Lời Chúa Hằng Ngày

Bình an giữa sóng gió – Chúa Nhật XIX Thường Niên năm A

Bình an giữa sóng gió
Chúa Nhật XIX Thường Niên, năm A

Đời người là một hành trình nhiều sóng gió, và ai cũng khao khát đi qua sóng gió để đến được bờ bình an. Đối với người Kitô hữu, niềm khao khát ấy phải chăng là ao ước thấy được Chúa đồng hành và nâng đỡ hành trình đời mình.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật 19[1] hôm nay kể lại một hành trình hiểm nguy trắc trở mà các môn đệ của Chúa Giêsu đã trải qua. Trời đã tối, các môn đệ mệt nhoài sau một ngày phụ giúp Chúa Giêsu giảng dạy và nuôi ăn đám đông hơn chục nghìn người trong phép lạ hoá bánh ra nhiều. Khi chưa nguôi niềm vui của một sứ vụ thành công, các ông bước tiếp một hành trình không mấy tươi sáng. Qua bờ bên kia trước – một hành trình không rõ về mục đích, lênh đênh trên biển giữa đêm tối, và thiếu vắng sự đồng hành của Thầy Giêsu. Điều duy nhất các môn đệ chắc chắn chỉ là lời thúc giục ban đầu của Thầy: xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước.

Giông tố thường đến giữa hành trình, vì không ai khởi hành khi trời mưa bão. Trong hành trình của các môn đệ, chuyện không mong muốn đã xảy đến khi sóng to gió lớn ập đến con thuyền nhỏ bé của các ông. Thuyền đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió. Để có thể đối phó với cơn gió ngược chiều, hành trình sẽ dài và vất vả hơn vì thuyền buồm phải đi dích dắc so với đoạn đường thẳng tới đích. Mệt mỏi, lạnh lẽo, đói khát trong đêm giữa biển khơi sóng gió, ắt hẳn ai cũng đang tự hỏi về vai trò của thầy Giêsu: người đã mời họ bước vào cuộc hành trình đơn độc. Chẳng phải Chúa mời gọi tôi đi vào cuộc hành trình này sao? Chúa có biết tôi đang gặp khó khăn không? Chúa đang ở đâu? Chúa có đồng hành và giúp đỡ tôi khi tôi đang bơ vơ chống chọi sóng gió?

Sóng gió trong cuộc đời là chuyện không ai tránh được, và cũng không ai có thể hiểu hết nguồn cơn của chúng. Học hành, công việc, sức khoẻ, gia đình, tương quan xã hội – tất cả đều là những hành trình không ít sóng gió mà mỗi người đều phải trải qua. Ngay cả những hành trình tốt lành thánh thiện như phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân cũng đầy rẫy những gian nan. Chính Mẹ Têrêsa Calcutta cũng đã từng có kinh nghiệm về những tăm tối trong cuộc đời. Mẹ cảm thấy như Chúa đã bỏ rơi mình trong thời gian gần 50 năm. Mẹ đã từng thú nhận: “Nếu tôi có là thánh, tôi sẽ là vị thánh của tối tăm, và tôi sẽ xin Trời cho tôi làm ánh sáng cho những người sống trong tối tăm trần gian”.[2]

Giữa sóng gió của cuộc hành trình, Chúa Giêsu xuất hiện. Điều lạ lùng là các môn đệ đã không nhận ra Thầy mình – các ông tưởng Thầy là ma, hoảng hốt kêu la bấn loạn giữa cơn sóng gió. Có lẽ chính những khó khăn vất vả đã che mắt các ông. Có lẽ Chúa đến vào lúc các ông không ngờ tới, khi tất cả dường như đã mệt nhoài buông xuôi, hoặc chỉ đang cố chống chọi với sức công phá của sóng gió biển khơi mà không còn hy vọng vào bất cứ một giải pháp nào khác hơn được nữa. Chúa đến giữa canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển, sóng gió vẫn đang vần vũ con thuyền giữa biển khơi, các môn đệ hoảng hốt. Chưa hoàn tất hành trình khó khăn vượt biển, các môn đệ đi tiếp hành trình không dễ dàng của việc nhận ra Chúa Giêsu.

Cách Chúa đến khác lạ, nhẹ nhàng và đối lập hẳn với hoàn cảnh sóng gió mà các môn đệ đang gặp phải. Thay vì dẹp yên sóng gió, Chúa mời gọi Phêrô bước trên sóng biển, đi giữa cơn gió lớn để đến với Ngài. Đến gần Chúa chừng nào thì vượt qua được sóng gió chừng ấy. Trong cuộc hành trình, có lúc Phêrô chìm vì sợ hãi nhưng Chúa vẫn tiếp tục đưa tay nắm lấy và dìu ông vượt qua khó khăn để lên thuyền và đến bờ bình an.

Đi giữa sóng gió, cám dỗ lớn nhất là để nỗi khó khăn sợ hãi bắt chụp lấy mình, thay vì vững tin vào sự hiện diện và đồng hành nhẹ nhàng nhưng vững chắc của Chúa. Sợ hãi và kém tin đã làm Phêrô chìm, còn tin tưởng và nắm lấy tay Chúa mới giữ ông vững vàng tiến bước. Kể cũng lạ, lối nẻo của Chúa là nhẹ nhàng giữa sóng gió, là an bình giữa bão giông. Từ hang Bêlem ngày Giáng Sinh đến đồi Canvê hôm chịu khổ hình, Chúa vẫn trung thành với con đường nghèo khó, âm thầm, nhiều khó khăn nhưng lại rất đỗi bình an, nhân hậu và công minh chính trực. Giữa muôn sóng gió của cuộc đời, Chúa có thể đến qua tha nhân, qua lời động viên an ủi, qua lời cầu nguyện, qua tâm lòng thiện lành đơn sơ, hay nơi niềm tin son sắt bền sâu về sự đồng hành và cứu giúp. Trên núi Horeb, Elia đã trải qua kinh nghiệm gặp Chúa nơi tiếng gió hiu hiu (1V 19,9-13). Sau tất cả những gầm gừ quát tháo của gió bão, động đất, lửa cháy, Elia nhận ra Chúa trong cơn gió nhẹ hiu hiu và tiến ra gặp Ngài.

Lời cầu xin quen thuộc trong Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô cũng mang tinh thần của người an bình giữa sóng gió: đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu. Người tin Chúa thường gặp nhiều thử thách, nhưng họ vẫn an bình cậy trông.

Phải chăng con người quỵ ngã giữa những hành trình, hay là họ chỉ không nhận ra và không nắm lấy bàn tay của Chúa? Rồi giông tố sẽ đến giữa cuộc hành trình, nhưng Chúa vẫn đang đi trên mặt biển mà đến với tôi. Rồi bao ồn ào quát tháo như bão táp, đất động, lửa cháy sẽ ập đến trước mắt, nhưng Chúa vẫn ở trong cơn gió nhẹ hiu hiu để hong mát cuộc đời tôi. Nếu cuộc đời có nhiều cuộc hành trình sóng gió, thì bình an của Chúa neo đậu nơi chính niềm tin sắt son và tấm lòng đơn thành. Bình an ấy thật nhẹ nhàng đến mức bay là trên sóng gió biển khơi.

Đaminh Lê Văn Luận, SJ

[1] CN 19 TN A (Mt 14,22-33), 9-8-2020

[2] http://www.simonhoadalat.com/GIAOHOI/Nam2009/Thang4/21SachMeTeresa.htm

Chia sẽ bài viết này trên:

Cứ yên tâm, Thầy đây đừng sợ – Chúa Nhật XIX Thường Niên Năm A

Cứ yên tâm, Thầy đây đừng sợ
SN Chúa Nhật XIX Thường Niên, năm A

I. LỜI CHÚA: Mt 14, 22-36

22 Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng.23 Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình.24 Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió.

25 Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.26 Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy! “, và sợ hãi la lên.27 Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! “28 Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.”29 Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến! ” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su.30 Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với! “31 Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? “

32 Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay.33 Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! “

*  *  *

34 Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét.35 Dân địa phương nhận ra Đức Giê-su, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người.36 Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được khỏi.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

Bài Tin Mừng có cấu trúc song song đối xứng như sau:

A (c. 22-24): Các môn đệ xuống thuyền

– Đức Giê-su một nơi, các môn đệ một nơi.

– Sóng đánh, gió ngược.

B (c. 25-31): Đức Giê-su đến với các môn đệ

– Đức Giê-su đến với các môn đệ,
trên biển đầy sóng gió

– Ông Phê-rô đến với Đức Giê-su,
trên biển đầy sóng gió

A’ (c. 32-33): Thầy trò cùng thuyền, gió yên biển lặng

– Thầy trò cùng thuyền.

– Gió lặng.

———————–

– “Ngài là Con Thiên Chúa !”

*  *  *

Trình thuật Tin Mừng bắt đầu với hình ảnh con thuyền chỉ có các môn đệ và bị sóng đánh vì gió ngược, và kết thúc với hình ảnh con thuyền có Thầy và có trò, « êm trôi êm trôi » trong gió nhẹ.

Sự chuyển biến đầy ý nghĩa này đến từ kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giê-su, không phải ở bên ngoài sóng gió, hay ở trên cao tưởng tượng, nhưng ngay ở giữa lòng biển cả, với đôi bàn chân chế ngự sóng dữ. Hình ảnh thật ý nghĩa và sống động, loan báo mầu nhiệm Vượt Qua của Người.

« Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! » (c. 33)

*  *  *

1. Đức Giê-su một nơi, các môn đệ một nơi (c. 22-24)

a. Chiêm ngắm Đức Giê-su

Chúng ta hãy nhìn ngắm Đức Giê-su. Sau phép lạ bánh hóa nhiều, « Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước ». Chúng ta có thể tự hỏi tại sao ? Và chính Ngài giải tán đám đông chứ không phải các môn đệ ; bởi vì Đức Giê-su mới là mục tử ; đoàn chiên, là đoàn chiên của Người ; và chính Người nuôi dưỡng đoàn chiên, chứ không phải các môn đệ.

Sau đó, Đức Giê-su núi cầu nguyện một mình suốt đêm. Chúng ta có thể hình dung ra Đức Giê-su đang cầu nguyện, và lắng nghe Ngài cầu nguyện. Về điều này, Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại cho chúng ta rất nhiều (x. Ga 14-17). Chúng ta có thể đoán ra rằng, một phần quan trọng của thời gian cầu nguyện mà Đức Giê-su thực hiện là việc « phân định thiêng liêng » : phải bày tỏ căn tính Ki-tô và Con Thiên Chúa của Ngài như thế nào và bằng con đường nào : con đường mà ma quỉ gợi ra trong sa mạc và cũng là con đường mà các môn đệ mong chờ ? Hay con đường mà Chúa Cha muốn từ thuở tạo thiên lập địa và được ghi khắc trong sáng tạo và trong lịch sử cứu độ ? Con đường đáp ứng mọi nhu cầu của con người bằng quyền năng và những phép lạ cả thể, như bánh hóa nhiều ? Hay bằng con đường của hạt lúa mì, con đường trở nên lương thực cho con người (x. St 1, 29), con đường mang lấy mọi bệnh hoạn tật nguyền của loài người, con đường băng qua Biển Đỏ Sự Chết ?

b. Chiêm ngắm các môn đệ

Với phép lạ bánh hóa nhiều, chắc chắn đã tạo ra nơi các môn đệ sự gắn bó nào đó : vinh quang của Thầy được tỏ hiện, sự thán phục của đám đông đối với Thầy, nhưng các môn đệ cũng được hưởng nữa, bánh dư tràn, và những mối tương quan với nhiều người được dệt nên qua biến cố đặc biệt này. Nhưng, đã đến lúc phải bỏ lại tất cả, vì Chúa muốn các môn đệ phải « sang bờ bên kia ».

Trong hành trình đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, chúng ta vẫn cứ thỉnh thoảng lại phải « sang bờ bên kia » ; và sẽ đến lúc, và lúc đó không thể tránh được, chúng ta phải sang bờ bên kia của sự chết. Những lúc như thế, hành trình « sang bờ bên kia » đều chất chứa những bấp bênh và thách đố, và nhất là phải hi sinh và từ bỏ rất nhiều, như các môn đệ bị Đức Giê-su bắt phải bỏ lại tất cả, xuống thuyền, ra khơi xa, để sang bờ bên kia. Quả vậy, một thử thách rất lớn ở giữa lòng biển cả đang chờ các môn đệ, và chắc chắn đó sẽ là thử thách không bao giờ quên :

  • Các môn đệ ở trên thuyền, thuyền ở giữa Biển Hồ : lúc đó là ban đêm và trên thuyền không có Thầy Giê-su.
  • Một hoàn cảnh như thế đã là một thử thách rồi, vì trong đêm tối và ở giữa biển, nên các môn đệ không còn thấy bờ bến, có thể mất hướng đi và bị biển vùi dập và nuốt chửng bất cứ lúc nào. Nhưng, thêm vào đó, con thuyền bị sóng đánh vì gió ngược nữa, khiến các môn đệ phải vất vả chèo chống.
  • Vẫn chưa hết thử thách, vì Đức Giê-su biết rõ hoàn cảnh thử thách của các môn đệ, nhưng mãi canh tư Ngài mới đến, nghĩa là mãi đến rạng sáng !

Thử thách của các môn đệ nói về hay làm chúng ta nhớ tới những thử thách riêng của mỗi người chúng ta. Vậy đâu là những thử thách mà chúng ta đang phải đối diện ? Nhưng Lời Chúa trong trình thuật Tin Mừng này còn mời gọi chúng ta phải biết nhận định để nhận ra sự hiện diện của Chúa ngay trong lòng thử thách.

2. Đức Giê-su đến với các môn đệ (c. 25-31)

a. Các môn đệ và Đức Giê-su

Chúng ta hãy nhìn ngắm, lắng nghe và quan sát các môn đệ, khi họ thấy Đức Giê-su đi trên mặt nước đến với họ. Các môn đệ của Đức Giê-su, đang bị vùi dập giữa sóng nước mênh mông và dữ dằn trong đêm tối, Ngài không đưa họ ra khỏi thử thách này, nhưng Ngài « vượt qua » biển cả hung tợn và chết chóc để gặp gỡ các môn đệ ngay giữa lòng thử thách. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp loan báo Ngài sẽ đi vào cõi chết để gặp gỡ chúng ta trong thử thách tận cùng là sự chết, để nói với chúng ta rằng : « Thầy đây, đừng sợ, vì Thầy mạnh hơn sự chết ». Nếu chúng ta đang ở trong thử thách, vậy thì đâu là cách thức Đức Giê-su đi đến và hiện diện cùng với chúng ta trong thử thách ?

Cách Ngài đến thật lạ lùng, đến độ các môn đệ tưởng là ma, do đó họ rất hoảng hốt, bởi vì Ngài đi trên mặt biển mà đến với các ông ! Chúng ta hãy cảm thông với các môn đệ : ở giữa biển và trong cảnh « tranh tối tranh sáng », khi không có người lù lù đi tới ! Sau này, các ông cũng sẽ hốt hoảng tưởng là ma, khi Đức Ki-tô từ cõi sống lại, nghĩa là vượt qua biển cả sự chết, tỏ mình ra cho các môn đệ. Và làm sao không hốt hoảng được, khi một người đã được chôn táng cẩn thận rồi, mà này lại « trở về » !

Chúng ta hãy lắng nghe lời của Đức Giê-su : « Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ ». Ở giữa lòng thử thách của biển cả và sau này, trong cơn sầu khổ của cuộc Thương Khó, các môn đệ tự mình không thể nhận ra Đức Ki-tô hằng sống ; nhưng Ngài phải ra dấu cho các môn đệ bằng cách « lên tiếng ». Thật vậy, với bà Maria Ma-đa-lê-na đang khóc bên mộ, Đức Ki-tô đã gọi tên của bà : « Maria » ; với hai môn đệ đang buồn rầu thất vọng trên đường Emmau, Đức Ki-tô phục sinh đã âm thầm đồng hành và giải thích thử thách Thương Khó của Ngài dưới ánh sáng của Sách Thánh ; và với các môn đệ đang ở giữa thử thách của biển cả, Đức Giê-su lên tiếng : « Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ ».

Và trong mọi thử thách của chúng ta, thử thách của thân phận và của số phận, Đức Ki-tô vẫn luôn lên tiếng, nói với chúng ta : « Thầy đây, đừng sợ », vì Ngài đã trải qua tất cả và đã vượt qua tất cả. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, phải ở tận cùng của khó khăn và thử thách, Người mới đến và đến cách lạ lùng để cứu giúp và mở đường cho chúng ta đi ; và sau này, Chúa sẽ cứ để chúng ta chết đi, nghĩa là chúng ta phải đi vào trong bóng đêm của biển cả sự chết ; và chỉ sau đó, Đức Ki-tô Phục Sinh, là Đấng chiến thắng sự chết, mới đến đón chúng ta ở bờ bên kia của sự chết.

b. Ông Phê-rô và Đức Giê-su

Ngay sau khi Đức Giê-su lên tiếng, ông Phê-rô liền thưa : « Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài. » Lời yêu cầu này của Phê-rô vừa diễn tả sự nghi ngờ, vì ông nói : « Nếu quả là Ngài… », và vừa diễn tả cá tính đặc biệt của ông : nhanh nhẹn, thẳng thắn, can đảm, không sợ hãi và rất gắn bó với Thầy Giê-su.

« Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm ». Khi sợ hãi, thì tất yếu bị lún chìm ; và lời của Đức Giê-su mặc khải cho biết lí do của sự sợ hãi : « Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? ». Ngài đưa tay nắm lấy ông, rồi Ngài mới trách. Nếu không sẽ quá muộn ! Như thế, lún chìm là hậu quả tất yếu và tự tại của sự hoài nghi ; ngược lại, khi tin tưởng, chúng ta sẽ vững bước và vượt qua thử thách thân phận, số phận, sự dữ và tội lỗi, bởi vì lòng tin có sức mạnh cứu độ, như Đức Giê-su nói : « lòng tin của con đã cứu con ».

