Lời Chúa Hằng Ngày

Những Kẻ Lưới Người – CN III TN B

Những Kẻ Lưới Người – CN III TN B

  1. Trường đời.

Khi người đời “thả lưới”.

Hình ảnh “Lưới người như lưới cá” thật dễ hiểu. Trong việc “lưới cá” ta thấy có hai việc làm chính: đó là thả lưới và bắt cá.

Mục đích của “thả lưới” rất rõ ràng là để “bắt cá”, nên việc thả lưới phải tập trung nhắm vào một mục đích duy nhất là “bắt cá”.

Từ đó, “phương tiện” bắt cá là “lưới” phải phù hợp, và “cách thả lưới” cũng phải có kinh nghiệm, hiểu biết về thiên nhiên.

Thí dụ như lưới loại có mặt (lỗ) lưới lớn hay nhỏ, chiều dài, chiều rộng bao nhiêu, sợi lưới to hay nhỏ để phù hợp với loại cá ở vùng mình thả lưới. Người lưới cá phải biết vùng mình đang thả lưới thường có loại cá gì, lớn hay nhỏ. Mùa nào cá sinh sản, mùa nào cá còn nhỏ, mùa nào cá lớn, tháng nào cá di chuyển, theo con nước nào, hướng đi nào. Cá loại nào ở vùng nước cạn, cá loại nào ở vùng nước sâu…

Nói chung, phương tiện đánh bắt cá và loài cá ta muốn bắt phải phù hợp, và hiểu biết phần nào về đời sống của loài cá, vùng sông biển cá đang sống.

Trong cuộc sống, có nhiều dạng “lưới người”, mà người ta đua nhau “thả lưới” để “bắt người” – “lôi kéo người khác về với mình” với  nhiều mục đích khác nhau.

Trước tiên, để “lưới người”, người ta phải biết sơ đẳng về nghệ thuật “đắc nhân tâm” để chinh phục người khác.  Người ta tìm hiểu tâm lý, thị hiếu, nhu cầu, nguyện vọng của con người, để đem nhiều người về với tổ chức của mình.

Thí dụ: trong chính trường để có nhiều lá phiếu, trong thương trường để có nhiều khách hàng, trong Điện ảnh để có nhiều khán giả, trong Báo chí để có nhiều độc giả

Mục đích “thả lưới” của người đời.

Con người ai cũng muốn những điều có lợi, nên khi người ta “lưới người”, bao giờ cũng bắt đầu từ những ngôn từ tốt đẹp, những lời hứa hẹn hấp dẫn, những chiêu quảng cáo lôi cuốn nghe tựa như những phép lạ nhiệm mầu…

Có thể thấy rõ điều này khi người ta nghe mấy ông chính khách ra tranh cử.

Nhưng, thật đáng tiếc, mỹ từ bị lạm dụng nhiều nhất đó là “phục vụ”, nhưng “phục vụ” cho chính kẻ “lưới người” chứ không phải phục vụ cho người “sa lưới” ! Người ta tâng bốc “khách hàng là Thượng Đế”, nhưng khách hàng bị “chém”, bị lường gạt là chuyện thường tình.

Nhiều thứ “lưới” bủa giăng khiến người “sa lưới” bị đầu độc, như những thứ văn hóa độc hại, những thứ hưởng thụ sa đọa, mất phẩm giá con người, nhiều người còn mất mạng vì quá tin vào những lời hứa hẹn hết sức lôi cuốn, thí dụ trong những tổ chức núp bóng tôn giáo của những người cuồng tín…

Nói một cách khác, người ta “lưới người” vì mục đích lợi lộc cho riêng mình. Chính vì thế, có rất nhiều trò lừa gạt, bịp bợm, dối trá, thủ đoạn khó lường. Trong chính trường, trong thương trường, trong tình trường… đâu đâu cũng thấy !

Nhiều người thành công trong sự dẫm đạp lên kẻ khác, thậm chí cả tội ác, nhưng họ lạnh lùng với trái tim vô cảm, vì họ chỉ thấy một điều, họ đã thành công nhờ sự khôn ngoan của riêng họ, vì lợi ích cho riêng họ.

Thật rất khó tìm được trong thời đại này những kẻ “lưới người” để giúp đỡ những người mà người ta thu phục được có một cuộc đời tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.

Tình thương trong thế giới hôm nay dần dần khô héo và những giá trị đạo đức cũng dần dần vơi đi. Ai cũng thấy “thế giới hôm nay tan nát vì thù hận.” (Bê-nê-đic-tô XVI).

  1. Trường dạy của Chúa Giêsu.

Người bảo các ông: “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá.”  (Mc.1,18).

Khi những môn đệ Chúa Giêsu “lưới người”.

Khác hẳn với người đời, như Chúa Giê-su đã dạy, những môn đệ của Người không được ỷ lại vào tài năng của mình khi “lưới người”. Tất cả đều là hồng ân của Chúa. Môn đệ của Chúa phát huy tất cả tài năng trí tuệ của mình để phục vụ Chúa, và luôn cảm thấy mình chỉ là một đầy tớ vô dụng.

“Đối với anh em cũng vậy: Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói : chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi”. (Lc.17,9).

Những gì môn đệ Chúa làm được, không phải là kết quả của sự khôn ngoan con người, mà là từ sự hướng dẫn của Thiên Chúa, sự khôn ngoan và sức mạnh của Thánh Thần.

Giảng xong, Chúa Giêsu bảo ông Phê-rô: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Ông Simon đáp : “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm. (Lc.5,4-7).

Mục đích “thả lưới” của môn đệ của Chúa Giê-su.

Khác hẳn với “trường đời”, những môn sinh của Chúa Giê-su nhận ra mình nhỏ bé trước những thành công lớn lao. Những “mẻ cá” lớn giúp cho người môn đệ của Chúa Giê-su nhận ra đâu là sự “khôn ngoan” thật sự, đâu là “hướng đi” cuộc đời mình, đâu mới đích thực là “lẽ sống” của kiếp nhân sinh.

Thấy vậy, ông Si-mon Phê-rô sấp mặt dưới chân Chúa Giê-su và nói : “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !”. Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-mon, cũng đều kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn : Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ mọi sự mà theo Người. (Lc.5,8-11).

Một câu chuyện nhỏ:

Có một lần tôi dự lễ 25 năm linh mục của cha sở một họ đạo nọ, tôi tới hơi sớm. Lúc ấy, mấy loa phóng thanh treo trước mặt tiền nhà thờ phát đi tiểu sử của cha sở cùng với những thành quả mà Cha sở ấy đã gặt hái được trong 25 năm ở tại họ đạo đó. Vì thời gian ở đây dài lâu, nên những “công đức” của ngài được kể ra trên loa phóng thanh thật là dài.  Từ chuyện quá khứ, đã xây mấy cái nhà thờ, từ nhà thờ cũ kỹ, được sửa lại, nâng cấp mấy lần, đến chuyện giúp bao nhiêu nhà tình thương cho người nghèo, lo cho bao nhiêu  sinh viên học đến bờ đến bến. Đến chuyện hiện tại, đang lo cho bao nhiêu học sinh, nuôi bao nhiêu cụ già, giúp bao nhiêu người tàn tật… Tất cả đều được thống kê bằng những con số cụ thể. Tiếng loa phóng thanh phát đi phát lại “bản tin” đó nhiều lần, rất lớn và rất rõ ràng… Chợt có một vị linh mục già, tóc bạc phơ, ngồi uống nước cạnh bên tôi, quay sang tôi, nói : “Uổng quá !”. Tôi hỏi : “Uổng cái gì, thưa Cha ?”. Ngài nở một nụ cười hiền hòa trên gương mặt tuổi già phúc hậu, rồi thong thả đáp: “Phải chi những “công trận lớn lao” đó đừng phát trên loa, thì nó trở nên “cao quý” biết bao nhiêu !”. Câu nói của vị linh mục tiền bối ấy làm tôi suy nghĩ nhiều lắm !

Trở thành những kẻ lưới người (Mc.1,16), những “người thu phục người ta” (Lc.5,11), là để mang họ về cho Thiên Chúa, chứ không phải mang họ về cho mình, như người đời thường làm. Đó là mục đích duy nhất, và cũng là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của những con người đã  “bỏ mọi sự mà theo Người”. (Lc.5,11).

Vì Chúa Giê-su, con Thiên Chúa, đã phán:  “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Đem mọi người về với Chúa, chính là giúp họ được sống – sống dồi dào, nhờ nhận biết Thiên Chúa và Tin Yêu vào Ngài.

“Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga.10,10)
.

Tất cả là vì “Sáng danh Chúa”. Chỉ với hạnh phúc cao cả con người mới loại trừ được những niềm vui trần thế tạm bợ chóng qua. Khi bỏ mọi sự mà theo Người, thì Người phải là hạnh phúc đời ta – “Chúa là hạnh phúc của con” –  ta mới đi tròn cuộc hành “theo chân Chúa” suốt cuộc đời.

Lạy Chúa,
Đường theo Chúa rất dài, và lắm gian truân,
Xin nâng đỡ đời con từng bước. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng

canhdongtruyengiao.net

Hồng Ân Của Việc Hoán Cải – CN III TN B

Chúa Nhật 3 Thường Niên Năm B – 2021

Hồng Ân Của Việc Hoán Cải

Khi tuyên thánh cho hai trẻ Francisco và Jacinta, những nhân chứng trong sự kiện Fatima năm 1917 tại Bồ Đào Nha, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói: “Đức Mẹ đã tiên báo và cảnh cáo chúng ta về một lối sống loại trừ Thiên Chúa và thậm chí xúc phạm Thiên Chúa nơi các thụ tạo của Ngài. Một đời sống như vậy luôn được cảnh báo là có nguy cơ dẫn đến hư mất đời đời.”

Trong một đêm nọ, khi cha của Francisco hỏi cậu tại sao cậu khóc, thì cậu trả lời rằng: “Con đang nghĩ đến Chúa Giêsu, Ngài đang rất buồn bởi vì những tội lỗi đã gây ra tổn thương đến Ngài”. Những tội lỗi mà các trẻ đã lo lắng dường như phù hợp trong thời đại của chúng ta hơn cả thời của các trẻ này nữa.

Sau khi Đức Mẹ chỉ cho ba trẻ nhìn thấy hỏa ngục, Jacinta đã cảnh báo mẹ cô rằng: “Mẹ ơi, hãy tránh xa sự giàu có và xa hoa.” Cô cũng nói rằng: “Để được thanh sạch nơi thể xác thì nghĩa là không được gian dâm, và để được thanh sạch trong tư tưởng thì nghĩa là không được phạm tội; đừng trộm cắp hay nói dối, và phải luôn nói sự thật, cho dù điều đó rất khó.”

Bàn luận về những nỗi lo lắng của Jacinta đối với tội lỗi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói: “Ngày nay cũng vậy, rất cần thiết để cầu nguyện và ăn năn sám hối hầu khám phá ra hồng ân của việc hoán cải”.

Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật 3 Thường niên B chính là “hồng ân của việc hoán cải” do lời mời gọi ăn năn sám hối.

Bài đọc thứ nhất trích sách Giôna 3, 1-5.10 là phần sau của câu chuyện Chúa gọi ông Giôna đi rao giảng sự sám hối cho thành Ninivê. Mặc dù không đồng ý và bị bắt buộc phải làm việc đó, Giôna chỉ rao giảng cách miễn cưỡng: “Còn 40 ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá đổ” (Gn 3, 4), nhưng : “Dân Ninivê tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ” (Gn 3, 5). Hồng ân của việc hoán cải thể hiện bằng việc: “Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác trở lại, Người tiếc nuối về tai họa Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, và đã không giáng xuống nữa” (Ga 3, 10).

Lời rao giảng đầu tiên của Gioan Tẩy giả cũng chính là sứ điệp chung của Tin Mừng được Đức Giêsu công bố ngày hôm nay: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15). Và rồi cả cuộc đời của Đức Giêsu, bao việc Ngài làm, bao lời Ngài rao giảng, bao lời cầu nguyện, bao nhiêu dấu lạ… cũng chỉ để con người đón nhận hồng ân của sự sám hối.

Việc Ngài chọn gọi các môn đệ đầu tiên trong đoạn Tin mừng hôm nay cũng là để họ được chia sẻ sứ mạng với Ngài, sứ mạng rao giảng “hồng ân sám hối”. Để rồi các môn đệ cũng đã bắt chước Thầy mình, dùng cả cuộc đời rao giảng và làm chứng cho ơn cứu độ, tức là mời gọi người ta tin vào Đức Giêsu Kitô để được cứu độ.

Chính vì thế mà thánh Phaolô, một đứa con “sinh sau đẻ muộn” trong đức tin Kitô giáo sau khi trở lại đã kinh nghiệm và nói lên sự thật cho các tín hữu thành Côrintô được biết: “Bộ mặt thế gian này đang biến đi” (1Cr 7, 31), vì vậy đừng bám víu vào những giá trị ở đời này, mà phải lo ăn năn sám hối để được cứu độ.

“Hồng ân cứu độ” là món quà cao quý nhất Thiên Chúa trao ban cho nhân loại chúng ta sau khi ông bà nguyên tổ sa ngã phạm tội. Hồng ân đó được thực hiện nơi Đức Giêsu qua lời rao giảng, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Hay nói cách khác cả cuộc đời của Ngài là làm sao để con người đón nhận sứ điệp : “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng”. Đó chính là “niềm vui của Tin mừng” tức là lời loan báo về ơn cứu độ, và đó cũng chính là niềm vui của Thiên Chúa qua mặc khải của Đức Giêsu trong dụ ngôn nén bạc và con chiên lạc : “Vậy tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn” (Lc 15, 7). Thiên Chúa như người cha sẽ vui mừng khi con người là con cái của Ngài biết ăn năn sám hối.

Quả thật, niềm vui lớn nhất của những cha mẹ trong gia đình có đứa con hư đốn là khi nó biết từ bỏ con đường sai trái để quay trở về làm đứa con ngoan trong gia đình; dù cho cha mẹ đó mất hết sản tài sản cũng được, thậm chí mất mạng sống của mình cũng được. Niềm vui lớn nhất của thánh nữ Mônica là khi Augustinô biết từ bỏ con đường tội lỗi của mình mà quay về với Chúa, với Giáo hội, với gia đình. Và cũng chính lúc đó thánh nữ nhắm mắt lìa đời dù đang trên đường trở về quê nhà. Người mẹ đã cảm nhận được hồng ân sám hối của đứa con mình quá lớn lao, lớn đến mức bà không cần phải về nhà, vì đối với bà hạnh phúc chính là đây.

Niềm vui lớn nhất của các linh mục tại các giáo xứ không phải là việc rửa tội cho nhiều người, xây dựng được nhiều công trình, được nhiều người thương mến… mà là có nhiều người trở về với Chúa. Mỗi thánh lễ mà thấy có thêm những “gương mặt lạ”, thì quả thật “vui sao nước mắt lại trào”. Dù có mệt mỏi, có hao mòn sinh lực, và thậm chí có chết liền tại chỗ… nhưng miễn làm sao mọi người trong giáo xứ đều giữ vững đức tin của mình thì các linh mục cũng sẵn sàng chấp nhận.

Trong buổi triều yết chung ngày 25/06/2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: “Sám hối đối với các ngôn sứ có nghĩa là thay đổi hướng đi và một lần nữa quay trở về với Thiên Chúa, tín thác rằng Người yêu thương chúng ta và tình yêu của Người mãi luôn trung tín”.

Tôi không đi lễ được vì lý do tôi bận rộn với công việc của tôi. Con đường đó có đúng hay không? Hãy suy nghĩ cho kỹ lại để kịp thời “thay đổi hướng đi và một lần nữa quay về với Thiên Chúa”.

Là người Công giáo mà tôi vẫn mê tín dị đoan, và đó là con đường tôi đang đi. Con đường đó có đúng hay không? Hãy suy nghĩ cho kỹ lại để xem ai sẽ cứu độ tôi, khi chết tôi sẽ về đâu để kịp thời “thay đổi hướng đi và một lần nữa quay về với Thiên Chúa”.

