Month: Tháng Mười Một 2020

“Anh em phải canh chừng, phải tỉnh thức” – Chúa Nhật I Mùa Vọng năm B

“Anh em phải canh chừng, phải tỉnh thức”
Chúa Nhật I Mùa Vọng, năm B

(Mc 13, 33-37)

33 “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.

34 Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức.35 Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.36 Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ.

37 Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!”

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

Hôm nay Chúa Nhật I Mùa Vọng, lời đầu tiên của Đức Giê-su mà Giáo Hội muốn chúng ta lắng nghe, đó là lời mời gọi tỉnh thức:

Anh em phải canh chừng, phải tỉnh thức,
vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.

(c. 33)

Trong tuần cuối cùng của năm Phụng Vụ vừa qua, chúng ta đã được Giáo Hội cho nghe lời của Đức Giêsu về “thời ấy”, trong sách Tin Mừng theo thánh Luca. Thời ấy là “Ngày của Con Người” và những biến động phổ quát và triệt để trong thiên nhiên cũng như trong thế giới loài người sẽ xẩy ra trước khi Con Người đến.

Để giúp chúng ta sống “cái thời ấy” ngay hôm nay một cách bình an, bởi vì chúng ta tuyệt đối không biết khi nào, Đức Giê-su mời gọi chúng ta hãy “canh chừng” và “tỉnh thức”. Trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay, Người dùng một dụ ngôn nhỏ để giúp chúng ta hiểu và sống điều Ngài mời gọi chúng ta là “hãy canh chừng và tỉnh thức”. Dụ ngôn nhỏ nhưng chất chứa nhiều ý nghĩa, hay nói chính xác hơn, nhiều mặc khải.

  1. Canh thức

“Cũng như người kia trẩy đi phương xa”. Trong dụ ngôn các nén bạc, Đức Giêsu cũng dùng hình ảnh này: “Cũng như có một người kia sắp đi xa” (Mt 25, 14). Như thế, có thể nói Đức Giê-su rất thích dùng hình ảnh này để diễn tả tương quan của chúng ta với Ngài, tương quan thiết thân ngay trong thời gian vắng mặt, hay đúng hơn tương quan thiết thân ngang qua các dấu chỉ, nói lên ân huệ và sự hiện diện.

Và trong dụ ngôn của Đức Giêsu, dấu chỉ mà chủ nhà để lại cho các tôi tớ là quá nhiều: ông để nhà lại, ông trao quyền và ông trao việc. Dụ ngôn các nén bạc, tuy dài, nhưng chỉ nói đến nén bạc, nghĩa là “vốn liếng” của mỗi người; còn dụ ngôn hôm nay, tuy ngắn, nhưng lại nói lên gần như tất cả những gì Chúa ban cho chúng ta: căn nhà là tất cả những gì chúng ta có trong cuộc đời, quyền bính trên cuộc đời của chúng ta (ít nhất là tương đối, xét cho cùng, cũng gần như tuyệt đối), và trao sứ mạng: “ông chỉ định cho mỗi người mỗi việc”. Chúa cũng làm thế, và khi làm thế, Ngài trao ban chính lòng tin của Ngài cho chúng ta. Trên đời này, không ai tin chúng ta như Chúa tin chúng ta.

  1. Bóng tối sự dữ

Điều lạ lùng trong dụ ngôn là chỉ có người giữ cửa mới phải canh thức: “Và ông ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức”. Điều này cũng hợp lí, vì chẳng lẽ lại bắt tất cả mọi người trong nhà đêm nào cũng phải canh thức! Như ở trong Nhà Dòng, sẽ có những đêm, cả nhà canh thức, nhưng bình thường chỉ có một số Soeurs hay một số thầy canh thức thôi, để cho mọi người trong nhà ngủ yên!

Người giữ cửa được lệnh canh thức; Đức Giêsu dùng từ ngữ “canh thức”, để gộp lại hai từ ngữ mà Ngài đã dùng lúc đầu: “canh chừng và tỉnh thức”. Vì thế, canh thức có nghĩa là: hãy canh chừng, và để canh chừng thì phải tỉnh thức. Trong dụ ngôn, nhiệm vụ canh thức được giao cho người giữ cửa, nhưng Đức Giêsu lại muốn áp dụng cho tất cả mọi người chúng ta: “Vậy anh em phải canh thức”. Và Chúa đặc biệt mời gọi chúng ta, mọi người Ki-tô hữu và nhất là những người sống đời sống dâng hiến: “Anh chị em hãy canh thức như người giữ cửa”. Và sứ mạng canh thức chỉ diễn ra khi trời bắt đầu tối và hãy còn tối mà thôi, như chính Chúa nói:

Vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến:
lúc chập tối, nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.

(c. 35)

Điều gây cho chúng ta khó khăn, đó là thời gian mà Đức Giêsu nêu ra, lại là thời gian chúng ta ngủ hằng ngày: chập tối, nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng; hay ít nhất là chúng ta ngủ phần lớn thời gian từ chập tối cho đến tảng sáng! Vì thế, chúng ta được mời gọi hiểu sứ mạng canh thức không phải ở bình diện tự nhiên (nghĩa là trong thời gian có bóng tối). Vì đêm nào cũng canh thức, chúng ta sẽ chết sớm! sứ mạng canh thức mà Đức Giêsu mời gọi, phải được hiểu ở bình diện thiêng liêng, nghĩa là canh thức trong thời gian có bóng tối của sự dữ. Và, như chúng ta đều có kinh nghiệm, bóng tối của sự dữ có thể ập đến với chúng ta, với cộng đoàn chúng ta, với thế giới chúng ta đang sống, bất cứ khi nào, ngày cũng như đêm.

  1. Mùa Vọng

Lời của Đức Giêsu mời gọi các môn đệ: “Hãy coi chừng, hãy ở trong tình trạng tỉnh thức”, lời này trong bối cảnh của Tin Mừng, chuẩn bị các môn đệ bước vào cuộc Thương Khó. Thương khó là giờ của bóng tối, của sự dữ; nhưng đồng thời cũng là giờ của ánh sáng, giờ của sự thiện.

Thời đại chúng ta đang sống cũng có nhiều dấu chỉ nói về giờ của bóng tối: núi lửa hoạt động, những đợt sóng thần, những cơn động đất, nước từ trời trút xuống, nước từ sông biển dâng lên, gió bão hung hãn… Những gì xẩy ra trong thiên nhiên hoàn toàn khớp với những gì con người đang làm cho con người: đó là khủng bố, đó là bạo động, đó là giết hại mầm sống và chính sự sống nhân linh từ trong giai đoạn hình thành kì diệu nhất, tham lam, gian dối, đó là làm thiệt hại và hãm hại người khác, đó là dò xét và lên án, đó là cấm cản giam hãm, đó là áp đặt bằng quyền bính bất chấp ngôi vị, đó là nghi ngờ, không tin tưởng và thiếu tôn trọng người khác. Xét cho cùng, như ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, những thái độ và cách hành xử như thế, cho dù là nhân danh sự sống, nhân danh lợi ích của tập thể, nhưng thực ra là phá hủy sự sống một cách nghiệm trọng nhất, bởi lẽ đó là cách hành xử của chính Sự Dữ.

Chúng ta bước vào Mùa Vọng kể từ hôm nay. Mùa vọng, khởi đi từ hồng ân lớn lao Chúa đã đến, và hướng chúng ta đến biến cố Chúa chắc chắn sẽ đến. Trong thời gian chờ đợi, tất yếu chúng ta sẽ phải đối diện với bóng tối, không chỉ là bóng tối của thiên nhiên, nhưng nhất là bóng tối của sự dữ.

Chúng ta được Đức Giêsu mời gọi: “Hãy canh chừng và tỉnh thức”. Và cách canh chừng và tỉnh thức tốt nhất là sống tâm tình mà Thánh Phao-lô chia sẻ ngay từ những lời đầu tiên trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corintô, đó là không ngừng cảm tạ Thiên Chúa, là Cha chúng ta, vì ân huệ Người đã ban cho chúng ta nơi Đức Giêsu Ki-tô, nhất là nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh:

Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su. Quả vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người.

(1Cr 1, 45)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

“Phải Tỉnh Thức” – CN I MÙA VỌNG B

“Phải Tỉnh Thức”
CN I MÙA VỌNG B

Trong quyển “The legend of the Bells”, John Shea kể rằng:Sau khi tạo dựng các giống cây, Thiên Chúa muốn ban một món quà cho mỗi giống. Nhưng trước đó Ngài muốn làm một cuộc thử nghiệm để xem cây nào xứng đáng nhận món quà nào. Ngài bảo “Ta muốn các ngươi luôn tỉnh thức suốt 7 đêm”.

Những cây trẻ rất nôn nao nhận quà nên thức suốt đêm chẳng có gì khó khăn. Tuy nhiên sang đêm thứ hai thì điều ấy không còn dễ nữa. Hoàng hôn vừa buông xuống là một số cây đã ngủ thiếp đi. Đêm thứ ba, số cây ngủ tăng thêm. Và cứ thế. Qua khỏi đêm thứ bảy thì chỉ còn một số cây còn thức, đó là cây tuyết tùng, cây thông, cây vân sam, cây linh sam, cây nhựa ruồi và cây nguyệt quế.

Thiên Chúa rất vui lòng với những cây này. Ngài phán : “Các ngươi đã kiên trì một cách rất đáng khen. Ta ban cho các ngươi món quà đặc biệt là được xanh tươi mãi mãi. Các ngươi sẽ là những cây bảo vệ cho cả khu rừng. Ngay cả khi giá lạnh mùa đông làm cho những cây khác phải chết thì các ngươi và con cháu các ngươi vẫn sống và mãi mãi xanh tươi”. Từ đó trở đi, người ta gọi những cây ấy là những cây trường xuân.

Kitô hữu phải là những cây trường xuân giữa khu rừng nhân loại. Thế giới chung quanh có thể ngủ vùi hoặc dần dà khô héo, nhưng kitô hữu vẫn tỉnh táo, vẫn thức, vẫn mọc lên những chồi xanh tốt bằng cuộc sống chứng nhân của mình. Nói cách khác, kitô hữu vẫn yêu thương giữa một thế giới hận thù, vẫn sống hòa thuận giữa một thế giới đấu tranh, vẫn giữ vững tâm hồn chính trực giữa một thế giới dối gian, vẫn hy vọng giữa một thế giới tuyệt vọng, vẫn tỏa ánh sáng rạng ngời giữa một thế giới tối tăm.Nói một cách khác nữa, họ là những người thợ, những giáo viên, những y sĩ, những cha mẹ, những con cái … lúc nào cũng tận tuỵ chu toàn trách nhiệm của mình. Họ chính là những cây trường xuân.(FM)

Bài Phúc Âm (Mc13,33-37) Chúa nhật I Mùa Vọng chỉ có 5 câu mà đã có tới 4 lần dùng cụm từ “phải tỉnh thức”. Mở đầu là lời kêu gọi “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức!”. Kết thúc cũng là lời kêu gọi: “Thầy nói với anh em đây và với mọi người là phải tỉnh thức!”. Giữa hai lời kêu gọi đó, là một dụ ngôn ngắn kể chuyện: người kia sắp đi xa, ông để nhà lại cho đầy tớ trông coi, chỉ định cho mỗi người một việc và dạy phải tỉnh thức, vì không biết chủ về lúc nào. Sẽ không may mắn cho người đầy tớ nào, khi chủ bất thần trở về, bắt gặp còn đang ngủ mê.

Chúa Giêsu dạy phải tỉnh thức giống như người canh cửa, sẵn sàng đón tiếp khi Chúa đến thăm.Có hai trường hợp có thể nói là Chúa đến bất ngờ. Đó là cái chết đến bất ngờ, và Chúa đến viếng thăm qua cuộc sống thường ngày.Cái chết đến bất ngờ thì họa hiếm và chỉ một lần trong đời. Còn hằng ngày, Chúa đến với ta nhiều lần qua tha nhân, qua những người bất hạnh, những người cần được giúp đỡ, những người cần tình thương, những kẻ bé mọn, qua những biến cố cuộc sống. Không bao giờ được quên ngày Chúa đến trong thời gian kết thúc của thế giới và đến trong ngày cuối cùng của đời ta. Tích cực dùng thời gian hiện tại để chuẩn bị cho tương lai vĩnh cửu của mình. Tỉnh thức như người đầy tớ đợi chủ đi xa không biết về lúc nào. Thái độ tỉnh thức là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn”. Luôn sẵn sàng để khi chủ về thì mở cửa và ân cần phục vụ. Như thế, tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhẹn.

Tỉnh thức để “đợi chủ về”. Người Kitô hữu chờ đợi Chúa đến trong vinh quang ngày quang lâm và chờ đợi Chúa đến trong giờ sau hết đời mình. Vì thế, người Kitô hữu sống cuộc đời hiện tại một cách rất nghiêm chỉnh, họ cố gắng làm phận sự ở đời thật tích cực vì biết rằng đó là Thánh ý của Chúa và vì biết rằng hạnh phúc đời đời của mình đang được chuẩn bị ngay từ bây giờ.

Thánh Phaolô nhắc nhớ: “Anh em hãy tỉnh thức và hãy cầu nguyện luôn!. .. hãy đề phòng, đừng để cho lòng trí mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em“. Ngài còn khuyên: “những ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cor 10,12).

Tỉnh thức không “chè chén say sưa”, là đừng quá đam mê những hưởng thụ đời này. Tỉnh thức không “lo lắng sự đời”, là không quá mê say danh, lợi, thú. Luôn tỉnh thức như khi đang lái xe, luôn nhìn trước ngó sau, tay ga vững vàng, chân thắng sẵn sàng, đi đường an toàn.Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng. Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Tỉnh thức để không đánh mất phẩm chất cao đẹp của mình.

Bài giáo lý về sách Công vụ Tông đồ trong buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô, sáng thứ tư, 04/12/2019, ĐTC Phanxicô dạy: người mục tử phải tỉnh thức, cha xứ phải tỉnh thức, chăm lo, các Linh mục phải tỉnh thức, Giám mục hay Giáo hoàng cũng vậy. Hãy tỉnh thức để bảo vệ đoàn chiên và chăm lo cho bản thân, hãy tự vấn lương tâm và nhìn xem nhiệm vụ chăm sóc này phải được thực hiện thế nào. Thánh Phaolô nói: “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình” (Cv 20,28).

Tỉnh thức để nhận ra mưu mô của ma quỷ, tỉnh thức trước những lôi cuốn của thế gian, tỉnh thức trước những yếu đuối của con người xác thịt.Chúng ta đang sống trong một xã hội có quá nhiều cám dỗ. Một xã hội đầy dẫy các tệ nạn, có nhiều lối sống buông thả. Đó là môi trường là cơ hội thuận tiện cho ma quỷ ẩn núp và tấn công. Cám dỗ ngày càng nhiều và ngày càng tinh vi dưới muôn hình dáng vẻ. Vì thế, lời dặn dò của Chúa Giêsu ngày càng khẩn thiết: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Cơn cám dỗ độc hại nhất mà con người cần phải luôn tỉnh thức canh phòng và trường kỳ chiến đấu bằng mọi cách, chính là lòng ích kỷ, quan niệm sống hẹp hòi, thiển cận của chính mình, chỉ biết có mình mà quên kẻ khác, chỉ biết thu vén lợi ích cho riêng mình mà quên quyền lợi kẻ khác.

Tại các ngã ba ngã tư của đường phố đều có đèn đỏ đèn xanh rõ ràng, nhắc hướng cần đi vào và cấm vượt ranh giới. Trong lương tâm, chúng ta không thấy rõ hệ thống đèn đỏ đèn xanh. Mình phải tự phán đoán, chọn lựa và phân định. Không tỉnh thức là đôi khi mình tự cho phép mình vượt đèn đỏ vô hình, và cũng không đi theo hướng đèn xanh chỉ dẫn. Vài lần thấy quen. Rồi thấy xung quanh vô số người cũng làm như vậy. Thế là thành thói quen phạm lỗi trên hành trình cuộc đời.

Tỉnh thức là thái độ của một gia nhân trung thành. Tỉnh thức và đợi chờ với niềm hy vọng là chủ sẽ trở về.

Tỉnh thức là tâm trạng của một con người luôn bình an, thư thái. Thái độ sống này giúp người Kitô hữu luôn làm cho mọi công việc hàng ngày trở thành lời nguyện tạ ơn chân thành.

Người tỉnh thức là người luôn cố gắng và nhiệt thành, biết thực thi những gì là chân thật, ngay chính và đáng quý chuộng.

Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với số phận đời đời của con người. Mỗi giây phút qua đi là không bao giờ trở lại. Thời giờ Chúa cho ta sống ở trần gian là vô cùng quý báu, đây là lúc gieo mầm cho đời vĩnh cửu.

Ngày Chúa đến sẽ khủng khiếp hoặc vui mừng là tùy cách sống hiện tại của mỗi người. Mọi hành động, mọi tư tưởng đều được phơi bày ra trước ánh sáng của công lý, không ai có thể che dấu một chi tiết nào.

Ngày Chúa đến trong vinh quang để xét xử muôn dân sẽ là ngày cứu độ cho những ai tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng, nhưng sẽ là ngày kinh hoàng cho những ai đang mê ngủ trong đam mê tội lỗi.

Để tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta cần sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và ánh sáng soi dẫn của Lời Chúa.

Sau khi chịu phép Rửa Tội để trở nên một Kitô hữu, chúng ta dấn thân vào đời với nhiều thử thách của niềm tin, phải chịu nhiều cám dỗ của phận người lữ thứ. Nếu chúng ta tin rằng “Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3,6) thì hãy vững tâm và tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ngài sẽ không bao giờ xa rời chúng ta đâu! Điều quan trọng là chúng ta có thành tâm để cầu xin và nhờ cậy Ngài, hay là không thôi!

Hãy tin tưởng và trông cậy vào Chúa Thánh Thần. Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần luôn trao ban cho người: ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn nhận thức, ơn chỉ bảo, ơn dũng mạnh, ơn thánh thiện và ơn kính sợ Thiên Chúa. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa Thánh Thần và hăng hái cộng tác với chương trình của Ngài, nhờ đó “Hoa trái của Thần Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23) sẽ tràn đầy trong tâm hồn và đời sống của chúng ta.

Việc gặp gỡ Chúa Thánh Thần rất dễ dàng. Chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Chúa Thánh Thần sẽ mở tung cánh cửa ích kỷ. Ngài sẽ phá tan cánh cửa hẹp hòi. Ngài sẽ ban thêm sức mạnh. Ngài sẽ quét sạch mọi lớp bụi bặm rêu phong. Ngài sẽ đổ tràn vào hồn chúng ta nguồn sống mới giúp chúng ta chiến thắng mọi cám dỗ và hăng hái lên đường.

Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu bên Nhà Tạm, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa. Amen

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Mùa Vọng, đôi nét nên biết

Mùa Vọng, đôi nét nên biết

Cũng giống như Mẹ Maria, chúng ta dành mùa Vọng như một khoảng thời gian dừng lại, phản tỉnh và chuẩn bị đón nhận món quà Tình yêu của Thiên Chúa đến với chúng ta qua Hài nhi Giêsu.

Lịch sử về Mùa Vọng

Không có một nguồn gốc lịch sử chắc chắn về Mùa Vọng; vào thời điểm trước cuối thể kỷ thứ IV, không có bằng chứng nào tồn tại xung quanh dịp lễ mừng Thiên Chúa hạ sinh cả.

Một số bài giảng và công đồng đã diễn ra có đề cập tới một thời gian phụng vụ cụ thể trước Giáng Sinh, nhưng không hề đưa ra một quy luật nào cho tới khi một lưu ý trong những phần Thánh Lễ xuất hiện trong thời đại của Đức Thánh Giáo Hoàng Grêgêriô VII từ năm 1073-1085.

Giống như mùa Chay, thời của ăn chay và hy sinh, Giáo hội thời sơ khai đã thúc giục các tín hữu dành thời gian này để dọn lòng mình chờ đón Đức Kitô. Những thực hành của họ nhắc nhớ rằng, chúng ta cũng được mời gọi để chú tâm tới sứ điệp hoán cải và thời cánh chung. Điều này dường như ngược lại với những cung cách phung phí trong việc ăn uống, mua sắm, tổ chức tiệc tùng hay vui vẻ khi Giáng sinh đến gần!

Những truyền thống trong mùa Vọng

Bốn tuần mùa Vọng được xem như biểu tượng hoá của bốn ngàn năm bóng tối trước khi Đức Kitô đến. Chúng ta bài trí khung cảnh giáng sinh, những cây nến sáng, và trang trí vòng hoa mùa Vọng trong nhà để biểu thị sự hiện diện của Đức Kitô đang đến trong bóng tối của tội lỗi và đau khổ. Bốn cây nến tô điểm cho một vòng hoa mùa Vọng, mỗi tuần một cây. Cây thứ năm đôi khi được đặt ở trung tâm dành cho việc khởi đầu của mùa Giáng Sinh.

Các màu sắc của mùa Vọng được mặc bởi các phó tế và linh mục, và được trang trí cho nhà thờ. Chúng tượng trưng cho những cây nến vốn đặt xung quanh vòng hoa mùa Vọng:

Màu tím: màu của trung thành, sám hối và ăn chay (tuần thứ nhất, thứ hai và thứ tư mùa Vọng).

Màu hồng: màu của niềm vui đầy tràn (tuần thứ 3 mùa Vọng, thường được biết tới như Chúa nhật Gaudete – tức là niềm vui trong tiếng Latin)

Màu Trắng: ánh sáng và sự tinh tuyền (cây nến Đức Kitô, cây nến trung tâm làm mùa Vọng tròn đầy và khởi đầu mùa Giáng Sinh).

Kinh Thánh và các giờ kinh trong mùa Vọng

Có ba chủ đề chủ đạo trong suốt mùa Vọng khi chúng ta kiên trì chờ đợi Đức Kitô đang đến: chúng ta mong chờ Đấng Messiah, được mời gọi tỉnh thức cho việc đến lần thứ hai của Đức Giêsu, và suy niệm về sự hiện diện của Đức Kitô trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Các bài đọc Kinh thánh cho bốn tuần mùa Vọng và các giờ kinh Phụng vụ xoay quanh hai chủ đề đầu. Các bài đọc khuyến khích sự chuẩn bị thích hợp, hướng về ân sủng và sự khiêm hạ của Đức Maria, cho chúng ta thấy phải yêu mến Thiên Chúa nơi cuộc nhập thể như thế nào và nhận ra vinh quang của Đức Giêsu, cách thức mà ngài giải thoát chúng ta ra khỏi tội lỗi và sự vô ơn. Chúng ta lắng nghe tiên tri Isaiah và để cho sứ điệp thúc giục của thánh Gioan Tẩy giả trong các Tin Mừng lôi cuốn.

Cần lưu tâm đến việc chúng ta có thể lớn lên như thế nào về đàng thiêng liêng trong suốt mùa mà chúng ta có thể bận rộn với việc mua bán này. Hãy dành thời gian thinh lặng và phản tỉnh mỗi ngày với Kinh Thánh, một giờ cầu nguyện sốt sắng hay với một vị thánh trong mùa Vọng. Hãy dừng lại và chiêm ngắm khung cảnh Giáng sinh. Điều gì giống với khung cảnh ấy để hình dung về cuộc hành trình của Đức Maria và thánh Giuse và để ở lại khung cảnh ấy như hài nhi Giêsu đi vào thế giới? thánh Inhã đã có một lòng sùng kính sâu xa khi ở trong khung cảnh Giáng Sinh, như chúng ta thấy trong Linh Thao. Suy xét việc cầu nguyện với các vị thánh giống như ngài, với các giờ kinh Phụng vụ, hay với bài thánh ca tuần cuối trước Giáng Sinh. Một hành trình cầu nguyện với Thánh Gia thất và Giáo hội trong suốt mùa Vọng sẽ đưa tới những món quà của sự biết ơn và niềm vui khi chúng ta bước vào mùa Giáng Sinh.

Chuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.
(dongten.net / loyolapress.com

Chia sẽ bài viết này trên:

VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU – LỄ CHÚA KI-TÔ VUA

VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy nhiều sự thật quan trọng về kết cục của con người.

Sự thật thứ nhất là: thế giới này sẽ chấm dứt. Không có gì vĩnh cửu ở đời này. Mọi sự sẽ qua đi. Những gì được coi là bền vững lâu dài rồi cũng tan thành cát bụi. Của cải, tài năng, công danh cũng sẽ trở thành hư vô. Cả đến con người cũ cũng không còn. Sau cùng mọi người bằng nhau và phải đến trước tòa Chúa để chịu phán xét.

Sự thật thứ hai là: mọi người sẽ bị xét xử. Tất cả mọi người sẽ tụ tập lại. Tất cả mọi người sẽ phải trả lời về những gì mình đã làm trong cuộc đời. Cuộc xét xử sẽ diễn ra công khai. Những trách nhiệm liên đới sẽ được sáng tỏ. Những liên hệ thầm kín sẽ được phơi bày. Nếu trên trần gian ta phải chứng kiến bất công thì tại phiên xử cuối cùng này sẽ có công bằng tuyệt đối. Chẳng ai có thể mua chuộc vị quan tòa tối cao, quyền uy và công thẳng.

Sự thật thứ ba: sẽ có một vương quốc mới. Tuy nhiên kết thúc thế giới cũ không phải là chấm dứt tất cả. Chúa Giêsu tổng kết thế giới cũ để đưa nhân loại vào một thế giới mới. Thế giới không còn thời gian. Thế giới vĩnh cửu. Thế giới không còn đau khổ. Thế giới hạnh phúc tràn đầy. Vì Chúa sẽ thiết lập một vươn quốc mới: vương quốc tình yêu. Cuộc xét xử chính là một cuộc tuyển lựa những công dân cho vương quốc mới. Vì là vương quốc tình yêu nên chỉ những ai có tình yêu mới được vào. Luật lệ trong vương quốc mới chỉ có một luật duy nhất: luật tình yêu. Việc cai trị cũng chỉ theo một nguyên tắc duy nhất: tình yêu. Chúa Giêsu trở thành Vua Tình Yêu.

Sự thật thứ bốn: đời này là cơ hội duy nhất. Thế giới mới và vương quốc mới không phải bất ngờ mà có, nhưng được xây dựng ngay từ đời này. Đời này tuy chóng qua nhưng là cơ hội để ta xây dựng vương quốc mới. Những ai có lòng yêu thương anh em, đặc biệt những anh em nghèo khổ, bé mọn, sẽ được tuyển chọn vào Nước Trời. Đời này ngắn ngủi nhưng lại là cơ hội duy nhất. Hết đời này sẽ không còn cơ hội nữa. Sẽ đi đến chung cuộc. Vì thế ta phải vội vàng mau mắn thực hành giới luật yêu thương, kẻo không kịp.

Với dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho ta hết những bí mật của vận mạng thế giới. Và chỉ vẽ cho ta con đường để được nhận vào Nước Chúa: thực hành yêu thương bằng những việc làm cụ thể. Cho người đói ăn. Cho người khát uống. Cho người rách rưới ăn mặc. Thăm viếng người đau yếu và kẻ tù đầy. Đây là những việc vừa tầm tay mọi người. Ai cũng có thể làm được. Ai cũng có điều kiện để làm.

Lạy Chúa Giêsu Vua Tình Yêu, xin cho con biết thực hành yêu thương, để được nhận vào Nước Chúa. Amen

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Chia sẽ bài viết này trên:

Danh sách Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Danh sách Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Trong lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, ước tính có đến hàng trăm ngàn người đã làm chứng đức tin Kitô Giáo, trong số đó có 118 Thánh Tử đạo, với 117 vị được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 và Á Thánh An-rê Phú Yên, phong Chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000.

  1. Anrê Trần An Dũng Lạc, Sinh năm 1795 tại Bắc Ninh, Linh mục, bị xử trảm ngày 21/12/1839 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/12.
  2. Anrê Nguyễn Kim Thông(Năm Thuông), Sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Ðịnh, Thầy giảng, chết rũ tù ngày 15/07/1855 tại Mỹ Tho dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 15/07.
  3. Anrê Trần Văn Trông , Sinh năm 1814 tại Kim Long, Huế, Binh Sĩ, bị xử trảm ngày 28/11/1835 tại An Hòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/11.
  4. Anrê Tường, Sinh tại Ngọc Cục, Xuân Trường, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  5. Antôn Nguyễn Đích,Sinh tại Chi Long, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
  6. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh(Năm) , Sinh năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình, Y sĩ, bị xử giảo ngày 10/07/1840 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, đước phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 10/07.
  7. Anê Lê Thị Thành(Ðệ), Sinh năm 1781 tại Bái Ðền, Thanh Hóa, Giáo dân, chết rũ tù ngày 12/07/1841 tại  Nam Ðịnh dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 12/07.
  8. Augustinô Schoefler(Ðông) , Sinh năm 1822 tại Mittelbonn, Nancy, Pháp, Linh Mục Thừa sai người Pháp, Hội Thừa Sai Paris, bị xử trảm ngày 1/05/1851 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/05.
  9. Augustinô Phan Viết Huy,Sinh năm 1795 tại Hạ Linh, Bùi Chu, Binh Sĩ, Giáo dân dòng ba, bị xử lăng trì ngày 12/06/1839 tại Thừa Thiên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/06.
  10. Augustinô Nguyễn Văn Mới, Sinh năm 1806 tại Phù Trang, Nam Ðịnh, Giáo dân, dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  11. Bênađô Vũ Văn Duệ,Sinh năm 1755 tại Quần Anh, Nam Ðịnh, Linh mục triều, bị xử trảm ngày 1/08/1838 tại Ba Tòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/08.
  12. Clêmentê Inhaxiô Y (Ignatius delgado), Sinh năm 1761 tại Villa Felice, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị chết rũ tù ngày 12/07/1838 (21/6/1838 (âm lịch) tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/07.
  13. Đaminh Cẩm, Sinh tại Cẩm Chương, Bắc Ninh, Linh mục, Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 11/03/1859 tại Hưng Yên dưới thời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 11/03.
  14. Đaminh Đinh Đạt, Sinh năm 1803 tại Phú Nhai, Bùi Chu, Binh Sĩ, Giáo dân dòng ba, bị xử giảo ngày 18/07/1839 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/07.
  15. Đaminh Nguyễn Văn Hạnh(Diệu), Sinh năm 1772 tại Năng A, Nghệ An, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 1/08/1838 tại Ba Tòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/08.
  16. Ðaminh Huyên, Sinh tại Ðông Thành, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 5/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/06.
  17. Đaminh Phạm Trọng Khảm, Sinh tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Quan Án, Giáo dân Dòng Ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
  18. Ðaminh Nguyễn Ðức Mạo, Sinh tại Phú Yên, Ngọc Cực, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  19. Ðaminh Hà Trọng Mậu, Sinh tại Phú Nhai, Bùi Chu, Linh mục Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5/11/1858 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/11.
  20. Ðaminh Nguyên, Sinh tại Ngọc Cục,Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  21. Ðaminh Nhi,Sinh tại Ngọc Cục, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  22. Ðaminh Ninh, Sinh năm 1835 tại Trung Linh, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 2/06/1862 tại An Triêm dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 2/06.
  23. Ðaminh Toại, Sinh tại Ðông Thành, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 5/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 5/06.
  24. Ðaminh Trạch(Ðoài), Sinh năm 1792 tại Ngoại Bồi, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 18/09/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/09.
  25. Ðaminh Vũ Đình Tước,Sinh năm 1775 tại Trung Lao, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị tra tấn đến chết ngày 2/04/1839 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 2/04.
  26. Đaminh Bùi Văn Úy, Sinh năm 1801 tai Tiên Môn, Thái Bình, Thầy giảng dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  27. Ðaminh Nguyễn Văn Xuyên(Ðoàn) , Sinh năm 1786 tại Hưng Lập, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 26/11/1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 26/11.
  28. Ðaminh Minh(Dominicus Henarès) , Sinh năm 1765 tại Baena, Cordova, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, phụ tá địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 25/06/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngàỵ 25/06.
  29. Emmanuel Lê Văn Phụng,Sinh năm 1796 tại Ðầu Nước, Cù Lao Giêng, Giáo dân, Trùm Họ, bị xử trảm ngày 31/07/1859 tại Châu Ðốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 31/07.
  30. Emmanuel Nguyễn Văn Triệu, Sinh năm 1756 tại Thợ Ðức, Phú Xuân, Huế, Linh mục, bị xử trảm ngày 17/09/1798 tại Bãi Dâu dưới đời vua Cảnh Thịnh, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 17/09.
  31. Giacôbê Đỗ Mai Năm, Sinh năm 1781 tại Ðông Biên, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
  32. Giêrônimô Liêm(Hieronymus Hermosilla) , Sinh năm 1800 tại S. Domingo de la Calzadar, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới thời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 1/11.
  33. Gioan Baotixita Cỏn,Sinh năm 1805 tại Kẻ Bàng, Nam Ðịnh, Giáo dân, Lý Trưởng, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dướiđời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
  34. Gioan Baotixita Đinh Văn Thành,Sinh năm 1796 tại Nộn Khê, Ninh Bình, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/04.
  35. Gioan Đạt,Sinh năm 1765 tại Ðồng Chuối, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 28/10/1798 tại Chợ Rạ dưới đời vua Cảnh Thịnh, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/10.
  36. Gioan Ðoàn Trịnh Hoan,Sinh năm 1798 tại Kim Long, Thừa Thiên, Linh mục, bị xử trảm ngày 26/05/1861 tại Ðồng Hới dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 26/05.
  37. Gioan Hương(Jean Louis Bonnard) , Sinh năm 1824 tại Saint Christo en Jarez, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/05/1852 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/05.
  38. Gioan Tân(Jean Charles Cornay), Sinh năm 1809 tại Loudun, Poitiers, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử lăng trì ngày 20/09/1837 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 20/09.
  39. Gioan Ven(Jean Théophane Vénard) , Sinh năm 1829 tại St. Loup-sur-Thouet, Poitiersm, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 2/02/1861 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 2/02.
  40. Gioan Du(Joseph Marchand) , Sinh năm 1803 tại Passavaut, Besancon, Pháp, Linh Mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Ngoài, bị xử hình bá đao ngày 30/11/1835 tại Thợ Ðúc dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 30/11.
  41. Gioan Đỗ Quang Hiển, Sinh năm 1796 tại Quần Anh, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 9/05/1840 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 9/05.
  42. Giuse Hoàng Lương Cảnh, Sinh năm 1763 tại Làng Ván, Bắc Giang, Giáo dân dòng ba Ða Minh, Trùm Họ, Y Sĩ, xử trảm ngày 5/09/1838 tại Bắc Ninh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 5/09.
  43. Giuse Hiền(Joseph Fernandez) , Sinh năm 1775 tại Ventosa de la Cueva, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 24/07/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/07.
  44. Giuse Maria Diaz Sanjurjo An, Sinh năm 1818 tại Santa Eulalia de Suegos, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, bị xử trảm ngày 20/07/1857 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1900 do Ðức Piô XII, lễ kính ngày 20/07.
  45. Giuse Melchor Xuyên(Garcia Sampedro), Sinh năm 18211 tại Cortes Asturias, Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, bị xử lăng trì ngày 28/07/1858 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951, do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 28/07.
  46. Giuse Nguyễn Duy Khang, Sinh năm 1832 tại Trà Vi, Nam Ðịnh, Thầy giảng dòng ba Ða Minh, bị xử trảm ngày 6/12/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/12.
  47. Giuse Nguyễn Văn Lựu, Sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long,Trùm họ, chết rũ tù ngày 2/05/1854 tại Vĩnh Long dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 2/05.
  48. Giuse Nguyễn Đình Nghi,Sinh năm 1793 tại Kẻ Với, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
  49. Đaminh Phạm Trọng Tả(Cai) , Sinh năm 1796 tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Giáo dân, Cai Tổng, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
  50. Giuse Lê Đăng Thị, Sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị, Giáo dân, Cai Ðội, bị xử giảo ngày 24/10/1860 tại An Hòa dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 24/10.
  51. Giuse Tuân, Sinh năm 1821 tại Trần Xá, Hưng Yên, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 30/04/1861 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 30/04.
  52. Giuse Trần Văn Tuấn, Sinh năm 1824 tại Nam Ðiền, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 7/01/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 7/06.
  53. Giuse Túc, Sinh năm 1853 tại Hoàng Xá, Bắc Ninh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 1/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 1/06.
  54. Giuse Nguyễn Đình Uyển, Sinh năm 1775 tại Ninh Cường, Nam Ðịnh, Thầy giảng, dòng ba Ða Minh, chết rũ tù ngày 4/7/1838 tại Hưng Yên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 4/07.
  55. Giuse Đặng Đình Viên, Sinh năm 1787 tại Tiên Chu, Hưng Yên, Linh mục triều, bị xử trảm ngày 21/8/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/08.
  56. Henricô Gia(Henricus Castaneda) , Sinh năm 1743 tại Javita, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 7/11/1773 tại Ðồng Mơ dưới đời Chúa Trịnh Sâm, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 7/11.
  57. Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng, Sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 27/04/1856 tại Ninh Bình dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 27/04.
  58. Lôrensô Ngôn,Sinh tại Lục Thủy, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 22/05/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 22/05.
  59. Luca Vũ Bá Loan, Sinh năm 1756 tại Trại Bút, Phú Ða, Linh mục, bị xử trảm ngày 5/06/1840 Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 5/06.
  60. Đaminh Phạm Viết Thìn(Cai) , Sinh năm 1819 tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Giáo dân, Cai Tổng, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
  61. Matthêu Nguyễn Văn Phượng(Ðắc) , Sinh năm 1808 tại Kẻ Lái, Quảng Bình, Trùm họ, bị xử trảm ngày 26/05/1861 tại Ðồng Hới dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 26/05.
  62. Matthêu Đậu(Matthaeus Alonso Leciniana) , Sinh năm 1702 tại Nava del Rey, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 22/01/1745 tại Thăng Long dưới đời chúa trịnh Doanh, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/01.
  63. Matthêu Lê Văn Gẫm, Sinh năm 1813 tai Gò Công, Biên Hòa, Giáo dân, Thương gia, bị xử trảm ngày 11/05/1847 tại Chợ Ðũi dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 11/05.
  64. Martinô Tạ Đức Thịnh, Sinh năm 1760 tại Kẻ Sặt, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
  65. Martinô Thọ, Sinh năm 1787 tại Kẻ Bàng, Nam Ðịnh, Giáo dân, Trùm họ, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
  66. Micae Hồ Ðình Hy, Sinh năm 1808 tại Như Lâm, Thừa Thiên, Giáo dân, Quan Thái Bộc, bị xử trảm ngày 22/05/1857 tại An Hòa dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/05.
  67. Micae Nguyễn Huy Mỹ, Sinh năm 1804 tại Kẻ Vĩnh, Hà Nội, Giáo dân, Lý Trưởng, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do ÐứcLêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
  68. Nicôla Bùi Đức Thể,Sinh năm 1792 tại Kiên Trung, Bùi Chu, Giáo dân, Binh sĩ, bị lăng trì ngày 12/06/1839 tại Thừa Thiên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Leô XIII, lễ kính vào ngày 12/06.
  69. Phanxicô Đỗ Văn Chiểu, Sinh năm 1797 tại Trung Lễ, Liên Thủy, Nam Ðịnh, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 25/06/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 26/06.
  70. Phanxicô Kính(Francois Isidore Gagelin), Sinh năm 1799 tại Montperreux, Besancon, Pháp, Linh mục Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Trong, bị xử giảo ngày 17/10/1833 tại Bãi Dâu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 17/10.
  71. Phanxicô Phan(Francois Jaccard) , Sinh năm 1799 tại Onnion, Annecy, Pháp, Linh mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Ðàng Trong, bị xử giảo ngày 21/09/1838 tại Nhan Biều dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/09.
  72. Phanxicô Tế(Francois Gil de Federich) , Sinh năm 1702 tại Tortosa, Catalunha, Tây Ban Nha, Linh mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 22/01/1745 tại Thăng Long dưới đời chúa Trịnh Doanh, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 22/01.
  73. Phanxicô Trần Văn Trung,Sinh năm 1825 tại Phan Xã, Quảng Trị, Giáo dân, Cai đội, bị xử trảm ngày 6/10/1858 tại An Hòa dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/10.
  74. Phanxicô Xaviê Cần, Sinh năm 1803 tại Sơn Miêng, Hà Ðông, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 20/11/1837 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 20/11.
  75. Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu, Sinh năm 1794 tại Kẻ Ðiều, Thầy giảng, dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cô Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  76. Phaolô Tống Viết Bường, Sinh tại Phủ Cam, Huế, Giáo dân, Quan Thị Vệ, bị xử trảm ngày 23/10/1833 tại Thợ Ðức dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 23/10.
  77. Phaolô Ðổng (Dương), Sinh năm 1802 tại Vực Ðường, Hưng Yên, Giáo dân, Trùm họ, bị xử trảm ngày 3/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 3/06.
  78. Phaolô Hạnh, Sinh năm 1827 tại Chợ Quán, Giáo dân, bị xử trảm ngày 28/05/1859 tại Nam Việt dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 28/05.
  79. Phaolô Phạm Khắc Khoan, Sinh năm 1771 tại Duyên Mậu, Ninh Bình, Linh mục, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/04.
  80. Phaolô Lê Văn Lộc, Sinh năm 1830 tại An Nhơn, Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 13/02/1859 tại Gia Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 13/02.
  81. Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Sinh năm 1798 tại Kẻ Non, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 18/12/1838 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/12.
  82. Phaolô Nguyễn Ngân, Sinh năm 1790 tại Kẻ Bền, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 8/11/1840 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 8/11.
  83. Phaolô Lê Bảo Tịnh, Sinh năm 1793 tại Trịnh Hà, Thanh Hóa, Linh mục, bị xử trảm ngày 6/04/1857 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 6/04.
  84. Phêrô Bắc(Pierre Francois Neron) , Sinh năm 1818 tại Bornay, Saint-Claude, Pháp, Linh mục Hội Thừa sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 3/11/1860 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 3/11.
  85. Phêrô Bình(Petrus Almato) , Sinh năm 1830 tại San Feliz Saserra, Tây Ban Nha, Linh mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 1/11.
  86. Phêrô Cao(Pierre Rose Dumoulin Borie) , Sinh năm 1808 tại Beynat, Tulle, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Tây Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/11.
  87. Phêrô Đinh Văn Dũng, Sinh năm 1800 tại Ðông Hào, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 6/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 6/06.
  88. Phêrô Đa, Sinh tại Ngọc Cục, Xuân Trường, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 17/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 17/06.
  89. Phaolô Nguyễn Văn Đường, Sinh năm 1808 tại Kẻ Sở, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 18/12/1838 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/12.
  90. Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, Sinh năm 1777 tại Ðồng Chuối, Ninh Bình, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 28/04/1840 tại Ninh Bình dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/04.
  91. Phêrô Hoàng Khanh, Sinh năm 1780 tại Hòa Duệ, Nghệ An, Linh mục, bị xử trảm ngày 12/07/1842 tại Hà Tĩnh dưới đời vua Thiệu Trị, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 12/07.
  92. Phêrô Võ Ðăng Khoa, Sinh năm 1790 tại Thượng Hải, Nghệ An, Linh mục, bị xử giảo ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/11.
  93. Phêrô Nguyễn Văn Lựu , Sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 7/04/1861 tại Mỹ Tho dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 7/04.
  94. Phêrô Ðoàn Công Quý, Sinh năm 1826 tại Búng, Gia Ðịnh, Linh mục, bị xử trảm ngày 31/07/1859 tại Châu Ðốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909, lễ kính vào ngày 31/07.
  95. Phêrô Đinh Văn Thuần, Sinh năm 1802 tại Ðông Phú, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 6/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 6/06.
  96. Phêrô Trương Văn Thi, Sinh năm 1763 tại Kẻ Sở, Hà Nội, Linh mục, bị xử trảm ngày 21/12/1839 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/12.
  97. Phêrô Vũ Văn Truật,Sinh năm 1817 tại Kẻ Thiếc, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 18/12/1838 tại Sơn Tây dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 18/12.
  98. Phêrô Nguyễn Bá Tuần, Sinh năm 1766 tại Ngọc Ðồng, Hưng Yên, Linh mục triều, bị chết rũ tù ngày 15/07/1838 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 15/07.
  99. Phêrô Lê Tùy, Sinh năm 1773 tại Bằng Sở, Hà Ðông, Linh mục, bị xử trảm ngày 11/10/1833 tại Quan Ban dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 11/10.
  100. Phêrô Nguyễn Khắc Tự, Sinh năm 1811 tại tại Ninh Bình, Thầy giảng, bị xử giảo ngày 10/07/1840 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 10/07.
  101. Phêrô Nguyễn Văn Tự, Sinh năm 1796 tại Ninh Cường, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5/09/1838 tại Bắc Ninh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 5/09.
  102. Phêrô Ðoàn Văn Vân, Sinh năm 1780 tại Kẻ Bói, Hà Nam, Thầy giảng, bị xử trảm ngày 25/05/1857 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 25/05.
  103. Philipphê Phan Văn Minh, Sinh năm 1815 tại Cái Mơn, Vĩnh Long, Linh mục, bị xử trảm ngày 3/07/1853 tại Ðình Khao dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 3/07.
  104. Simon Phan Ðắc Hòa, Sinh năm 1787 tại Mai Vĩnh, Thừa Thiên, Giáo dân, Y Sĩ, bị xử trảm ngày 12/12/1840 tại An Hòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/12.
  105. Stêphanô Théodore Cuénot Thể, Sinh năm 1802 tại Belieu, Besancon, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Ðông Ðàng Trong, chết rũ tù ngày 14/11/1861 tại Bình Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kínhvào ngày 14/11.
  106. Stêphanô Nguyễn Văn Vinh,Sinh năm 1814 tại Phù Trang, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 25/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  107. Tôma Ðinh Viết Dụ, Sinh năm 1783 tại Phú Nhai, Nam Ðịnh, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 26/11/1839 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 26/11.
  108. Tôma Nguyễn Văn Đệ, Sinh năm 1810 tại Bồ Trang, Nam Ðịnh, Giáo dân dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  109. Tôma Khuông, Sinh năm 1780 tại Nam Hào, Hưng Yên, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 30/01/1860 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 30/01.
  110. Tôma Trần Văn Thiện, Sinh năm 1820 tại Trung Quán, Quảng Bình, Chủng sinh, bị xử giảo ngày 21/09/1838 tại Nhan Biều dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/09.
  111. Tôma Toán, Sinh năm 1764 tại Cần Phan, Nam Ðịnh, Thầy giảng, dòng ba Ða Minh, bị chết rũ tù ngày 27/07/1840 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 27/06.
  112. Valentinô Berrio-Ochoa Vinh, Sinh năm 1827 tại Elorrio (Vizcaya), Tây Ban Nha, dòng Ða Minh, Giám mục thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 1/11.
  113. Vincentê Dương, Sinh tại Doãn Trung, Thái Bình, Giáo dân, bị thiêu sống ngày 6/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 6/06.
  114. Vincentê Nguyễn Thế Ðiểm, Sinh năm 1761 tại Ân Ðô, Quảng Trị, Linh mục, bị xử giảo ngày 24/11/1838 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 24/11.
  115. Vincentê Phạm Hiếu Liêm (Lê Quang Liêm) , Sinh năm 1732 tại Trà Lũ, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 7/11/1773 tại Ðồng Mơ dưới đời chúa Trịnh Sâm, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 7/11.
  116. Vincentê Tường, Sinh tại Phú Yên, Giáo dân, bị xử ngày 16/6/1862 tại Làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  117. Vincentê Ðỗ Yến , Sinh năm 1764 tại Trà Lũ, Phú Nhai, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 30/06/1838 tại Hải Dương dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 30/06.Chân Phước Anrê Phú Yên , Sinh tại tỉnh Phú Yên năm 1625. Rửa tội năm 15 tuổi, cùng lúc với bà mẹ góa và các anh chị, do chính cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes). Tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644. Ðược phong Chân Phước ngày 5/03/2000 do Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

    Danh sách 117 Thánh Tử đạo Việt Nam được tấn phong năm 1988

117 vị được Giáo hội Công giáo Rôma tôn vinh Chân phước qua bốn đợt:

  • Ngày 27 tháng 5 năm 1900 (thời Giáo hoàng Lêô XIII): 64 vị
  • Ngày 20 tháng 5 năm 1906 (thời Giáo hoàng Piô X): 8 vị
  • Ngày 2 tháng 5 năm 1909 (thời Giáo hoàng Piô X): 20 vị
  • Ngày 28 tháng 4 năm 1951 (thời Giáo hoàng Piô XII): 25 vị
  • Ngày 19 tháng 6 năm 1988 Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã chính thức tuyên phong Thánh cho 117 vị này.

Theo quốc tịch, 117 Thánh Tử đạo Việt Nam được chia ra như sau:

  • 11 vị gốc Tây Ban Nha: 6 giám mục và 5 linh mục dòng Đa minh,
  • 10 vị gốc Pháp: 2 giám mục và 8 linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP),
  • 96 vị người Việt Nam: 37 linh mục, 14 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân, trong đó có một thánh nữ là bà Anê Lê Thị Thành.

Theo Việt sử, các vị này đã hy sinh mạng sống làm chứng cho Tin Mừng trong những đời vua chúa sau đây:

  • 2 vị dưới thời chúa Trịnh Doanh (1740-1767),
  • 2 vị dưới thời chúa Trịnh Sâm (1767-1782),
  • 2 vị do sắc lệnh của vua Cảnh Thịnh (1782-1802),
  • 58 vị dưới thời vua Minh Mạng (1820-1841),
  • 3 vị dưới thời vua Thiệu Trị (1841-1847),
  • 50 vị dưới thời vua Tự Đức (1847-1883).

Trong thế kỷ 18 và 19, có khoảng từ 130 ngàn đến 300 ngàn người Công giáo bị giết vì đạo. Trong 5 năm từ 1857 đến 1862, có khoảng 5 ngàn tín hữu bị giết vì đạo; khoảng 215 giáo sĩ, tu sĩ  Nam nữ cùng khỏang 40 ngàn tín hữu bị bắt và bị tù tội hay bị lưu đày.

Nguồn: conggiao.info

Chia sẽ bài viết này trên:

DỌN MÌNH CHẾT LÀNH: VIỆC ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC CHA DON BOSCO KHUYÊN LÀM

DỌN MÌNH CHẾT LÀNH: VIỆC ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC CHA DON BOSCO KHUYÊN LÀM

Không nghi ngờ gì, tất cả chúng ta sẽ chết vào một ngày nào đó; ngày đó sẽ không một ai biết trước. Chính Chúa Giêsu cũng lặp lại điều này nhiều lần trong Giáo huấn của Ngài, và luôn dạy các môn đệ phải tỉnh thức và sẵn sàng.

Cái chết là một phần của con người. Chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng cho cái chết không phải là trạng thái sống bi quan, nhưng là sức mạnh và vũ khí của những con người khôn ngoan thực sự.

Sự tiến bộ khoa học trong lĩnh vực y tế là cần thiết cho sức khỏe con người, nhưng rõ ràng, nó không thể làm chúng ta quên đi một điều tất yếu của cuộc sống con người: việc đối diện với cái chết. Cái chết như một bước trung gian dường như không thể thay thế cho người Kitô hữu trong hành trình trở về nhà Cha. Càng chuẩn bị kỹ lưỡng bao nhiêu, chúng ta càng có một cuộc trở về đẹp và rộn ràng tiếng cười bấy nhiêu. Thật dễ dàng để hiểu được lý do tại sao chúng ta không muốn chết một cách đột ngột hoặc không lường trước được.

Chúng ta đã từng chứng kiến ai đó nằm trên giường bệnh trong một thời gian dài. Và đó có thể là gánh nặng cho những người khác. Nhưng trong khóe nhìn tích cực, đó lại là một món quà tuyệt vời khi ai đó đang phải đối diện với những thử thách trên giường bệnh, bởi họ có thể nhìn thấy bạn bè và gia đình, suy gẫm về chặng đường đã qua, và có cơ hội hòa giải với những người khác. Quan trọng hơn hết, đây là thời gian quý báu cho việc dọn mình chết lành của họ. Và không phải ai cũng có được món quà đó.

Thực tế, chúng ta lại chứng kiến những biến cố khác. Biến cố của những bất ngờ ra đi trong một tai nạn nào đó, hoặc một số sự kiện mà không còn thời gian để chuẩn bị. Nếu chúng ta chưa sẵn sàng cho cái chết, Giáo hội vẫn nhận thấy là hợp lý để cầu xin Thiên Chúa và phó thác trong tay Ngài, ban cho chúng ta thêm một chút thời gian để chuẩn bị cho ngày đó.

Dọn mình chết lành: phương thế hữu hiệu để chuẩn bị cho cái chết

Don Bosco, một nhà giáo dục luôn có tầm nhìn trong phương pháp giáo dục người trẻ toàn diện. Ngài luôn dự liệu không chỉ cho cuộc sống đời này, mà còn hướng đến cuộc sống mai sau của tất cả học sinh. Don Bosco không ngừng gieo rắc và khơi dậy nơi học sinh của mình một thái độ sống luôn sẵn sàng đón nhận cái chết bất ngờ; đến nỗi, họ có thể tự tin để thốt ra như Đaminh Saviô:

“Nếu Chúa gọi con ngay lúc này, con vẫn cứ vui chơi thoả thích”.

Trong Bút tích của Don Bosco gửi các Salêdiêng, Don Bosco đã nhắc nhớ họ rằng: “Có thể nói phần căn bản của việc đạo đức và một cách nào đó bao hàm các việc đạo đức khác chính là việc Cấm phòng năm và Dọn mình Chết lành hằng tháng”. Điều cơ bản để chuẩn bị tốt cho phần linh hồn vẫn được thực hiện trong đời sống của những người con của Don Bosco cho đến ngày nay.

Đây không phải là phần dư thừa hay thêm vào cho phong phú trong chương trình sống hằng tháng. Đó như một lời mời gọi không thể từ chối. Do đó, “mỗi lần ai bận công việc không thể Dọn mình Chết lành chung được, sẽ làm riêng một mình. Ai bận công việc không thể dùng cả ngày cho việc  này, sẽ dành một phần trong ngày và gác các công việc không thực sự cần thiết sang một ngày khác”.

Don Bosco còn khuyên cách cụ thể hơn: “Mọi người phải xưng tội ngày đó cách kỹ lưỡng hơn thường lệ, tựa như lần xưng tội cuối cùng trong đời, rồi hiệp lễ như Của Ăn Đàng. Và đừng bao giờ quên việc thực hành Dọn mình Chết lành hàng tháng”. [1]

Cũng nói thêm rằng, đây cũng là truyền thống lâu đời trong đời sống của Giáo hội. Do đó, lời thỉnh cầu được trích từ Kinh Các Thánh trong sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo: “Lạy Chúa, xin giải cứu chúng con khỏi cái chết bất thình thình và không lường trước được”, được Giáo hội khuyên đọc cách thường xuyên mỗi ngày. Hy vọng, nếu đó là thánh ý Thiên Chúa, ngài sẽ ban cho chúng ta cái chết được chuẩn bị kỹ lưỡng và trọn vẹn.

Đồng Hành

[1] Có nhiều mẫu kinh Dọn mình Chết lành, tùy theo Hội dòng hoặc các Tổ chức Công giáo tiến hành có thể chọn lựa.

Chia sẽ bài viết này trên:

GƯƠNG TỬ ĐẠO CỦA ĐỨC CHA AN

GƯƠNG TỬ ĐẠO CỦA ĐỨC CHA AN
THÁNH JOSÉ DIAZ SANJURJO – AN

Đức Cha An được dẫn ra pháp trường như 1 tội phạm. Đến nơi hành quyết lính vây quanh thành 3 vòng: vòng trong cầm gươm, vòng giữa cầm giáo, vòng ngoài cầm cờ, sĩ quan oai vệ cưỡi ngựa cưỡi voi. Bỗng ngài lên tiếng nói đôi lời với những người có mặt, sau đó nói riêng với viên quan chỉ huy:

– Tôi xin gửi quan 30 đồng tiền để xin quan 1 ân huệ: xin đừng chém tôi 1 nhát, nhưng chém 3 nhát. Nhát thứ nhất, tôi tạ ơn Chúa đã dựng nên tôi, và đưa tôi đến đất Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ 2 để nhớ ơn cha mẹ sinh thành nên tôi. Còn nhát thứ 3 như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí trong đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình. Và như thế họ đáng lãnh phần phúc cùng các thánh trên trời.

Vị tử đạo đây chính là Đức Cha An, vừa dứt lời, lính liền trói ngài vào cây cọc hình thập giá. Dân Công giáo có mặt oà lên khóc. Lính chém Đức Cha 3 nhát như ngài đã yêu cầu. Đầu và mình của vị tử đạo bị ném xuống sông. Có 2 người lính thấm máu vị tử đạo liền bị tống giam. Đồ đạc sách vở của Đức Cha đều bị đốt.

Đó là ngày 20/7/1857. Trước đó 2 tháng, Đức Cha đã viết thư tạm biệt Đức Giám Mục và các linh mục trong giáo phận. Từ nhà ngục tỉnh Nam Định ngày 28/5/1857, Đức Cha An viết:

“Tù nhân trong Chúa gửi lời tạm biệt Đức Cha và các cha cho tới ngày gặp nhau trên trời. Xin tất cả anh em tha thứ cho những điều lầm lỗi và gương xấu tôi đã làm… Gông xiềng tôi đang mang được coi là những báu vật Đức Giêsu gửi cho tôi. Tôi vui mừng lắm và chỉ ước ao đổ máu vì Chúa, để máu tôi hòa với máu cực thánh Đức Giêsu rửa linh hồn tôi được sạch mọi tội lỗi. Xin anh em cầu cho tôi vững tin đến cùng…”

Giuse Diaz Sanjurjo cất tiếng chào đời ngày 26/10/1818 tại tỉnh Lugo nước Tây Ban Nha. Cậu là con cả trong 1 gia đình có 5 anh em mà 1 người sau là nữ tu Antonia. Lớn lên cậu theo học chủng viện Lugo. Chiến tranh khiến việc học của cậu bị gián đoạn 3 năm nhưng sau được vào đại học, cậu đã tìm đến với tỉnh dòng Đa Minh Rất Thánh Mân Côi là tỉnh dòng đặc trách lo việc truyền giáo tại Viễn Đông. Ở đây cậu đã lần lượt được nhận vào Tập Viện ngày 23/9/1842, được tuyên khấn 24/9/1843. Cha Giuse Diaz Sanjurjo đến địa phận Đông Đàng Ngoài ngày 19/9/1845 với tên Việt Nam là An. Sau thời gian học tiếng Việt, cha An được giao nhiệm vụ coi sóc chủng viện tại Nam An.

Dưới thời vua Tự Đức cấm đạo gắt gao năm 1848, cha An đã phải đau lòng gấp rút giải tán chủng sinh, chôn giấu các đồ thờ phượng và nhìn chủng viện bị tàn phá. Trong thư gởi 1 bạn ở Tây Ban Nha, cha An viết: “Chúng tôi chẳng còn nhà, chẳng còn sách vở và áo quần, chẳng còn gì nữa… nhưng chúng tôi vẫn an tâm vì nhớ lời Thầy Chí Thánh nói “Con Người không có chỗ tựa đầu…”

Nhiệt thành với tương lai giáo phận, cha An tái lập chủng viện tại Cao Xá. Thời gian này cha biên soạn cuốn văn phạm La ngữ bằng tiếng Việt.

Qua tông thư đề ngày 05/09/1848, Đức Piô IX thiết lập giáo phận Trung tách khỏi giáo phận Đông Đàng Ngoài. Giáo phận Trung gồm cả Bùi Chu và Thái Bình hiện nay, với dân số khi ấy là 140.000 giáo hữu rải rác trên 624 giáo xứ.

Người có công thuyết phục linh mục Marti Gia nhận chức vụ giám mục giáo phận mới thành lập chính là cha An. Trong bầu khí trao đổi thân tình, cha An đã phân tích các mặt của nhiệm vụ giám mục với những khó khăn trong thời cấm đạo. Kế đến cha nêu những nhu cầu của cộng đoàn dân Chúa mà vai trò phục vụ được giao cần phải đáp ứng. Cha An không ngờ sắc lệnh bổ nhiệm Đức Cha Marti Gia làm giám mục giáo phận Trung Đàng Ngoài, có ban quyền chọn giám mục phó. Đức Cha Gia liền chọn người đã thuyết phục mình nhận chức giám mục bản quyền, là cha An, làm giám mục phó.

Sau khi thụ phong giám mục, cha An lại trở về Cao Xá tiếp tục coi sóc chủng viện. Trong thư gởi gia đình, đức tân giám mục viết: “Ở đây thì chức vụ cao chỉ thêm công việc, con thường phải đi bộ, có khi phải đi chân không, nhiều lần phải lội bùn đến đầu gối, để trốn tránh những người lùng bắt.”

Tháng 3/1850, Đức Cha An giao chủng viện cho cha San Pedro Xuyên coi sóc rồi đi kinh lý toàn tỉnh Hưng Yên. Cuộc kinh lý bị bỏ dở. 2 lmục Việt Nam cùng đi với Đức Cha bị bắt. Đức Cha thoát nạn nhưng về bị sốt rét nặng 1 thời gian. 2 năm sau, Đức Cha Marti Gia lâm bệnh nặng và qua đời tại Hương Cảng ngày 26/4/1852. Thế là Đức Cha An phải đến ở toà giám mục Bùi Chu để điều khiển công việc giáo phận mà mũi nhọn là công cuộc truyền giáo. Số người được chịu phép rửa tội năm 1852 lên tới 28.355 người. Đức Cha An viết: “Đó quả là phần thưởng đầy khích lệ để các nhà truyền giáo tiếp tục trách nhiệm tông đồ bất chấp âm mưu của thần dữ. Không nản lòng trước những cơ cực thiếu thốn, trước nguy hiểm vây quanh và những nghịch cảnh có thể xảy đến…”

Xảy ra là từ năm 1854, tại miền Bắc có giặc nổi lên của Lê Duy Cự và Cao Bá Quát. Họ kêu gọi người công giáo tham gia nhưng Đức Cha An lên tiếng cấm bổn đạo không được chống lại chính quyền hợp pháp. Do đó các quan chức địa phương cũng nới tay trong việc thi hành sắc lệnh cấm đạo của nhà vua. Tổng đốc Nguyễn Đình Tuân biết chính xác trụ sở toà giám mục Bùi Chu nhưng vẫn làm ngơ. Ông còn hứa nếu bất đắc dĩ phải sai quân truy nã thì ông sai người báo trước.

Không may khi ấy có quan thượng thư từ kinh đô về Nam Định nhằm lúc có người làng Thoại Miên là Chánh Mẹo, lên tỉnh tố cáo rằng có đạo trưởng Tây tên An ở Bùi Chu. Quan Tổng đốc buộc lòng phải ra lệnh truy bắt nhưng cũng cho người đi báo tin cho toà giám mục. Tiếc rằng tin đến nơi thì Đức Cha An đã bị bắt. Khi lính đến bao vây, Đức Cha chạy đi ẩn náu liên tiếp ở 4 nơi. Nơi cuối cùng ở giữa bụi tre khá kín. Nhưng đúng lúc Đức Cha ngó đầu ra để xem lính đã đi chưa thì bị phát hiện và bị bắt.

Đức Cha An bị giải về Nam Định và bị biệt giam 2 tháng trước khi có án tử hình từ kinh đô truyền chém đầu Tây dương đạo trưởng tên An. Nhưng Đức Cha An đã không bị cưỡng bức chịu tử hình. Ngài đã vui mừng đón nhận cái chết tử đạo vì yêu mến Đức Giêsu vị Mục Tử nhân lành. Do đó ngài đã xin được chém 3 nhát mà nhát thứ 3 như lời di chúc cho các bổn đạo của ngài để họ bền chí trong đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình.

              Trích Sợi Chỉ Đỏ

Chia sẽ bài viết này trên:

LỜI CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

LỜI CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VN

– Chúng tôi không được tự vẫn, vì đó là trọng tội. Nhưng nếu vì đạo mà quan truyền giết tôi, thì tôi vui mừng khôn xiết kể.

Thánh Ignatiô Delgado Y

 – Con đừng khóc nữa, mẹ mặc áo hoa hồng đấy. Mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?

Thánh Anê Lê Thị Thành

– Sức tôi tuy đã giảm, nhưng còn chịu đựng được. Chúa chúng ta đã chịu bao hình khổ để cứu độ nhân loại. Tôi cũng sẵn lòng chịu những sự khó này để nên giống Chúa Kitô phần nào.

Thánh Tôma Đinh Viết Dụ

– Ước gì máu tôi hoà với máu Đức Kitô trên đồi Canvê để tẩy rửa tôi sạch muôn vàn tội lỗi.

Đức Cha Giuse An – Maria Diaz Sanjurjo

– Như xưa Mẹ đã dâng Con yêu quý trong đền thờ, nay cũng xin hiến dâng chúng con trong cuộc tử đạo hồng phúc.

Thánh Phêrô Võ Đăng Khoa

– Tôi đã suốt đời thuyết giảng về Đạo Thập Giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quá quý hoá đến nỗi phải bỏ đạo mà mua!

Thánh Gioan Théophane Vénard Ven

– Tôi nghĩ dù lấy nước của các con sông trên địa cầu, cũng không thể rửa sạch tội của tôi được, có lẽ chỉ có thể rửa sạch chúng bằng chính máu của tôi thôi.

Thánh Micae Hồ Đình Hy

– Tôi đi để quê tôi có người làm thánh.

Đức Cha Valentin Vinh (Berrio Ochoa)

– Mình quên nợ người, Chúa quên tội tôi.

Thánh Giuse Phạm Trọng Tả

– Nếu làm con cái không được phép sỉ nhục cha mẹ mình, thì làm sao người Kitô hữu lại có thể chà đạp hình ảnh của Đấng tạo thành trời đất? Xin các quan thi hành điều các quan muốn, còn tôi không bao giờ xúc phạm thập giá Chúa tôi đâu.

Thánh Đaminh Ninh

– Các ngươi dùng võ lực lôi thân xác ta, các ngươi cố dùng sức lực lôi chân ta, nhưng các ông không thể dùng sức mạnh để lung lay ý chí ta được. Bao lâu ta không chịu, thì dù có đánh đập các ngươi cũng không đạt được mục đích đâu.

Thánh Augustinô Phan Viết Huy

– Chúng tôi không phạm tội ác, không chống lệnh vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ vì là Kitô hữu.

Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan

 “Đạo đã nhập vào xương tủy tôi, làm sao tôi có thể bỏ được.”

Thánh  Nguuyễn văn Lựu

*Phaolô Mợi bị bắt……………..bị giải đến quan.

Quan dụ:- Anh đạp ảnh đi, tôi sẽ cho anh một nén bạc.

-……………………..?- Vậy một nén vàng !

– Bẩm quan chưa đủ.

– Vậy anh muốn bao nhiêu ?

– Bẩm quan lớn, quan lớn muốn cho tôi quá khóa thì quan phải cho tôi đủ vàng để mua được một Linh Hồn khác.

Thánh Phaolô Mợi

Chia sẽ bài viết này trên:

Sống Chứng Nhân Giữa Đời – Lễ Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam 2020

Lễ Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam 2020
Sống Chứng Nhân Giữa Đời

Tử Đạo tiếng Việt theo nguyên ngữ  Hy Lạp là Martyr, Witness trong tiếng Anh là “chứng nhân”. Như vậy các thánh tử đạo đơn giản là những chứng nhân, người làm chứng.

Cuộc đời của một con người thực ra chỉ là để làm chứng cho một lý tưởng nào đó. Khi họ đi đến tận cùng của lời chứng ấy thì cuộc đời của họ có ý nghĩa và còn đáng được tuyên dương cho người khác noi gương bắt chước. Hitler và Saclô là 2 con người có lý tưởng và sống hết mình vì lý tưởng. Nhưng lý tưởng của Hitler chỉ đem đến đau khổ cho đời, vì lý tưởng của ông là tiêu diệt người khác mà cụ thể là chiến dịch bài Do Thái. Với chiến dịch này ông đã tiêu diệt khoảng 5 triệu người Do Thái và làm cho lịch sử đã mãi mãi ghi tên ông như một dấu chỉ của sự tàn ác. Ngược lại, Saclô ra đời trước Hitle 6 ngày (14/04/1889), nhưng lý tưởng của Saclô là làm cho đời bớt đau khổ bởi chiến tranh và giết chóc, vì vậy ông dùng chính tài diễn xuất của mình để đem đến nụ cười cho con người. Ông được bình chọn là diễn viên hài xuất sắc của mọi thời đại. Cuối cùng hai con người này cũng chết, nhưng cái chết của Hitler làm cho cả thế giới vui mừng, ngược lại cái chết của Saclô làm cho cả thế giới phải tiếc thương.

“Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x.Pl 2, 6-8). Ngài đã làm chứng cho một tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa.

Kitô hữu là những chứng nhân giữa đời. Tức là những con người làm chứng cho Đức Kitô trong mọi thời, mọi nơi, mọi lúc. Khởi đầu từ các Tông đồ, với lời chứng “Kerygma”, nghĩa là lời chứng về việc họ đã từng gặp gỡ Đức Giêsu khi còn sống cũng như khi đã Phục Sinh. Tận cùng của lời chứng này là chính cái chết của họ. Không ai ngu dại chết cho điều giả dối hoặc mơ hồ, hay chết cho một giá trị chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân họ. Thế nhưng tất cả các Tông đồ (trừ Gioan chết vì già nua) đều sẵn sàng chết cho lời chứng Đức Giêsu đã sống lại. Thế mới thấy lý tưởng về Đấng Phục Sinh là sự thật “là sự sống và là sự sống lại” cho các Tông đồ.

Lý tưởng ấy đã được loan truyền khắp nơi trên toàn thế giới, bất chấp nhiều người, nhiều thế lực, nhiều chủ nghĩa cấm cản. Từ thế kỷ 15, Tin Mừng về Đức Giêsu Phục Sinh đã được loan truyền tại đất nước Việt Nam của chúng ta. Tin Mừng này đã được cha ông chúng ta đón nhận; nhưng cũng chính Tin mừng này khiến cho máu đào đã rơi xuống trên chính quê hương đất nước chúng ta, vì có hàng trăm ngàn người đã phải chết vì Tin mừng họ loan báo hoặc lãnh nhận. Như lời của thánh Tertulia : “Máu các thánh tử đạo là hạt giống làm trổ sinh các kitô hữu”, bằng chứng là một Hội thánh tại Việt Nam đang phát triển với hàng triệu người tin vào Đức Giêsu.

Tuy nhiên ngày nay có còn tử đạo nữa hay không? Thưa chắc chắn không còn bắt bớ, cấm cản, giết chết vì có đạo… Nhưng hơn bao giờ hết người Công giáo đứng trước cuộc bách hại do chính họ gây ra. Bách hại đạo với mục đích là ngăn chặn người ta tin theo một tôn giáo nào đó. Thì hôm nay không ai ngăn cản chúng ta, mà chính chúng ta đã ngăn cản đức tin của mình bằng đời sống vô đạo.

Rõ ràng một số người Công giáo được rửa tội nhưng không còn sống đạo vì nhiều lý do. Một số người không sống theo Lời Chúa dạy khiến cho họ dù là người Công giáo nhưng đời sống còn tệ hơn cả những người không biết Chúa… Họ đã đầu hàng trước cuộc bách hại của thời đại hôm nay.

Chính vì thế, người Công giáo được mời gọi trở thành chứng nhân trong mọi thời đại, nghĩa là người làm chứng cho lý tưởng cao trọng mà họ đã được lãnh nhận từ cha ông là các thánh Tử đạo tại Việt Nam. Phải khẳng định, phải cho mọi người thấy lý tưởng của chúng ta là cao đẹp vì nó phát xuất từ ý định yêu thương của Thiên Chúa. Muốn cho người khác tin đạo thì phải làm cho họ thấy nét đẹp của đạo chúng ta.

Nét đẹp đó là chính đời sống thánh thiện khi chúng ta có một Vì Thiên Chúa tinh tuyền trong đời sống, chi phối tất cả mọi sinh hoạt của chúng ta. Hay nói cách khác đó là giới luật Mến Chúa. Giới luật này trở thành nội lực riêng cho mỗi người để họ phải tự cung cấp cho mình nguồn năng lượng mà không ai có thể thay thế. Hay nói theo dụ ngôn, đó chính là dầu dự trữ mà các trinh nữ khôn ngoan phải trang bị, không mượn của người khác được. Việc cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các Bí tích và những việc đạo đức khác nói lên lòng mến Chúa của chúng ta, không ai có thể làm thay chúng ta.

Nét đẹp thứ hai và rõ ràng hơn là chính đời sống bác ái yêu thương của người Kitô hữu. Nếu người Công giáo không sống bác ái họ không còn là Kitô hữu, “Vì người anh em mình xem thấy mà không thương yêu họ được, thì làm sao yêu mến Thiên Chúa là Đấng mình không thấy được?” Nếu thử thách của các thánh Tử đạo ngày xưa là “giữ lấy”, thì thử thách của Kitô hữu ngày nay là “bỏ đi”. Nhiều người giàu nhưng không dám bỏ đi một ít tiền bạc của mình cho người nghèo. Nhiều người không dám bỏ đi một ít thời gian cho việc đạo đức, nhưng lại bỏ rất nhiều thời giờ cho việc vui chơi giải trí. Khi dám bỏ đi vì lòng bác ái Kitô giáo là chúng ta đang làm chứng cho lý tưởng cao đẹp của người Công giáo, lý tưởng về Thiên Chúa là Tình Yêu.

Xin các thánh Tử đạo Việt Nam cầu bầu cùng Chúa cho dân tộc Việt Nam được bình an, người người yên vui hạnh phúc; cho Giáo hội Việt Nam được lớn mạnh về đức tin. Xin cho Kitô hữu tại Việt Nam biết tử đạo mỗi ngày bằng một đời sống đức tin mạnh mẽ để yêu mến Chúa và sống bác ái yêu thương nhau.

Lm. Giuse Nguyễn

Chia sẽ bài viết này trên:

CON ĐƯỜNG HẠT LÚA – Lễ Các Thánh Tử Đạo VN

CON ĐƯỜNG HẠT LÚA
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
 

Khi đến Rôma, tôi thích đi viếng những hang toại đạo. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang thật lạnh lẽo. Hơi lạnh từ lòng đất toát ra cộng với hơi lạnh từ những nấm mồ càng làm cho khu hầm mộ trở nên lạnh lẽo đáng sợ.

Người sống phải đấu tranh với cái chết. Sự chết luôn đe doạ rình rập cướp lấy mạng sống con người. Tại nơi đây, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong 3 thế kỷ. Có lẽ thánh Phêrô và thánh Phaolô cũng đã từng đi lại sinh hoạt trong những hang này. Người tín hữu sơ khai đã phải sống trong những điều kiện như thế để bảo vệ đức tin của mình.

Nhưng thật kỳ diệu. Các vua chúa của đế quốc Rôma hùng mạnh đã tìm cách tiêu diệt một nhóm người nghèo khổ yếu ớt không một tấc sắt tự vệ. Không phải chĩ bắt bớ trong một chiến dịch ngắn hạn mà là một chủ trương kéo dài suốt 300 năm. Vậy mà các vua chúa qua đi rồi, nhóm người nghèo khổ yếu ớt đó không những chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đi dưới lòng hang toại đạo tôi mới thấm thía ý nghĩa của lời Chúa nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.

Hạt giống Giáo Hội đã bị chôn chặt dưới 3, 4 tầng đất. Hạt giống đức tin đã bị vùi sâu đến 300 năm. Tất cả các thánh Tông đồ, các tín hữu sơ khai đã bị mục nát. Và các ngài đã làm trổ sinh cả một mùa gặt dồi dào phong phú. Cả châu Âu đã tin theo Chúa.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, ta cũng thấy có sự tương tự. Khi đạo Chúa mới được truyền vào Việt Nam, lập tức bị các vua chúa phong kiến bắt bớ. Cuộc bắt bớ kéo dài khoảng 300 năm. Đủ mọi hình thức để tiêu diệt đạo.

Nào là cấm cách bắt bớ. Nào là đe doạ bạc đãi. Nào là xua đuổi ra khỏi những vùng trù phú phồn vinh.

Nào là phân sáp, tức là tách ly cha mẹ, anh chị em trong một gia đình bắt đi sống riêng rẽ trong các gia đình ngoại đạo.

Nào là lấy thép nung đỏ khắc chữ “tả đạo” trên má ngưới có đạo. Và nhất là lên án tử hình những người có đạo. Người tín hữu trung thành với đức tin phải trốn chạy chết trên rừng thiêng nước độc. Nếu bị bắt có thể bị chết trong tù. Nếu không cũng bị xử án tử hình.

Có đấng bị chém đầu.

Có đấng bị trói chân tay vào chân ngựa. Bốn con ngựa kéo về bốn góc xé nát xác vị tử đạo.

Có đấng bị kết án cho voi dày.

Thê thảm nhất có lẽ là án bá đao. Cứ sau một hồi chiêng trống, đao phủ xẻo một miếng thịt cho đến khi chết

Dù các vua chúa đã dùng đủ mọi cách tiêu diệt nhóm người bé nhỏ yếu ớt trong 300 năm. Trong 3 thế kỷ đó có khoảng 100 ngàn người chịu chết vì đạo. Nhưng số người tin Chúa ngày càng gia tăng. Từ một nhóm nhỏ người bị bắt bớ, nay số tín hữu tại Việt Nam đã hơn 6 triệu người. Hạt giống đức tin gieo trồng vào quê hương Việt Nam đã bị vùi sâu, đã bị mục nát, và nay đã trổ sinh một mùa gặt phong phú. Một lần nữa chúng ta lại xác tín lời Chúa dạy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”

Nhìn lại lịch sử, ta càng thêm tin tưởng vào Lời Chúa. Nếu đang gặp khó khă trong đời sống đạo, ta hãy an tâm. Như Đức Giêsu đã chịu gian nan khốn khó, phải chịu bắt bớ, nhục mạ, phải chịu chết tủi hổ trên Thánh giá, các môn đệ con cái Chúa không thể đi con đường nào khác ngoài con đường Thánh giá. Như các bậc tiền nhân xưa đã chịu vất vả khổ cực để xây dựng một Giáo Hội vững mạnh như ngày nay, ta tin tưởng những gian nan khốn khó của ta rồi cũng sẽ trôi qua. Nếu ta biết chịu đựng những đau đớn, khó khăn, vất vả vì Chúa. Nếu ta vẫn trung thành với Chúa, với đức tin qua mọi gian nan thử thách, chắc chắn Chúa sẽ ban cho ta một mùa gặt bọi thu, kết quả phong phú ngoài sức tưởng tượng của ta

Lạy Các Thánh Tử đạo Việt Nam, xin dạy con noi gương bắt chước các ngài, luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Amen.

Đức TGM. Jos. Ngô Quang Kiệt

Chia sẽ bài viết này trên:

Công Bố Logo Năm Mục Vụ Giới Trẻ 2021

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
UỶ BAN MỤC VỤ GIỚI TRẺ – THIẾU NHI

Công Bố Logo Năm Mục Vụ Giới Trẻ 2021
Đồng Hành Với Người Trẻ Trong Đời Sống Gia Đình

Trong niềm vui đồng hành với người trẻ, thừa lệnh Đức cha Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy Ban Mục Vụ Giới Trẻ – Thiếu Nhi công bố logo Năm Mục vụ Giới trẻ 2021 qua đường link:

https://bit.ly/MVGT2021

Nội dung và quy chuẩn sẽ được cập nhật qua đường link duy nhất này để đáp ứng với nhu cầu sử dụng trong thực tế.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần canh tân mục vụ giới trẻ mọi nơi.

Ngày 03 tháng 11 năm 2020
Thư ký UBMVGT-TN
Linh mục Gioan Lê Quang Việt

Ý NGHĨA LOGO NĂM MỤC VỤ GIỚI TRẺ 2021
Nguồn mạch: Lc 24, 13-35.

Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ 15 đã nhìn nhận hành trình Emmau (Lc 24,13-35) như là một văn bản kiểu mẫu để hiểu sứ vụ của Hội thánh trong tương quan với các thế hệ trẻ và giúp tái hiện lại cuộc đối thoại của Đức Giêsu với người trẻ hôm nay. Kiểu mẫu này mong muốn gửi đến người trẻ bài học về sự trưởng thành đức tin thông qua tiến trình 3 bước theo diễn biến tâm lý của hai môn đệ trên hành trình Emmau đó là:

  1. Để Chúa Giêsu bước vào trong đêm tối của cuộc đời. (Tông huấnChúa Kitô đang sống, số 237).
  2. Khi lắng nghe Người, họ cảm thấy lòng ấm lên và trí sáng ra; khi Người bẻ bánh, mắt họ mở ra.
  3. Chính họ chọn đi trở lại ngay lập tức con đường vừa đi, để về với cộng đoàn và chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục sinh.
  4. Ý NGHĨA VĂN TỰ
  5. Trích dẫn “Lc 24,13-35”thể hiện trên logo nhắc nhớ người trẻ về đoạn Tin mừng diễn tả cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với hai môn đệ trên đường Emmau. Trích dẫn đơn giản đó cũng nhắc nhở người trẻ về việc sử dụng Kinh Thánh – như kim chỉ nam cho người trẻ để tìm ra ý nghĩa của cuộc đời mình.

“Như hai người trẻ trên đường Emmau, các con hãy đến với Chúa Giêsu, tâm sự với Người trong cầu nguyện, lắng nghe lời Người trong Sách Thánh, đón nhận sức sống của Người trong Thánh Thể, nhờ đó biết nhìn cuộc đời với cặp mắt mới và nhận ra Chúa luôn đồng hành với các con.” (HĐGMVN, Thư Chung 2019)

  1. Cụm từ “ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI TRẺ TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH”là chủ đề được HĐGM VN chọn để hướng đến, đồng hành và cầu nguyện cách riêng cho người trẻ theo tài liệu làm việc của Thượng HĐGM thế giới về người trẻ đưa ra. Chủ đề như một lời mời gọi, một xác nhận về sứ vụ mà Hội Thánh mong muốn đồng hành với người trẻ, để “Giáo Hội trở thành chỗ dựa vững chắc giúp người trẻ tin đó là nơi họ được thuộc về” (Văn bản tiền Thượng Hội đồng Giám mục về Người trẻ (Vatican, tháng 11/2018))Bên cạnh đó, Dòng chữ “ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI TRẺ TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH” được đặt phía dưới nền của ngôi nhà, thể hiện sự đồng hành và dìu dắt của Giáo Hội dành cho người trẻ từ những điều cốt lõi và cơ bản nhất, để họ được cung cấp đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm, giáo lý Đức Tin, sẵn sàng bước vào bậc sống gia đình.

“Cần phải chuẩn bị cho hôn nhân, và điều này đòi hỏi phải tự huấn luyện mình, phát huy những đức tính tốt, nhất là yêu thương, nhẫn nại, khả năng đối thoại và phục vụ.” (Tông huấn Chúa Kitô đang sống, Số 265)

  1. Cụm từ “MỤC VỤ GIỚI TRẺ 2021”:tên chủ đề chính trong chuỗi 3 năm đồng hành với người trẻ trong các thánh lễ, các hoạt động, để hướng người trẻ về với ý nghĩa lớn nhất của mục vụ là Bí Tích Thánh Thể – sức mạnh và là ân sủng giúp người trẻ tìm lại niềm hạnh phúc thật, kín múc ơn bình an, và sức mạnh để bước tiếp chặng đường sứ mạng cuộc đời Chúa trao cho mỗi người trẻ.

“Như hai người trẻ trên đường Emmau, các con hãy mạnh dạn kể lại cho các bạn trẻ khác về kinh nghiệm đức tin của mình, kể bằng lời và bằng chính cuộc sống tốt lành của các con. Hơn ai hết, chính các con phải là tông đồ cho người trẻ, những người cùng trang lứa, sống trong cùng một thời đại và môi trường với các con. Được như thế, các con sẽ trở thành những sứ giả loan báo Tin mừng của Chúa Kitô Phục sinh cho mọi người, đồng thời góp phần dựng xây quê hương và dân tộc Việt Nam thịnh vượng, công bằng và hạnh phúc.” (HĐGMVN, Thư Chung 2019)

  1. Ý NGHĨA HÌNH ẢNH BIỂU TƯỢNG
  2. Logo mang hình dáng ngôi nhà:Đây là hình ảnh về gia đình, nơi mà người trẻ được sinh ra, được chăm sóc và dạy dỗ nên người. Và cũng là nơi mà hai người trẻ nam và nữ yêu thương nhau cùng nhau gây dựng nên những hoa trái tốt đẹp, tạo nên những gia đình mới cho Mẹ Giáo Hội.

“Gia đình không chỉ là nơi sinh ra, nhưng còn là nơi tiếp đón sự sống mới đến như một quà tặng của Thiên Chúa gửi đến. Mỗi sự sống mới cho phép chúng ta khám phá chiều kích vô vị lợi nhất của tình yêu, một tình yêu khiến chúng ta không bao giờ hết thán phục.” (Tông Huấn Niềm Vui Tình Yêu, Câu 177)

Hình ảnh hai thanh ngang hợp lại tạo thành hình mái nhà: Đây là hình ảnh mang ý nghĩa gia đình, nơi mà người nam và người nữ kết hợp với nhau tạo thành một gia đình trẻ, tiếp tục sứ vụ ươm mầm và nuôi dạy thế hệ tương lai.

“Người trẻ cảm thấy tiếng gọi của tình yêu rất mãnh liệt; họ ước mơ gặp đúng người để xây dựng một gia đình và sống chung với nhau. Rõ ràng đây là một ơn gọi mà chính Thiên Chúa kêu mời qua những tình cảm, những khát vọng và những ước mơ của người trẻ.” (Tông huấn Chúa Kitô đang sống, Số 259)

  1. Khối ba hình ảnh con người:

– Hình người chính giữa: là hình ảnh cách điệu Chúa Giêsu Phục Sinh trong trang phục áo thụng dài với mảnh vải hình chữ S vắt qua vai. Mảnh vải vừa thể hiện rõ nét và làm sống động hình ảnh Chúa Phục Sinh; vừa vẽ nên hình ảnh con đường khúc khuỷu – đường Emmau mà Ngài đang bước đi cùng hai môn đệ, hay nhắc nhớ cho chúng ta về đoạn Tin Mừng (Ga 14,1-6) rằng: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”. Nén trong dải vải lụa cách điệu hình chữ S, đó còn là biểu tượng đặc trưng mang bản sắc dân tộc Việt, thể hiện khao khát cách riêng của người trẻ Việt muốn ghi dấu niềm tin vào Chúa, cùng theo Chúa bước trên con đường Emmau, được Chúa đồng hành, chăm sóc và vác trên vai như con chiên lạc.

– Hình người hai bên phải trái: tượng trưng cho hai môn đệ trên đường Emmau. Cánh tay vươn lên cao như cách thể hiện sự vui mừng, hoan hỷ của hai môn đệ vì được Chúa Giêsu nắm giữ và đồng hành với họ trên đường Emmau. Nó cũng diễn tả sự vươn lên và trưởng thành về Đức tin của hai môn đệ sau khi được gặp gỡ Chúa.

– Sự liền mạch của kết cấu 3 người trong logo qua cánh tay muốn diễn tả và truyền đi thông điệp về ước mong của người trẻ trong sự gắn kết với sự sống của Đức Kitô và cùng Ngài sống lại và sống mãi. Người trẻ khao khát mình được sống lại như hai môn đệ xưa kia, được Chúa đồng hành, thêm sức, ủi an để vượt qua và đứng vững trước mọi thách đố trong đời; những trở ngại phải trải qua được ví như những con đường quanh co, núi đồi trắc trở. Điều đó cũng diễn tả hành trình mà người trẻ mong muốn được Chúa hướng dẫn để được trưởng thành toàn diện trong đời sống đức tin cũng như trong đời sống thường nhật.

+ Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với hai môn đệ cũng diễn tả sự quan tâm, quan phòng của Chúa luôn đoái nhìn mỗi người chúng ta. Cuộc đối thoại đó cũng nhắc nhớ người trẻ về ước mong được trò chuyện với Chúa mỗi ngày, và khao khát đón nhận sự đồng hành của Giáo hội trong cuộc sống đời thường.

+ Phía trước họ là con đường khúc khuỷu – diễn tả hành trình Emmau mà họ đang đi. Và con đường đó dẫn về Thánh Giá (được đặt cao nhất trong khối logo tròn) như nhắc mỗi người chúng ta cùng bước trên con đường Ngài đã đi qua, dám dấn thân, tin tưởng vào Ánh Sáng Phục Sinh đang lan tỏa và hướng chúng ta về quê trời.

  1. Những tia sáng và thánh giáđi ra khỏi đường tròn của logo thể hiện tính siêu việt và phá vỡ những giới hạn mà sự Phục Sinh của Chúa mang đến cho người trẻ. Điều đó mang lại hy vọng rằng những giới hạn của bản thân sẽ được phá vỡ khi chúng ta tin vào Ánh Sáng Phục Sinh, tin vào sự đồng hành của Chúa trên tiến trình thăng tiến của mỗi người cách riêng là người trẻ. Sự phát triển toàn diện nhằm hướng người trẻ và mời gọi người trẻ chia sẻ khả năng, sử dụng nén vàng Chúa trao để can đảm dấn thân loan báo Tin mừng như hai môn đệ.

“Với niềm tin vào Đấng Phục Sinh, các bạn có thể đương đầu với thách đố ấy trong sáng tạo và trong hy vọng, luôn sẵn sàng phục vụ… Lòng thương xót, sự sáng tạo và niềm hy vọng làm đời sống triển nở.” (Tông huấn Chúa Kitô đang sốngSố 173)

III. Ý NGHĨA MÀU SẮC

Màu sắc của logo được sử dụng dựa trên 5 màu chủ đạo mang màu sắc trẻ trung, tươi vui, diễn tả ý nghĩa niềm hy vọng của mầu nhiệm Phục sinh.

– Sắc Cam của lửa – biểu tượng nguồn ơn Chúa Thánh Thần, của nhiệt huyết, được chọn tô cho hình ảnh Chúa Giêsu, như muốn tập trung nguồn ơn sức mạnh mà người trẻ cần tìm kiếm cho cuộc đời mình chính là Chúa Giêsu.

– Sắc Xanh Dương diễn tả sắc xanh của hy vọng, sự mong chờ niềm vui của ơn cứu độ.

– Sắc Xanh Lá mang sức sống tinh thần của người trẻ, màu sắc của sự tươi mát và tinh thần sống xanh nhắc nhớ người trẻ trong việc chung tay bảo vệ ngôi nhà chung.

Sự hoà quyện của 3 sắc màu trên hướng tới Thánh Giá màu Đỏ – biểu tượng của tình yêu, nhắc nhớ về sự hy sinh của Chúa trên Thập Giá, về Bí tích Tình Yêu và con đường Trắng diễn tả sự Phục sinh – con đường hướng người trẻ về quê trời trong hân hoan và vững tin vào mầu nhiệm sống lại của Chúa Giêsu.

WHĐ (3.11.2020)

Chia sẽ bài viết này trên: