằm diễn tả những chân lý Phúc Âm bằng phương tiện vật liệu. Từ những ngày đầu tiên, Giáo Hội đã nhận ra sự thống nhất và hoà hợp trong những cách thế mà Thiên Chúa mạc khải chính Ngài: nơi con người Chúa Kitô, trong các Lời của Phúc Âm, và trong việc dùng biểu tượng để mô tả bằng ngôn ngữ tượng trưng và đồ hoạ trong các linh ảnh.

Thật khó khăn cho các tư tưởng gia Tây phương ngày nay thấm nhuần ý tưởng về linh ảnh. Con người hiện đại hiểu về biểu tượng như thế này: biểu tượng gán cho thực tại tự nhiên một ý nghĩa thơ ca. Nhưng đối với những người tôn sùng ảnh tượng, và con người thời trung cổ nói chung, chính tự nhiên đã là một biểu tượng của thực tại. Điều “chân thực” trong văn hoá ngày hôm nay là sự kiện, dữ liệu, thông tin có thể định lượng – tiên vàn, đó là điều mang tính vật chất và vì thế có thể chứng minh bằng khoa học và toán học. Não trạng này thường đưa chúng ta rơi vào cái bẫy là trở thành người quan sát tách biệt với thực tại. Thế nhưng, đối với những người trước thời triết gia Descartes và những người phi bác phong trào Khai sáng, thì điều chân thực mang tính thiêng liêng và thuộc về Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và do đó, cũng là Đấng xác định thực tại vật chất. Truyền thống thánh Augustine và Kinh viện nhận ra rằng tất cả các loài thụ tạo phản ảnh Đấng Tạo hóa, nghĩa là giống với Đấng Tạo hóa theo “vết tích”, nghĩa là theo dấu vết để lại. Những thụ tạo có lý trí giống như Đấng tạo thành theo “hình ảnh”, chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta được tạo thành theo hình ảnh Ngài. Vì thế, những gì được nhận biết qua biểu tượng, linh ảnh, không phải là tri thức có được nhờ suy tư trừu xuất (abstraction) hay phân tích khách quan (detached analysis). Đúng hơn, đó là sự nhận biết sâu xa và sống động nhờ sự tương thông, giống như những người yêu nhau nhận biết nhau. Nhờ sự tương thông hoàn toàn nhân bản này trong thế giới được tạo thành, chúng ta có thể tiến đến việc nhận biết Thiên Chúa trong một mối tương quan sâu sắc và mang tính toàn diện vốn dĩ là mục đích của việc Thiên Chúa tạo dựng nên chúng ta. Tất cả mọi sự đều dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa. Vì thế, tất cả mọi sự đều là dấu chỉ tượng trưng cho thực tại đằng sau biểu tượng. Đó là lý do tại sao đối với người trung cổ, biểu tượng là “định nghĩa có giá trị khách quan duy nhất về thực tại”.

Trong Kitô giáo ở cả Đông phương và Tây phương, việc xác định giá trị và giải thích ảnh tượng thánh đều được phát xuất từ một nguồn: Dinonysio Areopagite. Nhà thần học bí nhiệm của thế kỷ 16 này đã viết rằng toàn bộ công trình sáng tạo là một cuộc “thần hiện” (theophany), nghĩa là Thiên Chúa tự tỏ mình ra. Bởi vì lý trí hữu hạn của con người không có khả năng thấu hiểu sự vô biên của Thiên Chúa, cho nên Thiên Chúa tự mạc khải chính mình Ngài cho con người qua Kinh Thánh, qua công trình sáng tạo và qua các hình ảnh. Dĩ nhiên ý tưởng này chỉ khai triển điều mà Thánh Phaolô đã viết: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người.” (Rm. 1,19-20). Điều chúng ta biết về Thiên Chúa và công trình sáng tạo của Ngài được mạc khải qua hình ảnh, hoặc eikon trong tiếng Hy lạp. Quan trọng hơn hết, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mạc khải vĩ đại là Con của Ngài, Chúa Giêsu Kitô, “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15). Có rất nhiều đoạn Kinh Thánh khác nói đến nền tảng Kitô học của hình ảnh (x. Ga. 1,18; 12,45; 14,9; 2Cor. 4,4). Điều quan trọng là các nhà thần học nói đến Ngôi thứ Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa – Ngôi Lời làm Người – là “Hình ảnh Nguyên thủy”. Chính nhờ mầu nhiệm Nhập thể mà bây giờ giữa lãnh vực thiêng liêng và lãnh vực vật chất có mối liên hệ đã được phục hồi. Vì thế ảnh tượng vật chất được phép biểu hiện thực tại thiêng liêng đích thực. Đó là mối liên hệ do chính Thiên Chúa ấn định. Đây không phải là sự “cách tân” do Kitô giáo đem lại. Dù nghệ thuật Do Thái nói chung là bài trừ ảnh tượng, các Giáo Phụ đã nhận ra điều đáng ngạc nhiên là do lệnh truyền của Thiên Chúa mà con người được phép diễn đạt các thực tại thiêng liêng qua nghệ thuật vật chất; Ngài đã truyền cho Môisen xây dựng Nhà Tạm có tượng Kêrubim mạ vàng. (x. Xh. 25,18; 26,1 và 31).

Nhận thức này quan trọng vì nó bảo vệ những hiểu biết của chúng ta về Mầu nhiệm Nhập thể cũng như về ảnh tượng. Một mặt, nhận thức ấy cho thấy rằng nhờ có mối tương quan giữa thế giới thánh thiêng và thế giới vật chất do chính Đấng Tạo hóa ấn định mà chúng ta có được biến cố Nhập thể trọng đại. Mặt khác, nhận thức ấy cũng chỉ ra nền tảng Kitô học cho các ảnh tượng. Mọi quan điểm chính thống trong Thánh Mẫu học, Giáo Hội học, Bí tích học hay Cánh chung học đều có nền tảng từ Kitô học. Các quan điểm ấy, hoặc là bảo vệ và giải thích rõ về Kitô học chính thống, hoặc là phát triển từ Kitô học một cách hợp lý. Vì thế ảnh tượng, cũng giống như giáo lý về Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội hay linh mục thừa tác là Chúa Kitô khác, có được sự chính danh nhờ Con Người của Chúa Kitô.

Truyền thống ảnh tượng cổ xưa nhất có chuyện kể về ông vua xứ Edessa tên là Abgar bị bệnh phong cùi trong thời gian Chúa Kitô thực hiện sứ vụ dương thế. Nghe nói về những phép lạ của Chúa Giêsu, vua Abgar sai sứ thần Hannan (hay Anania) trảy đi Giêrusalem mời Chúa Giêsu đến chữa bệnh cho ông. Hannan không thể đến gần Chúa Giêsu vì dân chúng quá đông, nhưng vốn là viên quan trông coi văn khố và là hoạ sĩ trong triều đình Abgar, ông Hannan cố gắng hoạ lại chân dung Chúa Giêsu. Ông thấy mình không vẽ nổi chân dung ấy bởi vì “vinh quang không thể mô tả được trên gương mặt Chúa Giêsu đang biến đổi nhờ ân sủng.” Biết việc Hannan đang cố làm, Chúa Giêsu bảo người ta đem nước và khăn để Người rửa mặt. Hình ảnh gương mặt Người lập tức in lên chiếc khăn một cách kỳ diệu. Người đưa chiếc khăn cho Hannan để đem về chữa bệnh cho vua Abgar kèm theo lời nhắn gửi là Người không thể đi được vì còn đang thi hành sứ mạng cho dân Israel, nhưng Người sẽ sai môn đệ đi thay. Sau khi Chúa lên Trời, thánh Tađêô đến thăm xứ sở Edessa, rao giảng Tin Mừng cho vua Abgar và thần dân của ông. Bức chân dung kỳ diệu này, được gọi là “linh ảnh do Chúa thực hiện”, là nguồn gốc của bức linh ảnh Mandylion hay linh ảnh Thánh Nhan [hình 1].

Bức linh ảnh này nổi tiếng trong toàn Giáo Hội, và đã có nhiều văn bản đề cập đến bức linh ảnh ấy, bao gồm tường thuật của những người tận mắt chứng kiến. Người ta biết đến linh ảnh lần cuối cùng vào thời Thập Tự Chinh, khi đó bức linh ảnh hoặc là bị Giáo Hội Đông phương cất giấu đi, bị người Hồi giáo phá huỷ, hoặc bị thất lạc khi được quân lính Thập Tự Chinh đưa về châu Âu. Chắc chắn linh ảnh Mandylion đã được biết đến, và có lẽ đã được tôn kính, ở Winchester vào cuối thời Trung Cổ, vì có chứng cứ là chủ nhân các hầm mộ các tay đỡ trong kiến trúc trưng bày linh ảnh Thánh Nhan.

Những linh ảnh quan trọng khác trong thời kỳ đầu về Chúa Kitô gồm có Tấm Khăn Liệm thành Turin [hình 2], Khăn của bà Veronica, các bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh và Chúa Giêsu thơ ấu được cho là do thánh Luca vẽ ở nhiều nơi khác nhau quanh vùng Địa Trung Hải. Những bức linh ảnh “không do tay người phàm thực hiện”, tức linh ảnh Mandylion, Tấm Khăn Liệm, Khăn của bà Veronica, có tầm quan trọng đặc biệt đối với các Kitô hữu, vì những bức linh ảnh ấy xác nhận “những bằng chứng không thể phủ nhận của Mầu nhiệm Nhập thể”.

Dĩ nhiên, ngày nay chúng ta không chỉ đánh mất ý tưởng về ảnh tượng thánh, mà ngay cả từ biểu tượng cũng đã mang những ý nghĩa mới mẻ đầy tính vật chất trong cách nói thông thường. Trong thuật ngữ tin học, biểu tượng (icon) mang ý nghĩa là một hình ảnh trên màn hình. Tuy nhiên, cách sử dụng hiện tại có điểm tương đồng với ý nghĩa ban đầu. Biểu tượng trên màn hình máy tính là một loại cửa sổ mở ra một cấp độ thông tin khác. Thật đáng ngạc nhiên, cách sử dụng này lại trung thành với ý nghĩa nguyên thuỷ, vì trong thần học thần nghiệm, biểu tượng là một ảnh thánh, một loại cửa sổ mở ra một cấp độ thấu hiểu thiêng liêng, qua đó con người chiêm ngắm thực tại thiêng liêng. Điều quan trọng không ở nơi vật thể nhưng trong chủ thể, cũng như biểu tượng máy tính có giá trị chỉ ở chỗ nó mở đường tiếp cận một điều gì khác. Ảnh tượng thánh trình bày một thực tại vô hình, chẳng hạn nói đến một vị thánh đang ở trên Thiên Đàng, hay gợi lại một biến cố trong Kinh Thánh, và ảnh tượng thánh được sử dụng như phương tiện để chiêm ngắm về biến cố ấy.

II. CHỦ TRƯƠNG BÀI TRỮ ẢNH TƯỢNG

Một thời, Giáo Hội đã phải bênh vực địa vị của ảnh tượng thánh chống lại lạc giáo “bài trừ ảnh tượng”, tức nhóm người cho rằng tôn kính ảnh tượng thánh là thờ ngẫu tượng. Tông thư Duodecimum Saeculum (Kỷ niệm 1200 năm Công đồng Nicea II) của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II chỉ là tiếng nói mới mẻ nhất nhắc lại giáo huấn lâu đời của Giáo Hội. Có lẽ cuộc tấn công trực tiếp và tàn khốc nhất xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ 8 với Cuộc Tranh Luận Bài Trừ Ảnh Tượng. Bằng giọng văn súc tích, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II giải thích quan điểm của những người bài trừ ảnh tượng như sau:

Khi tách ra khỏi truyền thống chính thức của Giáo Hội, phong trào bài trừ ảnh tượng cho rằng tôn kính ảnh tượng là quay về với việc thờ ngẫu tượng. Đầy mâu thuẫn và mơ hồ, họ cấm những tác phẩm thể hiện Chúa Kitô và các ảnh tượng tôn giáo nói chung, nhưng lại tiếp tục cho phép sử dụng những hình ảnh có tính báng bổ, nhất là những hình ảnh về hoàng đế kèm theo những dấu hiệu sùng kính. Luận cứ bài trừ ảnh tượng dựa trên nền tảng Kitô học. Làm sao có thể mô tả Chúa Kitô, Đấng duy nhất trong Ngôi vị, mà không tách biệt hoặc lẫn lộn thiên tính nhân tính của Người? Không ai có đủ khả năng diễn đạt thiên tính bất khả thấu đạt của Người. Thể hiện nhân tính Chúa Kitô tức là tách rời thiên tính ra khỏi nhân tính nơi Người. Chọn nhân tính hay thiên tính đều là ngả theo hai lạc thuyết trái ngược nhau về Chúa Kitô: lạc thuyết Nhất tính và lạc thuyết Nestôriô. Bởi lẽ, khi cố gắng diễn đạt Chúa Kitô trong thiên tính của Người, người ta nhất thiết phải giảm thiểu nhân tính của Người. Còn khi chỉ trình bày hình ảnh nhân tính, thì người ta sẽ giấu đi sự thật Người cũng là Thiên Chúa.

Để trả lời cho các luận cứ này, Công đồng Nicea II đã tái xác định giáo lý về ngôi hiệp, và dưới ánh sáng của tín điều ấy, Công đồng đã bênh vực và giải thích tính cách chính đáng của việc chế tác và tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô cùng các thánh. Công đồng đã viện dẫn các Giáo phụ, nhất là những lời của thánh Basiliô: “Tôn kính ảnh tượng là tôn kính nguyên mẫu của ảnh tượng; và ai tôn kính ảnh tượng là tôn kính vị được thể hiện bằng ảnh tượng.” Khi viết: “Biểu trưng thì khác với điều được biểu trưng”, thánh Gioan Đamascenô nhằm bênh vực tính chính đáng của việc biểu trưng bằng ảnh tượng, đồng thời phân biệt việc biểu trưng này với hành vi tôn thờ ngẫu tượng. Các giáo huấn này liên tiếp nhận được sự ủng hộ: ngay sau Công đồng Nicea II, các giáo huấn này được sử dụng để chống lại hoàng đế Charlemagne của Tây phương cũng như chống lại hoàng đế Leo Armenian bên Đông phương; sau này tại Công đồng Trent, các giáo huấn này một lần nữa được vận dụng để chống lại phái Calvin và những người bài trừ ảnh tượng thuộc phái Zwingli trong phong trào Cải cách.