Nhiều người vẫn còn đắm chìm trong những đam mê, tội lỗi của mình, và đó là con đường họ đang đi, con đường này khiến họ không còn hiệp thông với Chúa, với Giáo hội nữa dù họ rất muốn, nhưng vì nó có một sức mạnh quá mãnh liệt khiến họ không từ bỏ được. Hãy suy nghĩ cho kỹ lại: rồi đây tôi sẽ được gì nếu giả dụ ngay hôm nay tôi phải chết để kịp thời “thay đổi hướng đi và một lần nữa quay về với Thiên Chúa”.

Chắc chắn không ai muốn sa hỏa ngục, muốn mất linh hồn, nghĩa là ai cũng muốn được cứu độ, nhưng không có động lực nào thúc đẩy chúng ta để dẫn đến sự sám hối thực lòng. Đức Thánh Cha Phanxicô đã hướng dẫn chúng ta: “Lòng sám hối thật chỉ xảy ra khi chúng ta nhận được món quà ân sủng, và một dấu chỉ rõ ràng của nó là khi chúng ta trở nên ý thức trước những nhu cầu của anh em chúng ta, và sẵn sàng lại gần với họ. Vì thế, chúng ta hãy bước theo lời mời gọi này của Thiên Chúa và chúng ta không từ bỏ sự bền chí, vì chỉ khi nào chúng ta mở tâm hồn cho lòng thương xót thì chúng ta mới tìm được sự sống và niềm vui thực sự.”

Nghĩa là khi chúng ta biết quan tâm đến người nghèo, biết chia sẻ với họ thì chúng ta mới thực sự sám hối ăn năn. Ngược lại nếu muốn sám hối ăn năn thực lòng thì hãy tập tành chia sẻ với người nghèo khổ. Chính vì thế lời mời gọi sám hối luôn luôn đi kèm với hành động biết chia sẻ. Do đó công cuộc bác ái từ thiện của Giáo hội không phải chỉ là phong trào để đánh bóng tên tuổi, mà nó chính là con đường dẫn đến sự sám hối.

Hồng ân của sự hoán cải là khi biết bỏ con đường tội lỗi để sống theo Tin Mừng của Đức Giêsu. Hoa trái của sự sám hối chính là đời sống bác ái yêu thương vì ta cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho ta nên ta muốn chia sẻ cho người khác.

Xin Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, thánh cả Giuse cho chúng con biết sám hối thực lòng để sống một đời sống mới.

Lm. Giuse Nguyễn

Chúng tôi đã gặp Đấng Cứu Thế – CN II TN B

Chúng tôi đã gặp Đấng Cứu Thế

Nhìn nhận khả năng của người khác đó là một điều mà ít ai trong chúng ta cũng muốn. Việt Nam chúng ta thường nói: “Mỗi người có một ông quan trong bụng”. Ai cũng muốn mình hơn kẻ khác, nổi hơn và trội hơn kẻ khác nhiều, ít ai chịu lép vế, chịu thua kẻ khác. Tự cao tự đại, ưa chỉ tay năm ngón, đó là thói thường của con người.

Kiêu ngạo là tội đứng đầu trong bảy mối tội đầu. Có lẽ người ta thấy tội kiêu ngạo là đầu dây mối nhợ sinh ra mọi tội lỗi khác. Tự đưa mình lên cao, không xem ai ra gì và theo như câu nói dân gian của người Việt Nam: “Coi trời bằng vung” hay “coi trời bằng ngọn rau má” là thế. Tâm trạng đó làm cho con người khó chấp nhận nhau về khả năng, về tài khiếu hơn thua.

Bài Tin Mừng hôm nay nói việc thánh Gioan Tẩy Giả cũng có những môn đệ tìm theo học hỏi và muốn tôn ông làm thầy, ít ra là phải hai hoặc ba người, vì sách ghi rằng: “Gioan đang đứng và nói chuyện với hai trong nhóm môn đệ của ông”, chứng tỏ là Gioan cũng có nhiều môn đệ khác nữa ngoài hai người đó.

Và tâm trạng chung khi một người có nhiều môn đệ đi theo thì không muốn một môn đệ nào của mình bỏ mình đi mà theo một người khác. Lý do đó có thể là mình kém tài giỏi, đạo đức hơn người kia chăng? Sự việc đó phải chăng đã làm mất sĩ diện cho mình? Vậy mà chúng ta thấy Gioan không nghĩ đến điều đó, ông vẫn chỉ cho các môn đệ của mình về Chúa Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Hai môn đệ của Gioan nghe nói liền đi theo Chúa Giêsu nhưng Gioan cũng không ngăn cản hai môn đệ mình, vì ông đã thấy sự thật nơi Chúa Giêsu là Con Thên Chúa, là Đấng ông loan báo, Đấng cứu chuộc tội lỗi nhân loại. Ông không mê hoặc người khác để cho họ nhắm mắt theo ông nhưng ông chỉ cho người khác thấy sự thật, thấy chân lý, thấy Đấng Cứu Thế.

Mỗi người trong chúng ta đôi lúc cũng có thái độ ngược hẳn lại: theo Chúa, tuân giữ luật Chúa, đôi lúc chúng ta muốn người khác nhìn vào và khen chúng ta là ngưòi đàng hoàng, tốt lành, đạo đức và chúng ta hãnh diện vì điều đó. Như thế chúng ta đã che mất hình ảnh của Thiên Chúa trong chúng ta, người khác tìm đến chúng ta chứ không phải họ tìm đến với Thiên Chúa qua sự tốt lành đạo đức đó. Mọi lời khen thưởng, ca ngợi thay vì dành riêng cho Thiên Chúa, người ta lại dành hết cho chính mình. Bài học của Gioan Tẩy Giả hôm nay là một bài học thực tế cho mỗi người trong chúng ta.

Khi hai môn đệ Gioan đi theo Chúa Giêsu. Anrê sau khi đã biết Chúa Giêsu là Đấng Kitô, là Đấng Messia thì ông giới thiệu với anh mình là Simon Phêrô đến gặp Chúa Giêsu. Anrê nói với anh mình: “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia, nghĩa là Đấng Kitô” và rồi ông đã dẫn Simon Phêrô đến với Chúa Giêsu.

Mỗi người trong chúng ta khi biết được Thiên Chúa, biết được ơn cứu rỗi của Đức Kitô, chúng ta có can đảm mạnh dạn giới thiệu Ngài với mọi người chăng? Chúa không đòi hết thảy trong mọi người chúng ta phải từ bỏ cha mẹ, anh em và mọi sự để theo Ngài. Nhưng Ngài đòi mỗi người trong chúng ta tùy khả năng, tùy môi trường nơi chúng ta đang sống mà giới thiệu Chúa cho mọi người biết. Chúa không đòi hỏi chúng ta phải rao giảng, phải nói về Chúa thật hay như các nhà hùng biện để lôi cuốn người khác. Nhưng Ngài chỉ mong ước trong cách sống đạo của mỗi người chúng ta, như là lời mời gọi tha thiết mọi người tìm đến Thiên Chúa tình thương. Mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, mỗi hành động của chúng ta đều thể hiện lời Chúa trong Phúc Âm như thánh Phaolô đã thúc nhắc chúng ta: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”.

Có khi nào chúng ta làm một việc gì mà chúng ta suy nghĩ và thành thực hỏi Chúa: Chúa muốn con làm gì bây giờ đây? Hay ý Chúa muốn con thực hiện như thế nào? Có lẽ chưa hoặc ít khi chúng ta hỏi Chúa Giêsu như vậy. Nếu chúng ta thực sự yêu Chúa, Chúa luôn hiện diện trong chúng ta và chúng ta luôn luôn muốn làm đẹp lòng Chúa, như một người muốn làm đẹp lòng người yêu của mình thì khi nào họ cũng tìm hiểu xem người yêu của họ thích gì rồi mua một món quà tặng đúng như ý người yêu mong ước.

Chúng ta yêu Chúa, chúng ta cũng phải tìm xem Chúa yêu thích nhất điều gì và chúng ta phải cố gắng lo làm đẹp lòng Ngài theo như điều Ngài mong muốn. Thật vậy, món quà đó không gì khác hơn là món quà của đức “Mến Chúa và Yêu Người”.

Lạy Chúa, xin cho mỗi người trong chúng con biết sống khiêm nhượng như Gioan Tẩy Giả. Xin Chúa cho mỗi người trong chúng con biết giới thiệu Chúa cho mọi người qua lời ăn, tiếng nói và nhất là cách sống đạo của mỗi người chúng con trong cuộc sống hằng ngày.

(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’ – Radio Veritas Asia)

Tiếng Chúa gọi – CN II TN B

Tiếng Chúa gọi – CN II TN B

Olalla Oliveros, người mẫu nổi tiếng đã tham gia chụp nhiều bộ ảnh quyến rũ, diễn viên chính trong nhiều bộ phim, gương mặt của cô xuất hiện trên các tấm biển khắp Tây Ban Nha. Tuy nhiên, nữ người mẫu đã quyết định trở thành một nữ tu, gia nhập Dòng thánh Michael. Mặc dù sự nghiệp vẫn đang phát triển, nhưng Olalla Oliveros không còn cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ.

Ở tuổi 36, cô quyết định từ bỏ sự nghiệp và khoác lên mình chiếc áo nữ tu sau khi đến viếng Nhà thờ Đức Mẹ Fatima ở Bồ Đào Nha. Không muốn nói nhiều về quyết định của mình, Oliveros chỉ cho biết cảm giác khi tới nơi này giống như có một trận động đất rung chuyển trong người: “Chúa không bao giờ sai, Ngài hỏi tôi có sẵn sàng theo Ngài và tôi không thể từ chối.”

Trên một trang web, Oliveros chia sẻ rằng cô đã có những cảm giác rất kỳ lạ. Từ sau chuyến thăm nhà thờ, hình ảnh bản thân mặc chiếc áo nữ tu luôn hiển hiện trong tâm trí Oliveros. Vì thế, cô đã quyết định từ bỏ công việc của mình để trở thành một nữ tu và đổi tên thành Olalla del Sí de María. Trên tờ El Tiempo, Oliveros chia sẻ: “Là một người mẫu bạn phải có thân hình chuẩn, là hình mẫu để mọi người noi theo. Tôi cảm thấy áp lực. Tôi cũng mệt với những lời nói dối, hình thức, một xã hội đầy bạo lực, ngoại tình, ma túy, rượu, thù oán và một thế giới đề cao vật chất, hưởng thụ, dâm dục, lừa đảo.” Oliveros cho biết thêm: “Tôi không lấy việc trở thành một nữ tu để lăng xê tên tuổi của bản thân, mà chỉ muốn trở thành một hình mẫu đề cao phẩm giá thực sự của người phụ nữ.”

Oliveros không phải là người mẫu đầu tiên quyết định từ bỏ cuộc sống bận rộn trên sàn catwalk để chọn lấy một cuộc sống bình lặng trong tu viện. Amada Rosa Pérez là một trong những người mẫu hàng đầu của Colombia trước khi trở thành một nữ tu vào năm 2005, vì cảm thấy mệt mỏi với cuộc sống căng thẳng của mình. (Theo Daily Mail)

Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan tường thuật Thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu những môn đệ với Đức Giêsu: “Đây là Chiên Thiên Chúa!” Lập tức họ được Đức Giêsu mời gọi theo Người. Rồi họ lại giới thiệu người khác đến với Chúa. Bây giờ, Đức Giêsu vẫn không ngừng mời gọi mọi người bỏ mọi sự theo Người. Điển hình như các người mẫu, diễn viên tài sắc Olalla Oliveros và Amada Rosa Pérez đã đáp lời, mặc dù sự nghiệp còn đang lẫy lừng thành đạt.

Tiếng gọi

Hôm nay, tín hữu Kitô không còn vinh hạnh được thánh Gioan Tiền Hô trực tiếp giới thiệu đến với Chiên Thiên Chúa, như các môn đệ thuở xưa. Nhưng may mắn thay, Giáo Hội không thiếu các đấng như môn đệ Anrê, sẵn sàng tận tụy chỉ dẫn đến Đức Giêsu. Đó là những Chủ Chiên tốt lành, những tu sĩ chân chính, những tông đồ giáo dân nhiệt thành. Hoặc Chúa gửi đến những dấu chỉ riêng cho từng người. Một lời khuyên nhủ nhắc nhở của bè bạn. Một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Một gia cảnh lục đục bất an. Một thất bại cay đắng, ê chề…Vấn đề là người tín hữu có thức tỉnh, sẵn sàng và khao khát lắng nghe, tìm hiểu, giải mã dấu chỉ, để nghe được tiếng Đức Giêsu mời gọi hay không? Hay cứ đắm đuối, mải mê, mù lòa trong cõi ta bà tục lụy, thì làm sao nghe được tiếng Chúa gọi?

“Đến mà xem!” Bằng rất nhiều dấu chỉ, Thiên Chúa luôn xót thương, luôn kiên nhẫn mời gọi, luôn nhẫn nại chờ từng người đáp lại, tựa như Người Cha tốt lành trông ngóng đứa con hoang, biết ăn năn sám hối, đáp lời, mà quay trở về.

“Hãy theo Thầy!” Các tông đồ đã bỏ mọi sự theo Chúa, con có dứt khoát một phen theo Chúa không? Chúa phải gọi con mấy lần rồi?” (Đường Hy Vọng, số 61)

Lời đáp

“Dạ, con đây!” Ngôn sứ Samuel đã luôn tỉnh thức, mau mắn cả ba lần đều thân thưa tiếng Chúa gọi. Một tâm hồn chân thành, tinh tuyền, trong sáng, nhạy cảm, sẵn sàng lắng nghe, đón nhận Lời Chúa, để thực thi Thánh Ý Chúa. “Xin Ngài phán, vì tôi tờ Ngài đang lắng nghe.”

Hai Tông đồ Anrê và Gioan cũng đều nhiệt thành, sẵn sàng tuân theo lời mời gọi “Đến mà xem.” Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại vời Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. (tức bốn giờ chiều ngày nay) Không chút chần chừ, so đo, suy xét, họ bỏ tất cả nghề nghiệp, huyết tộc, thân bằng quyến thuộc, dứt khoát dấn thân theo Đức Giêsu, Đấng chẳng có nhà cửa, cũng chẳng có chỗ tựa đầu nữa. (Mt 8, 20)

Đức Giêsu cũng thân thương mời gọi, an ủi, cứu giúp tất cả những ai đang khốn khổ, cực nhọc: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11, 28). Vì chỉ ở nơi Người mới có sự bình an viên mãn, niềm hoan lạc, mà thế gian không bao giờ có. “Ta để lại bình an cho các ngươi; Ta ban bình an của Ta cho các ngươi; không phải thế gian ban cho thế nào, thì Ta cũng ban cho như vậy đâu! Lòng các ngươi chớ xao xuyến, chớ nhát đảm” (Ga 14, 27)

“Chúa hiện diện bên con, không phải chỉ là một tâm tình, nhưng là việc Chúa chiếm hữu cả con người con, hướng dẫn, yêu thương, an ủi con.” (Đường Hy Vọng, số 241)

Chứng nhân

Ông Gioan Tiền Hô đã giới thiệu Đức Giêsu cho ông Anrê. Ngài đã gặp Chúa, ở lại với Chúa dù chỉ một ngày, đã cảm nghiệm Tình Yêu tuyệt vời, nay lại tiếp tục giới thiệu cho Simon. Trước hết, ông Anrê gặp em mình là ông Simon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia.” Rồi ông dẫn em mình đến gặp Chúa Giêsu.

Gặp gỡ Chúa, ở lại trong Tình Yêu còn gì hân hoan, sung sướng, hạnh phúc hơn? Còn gì tuyệt vời hơn được nương náu bên Người Cha chí nhân, chí thánh, nguồn cội tinh tuyền của con người? Người luôn đầy lòng thương xót, tha thứ, biến đổi, thánh hóa con người bùn nhơ, tội lỗi, bất nghĩa, bất tín, bất trung thành bạn hữu, anh em của Người. Chính vì nếm trải cảm nghiệm thần thánh, mà ông Anrê vội vàng tìm gọi em mình là Simon cùng theo, làm môn đệ Đức Giêsu cực trọng.