Nhưng, một cách sâu xa hơn, điều ông Phê-rô xin, cũng chính là cách thức mà mỗi người môn đệ được mời gọi đến với Đức Giê-su : như Phê-rô, người môn đệ cũng phải « đi trên mặt nước » để đến với Đức Giê-su. Hình ảnh « đi trên mặt nước » thật là ý nghĩa : chẳng dựa vào gì hết, chỉ dựa vào Lời Chúa thôi, nhưng đầy hiểm nguy sóng gió và có nguy cơ lún chìm. Chúng ta cũng phải « đi trên mặt nước » để đến với Đức Giê-su, chắc chắn chúng ta sẽ sợ hãi, chúng ta la lên : « Chúa ơi, xin cứu con ! », và Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy chúng ta.

3. « Ngài là Con Thiên Chúa » (c. 32-33)

« Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay ». Như thế, ở đâu có Đức Ki-tô hiện diện, thì ở đó sóng yên gió lặng. Chúng ta hãy khát khao có được kinh nghiệm này : lòng chúng ta được « sóng yên gió lặng », khi chúng ta mở rộng lòng quảng đại đón nhận Đức Ki-tô vào con thuyền cuộc đời hay con thuyền tâm hồn của chúng ta, cho dù chúng ta đang phải sống trong thử thách hay cơn khốn khó. Xin cho chúng ta nghiệm được sức mạnh chiến thắng sự chết và những gì thuộc về sự chết, mỗi khi có Đức Ki-tô Phục Sinh hiện diện.

Lúc này các môn đệ tưởng Ngài là « ma », bây giờ họ tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa. Ngài sẽ bày tỏ căn tính Con Thiên Chúa của Ngài một cách thực sự và trọn vẹn khi chiến thắng vượt qua Sự Dữ và Sự Chết trong mầu nhiệm Vượt Qua.

*  *  *

Ở giữa lòng thử thách, Đức Giê-su đến cứu giúp, nhưng các môn đệ lại hốt hoảng ; và theo thánh Mác-cô, lí do là vì : « các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều, lòng trí các ông còn ngu muội » (Mc 6, 52). Lý do được nêu ra ở đây thật là lạ : phép lạ bánh hóa nhiều (x. Mt 14, 13-21), vừa được Đức Giê-su thực hiện có liên quan gì đến thử thách các môn đệ vừa trải qua ?

Câu hỏi này thật đáng cho chúng ta suy gẫm. Thực vậy, nếu các môn đệ và cả chúng ta hôm nay nữa, hiểu và tin vào quyền năng của Chúa, Đấng có thể làm cho chúng ta no đầy trong cơn đói khát, Đấng đã đưa chúng ta từ hư vô vào trong sự sống, Đấng hi sinh chính sự sống của mình vì chúng ta, Đấng vẫn nuôi dưỡng chúng ta mỗi ngày bằng Lời và Mình của Ngài, thì sẽ không hốt hoảng sợ hãi và dễ dàng nhận ra Chúa vượt qua tất cả để đến gặp gỡ chúng ta ngay trong bóng tối của thử thách, của Sự Dữ, của tội lỗi và của chính sự chết, để làm cho chúng ta tín thác và hi vọng và dẫn chúng ta Vượt Qua, như chính Người đã Vượt Qua. Bởi vì, Người là Con Thiên Chúa :

Khi thầy trò đã lên thuyền,
thì gió lặng ngay

Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! (c. 32-33)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

Đừng Để Ai Nghèo Trước Mặt Chúng Ta – Chúa Nhật XVIII TN, năm A

Đừng Để Ai Nghèo Trước Mặt Chúng Ta

Mỗi lần đi làm từ thiện ở đâu đó thì tôi lại thường răn mình với câu của cha ông: “Làm phúc nơi nao để cầu ao rách nát”. Tôi phải nhìn lại xem những người ở bên cạnh đã được tôi quan tâm chia sẻ hay chưa? Người nghèo đang chung sống với tôi đã được hưởng lộc gì từ tôi? Hay tôi chỉ quan tâm đánh bóng tên tuổi của mình mà bỏ rơi người bên cạnh mình?

Tôi vẫn nhớ lời một cô bé trong xứ đã nói với tôi:

“Cha ơi! Nếu cha cần giúp ai đó, cha có thể liên lạc với cô của con. Cô của con tốt lắm, hay chia sẻ cho người nghèo lắm. Nhưng… cô chỉ chia sẻ cho người ngoài thôi. Con là cháu ruột, nhà con nghèo nhưng cô không giúp… Lần kia, cô nhờ con chở cô vào một trung tâm nuôi người già neo đơn và trẻ mồ côi để giúp họ. Cô cầm một xấp tiền trong tay và đi phát cho hết mọi người. Con đứng kế bên cô, con thèm được cô cho một tờ thôi nhưng không được. Cô đâu có biết là đứa cháu gái của cô phải mượn xe để chở cô đi làm việc từ thiện. Giá như mà cô cho cháu của cô 1 tờ để đổ xăng cũng đỡ…”

Xem ra lời Chúa Giê-su từng nhắc nhở cũng chẳng thừa: “Vì các ngươi sẽ có người nghèo luôn bên cạnh các ngươi, còn Ta, các ngươi sẽ không gặp Ta mãi đâu” (Ga 12, 8).

“Người nghèo luôn bên cạnh các ngươi”. Người nghèo đó không hẳn chỉ ở trong trung tâm này hay nhà mồ côi kia. Người nghèo đó luôn ở bên cạnh. Họ có thể là người cha người mẹ già nay đã tàn hơi và kém trí nhớ. Người nghèo đó có thể là chính người anh, người chị, người em, người con, người cháu đang sống trong mái nhà của chúng ta. Những người nghèo đó thật gần với chúng ta, họ gần hơn những người nghèo mà chúng ta hay đi thiện nguyện để đăng đàn đánh bóng tên tuổi mình.

Bài phúc âm hôm nay kể rằng: khi thấy một đám đông rất đông đã đi theo Chúa và luôn ở bên cạnh Chúa suốt cả ngày. Chúa chạnh lòng thương. Chúa bàn với các tông đồ để tìm ra phương án lo cho họ. Thế nhưng, các môn đệ đã “bàn” rất hợp lý với Đức Giêsu rằng “lực bất tòng tâm”, tốt nhất là  giải tán dân chúng để họ đi mua thức ăn! Phủi tay là thượng sách. Nhưng Chúa Giêsu đã bảo các ông: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính chúng con hãy cho họ ăn đi.”. Các ông bàng hoàng sửng sốt vì biết đào đâu ra thức ăn cho bằng ấy ngàn người?

Bất đắc dĩ, các ông mới dùng phương án gom góp của mọi người để chia sẻ cho nhau. Các ông cũng chỉ gom được năm cái bánh và hai con cá!”. Ấy thế mà một khi đã đưa cho Chúa rồi thì “ai nấy đều ăn no nê” .

Đôi khi chúng ta cũng thường bỏ quên người nghèo ở bên cạnh chúng ta. Đôi khi chúng ta vẫn dửng dưng với người bên cạnh đến nỗi họ đang sống trong cô đơn, tủi hổ vì chúng ta.

Họ là những cha mẹ già già yếu thèm một chút tình người của đứa con mà cả đời lo cho nó nhưng lại bị nó bỏ rơi trong cô đơn xó nhà.

Họ là những người vợ thèm một chút quan tâm của người chồng để bù đắp lại cuộc đời vợ lam lũ chịu cực chịu khổ vì chồng.

Họ là những người hàng xóm láng giềng tốt bụng luôn sẵn lòng giúp chúng ta nhưng ngược lại chúng ta lại quên quan tâm tới họ.

Nhiều người chúng ta luôn ao ước có thể góp sức làm thay đổi thế giới. Chúng ta ao ước có thể làm những chuyện phi thường, những chuyện siêu phàm để mang lại hạnh phúc cho loàingười. Thế nhưng, điều ấy sẽ không bao giờ xảy ra vì chúng ta chỉ là người phàm nên chăng chỉ có thể làm những chuyện bình dị mà thôi! Điều mà chúng ta có thể làm thay đổi cả thế giới này là bằng chính những hành động nhỏ nhặt nhất của mình, những công việc của bổn phận, những công việc của tự nguyện hy sinh vì lợi ích tập thể đều là những công việc góp phần thay đổi thế giới. Vâng chúng ta chỉ cần làm một việc nào đó với tất cả sự yêu thương và tình cảm chân thành là chúng ta đang làm vơi đi những khổ đau, những gánh nặng cho tha nhân.

Khi chung tay giúp đỡ người khác chỉ với một hành động nhỏ thôi chúng ta cũng làm nên những điều to lớn đối với người nhận được sự giúp đỡ và cả những người xung quanh.

Không cần làm những chuyện phi thường mà chỉ cần làm những việc nhỏ nhưng biểu lộ một tình yêu chân thành vẫn có thể làm vơi đi biết bao phiền muộn, đau khổ cho tha nhân.

Xin Chúa cho chúng ta luôn là những con người biết đóng góp phần nhỏ bé của mình để làm vơi những đau khổ, đói nghèo cho những người chung quanh. Xin cho chúng ta biết quan tâm đến người bên cạnh của mình và đừng bao giờ để ai bị nghèo đòi hay bỏ quên trước mặt chúng ta. Amen.

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Chia sẽ bài viết này trên:

Bữa Tiệc Tình Thương – Chúa Nhật XVIII TN, năm A

Bữa Tiệc Tình Thương – Chúa Nhật XVIII TN, năm A

Hành hương Thánh Địa, chúng tôi có ghé thăm miền đất Tabgha với nhiều địa danh quen thuộc được kể trong Phúc Âm.Vùng Tabgha màu mỡ trải dọc theo hướng Tây Bắc bờ Biển hồ Galilê. Tên Tabgha bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Heptapegon” nghĩa là “7 con suối” và được thu gọn lại theo tiếng Ả Rập là Tabgha.

Theo truyền thống, tại miền đất này đã diễn ra những sự kiện quan trọng trong sứ vụ của Chúa Giêsu: Phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều; Chúa giảng Bài giảng trên Núi; sau khi Phục sinh, Chúa đã hiện ra với các môn đệ trên bờ hồ và trao quyền lãnh đạo cho Simon Phêrô…

Chúng tôi đến thăm “Nhà Thờ Bánh Hóa Nhiều”, giữa một khu vườn rất nhiều cây ôliu và hoa cỏ xanh tươi xinh đẹp. Ngôi Nhà thờ nguyên thủy được xây dựng dưới thời Byzantine, trong nhiều giai đoạn khác nhau và được trùng tu vào các thế kỷ sau đó. Nhà thờ vẫn còn lưu giữ một sàn nhà khảm đá (mosaic) đã được khám phá tại Thánh địa. Có lẽ biểu tượng nổi bật nhất, nằm ngay trên đỉnh của bức tranh phía dưới bàn thờ chính là 4 chiếc bánh và 2 con cá, kính nhớ việc Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ tại đây.

Khi chiêm ngắm bức họa với 2 con cá và 4 chiếc bánh, ai cũng hỏi tại sao lại 4 mà không phải là 5 chiếc bánh như Phúc Âm đã kể? Đây là một sự “thiếu sót” có chủ ý của nghệ nhân khi làm nên bức hình đó. Vì chiếc bánh thứ năm không nằm trong giỏ nhưng nằm trên bàn thờ, đó chính là Mình Thánh Chúa mỗi khi thánh lễ được cử hành trên bàn thờ này.

Người Ba Tư xâm chiếm vùng này và phá hủy Nhà thờ vào năm 614. Vương cung Thánh đường mới được xây dựng trên nền cổ của ngôi Nhà thờ, vẫn còn giữ nguyên phong cách cũ đồng thời kết hợp hài hòa những nét cổ xưa và hiện đại. Ngày nay, các thầy dòng Biển Đức chăm sóc ngôi Nhà thờ này.

Chúng tôi đọc Phúc Âm câu chuyện phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều và thinh lặng suy niệm. Matthêu chương 14 mô tả hai bữa tiệc xảy ra nối tiếp nhau để độc giả so sánh và suy nghĩ: bữa tiệc sang trọng với cái đầu của Gioan Tẩy Giả và bữa tiệc của dân nghèo với 5 cái bánh và 2 con cá.

Mt 14,1-12: Tại bữa tiệc ở cung điện của vua Hêrôđê với các quan khách sang trọng quý phái. Họ có tất cả mọi sự trên đời: quyền hành, danh vọng, tiền bạc, sắc đẹp, lạc thú, thức ăn cao lương mỹ vị, rượu ngon thỏa thích, vũ nữ duyên dáng chân dài chân ngắn…và có cả hận thù ích kỷ, máu đổ đầu rơi.

Mt 14,13-21: Tại bữa tiệc nơi hoang vắng với đám dân nghèo đói. Họ chẳng có gì ngoài sự tin tưởng, hy vọng vào tình thương và sự chia sẻ của Chúa Giêsu. Đây là phép lạ của tình thương. Các môn đệ cũng đóng vai trò quan trọng là cộng tác với Chúa, đi phân phát thức ăn cho dân chúng. Mọi người chia sẻ cho nhau, bánh và cá cứ thế mà tiếp tục nhiều lên. Chúa không làm phép lạ một núi bánh và cá cho mọi người đến lấy. Chúa làm phép lạ khi mọi người liên đới với nhau, cùng bẻ ra và trao cho nhau. Bữa ăn hôm đó là một biểu tượng của bữa tiệc Thánh Thể. Không còn ranh giới, không còn giai cấp, không còn kẻ trên người dưới. Một tinh thần hòa đồng, tất cả đều là anh chị em trong Chúa Giêsu. Trong tiệc Thánh Thể, người ta tìm thấy bình an và nguồn hạnh phúc trào dâng trong tâm hồn. Người ta tận hưởng hoa trái tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại, người ta nhận biết giá trị của bình an nội tâm do ân sủng Chúa ban đến.

1. Bánh Trường Sinh

Phép lạ hoá bánh là dấu chỉ báo trước Thánh Thể: “Ngài cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ” (Mt 14,20). Trong Tiệc Ly “Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng” (Mc 14,22). Cử chỉ Bẻ Bánh đã trở thành nét đặc trưng của Chúa Giêsu ( Lc 24, 30) và của Giáo hội (Cv 2, 42).

Ðược bánh ăn, dân chúng muốn “bắt lấy Ngài tôn lên làm vua” (Ga 6,15). Họ tiếp nối Satan cám dỗ Ngài lần nữa. Chúa Giêsu nhắc nhở họ rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh “Hãy ra công làm việc, đừng vì lương thực hư nát nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ngươi” (Ga 6, 27). Họ xin cho được ăn mãi thứ bánh ấy và Chúa đã bảo họ: “Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với ta không hề phải đói, ai tin vào ta, chẳng khát bao giờ” ( Ga 6, 35). Chóp đỉnh của mạc khải về Bánh Hằng Sống chính là “Ai ăn thịt ta và uống máu ta thì được sống muôn đời, và ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Ăn thịt, uống máu nhấn mạnh đến cái chết trên thập giá của Chúa.

Bánh Ta sẽ ban” hướng về cái chết của Chúa Giêsu và gợi đến Tiệc Thánh Thể lưu niệm vĩnh viễn sự chết cứu độ của Chúa trên Thập giá. Giá trị cứu rỗi của cái chết trên Thập giá được hiện tại hóa luôn mãi trong Tiệc Tạ Ơn của Giáo Hội. Người tín hữu được sống dồi dào khi ăn uống Mình Máu Chúa Giêsu.

Chúa vẫn tiếp tục đồng hành cùng Giáo hội, thực hiện công trình cứu độ trong Giáo hội, qua Giáo hội và với Giáo hội. Trao cho chúng ta Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể, Chúa mời gọi chúng ta bẻ ra và trao cho anh em mình.

2. Bánh Lời Chúa

Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Lời Thiên Chúa là Lời Quyền Năng, nhưng Ngài lại trao cho con người sứ mạng công bố lời Ngài “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các Ngôn sứ” (Dt1, 1). Cũng một sứ mạng ấy được tiếp nối trong Giáo hội hôm nay “Ngài sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Sứ mạng đó là nhiệm vụ cốt yếu của các tông đồ “Chúng tôi không thể sao nhãng Lời Thiên Chúa để lo giúp việc bàn ăn” (Cv 6, 2) và chính Thánh Phaolô kêu lên “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng“. Thế là, con người tội lỗi được giao trách nhiệm công bố Lời thánh hóa; con người yếu đuối công bố Lời quyền năng; con người giới hạn công bố Lời vĩnh cửu. Một vinh dự quá đổi lớn lao.

Lời Chúa có thể đọc và giải thích ngoài phụng vụ, trong phạm vi cá nhân hoặc khi làm việc đạo đức. Khi đó Lời Chúa là cơ hội ban ơn hiện sủng và hiệu năng ở đây là hiệu năng “do nhân” (ex opere operantis), tùy thuộc thái độ tâm hồn của người đọc và người nghe. Lời Chúa được công bố khi cử hành phụng vụ, đó là Lời do Chúa Giêsu hoặc Giáo hội ấn định, được công bố nhân danh Chúa và Giáo hội bởi Thừa tác viên chính thức. Lời Bí Tích mang hiệu năng “do sự” (ex opere operato), qua các bí tích Chúa Kitô ban ân sủng cho người lãnh nhận.

Sứ vụ công bố Lời Chúa được thực hiện trong tác động của Thánh Thần. Bởi thế người rao giảng Tin mừng chỉ có thể thực rao giảng Lời Chúa nhờ quyền năng và tác động của Thánh Thần. Chính Thánh Thần tác động lên người nói cũng như người nghe, để Lời được công bố không còn là Lời của người phàm nhưng là Lời Thiên Chúa. Dù ta có cố gắng đến đâu cũng không thể cải hoá lòng người vì: “Không ai có thể tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa mà không do Thánh Thần” (1Cr 12,3) và “Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là uổng công” (Tv 127,1).

Các con có mấy chiếc Bánh Lời Chúa để trao cho anh em? Chúa vẫn luôn hỏi chúng ta điều ấy mỗi ngày. Bởi đó, cần trau dồi Lời Thiên Chúa, vì người được sai đi để công bố Lời Chúa chứ không phải lời của thế gian, cho dẫu lời ấy có khôn ngoan đến đâu chăng nữa. Ðồng thời cũng phải trau dồi lời con người, là khả năng nói, loan báo, kỹ năng diễn đạt tư tưởng và rao giảng để Lời Chúa chinh phục các tâm hồn.

Công bố Lời Chúa vừa là một hồng ân vừa là một trách nhiệm. Là hồng ân vì con người tầm thường được Thiên Chúa mời gọi làm ngôn sứ. Là trách nhiệm vì phải nỗ lực để chu toàn sứ vụ.

3. Bánh Thánh Thể

Bánh và rượu tượng trưng đầy đủ chính con người chúng ta. Bánh là kết quả công lao khó nhọc của con người. Người ta thường nói: Ðổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có mà ăn. Bánh như thế tượng trưng công lao khó nhọc và chính sự sống con người. Bên cạnh đời sống vật chất còn có đời sống tinh thần. Vì thế cùng với bánh chúng ta dâng rượu. Rượu tượng trưng cho mọi nỗi vui buồn sướng khổ của đời người: khi vui ta uống chén rượu mừng nhưng khi buồn ta uống chén rượu giải khuây. Dâng lên Chúa bánh và rượu là chúng ta dâng lên tất cả đời sống với mọi nỗi vui buồn sướng khổ, tất cả dệt nên cuộc sống hiện tại của mình.

Ðến Nhà Thờ dâng Lễ, mỗi tín hữu mang lễ vật riêng là chính đời sống của mình, nhưng khi dâng lễ, nó được thu hợp lại thành lễ vật chung của cộng đoàn dâng lên Chúa. Tấm bánh được hình thành bởi trăm ngàn hạt lúa miến đã được xay nát ra và hòa trộn với nhau trong chậu bột. Ly rượu là kết quả của nhiều trái nho được ép ra và hòa tan với nhau. Cả hai tượng trưng đầy đủ ý nghĩa cộng đồng cho lễ vật mỗi người cũng như lễ vật toàn thể cộng đoàn. Linh mục đọc Lời Truyền Phép là Lời Chúa Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô. Đồng thời Chúa Kitô cũng biến đổi những hy sinh, những hạnh phúc đau khổ, những trách nhiệm của cộng đoàn trong hiến lễ để rồi khi mỗi người rước lễ, họ đón nhận Mình Máu Chúa là đón nhận lại của lễ mình dâng lên mà giờ đây đã được thánh hiến. Người tín hữu được lớn lên trong đức tin, trong lòng mến nhờ ân sủng của Thánh Thể Chúa Kitô. “Chính tôi là Bánh trường sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói;ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6,35). “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51). Thánh Thể như thế là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa và con người; là quà tặng Thiên Chúa trao ban cho nhân loại, và chính là lương thực thiêng liêng, bảo đảm hạnh phúc trường cửu của chúng ta. Bởi đó tham dự thánh lễ cách đầy đủ tích cực trọn vẹn với tất cả con người là cách tốt nhất đáp lại tình thương của Chúa, yêu mến Thánh Thể.

ĐHY FX Nguyễn Văn Thuận viết “Con muốn hỏi: ‘Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả?’. Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh nào, không tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên Thánh giá”. (Đường Hy Vọng #349).Bí tích Thánh Thể là ‘nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu’ (GH 11), là trung tâm điểm của Phụng Vụ vì cử hành mầu nhiệm Vượt Qua, ‘mầu nhiệm Chúa Kitô hoàn tất công trình cứu độ chúng ta’ (GLCG 1068).

Tham dự Thánh Lễ cách “trọn vẹn, ý thức và linh động”, và “qua cuộc sống biểu lộ cho người khác thấy mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Hội Thánh chân chính” (PV 2) là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một niềm tin nhạy cảm để biết nhận ra bàn tay quan phòng của Chúa. Xin ban cho chúng con tấm lòng quảng đại, để biết sống chia sẻ, hầu cảm nhận được tình yêu của Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

KHÔN NGOAN TÌM NƯỚC TRỜI – CN XVII TN A

KHÔN NGOAN TÌM NƯỚC TRỜI
Chúa Nhật XVII Thường Niên – A

Vua Salomon nổi tiếng là vị vua khôn ngoan sáng suốt. Ông đã xử những vụ án rất khó khăn một cách khéo léo không khác gì Bao Công. Bà hoàng hậu Saba ở mãi tận phương nam cũng phải đến nghe sự khôn ngoan của ông. Nhưng khôn ngoan nhất là khi được Chúa cho chọn lựa, ông đã không xin được trường thọ hay được giàu sang, mà chỉ xin được ơn khôn ngoan. Lời cầu xin của ông rất đẹp lòng Chúa. Nên Chúa đã khen ngợi và ban cho ông mọi điều mong muốn. Chúa muốn tôi bắt chước vua Salomon, biết xin ơn khôn ngoan và biết khôn ngoan trong những lựa chọn. Nhất là biết khôn ngoan lựa chọn Nước Trời như những người trong bài Tin Mừng hôm nay.

Những người trong bài Tin Mừng hôm nay khôn ngoan vì thao thức đi tìm. Sự thao thức đi tìm được thấy trong thái độ bôn ba đây đó, khảo sát đất đai. Chắc phải đào bới nhiều mới thấy kho tàng chôn giấu trong ruộng. Sự thao thức đi tìm cũng thấy trong việc ra khơi thả lưới. Vất vả chài lưới rồi còn phải lựa chọn. Dù vất vả, họ quyết tìm cho ra Nước Trời.

Họ khôn ngoan vì biết phân định. Đời sống đem đến cho ta đủ mọi loại giá trị thượng vàng hạ cám, như chiếc lưới đánh bắt đủ mọi loại tôm cá. Giữa những giá trị ấy ta phải biết phân định. Lựa chọn những giá trị cao quý, tốt đẹp. Biết chọn lựa cá tốt, vứt bỏ cá xấu. Biết giá trị của viên ngọc dù nó còn đang nằm giữa khối đá sù sì dơ bẩn. Biết giá trị của kho tàng dù nó còn đang bị chôn giấu dưới lòng đất sâu. Biết giá trị của Nước Trời dù Nước Trời chưa tỏ hiện rõ ràng trên thế gian.

Họ khôn ngoan vì dám dấn thân. Khi đã biết được giá trị Nước Trời, họ dấn thân theo đuổi đến cùng. Dấn thân trọn vẹn nên bán tất cả những gì mình có để đổi lấy kho tàng, viên ngọc quý. Dấn thân quyết liệt vì bán hết nhà cửa rồi thì không thể quay về chốn cũ, chỉ còn gắn bó với quê hương mới mà thôi. Dấn thân tuyệt đối, bỏ hết tất cả chỉ vì một viên ngọc. Dấn thân như thế là thái độ của tình yêu, sự say mê, sự khao khát mãnh liệt. Đó chính là thái độ phải có khi đi tìm Nước Trời.

Họ khôn ngoan vì biết từ bỏ. Bán tất cả những gì mình có là một từ bỏ lớn lao. Dứt lìa những gì mình gắn bó còn đau đớn hơn nữa. Bỏ một nơi yên thân chắc chắn để dấn thân vào một tương lai bấp bênh thì thật là phiêu lưu đến tận cùng. Nhưng không có cách nào khác. Phải bán tất cả mới đủ sức mua viên ngọc Nước Trời. Phải đầu tư trọn vẹn con người với tất cả tài năng trí tuệ, sức lực, thời giờ mới mong chiếm đoạt được Nước Trời. Luyến tiếc một chút là bất thành. Chần chừ một chút là hỏng việc. Nấn ná một chút là bị lỡ cơ hội.

Họ từ bỏ một cách nhẹ nhàng thanh thoát. Nên từ bỏ rồi họ cảm thấy vui tươi. Họ từ bỏ một cách mau mắn vì họ đã dứt khoát với những gì xưa cũ. Lòng trí của họ chỉ gắn bó tha thiết với kho tàng mới tìm thấy.

Đó là những thái độ khôn ngoan đáng cho ta noi theo trên con đường đi tìm Nước Trời. Biết thao thức đi tìm. Biết phân định giá trị. Biết mau mắn từ bỏ. Biết hăng hái dấn thân đến cùng.

Lạy Chúa, xin ban cho con ơn khôn ngoan để con biết chọn Chúa là nguồn mạch hạnh phúc.

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Chia sẽ bài viết này trên:

Quyết Định và Nhẫn Nại – CN XVI TN A

Quyết Định và Nhẫn Nại
CN XVI TN A

Truyện kể rằng, có thầy ẩn tu tên là Cébastien, thường đến cầu nguyện tại một nhà nguyện vắng vẻ trên núi. Trong nhà nguyện này dân chúng tôn kính một tượng thánh giá với tước hiệu là “Tượng Chúa ban ơn”.

Thấy dân chúng có lòng tin thường tới cầu xin ơn lành, thầy Cébastien cũng thêm lòng tin cậy. Một hôm, nhân lúc vắng người, thầy đến quỳ gối trước tượng thánh giá và đơn thành khẩn nguyện:

– “Lạy Chúa, con ước ao được chia sẻ đau khổ với Chúa, xin cho con được thế chỗ Chúa trên thập giá”.

Rồi thầy quỳ yên lặng, mắt đăm đăm nhìn lên thánh giá mong được đáp lời. Một lúc sau thầy nghe như từ trên thánh giá có tiếng phán bảo:

– “Được, Ta bằng lòng để con thế chỗ Ta trên thập giá, nhưng với một điều kiện duy nhất là bất cứ điều gì xảy ra, tai con nghe gì, mắt con thấy gì, con đều phải giữ im lặng không được nói năng gì hết”.

Thầy Cébastien đã hứa, và được Chúa Giêsu cho lên thế chỗ Ngài trên thập giá. Ngày qua ngày, dân chúng vẫn đến quỳ trước tượng thánh giá cầu nguyện. Nhưng không ai hay biết về việc thế chỗ đổi ngôi giữa Chúa Giêsu và thầy Cébastien.

Một hôm có người đến quỳ cầu nguyện. Xong, ông đứng dậy ra về bỏ quên lại dưới ghế cái túi đầy những đồng tiền vàng. Thấy vậy, thầy vẫn yên lặng. Một lúc sau có người nghèo đói vào nhà nguyện. Ông ta vui mừng trố mắt nhìn túi tiền tưởng là của Chúa ban cho, rồi xách túi tiền ra đi. Kế đó có chàng thanh niên vào quỳ gối khẩn nguyện xin ơn che chở vì phải xuống tàu đi xa. Chàng thanh niên vừa ra khỏi nhà nguyện thì gặp người phú hộ trở lại tìm túi tiền. Không thấy đâu, ông nghĩ là chàng thanh niên đã lấy trộm, nên điệu chàng đến trình cảnh sát. Không cầm lòng được nữa, từ trên thập giá, thầy Cébastien hô lớn tiếng:

– “Đứng lại!”

Mọi người ngạc nhiên dừng lại, và thầy phân trần sự việc. Sau đó người phú hộ ra đi tìm người nghèo đói để lấy lại túi tiền và chàng thanh niên cũng vội vã ra đi cho kịp chuyến tàu. Khi không còn ai trong nhà nguyện, Chúa Giêsu lên tiếng phán bảo thầy Cébastien:

– Con hãy xuống ngay khỏi thập giá! Con không xứng đáng thế chỗ cho Ta, vì con đã không biết giữ im lặng như lời con hứa.

Thầy Cébastien vội vã phân trần:

– Nhưng lạy Chúa, làm sao con có thể chịu đựng được cảnh bất công đó?

Cũng giống như thầy Cébastien, con người chúng ta thường nhìn thấy cái trước mắt, và không chịu nổi trước hiện tượng xã hội, thiện ác đan xen, người tốt kẻ xấu chung sống khó phân biệt, cỏ dại và lúa tốt mọc lên bên nhau trong ruộng lúa.

ĐGH Phanxicô suy niệm về Dụ ngôn Hạt Lúa và Cỏ Lùng như sau:

Câu chuyện diễn ra trong một cánh đồng với hai nhân vật chính đối nghịch nau. Một bên là người chủ, người đại diện cho Thiên Chúa và gieo hạt giống tốt; bên kia là kẻ thù, đại diện cho Satan và gieo cỏ lùng.

Với thời gian trôi qua, cỏ lùng cũng lớn lên giữa lúa và khi đối diện với sự thật này thì người chủ và các tôi tớ của ông có thái độ khác nhau. Các tôi tớ thì muốn can thiệp vào và nhổ cỏ lùng, nhưng người chủ, một người quan tâm trên hết là việc giữ lại lúa, thì lại bác bỏ và nói: “Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng”. Với hình ảnh này, Chúa Chúa Giêsu nói là việc trong thế giới này sự lành và sự dữ thì quá đan xen vào nhau đến nỗi thật không thể tách và loại trừ hết mọi sự dữ. Chỉ một mình Thiên Chúa mà thôi mới có thể thực hiện điều này, và Ngài sẽ thực hiện trong Dịp Phán Xét Chung. Hoàn cảnh hiện tại, với tất cả sự mập mờ và tính cách hỗn tạp của nó, là cánh đồng của sự tự do, cánh đồng của sự tự do của người Kitô Hữu, mà trong đó việc khó biện phân giữa điều tốt và điều xấu lại diễn ra.

Do đó, trong cánh đồng này, vấn đề là về sự phối hợp, với niềm tín thác lớn lao vào Thiên Chúa và vào Sự Quan Phòng của Ngài, hai thái độ dường như trái khuấy nhau: quyết định và nhẫn nại. Quyết định là muốn là hạt giống tốt  – tất cả chúng ta đều muốn điều này, với tất cả sức mạnh của mình, và do đó, tự tách bản thân chúng ta ra khỏi Ma Quỷ và những cám dỗ của nó. Sự nhẫn nại có nghĩa là yêu thích một Giáo Hội vốn là nắm men trong khối bột, một Giáo Hội không sợ vấy bẩn đôi bàn tay của mình để giặt áo cho con cái mình, hơn là một Giáo Hội của “những người trong sạch”, vốn giả vờ đề phán xét trước thời hạn ai là người không được ở trong Nước Thiên Chúa.

Chúa, Đấng là Sự Khôn Ngoan nhập thể, hôm nay sẽ giúp chúng ta hiểu rằng điều tốt và điều dữ không thể được xác định bằng những lãnh thổ đã xác định hay những nhóm người cụ thể: “Có những người tốt, có những người xấu”. Ngài dạy chúng ta rằng làn ranh giới giữa điều tốt và điều xấu có hết ở trong tâm hồn mỗi người, có ở trong tâm hồn mỗi người chúng ta, đó là, tất cả chúng ta đều là tội nhân. Lòng muốn đến với tôi để họi các bạn: “Hãy để cho người ấy là tội nhân giơ tay lên”. Không ai cả! Vì tất cả chúng ta là, tất cả chúng ta là tội nhân. Đức Giêsu Kitô, qua Cái Chết của Ngài trên Thập Giá và Sự Phục Sinh, đã giải thoát chúng ta khỏi tình trạng nô lệ cho tội lỗi và Ngài ban cho chúng ta ân sủng để bước đi trong một đời sống mới. Tuy nhiên, với Phép Rửa thì Ngài cũng ban cho chúng ta Phép Hoà Giải, vì chúng ta luôn cần được tha thứ tội lỗi của chúng ta. Luôn nhìn vào sự dữ vốn đang ở bên ngoài chúng ta, thì có nghĩa là không muốn nhìn nhận tội lỗi cũng đang ở trong chúng ta.Và rồi Chúa Giêsu cho chúng ta thấy một cách khác khi nhìn vào cánh đồng thế giới, của việc quan sát thực tại. Chúng ta được mời gọi để họ về thời gian của Thiên Chúa – vốn không phải là thời gian của chúng ta – và cũng là “cái nhìn” của Thiên Chúa: nhờ vào sự ảnh hưởng có lợi về một sự đợi chờ lắng lo, điều gì là cỏ lùng hay dường như là cỏ lùng có thể trở thành một sản phẩm tốt. Đó là thực tại về sự hoán cải. Đó là tiềm năng của niềm hy vọng! (Joseph C. Pham, chuyển ngữ từ Zenit).

Thế giới này sẽ tươi đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần chung tay xây dựng! Nhưng thật đáng tiếc, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc hủy hoại, tha hóa, nô lệ hóa con người. Đó là những hạt cỏ xấu do ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt. Lúa tốt và cỏ lùng lẫn lộn trên cùng ruộng lúa. Cái tốt, cái xấu đan xen trong cuộc sống hàng ngày, nhất là trong tâm hồn mỗi người. Ở đó, hạt mầm sự sống và nọc độc sự chết, cùng sống chung. Mỗi con người chắc chắn đều có kinh nghiệm bản thân như Thánh Phaolô đã từng kinh nghiệm “Điều lành tôi muốn làm, tôi lại không làm, còn điều dữ tôi không muốn làm, nhưng tôi lại cứ làm” (Rm 7,19).

Cỏ lùng và lúa tốt nằm ở trong tim con người. Mỗi người đong đưa giữa cỏ lùng và lúa tốt, giữa cái thiện và cái ác, giữa Thiên Thần và Satan.Tự do chọn lựa là quyền mỗi người.Thiên Chúa vẫn chấp nhận cỏ lùng trong con người. Thiên Chúa nhẫn nại đợi chờ con người thanh luyện dần dần và hy vọng mọi sự trong họ sẽ thành lúa tốt.

Cứ để cỏ lùng lớn lên cùng với lúa”. Đây là một cuộc chiến lâu dài với sự dữ. Con người sống giữa ánh sáng và bóng tối, sự dữ và cám dỗ lúc nào cũng có, hiện rõ trước mặt, cuốn hút hấp dẫn. Có người xin Chúa cho nhổ cỏ lùng đi, nhưng Chúa lại bảo, sợ nhổ cả lúa. Điều này nhắc lại sự kiện của ông Gióp, Chúa để cho ma quỷ sàng lọc ông. Như vậy Chúa muốn người theo Chúa cần sống trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức mến. Như lửa thử vàng, người theo Chúa cũng cần thử thách bằng những chước ma quỷ, cám dỗ để lớn lên trong ân sủng.

Giáo Hội tự bản chất là thánh thiện, nhưng lại gồm những con người tội lỗi. Giáo Hội có rất nhiều thánh nhân, nhưng cũng có vô số tội nhân. Những tội nhân vẫn có thể trở thành thánh nhân trong lòng xót thương của Chúa. Thiên Chúa biết cỏ lùng, biết ai đã gieo nó vào ruộng lúa của mình, nhưng Ngài kiên nhẫn đợi chờ. Lòng nhẫn nại của Ngài không những không loại bỏ những tội nhân, mà còn tiếp đón họ: Chúa không đoán xét bất công…nhưng khoan dung và hy vọng.

Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.Nhìn lại thửa ruộng tâm hồn của mình, chúng ta suy gẫm, hạt giống tốt được gieo, nhưng có hạt đã rơi vào bụi gai, có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trên đá sỏi và có số hạt rơi vào đất tốt. Trong khi đó, hạt giống cỏ lùng đã được gieo tràn lan, phát triển nhanh và như muốn chen lấn làm hạt giống tốt khó vươn lên. Không thể nhổ hết cỏ lùng, nhưng chúng ta cần vun xới cho hạt giống Lời Chúa lớn lên và sinh hoa trái. Cần phải gìn giữ đức tin cho đến cùng như lời Thánh Phaolô dạy: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2 Tm 4,7). Sau cuộc lữ hành đức tin, Thánh Phaolô chia sẻ: “Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2 Tm 4,8).

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Giáo Hội Của Chúa Nơi Trần Gian – CN XVI TN A

Giáo Hội Của Chúa Nơi Trần Gian
Chúa Nhật XVI Thường Niên A

Để cứu độ con người, Thiên Chúa đã xuống thế và đi vào đời sống của mỗi người. Ngài thiết lập Giáo Hội của Ngài ngay trên trần gian này. Nơi đó có tôi và có bạn. Từ đó tới nay, con thuyền Giáo Hội luôn gặp biết bao sóng gió, nhưng luôn tiến lên phía trước. Hiện nay Giáo Hội có mặt ở mọi nơi, và cưu mang mọi thành phần dân tộc. Thiên Chúa mong muốn một Giáo Hội thật hiệp nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Tiếc là trong lòng Giáo Hội, không phải toàn người tốt. Có những “cỏ lùng” đang lấn át phá hoại cánh đồng lúa của Giáo Hội.

Tựa đề trên hướng chúng ta đến một dụ ngôn quen thuộc: Dụ ngôn cỏ lùng. Đây cũng là chủ đề chính trong ngày Chúa Nhật 16 hôm nay[1]. Chính Đức Giêsu giải nghĩa dụ ngôn này cho các môn đệ. Dựa trên lời giải nghĩa này, Giáo Hội hiểu hơn về chính mình và chương trình của Thiên Chúa.

 “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người.” (Mt 13,37). Đó chính là một trong những tước hiệu của Đức Giêsu, Con Một của Thiên Chúa. Không chỉ thiết lập Giáo Hội, Ngài còn là đầu và Giáo Hội là thân thể nhiệm mầu của Đức Giêsu. Bởi thế thánh Phaolô cho chúng ta thấy định nghĩa thật đẹp về Giáo Hội: “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Chúa Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Giáo Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.” (Ep 1,22–23). Vì điều này mà Công Đồng Vaticanô II gọi Giáo Hội là bí tích. Con Người Đức Giêsu đã được Cựu Ước loan báo. (x. Đn 8,17). Suốt những năm trên dương thế, Đức Giêsu đã gieo rắc Lời Chúa. Chính Ngài là Ngôi Lời đến với muôn người. Do đó ai tin vào Ngài và Tin Mừng thì được cứu độ (Ga 11,25–26).

Ruộng là thế gian (Mt 13,38). Hẳn nhiên thế gian là nơi con người sinh sống. Thiên hạ đã có từ ngàn xưa nơi Năm châu bốn biển. Đây là mảnh đất được chúc phúc, và con người được Thiên Chúa yêu mến. Ngài yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một. (Ga3,16). Mảnh ruộng trần gian này cũng là Giáo Hội. Là người Công Giáo, chúng ta thuộc về một Giáo Hội mà vị đại diện của Đức Giêsu là Đức Giáo Hoàng.

Đáng lẽ thế gian này tốt đẹp như những ngày ban đầu trong công trình sáng tạo. Tiếc là Ma Quỷ đã quyến rũ con người. Từ đó, trong thế gian có những thế lực xấu xa chia rẽ và lôi kéo con người rời xa Thiên Chúa. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nơi nào cũng có kẻ xấu người tốt. Ai theo con đường gian ác của thế gian, người ấy là cỏ lùng, là con cái Ác Thần (Mt 13,39). Đức Giêsu chỉ mặt đặt tên cho những thành phần gian ác này: Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ.

Ngược lại, Đức Giêsu và Giáo Hội của Chúa ra sức nuôi dưỡng con người bằng lương thực tốt lành. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Đó là dân riêng của Chúa. Tuy sống trong thế gian, nhưng người con của Chúa không thuộc về thế gian. Bởi đó, chúng ta thấy Giáo Hội lúc nào cũng bị chống đối. Ma quỷ không bao giờ ngủ. Nó chăm chỉ gieo rắc điều xấu đến với bất cứ ai, bất cứ nơi đâu và lúc nào. Nhất là trong thời đại hôm nay, dường như ma quỷ và con cái của chúng có mặt ở mọi nơi. Chúng phủ nhận Thiên Chúa và chạy theo danh vọng trần gian.

Trong cuộc chiến này, Giáo Hội đang tìm mọi cách để đồng hành với con cái mình. Hơn nữa, Giáo Hội muốn thánh hóa thế gian và đưa mọi người về một đoàn chiên của Chúa. Đấy là ước mơ, là kế hoạch và mệnh lệnh của Thiên Chúa dành cho Giáo Hội. Để hy vọng đến mùa gặt là ngày tận thế, không ai phải mang thân phận cỏ lùng, người xấu. Tại sao? Đây là điều có thể lý giải tại sao chúng ta tin vào Thiên Chúa: “Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.” (Mt 13,40). Đó là ngày kết thúc của vũ trụ vật chất, ngày Chúa Kitô quang lâm. Mừng cho chúng ta là Đức Giêsu luôn ở với mỗi người, với Giáo Hội cho đến ngày tận thế. (Mt 28,20).

Dĩ nhiên sau một đời tin theo Chúa trong Giáo Hội, người con của Chúa hy vọng được sống hạnh phúc vĩnh hằng. Nếu tôi và bạn có một vé vào Thiên Đàng thì hạnh phúc biết bao! Như thế chúng ta không còn con đường nào khác là chọn nên hạt giống tốt, nên con cái tốt lành của Giáo Hội. Kết thúc Tin Mừng Chúa Nhật 16 hôm nay, Đức Giêsu nhắc đến vinh quang của người công chính. Họ là những người đã đón nhận Lời Chúa và sống chết với Tin Mừng. Sau giờ chết, những người này sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Đây là lời hứa an ủi và động viên mỗi người trong hành trình dương thế.

Nếu để ý, chúng ta thấy giữa dụ ngôn cỏ lùng, lại có thêm hai dụ ngôn ngắn khác: hạt cải và men trong bột. (Mt 13,31–33). Đây là hai năng động của Giáo Hội. Hạt cải tuy nhỏ nhưng đã lớn lên thành cây xum xuê. Giáo Hội cũng thế, mỗi ngày một tăng trưởng. Mệnh lệnh năm xưa của Thầy Giêsu đang được Giáo Hội thực thi: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15).

Nếu cây lớn mà không có sức sống nội tại, thì dễ dàng đổ ngã. Do đó, men trong bột nói lên ảnh hưởng bên trong của Giáo Hội để biến đổi thế giới. Đây là điều tối cần cho các tín hữu. Hào nhoáng chưa bao giờ là tiêu chí để Giáo Hội chạy theo hoặc cổ võ. Ngược lại, tin yêu nơi Chúa Giêsu ở tận chiều sâu. Trong tương quan cá vị riêng tư, người con của Chúa được biến đổi. Khi đó, Giáo Hội mới có sức sống và vươn rộng tầm ảnh hưởng đến với mọi quốc gia, dân tộc, văn hóa và cả những khác biệt.

Để kết thúc, các nhà chú giải cho thấy điều thú vị là cỏ lùng có thể trở nên lúa tốt, và ngược lại. Nếu cải tà quy chánh, người xấu sẽ hoàn lương. Trong khi đó, ma quỷ luôn cám dỗ người tốt từ bỏ con đường lương thiện để theo đường gian ác. Đó là mong manh của phận người: tốt xấu lẫn lộn. Nhiều người đòi giệt trừ cỏ lùng, loại bỏ những ai xấu xa ra khỏi Giáo Hội. Đó cũng là cái nhìn thiện cận. Giáo Hội luôn kiên nhẫn với hết mọi người. Nếu mưa xuống trên người tốt cũng như kẻ xấu, thì ân sủng của Chúa chẳng lẽ lại không đến hết với muôn người sao? Bởi thế, Giáo Hội muốn người con của Chúa:

“Đem thứ tha vào nới lăng nhục.

Đem an hòa vào nơi tranh chấp.

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Để con đem tin kính vào nơi nghi nan.

Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.

Để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm.

Đem niềm vui đến chốn u sầu.”[2]

Lạy Chúa Giêsu, xin ban ân sủng để con sống tốt hơn mỗi ngày. “Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác, thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời.” (Tv 139). Amen

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

[1] Chúa Nhật 16 mùa Tn.Kn 12,13.16-19; Rm 8,26-27; Mt 13,24-43.

[2] Kinh Hòa Bình – của Thánh Phanxicô

Chia sẽ bài viết này trên:

Hạt giống tốt – CN XV TN A

Hạt giống tốt – CN XV TN A

Lớn lên ở thôn quê, đi rao giảng phần lớn thời gian ở thôn quê, Chúa Giêsu đã thường xuyên được chứng kiến cảnh gieo trồng của người nông dân, nên Ngài đã mượn những hình ảnh của những sinh hoạt thôn dã ấy để nói về nước trời, một trong những dụ ngôn đầu tiên của Chúa là dụ ngôn người gieo giống.

Người gieo trồng nào cũng có niềm tin và sự lạc quan. Gieo hạt giống vào lòng đất là đặt tất cả tin tưởng phó thác của mình vào thiên nhiên. Có hạt rơi xuống đất tốt, có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trong bụi gai, nhưng kết quả cuối cùng vẫn là vụ mùa tươi tốt. Nước trời cũng giống như người ra đi gieo giống vậy.

Thái độ lạ đời của người gieo giống khiến chúng ta hiểu được phần nào tình yêu thương phổ quát của Thiên Chúa. Không có người nông dân nào có đầu óc bình thường hiểu biết, lại đi phung phí hạt giống trên mọi mảnh đất, ngay cả những chỗ gai góc hay những mảnh đất sỏi đá, nhưng họ gieo vãi hạt giống của mình trên thửa đất đã được cày bừa cẩn thận để hạt giống có thể mọc lên thật dễ dàng. Ở đây Chúa Giêsu cho chúng ta biết: Ngài muốn cứu rỗi tất cả mọi người, không phân biệt ai, Ngài muốn thông truyền chân lý cho mọi hạng người. Nhưng cũng như các mảnh đất được kể trong Tin Mừng, tiếp nhận hạt giống và sinh hoa kết trái khác nhau, mỗi người cũng có thái độ khác nhau khi đón nhận lời Chúa, tiếp nhận ân sủng của Ngài, họ có quyền tự do chấp nhận hay từ chối. Nếu chấp nhận thì lời Chúa sẽ đem lại cho họ nhiều lợi ích, nếu chối từ thì họ sẽ chẳng được gì. Như vậy, hoa trái tốt lành là tùy ở sự chấp nhận của con người.

Chính mỗi người phải cố gắng làm cho tâm hồn mình thành mảnh đất tốt, phì nhiêu tiếp nhận lời Chúa một cách thành khẩn, để hạt giống có thể phát triển và đơm bông kết trái. Trong các hoạt động hay sinh hoạt hằng ngày, dù công khai hay âm thầm, dù to lớn hay nhỏ bé, kể cả những khó khăn và đau khổ của cuộc sống, tất cả mọi người đều được mời gọi để gieo rắc niềm hy vọng. Trên những mảnh đất khô cằn tình người, chúng ta được Đức Kitô kêu mời trồng tỉa từng hạt giống của yêu thương. Trên những vùng đất khô sạn tin yêu, chúng ta được Đức Kitô kêu mời gieo rắc niềm hy vọng. Từng giây, từng phút, từng ngày, từng năm, chúng ta tin tưởng rằng sức sống sẽ bừng dậy yêu thương sẽ trổ bông.

Người ta kể rằng: Một người cha kia có ba đứa con trai, tuy sinh ra trong nghèo khổ, nhưng nhờ chuyên cần làm việc và tiết kiệm, ông đã trở nên một điền chủ giàu có. Lúc cuối đời, tuổi già sức yếu, ông tính việc chia gia tài cho các con, ông muốn biết đứa con nào thông minh nhất để giao phó phần lớn gia tài của ông cho nó. Ong gọi cả ba người con tới bên giường bệnh, trao cho mỗi đứa năm đồng và bảo hãy đi mua cái gì có thể lấp đầy căn phòng trống trải và u tối của ông.

Ba người con vâng lời cha cầm tiền ra chợ. Người anh cả nghĩ rằng việc này quá dễ dàng, anh mua một bó rơm lớn đem về, người con thứ hai nghĩ kỹ hơn, anh mua những bao lông vịt rất đẹp mắt, người con út lo nghĩ: biết mua gì với năm đồng này để có thể lấp đầy căn phòng lớn của cha? Cuối cùng anh nghĩ ra, anh mua một cây nến và một bao diêm.

Ngày hôm sau, cả ba người con đều tụ họp trong phòng cha già. Người con cả mang rơm ra trải, nhưng phòng quá rộng, chỉ phủ được một góc, người con thứ đổ lông vịt ra, nhưng cũng chỉ phủ được một góc của căn phòng. Người cha tỏ vẻ thất vọng. Người con út từ từ rút trong túi ra một cây nến và một hộp diêm, thoáng một cái căn phòng đầy ánh sáng. Mọi người ngạc nhiên, người cha già rất sung sướng vì quà tặng của người con út, ông quyết định trao phần lớn ruộng đất và gia sản cho anh ta, vì ông thấy anh ta đủ thông minh để quản trị gia sản của mình và nhờ đấy cũng có thể giúp đỡ các người anh nữa.

Cuộc sống mỗi người chúng ta, cuộc sống những người chung quanh chúng ta, cuộc sống của xã hội chúng ta, có lẽ nhiều khi cũng giống như một căn phòng tối, chỉ cần một người nào đó thắp lên một tia sáng nhỏ là những người chung quanh sẽ cảm thấy ấm áp và phấn khởi hơn: một tia sáng nhỏ của cái mỉm cười, một tia sáng nhỏ của lời chào hỏi thăm nom, một tia sáng nhỏ của tình yêu san sẻ, một tia sáng nhỏ của cảm thông, tha thứ, một tia sáng nhỏ của niềm tin giải tỏa qua sự hân hoan chấp nhận cuộc đời.

Chúng ta hãy tạ ơn Chúa đã cho chúng ta nhận được tình yêu của Chúa. Xin cho cả cuộc sống chúng ta trở thành chứng tích của tình yêu Chúa đối với mọi người. Xin cho tất cả những ai gặp gỡ chúng ta đều có thể nhận ra được tình yêu của Chúa.

Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Chia sẽ bài viết này trên:

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Từ thuở hồng hoang, Tin Mừng đã đến: Lời Ngài tạo tác đất trời (Tv 32). Người đi gieo Tin Mừng đầu tiên chính là Thiên Chúa Tạo Thành Vũ Trụ.

Bỗng, một tin buồn bao trùm cả vũ trụ: tin buồn từ bản án đầu tiên trong nhân loại- con người phải đau khổ và phải chết ngàn thu.

Tin buồn ấy, khởi đi từ việc tình thương của Thiên Chúa bị chính tạo-vật-được-ơn-tự-do phủ nhận cách công khai qua việc bất tuân đối với chính Đấng Sinh Thành.

Con người lầm lũi vào cuộc đời đầy bất hạnh. Khi chưa kịp bất hạnh vì sự chết, thì con người đã bất hạnh vì thiếu tình thương và giàu lòng kiêu ngạo hơn người, nảy sinh tính ích kỷ ganh tỵ

Thấy Abêlê được lòng Thiên Chúa, Cain bỗng ganh tỵ đến tột cùng và không ngần ngại giết chết em mình cách thê thảm

Triệu triệu năm trần gian đã qua đi, mà lòng kiêu ngạo của thưở ban đầu vẫn còn nguyên vẹn trong cái bản tính, cái cốt cách, cái văn phong của con người. Người người vẫn đang muốn làm Cain đòi hơn kẻ khác trong mọi việc, người người đang muốn tự phong tặng cho mình vào chỗ nhất mà không cần biết chỗ nhất ấy có đẹp lòng Thiên Chúa hay không, vì họ đã gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài đời sống.

Thật khủng khiếp cho cái hậu quả kiêu căng của tội tổ tông truyền: hận thù, ganh tỵ và mất bình an.

Trước toàn cảnh buồn thảm, bi đát ấy, Thiên Chúa gieo vào trần gian một Hạt Giống Tin Mừng. Hạt giống ấy là Chúa Giêsu Kitô, Người Tuyệt Đối Khiêm Nhường của Thiên Chúa, đến để mang lại cho trần gian niềm vui đích thực: niềm vui của lòng yêu thương, và yêu thương khiêm hạ đến quên mình để người khác được sống và sống bình an.

Hạt Giống Tin Mừng

Tiên tri Isaia đã nói trước về Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa: “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (Is 55, 10-11)

Hạt giống ấy được gieo âm thầm vào trần gian. Hạt giống của trời cao, bị đất thấp từ chối. Hạt giống của tin mừng bình an, bị tin buồn bất an trấn áp. Hạt giống chân lý bị bất công loại trừ. Hạt giống yêu thương bị oán thù tẩy chay ngạo mạn….

Thân phận Chúa Giêsu, thân phận hạt giống của Thiên Chúa, bị trầm đọa như thế, tưởng như là một thất bại ê chề của Thiên Chúa, nhưng không, đó lại là kế hoạch cứu rỗi của Chúa vì Hạt Giống đang “thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, và làm tròn sứ mạng Thiên Chúa ủy thác”: hư thối đi để nẩy mầm.