Cho đến ngày nay, Giáo Hội vẫn tiếp tục đề cao việc chế tác và tôn kính ảnh tượng thánh. Công đồng Vatican II dạy: “Phải nhiệt thành tuân giữ những sắc lệnh được ban hành vào thời kỳ đầu liên quan đến các ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Mẹ Đồng Trinh và các thánh” Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng khẳng định chỗ đứng của ảnh tượng trong Phụng tự Công giáo: “Cũng như việc đọc những cuốn sách vật chất cho phép chúng ta nghe Lời hằng sống của Thiên Chúa, thì việc trưng bày ảnh thánh cho phép những ai chiêm ngắm ảnh ấy nhờ thị giác mà được tham dự vào mầu nhiệm Cứu độ.” Việc sách Giáo lý Hội thánh Công giáo rất chú ý bàn về ảnh tượng thánh cho thấy đó vẫn là mối quan tâm đặc biệt của Huấn quyền, nhất là trong thời đại bài trừ ảnh tượng kiểu mới ngày nay:

Ngôi Lời đã làm người bằng cách nhận lấy một nhân tính thực sự, nên thân xác của Đức Kitô cũng bị giới hạn (x. Cđ. Latran 649. DS. 504). Do đó, gương mặt nhân loại của Đức Giêsu có thể được “họa lại” (Gl 3, 2). Trong Công đồng chung thứ VII (Nicea II năm 787), Hội Thánh nhìn nhận việc họa lại hình ảnh của Người là chính đáng.

Mệnh lệnh của Thiên Chúa cấm mọi hình thức tạc tượng vẽ hình Thiên Chúa bằng bàn tay con người. Sách Đệ Nhị Luật giải thích:”Anh em đã không thấy hình thể nào, ngày Đức Chúa phán với anh em tại núi Hô-rép từ trong đám lửa, vì thế đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì…”. Chính Thiên Chúa siêu việt tuyệt đối đã tự mạc khải cho Israrel. “Người là mọi sự” nhưng đồng thời, “vượt trên tất cả các công trình Người làm”. Người là “tác giả của mọi vẻ đẹp”.

Tuy nhiên, ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh hay cho phép làm những hình tượng biểu trưng ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời Nhập thể: ví dụ con rắn đồng, khảm giao ước và các Kêrubim.

Dựa vào mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập thể mà Công đồng chung thứ bảy, ở Nicea (năm 787), đã biện minh cho việc tôn kính ảnh tượng thánh, như ảnh tượng Đức Kitô, Mẹ Thiên Chúa, các thiên thần và tất cả các thánh, để chống lại phái bài ảnh tượng. Khi Nhập thể, Con Thiên Chúa đã mở ra một “nhiệm cuộc” mới cho ảnh tượng.

Khi tôn kính ảnh tượng, các Kitô hữu không nghịch lại điều răn thứ nhất cấm thờ ngẫu tượng. Thực vậy, “khi tôn kính một ảnh tượng, chúng ta hướng tâm hồn lên nguyên mẫu của ảnh tượng” và “ai tôn kính ảnh tượng là tôn kính vị được thể hiện bằng ảnh tượng”. Đối với ảnh tượng thánh, chúng ta chỉ “tôn kính” chứ không thờ phượng, vì chỉ được thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi: “Phụng tự không hướng đến tự thân các ảnh tượng như là thực thể, nhưng theo khía cạnh riêng của chúng xét như những hình ảnh dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa Nhập thể. Việc tôn kính không dừng lại ở ảnh tượng, nhưng vươn tới chính thực tại được hình ảnh biểu thị”.

Vì thế, Giáo Hội luôn tiếp tục xác định nền tảng nghệ thuật Kitô giáo là Mầu nhiệm Nhập thể. Phẩm giá con người đòi hỏi điều ấy. Con người chúng ta có thân xác và linh hồn. Chúng ta có các giác quan cũng như có ý chí, trí tuệ và trí tưởng tượng. Chúng ta được tạo dựng với khả năng đáp ứng nghệ thuật tôn giáo, với tâm hồn có thể rung cảm trước tác phẩm khắc họa chân dung cái đẹp và sự thật. Qua hình ảnh hữu hình, tâm hồn chúng ta được nâng cao lên đến thực tại vô hình. Việc tôn kính ảnh tượng bắt nguồn từ các chân lý được Thiên Chúa mạc khải, trong các tín điều về Mầu nhiệm Sáng Tạo, Mầu nhiệm Nhập thể và Mầu nhiệm Cứu Chuộc. Đức Thánh Cha tóm tắt như sau: “Nghệ thuật có thể trình bày hình dáng gương mặt nhân loại của Thiên Chúa, và dẫn dắt những người chiêm ngắm đi vào mầu nhiệm khôn tả là Thiên Chúa đã làm người để cứu độ chúng ta.”

III. THÁNH GIÁ LÀ ẢNH TƯỢNG THÁNH

Chúng ta đã xem xét các khía cạnh lịch sử và phụng vụ của Thánh giá trong chương 4. Ở đây nên nêu ra vài ghi nhận về ý nghĩa thần học của Thánh giá xét như là ảnh tượng, vì điều này có thể giúp chúng ta có được kiến thức tổng quát hữu ích hơn về biểu tượng.

Ở nhiều khía cạnh, Thánh giá là biểu tượng trung tâm của Đức Tin. Người ta nói rằng Thánh giá “là hình ảnh cụ thể diễn tả thần học về ảnh tượng, tức thần học về Mầu nhiệm Nhập thể và Hiển dung”. Thánh giá lên tiếng hùng hồn nhất về Mầu nhiệm Nhập thể, vì Chúa Con đã trở thành con người, và khi làm người, Người đã chịu đóng đinh vào Thánh giá để cứu độ chúng ta. Người đã mặc lấy xác phàm, và điều này chúng ta có thể hiểu được nhờ các giác quan của mình: Ngôi Lời đã làm người, vì thế chúng ta có thể khắc hoạ Ngôi Lời.

Nếu không có mạc khải mới mẻ này nơi Chúa Kitô, chúng ta buộc phải chấp nhận luật của Môisen và của Hồi giáo cấm dùng ảnh tượng mô tả Thiên Chúa vô hình. Nhưng dưới ánh sáng của Mầu nhiệm Nhập thể, chúng ta có thể tự hào vì Thiên Chúa đã làm người và Người là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1, 15). Hình ảnh Đấng chịu đóng đinh cũng nói lên Mầu nhiệm Nhập thể: Chúa Giêsu đến đem ơn cứu chuộc bằng những đau khổ của Người khi dâng mình làm Lễ vật tinh tuyền để cứu độ thế gian. Đó là sứ điệp trung tâm của Thánh giá và là lý do tại sao Thánh giá là trung tâm của phụng vụ thánh. Do đó, Thánh giá không có tượng Chúa Giêsu làm cho Phụng vụ bàn thờ nghèo nàn đi vì không đưa chúng ta vào trọn vẹn hành vi cứu chuộc chúng ta.

Thánh giá cũng nói lên thần học về Chúa hiển dung: trong Chúa Kitô có một mối tương quan mới (hay có lẽ mối tương quan được phục hồi) giữa vật chất và tinh thần. Chúa Kitô liên kết mọi sự “trên Trời, dưới đất và cả trong nơi âm phủ” (x. Pl 2,10). Mầu nhiệm Chúa hiển dung, tức mầu nhiệm mạc khải cho chúng ta sự cao trọng của mầu nhiệm Nhập thể, cho chúng ta thấy rằng vật chất có thể được thánh hoá để trở thành khí cụ thánh hoá. Giờ đây, chúng ta có thể tham dự vào mầu nhiệm của Thiên Chúa với các giác quan, trí tưởng tượng, tình cảm, ý chí và trí tuệ của chúng ta. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là biến cố hiển dung ám chỉ mức viên mãn của quá trình con người nên giống Thiên Chúa trong vinh quang Phục sinh. Trong Chúa Kitô, con người được mời gọi “biến hình”, được “biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cor 3,18), khi “chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3,2), và “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21).

Tiến trình này, chuyển hóa thông qua vật chất, tức trung tâm của khoa ảnh tượng học, là chìa khoá mở cho chúng ta đi vào những hiểu biết của thời Trung cổ về ý nghĩa tượng trưng của thánh đường kiểu Gô-tích, một tiến trình được coi là “chiêm ngắm thần nghiệm” mà chúng ta sẽ xem xét trong chương sau. Bây giờ, để kết thúc phần bàn về biểu tượng Thánh giá, xin dẫn lời đúc kết của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II như sau: “Việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô bao hàm toàn bộ niềm tin vào thực tại Nhập thể và ý nghĩa vô biên của mầu nhiệm ấy đối với Giáo Hội và thế giới. Nếu Giáo Hội thực hành việc tôn kính ấy, đó là vì Giáo Hội tin tưởng rằng Thiên Chúa được mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô đã thật sự cứu chuộc và thánh hoá xác phàm cùng toàn bộ thế giới cảm giác, tức con người ngũ quan, và cho phép họ ngày càng đổi mới theo hình ảnh Đấng tạo hóa (x. Cl 3,10).”

VI. VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ CỦA CÁC ẢNH TƯỢNG

“Phải kiên quyết duy trì thói quen đặt ảnh tượng thánh trong các thánh đường để các tín hữu tôn kính; tuy thế số các ảnh tượng ấy chỉ vừa phải thôi và phải được sắp xếp sao cho thích hợp” (Hiến chế về Phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 125)

Cần xét xem lời Công đồng Vatican II kêu gọi tôn kính ảnh tượng có ý nghĩa như thế nào đối với giáo xứ hiện đại. Quan trọng nhất, lời Công đồng không cho phép tùy ý thi hành. Theo ghi nhận của J. Saward, tại Công đồng Nicea II “việc đặt ảnh tượng trong nhà thờ… không phải chỉ là được phép, mà đó là sắc lệnh… Đối với Công giáo và Chính thống giáo, ảnh tượng Kitô giáo không phải là điều tùy nghi dùng để trang trí, nhưng là mệnh lệnh thuộc tín lý.” Như Đức giáo hoàng Piô XII đã viết trong Thông điệp Mediator Dei (Đấng Trung gian của Thiên Chúa): “Chẳng hạn, ý muốn đưa ảnh tượng ra khỏi nhà thờ là điều sai lầm”. Trái lại, ngài cũng khiển trách “việc đưa vào quá nhiều ảnh tượng một cách vô lý”. Vì thế, trong khi ảnh tượng thánh là một phần của môi trường thờ phượng Công giáo, số lượng ảnh tượng nên ở mức vừa phải, kẻo ý nghĩa của ảnh tượng bị giảm sút do sự trùng lặp. Phải liệu sao cho những ảnh tượng này, dù là tác phẩm hội hoạ, điêu khắc hay kính ghép, đều là sự diễn đạt bằng ngôn ngữ kiến trúc cho câu trích trong thư Do Thái: “Chúng ta được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” (Dt. 12,1). Chớ để lòng sùng kính các thánh bị đánh mất đi vì não trạng bài trừ ảnh tượng thời hiện đại; có thể thấy rõ điều này qua việc Tòa Thánh nêu gương nuôi dưỡng lòng sùng kính ấy. Về mặt này, đáng lưu ý rằng Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong thánh cho nhiều vị thánh hơn bất cứ vị giáo hoàng nào trước kia, và có lẽ vào cuối triều đại giáo hoàng của ngài, ngài đã phong thánh cho nhiều vị hơn tất cả các vị giáo hoàng tiền nhiệm cộng chung lại! Những trường hợp này, cũng như công cuộc đang thực hiện của Uỷ ban Toà Thánh về các thánh Tử đạo, cung cấp thêm cho chúng ta những mẫu mực về sự thánh thiện và sự hy sinh trong một thời đại mà lối sống vị kỷ ngày càng gia tăng.

Trong khi lưu ý việc Đức giáo hoàng nhấn mạnh đến communio sanctorum (sự hiệp thông các thánh), cũng nên xem lại vai trò của ecclesia triumphans (Giáo Hội khải hoàn). Theo dòng lịch sử Giáo Hội, các thánh luôn hiện diện trong các tác phẩm bích hoạ, kính ghép, kính màu và điêu khắc. Ngay từ thời kỳ đầu tiên, Giáo Hội luôn tôn kính các thánh Tử đạo không chỉ bằng việc lưu giữ thánh tích của các ngài, mà còn bằng những bức tranh sinh động trong các hang toại đạo, martyria (các thánh đường có mộ thánh Tử đạo) và trong các nhà thờ. Những bức tranh cổ trong các hang toại đạo ở Rôma cho thấy đông đảo các vị thánh tiến vào Thiên Đàng, có các thánh khác và các thiên thần đi cùng. Nền điêu khắc Công giáo thời kỳ sơ khai không thường xuyên mô tả các thánh, nhưng hiển nhiên các bức bích hoạ và tranh khảm Byzantine để trang trí các nhà thờ và giếng rửa tội thời sơ khai đã nói lên sự cho phép thể hiện chư thánh bằng ảnh tượng [hình 3].