Có Chúa là có tất cả, dù bao phong ba cuộc đời thử thách, ngôn sứ Khabacúc vẫn trung kiên xác tín: “Thật thế, cây vả không còn đâm bông nữa, cả vườn nho không được trái nào. Quả ô liu đợi hoài không thấy, ruộng đồng chẳng đem lại gì ăn. Bầy chiên dê biến mất khỏi ràn, ngó vào chuồng bò bê hết sạch. Nhưng phần tôi, tôi nhảy mừng vì ĐỨC CHÚA, hỷ hoan vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, làm cho tôi mạnh sức, cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai, và dẫn tôi đi trên đỉnh núi cao vời.” (Kb 3, 17-19)

Đức Giêsu liền sai cùng bốn mộn đệ đầu tiên làm chứng nhân, rao truyền ơn cứu độ đến mọi người, mọi dân tộc: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” (Mc 1, 17) Bởi vì “Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không.” (Mt 10,8)

“Quyết định theo Chúa của con không phải chỉ là một chữ ký, không phải là một lời tuyên thệ thôi. Nhưng là một sự hiến dâng liên lỉ, thực hiện trong cả cuộc sống.” (Đường Hy Vọng, số 69)

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con thành tâm và tỉnh thức nghe thấy tiếng Chúa gọi. Chúng con vốn yếu đuối, dễ sa ngã, dễ bị sự đời cám dỗ quyến rũ. Vậy xin Chúa tha thứ và cảm biến, đối mới chúng con, để chúng con luôn nhạy cảm nghe được tiếng gọi qua các dấu chỉ, hầu được kết hiệp cùng Chúa trong từng giây phút cuộc đời.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu bầu cho chúng con hằng ngày biết lắng nghe Lời Chúa mời gọi, để tỉnh thức ăn năn, sám hối, trở về cùng Chúa luôn. Amen.

AM Trần Bình An

Thánh Gia Mẫu Gương Gia Đình Thời Nay

Thánh Gia Mẫu Gương Gia Đình Thời Nay

Ngày thứ sáu  25.12.2020 năm nay,  đúng là Ngày Lễ Noel hay Mừng Sinh Nhật của Chúa Giêsu, Vị Giáo Chủ có ảnh hưởng nhiều nhất tới nền văn minh của nhân loại trong 20 thế kỷ qua. Chúa Nhật kế tiếp ngày 27.12. 2020 Giáo  Hội Công Giáo lại Mừng Lễ Thánh Gia, Thánh Thất hay Gia Đình Thánh Gia,  để tôn kính và đề cao gia đình gương mẩu thánh thiện, nơi đó Chúa Giêsu giáng trần sống với người Mẹ tên Maria và người Cha Nuôi Giuse. Tại sao có Ngày Lễ nầy?

Đôi dòng về Việc tôn kính Thánh gia. 

Giáo hội Công giáo chính thức bắt đầu tôn kính Thánh Gia vào thế kỷ 17 do Giám mục Chân Phước François de Laval, người Canada gốc Pháp, là giám mục đầu tiên của Québec, rồi lan rộng khắp hoàn cầu mà lý do chính là:

Chừng hơn thế kỷ nay, xảy ra tại Âu Mỹ trước, nhiều gia đình bị tục hóa. Giá trị  gia đình bị tiêu tan về mặt tinh thần và xã hội, có thể dẩn tới suy xụp hoàn toàn. Vì vậy tín hữu đi tìm tới Mái Nhà Thánh Gia làm gương mẩu cho các gia đình Công Giáo sống đạo  với ơn thánh hoá và trợ giúp của Chúa qua Bí Tích Hôn Phối.

Đức  Giáo Hoàng Lêô 13, năm 1893 cho phép lễ kính Thánh Gia vào Chúa Nhật  trong tuần lễ Bát Nhật Lễ Ba Vua,  trong thời gian từ  07 tháng 1 đến 13 tháng 01 của năm. Trong năm này, có việc cử hành đầu tiên lễ kính Thánh Gia, do lời xin với Tòa Thánh của Giáo Phận hoặc  dòng tu có lòng tôn kính Thánh Gia

Năm 1920, lễ Thánh Gia mới được đưa vào  sách lễ Rôma, và định ngày Chúa nhật thứ I sau lễ Hiển Linh. Từ 1969, Lễ nầy được cử hành vào Chúa nhật ngay sau lễ Giáng Sinh  hoặc 30 tháng 12, nếu không có Chúa nhật  trước cuối năm.

Xin bình tâm đọc những dòng Sách Thánh bên dưới, cũng không khó hiểu, với những nguyên tắc chỉ dẩn và thực hành cho từng giới từng người trong nhà, là làm sao để xây dựng gia đình của mình, qua Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse là những vị tiên phong gương mẩu.

Bài đọc I. “Ai kính sợ Chúa, thì thảo kính cha mẹ”.

Trích sách Huấn Ca.  3: 3-7, 14-17a

Thiên Chúa suy tôn người cha trong con cái; quyền lợi bà mẹ, Người củng cố trên đoàn con. Ai yêu mến cha mình, thì đền bù tội lỗi; ai thảo kính mẹ mình, thì như người thu được một kho tàng. Ai thảo kính cha mình, sẽ được vui mừng trong con cái, khi cầu xin, người ấy sẽ được nhậm lời. Ai thảo kính cha mình, sẽ được sống lâu dài. Ai vâng lời cha, sẽ làm vui lòng mẹ.

Hỡi kẻ làm con, hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi, chớ làm phiền lòng người khi người còn sống. Nếu tinh thần người sa sút, thì hãy rộng lượng, ngươi là kẻ trai tráng, chớ đành khinh dể người. Vì của dâng cho cha, sẽ không rơi vào quên lãng. Của biếu cho mẹ, sẽ đền bù tội lỗi, và xây dựng đức công chính của ngươi.

ĐÁP CA: Tv 127, 1-2. 3. 4-5

Ðáp: Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người (x. c. 1).

1) Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người! Công quả tay bạn làm ra bạn an hưởng, bạn được hạnh phúc và sẽ gặp may.

2) Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái, trong gia thất nội cung nhà bạn. Con cái bạn như những chồi non của khóm ô-liu ở chung quanh bàn ăn của bạn. Ðó là phúc lộc dành để cho người biết tôn sợ Ðức Thiên Chúa.

3) Nguyện xin Thiên Chúa từ Sion chúc phúc cho bạn, để bạn nhìn thấy cảnh thịnh đạt của Giêrusalem hết mọi ngày trong đời sống của bạn, và để bạn nhìn thấy lũ cháu đoàn con!

BÀI ĐỌC II: “Về đời sống gia đình trong Chúa”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê. 3:12-21

Anh em thân mến, như những người được chọn của Thiên Chúa, những người thánh thiện và được yêu thương, anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hoà, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau, và hãy tha thứ cho nhau nếu người này có chuyện phải oán trách người kia.

Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Và trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện.

Nguyện cho bình an của Chúa Kitô làm chủ trong lòng anh em, sự bình an mà anh em đã được kêu gọi tới để làm nên một thân thể. Anh em hãy cảm tạ Thiên Chúa. Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi dào trong anh em. Với tất cả sự khôn ngoan, anh em hãy học hỏi và nhủ bảo lẫn nhau.

Hãy dùng những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca của Thần khí, cùng với lòng tri ân, để hát mừng Thiên Chúa trong lòng anh em. Và tất cả những gì anh em làm, trong lời nói cũng như trong hành động, tất cả mọi chuyện, anh em hãy làm vì danh Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người mà tạ ơn Thiên Chúa Cha.

 Hỡi các bà vợ, hãy phục tùng chồng trong Chúa cho phải phép. Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình, đừng đay nghiến nó. Hỡi những người con, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là đẹp lòng Chúa. Hỡi những người cha, đừng nổi cơn phẫn nộ với con cái, kẻo chúng nên nhát đảm sợ sệt.

PHÚC ÂM:   “Con trẻ lớn lên, đầy khôn ngoan”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Lc 2, 22-40

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa”. Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu con.

Và đây ở Giêrusalem có một người tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng: Ông sẽ không chết trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: “Lạy Chúa, bây giờ, Chúa để cho tôi tớ Chúa đi bình an theo như lời Chúa, vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa”.

Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người rằng: “Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!”

Lúc ấy, cũng có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm. Rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi bốn tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

 Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.

Dưới đây, chỉ xin ghi vài điều đáng ghi nhận, vì những Lời Chúa bên trên đã chỉ dẩn khá dài và rõ ràng .

Một là, trong thời gian ba tháng qua, Đài Truyền Hình Vĩnh Long  đã đưa lên Youtube.com bộ phim truyện 80 tập  “Vua bánh Mì” với kết luận có hậu trong việc giáo dục con cái và xây dựng gia đình, ngoài việc kinh doanh buôn bán: thiện ác đáo đầu chung hữu báo, qua ba vai đáng chú ý.

Nhân vật chính là Lê Hữu Nguyện được người mẹ dạy rằng: làm tốt thì việc tốt sẽ đến, dù tuổi trẻ của em bị bao nhân hoạ.

 Nhân vật thứ hai là bà Ngọc Khuê, lúc nào trong đầu cũng nhiều thủ đoạn, cuối cùng  tự đắc với danh hiệu bà vợ Tổng giám đốc, nhưng bị dày vò, cô đơn trong hoang tưởng mà không người nhà nào chung quanh.

 Người đáng nói thứ ba là anh lái xe Tài, cũng là người điều hành tổng quát công ty, gây nhiều tai hoạ, kể cả kế hoạch giết người, cho mẹ con Dung, thì kết cục là nhà tù có khi tới mãn đời.

Hai là, mừng Lễ Thánh Gia, người Kitô hữu ca tụng  và tôn vinh ba Đấng  mẩu mực của mái nhà đầm ấm nầy,  đồng thời cũng còn là cớ sự để giúp con người ngày nay suy niệm, bắt chước và học tập theo các nhân đức của các thành phần thánh thiện trong gia đình Nadarét nữa.

Ba là, đây là dịp tốt để những thành viên trong gia đình nhớ về công lao của đại gia đình Ông Bà cha mẹ và dòng tộc  theo truyền thống Á Đông và cũng thêm gắn bó với tiểu gia đình của mình.

Bốn là trong thực hành. Ngày nay tủ sách học/dạy làm người và xây dựng gia đình tân thời có rất nhiều, với những phương cách hợp thời và rất thuyết phục cho đa số.

Riêng gia đình thế hệ ông Bà cha mẹ người  Công Giáo, từ nhiều thế kỷ qua,  có tiếng là vững chắc và ổn định, nhờ được xây dựng trên nền Lời Chúa trong Thánh Kinh, như những bài Đọc bên trên. Những lời dạy đó, có  tóm gọn trong  sách “Thánh Yếu Giáo Lý” “Sách phần” của miền Nam, cũng như trong sách giáo lý, sách Kinh Bổn xứ Bắc.  Nhơn ngày lễ Gia đình, đọc lại trang điều răn thứ bốn, xin ghi ra hai điều căn bản cũ mà không xưa nầy:

Cha mẹ hay người chủ nhà phải làm những điều gì cho con cái và tôi tớ (người giúp việc)? : một là dạy dỗ, hai là sửa phạt, ba là làm gương tốt, bốn là dưỡng nuôi. Còn giúp đỡ cha mẹ là làm sao?

Thưa. –  Là Cha mẹ khó khăn già cả, phải dưỡng nuôi, sớm viếng tối thăm, chẳng nên kể công nọ ngãi kia, vì đã dầy ngày chịu khó; còn của người chẳng nên xén bớt; khi liệt lào phải chạy thuốc thang; thuở mạng một trợ phần tống táng, cùng cầu hồn gởi lễ cho người.

 Đôi dòng kinh nguyện. 

Lạy Thánh Gia Thất, đã là mẫu gương tuyệt vời cho các gia đình Công Giáo.

Xin cho những vị lãnh đạo tinh thần chú ý hơn tới mục vụ gia đình, để mái nhà người Công Giáo thực sự trở nên Hội Thánh tại gia, giúp bảo vệ và truyền bá đạo lý của Chúa.

Xin cho các bậc cha mẹ trong gia đình biết noi  theo gương mẫu của Mẹ Maria và thánh Giuse, luôn vâng ý Chúa trong mọi hoàn cảnh.

 Xin cho những người trẻ biết chu toàn bổn phận làm con trong gia đình, biết sống xứng đáng phẩm giá làm người cho thế hệ sau và làm con của Chúa.

  Xin cho họ đạo chúng con tích cực xây dựng gia đình mình trở thành một tiểu giáo hội, biết cầu nguyện, yêu thương, phục vụ, và làm gương sáng. Amen.

vo ha (gpcantho.com)

Mái Ấm Hạnh Phúc – Lễ Thánh Gia

Mái Ấm Hạnh Phúc – Lễ Thánh Gia

 Tolstoy viết lời mở đầu cuốn sách “Anna Karenina”: Những gia đình hạnh phúc đều giống nhau, nhưng gia đình bất hạnh thì lại muôn màu muôn vẻ.

Vậy gia đình hạnh phúc có những điều nào giống nhau? Thực tế cho thấy rằng, một gia đình hạnh phúc là mẹ được ưu ái, cha được tôn trọng và con được tiếp nhận. Mẹ được chiều chuộng, gia đình càng hạnh phúc. Cha được tôn trọng sẽ càng yêu mẹ hơn. Con cái được tiếp nhận, gia đình mới thực sự là mái ấm.Gia đình là thế giới của mẹ, là vương quốc của cha, là khu vườn thần tiên của con trẻ. Đây chính là hình mẫu về một mái ấm hạnh phúc.

Gia đình là tổ ấm yêu thương cho từng thành viên. Trước ngưỡng cửa của đời sống hôn nhân gia đình, ai cũng muốn cho mình có được một cuộc tình êm xuôi, một gia đình hạnh phúc, trên thuận dưới hoà, con cái hiếu thảo, vợ chồng yêu thương nhau. Hôn nhân gia đình là một quyết định và là bước ngoặt lớn trong cuộc sống con người, nên người ta đặt vào đó cả niềm hy vọng và sự mong đợi lớn lao.

Đời sống hôn nhân gia đình có một ơn gọi và sứ mạng cao quý trong Giáo hội và xã hội. Chúa Giêsu đã sinh ra và lớn lên trong khung cảnh của một gia đình. Qua cuộc sống của Thánh Gia, “chúng ta hiểu cách sống trong gia đình. Nadarét nhắc chúng ta về ý nghĩa của gia đình, về sự hiệp thông tình yêu, vẻ đẹp đơn sơ và giản dị, tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình; Nadarét làm cho chúng ta thấy gia đình là một trường học ngọt ngào và không thể thay thế, dạy cho ta biết thế nào là chức năng tự nhiên của gia đình đối với trật tự xã hội” (ĐTC Phaolô VI, Diễn từ tại Nadarét)…Muốn có những con người tốt và những Kitô hữu thánh, gia đình phải tốt và thánh thiện; muốn đổi mới đất nước, xã hội và Hội Thánh, phải bắt đầu từ gia đình. “Gia đình là con đường của Hội Thánh” (Thánh Gioan Phaolô II, Thư gửi các gia đình, số 2).

Lễ Thánh Gia, Giáo hội mời gọi mỗi gia đình Công giáo hướng về gia đình Nadarét. Không phải lúc nào cũng màu hồng mà Tin Mừng cho thấy Thánh Gia đã trải qua những lận đận lao đao vất vả giữa bao hiểm nguy khó khăn thử thách trăm bề. Thánh Giuse khéo léo chống chèo vượt qua tất cả và cùng với Mẹ Maria Chúa Giêsu, xây dựng mái ấm hạnh phúc.

Thánh Gia là trường dạy cầu nguyện, dạy giáo lý, dạy lao động, dạy yêu thương đến hiến mình cho người khác, chuẩn bị cho Chúa Giêsu gánh vác sứ vụ Chúa Cha trao phó sau này.Chúa Giêsu đã vâng phục kỷ luật trường này, chấp nhận những vị thầy đầu tiên là cha mẹ và Người đã lớn lên chững chạc, trưởng thành, quân bình thể xác trí tuệ, tâm linh. Chúa đã sống học tập rèn luyện 30 năm để rao giảng 3 năm. Một năm Chúa Giêsu giảng đạo thì 10 năm Người ở với gia đình. Chúa ưu tiên và đề cao tầm quan trọng của gia đình biết bao.

1. Mái ấm gia đình

Có nhà hoạ sĩ kia cứ mãi mơ ước trong đời mình sẽ vẽ được một bức tranh đẹp nhất thế giới. Nhưng anh ta không biết phải vẽ thứ gì để bức tranh sẽ có được hình ảnh, màu sắc, và nội dung sâu đậm đáng trở thành bức tranh tuyệt vời nhất trần gian.

Chàng đã tìm hỏi với một linh mục về điều gì đẹp và ý nghĩa nhất. Vị linh mục trả lời ngay: “Niềm tin. Niềm tin là số một, niềm tin sẽ nâng cao giá trị con người. Niềm tin sẽ chữa lành và biến đổi mọi sự nên tuyệt vời.”

Chàng hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với một cô gái đang bước lên xe hoa về nhà chồng. Cô gái trả lời: “Trên thế gian này không có gì đẹp bằng tình yêu. Tình yêu là hơi thở, là sức sống, là hạnh phúc, là tất cả. Tình yêu biến cay đắng thành ngọt ngào, đưa tiếng cười vào nơi than khóc, đổi nghèo hèn tầm thường thành phú quí cao sang. Tình yêu thật tuyệt vời.”

Cuối cùng người hoạ sĩ gặp một anh thương binh vừa trở về từ tiền phương. Anh lính đã trả lời: “Hoà bình là điều đẹp nhất trần gian. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có đổ nát, bất hạnh, khổ đau. Ở đâu có hoà bình, ở đó có cái đẹp.”

Ba câu nói của ba con người – vị linh mục, cô gái sắp lấy chồng và anh thương binh trẻ – đã làm cho người hoạ sĩ phân vân: không biết phải làm thế nào để trên bức tranh của mình có thể diễn tả cùng một lúc niềm tin, tình yêu, và hoà bình.

Đang suy nghĩ anh về đến nhà lúc nào không hay. Mấy đứa con anh ùa ra đón bố. Anh nhận thấy niềm tin trong ánh mắt của các con. Anh cũng cảm được tình yêu trong chiếc hôn chân thành của người vợ. Niềm tin của con cái và tình yêu của người vợ làm cho tâm hồn anh ta ấm áp và an bình lạ thường. Thế rồi một ý tưởng chợt loé lên trong đầu. Anh vội ngồi xuống khởi công vẽ tranh, và sau khi hoàn thành tác phẩm đẹp nhất thế gian, anh đã đặt tên cho nó: “Mái Ấm Gia Đình”.

Mái ấm gia đình chính là hình ảnh xinh đẹp và sống động nhất mà người ta có thể vẽ được về Nước Trời hay Thiên đàng ngay trên thế gian này. Mái ấm gia đình cũng sẽ là lời chứng tá hùng hồn nhất cho sự hiện diện của Đức Giêsu giữa dương gian.

2. Hạnh phúc gia đình

Theo Đức cha Bùi Tuần, có ba yếu tố làm nên hạnh phúc gia đình: Quy tụ gia đình; Lễ giáo gia đình và Tình nghĩa gia đình.

+ Quy tụ gia đình

Gia đình là nơi con người được “ở với nhau”. Các môn đệ đầu tiên không tìm đến với Chúa Giêsu như một vị thầy dạy học, nhưng như “Đấng ở với” (Ga 1,38). Chúa đã mời gọi các ông, trước tiên không phải là học một bài học, mà là xem chỗ Người ở và ở lại với Người (Ga 1,39). Cũng vậy các thành viên trong gia đình hiện diện cho nhau với toàn vẹn cái tôi của mình, được chấp nhận và chấp nhận người khác với toàn vẹn cái tôi ấy. Dưới ánh sáng đức tin Kitô giáo, gia đình là nơi chốn bình an cho tâm hồn mình; “Đấng Tạo Hoá đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người nên gia đình trở thành ‘tế bào đầu tiên và sống động của xã hội’ (x.Tông huấn gia đình số 42).

Quy tụ là họp mặt, là gặp nhau, là nói chuyện với nhau, là gần gũi nhau, là chia sẻ với nhau. Quy tụ gia đình làm nên một bầu khí ấm áp thiêng liêng. Có thể nói, mọi quy tụ gia đình, dù thường ngày, dù bất thường, đều mang bầu khí đạo đức, có ánh sáng của đức tin và có hương thơm của đức ái.Quy tụ gia đình như thế sẽ có Chúa hiện diện. Nhờ có Chúa hiện diện, gia đình sẽ biết phân định điều gì là tốt cần làm, điều gì là xấu cần tránh, nhất là trong tình hình hiện nay tốt xấu lẫn lộn một cách quá phức tạp.

+ Lễ giáo gia đình

Lễ giáo là nghi lễ và giáo dục gia đình. Gia đình là một cộng đoàn, một đời sống chung của những con người. Họ có những dây liên đới với nhau. Nên cần phải có những hình thức thể hiện những dây liên đới đó. Do vậy, mà phải được giáo dục, để có được lối sống liên đới tốt đẹp, trong trật tự. Liên đới thấp nhất thuộc nhân bản của cộng đoàn là biết diễn tả sự gần gũi nhau và có trách nhiệm đối với nhau. Biết siêng năng và lương thiện làm hết sức mình, để góp phần vào việc xây dựng hạnh phúc chung gia đình, đó là nét đẹp căn bản của lễ giáo gia đình.Biết chào kính, chào thăm, chào hỏi, với nhiều bình thức, là một nghi lễ đơn sơ chứng tỏ con người có giáo dục gia đình. Biết cảm ơn, biết xin lỗi cũng là những điều lễ phép thô sơ của con người có giáo dục trong cộng đoàn. Biết kính trên nhường dưới cũng là một biểu hiện lễ phép của nền giáo dục liên đới. Biết sống chân thành và trung thành trong các liên đới gia đình cũng là một giá trị của con người có giáo dục gia đình.

+ Tình nghĩa gia đình

Tình nghĩa gia đình cần được vun trồng, cần được chăm sóc, cần được xây dựng với những tình tiết nhỏ. Người tình nghĩa đích thực là người biết xót thương như người Samari đó. Chúng ta chỉ có được một cách đích thực bằng tấm lòng bén nhạy và giàu tình xót thương với những tình tiết nhỏ, do trực giác đạo đức hơn là do lý luận.

3. Tình yêu gia đình

“Hôn nhân gia đình vốn là hình ảnh tiêu biểu của tình yêu. Những áp lực của đời sống xã hội đang làm rúng động tận nền tảng của đời sống gia đình, làm biến dạng ý nghĩa chân thực của tình yêu. Không kể những đổ vỡ trong đời sống gia đình, trên thế giới ngày nay còn xuất hiện và đang lây lan những mẫu gia đình kỳ lạ, gia đình đồng tính, gia đình tạm thời, gia đình ba hoặc bốn vợ/chồng…Kitô giáo không chấp nhận những mẫu gia đình kỳ lạ ấy, không phải chỉ chúng khác lạ, nhưng vì chúng phá vỡ ý nghĩa đích thực của tình yêu”. (x. Gia đình kitô hữu trước những thách đố thời đại, Nội san chia sẻ số 76).

Ngày nay, trong xã hội tiêu thụ, vì bận rộn với công việc kiếm tiền, một số cha mẹ không gần gũi, không dành thời giờ cho con cái. Vì thế, chúng cảm thấy bị bỏ rơi, thiếu tình thương. Theo mức độ, con cái sẽ lâm bệnh chán nãn, buồn phiền, không thích học nữa, lỳ lợm, xấc láo, ích kỷ, vô cảm, đua đòi thiếu suy nghĩ.Một số phụ huynh chỉ mong con mình học giỏi, thành đạt, kiếm được nhiều tiền. Họ ít quan tâm đến đời sống đạo đức của con, không lo giáo dục đức tin cho con. Có cha mẹ quan niệm, lo cho con được Xưng Tội, Rước Lễ, Thêm Sức là đủ rồi; vì thế có những em sau khi Thêm Sức là bỏ nhà thờ. Sự đa dạng của vi tính và internet quá hấp dẫn lôi kéo con cái chúng ta ra khỏi thực tế và lao vào thế giới ảo, lối sống ảo. Lối sống hiện đại cũng dễ đánh mất bầu khí mái ấm. Mỗi người có một phòng riêng, một thế giới riêng nên mọi người ít quan tâm đến nhau, ít giúp đỡ nhau.

Các bậc phụ huynh xin hãy nhớ, sức mạnh của sự quy tụ các thành viên trong tình nghĩa và với lễ giáo gia phong sẽ làm thành mái ấm gia đình cao quý. Chính đức tin và tình yêu từ mái ấm sẽ làm trổ sinh hoa trái cho đời sống gia đình.

Ở các nước Âu Mỹ, có một câu ngạn ngữ nổi tiếng nhà nhà đều biết: “Happy wife happy life”, nghĩa là “Vợ vui lòng, cuộc sống vui vẻ”. Câu này nên trở thành kim chỉ nam của mỗi một ông chồng.Một người phụ nữ được chiều chuộng sẽ rất rạng rỡ, ấm áp, mềm mại như ngọc. Một người đàn ông được tôn trọng sẽ có thần thái, phong độ ngời ngời. Chồng càng yêu thương vợ, vợ lại càng tôn trọng chồng. Vợ càng tôn trọng chồng, chồng lại càng yêu thương vợ. Tình cảm hài hoà, cha mẹ tôn trọng ý nguyện của con cái, quan tâm và tán dương con cái, gia đình thật hạnh phúc, chan hòa niềm vui tình yêu.

Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Niềm vui của tình yêu trong đời sống của các gia đình cũng là niềm vui của Hội Thánh” (Tông huấn Niềm vui tình yêu, số 1).

Theo gương Thánh Gia, mỗi gia đình hãy nỗ lực thực thi lời mời gọi của HĐGMVN : “Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Công Giáo”. Hạnh phúc gia đình khởi đi từ tình yêu, niềm tin và hoà bình. Gia đình sẽ là “vườn ươm” các nhân đức, là “nơi đào tạo” nhân bản và tâm linh cho con cái, để trở thành một Hội Thánh tại gia.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Giáng Sinh: Mầu Nhiệm Của Lòng Thương Xót

Giáng Sinh: Mầu Nhiệm Của Lòng Thương Xót

Trung tâm điểm và đồng thời cũng là cao điểm của bài Tin Mừng hôm nay là lời khẳng định của thánh Gioan: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Con Thiên Chúa đã trở nên con người và đi vào lịch sử loài người. Con Thiên Chúa nhập thể để làm gì?

  1. Thánh Gioan nói trong lời mở đầu của Tin Mừng: Ngôi Lời đến để chiếu sáng thế gian, để tỏ cho thế gian biết Chúa Cha; nhưng đây là thế gian chìm ngập trong bóng tối. Tác giả thư Do Thái (Bài đọc 2) cho thấy Con Thiên Chúa đến trần gian để mạc khải Chúa Cha cho chúng ta, và còn hơn nữa, để chịu chết và đền tội cho chúng ta. Con Thiên Chúa đến trần gian để tẩy trừ tội lỗi, và “sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Con Thiên Chúa lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời”.

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Ngôi Lời làm người để cứu độ nhân loại. Ơn cứu độ trước hết hệ tại ở ơn tha tội. Thiên Chúa tha thứ cho tội lỗi của nhân loại. Chúa Giêsu đã thực sự sống cuộc đời của con người, trải qua những kinh nghiệm của đời người, chỉ trừ tội lỗi, để đền tội cho chúng ta.

  1. Ơn cứu độ không phải là một trò ảo thuật. Nhân loại chìm ngập trong bóng tối tội lỗi cần được Ánh sáng chiếu soi. Nhưng Thiên Chúa không đọc câu thần chú để làm tiêu tan bóng tối. Để chiếu sáng thế gian, Ánh sáng đã đi vào thế gian tăm tối, chứ không chiếu sáng từ bên ngoài. Nhân loại chìm ngập trong tội lỗi cần được tha thứ. Nhưng Thiên Chúa không cứ ở mãi trên trời cao tuyên bố lời tha bổng tội lỗi cho con người. Không, tội lỗi quá nặng nề, nên ơn tha tội không quá rẻ như thế. Thiên Chúa không ở trên toà cao, trái lại, đã cho Con Một mình đi vào đời, làm người để đền tội cho chúng ta.

Có tội thì phải đền tội. Đó là lẽ công bằng, là đòi hỏi của công lý. Nếu không đền tội, thì còn đâu công lý? Nhưng ngược lại, nếu Thiên Chúa cứ đòi hỏi theo luật công bằng thì còn đâu tình yêu thương? Hơn nữa, loài người đâu có gì để đền bù cho cân xứng với sự xúc phạm đến Thiên Chúa.

Trong mầu nhiệm Nhập thể, Thiên Chúa đã làm một tổng hợp tuyệt vời, vừa thực thi công lý vừa biểu lộ lòng thương xót. Đúng hơn, công lý của Thiên Chúa lại cũng chính là lòng thương xót, bắt nguồn từ lòng thương xót. Do lòng thương xót, Thiên Chúa ban cho chúng ta có cái gì đó để đền bù tội lỗi cho cân xứng. “Cái gì đó” là chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.

Người ta kể về một trong những ông thị trưởng đầu tiên của thành phố New York bên Hoa Kỳ giai thoại như sau. Một ngày mùa đông lạnh buốt nọ, ông thị trưởng phải chủ tọa các phiên tòa. Người ta điệu đến trước mặt ông một ông lão quần áo tả tơi. Người đàn ông này bị tố cáo là đã ăn cắp một ổ bánh mì. Lời tự biện hộ duy nhất mà người đàn ông khốn khổ đưa ra là: “Gia đình tôi đang chết đói”.

Nghe xong lời cáo buộc của cử tọa cũng như lời biện bạch của ông lão, ông thị trưởng đưa ra phán quyết như sau: “Luật pháp không tha thứ cho bất cứ một hành động xấu nào. Tôi thấy cần phải trừng phạt ông, và hình phạt cho tội ăn cắp là ông phải nộp 10 đôla”. Vừa công bố bản án, ông thị trưởng rút trong túi của mình ra 10 đôla và trao cho người đàn ông khốn khổ.

Đó là phần đầu của câu chuyện. Cùng một lúc, ông thị trưởng vừa thi hành công lý vừa tỏ lòng thương xót đối với kẻ ăn trộm, thi hành công lý bằng cách thương xót.

Thiên Chúa là vị Quan toà tối cao đòi loài người phải đền tội vì đã phạm tội, xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa. Đó là công lý. Nhưng Thiên Chúa lại thi hành công lý bằng cách thực thi lòng thương xót. Vì quá yêu thương thế gian, Thiên Chúa đã ban tặng Con Một cho thế gian, để người Con ấy đền tội thay cho chúng ta. Con Một của Thiên Chúa đã làm người để đền bù tội lỗi thay cho toàn thể nhân loại. Thiên Chúa đi bước trước và biểu lộ lòng thương xót để chúng ta có khả năng thi hành công lý đối với Thiên Chúa.

Công lý là những gì chúng ta nhận được do việc chúng ta làm. Còn lòng thương xót là những gì chúng ta nhận được do việc Thiên Chúa làm. Lòng thương xót của Thiên Chúa bao trùm và vượt trên cả những đòi hỏi của công lý.

Mầu nhiệm Giáng sinh là mầu nhiệm của lòng thương xót. “Thiên Chúa ta đầy lòng thương xót, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta” (Lc 1, 78). Khi mừng mầu nhiệm Giáng sinh, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa giàu lòng thương xót đã ban cho chúng ta người Con Một để người Con ấy đền tội nhân danh toàn thể nhân loại. Mầu nhiệm Giáng sinh là quà tặng của lòng thương xót. Lòng thương xót được biểu lộ hôm nay qua mầu nhiệm Giáng sinh, và sẽ đạt tột đỉnh qua việc Thiên Chúa hy sinh trọn vẹn Con Một mình trong mầu nhiệm Thập giá.

  1. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Mầu nhiệm Nhập thể chiếu toả ánh sáng vào thân phận con người để chúng ta nhận ra rằng những anh chị em nghèo hèn đói khổ đang sống bên cạnh chúng ta là chính Chúa. Chúng ta đã được Thiên Chúa thương xót, vì thế hãy thương xót lẫn nhau.

Trở lại với câu chuyện ăn cắp ổ bánh mì.

Sau khi trao cho người ăn cắp 10 đôla để nộp phạt, ông thị trưởng quay xuống cử tọa nói tiếp: “Ông lão đã bồi thường vì tội ăn cắp của ông. Còn phần quý vị, tôi yêu cầu mỗi người phải đóng 50 xu tiền phạt vì sống dửng dưng đến độ để cho trong thành phố của chúng ta còn có một người nghèo phải đi ăn cắp”. Nói xong, ông ra lệnh cho viên biện lý đi thu tiền và trao tất cả cho ông lão. Khi chiếc mũ đã được chuyền một vòng, người ta đếm được 47 đôla 50 xu. Ông thị trưởng trao tất cả cho ông lão. (Trích từ “Lẽ Sống”).

Có bao giờ chúng ta nhận thấy mình cũng có trách nhiệm về những tội ác xảy ra hằng ngày chung quanh chúng ta không? Biết đâu vì chúng ta dửng dưng vô cảm, thiếu liên đới chia sẻ, nên mới xảy ra biết bao tội ác trong xã hội! Không nhiều thì ít, một cách nào đó, trực tiếp hoặc gián tiếp.

Nếu chúng ta ý thức về trách nhiệm liên đới, chia sẻ, thực sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, chúng ta sẽ góp phần giảm bớt cảnh đói khổ, và như thế tội ác trên thế giới cũng sẽ giảm đi. Thế giới không thiếu thực phẩm, không thiếu tài nguyên. Chỉ tại thiếu lòng thương xót.

Chúng ta thực sự có lỗi, có tội, có trách nhiệm, và là lỗi nặng, trách nhiệm nặng, khi không quan tâm đến cảnh đói khổ của tha nhân. Dụ ngôn về ngày phán xét chung (x. Mt 25, 31-46) cho ta hiểu rằng sự dửng dưng vô cảm trước những nỗi đói khổ của người khác là một lỗi nặng đưa chúng ta đến lửa đời đời. Mầu nhiệm Nhập thể nhắc chúng ta nhớ rằng mỗi người sẽ bị xét xử tuỳ theo thái độ của mình đối với người anh chị em nghèo hèn đói khổ, không phải chỉ vì họ là hình ảnh của Chúa, mà hơn nữa, vì khi chúng ta giúp đỡ họ là chúng ta giúp đỡ Chúa, và ngược lại, khi sống vô cảm mà gạt bỏ họ là chúng ta gạt gạt bỏ chính Chúa.

  1. Có bao giờ chúng ta tự hỏi: nếu thế giới này không có Chúa Giêsu thì sẽ ra sao? Nếu Thiên Chúa không thương xót nhân loại mà ban tặng Con Một, nhân loại có còn tồn tại đến hôm nay không? Thư Do Thái (Bài đọc 2) trả lời: “Thiên Chúa đã nhờ Con Một mà dựng nên vũ trụ”; hơn nữa, vạn vật được duy trì và tồn tại là nhờ Chúa Giêsu. Còn trong Tin Mừng, thánh Gioan khẳng định: “Từ nguồn sung mãn của (Ngôi Lời làm người), tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác”.

Mầu nhiệm Giáng sinh củng cố niềm hy vọng của thế giới. Nhân loại còn sống và tồn tại được là vì có Chúa Giêsu, cuộc đời chúng ta tràn đầy niềm vui và hy vọng là nhờ tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Tương lai của nhân loại tuỳ thuộc thái độ của con người sống lòng thương xót như thế nào, tuỳ thuộc con người có biết đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa và biết thương xót lẫn nhau không. Thế giới này là “nhà” của Chúa Giêsu, nhưng khi “Ngài đến nhà mình, thì người nhà đã không đón nhận”. Qua mầu nhiệm Giáng sinh, chúng ta hiểu rằng nhân loại không thể hưởng bình an và hạnh phúc nếu không có Chúa Giêsu, thế giới này sẽ không có tương lai khi gạt bỏ Chúa Giêsu là hiện thân của lòng thương xót.

Lễ Giáng sinh là khởi đầu cho tương lai tươi sáng của nhân loại. Hãy xây dựng đời mình trên nền tảng chân lý và ân sủng là chính Chúa Giêsu.

ĐGM. Giuse Nguyễn Năng

“Anh em phải canh chừng, phải tỉnh thức” – Chúa Nhật I Mùa Vọng năm B

“Anh em phải canh chừng, phải tỉnh thức”
Chúa Nhật I Mùa Vọng, năm B

(Mc 13, 33-37)

33 “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.

34 Cũng như người kia trẩy phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức.35 Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.36 Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ.

37 Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là: phải canh thức!”

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

Hôm nay Chúa Nhật I Mùa Vọng, lời đầu tiên của Đức Giê-su mà Giáo Hội muốn chúng ta lắng nghe, đó là lời mời gọi tỉnh thức:

Anh em phải canh chừng, phải tỉnh thức,
vì anh em không biết khi nào thời ấy đến.

(c. 33)

Trong tuần cuối cùng của năm Phụng Vụ vừa qua, chúng ta đã được Giáo Hội cho nghe lời của Đức Giêsu về “thời ấy”, trong sách Tin Mừng theo thánh Luca. Thời ấy là “Ngày của Con Người” và những biến động phổ quát và triệt để trong thiên nhiên cũng như trong thế giới loài người sẽ xẩy ra trước khi Con Người đến.

Để giúp chúng ta sống “cái thời ấy” ngay hôm nay một cách bình an, bởi vì chúng ta tuyệt đối không biết khi nào, Đức Giê-su mời gọi chúng ta hãy “canh chừng” và “tỉnh thức”. Trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay, Người dùng một dụ ngôn nhỏ để giúp chúng ta hiểu và sống điều Ngài mời gọi chúng ta là “hãy canh chừng và tỉnh thức”. Dụ ngôn nhỏ nhưng chất chứa nhiều ý nghĩa, hay nói chính xác hơn, nhiều mặc khải.

  1. Canh thức

“Cũng như người kia trẩy đi phương xa”. Trong dụ ngôn các nén bạc, Đức Giêsu cũng dùng hình ảnh này: “Cũng như có một người kia sắp đi xa” (Mt 25, 14). Như thế, có thể nói Đức Giê-su rất thích dùng hình ảnh này để diễn tả tương quan của chúng ta với Ngài, tương quan thiết thân ngay trong thời gian vắng mặt, hay đúng hơn tương quan thiết thân ngang qua các dấu chỉ, nói lên ân huệ và sự hiện diện.

Và trong dụ ngôn của Đức Giêsu, dấu chỉ mà chủ nhà để lại cho các tôi tớ là quá nhiều: ông để nhà lại, ông trao quyền và ông trao việc. Dụ ngôn các nén bạc, tuy dài, nhưng chỉ nói đến nén bạc, nghĩa là “vốn liếng” của mỗi người; còn dụ ngôn hôm nay, tuy ngắn, nhưng lại nói lên gần như tất cả những gì Chúa ban cho chúng ta: căn nhà là tất cả những gì chúng ta có trong cuộc đời, quyền bính trên cuộc đời của chúng ta (ít nhất là tương đối, xét cho cùng, cũng gần như tuyệt đối), và trao sứ mạng: “ông chỉ định cho mỗi người mỗi việc”. Chúa cũng làm thế, và khi làm thế, Ngài trao ban chính lòng tin của Ngài cho chúng ta. Trên đời này, không ai tin chúng ta như Chúa tin chúng ta.

  1. Bóng tối sự dữ

Điều lạ lùng trong dụ ngôn là chỉ có người giữ cửa mới phải canh thức: “Và ông ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức”. Điều này cũng hợp lí, vì chẳng lẽ lại bắt tất cả mọi người trong nhà đêm nào cũng phải canh thức! Như ở trong Nhà Dòng, sẽ có những đêm, cả nhà canh thức, nhưng bình thường chỉ có một số Soeurs hay một số thầy canh thức thôi, để cho mọi người trong nhà ngủ yên!

Người giữ cửa được lệnh canh thức; Đức Giêsu dùng từ ngữ “canh thức”, để gộp lại hai từ ngữ mà Ngài đã dùng lúc đầu: “canh chừng và tỉnh thức”. Vì thế, canh thức có nghĩa là: hãy canh chừng, và để canh chừng thì phải tỉnh thức. Trong dụ ngôn, nhiệm vụ canh thức được giao cho người giữ cửa, nhưng Đức Giêsu lại muốn áp dụng cho tất cả mọi người chúng ta: “Vậy anh em phải canh thức”. Và Chúa đặc biệt mời gọi chúng ta, mọi người Ki-tô hữu và nhất là những người sống đời sống dâng hiến: “Anh chị em hãy canh thức như người giữ cửa”. Và sứ mạng canh thức chỉ diễn ra khi trời bắt đầu tối và hãy còn tối mà thôi, như chính Chúa nói:

Vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến:
lúc chập tối, nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.

(c. 35)

Điều gây cho chúng ta khó khăn, đó là thời gian mà Đức Giêsu nêu ra, lại là thời gian chúng ta ngủ hằng ngày: chập tối, nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng; hay ít nhất là chúng ta ngủ phần lớn thời gian từ chập tối cho đến tảng sáng! Vì thế, chúng ta được mời gọi hiểu sứ mạng canh thức không phải ở bình diện tự nhiên (nghĩa là trong thời gian có bóng tối). Vì đêm nào cũng canh thức, chúng ta sẽ chết sớm! sứ mạng canh thức mà Đức Giêsu mời gọi, phải được hiểu ở bình diện thiêng liêng, nghĩa là canh thức trong thời gian có bóng tối của sự dữ. Và, như chúng ta đều có kinh nghiệm, bóng tối của sự dữ có thể ập đến với chúng ta, với cộng đoàn chúng ta, với thế giới chúng ta đang sống, bất cứ khi nào, ngày cũng như đêm.

  1. Mùa Vọng

Lời của Đức Giêsu mời gọi các môn đệ: “Hãy coi chừng, hãy ở trong tình trạng tỉnh thức”, lời này trong bối cảnh của Tin Mừng, chuẩn bị các môn đệ bước vào cuộc Thương Khó. Thương khó là giờ của bóng tối, của sự dữ; nhưng đồng thời cũng là giờ của ánh sáng, giờ của sự thiện.

Thời đại chúng ta đang sống cũng có nhiều dấu chỉ nói về giờ của bóng tối: núi lửa hoạt động, những đợt sóng thần, những cơn động đất, nước từ trời trút xuống, nước từ sông biển dâng lên, gió bão hung hãn… Những gì xẩy ra trong thiên nhiên hoàn toàn khớp với những gì con người đang làm cho con người: đó là khủng bố, đó là bạo động, đó là giết hại mầm sống và chính sự sống nhân linh từ trong giai đoạn hình thành kì diệu nhất, tham lam, gian dối, đó là làm thiệt hại và hãm hại người khác, đó là dò xét và lên án, đó là cấm cản giam hãm, đó là áp đặt bằng quyền bính bất chấp ngôi vị, đó là nghi ngờ, không tin tưởng và thiếu tôn trọng người khác. Xét cho cùng, như ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, những thái độ và cách hành xử như thế, cho dù là nhân danh sự sống, nhân danh lợi ích của tập thể, nhưng thực ra là phá hủy sự sống một cách nghiệm trọng nhất, bởi lẽ đó là cách hành xử của chính Sự Dữ.

Chúng ta bước vào Mùa Vọng kể từ hôm nay. Mùa vọng, khởi đi từ hồng ân lớn lao Chúa đã đến, và hướng chúng ta đến biến cố Chúa chắc chắn sẽ đến. Trong thời gian chờ đợi, tất yếu chúng ta sẽ phải đối diện với bóng tối, không chỉ là bóng tối của thiên nhiên, nhưng nhất là bóng tối của sự dữ.

Chúng ta được Đức Giêsu mời gọi: “Hãy canh chừng và tỉnh thức”. Và cách canh chừng và tỉnh thức tốt nhất là sống tâm tình mà Thánh Phao-lô chia sẻ ngay từ những lời đầu tiên trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corintô, đó là không ngừng cảm tạ Thiên Chúa, là Cha chúng ta, vì ân huệ Người đã ban cho chúng ta nơi Đức Giêsu Ki-tô, nhất là nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh:

Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Ki-tô Giê-su. Quả vậy, trong Đức Ki-tô Giê-su, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người.

(1Cr 1, 45)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

“Phải Tỉnh Thức” – CN I MÙA VỌNG B

“Phải Tỉnh Thức”
CN I MÙA VỌNG B

Trong quyển “The legend of the Bells”, John Shea kể rằng:Sau khi tạo dựng các giống cây, Thiên Chúa muốn ban một món quà cho mỗi giống. Nhưng trước đó Ngài muốn làm một cuộc thử nghiệm để xem cây nào xứng đáng nhận món quà nào. Ngài bảo “Ta muốn các ngươi luôn tỉnh thức suốt 7 đêm”.

Những cây trẻ rất nôn nao nhận quà nên thức suốt đêm chẳng có gì khó khăn. Tuy nhiên sang đêm thứ hai thì điều ấy không còn dễ nữa. Hoàng hôn vừa buông xuống là một số cây đã ngủ thiếp đi. Đêm thứ ba, số cây ngủ tăng thêm. Và cứ thế. Qua khỏi đêm thứ bảy thì chỉ còn một số cây còn thức, đó là cây tuyết tùng, cây thông, cây vân sam, cây linh sam, cây nhựa ruồi và cây nguyệt quế.

Thiên Chúa rất vui lòng với những cây này. Ngài phán : “Các ngươi đã kiên trì một cách rất đáng khen. Ta ban cho các ngươi món quà đặc biệt là được xanh tươi mãi mãi. Các ngươi sẽ là những cây bảo vệ cho cả khu rừng. Ngay cả khi giá lạnh mùa đông làm cho những cây khác phải chết thì các ngươi và con cháu các ngươi vẫn sống và mãi mãi xanh tươi”. Từ đó trở đi, người ta gọi những cây ấy là những cây trường xuân.

Kitô hữu phải là những cây trường xuân giữa khu rừng nhân loại. Thế giới chung quanh có thể ngủ vùi hoặc dần dà khô héo, nhưng kitô hữu vẫn tỉnh táo, vẫn thức, vẫn mọc lên những chồi xanh tốt bằng cuộc sống chứng nhân của mình. Nói cách khác, kitô hữu vẫn yêu thương giữa một thế giới hận thù, vẫn sống hòa thuận giữa một thế giới đấu tranh, vẫn giữ vững tâm hồn chính trực giữa một thế giới dối gian, vẫn hy vọng giữa một thế giới tuyệt vọng, vẫn tỏa ánh sáng rạng ngời giữa một thế giới tối tăm.Nói một cách khác nữa, họ là những người thợ, những giáo viên, những y sĩ, những cha mẹ, những con cái … lúc nào cũng tận tuỵ chu toàn trách nhiệm của mình. Họ chính là những cây trường xuân.(FM)

Bài Phúc Âm (Mc13,33-37) Chúa nhật I Mùa Vọng chỉ có 5 câu mà đã có tới 4 lần dùng cụm từ “phải tỉnh thức”. Mở đầu là lời kêu gọi “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức!”. Kết thúc cũng là lời kêu gọi: “Thầy nói với anh em đây và với mọi người là phải tỉnh thức!”. Giữa hai lời kêu gọi đó, là một dụ ngôn ngắn kể chuyện: người kia sắp đi xa, ông để nhà lại cho đầy tớ trông coi, chỉ định cho mỗi người một việc và dạy phải tỉnh thức, vì không biết chủ về lúc nào. Sẽ không may mắn cho người đầy tớ nào, khi chủ bất thần trở về, bắt gặp còn đang ngủ mê.