Chúa Giêsu, Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa, vốn dĩ là hạt giống khiêm nhường tự hạ, đã bằng lòng thối đi trong lòng đất để đâm chồi cây tin mừng và trổ sinh hoa trái bình an. Nhưng, điều quan trọng là lòng đất có bằng lòng đón nhận hạt giống tin mừng ấy không.

Đón nhận Hạt Giống Tin Mừng

Hãy khát khao đón nhận lời Chúa, như Thánh Phaolô nói: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. (Rm 8, 19)

Vì Chúa Giêsu tha thiết ước muốn chúng ta đón nhận Lời Ngài, là chính Ngài, cho Ngài được nẩy mầm và lớn lên trong chúng ta, để chúng ta được hoa trái vui mừng và bình an.

Thế nhưng, vì bản tính kiêu căng, và lòng nặng hướng về tội lỗi, nên thái độ đón nhận Tin Mừng cũng hờ hững như vệ đường, kiêu căng như sỏi đá, mối bận tâm thế gian và lòng ganh tỵ như gai góc um tùm đã làm cho Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa không thể mọc lên được. Chỉ có tâm hồn thành tâm khiêm nhượng mới là mảnh đất tốt cho Lời Chúa mọc lên và sinh hoa kết quả.

Như Chúa Giêsu giải thích: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận, nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 19-23)

Đáng tiếc thay cho tâm hồn còn đầy gai góc của lòng ganh tỵ, còn đầy sỏi đá của lòng kiêu căng, còn mãi dững dưng với ơn lộc Thiên Chúa, còn giữ nguyên căn cội của tội nguyên tổ đã bóp chết Hạt Giống Tin Mừng.

Hãy để cho lòng mến ngập tràn tâm hồn ta, lòng mến đơn sơ khiêm nhượng, lòng mến thật thà dũng cảm, lòng mến biết nhẫn nhịn thứ tha, lòng mến lịch sự tôn trọng nhau trong điều thiện hảo đẹp lòng Chúa, lòng mến biết khích lệ nhau ca tụng Chúa…. Lòng mến khiêm nhượng hãy tràn ắp tâm hồn, để Hạt Giống Lời Chúa nẩy mầm, sinh hoa kết quả.

Người đi gieo Hạt Giống Tin Mừng hôm nay.

Đã đến lúc mà mỗi tín hữu cần ý thức vai trò đi gieo trong cuộc sống đức tin của mình. Không chỉ là việc của các linh mục, tu sĩ, mà còn là việc khẩn thiết của giáo dân, những con người lăn lộn trong ruộng đời của Thiên Chúa. Họ không chỉ nghe Lời Chúa, mà còn phải đem ra thực hành, và cuộc sống đầy hoa trái bình an của họ, biến họ trở thành người đi gieo bình an Nước Chúa.

Vì thế, người đi gieo tin mừng phải là người sống Tin Mừng trước tiên. Chính cuộc sống Tin Mừng là lời giảng hùng hồn nhất, có sức biến đổi thế giới nầy thành một thế giới tràn ngập niềm vui.

Bởi vậy, thiết tưởng cũng nên đặt lại vấn đề rao giảng Lời Chúa mà mình đã sống, hơn là rao giảng Lời Chúa mà mình đã học, vì không có gì đáng trách cho bằng việc “nói một đường, làm một nẻo”!

Ước mong cho bạn, cho tôi, cho người đi gieo tin mừng hôm nay mặc lấy tấm lòng của người đi gieo tin mừng đầy khiêm nhượng, để Lời Chúa biến đổi cuộc đời nên lời chứng cho niềm vui và bình an nước Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho lòng con khiêm nhượng đón nhận Lời Ngài là ánh sáng, là sức sống là niềm vui bình an cho chúng con, để cuộc sống mỗi chúng con trở thành lời chứng hùng hồn cho niềm vui và bình an của Nước Thiên Chúa. Amen.

Suy niệm của PM. Cao Huy Hoàng

Chia sẽ bài viết này trên:

Theo Gương Thánh Phêrô Và Phao-Lô Tông Đồ

Theo Gương Thánh Phêrô & Phaolô Tông Đồ

Lễ Kính Thánh Phêrô và Thánh Phaolô

Thiên Chúa là một mầu nhiệm, mà việc Ngài làm cũng là một mầu nhiệm con người không tài nào hiểu 29/6

Thiên Chúa là một mầu nhiệm, mà việc Ngài làm cũng là một mầu nhiệm con người không tài nào hiểu nổi. Thánh Phaolô gọi sự khôn ngoan của Thiên Chúa là “sự khôn ngoan mà không một thủ lãnh nào của thế gian này đã biết” (1 Cor 2:8). Việc Thiên Chúa chọn một ngư phủ thất học và bồng bột làm thủ lãnh Hội Thánh, và một người bắt đạo cuồng tín để truyền giáo là một việc điên rồ trước mặt thế gian, “vì thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận ra Thiên Chúa trong sự khôn ngoan của Ngài, nên Ngài đã có ý dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu những người tin” (1 Cor 1:21). Chúng ta chỉ có thể hiểu được Thiên Chúa nhờ ân sủng và qua cặp mắt Đức Tin. Tin rằng Ngài làm được tất cả mọi sự. Tin sắt đá như hai Thánh Phêrô và Phaolô.

  1. Thánh Phêrô và Thánh Phaolô

Thánh Phêrô và Thánh Phaolô là hai người hoàn toàn khác nhau được Đức Kitô gọi trong hai hoàn cảnh cũng hoàn toàn trái ngược nhau để cùng rao giảng cùng một Tin Mừng tình yêu và cứu độ.

Thánh Phêrô có tên là Simon trước khi gặp Đức Kitô. Người đã đồi tên ngài thành Kêpha (Phêrô). Ngài là một ngư phủ sinh trưởng tại Galilêa, đã có gia đình. Chúa Giêsu đã gọi ngài để biến ngài từ “người đánh cá” thành “đánh cá người”. Tính tình ngài năng động, nông nổi, hay nói thẳng, đầy tự tin và nhiệt huyết, nhưng cũng nhát đảm. Vì nói thẳng và hay nói nên dễ lỡ lời đến nỗi bị Chúa gọi là “Satan” (x. Mt 16:23 ). Vì đầy tự tin và nhiệt huyết nên đã thề là không bao giờ bỏ Chúa (x. Mt 26:33-35; Mc 14:31). Nhưng sau đó vì nhát đảm nên đã chối Chúa ba lần (x. Mt 26:69-75; Mc 14:66-72; Lc 22:54-62; Ga 18:15-27). Ngài là một người theo đạo Do Thái theo truyền thống, đơn sơ, không được học hành sâu sắc. Tuy sống chung với nhiều người Hy Lạp ở Galilêa, nhưng có lẽ ngài không rành tiếng Hy Lạp lắm, nên khi đi rao giảng ngài cần Thánh Marcô làm thông dịch cho ngài.

Thánh Phaolô trước khi trở lại có tên là Saulô. Quê quán ở Tarsô, Cilicia, là con của một người Do Thái lưu vong. Ngài là một người có học thức, thông thạo cả tiếng Hy Lạp lẫn tiếng Do Thái và tiếng Aram, hiểu biết cả thần học của Do Thái lẫn triết học Hy Lạp. Vì con một gia đình thế giá, là công dân Rôma, nên ngài cũng được thừa hưởng quyền công dân ngay từ nhỏ, nhưng cũng là một Biệt Phái. Được cha mẹ gửi về Giêrusalem để học về Lề Luật theo Thầy Gamêliên. Vì lòng nhiệt thành với Đạo Do Thái, ngài đã bắt bớ những người theo Chúa Giêsu thành Nazareth (Tđcv 8:3-9:2). Nhưng trên đường đi Đamascô để tróc nã các tín hữu, Chúa đã quật ngã ngài và hỏi ngài: “Saulô, Sao người bắt bớ Ta?” (Tđcv 9:4). Khi đó ngài đã nhận ra rằng Đức Kitô vẫn còn sống và thật sự là Đức Kitô. Chính Người đã cho Thánh Phaolô hiểu rằng Người và Hội Thánh là một. Từ sự hiểu biết ấy, Thánh Phaolô gọi Hội Thánh là Nhiệm Thể của Đức Kitô. Sau khi trở lại và chịu phép Rửa, Thánh Phaolô đã hết lòng phục vụ Chúa và Hội Thánh bằng chính nhiệt huyết sẵn có của mình.

Cách hai vị được mời gọi làm tông đồ nhưng nhiệm vụ của hai vị khác nhau. Thánh Phêrô được gọi ngay từ những ngày đầu cuộc đời công khai của Chúa. Thánh Phaolô được gọi sau khi Chúa đã về trời. Thánh Phêrô là một trong những tông đồ được gọi trước hết và được Chúa đặc biệt trao phó nhiệm vụ hướng dẫn Hội Thánh (x. Mt 6:19; Ga 21: 15 -17) cùng nâng đỡ các tông đồ khác (x. Lc 22:32 ). Thánh Phaolô được gọi sau cùng và được trao nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại. Việc Chúa chọn hai Thánh Phêrô và Phaolô cho thấy chương trình mầu nhiệm và quyền năng vô biên của Thiên Chúa trong việc biến đổi những người tầm thường nhất hoặc cứng đầu nhất thành những tông đồ nhiệt thành của Ngài nếu họ biết hợp tác với ân sủng của Ngài.

  1. Các Ngài giống nhau ở điểm gì?

    a) Tâm hồn khiêm nhường biết hoán cải. – Cả hai vị đều là những người yếu đuối và tội lỗi biết khiêm nhường hoán cải. Thánh Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng sau đó hết lòng ăn năn và trung thành với Người cho đến chết. Thánh Phaolô cố tình tiêu diệt Hội Thánh ngay từ lúc phôi thai, nhưng sau đó đã đem cả cuộc đời ra để làm cho Hội Thánh được lan rộng khắp nơi, mà không sợ đói khát, nguy hiểm, tù đầy, kể cả cái chết.b) Niềm tin chắc chắn rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa. – Trong khi những người Do Thái đồng thời với các ngài đang mong chờ một Đấng Kitô [theo kiểu thế tục] đến để giải phóng họ khỏi ách nô lệ ngoại bang, hai Thánh nhân đã nhận ra Chúa Giêsu chính là Đức Kitô. Thánh Phêrô là người đầu tiên đã tuyên xưng Chúa Giêsu: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16:16 ). Còn Thánh Phaolô thường gọi Chúa Giêsu là “Chúa” hoặc là “Đức Kitô”. Trong các thư của ngài, ngài đã gọi Chúa Giêsu là “Con Thiên Chúa” (x. 1 Thes 1:10; Rom 5:10; 8:3; 2 Cor 1:19 ).

    c) Lòng yêu Chúa và Hội Thánh thiết tha và làm tất cả vì Chúa. – Một khi đã trở lại, hai vị đã hoàn toàn quên mình và hiến trọn đời cho Chúa. Cả cuộc đời còn lại của Thánh Phaolô được Ngài tóm tắt vào câu: “tôi sống, nhưng không còn là tôi, nhưng là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gal 2:20 ). Ngài khuyên chúng ta: “dù anh em ăn, uống, hoặc làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh danh Thiên Chúa” (1 Cor 10:31 ). Còn Thánh Phêrô thì nhắc nhở chúng ta: “Hãy tôn thờ Ðức Kitô là Chúa trong lòng anh em, và luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ người nào hỏi anh em về lý do của niềm hy vọng nơi anh em” (1 Phr 3:15), và “vì chính Ðức Kitô đã chịu đau khổ trong thân xác, nên anh em cũng hãy tự trang bị bằng cùng một tâm tưởng ấy, vì ai chịu đau khổ về thể xác thì ngừng phạm tội, để thời gian còn lại trong thân xác, người ấy không còn sống theo những tình dục con người, nhưng theo thánh ý của Thiên Chúa” (1 Phr 4:1-2). Cả hai vị đã làm gương trước bằng cách hy sinh chính mạng sống cho Chúa và Hội Thánh

    d) Khiêm nhường, ý thức được giới hạn của mình và phó thác cho Chúa. – Mặc dù cả hai vị được Chúa ban cho nhiều quyền năng, kể cả quyền làm cho người chết sống lại, nhưng hai vị rất khiêm nhường. Đọc Tông Đồ Công vụ cũng như hai thư của Thánh Phêrô chúng ta không bao giờ thấy ngài tỏ ra hãnh diện vì quyền năng Thiên Chúa ban cho ngài. Khi chết ngài xin được đóng đinh ngược vì thấy mình không xứng đáng được đóng đinh như Chúa Giêsu. Còn Thánh Phaolô thì nhận mình trước kia là “một tên phạm thượng, khủng bố và ngạo mạn.” Ngài nhận mình là “một đứa bé sinh non, là người bé nhỏ nhất trong số các Tông Đồ, không đáng được gọi là Tông Đồ” (x. 1 Cor 15:8-9). Vì thế mà Thánh Phêrô khuyên chúng ta: “Tất cả anh em hãy mặc lấy đức khiêm nhường trong cách đối xử với nhau, vì ‘Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường.’” (1 Phr 5:5) và “anh em hãy hạ mình dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Ngài nâng anh em lên trong giờ đã định. Hãy trút hết mọi âu lo cho Ngài, vì Ngài chăm lo cho anh em” (1 Phr 5:6). Còn Thánh Phaolô thì nói: “Nếu tôi phải khoe khoang, thì tôi sẽ khoe về những gì liên quan đến sự yếu đuối của tôi” (2 Cor 11:30), đồng thời ngài khuyên chúng ta: “Vì nhờ ân sủng đã được ban cho tôi, tôi xin từng người trong anh em, đừng nghĩ tốt về mình quá mức, nhưng hãy nghĩ về mình cách khiêm nhường, mỗi người tuỳ theo mức độ đức tin mà Thiên Chúa đã ban phát cho” (Rom 12:3).

    e) Không ghen tương, ganh tị, nhưng tận tình giúp đỡ nhau. – Tuy có nhiều kiến thức hơn Thánh Phêrô, nhưng Thánh Phaolô đã đến ở với Thánh Phêrô 15 ngày để học cùng Thánh Phêrô những gì ngài đã học từ Đức Kitô (Gal 1:18). Để chắc ăn, Thánh Phaolô lại lên Giêrusalem một lần nữa với mục đích trình bày Tin Mừng mà ngài rao giảng giữa các Dân Ngoại riêng với các vị đáng kính, “vì sợ rằng bằng cách nào đó tôi đã xuôi ngược, và đã xuôi ngược vô ích” (Gal 2:1-2). Ngài khuyên bảo chúng ta: “Ðừng làm gì vì ganh tị hay hư danh, nhưng trong tinh thần khiêm nhường, mỗi người hãy coi người khác là hơn mình” (Phil 2:3). Còn Thánh Phêrô đã bị Thánh Phaolô chỉ trích một lần cách công khai trước mặt mọi người, nhưng ngài đã không bào chữa (x. Gal 2:11 -14). Sau này chúng ta thấy chính Thánh Phaolô cũng làm nhiều điều để tránh mất lòng người Do Thái, như cắt bì cho Timôthê (Tđcv 16:1-3)…. Dù bị chỉ trích như thế, nhưng hai Thánh nhân vẫn tương đắc với nhau như Thánh Phaolô diễn tả trong Galatê 2:9-10. Thánh Phêrô cùng thánh Giacôbê và Gioan đã đưa tay phải cho Thánh Phaolô để tỏ dâu hiệp thông. Còn Thánh Phaolô thì đi đâu cũng lo quyên góp để giúp đỡ cộng đoàn Kitô hữu ở Giêrusalem.

    f) Giảng dạy bằng gương sáng chứ không chỉ bằng lời nói. – Thánh Phaolô bảo chúng ta hãy bắt chước Ngài: “tôi xin anh em, hãy bắt chước tôi” (1 Cor 4:16 ; Phil 3:17 ) như Ngài “theo gương Đức Kitô” (1 Cor 11:1). Còn Thánh Phêrô thì khuyên các mục tử: “Ðừng thi thố quyền hành trên phần gia tài đã được trao cho anh em, nhưng hãy trở nên gương lành cho đàn chiên” (1 Phr 5:3).

    g) Can đảm đương đầu với thế gian và quyền lực. – Thánh Phêrô đã can đảm đứng trước Công Nghị mà tuyên bố rằng: “Các ông hãy xét xem có phải là điều đúng trước mặt Thiên Chúa không khi nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa? vì chúng tôi không thể không nói ra những gì chúng tôi đã nghe, và đã thấy.” (Tđcv 4:19-20). Còn Thánh Phaolô cũng “chịu đựng trong gian khổ, cùng quẫn, lo âu, đòn đánh, tù ngục, xáo trộn, lao nhọc, mất ngủ, đói khát” (x. 2 Cor 6:4-5), nhưng nhất định không nhượng bộ và giữ vững đức tin cho đến cùng (2 Tim 4:7).

  1. Các ngài dạy chúng ta điều gì?

Qua cuộc đời các ngài, Thánh Phêrô và Phaolô đã dạy chúng ta rất nhiều điều. Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chúng ta theo gương các ngài thực hành được hai điều chính thôi thì chắc các ngài cũng vô cùng vui sướng trên trời.

a) Làm mọi sự vì vinh danh Chúa. – Ngày nay sở dĩ chúng ta có nhiều chia rẽ trong Hội Thánh, trong các cộng đoàn, các giáo xứ vì nhiều người trong chúng ta đang làm việc vì tư lợi và hư danh. Nếu chúng theo gương hai Thánh Tông Đồ, quên mình và làm tất cả mọi sự để Thiên Chúa được vinh danh thì chắc chắn chúng ta sẽ thắng vượt được mọi khó khăn và sẽ dễ lôi kéo nhiều người khác về với Chúa. Muốn như thế, chúng ta phải “không còn sống theo những tình dục con người, nhưng theo thánh ý của Thiên Chúa” (1 Phr 4:2). “Nếu có ai chịu khổ như một Kitô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì danh hiệu đó” (1 Phr 4:16 ).

b) Can đảm đứng lên bảo vệ và rao truyền chân lý. – Giống như thời đại các ngài, con người thời nay cũng đang thờ ngẫu tượng là tiền tài, danh vọng và những thú vui xác thịt. Họ đang “theo những dục vọng của lòng họ, theo những điều ô uế, để họ cùng nhau làm nhục thân thể của họ. Họ đã đổi chân lý của Thiên Chúa để lấy sự giả trá. Họ đã tôn kính và thờ phượng những loài thụ tạo, thay vì Ðấng Tạo Hoá” (Rom 1:24 -25). Họ cũng “theo dục tình đồi bại. Phụ nữ của họ đã đổi những liên hệ tự nhiên lấy những liên hệ trái tự nhiên. Ðàn ông cũng thế, bỏ liên hệ tự nhiên với phụ nữ để nôn nao thèm muốn lẫn nhau. Ðàn ông làm việc tồi bại với đàn ông” (Rom 1:26 -27). Họ đang tìm cách đạp đổ gia đình là nền tảng của xã hội bằng cách gán cho nó một định nghĩa mới. Họ đang nhân danh “quyền chọn lựa của phụ nữ” để giết hại hàng triêu trẻ em trong lòng mẹ mỗi năm. Không những thế họ còn muốn dạy những điều này cho trẻ em, và thay đổi luật pháp để biến những điều này thành những quyền căn bản ngõ hầu khoá miệng những ai muốn vạch rõ chân lý cho họ. Là Kitô hữu chúng ta có nhiệm vụ chống lại “nền văn hoá sự chết này” dù phải chịu mọi thiệt thòi hay phải chết như các ngài đi nữa.

Kết luận.

Để kết thúc tôi xin mượn chính lời của Thánh Phêrô: “Anh em hãy tiết độ và tỉnh thức, vì kẻ thù của anh em là ma quỷ, như một con sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi để cắn xé. Anh em hãy chống lại nó, hãy đứng vững trong đức tin, vì biết rằng các anh em của mình đang sống trên trần gian đều phải trải qua cùng những thống khổ như thế. Thiên Chúa của mọi ân sủng, là Ðấng đã mời gọi anh em vào vinh quang vĩnh cửu của Ngài trong Ðức Kitô, sẽ làm cho anh em được nên hoàn hảo, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cố sau khi anh em đã chịu đau khổ một thời gian ngắn. Nguyện chúc Người vinh quang và uy quyền đến muôn muôn đời. Amen” (1 Phr 5:8-11).

Phaolô Phạm Xuân Khôi

Chia sẽ bài viết này trên:

Khi cho Đi Là Lúc Nhận Lãnh – Chúa Nhật 13 TN A

Khi cho Đi Là Lúc Nhận Lãnh
Chúa Nhật 13 TN A

1. Một trong những thói quen tốt lành mà nhiều Họ Đạo tại Việt Nam còn giữ được, trong khi hầu hết Giáo Xứ Âu Mỹ không còn. Đó là bổn đạo đi nhà thờ sớm một chút trước Thánh Lễ, cùng nhau đọc kinh Ngày Chúa Nhật hôm nay, chúng con hợp nhau, kính lạy thờ phượng Chúa… Phần đầu là để khong khen cảm tạ Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban xưa nay … và phần sau lập lại những giáo lý căn bản mà Chúa Giêsu răn dạy khi còn tại thế và đã được chi lại trong Thánh Kinh. Trong đó có kinh thương người có 14 mối, thì thương xác bảy mối đi trước theo câu tục ngữ “có thực mới vực được đạo”: thứ nhất cho kẻ đói ăn, thứ hai cho kẻ khát uống … thứ năm cho khách đổ nhà…

2. Ăn ở mặc là ba nhu cầu căn bản của con người. Bà Sunem đã hiểu và thực hành. Chính lòng tốt của Bà trong Sách II vua: 4-8, 14-16 luôn sẳn sàng và đã vui lòng cung cấp nơi ăn chốn ở cho tiên tri Elisê và tiểu đồng Giêkhadi. Bà không muốn, như đa số người đời xưa nay “lấy con tép nhử (dụ) con tôm” là nhờ cậy môi giới của Tiên Tri tới những chổ chống lưng quyền lực như Đức Vua hay tướng chỉ uy quân đội. Nên Bà được phần thưởng cao qúi, qua lời chúc phúc từ Người của Thiên Chúa, là bồng con trai năm sau dù ông chồng đã già.

3. Đây là món quà to lớn nhất để hóa giải dư luận chua cay độc địa của người đời muôn thuở: “cây khô không lộc, gái độc không con”. Bà Sunem là mẩu gương về lòng rộng rải với những người của Chúa và được đáp đền vượt quá lòng mong ước trong một đời người, như lần kia Chúa nói: Cây tốt, kết quả sinh trái tốt (Mt. 7:17a).

4. Qua tới Thư gởi tín tín hữu Roma 6:3-4, 8-11 Thánh Phaolô nhắc lại cho mọi người ý nghĩa của Bí tích Rửa Tội, gốc Hy lạp là Baptizein: submerge: dìm xuống. Cũng cùng một thể thức như Phép rửa giúp thống hối của Thánh Gioan Tẩy Giả, thời Giáo Hội sơ khai dự tòng được nhấn chìm dưới mặt nước, coi cùng đã chết cùng với cái chết của Chúa Kitô, cho tội lỗi quá khứ. Rồi khi nhô lên khỏi nước là phục sinh cùng Đức Kitô trong đời sống mới. Để làm gì?

5. Xin thưa, qui chiếu về tiêu điểm Đức Kitô trong Mt. 10:37-42, là để can đảm chấp nhận Chúa làm số 1 trong những nấc thang giá trị của đời mình. Vậy thì Điều răn thứ 4, Chúa ra lệnh phải thảo kính cha mẹ để được sống lâu trong Sách Xuất Hành 20:12 là số mấy? Cũng xin thưa, Chúa dựng nên tổ tiên ông bà cha mẹ. Qúi Ngài đại diện Chúa chăm sóc mình. Chúa ở trong các Ngài. Chúa là Đấng hoàn toàn sung mãn, đầy đủ không cần hay không tranh dành địa vị nầy nọ như loài người. Nhưng lời Chúa nói ra vì lợi ích chung, tùy căn cơ trình độ hoàn cảnh của từng người.

6. Chúa đặt ra vấn đề bên trên, là vì trong cuộc sống đời thường, bên ngoài và ngay cả bên trong nội bộ gia đình ruột thịt, riêng thời buổi nầy, không phải là không có thành phần ngược dòng Lời Chúa dạy, do thói đời đen bạc ham mê danh lợi thú và quyền lợi thế gian. Lúc đó xin giúp cho con lựa Chúa hơn lựa tình người là như vậy. Trong trường họp nầy, cũng xin giúp con can đản vác thập giá bằng chì, dù hình dáng nhỏ xíu ít ai trông thấy. Đó là chưa kể muôn nghìn thánh giá là khó khăn, bất tiện, không vừa ý nhỏ lớn hàng ngày, mà không mấy ai không gặp phải. Nên cũng hãy vui lòng ít nhiều vác lấy để thăng tiến đời mình về thể lý, đặc biệt là tu luyện tinh thần.

7. Trong những dòng cuối bài Tin Mừng Chúa Nhật 13 A nầy Chúa Giêsu dùng từ “ngôn sứ” và “người công chính” để nói về các Tông đồ và cả những người hầu việc Chúa mãi sau nầy nữa, cũng được coi là ngang hàng với ngôn sứ và người công chính trong Thánh Kinh. Vì thế, tiếp đón các vị coi như là tiếp đón Chúa Giêsu, cũng là đón chính Cha, Đấng đã sai Ngài. Và phần thưởng cho việc đón tiếp cũng liên kết vào các chức vụ tiên tri hay người công chính.

8. Kết thúc đoạn Phúc Âm, Chúa chỉ cho một việc dễ ợt không mất tiền mua, mà ai cũng có thể làm được, là cho một kẻ bé mọn một chén nước lã, vì người ấy là môn đệ thì người cho cũng không mất phần thưởng. Từ ngữ “bé mọn” hay người nghèo, bần nhân, tôi tớ dùng để chỉ về Tiên Tri hay Ngôn Sứ mà Ki tô hữu nào cũng được thông phần vào chức vị cao qúi đó.

9. Trong thực tế, thực hành mấy điều bên trên khó lắm Chúa ơi! Một người bạn gốc Khmer của con mới đây về xứ Trà Vinh cho biết, người ta trong và nhất là ngoài nước, chỉ muốn giúp những vị tu hành đủ thứ để được phước, mà không xu nào cho người nghèo chung quanh cơ sở thờ tự, vì cho rằng kẻ nghèo thiếu phước thì giúp để làm gì hay được gì. Con chỉ muốn cho mượn gạo sau khi đã coi họ có bồ lúa hay không. Con cũng chỉ muốn giúp đỡ những Bill Gates là hạng người không cần ai giúp gì.

10. Nhìn ra thêm vài lối khác, lại có vị tu hành tự ý gom (đồng đô) gió thành bão nên đụng tới sở Thuế. Khi bị moi ra thì bốn phương thiên hạ mới lại hay, như tại San Jose, CA. Hoa Kỳ vài năm trước mà trên Google News cũng có. Điều nầy làm cho những vị Lảnh Đạo tinh thần cao cấp địa phương và đó đây dè chừng với dân Việt mình.

11. Vài năm trước đây, Đức Giám Mục Bắc Ninh có đến giáo xứ của mình dâng lễ. Trong bài chia xẻ lời Chúa, Ngài thuật lại câu chuyện thuộc nhà Chùa rằng:
Lần kia, một nữ tín đồ hỏi vị Cao Tăng:
– Tại sao cả đời con gặp tai hoạ đủ thứ như vậy, riêng bệnh nhức đầu kinh niên?
Vị Cao Tăng ngộ đạo, có thể trông mặt mà bắt hình dong, hỏi lại:
– Con có làm gì ích lợi cho ai chưa?
Bà nầy liền đáp:
– Từ nhỏ tới nay, con chưa làm cho ai một cái gì.
Vị Cao tăng mở cái tráp ra, lấy một muỗng dừa, trao cho bà:
– Con xuống bờ sông, múc cho Ta miếng nước.
Sau việc làm dễ dàng nhẹ nhàng đó, nữ thí chủ khỏi bệnh nhức đầu nhiều năm mà bà không biết tại sao.

12. Câu chuyện khác, giúp hiểu thêm lời Chúa từ trên cho xuống:

Tế công Đại Pháp Sư, Tế Ðiên Hòa Thượng hay Tế Điên Hoạt Phật 1140- 1209, tên thật Lý Tu Duyên là một nhân vật có thật và cũng là nhân vật trong tác phẩm văn học dân gian Trung Quốc. Kể lại sự tích, lần kia Hoà Thượng bị bắt vì phản đối quan Tể Tướng cướp gỗ xây chùa để làm Cung Lạc Lầu. Trong phiên xử do Tể Tướng chủ toạ, Ngài Tế Điên khẳng khái chỉ vào mặt tể tướng:
– Đáng lẽ làm lớn, là trung tâm của mọi phúc lợi, phải làm như máng xối chuyển những phúc lợi đó xuống cho dân chúng, chớ lẽ nào gom góp cho mình và phe nhóm đặc quyền.

13. Nguyễn Thị Thanh Dương 2014/12/13 http://hoangdieuucchau.blogspot.com/2014/12/truyen-cam-ong-baby-sit-nguyen-thi.html có ghi câu chuyện Nghề Baby Sit. Nữ nhân vật chính trong truyện, không thấy nói là đạo nào, nhưng đã hiểu và thực hành bài phúc âm hôm nay 90% theo căn cơ và trình độ. Xin tóm gọn.

Cô giữ trẻ không cha từ lúc còn trong bụng mẹ. Năm 12 tuổi thì mẹ mất. Được chủ hãng nước mắm ở bến Chương Dương nuôi và cho theo chuyến chính thức vượt biên 1980, sang Hoa Kỳ. Vì cô vô sinh nên cho chồng đầu tự do có vợ khác. Gặp chồng sau, ông chết bệnh tim đột ngột, để lại món nợ tín dụng. Cô đi làm nghề giữ trẻ trong tâm tình thèm khát một mái gia đình với trẻ thơ để săn sóc và yêu thương chúng.

Nhà rộng 4000 sf (khoảng 371 m2), sân trước vườn sau có người chăm sóc cây cảnh của ông bà chủ nhà hàng bận rộn không có giờ ngó ngàn tới thứ gì khác ngoài việc buôn bán và thu tiền và ngủ khi về tới nhà. Cô chăm sóc 3 đứa trẻ ranh quậy phá, thành tử tế, ngoan ngoãn. Coi như cô làm chủ căn nhà và đàn trẻ. Có giờ nghe nhạc, ngắn cây cảnh, đọc sách, xem phim. Bên dưới xin trích nguyên văn:

” Một hôm cô An (chủ nhà) mang về một tờ báo xuất bản ở Việt Nam , do người Bạn Cô mới đi chơi Việt Nam và mang về . Cô An chỉ cho tôi bài viết về một bà người Việt sống ở Mỹ có lòng từ tâm , hàng tháng gởi cả ngàn đô về Việt Nam để giúp các trẻ em nghèo .
Cô An chặc lưỡi :
– Làm điều thiện mà dấu tên , ngu thật . Người ta đâu biết mình là ai , thì hãnh diện với ai đây ?
Rồi Cô so sánh , nửa đùa nửa thật :
– Chắc Bà Này giàu lắm mới chi ra như thế . Mà có giàu hơn tôi được không ?

Còn tôi, lương tháng 1200 đồng , không kiếm thêm được đồng nào như Vợ Chồng cô chủ . Nhưng nếu so sánh giữa tôi và họ ai giàu hơn ? Thì … tôi chứ ai ! Vì tôi còn có tiền phân phát cho người khác . Và ai sướng hơn ? Thì … cũng tôi chứ ai ! vì tôi có niềm vui khi đã mang lại niềm vui cho người khác …

14. Để kết thúc, xin ghi lại câu chuyện có thật trong lịch sử Y khoa Hoa Kỳ.
Ngày kia, cậu bé bỏ báo cho một căn nhà, móc ra chỉ 2 xu hỏi mua 1 ly sữa, thì một cô gái trong nhà bước ra, trao cho cậu một ly và nói:

– Ly sữa free, không trả tiền. Mẹ tôi dạy không nhận gì khi làm việc tốt.

Cậu rời căn nhà trên. Lòng tốt của con người giúp cậu bé nghèo thêm nghị lực sau nhiều lần có ý bỏ học.

Nhiều năm sau, cô gái trên mắc bệnh hiểm nghèo. Cô phải đến thành phố lớn tìm thầy chuyên môn chữa trị. Bác sĩ Howard Kelly (February 20, 1858 – January 12, 1943) nhận ra cô thân chủ và hết lòng chữa cho cô. Ông dặn phòng tài chính trao hoá đơn cho ông xem trước khi chuyển cho bệnh nhân. Cuối cùng, cô cũng được hoá đơn và để ý đến hàng chữ bên lề: “Đã thanh toán đầy đủ bằng một ly sữa!”. Ký tên: Bác sĩ Howard Kelly.
Mắt cô đẫm lệ vui mừng, không thể ngờ việc làm quá nhỏ năm xưa, đưa tới kết quả vô cùng lớn lao sau nầy.

Cậu bé ngày xưa được tặng một ly sữa khi đói, đã trở thành Tiến Sĩ y khoa Howard Kelly, một bác sĩ lỗi lạc tài ba. Năm 1895, ông là người sáng lập Johns Hopkins Division of Gynecologic Oncology (Phân khoa Ung Thư Phụ Sản) tại Đại Học Johns Hopkins, Đại Học đầu tiên của Hoa Kỳ, nghiên cứu y khoa năm 1876 tại Baltimore, Maryland.

Ông bà cha mẹ chúng con thường dặn dò con cháu và cũng riêng cho mọi người hôm nay nữa: thi ân bất cầu báo. Nhưng Chúa công bằng rộng lượng, tính kỷ, nhớ dai hơn máy vi tính thượng hạng rằng: cho ai 1 chén nước, cũng không mất phần thưởng. Chúa khích lệ chúng con biết chia xẻ cho nhau mà tránh trường hợp như dụ ngôn nhà trọc phú đối với Lagiarô nghèo khó bên dưới bàn ăn (Luca 16:19-31).

15. Cuối cùng, xin cho con cùng hát, suy tư và thực hành vài ba điều nào đó trong tầm tay, mà kinh Hoà bình của Thánh Phaxicô Assisi đã dạy:

“Lạy Chúa từ nhân. Xin cho con biết mến yêu và phụng sự chúa trong mọi người.

Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu. Lạy Chúa xin hãy dạy con: Tìm an ủi người hơn được người ủi an. Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết. Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

[Ôi Thần Linh thánh ái, Xin mở rộng lòng con. Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí Ơn an bình.” ]

vô hạ

Chia sẽ bài viết này trên:

Tất Cả Cho Một Tình Yêu – CN XIII TN A

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN NĂM A 2020
Tất Cả Cho Một Tình Yêu

Người ta chỉ biết Họa sĩ Trịnh Cung là một trong những tên tuổi hàng đầu của làng mỹ thuật Việt Nam trước năm 1975, ít ai biết ông còn là một thi sĩ tài ba. Ông chính là tác giả của ca khúc nổi tiếng “Cuối cùng cho một cuộc tình” được Trịnh Công Sơn phổ nhạc. Hoàn cảnh ra đời của ca khúc đã làm cho nhiều danh ca trở thành bất hủ thật đặc biệt. Một lần đến thăm bạn trong một căn phòng chật hẹp chỉ vừa cho 3 người nằm trên một chiếc chiếu, Trịnh Công Sơn nghe Trịnh Cung khóᴄ mới bật dậy, thấy bạn đốt tập thơ mới ᴄhụp lại ᴠà giữ đượᴄ 1 bài thơ, đó là bài Cuối Cùng Chᴏ Một Tình Yêu, Trịnh Công Sơn đã phổ nhạᴄ bài thơ đó. Trịnh Cung đã bộc bạch: “Sự ᴠiệᴄ tôi đốt tập thơ là ᴄó thật bởi ᴠì đó là một thái độ mà tôi ᴄần ᴄó để tôi tập trung ᴄhᴏ hội họa, tôi không muốn dính líu đến thơ ᴄa, ᴠì ᴄó một quan niệm là làm ᴄái gì làm ᴄhᴏ tới nơi, hai ba thứ nó lôi thôi lắm, ᴄhᴏ nên tôi quyết định hủy bỏ làm thơ để tập trung ᴄhᴏ hội họa.” Thơ là tình của Trịnh Cung, nhưng ông đã hy sinh mối tình đó trong đau đớn và nước mắt để toàn tâm toàn ý cho hội họa, nên ông đã trở thành tên tuổi hàng đầu của làng mỹ thuật Việt Nam.

Khởi đi từ câu chuyện đó để chúng ta đi vào sứ điệp lời Chúa hôm nay, cũng là lời mời gọi mãnh liệt cho sự từ bỏ để trở thành môn đệ Đức Kitô.

Nhưng trước hết chúng ta cần nhận biết chính Đức Giêsu đã từ bỏ địa vị Con Thiên Chúa của mình để đến trần gian sống với nhân loại hầu đem đến ơn cứu độ cho con người. Thánh Phaolô đã viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá.” (Pl 2, 6-8). Ngài đã làm tất cả cho một cuộc tình, Ngài đã hy sinh mọi sự để Sống Cho Tình Yêu (ca khúc của Lm. Thái Nguyên) Vì thế mà “Chúa gọi con vào đời, không phải để làm điều chi, nhưng là để sống tình yêu”. Tất cả cho một tình yêu!

Tình yêu đó “là tình yêu Chúa đã một chiều, thương con nên liều mạng sống, để cho con mối tình sắt son”. Tình yêu đó là ơn cứu độ, là hạnh phúc đời đời, là Thiên Đàng, Nước Trời của chúng ta.

Để có được Tình Yêu đó, Thầy Giêsu đòi buộc các môn đệ của mình phải có sự từ bỏ và sự quyết liệt. Từ ngữ cụ thể trong Tin Mừng Matthêu là: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 37). Như vậy có phải cha mẹ là xấu, con trai con gái là xấu nên Đức Giêsu đòi buộc phải bỏ? Thưa không, ngược lại còn rất tốt; giống như nàng thơ của Trịnh Cung không phải là xấu, nhưng ông phải bỏ đi dù đau đớn để toàn tâm toàn ý cho nét vẽ của mình.

Những tình cảm ở trần gian này là tốt, nhưng để sống cho một Tình Yêu trọn vẹn, Đức Giêsu muốn các môn đệ của mình phải chọn Chúa là số một. Đó chính là điều răn thứ nhất mà Thiên Chúa đã truyền cho Môsê: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự. Nghĩa là vì Chúa, vì Nước Trời, vì Tình Yêu thực sự mà ta sẵn sàng hy sinh, từ bỏ tất cả.

Thánh Phanxicô Assisi đã cởi cả áo choàng trả cho cha ngài để bước đi theo Chúa với một sự dứt khoát, không quyến luyến.

Nhiều những linh mục, tu sĩ đã hy sinh tình cảm riêng tư của mình để sống cho một tình yêu với Thầy Giêsu. Như câu chuyện cảm động của 3 chị em quê ở Hậu Giang giữa đêm khuya, chèo ghe vượt đồng, trốn nhà, vượt qua sự ngăn cản của cha mẹ, đi theo tiếng gọi của Thầy Giêsu để dâng mình cho Chúa trong ơn gọi tu trì, sau này cả 3 đều trở thành những nữ tu tốt lành.

Và cũng không thiếu những Kitô hữu tốt lành đã dám hy sinh nghề nghiệp không phù hợp vì tôi là người Công giáo ; Không thiếu những Kitô hữu trẻ từ bỏ những cám dỗ của đồng tiền để sống trọn vẹn theo điều răn của Chúa ; vẫn còn những người dù làm ăn bận rộn nhưng luôn luôn dành ưu tiên ngày Chúa Nhật để đến nhà thờ với Chúa ; và rất nhiều người hy sinh tiền bạc, vật chất, thời giờ, cả những ưu tư… cho Giáo hội.

Thực ra tất cả đều là cuộc chiến sinh tử, nhưng nếu người nào nhận ra được giá trị sâu xa hơn, họ sẽ chiến thắng. Và để chiến thắng thì đòi hỏi phải chọn lựa ; và chọn lựa hệ tại ở chỗ nhận ra điều nào quan trọng hơn.

Ngoài sự từ bỏ, đòi hỏi của Tin Mừng còn là sự quyết liệt: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 38). “Thập giá mình” là chính con người bất toàn của chúng ta. Vì thế phải luôn luôn ý thức mỗi người đều có những bất toàn của mình để lo sửa đổi, chỉnh đốn làm cho nó trơn tru, tốt đẹp hơn. Khi ý thức những bất toàn của chính mình, người ta sẽ khiêm tốn hơn để học hỏi chứ không phải dạy đời, thông cảm cho những thiếu sót của người khác chứ không phải chua cay gắt gỏng… Vác thập giá mình là chấp nhận những giới hạn của mình và của người khác để dìu dắt nhau, nâng đỡ nhau đi trên đường đời, như ông Simon vác đỡ thập giá Đức Giêsu lên đỉnh đồi Golgotha.

Thánh Phaolô đã dạy cho các tín hữu của mình: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe… Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô. (Ep 4, 29-32) Những ai biết “vác thập giá mình”, thì sẽ luôn luôn có những tâm tình như thế.

Xin Chúa cho con biết từ bỏ những gì không phù hợp, hoặc phù hợp mà không xứng, không vừa tầm với Nước để sống cho một Tình Yêu; và cũng xin cho con biết vác thập giá mình hằng ngày để biết sửa đổi bản thân và thông cảm với người khác.

Lm. Giuse Nguyễn

Chia sẽ bài viết này trên:

Thánh Thể – Lương thực của tình yêu Thiên Chúa

Thánh Thể – Lương thực của tình yêu Thiên Chúa

Dẫn vào Phụng vụ Thánh Thể

Năm 1264, Đức Giáo Hoàng Urbanô ra sắc dụ lập lễ kính Thánh Thể trong toàn Giáo Hội mà chúng ta mừng kính hôm nay, đó là lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô. Mục đích của việc thiết lập lễ này là để long trọng tạ ơn Chúa Giêsu Kitô đã dùng quyền năng siêu việt mà lập Bí tích Thánh Thể để ban bánh trường sinh cho nhân loại.

Trong ngày lễ trọng tôn vinh Mình Máu Thánh Chúa Kitôhôm nay vốn được gọi là bí tích Tình yêu: Thánh Thể, tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô; Thánh Thể diễn tả mầu nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh để mời gọi Kitô hữu sống tình bác ái huynh đệ.

Thánh Thể, Tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô:

Trong bài đọc thứ nhất trích sách Đệ Nhị Luật, kể lại dân Itrael sau khi rời đất Ai Cập đã lâm vào tình cảnh đói khát, liền kêu than với Môsê. Môsê vừa trình bày thì Chúa tỏ lòng thương dân bằng cách cho bánh Manna từ trời rơi xuống, cho nước từ tảng đá vọt ra, dân hết đói hết khát trong suốt thời gian rong ruổi trong sa mạc.

Bài Tin Mừng trong Thánh Lễ hôm nay, Thánh Gioan đặt bài diễn từ dài của Đức Giêsu về bánh sự sống vào phép lạ hoá bánh ra nhiều (Ga 6, 35-58). Bài diễn từ này gồm 2 phần. Phần thứ nhất gồm các câu 35-50, phần thứ hai gồm các câu 51-58. Trong phần thứ hai này diễn từ về chủ đề Thánh Thể được Chúa Giêsu làm nổi bật khi liên kết bánh hằng sống với thịt và sự sống của Người, để làm nên lời loan báo và hình dung trước về mầu nhiệm Thánh Thể mà Người sẽ thiết lập.

Khởi từ nguồn mạch tình yêu của Chúa Cha, Chúa Giêsu đến để công bố và trao ban tình yêu ấy cho nhân loại. Cho nên mọi hành vi và lời nói của Người đều thể hiện một mục đích duy nhất ấy. Chúa giảng dạy vì thương con người đi trong u mê lầm lạc của tội lỗi cần được khai sáng; Chúa chữa lành vì thương muốn giải thoát bệnh nhân khỏi gánh nặng của đau khổ; Chúa hóa bánh ra nhiều vì thương, Chúa muốn cho người đói khát được no nê. Và trên hết Người đã dâng hiến chính bản thân mình, chính máu mình như lời Người dạy: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống.Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (cc54 – 56). Lương thực này tặng hiến cho nhân loại để họ được sống và sống dồi dào như lời hứa của chính Người. Để thể hiện lời hứa, Người đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho nhân loại để nuôi sống thể xác lẫn tâm hồn, cùng với đời sống tâm linh của dân Người. Sự dâng hiến xác thân của Con Thiên Chúa được gọi là Bí tích Thánh Thể, đó là sự dâng hiến tình yêu cho đến tận cùng của Thiên Chúa qua Người Con Một yêu dấu là Đức Giêsu Kitô.

Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn trao ban tình yêu của Thiên Chúa Cha cho chúng ta trong hiến tế Thánh Thể. Đón nhận Thánh Thể là đón nhận tình yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, là sống mối tình của Thiên Chúa, để rồi sẽ trải lòng ra yêu thương mọi người.

Thánh Thể mời gọi Kitô hữu sống hiệp thông và bác ái huynh đệ:

Khi các môn đệ đề nghị Chúa Giêsu giải tán dân chúng để họ đi tìm kiếm thức ăn thì chính Người đã nói với các ông: “Các con hãy cho họ ăn đi”. Điều này cho thấy Chúa Giêsu muốn mời gọi sự cộng tác của con người vào trong công việc của Người. Trong Bí tích Thánh Thể cũng thế, Mình Thánh Chúa được biến đổi từ chính của lễ do con người dâng hiến là bánh và rượu, là hoa màu ruộng đất, là sản phẩm của cây nho và lao công của con người. Xin dâng lên để bánh và rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa.

Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo” (Lumen Gentium). Vì thế, Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ yêu thương và hiệp nhất là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Tiệc Thánh Thể là cuộc họp mặt của các tín hữu. Cộng đoàn phụng vụ hiện diện, mặc dù, bao gồm nhiều thành phần đa dạng, nhưng với tiệc Thánh Thể chúng ta trở nên duy nhất trong Chúa Kitô. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côrintô đã viết: “Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm bánh ấy, nên tuy nhiều người chúng ta cũng chỉ là một thân thể”. Do đó còn gì gần gũi hơn, thân thiết hơn khi trong chúng ta đều luân lưu một của ăn và một thức uống, đều có chung một nguồn sống là Chúa Kitô. Nhưng từ đó, nguồn suối mang sự sống của Chúa Kitô cũng phải được chuyển thông cho anh chị em đồng loại của mình. Thế giới chung quanh ta ngày nay có rất nhiều tiến bộ, với những phát minh khoa học kỹ thuật tiên tiến; nhưng thống kê của cơ quan lương thực thuộc Liên Hiệp Quốc cho biết mỗi ngày có khoảng 400.000.000 người phải đi ngủ với bụng đói, không có gì để ăn và 15.000 người phải chết đói hàng ngày. Những người này cần được thương xót tinh thần lẫn vật chất, cần có cơm ăn, áo mặc, cần có nơi cư trú, cần tình thương, cần nâng đỡ ủi an. Vậy “hãy thương xót như Cha trên trời”.

Để thể hiện tình yêu thương của Chúa đối với nhân loại, người tín hữu hãy cầu xin Chúa Thánh Thần đến đốt cháy lửa mến yêu trong lòng chúng ta, để chúng ta nhận ra chúng ta đói khát Mình Chúa và Lời Chúa, là quà tặng vô giá Chúa ban cho nhân loại. Và xin Chúa Thánh Thần đào luyện con tim chúng ta trở nên con tim biết “chạnh lòng thương” như Chúa Giêsu, để chúng ta cũng trở nên tấm bánh bẻ ra cho muôn người.

Xin Chúa giúp mỗi người tín hữu trở nên giống Chúa mỗi ngày một hơn nhờ việc tham dự vào tiệc Thánh Thể, cũng như qua việc được chia sẻ sự sống của Chúa. Xin Chúa giúp mỗi người chúng con được lớn lên, được trưởng thành trong đức ái, sẵn sàng đóng góp phần của mình để phục vụ anh chị em, để rồi trong cuộc đời lữ hành trần gian chúng con sẽ được no đủ và vững bước tiến về quê trời mà không lo sợ phải mệt lả dọc đường.

Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Chia sẽ bài viết này trên:

Bí Tích Thánh Thể, Đường Cao Tốc Đến Thiên Đàng

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA NĂM A 2020
“Bí Tích Thánh Thể, Đường Cao Tốc Đến Thiên Đàng”

Môsê đã nói với dân Israel: “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã dẫn anh em đi” (2 Đnl 8, 2). Hành trình trong sa mạc là câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và dân Israel, là một quãng đường mà dân phải vượt qua để tiến về vùng Đất Hứa. Con đường này “Tuy xa mà gần, tuy gần mà xa”. Xa, rất xa mỗi khi dân không đi theo đường lối của Thiên Chúa qua sự dẫn dắt của các tổ phụ và các tiên tri. Gần, rất gần mỗi khi dân đi theo con đường của Đức Chúa. Vì thế xa hay gần không hệ tại ở khoảng cách thể lý, mà hệ tại ở việc dân có Chúa hay không.

Trên hành trình dương thế, Thiên Chúa không bỏ con người đơn độc một mình, Ngài làm mọi cách để luôn hiện diện bên họ. Đức Giêsu là hiện thân của Lòng Thương Xót Chúa cho nhân loại chúng ta. Và Bí tích Thánh Thể chính là sáng kiến độc đáo để được ở với con người “mỗi ngày cho đến tận thế”.

“Christus Vivit-Chúa Kitô đang sống”. Ngài đang hiện diện thực sự giữa chúng ta qua Bí tích Thánh Thể. Vì thế, những ai càng cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời là họ đang ở rất gần với Thiên Đàng.

Trong Tông Huấn gửi những người trẻ “Christus Vivit-Chúa Kitô đang sống” của Đức Thánh Cha Phanxicô ngài có nhắc đến tấm gương của Đấng đáng kính Carlo Acutis. Sinh ngày 03-05-1991 tại Luân Đôn, sau đó gia đình chuyển về Milano và tại đây, cậu bé bắt đầu có một mối liên hệ đức tin ngày càng mạnh mẽ hơn cho đến hết tiểu học. Yêu thích các trang Internet, Acutis đã biến nó thành phương tiện truyền giáo. Triễn lãm ảnh về phép lạ Thánh Thể mà cậu đã thực hiện vào năm 14 tuổi làm chứng cho điều này. Trung tâm của cuộc đời Acutis chính là Thánh Thể, “đường cao tốc đến thiên đàng” của anh. Acutis là một cậu bé sống như tất cả mọi người nhưng yêu mến Chúa Kitô cho đến khi qua đời bởi bệnh bạch cầu vào ngày 12/10/2006 khi mới 15 tuổi.

Như vậy sống Bí tích Thánh Thể là sống giây phút hiện tại với đức Giêsu tại đây, lúc này. Khi nào có Chúa, con đường ta đi rất nhanh, như trên một con đường cao tốc. Và ngược lại khi không có Chúa, con đường ta đi chỉ là đường mòn, lối mở, đầy dẫy những quanh co, gập ghềnh, làm ta khó hoặc lâu lắm mới về đến đích, thậm chí sẽ không bao giờ.

Ngay lúc này đây “Đức Kitô đang sống và Người muốn con cũng được sống” (Christus Vivit Số 1) “Người ở trong con, Người ở với con và không bao giờ bỏ rơi con. Dù con có rời xa Người, Đấng Phục Sinh vẫn ở bên con… Khi con cảm thấy mình già đi vì buồn sầu, thù hận, vì lo sợ, nghi ngờ hay thất bại, Người vẫn luôn ở đó để ban lại cho con sức mạnh và hy vọng” (Christus Vivit Số 2)

Với ý thức Chúa Kitô đang sống bên tôi, đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể, tôi sẽ trỗi dậy để đến với Bí tích Hòa Giải, tôi sẽ siêng năng tham dự Thánh Lễ để được rước Chúa, và  sẽ cố gắng để sống theo Lời Chúa dạy vì Chúa Giêsu Thánh Thể đang ở trong tôi. Tôi sẽ ý thức hơn với những điều kiện để được Rước Chúa như sạch tội trọng, có ý ngay lành, giữ chay 1 giờ trước khi rước lễ.

Khi ý thức Chúa Kitô sống trong tôi, tôi gặp gỡ Ngài thì con đường lữ thứ trần gian của tôi sẽ êm trôi vì “Chúa dắt dìu con luôn luôn không thôi, có Chúa cùng đi con không đơn côi. Ôi tình tuyệt vời!” (Bao la tình Chúa, Giang Ân). Con đường tôi đang đi dù có như thế nào đi chẳng nữa, tôi vẫn thấy nó rất nhanh như đang đi trên con đường cao tốc, vì sức mạnh của Bí tích Thánh Thể là như thế.

Ngoài ra khi ý thức sống với Chúa, nhất là khi rước Chúa thường xuyên, tôi sẽ có động lực để cùng đoàn kết với mọi người vượt con đường cao tốc đó để về nhà Cha, nghĩa là để sống tốt cuộc sống của tôi. Có Chúa Giêsu Thánh Thể, tôi sẽ yêu mọi người nhiều hơn, tôi sẽ hy sinh nhiều hơn cho những việc chung, tôi sẽ góp phần vào công cuộc truyền giáo của Giáo hội…

Nói tóm lại có Chúa Giêsu Thánh Thể là có tất cả. Các bạn trẻ có được sức trẻ nhờ sự trẻ trung của Chúa Giêsu ; những người già có được sức mạnh nhờ con đường thập giá của Chúa Giêsu ; những người tội lỗi có được sự hoán cải nhờ tình yêu thông cảm tha thứ của Chúa Giêsu.

Chúng ta cùng nhau quyết tâm tham dự Thánh Lễ thường xuyên, dọn mình kỹ lưỡng hơn trước khi rước Chúa, thường xuyên đến với Bí tích Thánh Tẩy vì tin rằng Chúa Giêsu yêu tôi, sống bác ái yêu thương nhiều hơn, cộng tác với Ho đạo với những việc chung nhiều hơn… Hãy đến với Chúa để được biến đổi cuộc đời!

Lm. Giuse Nguyễn

Chia sẽ bài viết này trên:

Thưa Mục Tử Nhân Lành, Chiên Quậy Của Ngài Đây – Chúa Nhật IV Phục sinh Năm A

Thưa Mục Tử Nhân Lành, Chiên Quậy Của Ngài Đây.
Chúa Nhật IV Phục sinh Năm A.

 1. Đầu tiên xin phép, vài lời tâm tình với Chúa, trước khi thêm những dòng biên khảo. Hôm nay con không có một chút ấn tượng nào về chữ nghĩa trong đầu. Khi dựa vào giai thoại, những từ ngữ trong một bồ chữ mà Thi Sĩ Giáo Thụ Cao Bá Quát  1808-1855 của  Phủ Quốc Oai  (Sơn Tây cũ) đã dành ra, để chia hết cả và thiên hạ. Chỉ còn sót vài chữ cù cặn, nhưng con đã xài hết trong thời gian qua rồi. Tuy nhiên,  Chú​a vẫn nhỏ nhẹ: con vốn bất tài vô tướng mà có lòng cậy dựa, thì có Ta đây. Vậy mình thử ngồi vào máy tính, gõ đại một chữ, rồi Chúa cầm tay 1 chữ khác,  thêm chữ nữa.  Y như Người chăn thú tốt lành, từng bước,  từng bước thầm, hướng dẫn đàn vật, mà  Chúa Nhật IV Phục Sinh ngày 03-05-2020 nầy, chúng con vẫn vì bệnh Coraona, còn mừng kính Mỹ Danh của Ngài là Chúa Chiên Lành tại gia.

2.  Đó là vài hàng công nhận Chúa là vị Sáng tạo – làm chủ –  cứu chuộc, quan phòng – quản lý – và là chỉ đạo chân chính mọi nơi mọi thời, mà không ai, không gì có thể sánh bằng qua đoạn Phúc Âm của Thánh Sử Gioan 10:1-10. Bạn đọc kỷ đoạn Sách Thánh nầy đi, thì sẽ có trực cảm tâm linh được tấm lòng cao quý bao la dường nào của Chúa.

3.  Nhưng một người bạn của mình, gốc Biên Hòa, Đồng Nai, có qua lớp 12 và 2 năm Cao Đẳng Sư Phạm tại quê nhà, đã được đa số thầy cô ba bốn chục năm trước, dạỵ bình phẩm dưới một góc cạnh phản ảnh khác rằng: lãnh đạo các cấp của Kitô giáo (những ai tin Chúa Giêsu Kitô, Công Giáo và Tin Lành các giáo phái) coi tín đồ như thú vật, bằng chứng là gọi họ bằng từ ngữ con chiên. Sách Hiếm và Giao Điểm cũng luôn có cái nhìn nầy.
4.  Thắc mắc trên rất tốt để người  Kitô Hữu có dịp trình làng quan điểm và niềm tin của mình qua lối Minh Giáo một vài câu thanh nghị. Xin thưa, ba tôn giáo lớn Do Thái Giavê  Giáo, Thiên Chúa Kitô Giáo và Đạo Hồi Mohamét,  xuất phát  từ vùng đất Palestin, Do Thái và Arạp Saudi  núi đồi đồng cỏ Sa mạc nóng cháy. Nên nghề du mục chăn thú là nguồn thức ăn chính và cũng mang lại lợi tức quan trọng từ ngàn xưa cho tới khi thế giới được  kỷ nghệ hoá, bắt đầu với máy hơi nước của James Watts (1736-1819) thế kỷ 18.
5.  Nên hình ảnh người chăn thú tốt lành đã đi vào lịch sử và văn hóa tim óc, căn để,  gốc rễ của các dân tộc nầy. Dùng hình ảnh chủ chăn đi đầu, hướng dẫn cả đàn thú vật theo sau, để nói lên tài lãnh đạo, sự quan tâm thân thiện, lòng tin tưởng của hai bên. Thánh Kinh Kitô Giáo cũng dùng lại hình ảnh nầy để nói lên tình yêu của Chúa là Chủ đàn chiên,  thương yêu con dân của Ngài. Về mặt tinh thần, thực ra mối quan hệ hổ tương đó còn cao xa hơn nhiều, vì người xưa có dạy “thư bất tận ngôn; ngôn bất tận ý”.
6.  Thêm một thí dụ khác để góp phần cho minh giáo, như  ở quê mình trong các khóa tu học, quý thầy hay nhắc tới từ ngữ ” Bồ Đề tâm” không có ý coi tín đồ với con tim của loài cây vô cảm. Còn khi nói Ngài lãnh tụ, lãnh đạo đẹp như bông sen, đâu cố ý nói vị đó chỉ là hay ngang hàng thảo mộc, thực vật dưới lớp ao bùn.
7.  Những  hình ảnh được dùng trong Thánh Kinh, coi như những nét văn hóa  (vẻ đẹp) miền vùng. Mà văn hóa thì không biên giới. Nên, kính trọng nhau trong tinh thần cầu tiến, học hỏi, theo  câu châm ngôn của người Roma  xưa, hay đặt trên cửa chính nhiều thư viện Tây Phương, coi như kho tri thức nhân loại, là  “tolle et lege” hãy cầm lấy và đọc.
8.  Vào thời Chúa Chúa Giêsu còn tại thế, chắc hẳn chưa có Trường Sư Phạm, nhưng Chúa đã xử dụng phương pháp truyền thụ kiến thức cách cụ thể, thiết thực, để dạy bài học chân lý về mẫu gương  tinh thần của đạo Chúa. Dùng những gì cụ thể, phổ thông, địa phương chung quanh mà ai cũng biết, là hình ảnh người chăn và đàn chiên. Chúa của của mình, theo Phúc Âm,  chưa từng nghe có ngày nào trong trường huấn luyện nghề gõ đầu trẻ,  nhưng đã có kinh nghiệm dạy học hay quá chừng luôn.
9. Trở lại chủ đề về mặt tôn giáo, riêng Công Giáo, Chúa Nhật nầy cũng còn trong mùa Chúa Phục Sinh, giúp hiểu và áp dụng thêm mầu nhiệm “sống lại và là sự sống” của Chúa mình. Hình ảnh Vị Mục Tử đầy tài trí là sự sống lại. Còn sự sống là đàn chiên cung cấp thịt. Đó là Mình Máu Chúa  trong Bí Tích Thánh thể. Vậy những kẻ lao lực và gánh nặng  – ốm đói tinh thần – hãy đến cầm lấy mà ăn, để được bổ sức.
10.  Đọc kỹ Phúc Âm Thánh Gioan 10:1-10 và suy nghỉ thì thấy Chúa mình là mẫu gương  lãnh đạo, lo lắng chăm sóc, quan tâm, nên con chiên quen biết và nghe tiếng mà đi theo người mục tử chân chính dám liều mạng vì đàn chiên.
11.  Mỗi lần nói tới Chúa Chiên, thì quý bậc cha thầy sơ giáo lý hầu hết chỉ nói tới Chúa Giêsu trước nhất và vị Giáo Hoàng hiện tại. Còn vị chủ chiên số một là Thánh Phêrô mà Chúa trao quyền chăm sóc chiên mẹ và chiên con (Gioan 21:15-18) cùng những vị kế nhiệm các thời, các cấp sau đó, chỉ là hình bóng mờ nhạt ít khi được đạo đạt. Nhưng phải có xưa mới có nay. Những thành quả của đạo Chúa hôm nay là cả nhiều chuỗi nối kết  từ ngàn xưa đem lại. Nên là thế hệ con cháu, mình phải thừa nhận và nhớ ơn từ trong gia đình tới lên tới Nhà Đạo, ra đến ngoài đời, từ địa phương lên tới trung ương, qua thành quả do công đức lãnh đạo chăn dắt mà Chúa chia cho. Nên xin cầu cho nhau vào chính ngày nầy.
12.  Mình còn nhớ trong Sách Mục Lục có chép một lời cầu xưa, nhưng chưa cũ mà rất thiết thực. Cầu cho các Đấng chăn giữ chúng con, nhất là Thầy Bổn Sở được mạnh hồn khỏe xác để mà dạy dỗ chúng con, cùng xin cho các học sĩ (chủng sinh, tu sinh nam nữ) bổn trường, được tập tành đạo đức cùng học mọi lẽ tinh thông,  hầu ngày sau giúp việc Hội Thánh cho danh Cha cả sáng ở khắp mọi nơi thiên hạ.
Thêm một lời cầu nữa trong mùa Phục sinh vừa qua, của một tân tòng,  rất tác động nhân ngày tôn kính Chúa Chiên Lành: xin cho chúng con biết lắng nghe lời của  Chúa là bậc thầy dẫn đường ,  qua những vị lảnh đạo tinh thần  địa phương. Đồng  thời cũng xin cho chủ chăn biết lắng nghe những nhu cầu thiết yếu của đàn chiên Chúa. Xin Chúa nhậm lời chúng con.
13.  Đứng trên lăng kính từ trên nhìn xuống thì chỉ Chúa Giêsu mới dám tự xưng Ta là mục Tử tốt lành như trong bài Phúc Âm hôm nay. Còn mọi thành phần dân Chúa các cấp, nói gọn là Giáo Hội, chỉ  là con chiên.
Còn theo hàng ngang thì mọi con chiên, tuỳ hoàn cảnh, cũng được tham gia vào quyền chăn đắt trong đạo, qua hàng giáo sĩ và tu sĩ các cấp. Ngoài đời, thì có nhà nước chính quyền văn võ quân thần trung ương và địa phương. Trong gia đình là Tổ tiên, ông  bà Cha mẹ, dòng họ, anh chị. Ngoài xã hội là  những nhà giáo dục chân chính và bạn bè thân hữu tốt lành qua câu ca dao: “học thầy không thầy học bạn”.
14.  Nói gọn hơn, trong thế giới loài người ngài nay, ai ai cũng đóng hai vai trò cùng một lúc. Đó là  vừa là con chiên khi cần được học hỏi và dẫn dắt, bảo bọc và đồng thời tới phiên mình cũng làm “chủ chăn” nho nhỏ,  được Chúa phân nhiệm quyền đạo, quyền đời ít nhiều, tuỳ duyên.
15.  Bổn phận và quyền lợi khi đóng vai trò chủ chiên và con chiên đã được ghi ra trong sách vở, nhờ những bài học người tốt việc tốt, cũng như những “thất bại là mẹ thành công” trong suốt dòng  lịch sử đạo đời. Mở sách vở ra học hỏi và áp dụng tuỳ hoàn cảnh, rồi bổ túc thêm bằng những  sáng kiến mỗi ngày mỗi mới. mọi thành viên  trong Đạo hay ngoài đời, đều đóng góp ý kiến xây dựng một cách chân thành và thiện chí.
16.  Tới đây làm mình nhớ những nhiều lời dạy chân chính trong Nền Minh Triết Á Đông – mà Thánh Kinh cũng chất chứa rất nhiều, từ những vị Tiên Hiền Do Thái – đã được nhiều bậc Thầy như Cố LM. Thiên Phong Bữu Dưỡng (1907-1987) nhìn ra, Thánh Thần đã hiện diện trong các nền văn hóa Á Đông. Tất cả cũng là để đọn đường cho Chúa Giêsu tới vào năm thứ I (đúng hơn, có lẽ năm – 6 hay -7). Thí dụ như . “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện“. Dồi mài tâm đức (tâm Chúa) của mình sáng lên tới mức tối thượng mới ngưng, rồi giúp người. Đó là hai bước cần thiết để  chia phần làm  Chủ chiên.   Một lời dạy  khác cũng là nền tảng để tham gia vào chức vụ cao quý trên là: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” :  làm cho tâm mình tốt trước,  rồi giúp người nhà, ra tới phạm vi giúp nước và giúp thiên hạ ổn định.
17.  Nhìn vào môi trường cụ thế và thực tế là  phạm vi những giáo xứ mà mình sống trải. Bốn năm chục năm và về  trước nữa, cách chăn chiên thời đó, có khi dùng hình phạt cho sợ, cho mắc cỡ, mà  tránh gương mù,  gương xấu.  Như hình thức “lạy họ” xin lỗi cả họ đạo  vì lối sống bất toàn, bị rao tên trên toà giảng, bị dạy dỗ bằng những lời nặng nề… còn ngày nay chủ chăn tinh thần thường  quan tâm, thăm viếng, giúp đỡ, nhã nhặn, phục vụ dưới nhiều hình thức tâm linh và cả xã hội … cộng thêm những  Hội Đoàn Tông Đồ giáo dân góp phần không nhỏ nhiều mặt.
18. Chiên quậy . Xin thú nhận không phải không có.
Trong Phúc  Luca 15:1-7. Giả thử có đàn chiên 100 con, nhưng rồi một con đi lạc – vì bất cứ lý do gì: ham vui, quậy phá, u mê  – thì chủ chăn phải bỏ lại 99 con tại chuồng, mà lặn lội tìm kiếm và quàng nó trên cổ mang về. Rồi gọi lối xóm chung vui.
Câu chuyện dụ ngôn liên tiếp về lòng Chúa chăm sóc mình trong  Luca 15:8-10 là một phụ nữ có 10 đồng, làm mất 1 đồng, lại phải thắp đèn lên, quét nhà, moi móc. Khi tìm cho được rồi thì mời lối xóm tới cùng hoan hỉ.
 Lòng thương bao la của chủ chăn là Chúa,  được chính Chúa kể ra qua dụ ngôn người con hoang đàng và người cha nhân hậu trong luca 15: 11-32.
Những tấm gương nầy, dạy mình phải lấy lòng quân tử của  Chúa mà đối xử với nhau.  Nhưng mình lại quá tiểu nhân hẹp hòi ích kỷ với chủ trương kỳ thị và chủ nghĩa loại trừ, vì nghĩ mình là chính danh con Chúa.
Từ xa xưa, mình đã coi thường lương dân vì cho rằng đạo mình là thật, còn họ thờ bụt thần ma quỉ, là giả dối, ngụy tín.  Mà chưa thấy có lần nào xét duyệt tu từ mà xin lỗi hay canh tân theo gương của Đức Giáo Hoàng Phanxicô thành thật xin lỗi mấy tháng trước, khi bị tín đồ giữ chặt bàn tay đau điếng tại Quảng Trường Thánh Phêrô, Rôma.
Vài ba năm trước đây, Đức Cha Vũ Huy Chương Giám Mục Đà lạt có viết trên Email vài ba câu chuyện đau lòng của bên đạo mình.
Khi nhà thờ đạo Chúa cần nhân công thiện nguyện tái thiết, thì nhiều lương dân chung quanh tới góp cả hai bàn tay. Nhưng khi nhà Chùa bên cạnh cần chút việc thì vị thầy cả địa phương không cho tín đồ  đạo nhà tham gia, với lý do rằng: đạo mình mới là đạo thật.
Mình có thói quen không ưa những người “rối rắm” do hoàn cảnh khó khăn nào đó ngoài tầm tay. Họ vào nhà thờ, mình muốn cản lối. Khi họ ngồi gần, thì mình tìm cách đứng dậy, đi qua chỗ khác, như tránh dịch Corona 2019 vậy.
Mình coi họ là tệ hại dơ bẩn đến độ cản trở họ tới dọn dẹp lau chùi nhà thờ. Vào mấy dịp Tết vừa qua, họ tới góp bàn tay lau lá bánh chưng gây quỹ giáo xứ,  mình cũng không cho. Sợ họ không tinh sạch đủ để làm osin  trong nơi thờ tự. Mình còn kỳ thị sạch dơ bề ngoài hơn cả biệt phái bảo căn thời trước.  Mấy chuyện nầy, đã xảy ra thật tại giáo xứ của mình.
Còn khi tham gia vào Hội Đồng Giáo Xứ hay Ban Hành giáo thì cũng vì mưu cầu danh phận: “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp” chớ không phải có mục đích làm vinh danh Chúa và giảm bớt tội tình cho chính mình.
19.   Dung hòa tổng hợp.
Thấy  Chúa đi tìm chiên lạc rồi cõng về trên vai, làm mình xúc động quá chừng. Xin uốn lòng chúng con –  công giáo “đạo vòng” – yêu thương chiên lạc, như thánh tâm Chúa. Nếu được, mình sẽ  mở rộng vòng tay, chào mời hết mọi thứ chiên thương tật vào lại gia đình nhà Chúa, dự  các nghi lễ phụng vụ,  để cả giáo xứ an ủi, nâng đỡ cầu nguyện cho được mau chữa lành.
Cuối cùng,  ba ngàn năm trước, Thánh Vương Da-vid, sau tội tầy đình, được Chúa thứ tha, Ông đã nhận ra, thấy được lòng Chúa, qua  người chủ chăn, và đàn chiên nhỏ,  ca vịnh 23, trọn niềm tin tưởng, vào ơn sủng Chúa. Và Nguyễn Duy Vi, đã minh họa lại, qua chính ngôn ngữ,  dòng nhạc VN, nhịp nhàng điêu luyện, để thêm cầu nguyện, tăng lòng sốt sáng,  thánh ca  tựa đề “Chúa Là Mục Tử”. Xin vào online, cùng chung tâm tình,  và cũng thưởng thức.

1/ Chúa là Mục Tử, Người dẫn lối chỉ đường cho con đi. Đi trong tay Chúa nào con thiếu chi con sợ chi? Cỏ tươi rợn đồng xanh con no thỏa không bao giờ thiếu nữa. Suối nước trường sinh nghỉ uống no đầy


ĐK: Chúa Chiên nhân từ, Người dẫn con tới đồng nội. Này suối nước mát bóng, con tới uống thảnh thơi. Chúa ơi sướng vui trong tay Chúa, Người dẫn con đi. Đi giữa suối mát, cỏ xanh con thiếu gì.

2/ Chúa là Mục Tử, Người dẫn dắt con lần theo chính lối. Cho con đi tới vì Danh Chúa con không lạc vương. Tối tăm con sợ chi, vì có Chúa với con cùng tiến bước. Cánh tay Người đưa, gậy Người dẫn yên lòng

3/ Chúa là mục tử, Người dọn bữa kê bàn cho con dân. Dầu Người tràn lan và chén ái ân Người đầy chan. Chúa ban cho đời con qua năm tháng hưởng dư đầy phúc đức. Chúa ở cùng con, con cùng Chúa muôn đời.

vô hạ

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Chuyên mục