Trong lịch sử xây dựng nhà thờ, việc trưng bày ảnh tượng các thánh đã được duy trì như lời nhắc nhớ về thực tại linh thiêng vượt lên trên thế giới vật chất, thế giới mà Kinh Tin Kính của Công đồng Nicea tuyên xưng là công trình của Thiên Chúa, “Đấng tạo thành trời và đất, muôn vật hữu hình và vô hình”. Theo truyền thống, các ảnh tượng này có nhiều chức năng: huấn luyện đức tin cho những người không biết chữ, nhắc nhở người tín hữu về ơn gọi của họ, làm đối tượng giúp người ta chiêm niệm, và trang hoàng cho nhà của Thiên Chúa trở thành biểu hiện của thành thánh Giêrusalem trên Trời với “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ, đứng chầu trước ngai” (Kh.7,9). Ngày nay, các lý do “truyền thống” vẫn còn phù hợp để giải thích việc trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ: các ảnh tượng nhắc nhở về Đức Tin, giúp chúng ta dạy dỗ trẻ em, và – có lẽ cũng quan trọng không kém – ảnh tượng tiếp tục đem đến một đối tượng sùng kính để người chia trí mông lung có thể cầm lòng mà chiêm niệm.

Trong cả hai Hiến chế Sacrosanctum Concilium (về Phụng Vụ Thánh) và Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân), Công đồng Vatican II nhấn mạnh lại một cách đặc biệt về vai trò của các thánh và việc cổ vũ lòng tôn kính các ngài. Dưới ánh sáng của các văn kiện này, hành vi loại bỏ ảnh tượng ở những năm tháng sau Công đồng và sự say mê kính màu trừu tượng trong thời gian gần đây dường như sai lầm về căn bản và thậm chí mang tính bài trừ ảnh tượng. Trong khi hình ảnh đồ hoạ đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội hiện đại, như chúng ta thấy trong phim ảnh, phim nhạc rock, truyền hình, các tạp chí hào nhoáng và các phương tiện quảng cáo, thì dường như trong Giáo Hội vẫn còn có sự miễn cưỡng thâm căn cố đế đối với ảnh tượng thánh. Đó là một dạng tâm lý thù ghét ảnh tượng. Trong cuốn sách Moments of Vision (Những Khoảnh Khắc Nhìn Xa), Kenneth Clerk trình bày diễn tiến lịch sử của sự thù ghét ảnh tượng, đồng thời đưa ra những phân tích thú vị về tâm lý này. Tác giả đề cập đến những nguyên nhân triết lý, tôn giáo, xã hội và phong cách của hiện tượng này qua nhiều thời đại. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ luận điểm của ông không giải đáp được các vấn đề do sự thù ghét ảnh tượng trong Giáo Hội Công giáo (mặc dầu dĩ nhiên đó không phải là ý định của ông). Tôi muốn nêu lên rằng vấn đề của Công giáo thời hiện đại có hai mặt. Thứ nhất, đó là phản ứng đối với “nghệ thuật phế thải” kém cỏi. Hơn năm mươi năm trước, Maritain đã than thở về “tính ủy mị đáng hổ thẹn của nhiều sản phẩm thương mại” chỉ dành cho “số đông những người Kitô hữu có thị hiếu thấp kém.” Đành rằng qua một bức tượng Đức Mẹ bằng thạch cao sơn màu, “Thiên Chúa có thể đánh động tâm hồn con người nên sốt sắng… chẳng khác nào trước một kiệt tác tuyệt vời”, nhưng rất nên loại bỏ những bức tượng có nghệ thuật kém cỏi. Tuy nhiên, vấn đề ngày nay là những bức tượng Đức Mẹ bằng thạch cao ấy và những chặng Đàng Thánh giá thô thiển đã được thay thế bằng những bức tranh trừu tượng không giúp con người tiếp xúc với những thực tại thiêng liêng thuộc đề tài của tranh. Thứ hai, đa phần các phản ứng tiêu cực đối với ảnh tượng có lẽ do ước muốn “được coi trọng” và “được chấp nhận” bởi xã hội buông thả cho rằng trưng bày ảnh tượng tôn giáo là thờ ngẫu tượng, là đa cảm và dị đoan. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng các Kitô hữu được mời gọi để trở nên “dấu hiệu cho người ta chống đối” khi bắt chước Thiên Chúa. Từ Công đồng Vatican II, Giáo Hội đã đi đến chỗ có sự chấp nhận dễ dãi nào đó, một kiểu “đi theo số đông” (mainstreaming) mà chẳng mấy người muốn từ bỏ. Đối với tôi, dường như chỉ khi nào chúng ta vượt qua những kềm hãm này thì ảnh tượng các thánh mới có thể tìm được chỗ đứng thích hợp trong nhà của Thiên Chúa.

V. NHỮNG CHỈ DẪN TỔNG QUÁT

Nhưng thế thì “chỗ đứng thích hợp” là gì? Mặc dù hiện nay đã không còn vấn đề ảnh tượng được trưng bày đầy trên các bàn thờ phụ (khiến thông điệp Mediator Dei khiển trách), nhưng rõ ràng vẫn cần có sự hiểu biết về thứ bậc của các tượng ảnh. Tất nhiên, ảnh tượng duy nhất phải có trong thánh lễ là Thánh giá, nhưng trong bất cứ nhà thờ nào cũng có những ảnh tượng khác rất phù hợp như ảnh tượng Đức Mẹ Đồng Trinh, Thánh bổn mạng nhà thờ và các chặng Đàng Thánh giá. Và may mắn, đã có những chỉ dẫn tổng quát để sắp đặt các tượng ảnh trong nhà thờ sao cho phù hợp. Khi hoạch định số ảnh tượng đưa vào nhà thờ, có nhiều điều phải xem xét. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma chỉ nói rằng ảnh tượng cần được đặt “cách nào để không làm giáo dân chia trí trong lúc cử hành phụng vụ.” Trong khi ý tưởng “làm chia trí” có vẻ hơi chủ quan, thì cũng có những giải pháp khách quan. Điều quan trọng nhất là không bao giờ đặt ảnh tượng trên bàn thờ, còn ảnh tượng thánh bổn mạng nhà thờ hoặc của bàn thờ thì nên đặt ở một vị trí thích hợp và thứ yếu trong cung thánh. Cũng nên xem xét cẩn thận kích cỡ của ảnh tượng so với diện tích cung thánh và quy mô nhà thờ: ảnh tượng không quá to đến nỗi lấn át và không quá nhỏ để khỏi mất đi ý nghĩa. Một số tác giả khuyên không nên đặt các ảnh tượng khác trong cung thánh mặc dù điều ấy không bị cấm.

Quy chế tổng quát sách lễ Rôma cũng viết: “Cần… giới hạn số lượng ảnh tượng… Chỉ trưng bày một ảnh tượng của vị thánh nào đó.” “Giới hạn số lượng” cũng là một hướng dẫn có tính chủ quan, mà Giáo Hội công nhận bằng cách xác định: “Nói chung, lòng đạo đức của toàn thể cộng đồng (NV nhấn mạnh) phải là tiêu chí xem xét số ảnh tượng trong việc bài trí và sắp xếp nhà thờ.” Tôi nghĩ rằng khi Giáo Hội ra lệnh chỉ được trưng bày một ảnh tượng duy nhất của một vị thánh đặc biệt, thì lệnh ấy nhắm đến khu vực dành tôn kính vị thánh ấy hơn là cấm tiệt việc trưng ảnh tượng trùng lặp. Nghĩa là, xem ra không phải là phạm luật nếu đã có ảnh ghép kính màu thánh bổn mạng Gioan Tẩy giả trên vòm mái, lại có ảnh họa Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại giếng Rửa tội, và thêm tượng thánh Gioan Tẩy giả ở khu vực dành tôn kính Thánh bổn mạng. Điểm chính của lệnh này là chỉ được phép có một nơi tôn kính, với nến đặc trưng là những cây nến khấn, cho bất cứ vị thánh đặc biệt nào. Lệnh không áp dụng cho Thánh giá và nhiều ảnh tượng của Chúa, và Đức Mẹ khi Mẹ xuất hiện với nhiều tước hiệu khác nhau. Nếu lệnh này áp dụng cho tất cả, thì cả Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma và Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở Washington, D.C sẽ phải cất bớt vô số ảnh tượng.

VI. ẢNH TƯỢNG CHÚA GIÊSU

Thật thú vị, trong khi việc sáng tác và sắp đặt các tượng ảnh có nhiều khác biệt muôn màu muôn vẻ qua các thời đại trên khắp thế giới, thì điểm chung cho tất cả các kiểu mẫu cổ điển là tính quy hướng Chúa Kitô. Điều này nhắc cho chúng ta rằng các thánh trong Giáo Hội luôn giữ vai trò dẫn đến Chúa Kitô: các thánh phản chiếu và chuyển thông vinh quang Chúa, đồng thời các ngài được thông phần vinh quang của Người (x. Pl 3,21; 2Tx 1,10). Chính với sự hiểu biết này mà con người thời Trung cổ đặt đầy trong nhà Chúa ảnh tượng các thánh và các thiên thần: không chỉ tranh khảm hay tượng bằng đá, nhưng còn cả hình ảnh trên kính màu. Ánh nắng chiếu qua hình ảnh trông giống như ánh sáng Chúa Kitô chiếu dọi qua các thánh và làm cho các ngài sáng rực rỡ. Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) viết: “Thực vậy, mọi chứng từ đích thực nói lên lòng mộ mến của chúng ta đối với các Thánh trên trời luôn quy hướng đến Chúa Kitô và kết thúc nơi Chúa Kitô là “triều thiên của toàn thể các Thánh”. Và nhờ Chúa Kitô, lòng mộ mến của chúng ta quy hướng đến Thiên Chúa và kết thúc nơi Thiên Chúa, Đấng đáng ca tụng và tôn vinh nơi các Thánh”

Một cách nào đó, việc sử dụng ảnh tượng các thánh phải dẫn chúng ta về với Chúa Kitô. Trong lịch sử Giáo Hội, đã có nhiều phương cách hữu hiệu trình bày ảnh tượng các thánh để trợ giúp phụng vụ mà không gây chia trí. Ảnh khảm trên mái vòm theo phong cách Byzantine, bình phong ảnh tượng, kính màu, đầu cột chạm khắc trong kiến trúc Rôma [hình 4], bức ngăn trong nhà thờ theo kiến trúc Gô-tích, và cả đến hốc tường đặt tượng ở Vương cung thánh đường Gioan Lateranô, tất cả đều trình bày cho người tín hữu một khía cạnh của các thánh trong tương quan với phụng vụ và Giáo Hội nói chung, nhưng với vai trò rõ ràng là thứ yếu và phục vụ cho địa vị của Chúa Kitô trong phụng vụ.

Các thánh dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô là ý tưởng rất phổ biến trong khoa ảnh tượng thời Trung cổ. Trong nhà thờ San Apollinare Nuovo ở Ravenna, trên những hàng cột là tranh khảm mô tả hai cuộc rước kiệu nổi tiếng của các thánh. Trụ ngạch phía bên phải trình bày hai mươi sáu thánh Tử đạo đang tiến đến Chúa Kitô [hình 5, 6], còn bên trái là hai mươi hai thánh nữ Đồng trinh đang tiến về phía Đức Trinh Nữ Maria ẵm Chúa Hài Đồng [hình 7, 8].

Ví dụ này nói lên sự hiểu biết hoàn toàn chính thống về vai trò của các thánh: các ngài là gương mẫu hằng nhắc nhở để dẫn đưa các tín hữu đến với Chúa Kitô. Các thánh Tử đạo bắt chước Chúa Kitô bằng cách thông phần đau khổ với Người, các Thánh Đồng Trinh thì thông phần sự sống của Chúa bằng cách theo gương Đức Mẹ Đồng Trinh, Đấng đón nhận ân sủng và vinh quang từ Con của mình theo cách thức tương tự. Phần trung tâm mái vòm của hai giếng rửa tội Neon và Arian ở Ravenna trình bày hình ảnh Chúa Giêsu chịu phép Rửa bởi tay thánh Gioan, còn hình ảnh mười hai Tông Đồ thì toả ra các hướng chung quanh Chúa Giêsu, bố cục này cho thấy hình ảnh các thánh vừa hỗ trợ vừa phụ thuộc vào hình ảnh Chúa Kitô [hình 9].

Những ví dụ khác như vòm nhà nguyện Thánh Zenon [hình 10], mặt hồi ở nhà thờ Thánh Denis, cửa sổ kiểu hoa hồng ở nhà thờ Orvieto, mặt tiền phía tây rực rỡ của nhà thờ Chính toà Wells hay mặt tiền nhỏ hơn nhưng có liên hệ ở tu viện Bath, đều diễn tả địa vị trung tâm và trên hết của Chúa Kitô.

Những ví dụ từ thời Trung cổ này nhằm làm nổi rõ nguyên tắc then chốt để sắp đặt ảnh tượng cho thời nay: vị trí của Đấng Cứu Chuộc, dù là Đấng Chịu Đóng Đinh hay Đấng Toàn Năng, có tầm quan trọng tối thượng trong nhà thờ, và tất cả các ảnh tượng khác phải phụ thuộc vào ảnh tượng của Người.