Chúa Giêsu dạy phải tỉnh thức giống như người canh cửa, sẵn sàng đón tiếp khi Chúa đến thăm.Có hai trường hợp có thể nói là Chúa đến bất ngờ. Đó là cái chết đến bất ngờ, và Chúa đến viếng thăm qua cuộc sống thường ngày.Cái chết đến bất ngờ thì họa hiếm và chỉ một lần trong đời. Còn hằng ngày, Chúa đến với ta nhiều lần qua tha nhân, qua những người bất hạnh, những người cần được giúp đỡ, những người cần tình thương, những kẻ bé mọn, qua những biến cố cuộc sống. Không bao giờ được quên ngày Chúa đến trong thời gian kết thúc của thế giới và đến trong ngày cuối cùng của đời ta. Tích cực dùng thời gian hiện tại để chuẩn bị cho tương lai vĩnh cửu của mình. Tỉnh thức như người đầy tớ đợi chủ đi xa không biết về lúc nào. Thái độ tỉnh thức là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn”. Luôn sẵn sàng để khi chủ về thì mở cửa và ân cần phục vụ. Như thế, tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhẹn.

Tỉnh thức để “đợi chủ về”. Người Kitô hữu chờ đợi Chúa đến trong vinh quang ngày quang lâm và chờ đợi Chúa đến trong giờ sau hết đời mình. Vì thế, người Kitô hữu sống cuộc đời hiện tại một cách rất nghiêm chỉnh, họ cố gắng làm phận sự ở đời thật tích cực vì biết rằng đó là Thánh ý của Chúa và vì biết rằng hạnh phúc đời đời của mình đang được chuẩn bị ngay từ bây giờ.

Thánh Phaolô nhắc nhớ: “Anh em hãy tỉnh thức và hãy cầu nguyện luôn!. .. hãy đề phòng, đừng để cho lòng trí mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em“. Ngài còn khuyên: “những ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cor 10,12).

Tỉnh thức không “chè chén say sưa”, là đừng quá đam mê những hưởng thụ đời này. Tỉnh thức không “lo lắng sự đời”, là không quá mê say danh, lợi, thú. Luôn tỉnh thức như khi đang lái xe, luôn nhìn trước ngó sau, tay ga vững vàng, chân thắng sẵn sàng, đi đường an toàn.Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng. Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Tỉnh thức để không đánh mất phẩm chất cao đẹp của mình.

Bài giáo lý về sách Công vụ Tông đồ trong buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô, sáng thứ tư, 04/12/2019, ĐTC Phanxicô dạy: người mục tử phải tỉnh thức, cha xứ phải tỉnh thức, chăm lo, các Linh mục phải tỉnh thức, Giám mục hay Giáo hoàng cũng vậy. Hãy tỉnh thức để bảo vệ đoàn chiên và chăm lo cho bản thân, hãy tự vấn lương tâm và nhìn xem nhiệm vụ chăm sóc này phải được thực hiện thế nào. Thánh Phaolô nói: “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình” (Cv 20,28).

Tỉnh thức để nhận ra mưu mô của ma quỷ, tỉnh thức trước những lôi cuốn của thế gian, tỉnh thức trước những yếu đuối của con người xác thịt.Chúng ta đang sống trong một xã hội có quá nhiều cám dỗ. Một xã hội đầy dẫy các tệ nạn, có nhiều lối sống buông thả. Đó là môi trường là cơ hội thuận tiện cho ma quỷ ẩn núp và tấn công. Cám dỗ ngày càng nhiều và ngày càng tinh vi dưới muôn hình dáng vẻ. Vì thế, lời dặn dò của Chúa Giêsu ngày càng khẩn thiết: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Cơn cám dỗ độc hại nhất mà con người cần phải luôn tỉnh thức canh phòng và trường kỳ chiến đấu bằng mọi cách, chính là lòng ích kỷ, quan niệm sống hẹp hòi, thiển cận của chính mình, chỉ biết có mình mà quên kẻ khác, chỉ biết thu vén lợi ích cho riêng mình mà quên quyền lợi kẻ khác.

Tại các ngã ba ngã tư của đường phố đều có đèn đỏ đèn xanh rõ ràng, nhắc hướng cần đi vào và cấm vượt ranh giới. Trong lương tâm, chúng ta không thấy rõ hệ thống đèn đỏ đèn xanh. Mình phải tự phán đoán, chọn lựa và phân định. Không tỉnh thức là đôi khi mình tự cho phép mình vượt đèn đỏ vô hình, và cũng không đi theo hướng đèn xanh chỉ dẫn. Vài lần thấy quen. Rồi thấy xung quanh vô số người cũng làm như vậy. Thế là thành thói quen phạm lỗi trên hành trình cuộc đời.

Tỉnh thức là thái độ của một gia nhân trung thành. Tỉnh thức và đợi chờ với niềm hy vọng là chủ sẽ trở về.

Tỉnh thức là tâm trạng của một con người luôn bình an, thư thái. Thái độ sống này giúp người Kitô hữu luôn làm cho mọi công việc hàng ngày trở thành lời nguyện tạ ơn chân thành.

Người tỉnh thức là người luôn cố gắng và nhiệt thành, biết thực thi những gì là chân thật, ngay chính và đáng quý chuộng.

Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với số phận đời đời của con người. Mỗi giây phút qua đi là không bao giờ trở lại. Thời giờ Chúa cho ta sống ở trần gian là vô cùng quý báu, đây là lúc gieo mầm cho đời vĩnh cửu.

Ngày Chúa đến sẽ khủng khiếp hoặc vui mừng là tùy cách sống hiện tại của mỗi người. Mọi hành động, mọi tư tưởng đều được phơi bày ra trước ánh sáng của công lý, không ai có thể che dấu một chi tiết nào.

Ngày Chúa đến trong vinh quang để xét xử muôn dân sẽ là ngày cứu độ cho những ai tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng, nhưng sẽ là ngày kinh hoàng cho những ai đang mê ngủ trong đam mê tội lỗi.

Để tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta cần sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và ánh sáng soi dẫn của Lời Chúa.

Sau khi chịu phép Rửa Tội để trở nên một Kitô hữu, chúng ta dấn thân vào đời với nhiều thử thách của niềm tin, phải chịu nhiều cám dỗ của phận người lữ thứ. Nếu chúng ta tin rằng “Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3,6) thì hãy vững tâm và tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ngài sẽ không bao giờ xa rời chúng ta đâu! Điều quan trọng là chúng ta có thành tâm để cầu xin và nhờ cậy Ngài, hay là không thôi!

Hãy tin tưởng và trông cậy vào Chúa Thánh Thần. Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần luôn trao ban cho người: ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn nhận thức, ơn chỉ bảo, ơn dũng mạnh, ơn thánh thiện và ơn kính sợ Thiên Chúa. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa Thánh Thần và hăng hái cộng tác với chương trình của Ngài, nhờ đó “Hoa trái của Thần Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23) sẽ tràn đầy trong tâm hồn và đời sống của chúng ta.

Việc gặp gỡ Chúa Thánh Thần rất dễ dàng. Chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Chúa Thánh Thần sẽ mở tung cánh cửa ích kỷ. Ngài sẽ phá tan cánh cửa hẹp hòi. Ngài sẽ ban thêm sức mạnh. Ngài sẽ quét sạch mọi lớp bụi bặm rêu phong. Ngài sẽ đổ tràn vào hồn chúng ta nguồn sống mới giúp chúng ta chiến thắng mọi cám dỗ và hăng hái lên đường.

Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu bên Nhà Tạm, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa. Amen

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU – LỄ CHÚA KI-TÔ VUA

VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy nhiều sự thật quan trọng về kết cục của con người.

Sự thật thứ nhất là: thế giới này sẽ chấm dứt. Không có gì vĩnh cửu ở đời này. Mọi sự sẽ qua đi. Những gì được coi là bền vững lâu dài rồi cũng tan thành cát bụi. Của cải, tài năng, công danh cũng sẽ trở thành hư vô. Cả đến con người cũ cũng không còn. Sau cùng mọi người bằng nhau và phải đến trước tòa Chúa để chịu phán xét.

Sự thật thứ hai là: mọi người sẽ bị xét xử. Tất cả mọi người sẽ tụ tập lại. Tất cả mọi người sẽ phải trả lời về những gì mình đã làm trong cuộc đời. Cuộc xét xử sẽ diễn ra công khai. Những trách nhiệm liên đới sẽ được sáng tỏ. Những liên hệ thầm kín sẽ được phơi bày. Nếu trên trần gian ta phải chứng kiến bất công thì tại phiên xử cuối cùng này sẽ có công bằng tuyệt đối. Chẳng ai có thể mua chuộc vị quan tòa tối cao, quyền uy và công thẳng.

Sự thật thứ ba: sẽ có một vương quốc mới. Tuy nhiên kết thúc thế giới cũ không phải là chấm dứt tất cả. Chúa Giêsu tổng kết thế giới cũ để đưa nhân loại vào một thế giới mới. Thế giới không còn thời gian. Thế giới vĩnh cửu. Thế giới không còn đau khổ. Thế giới hạnh phúc tràn đầy. Vì Chúa sẽ thiết lập một vươn quốc mới: vương quốc tình yêu. Cuộc xét xử chính là một cuộc tuyển lựa những công dân cho vương quốc mới. Vì là vương quốc tình yêu nên chỉ những ai có tình yêu mới được vào. Luật lệ trong vương quốc mới chỉ có một luật duy nhất: luật tình yêu. Việc cai trị cũng chỉ theo một nguyên tắc duy nhất: tình yêu. Chúa Giêsu trở thành Vua Tình Yêu.

Sự thật thứ bốn: đời này là cơ hội duy nhất. Thế giới mới và vương quốc mới không phải bất ngờ mà có, nhưng được xây dựng ngay từ đời này. Đời này tuy chóng qua nhưng là cơ hội để ta xây dựng vương quốc mới. Những ai có lòng yêu thương anh em, đặc biệt những anh em nghèo khổ, bé mọn, sẽ được tuyển chọn vào Nước Trời. Đời này ngắn ngủi nhưng lại là cơ hội duy nhất. Hết đời này sẽ không còn cơ hội nữa. Sẽ đi đến chung cuộc. Vì thế ta phải vội vàng mau mắn thực hành giới luật yêu thương, kẻo không kịp.

Với dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho ta hết những bí mật của vận mạng thế giới. Và chỉ vẽ cho ta con đường để được nhận vào Nước Chúa: thực hành yêu thương bằng những việc làm cụ thể. Cho người đói ăn. Cho người khát uống. Cho người rách rưới ăn mặc. Thăm viếng người đau yếu và kẻ tù đầy. Đây là những việc vừa tầm tay mọi người. Ai cũng có thể làm được. Ai cũng có điều kiện để làm.

Lạy Chúa Giêsu Vua Tình Yêu, xin cho con biết thực hành yêu thương, để được nhận vào Nước Chúa. Amen

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Sống Chứng Nhân Giữa Đời – Lễ Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam 2020

Lễ Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam 2020
Sống Chứng Nhân Giữa Đời

Tử Đạo tiếng Việt theo nguyên ngữ  Hy Lạp là Martyr, Witness trong tiếng Anh là “chứng nhân”. Như vậy các thánh tử đạo đơn giản là những chứng nhân, người làm chứng.

Cuộc đời của một con người thực ra chỉ là để làm chứng cho một lý tưởng nào đó. Khi họ đi đến tận cùng của lời chứng ấy thì cuộc đời của họ có ý nghĩa và còn đáng được tuyên dương cho người khác noi gương bắt chước. Hitler và Saclô là 2 con người có lý tưởng và sống hết mình vì lý tưởng. Nhưng lý tưởng của Hitler chỉ đem đến đau khổ cho đời, vì lý tưởng của ông là tiêu diệt người khác mà cụ thể là chiến dịch bài Do Thái. Với chiến dịch này ông đã tiêu diệt khoảng 5 triệu người Do Thái và làm cho lịch sử đã mãi mãi ghi tên ông như một dấu chỉ của sự tàn ác. Ngược lại, Saclô ra đời trước Hitle 6 ngày (14/04/1889), nhưng lý tưởng của Saclô là làm cho đời bớt đau khổ bởi chiến tranh và giết chóc, vì vậy ông dùng chính tài diễn xuất của mình để đem đến nụ cười cho con người. Ông được bình chọn là diễn viên hài xuất sắc của mọi thời đại. Cuối cùng hai con người này cũng chết, nhưng cái chết của Hitler làm cho cả thế giới vui mừng, ngược lại cái chết của Saclô làm cho cả thế giới phải tiếc thương.

“Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x.Pl 2, 6-8). Ngài đã làm chứng cho một tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa.

Kitô hữu là những chứng nhân giữa đời. Tức là những con người làm chứng cho Đức Kitô trong mọi thời, mọi nơi, mọi lúc. Khởi đầu từ các Tông đồ, với lời chứng “Kerygma”, nghĩa là lời chứng về việc họ đã từng gặp gỡ Đức Giêsu khi còn sống cũng như khi đã Phục Sinh. Tận cùng của lời chứng này là chính cái chết của họ. Không ai ngu dại chết cho điều giả dối hoặc mơ hồ, hay chết cho một giá trị chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân họ. Thế nhưng tất cả các Tông đồ (trừ Gioan chết vì già nua) đều sẵn sàng chết cho lời chứng Đức Giêsu đã sống lại. Thế mới thấy lý tưởng về Đấng Phục Sinh là sự thật “là sự sống và là sự sống lại” cho các Tông đồ.

Lý tưởng ấy đã được loan truyền khắp nơi trên toàn thế giới, bất chấp nhiều người, nhiều thế lực, nhiều chủ nghĩa cấm cản. Từ thế kỷ 15, Tin Mừng về Đức Giêsu Phục Sinh đã được loan truyền tại đất nước Việt Nam của chúng ta. Tin Mừng này đã được cha ông chúng ta đón nhận; nhưng cũng chính Tin mừng này khiến cho máu đào đã rơi xuống trên chính quê hương đất nước chúng ta, vì có hàng trăm ngàn người đã phải chết vì Tin mừng họ loan báo hoặc lãnh nhận. Như lời của thánh Tertulia : “Máu các thánh tử đạo là hạt giống làm trổ sinh các kitô hữu”, bằng chứng là một Hội thánh tại Việt Nam đang phát triển với hàng triệu người tin vào Đức Giêsu.

Tuy nhiên ngày nay có còn tử đạo nữa hay không? Thưa chắc chắn không còn bắt bớ, cấm cản, giết chết vì có đạo… Nhưng hơn bao giờ hết người Công giáo đứng trước cuộc bách hại do chính họ gây ra. Bách hại đạo với mục đích là ngăn chặn người ta tin theo một tôn giáo nào đó. Thì hôm nay không ai ngăn cản chúng ta, mà chính chúng ta đã ngăn cản đức tin của mình bằng đời sống vô đạo.

Rõ ràng một số người Công giáo được rửa tội nhưng không còn sống đạo vì nhiều lý do. Một số người không sống theo Lời Chúa dạy khiến cho họ dù là người Công giáo nhưng đời sống còn tệ hơn cả những người không biết Chúa… Họ đã đầu hàng trước cuộc bách hại của thời đại hôm nay.

Chính vì thế, người Công giáo được mời gọi trở thành chứng nhân trong mọi thời đại, nghĩa là người làm chứng cho lý tưởng cao trọng mà họ đã được lãnh nhận từ cha ông là các thánh Tử đạo tại Việt Nam. Phải khẳng định, phải cho mọi người thấy lý tưởng của chúng ta là cao đẹp vì nó phát xuất từ ý định yêu thương của Thiên Chúa. Muốn cho người khác tin đạo thì phải làm cho họ thấy nét đẹp của đạo chúng ta.

Nét đẹp đó là chính đời sống thánh thiện khi chúng ta có một Vì Thiên Chúa tinh tuyền trong đời sống, chi phối tất cả mọi sinh hoạt của chúng ta. Hay nói cách khác đó là giới luật Mến Chúa. Giới luật này trở thành nội lực riêng cho mỗi người để họ phải tự cung cấp cho mình nguồn năng lượng mà không ai có thể thay thế. Hay nói theo dụ ngôn, đó chính là dầu dự trữ mà các trinh nữ khôn ngoan phải trang bị, không mượn của người khác được. Việc cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các Bí tích và những việc đạo đức khác nói lên lòng mến Chúa của chúng ta, không ai có thể làm thay chúng ta.

Nét đẹp thứ hai và rõ ràng hơn là chính đời sống bác ái yêu thương của người Kitô hữu. Nếu người Công giáo không sống bác ái họ không còn là Kitô hữu, “Vì người anh em mình xem thấy mà không thương yêu họ được, thì làm sao yêu mến Thiên Chúa là Đấng mình không thấy được?” Nếu thử thách của các thánh Tử đạo ngày xưa là “giữ lấy”, thì thử thách của Kitô hữu ngày nay là “bỏ đi”. Nhiều người giàu nhưng không dám bỏ đi một ít tiền bạc của mình cho người nghèo. Nhiều người không dám bỏ đi một ít thời gian cho việc đạo đức, nhưng lại bỏ rất nhiều thời giờ cho việc vui chơi giải trí. Khi dám bỏ đi vì lòng bác ái Kitô giáo là chúng ta đang làm chứng cho lý tưởng cao đẹp của người Công giáo, lý tưởng về Thiên Chúa là Tình Yêu.

Xin các thánh Tử đạo Việt Nam cầu bầu cùng Chúa cho dân tộc Việt Nam được bình an, người người yên vui hạnh phúc; cho Giáo hội Việt Nam được lớn mạnh về đức tin. Xin cho Kitô hữu tại Việt Nam biết tử đạo mỗi ngày bằng một đời sống đức tin mạnh mẽ để yêu mến Chúa và sống bác ái yêu thương nhau.

Lm. Giuse Nguyễn

CON ĐƯỜNG HẠT LÚA – Lễ Các Thánh Tử Đạo VN

CON ĐƯỜNG HẠT LÚA
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
 

Khi đến Rôma, tôi thích đi viếng những hang toại đạo. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang thật lạnh lẽo. Hơi lạnh từ lòng đất toát ra cộng với hơi lạnh từ những nấm mồ càng làm cho khu hầm mộ trở nên lạnh lẽo đáng sợ.

Người sống phải đấu tranh với cái chết. Sự chết luôn đe doạ rình rập cướp lấy mạng sống con người. Tại nơi đây, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong 3 thế kỷ. Có lẽ thánh Phêrô và thánh Phaolô cũng đã từng đi lại sinh hoạt trong những hang này. Người tín hữu sơ khai đã phải sống trong những điều kiện như thế để bảo vệ đức tin của mình.

Nhưng thật kỳ diệu. Các vua chúa của đế quốc Rôma hùng mạnh đã tìm cách tiêu diệt một nhóm người nghèo khổ yếu ớt không một tấc sắt tự vệ. Không phải chĩ bắt bớ trong một chiến dịch ngắn hạn mà là một chủ trương kéo dài suốt 300 năm. Vậy mà các vua chúa qua đi rồi, nhóm người nghèo khổ yếu ớt đó không những chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Đi dưới lòng hang toại đạo tôi mới thấm thía ý nghĩa của lời Chúa nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.

Hạt giống Giáo Hội đã bị chôn chặt dưới 3, 4 tầng đất. Hạt giống đức tin đã bị vùi sâu đến 300 năm. Tất cả các thánh Tông đồ, các tín hữu sơ khai đã bị mục nát. Và các ngài đã làm trổ sinh cả một mùa gặt dồi dào phong phú. Cả châu Âu đã tin theo Chúa.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, ta cũng thấy có sự tương tự. Khi đạo Chúa mới được truyền vào Việt Nam, lập tức bị các vua chúa phong kiến bắt bớ. Cuộc bắt bớ kéo dài khoảng 300 năm. Đủ mọi hình thức để tiêu diệt đạo.

Nào là cấm cách bắt bớ. Nào là đe doạ bạc đãi. Nào là xua đuổi ra khỏi những vùng trù phú phồn vinh.

Nào là phân sáp, tức là tách ly cha mẹ, anh chị em trong một gia đình bắt đi sống riêng rẽ trong các gia đình ngoại đạo.

Nào là lấy thép nung đỏ khắc chữ “tả đạo” trên má ngưới có đạo. Và nhất là lên án tử hình những người có đạo. Người tín hữu trung thành với đức tin phải trốn chạy chết trên rừng thiêng nước độc. Nếu bị bắt có thể bị chết trong tù. Nếu không cũng bị xử án tử hình.

Có đấng bị chém đầu.

Có đấng bị trói chân tay vào chân ngựa. Bốn con ngựa kéo về bốn góc xé nát xác vị tử đạo.

Có đấng bị kết án cho voi dày.

Thê thảm nhất có lẽ là án bá đao. Cứ sau một hồi chiêng trống, đao phủ xẻo một miếng thịt cho đến khi chết

Dù các vua chúa đã dùng đủ mọi cách tiêu diệt nhóm người bé nhỏ yếu ớt trong 300 năm. Trong 3 thế kỷ đó có khoảng 100 ngàn người chịu chết vì đạo. Nhưng số người tin Chúa ngày càng gia tăng. Từ một nhóm nhỏ người bị bắt bớ, nay số tín hữu tại Việt Nam đã hơn 6 triệu người. Hạt giống đức tin gieo trồng vào quê hương Việt Nam đã bị vùi sâu, đã bị mục nát, và nay đã trổ sinh một mùa gặt phong phú. Một lần nữa chúng ta lại xác tín lời Chúa dạy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”

Nhìn lại lịch sử, ta càng thêm tin tưởng vào Lời Chúa. Nếu đang gặp khó khă trong đời sống đạo, ta hãy an tâm. Như Đức Giêsu đã chịu gian nan khốn khó, phải chịu bắt bớ, nhục mạ, phải chịu chết tủi hổ trên Thánh giá, các môn đệ con cái Chúa không thể đi con đường nào khác ngoài con đường Thánh giá. Như các bậc tiền nhân xưa đã chịu vất vả khổ cực để xây dựng một Giáo Hội vững mạnh như ngày nay, ta tin tưởng những gian nan khốn khó của ta rồi cũng sẽ trôi qua. Nếu ta biết chịu đựng những đau đớn, khó khăn, vất vả vì Chúa. Nếu ta vẫn trung thành với Chúa, với đức tin qua mọi gian nan thử thách, chắc chắn Chúa sẽ ban cho ta một mùa gặt bọi thu, kết quả phong phú ngoài sức tưởng tượng của ta

Lạy Các Thánh Tử đạo Việt Nam, xin dạy con noi gương bắt chước các ngài, luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Amen.

Đức TGM. Jos. Ngô Quang Kiệt

Có Tình Yêu Là Có Tất Cả – CN XXX TN A

Có Tình Yêu Là Có Tất Cả – CN XXX TN A

Những ngày này ca khúc được tìm kiếm và nghe nhiều nhất trên mạng xã hội là ca khúc ” của nhạc sĩ Hoài Duy. Đức Giám mục Giáo phận Cần Thơ trong thư kêu gọi cứu trợ đồng bào bị lũ lụt cũng đã trích lời của ca khúc này: “Nhạc phẩm ‘Thương lắm miền Trung ơi’ đã chuyển tải đến chúng ta tình trạng hiện nay tại một số tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi: ‘Mưa bão giông về, mái nhà đổ nghiêng, tan tác cò bay, đồng xanh cây trái giờ trắng xóa như dòng sông… Thiên tai rồi lại thiên tai dồn dập về miền Trung như trút hết lên phận nghèo’.” Quả thật chưa bao giờ khúc ruột miền Trung lại lên cơn đau quặn thắt đáng thương như vậy. Những tin tức, những hình ảnh liên tục được cập nhật khiến người xem phải ngẹn ngào vì thương cho đồng bào mình.

Qua những gì đang diễn ra tại đất nước Việt Nam, chúng ta thấy lời Chúa đúng là chân lý, cụ thể qua các bài đọc phụng vụ Chúa Nhật XXX Thường niên A hôm nay, vì lời Chúa đã dạy ta sống tình yêu và nhắn nhủ chúng ta tất cả đều tùy thuộc vào tình yêu.

Đứng trước cảnh khổ của đồng bào, mọi con dân Việt Nam đều “Hướng về Miền Trung”. Người ta có thể thống kê những thiệt hại về người và tài sản sau trận lũ lụt, nhưng chắc chắn không ai thống kê được tình người trong trận lũ lịch sử này. Những đoàn cứu trợ từ Bắc chí Nam đều một lòng hướng về miền Trung, những đoàn xe nối đuôi nhau mang theo dòng chữ “Hướng Về Miền Trung” đỏ rực trên Quốc Lộ I A lúc này, những sáng kiến để cứu đói cho đồng bào bị cô lập vì lũ lụt như cơm hộp, bánh mì, bánh chưng, bánh tét và lương khô… Có lẽ sẽ có một kỷ lục mới cho Việt Nam khi đồng loạt nhiều nồi bánh chưng, bánh tét được nấu. Cảnh tượng cả một láng trại được dựng lên để hàng trăm người đến hợp lòng gói bánh, hàng trăm bếp lửa bập bùng trong đêm tạo nên một cảnh đẹp huyền bí vì nó phát xuất bởi tình đồng bào. Thương lắm miền Trung ơi!

Thiên Chúa là Tình Yêu, và đạo Chúa là đạo Yêu, còn Kitô hữu là những người biết Yêu. Đức Giêsu đến thế gian này cũng không gì khác hơn là vì yêu và dạy yêu. Ngài yêu nên mới “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế”, và cái giá cho chữ yêu đó là chính mạng sống của Ngài. Trong suốt cuộc đời Ngài đã sống tình yêu và dạy cho các môn đệ cũng biết yêu như Ngài.

Ngài đã trả lời cho một người thông luật được rõ đâu là giới răn trọng nhất: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 37-39). Tóm lại tất cả chỉ là Yêu.

Có lẽ người thông luật mừng lắm vì anh ta bị mớ bồng bông của luật lệ quấn chặt khiến anh ta cảm thấy nặng nề và không biết luật nào là trọng nhất. Ngài còn quãng diễn thêm: “Tất cả Luật Môsê và sách các Ngôn Sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22, 40). Hóa ra những gì anh ta thuộc lòng và tuân giữ một cách nặng nề xưa nay chỉ là chữ yêu mà thôi. Như vậy tất cả những gì liên quan đến Thiên Chúa giáo đều phải tùy thuộc vào chữ Yêu đó. Và đó chính là kim chỉ nam cho đời sống Kitô hữu chúng ta.

Chữ yêu như hai trục của đồ thị. Trục tung hướng đến Thiên Chúa, trục hoành hướng về tha nhân. Điểm gặp nhau như kết quả của Tình Yêu chính là Nước Trời. Không thể thiếu một trong hai nếu muốn có kết quả tốt đẹp. Không thể yêu mến Chúa mà không yêu người, và cũng không thể yêu người mà không yêu mến Chúa. Thực sự ra Thiên Chúa ở nơi con người, và con người là hiện thân của Thiên Chúa. Nói như vậy để chúng ta xác quyết thêm một lần nữa: người công giáo phải biết YÊU: yêu Chúa và yêu người. “Yêu Chúa trên hết mọi sự, yêu người như mình ta vậy!”

Chúng ta yêu mến Chúa vì Chúa đã yêu thương chúng ta, đã tạo dựng nên chúng ta, đã cứu độ và còn ban Thánh Thần để chúng ta luôn được tràn đầy ân sủng Chúa. Thiên Chúa yêu thương chúng ta và chúng ta phải biết đáp lại tình yêu của Thiên Chúa bằng nhiều cách như: Tuân giữ các giới răn của Chúa; năng đọc và suy niệm Lời Chúa; năng cầu nguyện, tham dự thánh lễ, chịu các bí tích, làm những việc đạo đức, chu toàn sứ vụ loan báo Tin Mừng để đưa nhiều người về làm con cái Thiên Chúa…

Rất có thể chúng ta đã yêu mến Chúa, nhưng chưa “hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” khi chúng ta chỉ dành cho Chúa một chỗ nhỏ bé trong tâm hồn mình. Chúng ta chỉ yêu mến Chúa “với điều kiện”, nghĩa là khi được bình an thì còn thờ phượng Chúa, khi gặp thử thách, đau khổ thì chúng ta quên Chúa để tìm kiếm những danh vọng lợi lộc và thú vui ; hoặc lúc bình thường không nhớ đến Chúa, đến khi gặp khó khăn, “hết đường binh” chúng ta mới tìm đến với Chúa như là con đường cuối cùng… Thậm chí có những người quên hẳn Thiên Chúa trong cuộc đời mình, mặc dù họ đã được rửa tội, hoặc họ đã từng “thờ phượng Thiên Chúa trên hết mọi sự”. Họ đã từ khước một Tình Yêu vô cùng lớn lao.

Chúng ta yêu thương con người, vì con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Thánh Gioan đã dạy: “Nếu ai nói “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Ga 4,20). Hơn thế nữa, ngày tận thế, Thiên Chúa không phán xét chúng ta điều gì ngoài việc chúng ta đã làm cho người khác: “Những gì các ngươi đã làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta”  (Mt 25,40). Một cách thâm sâu, mỗi lần chúng ta làm gì cho người thân cận là chúng ta làm cho Chúa, mỗi khi nhiệt tâm giúp đỡ người khác là chúng ta đang nhiệt tâm với Chúa, vì Chúa ẩn mình trong anh em ta, hay nói cách khác Ngài bày tỏ vinh quang nơi con người, nhất là những người cùng khổ; như G. Tagore đã từng cảm nghiệm : “Ngài ở với người nông dân đang cày bừaNgài ở với người công nhân đang đập đá, Ngài đang đổ mồ hôi dưới nắng mưa từng ngàyvà chân bùn tay lấm trong tấm áo tả tơi”.

 Như vậy chắc chắn Ngài đang ở với đồng bào miền Trung chúng ta. Ngài đang ở bên những người đã chết vì thiên tai lũ lụt. Ngài đang ở bên người chồng mất đi người vợ trên đường đi sinh con. Ngài đang ở bên người mẹ mất đi đứa con trai đang học lớp 10 chèo bè chuối đi nhận cơm từ thiện vì nhiều ngày chưa được ăn cơm, chẳng may trượt chân ngã xuống nước và bị nước cuốn trôi. Ngài đang ở bên những người ngồi bên chiếc quan tài người thân của mình treo trên mái nhà chờ nước rút để mai táng. Ngài đang ngồi trên nóc nhà, dầm mình trong mưa, chờ hàng cứu trợ của người khác… Chúng ta sẽ gặp Chúa nơi những người cùng khổ như thế.

Và nhiều người đã thực sự gặp Chúa khi họ biết san sẻ với anh chị em của mình. Bất kể tôn giáo gì, nhưng chắc chắn ca sĩ Thủy Tiên đã gặp Chúa vì cô là người làm nên lịch sử thiện nguyện của Việt Nam khi quyên góp được hơn 100 tỉ đồng cho đồng bào miền Trung và đích thân cô đã đến vùng lũ để cứu trợ cho họ. Cụ già khòm lưng may mắn mua được thùng mì, khi xe cứu trợ đi ngang, bà cũng gửi cho đồng bào trong vùng khó khăn hơn. Bà đã gặp Chúa vì bà có tình người.

Tuy nhiên cũng còn một ít người thờ ơ trước cảnh khổ của bồng bào mình khi họ lợi dụng hoàn cảnh khó khăn để tăng giá mặt hàng cứu trợ, tăng giá xe, tàu chở hàng cứu trợ; thậm chí có những người ăn chận hàng cứu trợ của dân. Họ ăn không kể bất cứ thứ gì. Họ ăn mì, ăn gạo, ăn áo phao, ăn dầu gió xanh, ăn thuốc xức ghẻ, ăn xuồng cứu sinh… Sở dĩ họ làm vậy là vì họ không có Thiên Chúa để yêu mến. Nếu họ có Thiên Chúa thì chắc chắn họ sẽ có Tình Yêu, mà khi có tình yêu thì không ai có thể làm ngơ trước nỗi đau của đồng bào mình.

Tất cả mọi sự đều hệ tại ở tình yêu. Mọi giới răn, lề luật của Chúa cũng đều hệ tại ở tình yêu. Mọi đường hướng của Hội thánh cũng đều dựa vào tình yêu. Có tình yêu là có tất cả, vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Chính vì thế người Kitô sống đạo tốt là người có thật nhiều tình yêu. Mục tử huấn luyện, dạy bảo giáo dân thành công là giúp họ ngày càng biết yêu và phát triển tình yêu của mình để trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng tự động san sẻ tình yêu đó, vì họ biết rằng có tình yêu là có tất cả.

Xin Mẹ Maria nâng đỡ nhân loại, nhất là người dân Miền Trung của chúng con. Xin cho tình yêu mọi nơi đổ dồn về miền Trung để làm vơi đi gánh nhọc nhằn của đồng bào chúng con, và cũng là để chúng con sống lời Chúa một cách cụ thể: “Trước kính mến Chúa trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy”. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn

ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT – CN XXX TN A

ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT  – CN XXX TN A

Luật Cưu Ước gồm 613 điều: 365 điều cấm làm và 248 điều phải làm. Giữa một rừng điều răn như thế, người thông luật đã hỏi Đức Giêsu: “Điều răn nào trọng nhất trong Luật Môsê?”. Ngài đã trả lời bằng một câu trong kinh Shema mà người Do thái đọc mỗi ngày, và một câu trong Sách Thứ luật là: phải yêu mến Thiên Chúa hết mình (Tl 6, 5), và yêu thương tha nhân như chính mình. (x. Lv 19, 18). Tất cả mọi điều răn được tóm trong một động từ “Yêu”. Tình yêu là cốt lõi của đời Kitô hữu, vì Thiên Chúa là Tình Yêu (x. 1 Ga 4,8).

Yêu và được yêu là nhu cầu tối hảo chi phối toàn diện đời sống làm người. Nơi mỗi người chỉ có một tình yêu duy nhất dành cho cả Thiên Chúa và cho mọi người. Sự tóm gọn này xuất hiện rõ rệt nơi thánh Gioan, là chuyên gia nói về “yêu”, mà thường không phân biệt đâu là yêu Thiên Chúa, và đâu là yêu tha nhân. Vì thế, không thể yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương tha nhân, “vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Ga 4, 20).

Đối với Kitô hữu, tiếp nhận Thiên Chúa và tiếp nhận tha nhân cũng như nhau (x. Mt 10, 40). Càng yêu thương tha nhân càng chứng tỏ mình yêu mến Thiên Chúa. Làm ơn cho tha nhân là làm cho chính Chúa. Mình với Chúa và tha nhân là một trong nhau, hay nói cách khác là Ba trong Một. Tình yêu Chúa mời ta mở lòng ra để đón nhận những tư duy mới, các khả năng mới như một cách thức của Lời Chúa. Khép kín trước thực tại hay bất cứ ai, là khép kín khả năng có thể tái sinh chính mình. Không thể rút lui khỏi cuộc đời để đi tìm kiếm Chúa. Cần nghe tiếng Chúa nơi tiếng người khác, thấy bóng dáng Chúa nơi anh em, biết ý Chúa qua ý người bên cạnh, phục vụ Chúa bằng phục vụ tha nhân, sống với Chúa qua việc sống với mọi người.

Chính nơi mỗi người, dù với diện mạo tầm thường và tính cách hèn kém, Thiên Chúa vẫn luôn có thể tỏ lộ cho ta huyền nhiệm của Ngài. Ta nên tập nhìn mọi người anh em bằng con mắt đức tin, để cảm nhận sự hiện diện của Chúa đang sống động trong từng người, và Ngài luôn có những điều muốn nói với ta trong mọi hoàn cảnh.

Người ta tìm thấy trong trang nhật ký cuối cùng của một vị tu sĩ già khi qua đời như sau: “Tôi đi tìm kiếm linh hồn tôi, nhưng tôi không thấy. Tôi đi tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vượt khỏi tầm tay tôi. Tôi đi tìm người anh em tôi, tôi đã gặp Chúa và linh hồn tôi”. Qua đó ta hiểu được khi từ chối tha nhân cũng là từ chối Thiên Chúa. Con người không thể gặp gỡ và yêu mến Thiên Chúa một cách mơ hồ, mà là nơi chính tha nhân. Thiên Chúa và tha nhân hòa hợp làm một trong cõi lòng ta. Ta yêu tha nhân trong Chúa, và yêu Chúa nơi tha nhân. Cầu nguyện là đặt mình trong Chúa để có thể yêu tha nhân đến vô cùng.

Trong Chúa, ta nhận ra tha nhân là anh em con một Cha, là hình ảnh Đức Kitô đang lê bước trong cuộc đời. Trong Chúa, ta nhận ra phẩm giá đích thực của một người, dù đó là một thai nhi, một phạm nhân hay người mất trí. Tình yêu mến Chúa đích thực luôn đưa ta đến với cuộc sống của anh em. Tình yêu thương anh em chân thực lại đưa ta đến cận kề ở bên Chúa, để kín múc nơi Ngài nguồn sinh lực hầu tiếp tục hiến trao. Cuối cùng tình yêu ấy quay trở về với chính Thiên Chúa như cùng đích tối hậu của nó, và như vậy phát sinh sự “hợp nhất” toàn hảo, mà Đức Kitô đã ao ước thực hiện giữa Thiên Chúa, chính Ngài và các kẻ tin (x. Ga 17, 21…).

Tóm lại, trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa và tha nhân đã hòa quyện làm một trong trái tim tôi. Tình yêu đích thực biến tha nhân thành “một nửa của hồn tôi”. Tình yêu ấy làm cho chúng ta nên giống Đức Kitô, Đấng “yêu mến các kẻ thuộc về Ngài cho đến cùng” (Ga 13, 1).

Lm. Thái Nguyên

“Dạ, Con Đây, Xin Sai Con Đi!” – CN Truyền Giáo

Cầu Cho Việc Loan Báo Tin Mừng – 2020
“Dạ, Con Đây, Xin Sai Con Đi! 

Ngày 31/5/2020, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Thánh Cha Phanxicô gửi Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền giáo 2020 sẽ được cử hành vào Chúa nhật 18/10 năm nay. Chủ đề Sứ điệp là: “Dạ, con đây, xin sai con đi!” (Is 6,8)

Xuất phát từ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, một trái tim thổn thức với ơn cứu độ dành cho con người là công trình do chính Chúa làm nên đã bị hư hoại bởi thế lực của sự dữ là ma quỷ, ác thần. Vì thế trái tim của Thiên Chúa là “trái tim không ngủ yên”, giống như tình yêu của chàng trai dành cho cô gái: “Từ khi yêu em, anh đã biết bối rối, vì những lúc thoáng nghe em cười. Anh đã biết con tim yêu em mất rồi. Người yêu ơi, xin em chớ quên!”. Xin thì xin, nhưng người yêu của anh quên thì vẫn cứ quên.

Cô đã lạc lối theo quyến rũ của con rắn là Satan. Vì vậy người yêu của cô mang tâm trạng: “Anh nào biết, anh nào có hay, hạnh phúc trôi qua tay giấc mộng tan. Lòng cay đắng khi em quên lối hẹn. Lời yêu, rồi thương em đã quên”. Dù vậy tình yêu của chàng trai vẫn chung thủy: “Nhưng lòng anh nuôi hoài giấc mơ. Tình sẽ không phôi pha như làn mây. Có nhiều đêm trong mơ anh vẫn chờ. Tình thôi xót xa!”.

Sự chờ đợi của Thiên Chúa không phải là ngồi yên, có về thì tao tha, không về thì thôi, ráng mà chịu! Nhưng Thiên Chúa chờ đợi bằng hành động, Ngài làm mọi cách để “cô vợ ngoại tình” của tiên tri Giêrêmia quay về dưới mái nhà xưa, quay về với chồng mình. Nó trở thành thao thức đến nỗi đăng bảng quảng cáo, đăng status, đăng khoảnh khắc để biết đâu ai đó sẽ thấu hiểu Ngài: “Ta sẽ sai ai đây?”. Có người đọc được dòng tâm trạng đó, có người thấy được status đó, hiểu được thao thức đó để xung phong: “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Người đó là ai? Là Isaia.

Tiếng “dạ” của Isaia là đáp lại tình yêu và mong mỏi của Thiên Chúa, là đang xoa dịu trái tim thổn thức của Ngài vì nhân loại chúng ta, là để cho trái tim của Ngài được ngủ yên, là góp phần cho “tình thôi xót xa”.

Tiếng “dạ” của Isaia không phải là giúp đỡ cho Chúa, là để Chúa vui, Chúa bớt buồn vì sự phản bội của con người, là làm việc tốt cho Chúa, nhưng trên hết đó là sứ mạng của Ba Ngôi Thiên Chúa mà tiên tri là người được chia sẻ, vì vậy ông rất tự hào. Và nhất là nếu không làm theo sứ mạng của Thiên Chúa, thì tiên tri không còn là tiên tri nữa, ông đánh mất đi bản chất của mình.

Vì thế tiếng “dạ” của Isaia vừa là sự tự nguyện, vừa là tấm lòng với Thiên Chúa, nhưng cũng vừa là bổn phận của ông. Có thể tóm gọn những điều đó lại thành thái độ mau mắn, sẵn sàng cho việc Loan Báo Tin Mừng của mỗi người chúng ta hôm nay.

Thế cho nên để LBTM trước hết cần phải có thái độ sẵn sàng. Vì tất cả mọi lý thuyết, mọi sự hiểu biết về việc LBTM phải được kích hoạt bởi đầu não chính là lý trí và ý chí của mỗi người để họ phải thực sự muốn và nói “dạ” với Chúa. Tiếng dạ ngoan ngoãn, tiếng dạ chân thành, tiếng dạ mau mắn trong sứ mạng của người Kitô hữu.

Tôi nói điều đó bởi vì còn rất nhiều người chưa hiểu rõ bản chất của Giáo hội, của Kitô hữu là LBTM, vì vậy bổn phận của chúng ta là phải LBTM chứ không phải muốn thì làm, không muốn thì thôi; hoặc nó chỉ là bổn phận của những người có trách nhiệm; hay đơn giản nếu tôi tốt, tôi đạo đức, tôi sốt sắng thì tôi làm, còn không thì nghỉ. Tiếng “dạ” phải luôn luôn trong trí, trong tâm, trong hành động của chúng ta. Vì nếu chúng ta không “dạ” để lên đường thì chúng ta sẽ không còn là Kitô hữu và Giáo hội sẽ không thể phát triển, ngược lại sẽ phải ù lì, chai cứng, mất sức, già nua và dần không còn sự hấp dẫn. Nguyên nhân tỉ lệ người Công giáo nói chung, Giáo phận Cần Thơ nói riêng còn rất thấp là vì mỗi chúng ta chưa ý thức để nói “dạ” với sứ mạng này, mà cứ chờ, cứ để người khác nói thế chúng ta.

Tôi lấy ví dụ: một cha sở muốn tạo điều kiện cho Họ đạo LBTM bằng việc làm cụ thể là phát gạo cho người nghèo hằng tháng, người nghèo đó đa phần là anh chị em lương dân. Mỗi tháng cần khoảng 2 triệu cho 200 ký gạo để gửi đến hai mươi gia đình. Một họ đạo có 200 người lớn đi lễ thường xuyên, như vậy mỗi tuần họ chỉ cần bỏ vào thùng truyền giáo 2.500 đ thì dư sức thực hiện chương trình đó. Vậy mà cuối tháng mở thùng bác ái, chỉ được vài trăm nghìn, tháng nào cha sở nói dữ lắm thì được 1.000.000. Rõ ràng vì chúng ta chưa ý thức việc làm của mình là để LBTM, chứ nếu ý thức thì quá dễ dàng với chúng ta.

Ước mong với Chúa Nhật Truyền Giáo hôm nay mỗi người chúng ta thêm một lần nữa xác quyết rằng mình phải luôn luôn nói “dạ”, luôn luôn sẵn sàng cho việc LBTM, nghĩa là làm mọi cách để người khác nghe, nhìn, đụng chạm, cảm nếm được niềm vui của Tin Mừng, niềm vui của những người Công giáo, niềm vui của đời Linh mục, niềm vui của đời tận hiến, niềm vui của những người được gọi là cán bộ truyền giáo, niềm vui mọi thành phần dân Chúa.

Tất cả mọi nổ lực của chúng ta là nhắm đến việc có nhiều người được biết đến Tin Mừng của Đức Giêsu. Tôi nghe một thành viên BTV/ HĐMVGX khoe: “2 năm trong BTV con kêu gọi được 4 người trở về với Chúa, con mừng lắm!”, và Giáo hội cũng mừng lắm! Tôi nghe một bệnh nhân trong bệnh viện nói với tôi về những hội viên Legio mà họ không biết đó là ai: “Mấy cô đó tốt quá hà, quen biết gì đâu cũng lại thăm, mừng hết biết!” Tôi nghe chính quyền bộc bạch về người anh em của tôi: “Chúng tôi nể phục Linh mục A. vì ổng lo cho mấy đứa học sinh nghèo được đi học”. Tôi nghe phụ huynh tôn giáo bạn nói với tôi: “Gửi con cho mấy Dì an tâm quá hà, nó ngoan và học giỏi nữa!” Và mới đây, tôi nghe một người phụ nữ kể về hành trình theo Chúa của bà ta. Bà ta quê ở Bạc Liêu, nghèo quá nên đi Biên Hòa làm mướn, lại gặp cảnh bệnh hoạn triền mien. Bà chủ nhà trọ là người công giáo nói với bà ta: “Ở đời này không có gì là điểm tựa chắc chắn cho mình hết, chỉ có Chúa của chúng tôi mà thôi. Vì vậy nếu bà muốn theo Chúa thì hãy theo tôi đến nhà thờ.” Thế là người đàn bà đó đến nhà thờ “xem lễ”, ghi danh học Giáo lý và được rửa tội. Chẳng những bà mà còn mấy đứa con của bà nữa. Hiện tại gia đình đó sống đạo rất tốt vì họ tìm được điểm tựa. Tôi nể phục bà chủ nhà trọ, vì bà truyền giáo thiết thực, hiệu quả.

Khi có thao thức, khi có thái độ sẵn sàng, chắc chắn chúng ta sẽ trở thành tiếng vọng tình thương để cho nhiều người được biết đến Tin mừng cứu độ của Đức Giêsu.

Xin Mẹ Maria, người nữ cưu mang và trao ban niềm vui cứu độ thôi thúc chúng con lên đường. Xin Chúa Thánh Thần thổi vào chúng con hồn Tông Đồ để chúng con có nhiệt huyết cho việc sống còn của Giáo Hội. Xin Chúa chúc lành cho từng người và cho công cuộc LBTM của Giáo hội.

Lm. Giuse Nguyễn