VII. ẢNH TƯỢNG ĐỨC MẸ

Đức Mẹ Đồng Trinh có vai trò quan trọng trong nghệ thuật ảnh tượng của Giáo Hội. Giáo Hội “khuyến khích mọi tín hữu lấy tình con cái, tôn kính đặc biệt Đức Maria hồng phúc trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ của cả loài người”. Ảnh tượng Mẹ nằm trong số những ảnh tượng lâu đời và phổ biến nhất, có từ cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai, dựa vào chứng tích trong hang toại đạo Priscilla ở Rôma. Ngày nay, phải tránh sự thiếu sót khi nhấn mạnh địa vị của Đức Trinh Nữ Maria hồng phúc, như đã được các nghị phụ Công đồng nói rõ trong Hiến chế Tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) (nguyên cả chương 8) và trong Thông điệp Mẹ Đấng Cứu Thế (Redemptoris Mater). Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II viết:

Các ảnh tượng về Đức Trinh Nữ Maria có một vị trí danh dự trong các nhà thờ và tư gia. Trong các ảnh tượng ấy, Đức Maria được trình bày theo nhiều phương diện: Mẹ là ngai toà Thiên Chúa, mang lấy Chúa Giêsu và trao Người cho nhân loại (Theotókos), Mẹ là con đường đưa dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu và giới thiệu Người cho chúng ta (Hodegetria), Mẹ là người cầu nguyện với tâm thế chuyển cầu cho chúng ta và là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc hành trình của người tín hữu cho đến ngày Chúa đến (Deẽsis); Mẹ là Đấng che chở luôn giang rộng áo choàng phù hộ muôn dân (Pokrov); Mẹ là Đức Nữ Đồng Trinh dịu hiền khoan nhân (Eleousa). Mẹ thường được nghệ thuật thể hiện đang ẵm Con của Mẹ là Chúa Hài Nhi: chính mối tương quan với Chúa Con làm cho Mẹ được vinh quang. Có khi Mẹ dịu dàng ôm lấy Chúa Giêsu (Glykophilousa); lại có khi Mẹ là người thánh đầy vẻ say mê chiêm ngắm Đấng là Chúa của lịch sử”

Thêm nữa, Đức giáo hoàng tiếp tục giải thích mối tương quan giữa Đức Trinh Nữ Maria với phụng vụ; đây là điều cần thiết để biết cách sắp đặt ảnh tượng Mẹ:

Địa vị Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria được người Kitô hữu đặc biệt chú ý và cảm nghiệm trong Bữa Tiệc Thánh – tức việc cử hành phụng vụ về mầu nhiệm Cứu Chuộc – trong đó Chúa Kitô hiện diện với Thân mình thật sự đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria.

Với lòng đạo đức, người Kitô hữu luôn cảm nhận đúng đắn mối liên kết sâu xa giữa việc tôn sùng Đức Trinh Nữ và phụng vụ Thánh thể: có thể thấy được điều này trong phụng vụ của cả Tây phương và Đông phương.

Tương tự, theo Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium), trong Giáo Hội, Đức Trinh Nữ giữ địa vị “cao nhất sau Chúa Kitô và cũng gần gũi chúng ta nhất”. Từ những trích dẫn ấy, có thể suy ra rằng ảnh tượng của Mẹ Thiên Chúa cần phải được đặt ở vị trí nổi bật trong cung thánh hay gần cung thánh. Vị trí này cũng thuận tiện cho các đôi tân hôn dâng bó hoa lên Đức Mẹ trong hôn lễ. Ảnh tượng thánh bổn mạng nhà thờ đôi khi có thể được đặt đối xứng với tượng Đức Mẹ trong nhà thờ.

VIII. ẢNH TƯỢNG CÁC THÁNH

Trong truyền thống ảnh tượng thánh, có một ngôn ngữ tế nhị và phức tạp về biểu tượng, hình thức và màu sắc. Các Tông đồ và các Thánh sử có ngôn ngữ mô tả riêng, và các ngài có lý do để sử dụng ngôn ngữ ấy. Một khi đã có được ngôn ngữ hình thể ổn định, dù ở ảnh tượng hay kính màu, người tín hữu mù chữ cũng có thể dễ dàng nhận ra các hình ảnh. Vì thế, người ta thường thấy thánh Phêrô có nước da ngăm, thân người tráng kiện với râu tóc quăn và đen; thánh Batôlômêô với mái tóc hoa râm, nước da trắng, đôi mắt to, mũi cao và chòm râu dài; thánh Phaolô dáng cao niên, đầu hói, râu trắng dài, lưa thưa; thánh Gioan còn trẻ, không có râu; thánh Máccô tuổi trung niên, trán có nếp nhăn, mũi to, tóc vàng hoe, râu dài và có vài sợi tóc hoa râm; thánh Gioan Tẩy giả có hình dáng một ẩn sĩ với làn da lạc đà; vân vân… Mỗi vị thánh tông đồ được trình bày cùng với dụng cụ tử đạo hay dấu hiệu riêng của các ngài, như ở các bức tượng của Rusconi trong lòng nhà thờ Thánh Gioan Latêranô [hình 11]: thánh Phêrô tay cầm chìa khoá; thánh Batôlômêô bị lột da sống; thánh Phaolô giữ thanh gươm đã chém đầu ngài; thánh Giacôbê với những vỏ sò gợi lại việc thân thể ngài trôi dạt vào bờ biển ở Compostela một cách kỳ lạ; và thánh Philipphê, “giống như Thầy của mình là Đấng ngài rao giảng, ngài cũng chịu đóng đinh vào thập giá”.

Các thánh Tử đạo khác cũng có những dụng cụ hành hình (chẳng hạn thánh Laurensô bên vỉ nướng bằng sắt [hình 12], thánh Sebastian với những mũi tên và thánh Stephanô với một đống đá dưới chân ngài).

Ảnh tượng thường trình bày các thánh Tử đạo cầm nhành cây hương bá, ý nhắc đến đoạn Kinh Thánh “người công chính lớn mạnh như cây hương bá Li băng, được trồng nơi nhà Chúa” (Tv. 92,12-13).

Bốn thánh sử Tin Mừng được diễn tả bằng bốn sinh vật trong sách Khải huyền: bò, sư tử, con người và chim phượng hoàng (Kh.4,7) [hình 13].

Thánh sử Matthêu được thể hiện với hình dáng con người, vì ngài mở đầu sách Tin Mừng bằng bản gia phả, và ngài viết về nhân tính của Chúa Giêsu, việc Chúa giáng sinh và những năm đầu đời của Chúa [hình 14].

Thánh Marcô được biểu trưng bằng con sư tử của chi tộc Giuđa vì nhiều lý do [hình 15].

Trước hết, Tin Mừng thánh Marcô trình bày Chúa Giêsu là Vua. Thứ hai, Tin Mừng thánh Marcô bắt đầu với “tiếng kêu trong sa mạc”, được các giáo phụ sánh ví với sư tử rống lên trong sa mạc. Thứ ba, vì thánh Marcô mô tả việc Chúa Phục sinh, mà sư tử là biểu tượng, có liên quan đến giai thoại về một con sư tử mẹ làm hồi sinh những đứa con của mình bằng cách thở hơi trên chúng. Tương tự như thế, thánh Luca được thể hiện bằng hình ảnh con bò [hình 16], biểu tượng cho hy lễ của thầy thượng tế, vì ngài mở đầu Tin Mừng với thầy thượng tế Giacaria, ngài khai triển gia phả Chúa Giêsu qua hàng tư tế Lêvi, và ngài tường thuật rất hùng hồn về cuộc Khổ nạn và Hy tế của Đức Kitô.

Cuối cùng, chim phượng hoàng tượng trưng cho thánh Gioan [hình 17], bởi vì Tin Mừng của ngài vút bay lên đến Thiên tính của Chúa Kitô, bắt đầu bằng câu “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời…”

Trong ngôn ngữ biểu tượng phức tạp này, đôi khi hình ảnh cuốn sách được đưa vào ảnh tượng các tác giả Tân Ước (gồm các thánh sử Phúc Âm, thánh Phaolô, thánh Giuđa, thánh Giacôbê và thánh Phêrô). Cuốn sách đang mở biểu trưng cho tri thức hoàn hảo mà các tông đồ thánh sử được chính Chúa dạy bảo cách trọn vẹn. Ngôn ngữ phổ biến này, tuy chưa đạt tới mức toàn cầu hoặc tuyệt đối, nhưng vẫn được sử dụng bởi các nghệ sĩ có tinh thần trách nhiệm trong việc chế tác ảnh tượng thánh, bởi lẽ ngôn ngữ ấy giúp cho nghệ sĩ tránh được những vấn đề do cảm quan cá nhân và luôn hoạt động trong phạm vi truyền thống của nghệ thuật ảnh tượng thánh.

IX. ẢNH TƯỢNG CÁC THIÊN THẦN

Tôi muốn đưa ra một luật trừ trong các quy luật liên quan đến ảnh tượng trên cung thánh, đó là vị trí ảnh tượng các thiên thần. Các thiên thần có một vị trí quan trọng đặc biệt trong Kinh Thánh, trong lịch sử cứu độ và trong phụng vụ. Một điều thật thú vị là các hình ảnh mà Thiên Chúa truyền lệnh thực hiện đầu tiên chính là hình ảnh thể hiện các hữu thể vô hình, tức các Kêrubim trên nắp Hòm Bia Giao Ước. Hai vị Kêrubim đứng hai đầu và hộ giá Nắp Xá tội (Xh 25,18), tựa như việc các ngài canh giữ lối vào Vườn Địa đàng (x. St 3,24). Chủ đề này được tiếp tục thực hiện trong chương trình trang hoàng đền thờ do vua Salomon xây dựng. Trong Nơi Cực Thánh dài mười thước, rộng mười thước, và cao mười thước vua cho khắc ảnh các thiên thần nơi khung ghép trên tường và các cánh cửa, và quan trọng nhất là khắc hoạ các thiên thần canh giữ lối vào Nơi Cực Thánh (1V 6,23). Ở đây có hai tượng Kêrubim, với đôi cánh dài hơn năm thước, bảo vệ lối vào, rõ ràng có liên hệ đến các Kêrubim với “lưỡi gươm sáng loé” canh giữ lối vào Vườn Địa đàng.

Trong Kinh Thánh, các thiên thần không chỉ là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa (chẳng hạn 1Sm 4,4, Tv. 80,2 và 99,1, Lc. 1,35), mà còn được nhắc đến cách đặc biệt khi Thánh sử nói về phụng vụ Kitô giáo: “Nhưng anh em đã tới núi Xion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện. Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben” (Dt. 12,22-24). Chính vì hiểu như thế mà sách Giáo lý Công giáo dạy: “Cho tới ngày Chúa quang lâm, tất cả đời sống Hội Thánh hưởng nhờ sự trợ giúp huyền nhiệm và hữu hiệu của các thiên thần. Trong phụng vụ, Hội Thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa ngàn trùng Chí Thánh. Hội Thánh khẩn cầu các thiên thần trợ giúp”, cầu xin trong Kinh nguyện Thánh thể thứ nhất: “Lạy Chúa toàn năng, chúng con nài xin Chúa sai Sứ thần dâng lễ vật này lên bàn thờ cao sang trước tôn nhan uy linh Chúa”, và trong phụng vụ cầu cho tín hữu qua đời “Xin các thiên thần Chúa dẫn đưa bạn về thiên đàng.”

Cha Jean Daniélou viết một cách đầy thuyết phục về sự trợ giúp của các thiên thần trong Hy tế thánh lễ. Để minh chứng, cha đã trích dẫn rất nhiều giáo phụ:

“Nhưng các thiên thần hiện diện đặc biệt trong Hy tế Thánh thể. Quả thật, thánh lễ là sự tham dự bằng bí tích vào phụng vụ trên Trời, là việc tôn thờ được toàn thể cơ binh các thụ tạo thiêng liêng trân trọng chuyển dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhờ có các thiên thần mà bí tích Thánh thể được đưa vào Nước Trời. Các thiên thần giúp hy tế được bao phủ bằng mầu nhiệm thánh. Thánh Gioan Kim khẩu viết: “Các thiên thần vây quanh linh mục. Cả cung thánh và không gian trước bàn thờ tràn ngập các thiên thần từ Trời đến để tôn vinh Người là Đấng hiện diện trên bàn thờ”. Ở nơi khác ngài viết: “Bây giờ bạn hãy nghĩ đến cơ binh thiên thần mà bạn sắp gia nhập. Mặc dù bạn đang sống trong thân xác, nhưng bạn đã được đánh giá là xứng đáng gia nhập vào đoàn ngũ các thiên thần trên trời để ca hát chúc tụng Người là Chúa của muôn loài.” “Này là bàn tiệc vương giả, có các thiên thần phục vụ. Chính Chúa hiện diện nơi đó.”

Cha Daniélou kết thúc phần bàn về các thiên thần trong phụng vụ bằng một đoạn văn nổi tiếng của thánh Gioan Kim khẩu: “Các thiên thần hiện diện nơi đây. Hôm nay các thiên thần và chư thánh tử đạo hội ngộ. Nếu muốn nhìn thấy các thiên thần và các thánh Tử đạo, bạn hãy mở mắt đức tin mà chiêm ngắm quang cảnh này. Nếu trong không trung có đầy các thiên thần, thì trong Giáo Hội các thiên thần còn hiện diện nhiều hơn. Và nếu trong Giáo Hội có đầy các thiên thần, thì ngày nay quả còn có nhiều thiên thần hiện diện hơn nữa khi Chúa của các ngài đã lên Trời! Trọn vẹn không gian quanh chúng ta tràn đầy các thiên thần.” Lời văn phong phú này đã được diễn đạt bằng ngôn ngữ kiến trúc qua dòng lịch sử kiến trúc nhà thờ. Một trong những công trình nên thơ nhất được tìm thấy trên tấm đỡ rầm nhà thờ Thánh Wendreda [hình 18] ở March, Cambridgeshire.

Ở đó có hơn một trăm thiên thần bay trên không gian lòng nhà thờ thành một cơ binh thiên thần vinh hiển. Chủ đề này cũng có trong cách trang trí trần nhà thờ chính toà Ely ở gần đó [hình 19].

Thuộc phong cách Barốc, đông đảo các thiên thần do Bernini thiết kế ở nhà thờ San Andrea al Quyrinale và các thiên thần do Borromini đưa vào nhà thờ San Ivo della Sapienza đã diễn tả lời Kinh Thánh rằng chúng ta “được vây quanh bởi vô số các nhân chứng” [hình 20].

Nhận thức này đưa tôi đến kết luận rằng, một khi đã biết rõ vị trí đặc biệt của các thiên thần trong đời sống Giáo Hội, thì việc dùng ảnh tượng diễn tả các ngài trên cung thánh không những là thích hợp, mà còn nên được khuyến khích, vì các ảnh tượng thiên thần nói lên việc chúng ta tham dự vào bữa tiệc Chiên Con trong Nước Trời. Trong nhà thờ, cung thánh, lòng nhà thờ và giếng rửa tội nên có nhiều ảnh tượng các thiên thần để mô tả sống động thực tại thần thiêng vô hình này! Ảnh tượng các thiên thần cũng như ảnh tượng các thánh nói lên các chân lý thiêng liêng, và đây là lý do đủ cho phép việc trưng bày ảnh tượng các ngài. Ngoài ra, ảnh tượng các thiên thần và các thánh giúp chúng ta nhớ rằng cộng đoàn giáo xứ không cô độc hay bị tách rời, nhưng liên kết với việc thờ phượng của toàn thể Thân Mình Mầu nhiệm Chúa Kitô. Ở đây và ngay lúc này, trong thánh lễ tại giáo xứ này, chúng ta được hòa chung vào phụng vụ trên thiên quốc của Giáo Hội khải hoàn cùng với toàn thể các thiên thần và các thánh qua Chúa Giêsu, vị linh mục thượng phẩm của chúng ta, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần, và đến với vinh quang của Đức Chúa Cha toàn năng. Đó là lý do tại sao qua nhiều thời đại, các nhà thờ luôn có đầy hình ảnh các thiên thần dưới dạng bích hoạ, tranh khảm, tượng đồng và đá: những ảnh tượng đó là chứng từ cho ta thấy chỗ ở của chúng ta trong vương quốc của Thiên Chúa, đồng thời nhắc cho chúng ta nhớ rằng các thiên thần hằng chuyển cầu, bảo vệ và trợ giúp chúng ta.

X. CÁC CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Một chuỗi những ảnh tượng khác cần được khảo sát là các Chặng đàng Thánh giá [hình 21], tức các hình ảnh trình bày điều mà truyền thống cho là những chặng đường trong cuộc Khổ nạn của Chúa chúng ta.

Các Chặng đàng Thánh giá thường được sắp xếp chung quanh chu vi khu vực lòng nhà thờ, để các tín hữu đi Đàng Thánh giá tưởng niệm via dolorosa, nghĩa là con đường Chúa vác thập giá qua các phố xá Giêrusalem [hình 22].

Việc đạo đức này chỉ mới phổ biến trong Giáo Hội từ thế kỷ thứ 17, và không bắt buộc phải có trong nhà thờ. Nếu các Chặng đàng Thánh giá được đặt trong lòng nhà thờ, chứ không phải ở khu hành lang nhà thờ hay trong khu vườn ngoài trời, thì tượng ảnh của các Chặng đàng Thánh giá cần phải hoà hợp với kích thước cũng như kiểu dáng của nhà thờ và luôn phải tuân theo các yêu cầu của phụng vụ. Vì thế, các Chặng đàng Thánh giá ở ngoài nhà thờ có thể dành cho nghệ sĩ phạm vi thiết kế rộng rãi hơn. Cha O’Connel, chắc chắn quá quen với vấn đề về những Chặng đàng Thánh giá thô thiển, đã đề nghị rằng “nếu không thể sắm những ảnh tượng có giá trị, thì tốt hơn là nên hài lòng với một cây Thánh giá mà thôi (kèm với tên gọi mỗi Chặng)”. Không nên vội vã quyết định loại bỏ các tượng ảnh các Chặng đàng Thánh giá như thế, nhưng hãy nỗ lực để tìm cho được những ảnh tượng xứng đáng và có giá trị thẩm mỹ cao để diễn tả các Chặng đàng Thánh giá.

Steven J. Schloeder
Sách “Architecture in Communion”, chương VII
Phêrô Nguyễn Đình Diễn chuyển ngữ

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGMVN, số 77 (tháng 7 & 8 năm 2013)

Chia sẽ bài viết này trên:

KHÔN NGOAN TÌM NƯỚC TRỜI – CN XVII TN A

KHÔN NGOAN TÌM NƯỚC TRỜI
Chúa Nhật XVII Thường Niên – A

Vua Salomon nổi tiếng là vị vua khôn ngoan sáng suốt. Ông đã xử những vụ án rất khó khăn một cách khéo léo không khác gì Bao Công. Bà hoàng hậu Saba ở mãi tận phương nam cũng phải đến nghe sự khôn ngoan của ông. Nhưng khôn ngoan nhất là khi được Chúa cho chọn lựa, ông đã không xin được trường thọ hay được giàu sang, mà chỉ xin được ơn khôn ngoan. Lời cầu xin của ông rất đẹp lòng Chúa. Nên Chúa đã khen ngợi và ban cho ông mọi điều mong muốn. Chúa muốn tôi bắt chước vua Salomon, biết xin ơn khôn ngoan và biết khôn ngoan trong những lựa chọn. Nhất là biết khôn ngoan lựa chọn Nước Trời như những người trong bài Tin Mừng hôm nay.

Những người trong bài Tin Mừng hôm nay khôn ngoan vì thao thức đi tìm. Sự thao thức đi tìm được thấy trong thái độ bôn ba đây đó, khảo sát đất đai. Chắc phải đào bới nhiều mới thấy kho tàng chôn giấu trong ruộng. Sự thao thức đi tìm cũng thấy trong việc ra khơi thả lưới. Vất vả chài lưới rồi còn phải lựa chọn. Dù vất vả, họ quyết tìm cho ra Nước Trời.

Họ khôn ngoan vì biết phân định. Đời sống đem đến cho ta đủ mọi loại giá trị thượng vàng hạ cám, như chiếc lưới đánh bắt đủ mọi loại tôm cá. Giữa những giá trị ấy ta phải biết phân định. Lựa chọn những giá trị cao quý, tốt đẹp. Biết chọn lựa cá tốt, vứt bỏ cá xấu. Biết giá trị của viên ngọc dù nó còn đang nằm giữa khối đá sù sì dơ bẩn. Biết giá trị của kho tàng dù nó còn đang bị chôn giấu dưới lòng đất sâu. Biết giá trị của Nước Trời dù Nước Trời chưa tỏ hiện rõ ràng trên thế gian.

Họ khôn ngoan vì dám dấn thân. Khi đã biết được giá trị Nước Trời, họ dấn thân theo đuổi đến cùng. Dấn thân trọn vẹn nên bán tất cả những gì mình có để đổi lấy kho tàng, viên ngọc quý. Dấn thân quyết liệt vì bán hết nhà cửa rồi thì không thể quay về chốn cũ, chỉ còn gắn bó với quê hương mới mà thôi. Dấn thân tuyệt đối, bỏ hết tất cả chỉ vì một viên ngọc. Dấn thân như thế là thái độ của tình yêu, sự say mê, sự khao khát mãnh liệt. Đó chính là thái độ phải có khi đi tìm Nước Trời.

Họ khôn ngoan vì biết từ bỏ. Bán tất cả những gì mình có là một từ bỏ lớn lao. Dứt lìa những gì mình gắn bó còn đau đớn hơn nữa. Bỏ một nơi yên thân chắc chắn để dấn thân vào một tương lai bấp bênh thì thật là phiêu lưu đến tận cùng. Nhưng không có cách nào khác. Phải bán tất cả mới đủ sức mua viên ngọc Nước Trời. Phải đầu tư trọn vẹn con người với tất cả tài năng trí tuệ, sức lực, thời giờ mới mong chiếm đoạt được Nước Trời. Luyến tiếc một chút là bất thành. Chần chừ một chút là hỏng việc. Nấn ná một chút là bị lỡ cơ hội.

Họ từ bỏ một cách nhẹ nhàng thanh thoát. Nên từ bỏ rồi họ cảm thấy vui tươi. Họ từ bỏ một cách mau mắn vì họ đã dứt khoát với những gì xưa cũ. Lòng trí của họ chỉ gắn bó tha thiết với kho tàng mới tìm thấy.

Đó là những thái độ khôn ngoan đáng cho ta noi theo trên con đường đi tìm Nước Trời. Biết thao thức đi tìm. Biết phân định giá trị. Biết mau mắn từ bỏ. Biết hăng hái dấn thân đến cùng.

Lạy Chúa, xin ban cho con ơn khôn ngoan để con biết chọn Chúa là nguồn mạch hạnh phúc.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Chia sẽ bài viết này trên:

Quyết Định và Nhẫn Nại – CN XVI TN A

Quyết Định và Nhẫn Nại
CN XVI TN A

Truyện kể rằng, có thầy ẩn tu tên là Cébastien, thường đến cầu nguyện tại một nhà nguyện vắng vẻ trên núi. Trong nhà nguyện này dân chúng tôn kính một tượng thánh giá với tước hiệu là “Tượng Chúa ban ơn”.

Thấy dân chúng có lòng tin thường tới cầu xin ơn lành, thầy Cébastien cũng thêm lòng tin cậy. Một hôm, nhân lúc vắng người, thầy đến quỳ gối trước tượng thánh giá và đơn thành khẩn nguyện:

– “Lạy Chúa, con ước ao được chia sẻ đau khổ với Chúa, xin cho con được thế chỗ Chúa trên thập giá”.

Rồi thầy quỳ yên lặng, mắt đăm đăm nhìn lên thánh giá mong được đáp lời. Một lúc sau thầy nghe như từ trên thánh giá có tiếng phán bảo:

– “Được, Ta bằng lòng để con thế chỗ Ta trên thập giá, nhưng với một điều kiện duy nhất là bất cứ điều gì xảy ra, tai con nghe gì, mắt con thấy gì, con đều phải giữ im lặng không được nói năng gì hết”.

Thầy Cébastien đã hứa, và được Chúa Giêsu cho lên thế chỗ Ngài trên thập giá. Ngày qua ngày, dân chúng vẫn đến quỳ trước tượng thánh giá cầu nguyện. Nhưng không ai hay biết về việc thế chỗ đổi ngôi giữa Chúa Giêsu và thầy Cébastien.

Một hôm có người đến quỳ cầu nguyện. Xong, ông đứng dậy ra về bỏ quên lại dưới ghế cái túi đầy những đồng tiền vàng. Thấy vậy, thầy vẫn yên lặng. Một lúc sau có người nghèo đói vào nhà nguyện. Ông ta vui mừng trố mắt nhìn túi tiền tưởng là của Chúa ban cho, rồi xách túi tiền ra đi. Kế đó có chàng thanh niên vào quỳ gối khẩn nguyện xin ơn che chở vì phải xuống tàu đi xa. Chàng thanh niên vừa ra khỏi nhà nguyện thì gặp người phú hộ trở lại tìm túi tiền. Không thấy đâu, ông nghĩ là chàng thanh niên đã lấy trộm, nên điệu chàng đến trình cảnh sát. Không cầm lòng được nữa, từ trên thập giá, thầy Cébastien hô lớn tiếng:

– “Đứng lại!”

Mọi người ngạc nhiên dừng lại, và thầy phân trần sự việc. Sau đó người phú hộ ra đi tìm người nghèo đói để lấy lại túi tiền và chàng thanh niên cũng vội vã ra đi cho kịp chuyến tàu. Khi không còn ai trong nhà nguyện, Chúa Giêsu lên tiếng phán bảo thầy Cébastien:

– Con hãy xuống ngay khỏi thập giá! Con không xứng đáng thế chỗ cho Ta, vì con đã không biết giữ im lặng như lời con hứa.

Thầy Cébastien vội vã phân trần:

– Nhưng lạy Chúa, làm sao con có thể chịu đựng được cảnh bất công đó?

Cũng giống như thầy Cébastien, con người chúng ta thường nhìn thấy cái trước mắt, và không chịu nổi trước hiện tượng xã hội, thiện ác đan xen, người tốt kẻ xấu chung sống khó phân biệt, cỏ dại và lúa tốt mọc lên bên nhau trong ruộng lúa.

ĐGH Phanxicô suy niệm về Dụ ngôn Hạt Lúa và Cỏ Lùng như sau:

Câu chuyện diễn ra trong một cánh đồng với hai nhân vật chính đối nghịch nau. Một bên là người chủ, người đại diện cho Thiên Chúa và gieo hạt giống tốt; bên kia là kẻ thù, đại diện cho Satan và gieo cỏ lùng.

Với thời gian trôi qua, cỏ lùng cũng lớn lên giữa lúa và khi đối diện với sự thật này thì người chủ và các tôi tớ của ông có thái độ khác nhau. Các tôi tớ thì muốn can thiệp vào và nhổ cỏ lùng, nhưng người chủ, một người quan tâm trên hết là việc giữ lại lúa, thì lại bác bỏ và nói: “Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng”. Với hình ảnh này, Chúa Chúa Giêsu nói là việc trong thế giới này sự lành và sự dữ thì quá đan xen vào nhau đến nỗi thật không thể tách và loại trừ hết mọi sự dữ. Chỉ một mình Thiên Chúa mà thôi mới có thể thực hiện điều này, và Ngài sẽ thực hiện trong Dịp Phán Xét Chung. Hoàn cảnh hiện tại, với tất cả sự mập mờ và tính cách hỗn tạp của nó, là cánh đồng của sự tự do, cánh đồng của sự tự do của người Kitô Hữu, mà trong đó việc khó biện phân giữa điều tốt và điều xấu lại diễn ra.

Do đó, trong cánh đồng này, vấn đề là về sự phối hợp, với niềm tín thác lớn lao vào Thiên Chúa và vào Sự Quan Phòng của Ngài, hai thái độ dường như trái khuấy nhau: quyết định và nhẫn nại. Quyết định là muốn là hạt giống tốt  – tất cả chúng ta đều muốn điều này, với tất cả sức mạnh của mình, và do đó, tự tách bản thân chúng ta ra khỏi Ma Quỷ và những cám dỗ của nó. Sự nhẫn nại có nghĩa là yêu thích một Giáo Hội vốn là nắm men trong khối bột, một Giáo Hội không sợ vấy bẩn đôi bàn tay của mình để giặt áo cho con cái mình, hơn là một Giáo Hội của “những người trong sạch”, vốn giả vờ đề phán xét trước thời hạn ai là người không được ở trong Nước Thiên Chúa.

Chúa, Đấng là Sự Khôn Ngoan nhập thể, hôm nay sẽ giúp chúng ta hiểu rằng điều tốt và điều dữ không thể được xác định bằng những lãnh thổ đã xác định hay những nhóm người cụ thể: “Có những người tốt, có những người xấu”. Ngài dạy chúng ta rằng làn ranh giới giữa điều tốt và điều xấu có hết ở trong tâm hồn mỗi người, có ở trong tâm hồn mỗi người chúng ta, đó là, tất cả chúng ta đều là tội nhân. Lòng muốn đến với tôi để họi các bạn: “Hãy để cho người ấy là tội nhân giơ tay lên”. Không ai cả! Vì tất cả chúng ta là, tất cả chúng ta là tội nhân. Đức Giêsu Kitô, qua Cái Chết của Ngài trên Thập Giá và Sự Phục Sinh, đã giải thoát chúng ta khỏi tình trạng nô lệ cho tội lỗi và Ngài ban cho chúng ta ân sủng để bước đi trong một đời sống mới. Tuy nhiên, với Phép Rửa thì Ngài cũng ban cho chúng ta Phép Hoà Giải, vì chúng ta luôn cần được tha thứ tội lỗi của chúng ta. Luôn nhìn vào sự dữ vốn đang ở bên ngoài chúng ta, thì có nghĩa là không muốn nhìn nhận tội lỗi cũng đang ở trong chúng ta.Và rồi Chúa Giêsu cho chúng ta thấy một cách khác khi nhìn vào cánh đồng thế giới, của việc quan sát thực tại. Chúng ta được mời gọi để họ về thời gian của Thiên Chúa – vốn không phải là thời gian của chúng ta – và cũng là “cái nhìn” của Thiên Chúa: nhờ vào sự ảnh hưởng có lợi về một sự đợi chờ lắng lo, điều gì là cỏ lùng hay dường như là cỏ lùng có thể trở thành một sản phẩm tốt. Đó là thực tại về sự hoán cải. Đó là tiềm năng của niềm hy vọng! (Joseph C. Pham, chuyển ngữ từ Zenit).

Thế giới này sẽ tươi đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần chung tay xây dựng! Nhưng thật đáng tiếc, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc hủy hoại, tha hóa, nô lệ hóa con người. Đó là những hạt cỏ xấu do ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt. Lúa tốt và cỏ lùng lẫn lộn trên cùng ruộng lúa. Cái tốt, cái xấu đan xen trong cuộc sống hàng ngày, nhất là trong tâm hồn mỗi người. Ở đó, hạt mầm sự sống và nọc độc sự chết, cùng sống chung. Mỗi con người chắc chắn đều có kinh nghiệm bản thân như Thánh Phaolô đã từng kinh nghiệm “Điều lành tôi muốn làm, tôi lại không làm, còn điều dữ tôi không muốn làm, nhưng tôi lại cứ làm” (Rm 7,19).

Cỏ lùng và lúa tốt nằm ở trong tim con người. Mỗi người đong đưa giữa cỏ lùng và lúa tốt, giữa cái thiện và cái ác, giữa Thiên Thần và Satan.Tự do chọn lựa là quyền mỗi người.Thiên Chúa vẫn chấp nhận cỏ lùng trong con người. Thiên Chúa nhẫn nại đợi chờ con người thanh luyện dần dần và hy vọng mọi sự trong họ sẽ thành lúa tốt.

Cứ để cỏ lùng lớn lên cùng với lúa”. Đây là một cuộc chiến lâu dài với sự dữ. Con người sống giữa ánh sáng và bóng tối, sự dữ và cám dỗ lúc nào cũng có, hiện rõ trước mặt, cuốn hút hấp dẫn. Có người xin Chúa cho nhổ cỏ lùng đi, nhưng Chúa lại bảo, sợ nhổ cả lúa. Điều này nhắc lại sự kiện của ông Gióp, Chúa để cho ma quỷ sàng lọc ông. Như vậy Chúa muốn người theo Chúa cần sống trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến. Như lửa thử vàng, người theo Chúa cũng cần thử thách bằng những chước ma quỷ, cám dỗ để lớn lên trong ân sủng.

Giáo Hội tự bản chất là thánh thiện, nhưng lại gồm những con người tội lỗi. Giáo Hội có rất nhiều thánh nhân, nhưng cũng có vô số tội nhân. Những tội nhân vẫn có thể trở thành thánh nhân trong lòng xót thương của Chúa. Thiên Chúa biết cỏ lùng, biết ai đã gieo nó vào ruộng lúa của mình, nhưng Ngài kiên nhẫn đợi chờ. Lòng nhẫn nại của Ngài không những không loại bỏ những tội nhân, mà còn tiếp đón họ: Chúa không đoán xét bất công…nhưng khoan dung và hy vọng.

Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.Nhìn lại thửa ruộng tâm hồn của mình, chúng ta suy gẫm, hạt giống tốt được gieo, nhưng có hạt đã rơi vào bụi gai, có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trên đá sỏi và có số hạt rơi vào đất tốt. Trong khi đó, hạt giống cỏ lùng đã được gieo tràn lan, phát triển nhanh và như muốn chen lấn làm hạt giống tốt khó vươn lên. Không thể nhổ hết cỏ lùng, nhưng chúng ta cần vun xới cho hạt giống Lời Chúa lớn lên và sinh hoa trái. Cần phải gìn giữ đức tin cho đến cùng như lời Thánh Phaolô dạy: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2 Tm 4,7). Sau cuộc lữ hành đức tin, Thánh Phaolô chia sẻ: “Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2 Tm 4,8).

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Giáo Hội Của Chúa Nơi Trần Gian – CN XVI TN A

Giáo Hội Của Chúa Nơi Trần Gian
Chúa Nhật XVI Thường Niên A

Để cứu độ con người, Thiên Chúa đã xuống thế và đi vào đời sống của mỗi người. Ngài thiết lập Giáo Hội của Ngài ngay trên trần gian này. Nơi đó có tôi và có bạn. Từ đó tới nay, con thuyền Giáo Hội luôn gặp biết bao sóng gió, nhưng luôn tiến lên phía trước. Hiện nay Giáo Hội có mặt ở mọi nơi, và cưu mang mọi thành phần dân tộc. Thiên Chúa mong muốn một Giáo Hội thật hiệp nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Tiếc là trong lòng Giáo Hội, không phải toàn người tốt. Có những “cỏ lùng” đang lấn át phá hoại cánh đồng lúa của Giáo Hội.

Tựa đề trên hướng chúng ta đến một dụ ngôn quen thuộc: Dụ ngôn cỏ lùng. Đây cũng là chủ đề chính trong ngày Chúa Nhật 16 hôm nay[1]. Chính Đức Giêsu giải nghĩa dụ ngôn này cho các môn đệ. Dựa trên lời giải nghĩa này, Giáo Hội hiểu hơn về chính mình và chương trình của Thiên Chúa.

 “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người.” (Mt 13,37). Đó chính là một trong những tước hiệu của Đức Giêsu, Con Một của Thiên Chúa. Không chỉ thiết lập Giáo Hội, Ngài còn là đầu và Giáo Hội là thân thể nhiệm mầu của Đức Giêsu. Bởi thế thánh Phaolô cho chúng ta thấy định nghĩa thật đẹp về Giáo Hội: “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Chúa Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Giáo Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.” (Ep 1,22–23). Vì điều này mà Công Đồng Vaticanô II gọi Giáo Hội là bí tích. Con Người Đức Giêsu đã được Cựu Ước loan báo. (x. Đn 8,17). Suốt những năm trên dương thế, Đức Giêsu đã gieo rắc Lời Chúa. Chính Ngài là Ngôi Lời đến với muôn người. Do đó ai tin vào Ngài và Tin Mừng thì được cứu độ (Ga 11,25–26).

Ruộng là thế gian (Mt 13,38). Hẳn nhiên thế gian là nơi con người sinh sống. Thiên hạ đã có từ ngàn xưa nơi Năm châu bốn biển. Đây là mảnh đất được chúc phúc, và con người được Thiên Chúa yêu mến. Ngài yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một. (Ga3,16). Mảnh ruộng trần gian này cũng là Giáo Hội. Là người Công Giáo, chúng ta thuộc về một Giáo Hội mà vị đại diện của Đức Giêsu là Đức Giáo Hoàng.

Đáng lẽ thế gian này tốt đẹp như những ngày ban đầu trong công trình sáng tạo. Tiếc là Ma Quỷ đã quyến rũ con người. Từ đó, trong thế gian có những thế lực xấu xa chia rẽ và lôi kéo con người rời xa Thiên Chúa. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nơi nào cũng có kẻ xấu người tốt. Ai theo con đường gian ác của thế gian, người ấy là cỏ lùng, là con cái Ác Thần (Mt 13,39). Đức Giêsu chỉ mặt đặt tên cho những thành phần gian ác này: Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ.

Ngược lại, Đức Giêsu và Giáo Hội của Chúa ra sức nuôi dưỡng con người bằng lương thực tốt lành. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Đó là dân riêng của Chúa. Tuy sống trong thế gian, nhưng người con của Chúa không thuộc về thế gian. Bởi đó, chúng ta thấy Giáo Hội lúc nào cũng bị chống đối. Ma quỷ không bao giờ ngủ. Nó chăm chỉ gieo rắc điều xấu đến với bất cứ ai, bất cứ nơi đâu và lúc nào. Nhất là trong thời đại hôm nay, dường như ma quỷ và con cái của chúng có mặt ở mọi nơi. Chúng phủ nhận Thiên Chúa và chạy theo danh vọng trần gian.

Trong cuộc chiến này, Giáo Hội đang tìm mọi cách để đồng hành với con cái mình. Hơn nữa, Giáo Hội muốn thánh hóa thế gian và đưa mọi người về một đoàn chiên của Chúa. Đấy là ước mơ, là kế hoạch và mệnh lệnh của Thiên Chúa dành cho Giáo Hội. Để hy vọng đến mùa gặt là ngày tận thế, không ai phải mang thân phận cỏ lùng, người xấu. Tại sao? Đây là điều có thể lý giải tại sao chúng ta tin vào Thiên Chúa: “Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.” (Mt 13,40). Đó là ngày kết thúc của vũ trụ vật chất, ngày Chúa Kitô quang lâm. Mừng cho chúng ta là Đức Giêsu luôn ở với mỗi người, với Giáo Hội cho đến ngày tận thế. (Mt 28,20).

Dĩ nhiên sau một đời tin theo Chúa trong Giáo Hội, người con của Chúa hy vọng được sống hạnh phúc vĩnh hằng. Nếu tôi và bạn có một vé vào Thiên Đàng thì hạnh phúc biết bao! Như thế chúng ta không còn con đường nào khác là chọn nên hạt giống tốt, nên con cái tốt lành của Giáo Hội. Kết thúc Tin Mừng Chúa Nhật 16 hôm nay, Đức Giêsu nhắc đến vinh quang của người công chính. Họ là những người đã đón nhận Lời Chúa và sống chết với Tin Mừng. Sau giờ chết, những người này sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Đây là lời hứa an ủi và động viên mỗi người trong hành trình dương thế.

Nếu để ý, chúng ta thấy giữa dụ ngôn cỏ lùng, lại có thêm hai dụ ngôn ngắn khác: hạt cải và men trong bột. (Mt 13,31–33). Đây là hai năng động của Giáo Hội. Hạt cải tuy nhỏ nhưng đã lớn lên thành cây xum xuê. Giáo Hội cũng thế, mỗi ngày một tăng trưởng. Mệnh lệnh năm xưa của Thầy Giêsu đang được Giáo Hội thực thi: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15).

Nếu cây lớn mà không có sức sống nội tại, thì dễ dàng đổ ngã. Do đó, men trong bột nói lên ảnh hưởng bên trong của Giáo Hội để biến đổi thế giới. Đây là điều tối cần cho các tín hữu. Hào nhoáng chưa bao giờ là tiêu chí để Giáo Hội chạy theo hoặc cổ võ. Ngược lại, tin yêu nơi Chúa Giêsu ở tận chiều sâu. Trong tương quan cá vị riêng tư, người con của Chúa được biến đổi. Khi đó, Giáo Hội mới có sức sống và vươn rộng tầm ảnh hưởng đến với mọi quốc gia, dân tộc, văn hóa và cả những khác biệt.

Để kết thúc, các nhà chú giải cho thấy điều thú vị là cỏ lùng có thể trở nên lúa tốt, và ngược lại. Nếu cải tà quy chánh, người xấu sẽ hoàn lương. Trong khi đó, ma quỷ luôn cám dỗ người tốt từ bỏ con đường lương thiện để theo đường gian ác. Đó là mong manh của phận người: tốt xấu lẫn lộn. Nhiều người đòi giệt trừ cỏ lùng, loại bỏ những ai xấu xa ra khỏi Giáo Hội. Đó cũng là cái nhìn thiện cận. Giáo Hội luôn kiên nhẫn với hết mọi người. Nếu mưa xuống trên người tốt cũng như kẻ xấu, thì ân sủng của Chúa chẳng lẽ lại không đến hết với muôn người sao? Bởi thế, Giáo Hội muốn người con của Chúa:

“Đem thứ tha vào nới lăng nhục.

Đem an hòa vào nơi tranh chấp.

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Để con đem tin kính vào nơi nghi nan.

Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.

Để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm.

Đem niềm vui đến chốn u sầu.”[2]

Lạy Chúa Giêsu, xin ban ân sủng để con sống tốt hơn mỗi ngày. “Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác, thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời.” (Tv 139). Amen

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

[1] Chúa Nhật 16 mùa Tn.Kn 12,13.16-19; Rm 8,26-27; Mt 13,24-43.

[2] Kinh Hòa Bình – của Thánh Phanxicô

Chia sẽ bài viết này trên:

Giáo xứ An Phú: Hồng ân Chúa Thánh Thần 2020

Giáo xứ An Phú: Hồng ân Chúa Thánh Thần 2020

WGPSG — “Hãy tin tưởng, can đảm, mạnh mẽ lên, để chúng ta làm chứng về Chúa”.

Trên đây là lời chia sẻ của Đức TGM Giuse Nguyễn Năng khi ngài về thăm mục vụ và ban Bí tích Thêm sức cho các em thiếu nhi tại giáo xứ An Phú.

Thánh lễ ban Bí tích Thêm Sức cho 31 em thiếu nhi giáo xứ An Phú, giáo hạt Tân Định được cử hành trọng thể vào lúc 18g00, ngày 13-7-2020, do Đức TGM Giuse Nguyễn Năng chủ tế. Đồng tế với ngài có linh mục (Lm) chánh xứ Martino Bùi Huy Hòa, Lm Giuse Trần Văn Thới (Trung tâm Mục vụ Sài Gòn)

Tham dự thánh lễ có các tu sĩ nam nữ, HĐMV giáo xứ, đại diện các hội đoàn, các ông bà cố, các em thiếu nhi chuẩn bị được lãnh nhận hồng ân Chúa Thánh Thần, các vị ân nhân, thân nhân, phụ huynh, cha mẹ đỡ đầu, cùng cộng đoàn dân Chúa trong và ngoài giáo xứ An Phú.

Trong bài chia sẻ, Đức TGM Giuse bộc bạch: “Hôm nay là lần đầu tiên tôi được đến thăm giáo xứ An Phú và được cùng anh chị em dâng thánh lễ để nguyện xin Chúa Thánh Thần đến trên các em sắp lãnh nhận Bí tích Thêm sức”.

Đức TGM chia sẻ với các em chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Thêm sức: “Bí tích Thêm sức mà chúng con sắp lãnh nhận được gọi là Bí tích lớn lên trong Chúa Thánh Thần và nhờ Chúa Thánh Thần các con trở thành những Kitô hữu trưởng thành. Thứ nhất, Chúa Thánh Thần đến giúp chúng ta biết cách cầu nguyện. Thứ hai, Chúa Thánh Thần đến để giúp chúng ta thi hành sứ mạng mà Chúa Giêsu Phục sinh đã trao cho chúng ta và nhất là giới thiệu Chúa cho mọi người mà chúng ta có dịp gặp gỡ trong trường học, nơi công sở, trong môi trường sống chung quanh. Hãy mở lòng ra cho Chúa Thánh Thần soi sáng, nâng đỡ, thúc đẩy chúng ta ra đi, để chúng ta can đảm mạnh mẽ làm chứng về Chúa”.

Kết thúc, Đức TGM Giuse tâm tình: “Ước gì cộng đoàn giáo xứ An Phú được đầy đức tin sống động, để chúng ta sống đức tin, giới thiệu đạo tình thương của Chúa cho những người chưa biết Chúa”.

Sau bài giảng là nghi thức ban Bí tích Thêm sức, gồm 3 phần:

  • Nghi thức lặp lại lời tuyên xưng đức tin
  • Nghi thức đặt tay
  • Nghi thức xức dầu Thánh

Thánh lễ được nối tiếp với phần phụng vụ Thánh Thể

Trước khi nhận phép lành cuối lễ, hai em thiếu nhi đại diện có lời tri ân Đức TGM Giuse, Lm chánh xứ Martino, Lm đồng tế Giuse, các tu sĩ, các ông bà cố, các anh chị Huynh trưởng và Giáo lý viên.. Sau đó, ba em thiếu nhi đại diện cộng đoàn dâng lên Đức TGM Giuse cùng đoàn đồng tế những bó hoa tươi thắm, tỏ lòng yêu mến và biết ơn sâu sắc của các em, cũng như toàn thể cộng đoàn giáo xứ An Phú.

Đáp từ, Đức TGM Giuse đã cảm ơn tâm tình quý mến mà toàn thể cộng đoàn giáo xứ dành cho ngài.

Thánh lễ kết thúc lúc 19g30. Sau đó, các em chụp hình lưu niệm chung với Đức TGM và các linh mục.

  

https://tgpsaigon.net/bai-viet/giao-xu-an-phu-hong-an-chua-thanh-than-2020-60834

Chia sẽ bài viết này trên:

Hạt giống tốt – CN XV TN A

Hạt giống tốt – CN XV TN A

Lớn lên ở thôn quê, đi rao giảng phần lớn thời gian ở thôn quê, Chúa Giêsu đã thường xuyên được chứng kiến cảnh gieo trồng của người nông dân, nên Ngài đã mượn những hình ảnh của những sinh hoạt thôn dã ấy để nói về nước trời, một trong những dụ ngôn đầu tiên của Chúa là dụ ngôn người gieo giống.

Người gieo trồng nào cũng có niềm tin và sự lạc quan. Gieo hạt giống vào lòng đất là đặt tất cả tin tưởng phó thác của mình vào thiên nhiên. Có hạt rơi xuống đất tốt, có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trong bụi gai, nhưng kết quả cuối cùng vẫn là vụ mùa tươi tốt. Nước trời cũng giống như người ra đi gieo giống vậy.

Thái độ lạ đời của người gieo giống khiến chúng ta hiểu được phần nào tình yêu thương phổ quát của Thiên Chúa. Không có người nông dân nào có đầu óc bình thường hiểu biết, lại đi phung phí hạt giống trên mọi mảnh đất, ngay cả những chỗ gai góc hay những mảnh đất sỏi đá, nhưng họ gieo vãi hạt giống của mình trên thửa đất đã được cày bừa cẩn thận để hạt giống có thể mọc lên thật dễ dàng. Ở đây Chúa Giêsu cho chúng ta biết: Ngài muốn cứu rỗi tất cả mọi người, không phân biệt ai, Ngài muốn thông truyền chân lý cho mọi hạng người. Nhưng cũng như các mảnh đất được kể trong Tin Mừng, tiếp nhận hạt giống và sinh hoa kết trái khác nhau, mỗi người cũng có thái độ khác nhau khi đón nhận lời Chúa, tiếp nhận ân sủng của Ngài, họ có quyền tự do chấp nhận hay từ chối. Nếu chấp nhận thì lời Chúa sẽ đem lại cho họ nhiều lợi ích, nếu chối từ thì họ sẽ chẳng được gì. Như vậy, hoa trái tốt lành là tùy ở sự chấp nhận của con người.

Chính mỗi người phải cố gắng làm cho tâm hồn mình thành mảnh đất tốt, phì nhiêu tiếp nhận lời Chúa một cách thành khẩn, để hạt giống có thể phát triển và đơm bông kết trái. Trong các hoạt động hay sinh hoạt hằng ngày, dù công khai hay âm thầm, dù to lớn hay nhỏ bé, kể cả những khó khăn và đau khổ của cuộc sống, tất cả mọi người đều được mời gọi để gieo rắc niềm hy vọng. Trên những mảnh đất khô cằn tình người, chúng ta được Đức Kitô kêu mời trồng tỉa từng hạt giống của yêu thương. Trên những vùng đất khô sạn tin yêu, chúng ta được Đức Kitô kêu mời gieo rắc niềm hy vọng. Từng giây, từng phút, từng ngày, từng năm, chúng ta tin tưởng rằng sức sống sẽ bừng dậy yêu thương sẽ trổ bông.

Người ta kể rằng: Một người cha kia có ba đứa con trai, tuy sinh ra trong nghèo khổ, nhưng nhờ chuyên cần làm việc và tiết kiệm, ông đã trở nên một điền chủ giàu có. Lúc cuối đời, tuổi già sức yếu, ông tính việc chia gia tài cho các con, ông muốn biết đứa con nào thông minh nhất để giao phó phần lớn gia tài của ông cho nó. Ong gọi cả ba người con tới bên giường bệnh, trao cho mỗi đứa năm đồng và bảo hãy đi mua cái gì có thể lấp đầy căn phòng trống trải và u tối của ông.

Ba người con vâng lời cha cầm tiền ra chợ. Người anh cả nghĩ rằng việc này quá dễ dàng, anh mua một bó rơm lớn đem về, người con thứ hai nghĩ kỹ hơn, anh mua những bao lông vịt rất đẹp mắt, người con út lo nghĩ: biết mua gì với năm đồng này để có thể lấp đầy căn phòng lớn của cha? Cuối cùng anh nghĩ ra, anh mua một cây nến và một bao diêm.

Ngày hôm sau, cả ba người con đều tụ họp trong phòng cha già. Người con cả mang rơm ra trải, nhưng phòng quá rộng, chỉ phủ được một góc, người con thứ đổ lông vịt ra, nhưng cũng chỉ phủ được một góc của căn phòng. Người cha tỏ vẻ thất vọng. Người con út từ từ rút trong túi ra một cây nến và một hộp diêm, thoáng một cái căn phòng đầy ánh sáng. Mọi người ngạc nhiên, người cha già rất sung sướng vì quà tặng của người con út, ông quyết định trao phần lớn ruộng đất và gia sản cho anh ta, vì ông thấy anh ta đủ thông minh để quản trị gia sản của mình và nhờ đấy cũng có thể giúp đỡ các người anh nữa.

Cuộc sống mỗi người chúng ta, cuộc sống những người chung quanh chúng ta, cuộc sống của xã hội chúng ta, có lẽ nhiều khi cũng giống như một căn phòng tối, chỉ cần một người nào đó thắp lên một tia sáng nhỏ là những người chung quanh sẽ cảm thấy ấm áp và phấn khởi hơn: một tia sáng nhỏ của cái mỉm cười, một tia sáng nhỏ của lời chào hỏi thăm nom, một tia sáng nhỏ của tình yêu san sẻ, một tia sáng nhỏ của cảm thông, tha thứ, một tia sáng nhỏ của niềm tin giải tỏa qua sự hân hoan chấp nhận cuộc đời.

Chúng ta hãy tạ ơn Chúa đã cho chúng ta nhận được tình yêu của Chúa. Xin cho cả cuộc sống chúng ta trở thành chứng tích của tình yêu Chúa đối với mọi người. Xin cho tất cả những ai gặp gỡ chúng ta đều có thể nhận ra được tình yêu của Chúa.

Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Chia sẽ bài viết này trên:

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Từ thuở hồng hoang, Tin Mừng đã đến: Lời Ngài tạo tác đất trời (Tv 32). Người đi gieo Tin Mừng đầu tiên chính là Thiên Chúa Tạo Thành Vũ Trụ.

Bỗng, một tin buồn bao trùm cả vũ trụ: tin buồn từ bản án đầu tiên trong nhân loại- con người phải đau khổ và phải chết ngàn thu.

Tin buồn ấy, khởi đi từ việc tình thương của Thiên Chúa bị chính tạo-vật-được-ơn-tự-do phủ nhận cách công khai qua việc bất tuân đối với chính Đấng Sinh Thành.

Con người lầm lũi vào cuộc đời đầy bất hạnh. Khi chưa kịp bất hạnh vì sự chết, thì con người đã bất hạnh vì thiếu tình thương và giàu lòng kiêu ngạo hơn người, nảy sinh tính ích kỷ ganh tỵ

Thấy Abêlê được lòng Thiên Chúa, Cain bỗng ganh tỵ đến tột cùng và không ngần ngại giết chết em mình cách thê thảm

Triệu triệu năm trần gian đã qua đi, mà lòng kiêu ngạo của thưở ban đầu vẫn còn nguyên vẹn trong cái bản tính, cái cốt cách, cái văn phong của con người. Người người vẫn đang muốn làm Cain đòi hơn kẻ khác trong mọi việc, người người đang muốn tự phong tặng cho mình vào chỗ nhất mà không cần biết chỗ nhất ấy có đẹp lòng Thiên Chúa hay không, vì họ đã gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài đời sống.

Thật khủng khiếp cho cái hậu quả kiêu căng của tội tổ tông truyền: hận thù, ganh tỵ và mất bình an.

Trước toàn cảnh buồn thảm, bi đát ấy, Thiên Chúa gieo vào trần gian một Hạt Giống Tin Mừng. Hạt giống ấy là Chúa Giêsu Kitô, Người Tuyệt Đối Khiêm Nhường của Thiên Chúa, đến để mang lại cho trần gian niềm vui đích thực: niềm vui của lòng yêu thương, và yêu thương khiêm hạ đến quên mình để người khác được sống và sống bình an.

Hạt Giống Tin Mừng

Tiên tri Isaia đã nói trước về Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa: “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (Is 55, 10-11)

Hạt giống ấy được gieo âm thầm vào trần gian. Hạt giống của trời cao, bị đất thấp từ chối. Hạt giống của tin mừng bình an, bị tin buồn bất an trấn áp. Hạt giống chân lý bị bất công loại trừ. Hạt giống yêu thương bị oán thù tẩy chay ngạo mạn….

Thân phận Chúa Giêsu, thân phận hạt giống của Thiên Chúa, bị trầm đọa như thế, tưởng như là một thất bại ê chề của Thiên Chúa, nhưng không, đó lại là kế hoạch cứu rỗi của Chúa vì Hạt Giống đang “thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, và làm tròn sứ mạng Thiên Chúa ủy thác”: hư thối đi để nẩy mầm.

Chúa Giêsu, Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa, vốn dĩ là hạt giống khiêm nhường tự hạ, đã bằng lòng thối đi trong lòng đất để đâm chồi cây tin mừng và trổ sinh hoa trái bình an. Nhưng, điều quan trọng là lòng đất có bằng lòng đón nhận hạt giống tin mừng ấy không.

Đón nhận Hạt Giống Tin Mừng

Hãy khát khao đón nhận lời Chúa, như Thánh Phaolô nói: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. (Rm 8, 19)

Vì Chúa Giêsu tha thiết ước muốn chúng ta đón nhận Lời Ngài, là chính Ngài, cho Ngài được nẩy mầm và lớn lên trong chúng ta, để chúng ta được hoa trái vui mừng và bình an.

Thế nhưng, vì bản tính kiêu căng, và lòng nặng hướng về tội lỗi, nên thái độ đón nhận Tin Mừng cũng hờ hững như vệ đường, kiêu căng như sỏi đá, mối bận tâm thế gian và lòng ganh tỵ như gai góc um tùm đã làm cho Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa không thể mọc lên được. Chỉ có tâm hồn thành tâm khiêm nhượng mới là mảnh đất tốt cho Lời Chúa mọc lên và sinh hoa kết quả.

Như Chúa Giêsu giải thích: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận, nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 19-23)

Đáng tiếc thay cho tâm hồn còn đầy gai góc của lòng ganh tỵ, còn đầy sỏi đá của lòng kiêu căng, còn mãi dững dưng với ơn lộc Thiên Chúa, còn giữ nguyên căn cội của tội nguyên tổ đã bóp chết Hạt Giống Tin Mừng.

Hãy để cho lòng mến ngập tràn tâm hồn ta, lòng mến đơn sơ khiêm nhượng, lòng mến thật thà dũng cảm, lòng mến biết nhẫn nhịn thứ tha, lòng mến lịch sự tôn trọng nhau trong điều thiện hảo đẹp lòng Chúa, lòng mến biết khích lệ nhau ca tụng Chúa…. Lòng mến khiêm nhượng hãy tràn ắp tâm hồn, để Hạt Giống Lời Chúa nẩy mầm, sinh hoa kết quả.

Người đi gieo Hạt Giống Tin Mừng hôm nay.

Đã đến lúc mà mỗi tín hữu cần ý thức vai trò đi gieo trong cuộc sống đức tin của mình. Không chỉ là việc của các linh mục, tu sĩ, mà còn là việc khẩn thiết của giáo dân, những con người lăn lộn trong ruộng đời của Thiên Chúa. Họ không chỉ nghe Lời Chúa, mà còn phải đem ra thực hành, và cuộc sống đầy hoa trái bình an của họ, biến họ trở thành người đi gieo bình an Nước Chúa.

Vì thế, người đi gieo tin mừng phải là người sống Tin Mừng trước tiên. Chính cuộc sống Tin Mừng là lời giảng hùng hồn nhất, có sức biến đổi thế giới nầy thành một thế giới tràn ngập niềm vui.

Bởi vậy, thiết tưởng cũng nên đặt lại vấn đề rao giảng Lời Chúa mà mình đã sống, hơn là rao giảng Lời Chúa mà mình đã học, vì không có gì đáng trách cho bằng việc “nói một đường, làm một nẻo”!

Ước mong cho bạn, cho tôi, cho người đi gieo tin mừng hôm nay mặc lấy tấm lòng của người đi gieo tin mừng đầy khiêm nhượng, để Lời Chúa biến đổi cuộc đời nên lời chứng cho niềm vui và bình an nước Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho lòng con khiêm nhượng đón nhận Lời Ngài là ánh sáng, là sức sống là niềm vui bình an cho chúng con, để cuộc sống mỗi chúng con trở thành lời chứng hùng hồn cho niềm vui và bình an của Nước Thiên Chúa. Amen.

Suy niệm của PM. Cao Huy Hoàng

Chia sẽ bài viết này trên:

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Cách ly đang gây hoảng sợ. Văn hoá của chúng ta vốn đã quen với những lối giải trí tức thời không ngưng nghỉ thì viễn cảnh mỗi người phải tự cách ly lại càng gây thêm hoang mang. Chúng ta phải đương đầu làm sao?

 Tôi gặp lại chính mình khi nghĩ đến Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận. Tôi đã từng gặp ngài khi ngài còn ở Roma trong những ngày vàng son. Ngài nhận chức Giám mục Nha Trang, Việt Nam, năm 1967 và được bổ nhiệm làm Giám mục Phó Sài Gòn năm 1975 ngay trước những ngày Sài Gòn rơi vào tay quân đội Bắc Việt. Tháng tám năm đó, dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời, ngài bị bắt và trải qua mười ba năm sau đó trong tù. Vào ngày được thả, ngài vẫn bị quản thúc tại nhà cho đến ngày bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1991. Có đến chín năm trong thời gian mười ba năm tù đày, ngài bị biệt giam. Chúng ta học được gì nơi ngài?

 Rời Việt Nam, Hồng Y Thuận đến Roma. Năm 1998, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặt ngài làm Chủ Tịch Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình và vào năm 2000, Đức Thánh Cha mời ngài hướng dẫn tuần linh thao cho giáo triều Roma vốn được tổ chức mỗi năm vào đầu Mùa Chay. Đức Gioan Phaolô II yêu cầu ngài trình bày những trải nghiệm riêng tư của những năm biệt giam. Những bài nói chuyện của ngài sau đó được phổ biến như những Chứng Từ của Niềm Hy Vọng.

 Đức Hồng Y đã mô tả những hoàn cảnh bị giam giữ. Ngài ở trong một xà lim không có cửa sổ và trong nhiều ngày nhiều đêm đèn điện không bao giờ tắt; và sau đó, nhiều đêm nhiều ngày ngài lại bị vùi chôn vào bóng tối hoàn toàn. Ngài cảm nhận như thể “đang ngạt thở vì cái nóng và độ ẩm đến phát điên”. Ngài cảm thấy khủng hoảng vì không thể chu toàn sứ vụ linh mục của mình.

 Và rồi, vào một đêm, từ sâu thẳm lòng mình, ngài nghe một tiếng nói, “Tại sao con phải dằn vặt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và công việc của Người”. Ngài chợt nhận ra rằng, sứ vụ của ngài là tốt nhưng sứ vụ của ngài đã không là Thiên Chúa mà là công việc của Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa có thể làm điều này điều kia tốt hơn ngài làm rất nhiều, vì thế, ngài phải chọn Thiên Chúa, không phải công việc của Người và chỉ chọn một mình Người.

 Trải nghiệm của Hồng Y Phanxicô Xavier, dẫu quá khắc nghiệt như hoàn cảnh của nó, có thể giúp chúng ta suy nghĩ về các ưu tiên của mình trong thời gian dịch bệnh Corona. Đây cũng là một khủng hoảng cá nhân đối với nhiều người trong chúng ta cũng như đối với tình trạng khẩn cấp về sức khoẻ và các biến động xã hội cũng như chính trị. Một bài học nhớ mãi đối với Hồng Y Phanxicô Xavier là ngài ý thức sâu sắc về giá trị của giây phút hiện tại. Ngài viết, “Đây là thời khắc duy nhất chúng ta đang có trong tay, quá khứ đã qua và chúng ta không biết liệu có một tương lai hay không. Giây phút hiện tại là kho tàng lớn lao của mỗi người”. Khi chúng ta chấp nhận cuộc sống giãn cách xã hội liệu chúng ta có quá để tâm đến quá khứ hoặc quá bứt rứt về tương lai? Hoặc là chúng ta có khả năng nhìn thời gian hiện tại, dẫu có thể đang khó khăn, như một quà tặng?

 Việc sống giây phút hiện tại, trong thinh lặng và giãn cách xã hội không làm cho mọi sự nên dễ dàng. Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier giải thích, “Thời gian trôi chậm trong nhà tù, đó là điều đáng nói nhất của việc cách ly. Hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng và nhiều hơn nữa… trong thinh lặng”. Chúng dài một cách kinh khủng và khi đã trở thành nhiều năm, chúng là vô tận”. Dẫu chúng ta không nghĩ một điều gì đó khốc liệt hơn sẽ xảy ra nhưng những tuần sau đó, những tháng sau đó vẫn rất nghiệt ngã. Hồng Y Phanxicô Xavier thừa nhận rằng, trong cuộc đời ngài, có những giai đoạn mà ngài cảm thấy hết sức đau khổ khi thấy mình không thể cầu nguyện, “Tôi trải nghiệm sâu sắc sự yếu hèn thể xác và tinh thần của mình”. Nhiều lần ngài viết, ngài đã kêu lên như Chúa Giêsu đã kêu lên trên thập giá, “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con”. Mỗi lần như thế, ngài thêm, “Vậy mà, con biết Chúa không bỏ con”. Dẫu thế, những thời khắc này có thể vẫn rất khó khăn cho chúng ta và một đôi khi cũng thật khó để xác tín rằng, đức tin bảo đảm cho chúng ta, chúng ta không bao giờ bị bỏ rơi.

 Trong khi hoạ lại trải nghiệm của mình về sự cách ly, Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ để mình bị cuốn hút vào đó. Đơn giản, cách ly không bao giờ là tất cả đối với ngài. Trên hết, Ngài giữ cho tinh thần mình phấn chấn bằng một cảm thức mình là thành viên của Hội Thánh mà ngài thể hiện theo một cách thức khiến người khác ngạc nhiên. Ngài kể, khi còn bị cách ly ở Hà Nội, một nữ công an mang đến cho ngài một con cá để làm thức ăn, con cá được gói với hai trang nhật báo Vatican, L’Osservatore Romano, vốn theo sự thường là bị tịch thu. Ngài giấu nỗi vui khi nhìn thấy nó; sau đó, một mình, ngài rửa sạch, hong khô tờ báo và cất lấy nó, ngài coi nó như một vật thánh. Ngài giải thích, “Với tôi, trong một chế độ cách ly ngặt nghèo không khoan nhượng đó, những trang này là một dấu chỉ của sự hiệp thông với Roma, với thánh Phêrô, với Giáo Hội và một cái ôm hôn từ toà thánh”. Ngài thêm, “Hẳn tôi đã không thể sống sót nếu không nhận thức mình là một thành phần của Hội Thánh”.

 Thế nhưng, cảm thức về cộng đoàn của Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ chỉ hẹp hòi trong phạm vi Giáo Hội. Giới răn yêu thương là nền tảng cho cuộc sống của ngài. Không ai bị loại ra ngoài; cách riêng, không phải là những người canh gác ngài. Các nhà chức trách thường xuyên thay đổi những người canh gác ngài vì sợ rằng, đặt họ ở đó, họ sẽ bị “lây nhiễm” bởi ngài. Sau đó họ ngưng đổi người, vì sợ ngài sẽ làm lây nhiễm tất cả. Ngày kia, một trong những người canh gác ngài hỏi, “Ông có yêu thương chúng tôi không?”, ngài trả lời, “Có, tôi yêu các ông”. Người ấy không tin, “Nhưng chúng tôi bỏ tù ông nhiều năm, không một phiên toà, không một bản án và ông vẫn yêu thương chúng tôi? Không thể có điều đó”. Hồng Y Phanxicô Xavier nói với người canh gác mình rằng, “Tôi ở với các ông đã nhiều năm, ông thấy đó là sự thật”. Người ấy nói với ngài, “Khi ông được tự do, ông không phái giáo dân tới đốt nhà chúng tôi và giết gia đình chúng tôi chứ?”; “Không! Ngay cả nếu các ông muốn giết tôi, tôi vẫn yêu thương các ông”; “Nhưng tại sao?”; “Bởi vì Chúa Giêsu dạy tôi yêu thương mọi người, yêu thương ngay cả những kẻ thù của tôi. Nếu tôi không yêu thương, tôi không đáng được gọi là người công giáo”. Đó là một chuyện kể phi thường nhắc cho chúng ta rằng, giới răn yêu thương tha nhân của Chúa Giêsu một đôi khi lên tiếng mạnh mẽ nhất vào những thời điểm khi người ta cần đến nó nhất. Một nét đặc trưng cho hoàn cảnh của chúng ta là chăm sóc, cách ly hay không cách ly, chúng ta cũng phải chăm sóc nhau.

 Chuyện kể cuối cùng là khi Hồng Y Phanxicô Xavier còn là sinh viên ở Roma, ngài viếng Lộ Đức. Tại hang đá, ngài suy nghĩ về lời Đức Mẹ nói với Bernadette, “Mẹ không hứa cho con niềm vui và những ủi an trên cuộc đời này, nhưng là thử thách và khổ đau”. Ngài tự hỏi với thoáng chút sợ hãi rằng, liệu những lời này cũng nói với mình chăng. Nhiều năm êm ả dần trôi, từ một Giáo sư chủng viện đến Giám đốc, rồi Tổng đại diện và Giám mục sau đó, thì ngài nghĩ rằng, những lời đó chẳng dính dáng chút nào đến mình. Thế nhưng, đến năm 1975 và với năm đó, “Tôi bị bắt vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời với tù đày, cách ly; bấy giờ tôi mới hiểu, Đức Mẹ đã chuẩn bị cho tôi điều này từ năm 1957”.

 Trải nghiệm của chúng ta vào những tuần những tháng sắp tới vốn sẽ không khắc nghiệt như trải nghiệm của Đức Hồng Y Phanxicô Xavier, chúng ta tin như thế; nhưng nó cũng trao tặng chúng ta một cơ hội. Đức Hồng Y nói, “Khi tôi trải qua những giờ phút đau khổ cùng cực về thể xác và tinh thần, tôi nghĩ đến Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Với con mắt thế gian, cuộc đời của Ngài là một thất đoạt, thất vọng và thất bại…; vậy mà với cái nhìn của Thiên Chúa, đó là một thời khắc quan trọng nhất trong cuộc đời của Ngài, bởi đó cũng chính là lúc Ngài đổ máu ra cho ơn cứu độ toàn thể nhân loại”.

Chúng ta đã sống những ngày đầu tiên của cuộc khủng hoảng này. Khắt nghiệt là điều có thể có nhưng phải chăng trong cái nhìn quan phòng thì một điều gì đó xảy ra đã rất trùng hợp với Mùa Chay năm nay? Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận tại Lộ Đức, chúng ta có cảnh tỉnh trước những bài học vốn có thể dạy cho mình một điều gì đó?

Rev. Fr. RODERICK STRANGE
—————————————————-

 Cha Roderick Strange là một giáo sư thần học của đại học St. Mary, Twickenham; ngài cũng là Viện Trưởng của Mater Ecclesiae College, một học viện giáo hoàng thuộc đại học St. Mary. Cuốn sách mới nhất của ngài là Newman: The Heart of Holiness, do Hodder & Stoughton xuất bản.

 Nguồn: https://www.thetablet.co.uk/features/2/17772/living-in-the-present-moment

 Người dịch: Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Chia sẽ bài viết này trên: