Phút Suy Tư

Sự thay đổi nhã nhặn

Sự thay đổi nhã nhặn

“Nước Trời phải chịu sự mạnh bạo, và những người tàn bạo đã dùng bạo lực mà giành lấy Nước Trời” (Mt 11, 12).

Thử so sánh vẻ đẹp đơn sơ và thanh thoát của một đoá hoa hồng đang nở với những căng thẳng và bất an trong cuộc đời bạn. Cánh hoa ấy có một điều mà bạn không có, là hoàn toàn bằng lòng với chính mình. Đoá hoa không bị cài đặt chương trình từ ban đầu như bạn đã bị – chương trình bất mãn với chính mình. Vì thế, đoá hoa không mảy may bị thúc bách phải trở nên một cái gì đó hơn sự thật của mình.

Đó là lí do giải thích tại sao đoá hoa có được một vẻ đẹp không giả tạo, không có những dằng co nội tâm mà trong nhân loại chúng ta chỉ thấy nơi các trẻ nhỏ và các nhà thần bí.

Hãy xem tình trạng buồn bã của bạn. Lúc nào bạn cũng bất mãn với chính mình, muốn thay đổi chính mình. Vì thế, người bạn lúc nào cũng đầy bạo lực và không chịu được mình, mà điều này chỉ thấy xuất hiện mỗi khi bạn cố gắng thay đổi chính mình. Nếu vậy, bất cứ sự thay đổi nào bạn thực hiện cũng có kèm theo sự dằng co nội tâm.

Bạn đau khổ khi thấy người khác làm được điều mà mình không làm được, hay trở thành cái mà mình chưa trở thành.

Bạn có cảm thấy ghen tương và tức tối hay không, nếu như bạn biết bằng lòng với chính mình và không bao giờ khao khát cái mà mình không phải là? Tiếc rằng bạn bị thôi thúc trở thành một người khác, có kiến thức nhiều hơn, có vóc dáng đẹp hơn, nổi tiếng và thành công hơn. Bạn muốn trở thành người có nhiều nhân đức hơn, yêu nhiều hơn, trầm tư hơn; bạn muốn tìm được Chúa, ngày càng xích lại gần hơn với lí tưởng của mình.

Hãy nhớ lại lịch sử đáng buồn của mình khi ra sức hoàn thiện bản thân; lịch sử ấy đã kết thúc, nếu không tan tành mây khói thì cũng chỉ thành công với biết bao đau khổ và chiến đấu.

Bây giờ hãy thử hình dung bạn buộc phải thôi không còn cố gắng thay đổi bản thân mình và bất mãn với bản thân mình nữa, lúc ấy bạn có sẵn sàng đi ngủ, miễn cưỡng chấp nhận mọi sự nơi mình và chung quanh mình không?

Nhưng còn một cách khác, không cần cù đẩy mình tiến lên mà cũng không miễn cưỡng chấp nhận bỏ cuộc. Đó là tự hiểu lấy bản thân mình. Đây là một điều không dễ dàng vì muốn hiểu sự thật của mình, bạn cần phải tự do hoàn toàn khỏi mọi ham muốn thay đổi sự thật của mình để trở thành một điều gì khác.

Bạn sẽ hiểu điều này rõ hơn, khi so sánh thái độ của nhà khoa học nghiên cứu các thói quen của loài kiến nhưng không hề mảy may muốn thay đổi các thói quen ấy với thái độ của một người huấn luyện chó tìm hiểu các thói quen của chó để bắt chúng học một điều gì đó.

Nếu điều bạn đang cố gắng làm không phải là tìm cách thay đổi bản thân mình, mà chỉ là quan sát bản thân mình, nghiên cứu từng phản ứng của mình đối với con người và sự vật, không phê phán hay kết án mà cũng chẳng muốn cải tạo bản thân, sự quan sát của bạn lúc ấy sẽ không trở nên thành kiến hay thiên vị mà là bao trùm lên tất cả, sẽ không cứng ngắc với những kết luận chắc nịch mà là cởi mở và luôn luôn mới mẻ.

Sau đó, bạn sẽ thấy có một điều hết sức kì diệu xảy ra nơi mình: bạn sẽ trở nên hết sức tỉnh táo, trong suốt và hoàn toàn thay đổi.

Lúc ấy, sự thay đổi sẽ xảy ra chăng? Phải. Nơi con người bạn và trong môi trường chung quanh bạn.

Nhưng sự thay đổi ấy có không phải là do sự khéo léo và ngược xuôi vất vả của bạn, lúc nào cũng tranh giành, cũng so sánh, cũng ép uổng, cũng lên lớp, cũng lèo lái một cách bất bao dung và đầy tham vọng, sinh ra bao căng thẳng, xung đột và đối kháng giữa bạn và thiên nhiên – một quá trình sẽ làm bạn kiệt sức và thất bại như khi người ta chạy xe mà cứ đạp thắng mãi.

Nhờ sự tỉnh ngộ sáng suốt và có sức biến đổi ấy, người ta dẹp sang một bên cái tôi lúc nào cũng đòi hoạch định, lúc nào cũng tìm mình, để trao cho thiên nhiên toàn quyền tạo ra sự thay đổi như thiên nhiên đã từng làm cho đoá hoa hồng: không gượng gạo, duyên dáng, quên mình, khoẻ khoắn, không vướng một sự xung đột nội tâm nào. Nếu thay đổi nào cũng bạo tàn thì đoá hoa hồng ấy cũng sẽ bạo tàn. Nhưng phẩm chất tuyệt vời của thiên nhiên không phát sinh từ sự bất bao dung và thù ghét bản thân mình.

Chính vì thế trong cơn mưa bão quét đi tất cả mọi sự không hề có sự giận dữ, cũng không hề có loài cá nào ăn con mình để tuân thủ các định luật môi trường lạ lùng, cũng không hề có các tế bào trong thân thể con người phá huỷ nhau vì một lợi ích nào đó cao hơn.

Nếu thiên nhiên có huỷ hoại điều gì thì đó không phải là do thiên nhiên tham vọng, tham lam hay đòi bành trướng bản thân mình, mà chỉ là vì tuân thủ một định luật huyền bí nào đó nhằm lợi ích cho toàn vũ trụ hơn là chỉ lo cho sự sống còn và lành mạnh của các thành phần riêng lẻ.

Đây là thứ mạnh bạo mà chúng ta gặp thấy nơi các nhà huyền bí: mạnh bạo là vì chống lại các ý kiến và cơ chế đã ăn sâu vào xã hội và văn hoá chúng ta và nhờ đó nhìn ra những tệ đoan mà các người cùng thời với các ngài có thể mù quáng không thấy.

Cũng chính sự mạnh bạo này đã khiến cho đoá hoa hồng vươn thẳng và đương đầu với các sức mạnh thù nghịch. Đó cũng là sự mạnh bạo mà đoá hoa hồng bắt chước nhà thần bí kia: là nhẹ nhàng hưởng ứng, sau khi đã mở hết các cánh hoa ra đón lấy ánh nắng mặt trời, và sống một cách thanh thoát, thật đáng yêu, không cần phải lo lắng tìm cách làm cho tuổi đời đã được an bài cho mình kéo dài thêm một phút. Đoá hoa ấy đã sống trong hạnh phúc và duyên dáng như các cánh chim trên trời và các đoá hoa ngoài đồng nội, không chút bất an và bất mãn, ghen tị và lo âu, tranh đua và giành giật, không như thế giới hôm nay, lúc nào cũng tìm cách nắm lấy phần kiểm soát và cưỡng ép, thay vì bằng lòng với sự tỉnh ngộ ấy, trao hết mọi gánh nặng cho Thiên Chúa bày tỏ quyền năng trong thiên nhiên.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách:Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên:

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa.

Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.

Có thật là việc cầu nguyện mỗi ngày hoàn toàn vô ích không? Hẳn nhiên không phải vậy, ít ra, chúng ta có thể thấy được 10 lợi ích “tức thì” của cầu nguyện, như sau:

  1. Sống giây phút hiện tại

Guồng quay của mưu sinh có khi làm người ta quên mất mình đang sống. Họ hay nghĩ về quá khứ hoặc tương lai, mà ít khi biết rằng hiện tại mới là cuộc sống. Dành ít phút lắng đọng mỗi ngày giúp người ta thưởng ngoạn sự sống của mình. Lúc đó, họ thật sự ý thức về sự sống đang tuôn chảy trong mình, cả linh hồn và thân xác được nghỉ ngơi, tách mình ra khỏi tất cả những bận tâm lo lắng. Họ đặt mình trước Đấng là Sự Sống và tiếp tục thụ hưởng sự sống nơi Ngài.

  1. Nhìn lại những gì đã qua để tạ ơn

Cuộc sống trôi qua với biết bao biến cố vui buồn nối tiếp nhau. Tất cả đều có những ý nghĩa và tác động nhất định đến cuộc sống của mình. Dưới cái nhìn đức tin, chúng đều là những hồng ân của Chúa. Một vài phút lặng đọng trong ngày để nhìn lại những chuỗi biến cố đó với tâm tình biết ơn là điều vô cùng tuyệt vời, vì nó giúp ta ngày càng chìm sâu trong tương quan thân quen với Chúa và sống sự hiện diện của Chúa trong từng phút giây của đời mình.

  1. Kiểm duyệt cuộc sống

Cũng không trách khỏi nhiều lúc chúng ta đã có những lời nói, hành vi, tư tưởng sai lạc, làm ảnh hưởng đến chính cuộc sống của mình và người khác. Với những sai sót lớn, ta dễ dàng nhận ra. Nhưng với những sai sót nhỏ, ta dễ dàng bỏ qua hoặc không để ý. Từ từ, chúng sẽ tích tụ lại và làm chúng ta sa lầy hơn. Thường xuyên nhìn lại với cái nhìn suy xét xem mình đã sống cuộc sống của mình thế nào, có gì cần chỉnh sửa lại cho tốt hơn sẽ giúp chúng ta trở nên hoàn thiện hơn và đáng yêu hơn với mọi người.

  1. Giúp hãm dẹp cơn nóng giận

Cơn nóng giận thường là nguyên cớ cho rất nhiều những lời nói và quyết định sai lầm của chúng ta. Lúc đó, ta bị cảm xúc chi phối nặng nề và không làm chủ được bản thân mình. Kinh nghiệm cho thấy, ta thường hối hận sau đó vì những gì mình đã làm. Trầm tĩnh lại là cách ta làm nguôi cơn nóng giận và khống chế nó. Khi đó cơn nóng giận sẽ từ từ tan đi. Điều này chỉ có được với một người có thói quen trở về với lòng mình mà họ thực tập hàng ngày trong những giây phút thinh lặng.

  1. Suy tính kỹ càng cho vấn đề của mình

Ai cũng có vấn đề của riêng mình và luôn nỗ lực để tìm cách giải quyết. Nhiều khi vì có quá nhiều giải pháp, người ta không biết chọn cái nào cho tốt. Cũng có khi phía trước chỉ là một màn đêm tăm tối, khiến mình chẳng biết phải làm sao. Đôi khi người ta hỏi ý kiến những bậc khôn ngoan. Nhưng bao giờ cũng cần đôi chút tĩnh lặng để suy xét. Các bậc trí giả thường cho rằng mọi giải pháp đều đã được phú bẩm trong lòng mình, chỉ cần thinh lặng là có thể lắng nghe được. Đó chẳng phải là những phút giây ta ở một mình và suy nghĩ đó sao? Những ồn ào bên ngoài sẽ làm cho chúng ta bị rối. Còn thinh lặng sẽ giúp ta sáng ra.

  1. Giúp xua tan nỗi sợ

Nỗi sợ là một trong những kẻ thù lớn nhất của con người. Nó cho thấy sự nhỏ bé, thấp hèn và bất lực của chúng ta. Mỗi khi sợ, ta thường cầu cứu sự trợ giúp của người khác. Khi nó vượt quá sức con người, ta thường chạy đến các bậc thần linh. Trong thinh lặng của cầu nguyện, ta được đưa vào đối diện với một vị Thiên Chúa vừa yêu thương ta và quyền năng vô hạn. Bỗng dưng, ta sẽ thấy mình được Ngài che chở bao bọc, hứa hẹn sẽ luôn ở bên và giúp ta vượt thắng mọi gian nguy thử thách. Người nào càng sống tinh thần cầu nguyện, người ấy càng bình tĩnh trước những giông tố của cuộc đời vì họ kín múc được sức mạnh từ Chúa.

  1. Những lời kinh giúp ý thức và loại trừ những tư tưởng xấu

Nhiều lúc chúng ta cũng muốn cầu nguyện nhưng chẳng biết cầu nguyện thế nào. Các phương pháp cầu nguyện dường như cao siêu và khó thực hành. Khi ấy, chỉ đơn giản là ta thầm thĩ những câu kinh đã được soạn sẵn. Những lời kinh tưởng chừng khô khan nhưng lại có tác dụng rất lớn. Nếu chúng ta vừa đọc vừa chú tâm đến từng lời kinh, nó sẽ trở thành những tâm tình của chúng ta dâng cho Chúa. Ngoài ra, khi chúng ta tập trung vào nó, nó sẽ giúp xua tan những tà ý đang có trong đầu mình. Nhờ đó, trái tim của chúng ta sẽ được thanh lọc và trở nên tinh tuyền hơn.

  1. Tiếp xúc với Lời Chúa, nghe Chúa nói với mình

Nếu chúng ta chọn cầu nguyện với Lời Chúa, mỗi ngày suy niệm một đoạn ngắn, ta sẽ có cơ hội chìm sâu trong những mặc khải của Chúa cho chúng ta. Những lời ấy sẽ ban cho chúng ta sức mạnh, giải thoát chúng ta khỏi mọi bận tâm lo lắng. Sâu hơn, ta sẽ nghe được điều Chúa muốn nhắn gửi riêng cho mình. Dần dần, ta sẽ hiểu biết hơn về Chúa, có mối tương quan thân thiết với Chúa, sẽ yêu Chúa hơn và được Chúa biến đổi để nên giống Đức Giêsu Kitô hơn. Lời Chúa không phải là lời bình thường. Lời ấy có sức cứu độ chúng ta và đưa chúng ta về Nước Trời.

  1. Đưa tâm hồn hướng về trời cao

Sự thinh lặng trong cầu nguyện sẽ giúp tâm trí chúng ta được giải thoát khỏi mọi thứ tầm thường của đời này. Ta sẽ dần dần được hấp dẫn bởi nét tuyệt đẹp của các nhân đức và bắt đầu kinh tởm những sự xấu xa vẫn đang vây hãm và quyến rũ chúng ta. Bản chất lương thiện trong ta sẽ trỗi dậy và ta biết mình không thuộc về chốn đời tạm này. Ta khám phá ra rằng quê thật của chúng ta là Thiên Đàng, là cõi vinh phúc đời đời, mà muốn trở về nơi ấy, ta phải dứt bỏ những thứ đang mê hoặc chúng ta ở đây, đang khiến chúng ta lầm đường lạc lối. Khi ấy, ta sẽ được nhấc bổng lên tận trời cao, đó là niềm hy vọng của chúng ta.

  1. Lãnh nhận ơn lành từ Chúa

Đây là một lợi ích thiết thực hơn bao giờ hết. Trong cầu nguyện, ta có thể xin Chúa những ơn lành cần thiết cho chính mình hay cho người khác. Cuộc sống tại thế này luôn khiến chúng ta sống trong tình trạng thiếu thốn trăm bề, nếu không phải là những thiếu thốn vật chất, thì cũng là tinh thần. Chẳng nơi đâu ta có thể “xin xỏ” một cách thoải mái như trong cầu nguyện vì ta biết rằng mình đang đối diện với một Đấng hằng yêu thương mình và luôn sẵn sàng ban ơn cho mình bất cứ lúc nào hay nơi nào, bao nhiêu cũng được.

Với 10 lợi ích như thế, tại sao chúng ta vẫn còn chần chừ, ngại ngùng, tiếc thời gian mà không dành giờ cho Chúa, phải không?

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Chia sẽ bài viết này trên:

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết lời tựa cho một cuốn sách mới có tựa đề “Hiệp thông và Hy vọng”, và khuyến khích mọi người tái khám phá tình liên đới giữa những tàn phá của đại dịch virus corona, hãy để mình được “nhiễm” tình yêu thương chứ không nhiễm virus.

Trong lời tựa cuốn sách được phát hành hôm 28/07 vừa qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã suy tư về những bài học mà các Kitô hữu đã học được từ đại dịch Covid-19.

Cuốn sách “Hiệp thông và Hy vọng” được Đức Hồng Y Walter Kasper và cha George Augustin biên tập, chứa đựng những suy tư thần học từ nhiều tác giả khác nhau về “việc làm chứng cho đức tin trong thời gian đại dịch”.

Đức Thánh Cha viết: “Giống như một cơn bão bất ngờ, cơn khủng hoảng virus corona đã khiến tất cả chúng ta ngạc nhiên, khi đột ngột thay đổi, ở cấp độ toàn cầu, cuộc sống cá nhân, công cộng, gia đình và công việc của chúng ta.” Ngài đau buồn vì nhiều người đã mất người thân, cũng như công việc và sự ổn định tài chính của họ. Ở nhiều nơi, ngay cả lễ Phục sinh cũng được cử hành một cách khác thường và vắng lặng, và mọi người không thể tìm được sự an ủi nơi các Bí tích.

Tìm gốc rễ của hạnh phúc

Theo Đức Thánh Cha, tình cảnh bi thảm này cho thấy rõ bản tính dễ tổn thương của con người, bị giới hạn bởi thời gian và sự bất ngờ. Đại dịch buộc chúng ta đặt câu hỏi về gốc rễ của hạnh phúc và tái khám phá gia sản đức tin Ki-tô giáo của chúng ta. Ngài nói: “Nó nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã quên hoặc đơn giản là trì hoãn tham gia một số vấn đề chính trong cuộc sống. Nó đang khiến chúng ta đánh giá những gì thực sự quan trọng và cần thiết, và những gì có tầm quan trọng thứ yếu hay chỉ là hời hợt”.

Cơ hội sống liên đới

Đức Thánh Cha suy tư rằng thời gian thử thách này cho chúng ta cơ hội để hướng cuộc sống chúng ta trở về với Thiên Chúa; nó mời gọi chúng ta dùng cuộc sống phục vụ tha nhân, ý thức những bất công và thức tỉnh trước tiếng kêu của người nghèo và trái đất bị đau bệnh.

“Truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác

Phục Sinh tỏ cho các tín hữu thấy rằng chúng ta không bị tê liệt bởi đại dịch. Phục Sinh mang hy vọng, tin tưởng và khuyến khích, củng cố ý thức liên đới. Mối nguy bị nhiễm virus sẽ dạy chúng ta cách “truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác. Cử hành Thánh Thể ban cho chúng ta sức mạnh để giải quyết những khó khăn và thử thách. Và cuối cùng, Đức Thánh Cha hy vọng cuốn sách giúp khám phá “một ý nghĩa mới của hy vọng và liên đới.” (CSR_5506_2020)

Vatican News (29.7.2020) Hồng Thủy

Chia sẽ bài viết này trên:

Mục vụ thời Công nghiệp 5.0

Mục vụ thời Công nghiệp 5.0

WGPSG — Cuộc cách mạng công nghiệp 5.0: kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị để giải quyết tình trạng thất nghiệp và ô nhiễm môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa sản phẩm.

Các cuộc cách mạng công nghiệp

Thế giới đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp và đang tiến vào cuộc cách mạng công nghiệp 5.0.

Cách mạng công nghiệp 1.0 ra đời từ năm 1780 với năng lượng cơ học được tạo ra từ hơi nước và nhiên liệu hóa thạch.

Cách mạng công nghiệp 2.0 bắt đầu từ năm 1870 với điện năng và việc sản xuất dây chuyền hàng loạt.

Cách mạng công nghiệp 3.0 khởi sự từ năm 1970 với điện tử, công nghệ thông tin và tự động hóa việc sản xuất.

Cách mạng công nghiệp 4.0 xuất hiện vào đầu thế kỷ 21 với việc sử dụng Internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây, để tạo ra tương tác ‘thực tại – ảo (AR)’ nối kết thế giới ảo và thế giới thực với nhau (được gọi là những ‘Hệ thống không gian mạng – vật lý’).

Tiếp theo, mặc dù cách mạng công nghiệp 4.0 chưa phát triển hết mức, nhiều nhà tiên phong trong ngành và các nhà lãnh đạo công nghệ đã hướng tới cuộc cách mạng công nghiệp 5.0: kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị để giải quyết tình trạng thất nghiệp và ô nhiễm môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa sản phẩm.

  1. Bối cảnh của Công nghiệp mới: đi từ Công nghiệp 4.0

Bắt nguồn từ một dự án của chính phủ Đức, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là một chiến lược chủ động nhằm chuyển đổi các tác nhân sản xuất từ ​​các ‘Hệ thống hoàn toàn Vật lý’ sang các ‘Hệ thống không gian Mạng – Vật lý (CPS: CyberPhysical System)’.

Như vậy, nền tảng của Công nghiệp 4.0 là dựa trên hệ thống CPS (Mạng – Vật lý), và giao tiếp với nhau thông qua IoT (Internet vạn vật).

Trao đổi thông tin theo thời gian thực giữa các hệ thống CPS (Mạng – Vật lý) sẽ tạo ra một khối lượng lớn dữ liệu, đòi hỏi phải có một phương pháp lưu trữ có hiệu quả và an toàn. Giải pháp phổ biến nhất hiện nay chính là Lưu trữ đám mây.

Và để có được thông tin hữu ích từ các khối dữ liệu thô khổng lồ này, người ta cần phải phân tích chúng. Việc kết hợp các dữ liệu được phân tích thông qua IoT (Internet vạn vật) đã làm xuất hiện khái niệm ‘Internet công nghiệp’: kết nối thế giới kỹ thuật số và thế giới thực.

Và như thế, các động lực chính yếu của Công nghiệp 4.0 là:

•    Hội nhập kinh doanh và sản xuất;

•    Thực hiện các ứng dụng liên kết không gian mạng và không gian đời thực;

•    Thực hiện ‘Dây chuyền sản xuất hiệu quả’ và ‘sản phẩm thông minh’.

Các khái niệm mới của Công nghiệp 4.0 bao gồm: hệ thống CPS (Mạng – Vật lý), IoT (Internet vạn vật), nhà máy thông minh, dữ liệu lớn, lưu trữ đám mây và mạng an ninh tự chủ.

Về hiệu quả, Công nghiệp 4.0 giảm thiểu được các loại chi phí:

•    Chi phí sản xuất: giảm từ 10% đến 30%;

•    Chi phí hậu cần: giảm từ 10% đến 30%;

•    Chi phí quản lý: giảm từ 10% đến 20%.

Tóm lại, Công nghiệp 4.0 sử dụng IoT (Internet vạn vật) như là không gian sản xuất và sau đó phân tích dữ liệu lớn được thu thập trên bộ lưu trữ đám mây để làm tăng hiệu quả cho mức độ tự chủ và an ninh của Mạng.

3. Giải quyết các vấn đề của Công nghệ 4.0 

Công nghiệp 4.0 cốt yếu bao gồm việc tự động hóa các quy trình và thực hiện ‘điện toán biên’ (nối kết không gian mạng và không gian thực, với các dụng cụ thuận tiện).

Trọng tâm duy nhất của nó là nâng cao hiệu quả sản xuất và, do việc tối ưu hóa các quy trình sản xuất, nó vô tình bỏ qua chi phí dành cho nhân công, có nguy cơ khiến cho nhiều người phải thất nghiệp. Đây là vấn đề lớn nhất sẽ xảy ra khi toàn bộ công nghệ 4.0 phát huy tác dụng. Do đó, nó sẽ phải đối mặt với sự kháng cự từ các công đoàn và chính trị gia. Sự kháng cự này sẽ làm vô hiệu hóa một số lợi ích của Công nghiệp 4.0, khi ngày càng có nhiều áp lực đòi phải gia tăng số lượng việc làm cho con người.

Thêm vào đó, ô nhiễm môi trường​​ đang gia tăng cách khủng khiếp, bắt đầu từ cuộc Cách mạng Công nghiệp 2.0.

Và Cách mạng công nghiệp 5.0 đã được hình thành để giải quyết các vấn đề này: đưa đông đảo những con người lao động trở lại nhà máy, đồng thời tập trung hơn vào việc giảm thiểu các tác động bất lợi cho môi trường.

3. Công nghiệp 5.0 giải quyết vấn đề môi trường

Mặc dù trong thập kỷ vừa qua, đã có nhiều thuật toán AI được sử dụng để nghiên cứu từ viễn tượng môi trường bền vững, nhưng Công nghiệp 4.0 đã không tập trung mạnh mẽ vào việc này, không tập trung cải thiện các công nghệ để củng cố tính bền vững môi trường của trái đất. Vì thế môi trường vẫn đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng như là một trong những hậu quả xấu của các cuộc cách mạng công nghiệp.

Người ta đã nhắm thực hiện Cách mạng công nghiệp 5.0 để giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, Kế hoạch Khoa học Công nghệ lần thứ 5 của Chính phủ Nhật (2016-2020) đã đề xuất khái niệm Xã hội 5.0, trong đó con người sẽ giải quyết được các vấn đề như biến đổi khí hậu, ùn tắc giao thông, thiếu lương thực, xóa khoảng cách giàu nghèo. Con người sẽ được hưởng những sản phẩm, dịch vụ, tiện ích tốt hơn, với số lượng vừa đủ, tại thời điểm phù hợp nhất.

4. Công nghiệp 5.0: Robot trở thành Cobot

Đưa đông đảo con người lao động trở lại nhà máy, cuộc Cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc thông minh, để tiếp tục sử dụng năng lực trí tuệ và sức sáng tạo của con người, hầu tăng cường hiệu quả của quy trình sản xuất.

Trong khi mối quan tâm chính trong Công nghiệp 4.0 là về tự động hóa, thì Công nghiệp 5.0 sẽ quan tâm đặc biệt về sự kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị.

Lực lượng máy móc tự trị sẽ nhận ra và hiểu được ý muốn của con người. Loài người sẽ làm việc cùng với robot, không những không sợ hãi mà còn yên tâm khi biết rằng đồng nghiệp robot của họ hiểu rất rõ về họ và có khả năng hợp tác cách hiệu quả và hài hòa với họ.

Công nghiệp 5.0 sẽ thay đổi định nghĩa của từ robot. Robot sẽ không chỉ là một cỗ máy lập trình có thể thực hiện các nhiệm vụ lặp đi lặp lại, mà còn biến thành người bạn đồng hành lý tưởng của con người trong mọi tình huống.

Cung cấp các sản phẩm robot thông minh với sự tiếp xúc của con người, cuộc cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ giới thiệu thế hệ robot tiếp theo, thường được gọi là cobots (collaborative robots) – tức là những ‘robot hợp tác’, luôn hiểu biết hoặc nhanh chóng tìm hiểu xem chúng cần phải làm gì để hỗ trợ con người.

Những ‘robot hợp tác’ này sẽ nhận thức được sự hiện diện của con người; do đó, chúng sẽ quan tâm đến các tiêu chí an toàn và rủi ro. Chúng có thể nhận thấy, hiểu được và cảm nhận được không chỉ con người, mà cả mục tiêu và kỳ vọng của nhân vật điều hành.

Giống như người học việc, cobot sẽ nhìn xem và tìm hiểu cách thức một cá nhân thực hiện nhiệm vụ của họ. Một khi đã tìm hiểu xong, cobot sẽ thực hiện các nhiệm vụ y như một con người. Do đó, con người sẽ cảm thấy thỏa mãn khi làm việc cùng với các cobot.

Khái niệm về Công nghiệp 5.0 có thể được hình dung qua một ví dụ về dây chuyền sản xuất. Nó cho thấy một công nhân đang làm việc trong một bộ máy dây chuyền lắp ráp cơ điện.

Người công nhân bắt đầu làm nhiệm vụ. Và một cobot sử dụng máy ảnh trên một trục quay để quan sát quá trình. Máy ảnh này hoạt động như cặp mắt của cobot.

Cobot cũng được kết nối với một máy tính xử lý để lấy ra hình ảnh, rồi xử lý hình ảnh, và học các kiểu mẫu bằng cách sử dụng máy học hỏi.

Nó quan sát con người, theo dõi môi trường, và suy ra những gì mà người vận hành sẽ làm tiếp theo, bằng cách ‘học tập sâu’ để phân tích ý định của con người.

Một cảm biến quan trọng có thể được sử dụng để hiểu ý định của con người là ‘quang phổ chức năng cận hồng ngoại’ (fNIRS), qua kênh liên lạc không dây, để lấy tín hiệu từ não người. fNIRS khá phù hợp cho nhiệm vụ này vì nó có dạng tai nghe và không cần các bước thiết lập và hiệu chỉnh tốn thời gian.

Một khi cobot đã tự tin vào những dự đoán của nó, nó sẽ ra sức giúp đỡ người lao động. Nó sẽ giống như một con người khác, đang đứng cùng người lao động và ra sức giúp đỡ người này.

Ví dụ, khi cobot dự đoán rằng người lao động sắp sử dụng một dụng cụ nào đó, nó sẽ tự động đi lấy và mang dụng cụ đó đến cho người lao động đúng lúc người này cần đến. Quá trình này diễn ra liền mạch để người lao động không phải khựng lại trong quy trình làm việc của mình.

Như vậy quá trình hoạt động của cobot thông minh này sẽ diễn ra như sau:

(1) Cobot quan sát một người đang lao động.

(2) Cobot phân tích ý định của người này qua máy quan sát trực quan (máy ảnh RGB) và cảm biến quang phổ chức năng cận hồng ngoại (fNIRS).

(3) và (4) Cobot bắt đầu di chuyển đến nơi có đồ vật mà người lao động sắp cần đến.

(5) Cobot cầm lấy đồ vật này.

(6) Cobot mang đồ vật đến vị trí làm việc của người đang lao động.

(7) Cobot trao đồ vật vào bàn tay người lao động đúng lúc họ cần.

Cách mạng công nghiệp 5.0 cũng sẽ tạo ra một chức vụ sản xuất mới: CRO (Chief Robotics Officer: Chánh văn phòng robot). CRO là một cá nhân có chuyên môn trong việc hiểu robot và hiểu tương tác của chúng với con người.

CRO sẽ chịu trách nhiệm đưa ra quyết định thêm hoặc bớt các máy móc hoặc các robot tại nhà máy để đạt được vận hành tối ưu và hiệu quả.

CRO là người có kinh nghiệm về robot, về trí thông minh nhân tạo, về mẫu nhân tố con người và tương tác giữa con người với máy móc.

CRO được trang bị các ‘kỹ thuật robot hợp tác’ và, nhờ biết tận dụng máy tính cao cấp, họ sẽ được đặt vào một vị trí thích hợp để tích cực quản lý môi trường. Điều này cuối cùng sẽ làm tăng tính bền vững của nền văn minh nhân loại bằng cách giảm thiểu ô nhiễm và chất thải để bảo tồn trái đất.

4. Công nghiệp 5.0: Cá nhân hóa sản phẩm

Bằng cách đưa con người trở lại sản xuất công nghiệp với sự phối hợp thông minh hài hòa của các cobot, người công nhân sẽ được nâng cao kĩ năng để có thể đáp ứng nhu cầu ‘cá nhân hoá’ sản phẩm của khách hàng.

Nền công nghiệp 4.0 bắt đầu chuyển sang công nghiệp 5.0 khi chúng ta bắt đầu cho phép khách hàng tùy chỉnh sản phẩm theo những gì họ muốn. Khách hàng có thể thiết kế chương trình trực tuyến, lựa chọn chi tiết vật liệu, lựa chọn nhà cung cấp, lựa chọn nhà sản xuất… từ bất cứ nơi nào trên thế giới, với yêu cầu tốt nhất, công nghệ tốt nhất, mức giá tốt nhất…

Ví dụ, khách hàng có thể vào trang web của hãng xe hơi BMW và chọn loại xe họ muốn với hàng ngàn biến số khác nhau, không chỉ màu sắc, đèn pha, nội thất… mà còn rất nhiều chi tiết khác. Công nghiệp 5.0 đưa khái niệm ‘cá nhân hóa’ lên một tầm cao mới, đặc biệt trong lãnh vực sức khỏe. Có các ứng dụng thông minh thực hiện việc ‘cá nhân hóa điều trị y tế’: tóm tắt lối sống, yêu cầu sức khỏe và thể trạng của bệnh nhân để tạo ra một chế độ chăm sóc sức khỏe hoàn toàn tùy chỉnh và thích hợp với từng bệnh nhân. Trong lãnh vực phẫu thuật, với chuyên môn của một bác sĩ phẫu thuật được đào tạo và sự chính xác của một trợ lý cobot, các phòng phẫu thuật sẽ phục vụ bệnh nhân cách nhanh gọn và hữu hiệu. Các cơ quan cấy ghép y tế, truyền máu, trị tiểu đường và một loạt các ứng dụng y tế khác có thể được hưởng lợi từ các quy trình sản xuất được hỗ trợ bởi cobot và hợp tác với AI.

Trong Công nghiệp 5.0, quyền tự do ‘thiết kế – phản ứng – sáng tạo sản phẩm’ được trao lại cho người sử dụng sản phẩm. Con người có nhiều trách nhiệm hơn và người ta xử lí công việc trong một môi trường rộng lớn hơn nhưng dễ dàng hơn, và an toàn hơn các môi trường trước đây. Các nhà sản xuất trong các xưởng sản xuất bắt đầu cho phép các sản phẩm mang tính cá nhân hoá và chuyên biệt hơn.

Công nghiệp 5.0 sẽ cho khách hàng tham gia nhiều hơn vào việc thiết kế và chế tạo sản phẩm theo mục tiêu sử dụng của từng cá nhân bởi vì họ có nhiều thông tin hơn. Chính vì vậy, Công nghiệp 5.0 sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn. Một số lượng lớn các công việc sẽ được tạo ra trong lĩnh vực hệ thống thông minh, lập trình AI và robot, bảo trì, đào tạo, lên lịch, tái sử dụng và phát minh ra các loại robot sản xuất mới.

5. Đào tạo ảo

Công nghiệp 5.0 rất cần đến chương trình đào tạo ảo. Người ta đã bắt đầu thực hiện việc đào tạo ảo từ năm 1997 trong đó, học viên học một nhiệm vụ hoặc kỹ năng cụ thể trong một môi trường ảo. Khi huấn luyện viên và học viên không sống cùng một nơi, loại hình đào tạo này giúp giảm thiểu chi phí và thời gian đi lại cho cả hai bên.

Đào tạo ảo có thể cung cấp một môi trường an toàn và chính xác để đào tạo một lực lượng lao động lành nghề, tránh được những nguy hiểm và rủi ro mà họ có thể gặp phải khi được huấn luyện trong không gian thực.

6. Hệ thống máy móc tự trị thông minh

Hệ thống máy móc tự trị thông minh trong Công nghiệp 5.0 khác biệt đáng kể so với những gì được gọi là tự động hóa trong Công nghiệp 3.0.

Các hệ thống máy móc tự trị thông minh – cùng với các cobot – cần có được những cảm nhận giống như con người. Ví dụ, một người lao động sẽ ngừng làm việc khi nghi ngờ có điều gì đó bất thường trong không gian làm việc của mình. Đây là hành vi dự đoán rất quan trọng trong việc ngăn ngừa tai nạn tại nơi làm việc. Điều này được gọi là ‘công nghệ tầm nhìn và cảm giác’.

Các cobot sẽ được trang bị các ‘công nghệ tầm nhìn và cảm giác’ này, đồng thời chúng cũng phải ước tính được nhu cầu cần hỗ trợ, đánh giá rủi ro trong việc hỗ trợ, theo dõi các yếu tố an toàn và sau đó tiếp cận một cách an toàn để hỗ trợ con người. Chúng cũng cần được cung cấp khả năng ‘bản địa hóa’ và tính toán chính xác.

Các phương pháp ‘Học Tập Sâu (Deep Learning) ’ sẽ giúp các cobot đạt được những điều này. Các chiến lược ‘Học Tập Sâu’ về cơ bản được thành lập dựa trên các mạng lưới thần kinh nhân tạo.

7. Hệ thống sản xuất của Công nghiệp 5.0

Công nghiệp 5.0 sẽ mang lại những thách thức chưa từng có trong quá trình tương tác giữa máy móc và con người (HMI: Human-Machine Interface) vì nó sẽ đưa máy móc đến rất gần với cuộc sống hằng ngày của bất kỳ con người nào.

Công nghiệp 5.0 sẽ cách mạng hóa các hệ thống sản xuất trên toàn cầu khiến cho những người lao động không phải làm những công việc buồn tẻ, bẩn thỉu và lặp đi lặp lại, để đảm nhận những công việc hứng khởi mà hoạt động và sáng tạo nhiều hơn.

Người ta sẽ làm ra các robot rẻ hơn và có khả năng cao, được tạo thành từ các vật liệu tiên tiến như carbon và vật liệu nhẹ nhưng mạnh, được cung cấp bởi các gói pin được tối ưu hóa cao, với quy trình xử lý dữ liệu mạnh hơn và một mạng lưới các cảm biến thông minh hơn.

Công nghiệp 5.0 sẽ tăng năng suất và hiệu quả hoạt động, thân thiện với môi trường, giảm nguy cơ chấn thương và rút ngắn chu kỳ thời gian sản xuất.

8. Kết luận

Cuộc cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ xuất hiện khi ba yếu tố chính của mạng công nghiệp hiện đại – là các thiết bị thông minh, hệ thống thông minh và tự động hóa thông minh – kết hợp hoàn toàn với thế giới vật lý, và hợp tác hài hòa với trí thông minh của con người.

Thuật ngữ ‘Tự động hóa trực tuyến (online automation)’ sẽ là một cụm từ đẹp của Công nghiệp 5.0 – mô tả các ‘cobot tự trị’ hợp tác tốt đẹp với con người trong cùng một thời gian và không gian làm việc. Sự tin tưởng và độ tin cậy giữa hai bên sẽ đạt được hiệu quả đầy hứa hẹn, sản xuất tùy chỉnh và phong phú, với số lượng chất thải tối thiểu, bảo vệ được môi trường, gia tăng việc làm hứng khởi cho con người, và tạo ra vô số sản phẩm mang dấu ấn cá nhân thích hợp cho từng khách hàng.

Đặc tính rất nhân văn của Cách mạng công nghiệp 5.0 tất nhiên cũng cần sự đóng góp tích cực của mọi Kitô hữu khi họ cố gắng nhận ra dấu chỉ của thời đại mà hoạt động và hợp tác với mọi người đúng với tinh thần của Tin Mừng.

Lm Giuse Vi Hữu – Nguồn: WGPSG

THAM KHẢO

  1. Saeid Nahavandi, Industry, 5.0 – A Human-Centric, 2019.
  2. Anand Birje, A vision for Industry 5.0: Humans augmented with cobots and connectivity, 2020.
  3. M RameshCobots expected to play increasing role in post-Covid-19 automation, 2020.
  4. Phill Cartwright, What will Industry 5.0 mean for manufacturing?, 2018.
  5. Global Briefing Report Society 5.0 Feature, Society 5.0 – Updates on Japanese Business and Economy, 2019
  6. Cabinet Office, Government of Japan, Society 5.0, 2020.
Chia sẽ bài viết này trên:

Ngày 1-8: Ơn đại xá Portiuncula là gì?

Ngày 1-8: Ơn đại xá Portiuncula là gì?

Hằng năm, vào đầu tháng 8, Lịch Công Giáo lại nhắc nhở về ơn đại xá Portiuncula:

Từ trưa hôm nay (1/8) cho đến nửa đêm ngày mai (2/8), ai viếng nhà thờ giáo xứ, đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Tin Kính, thì hưởng ơn đại xá “Portiuncula”, với những điều kiện theo thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng). Ân xá này chỉ được hưởng một lần mà thôi (Ench. Indulg., ấn bản 1999, concessio 33).

Sách Lịch Công Giáo dựa vào Thủ Bản Ân Xá (Enchiridion indulgentiarum) của Tòa Thánh, năm 1999:

Một ơn đại xá được ban cho những tín hữu đọc một Kinh Lạy Cha và một Kinh Tin Kính khi viếng nhà thờ giáo xứ

  1. a) ngày lễ trọng mừng tước hiệu của nhà thờ,
  2. b) ngày “ơn đại xá Portiuncula” 2 tháng 8.

Nếu phải viếng nhà thờ hay nhà nguyện vào một ngày nhất định để được hưởng ơn đại xá, thì có thể viếng từ trưa ngày hôm trước đến nửa đêm của chính ngày.

Ơn đại xá Portiuncula là ơn mà thánh Phanxicô ở Assisi (1182-1226) đã xin Chúa Giêsu ban cho các tín hữu.

PORTIUNCULA nghĩa là “Thửa Đất Nhỏ”. Đây là thửa đất gần Assisi mà năm 1210 các đan sĩ Biển Đức đã nhượng lại để thánh Phanxicô và các anh em dùng làm nơi tu trì. Ở đó có một nhà nguyện nhỏ đổ nát. Thánh Phanxicô đã cùng các anh em xây dựng lại.

Sau này, một đại thánh đường uy nghi được xây dựng bao phủ trên nhà nguyện nhỏ bé của thánh Phanxicô xưa. Đại thánh đường này được xây dựng khoảng giữa những năm 1569-1679 và mang tước hiệu “Đức Bà Các Thiên Thần”.

Ban đầu, từ năm 1216, ơn đại xá Portiuncula chỉ được ban cho những ai viếng nhà nguyện Portiuncula. Về sau, ơn này được mở rộng đến các nhà thờ thuộc Dòng Anh Em Hèn Mọn (Dòng Phanxicô), và cuối cùng,được mở rộng đến các nhà thờ trên toàn thế giới.

Chia sẽ bài viết này trên:

Từ Sợ Hãi đến Yêu Thương

Từ Sợ Hãi đến Yêu Thương

Bức i-côn “Ba Ngôi Thiên Chúa-theo Cựu Ước”
của Andrei Rublev vẽ vào khoảng năm 1410

Khi cầu nguyện trước bức i-côn này, chúng ta cảm thấy được mời gọi tham gia vào cuộc đối thoại thân mật giữa ba Đấng Rất Thánh và đồng bàn với các Ngài. (Henri Nouwen)

Những người tích trữ vì sợ

Một số người quá quan tâm về nguồn dự trữ trên thế giới bảo nhau rằng: “Lấy gì bảo đảm là chúng ta có đủ lương thực và nguồn dự trữ cho những lúc khó khăn? Cho dù bất cứ điều gì xảy đến, chúng ta phải tìm cách để có thể tồn tại. Vậy cách tốt nhất là chúng ta hãy thu tích thật nhiều lương thực và kiến thức hầu có đủ cho chúng ta trong những lúc túng thiếu và giúp chúng ta vượt qua thời gian khủng hoảng.” Thế rồi họ bắt đầu tích trữ mọi thứ cần thiết, nhiều đến nỗi người khác phải lên tiếng phản đối: “Các anh đã thu tích quá nhiều, nhiều hơn những gì các anh cần. Trong khi chúng tôi lại không có đủ lương thực để có thể tồn tại. Hãy chia sẻ cho chúng tôi phần dư của các anh!” Nhưng những người chỉ lo tích trữ lại nói: “Không, không được đâu, chúng tôi cần phải dự trữ những thứ này phòng khi cần, nhất là trong những lúc rủi ro, nguy hiểm.” Những người kia năn nỉ: “Hiện tại chúng tôi đang chết đói, làm ơn chia sẻ cho chúng tôi ít lương thực, đồ dùng và kiến thức của các anh để chúng tôi có thể tồn tại. Chúng tôi không thể đợi thêm được nữa! Chúng tôi cần những thứ đó ngay bây giờ!” Nghe đến đây, những người chuyên lo tích trữ vì sợ thiếu lại càng sợ hơn, ngoài nỗi sợ thiếu, giờ họ lại mang thêm một nỗi sợ nữa, đó là sợ những người nghèo đói tấn công. Vì thế họ bảo nhau: “Chúng ta hãy xây tường rào chung quanh để người lạ không thể đột nhập vào lãnh địa của chúng ta.” Thế là họ bắt đầu xây những tường rào cao vừa kiên cố đến nỗi họ không thể nhìn thấy bất cứ ai ở bên ngoài, dù những người bên ngoài đó quen hay lạ! Và khi nỗi sợ gia tăng, họ nói với nhau: “Kẻ thù của chúng ta càng ngày càng nhiều và mạnh đến độ họ có thể đập phá những bức tường của chúng ta. Vì thế, nếu chúng ta chỉ xây tường thôi thì chưa đủ chắc chắn để chống lại kẻ thù, chúng ta cần đặt chất nổ và kẽm gai trên những tường rào để không còn ai dám đến gần.” Tuy nhiên, thay vì cảm thấy an toàn sau những bức tường được trang bị vũ khí chống kẻ thù, họ lại cảm thấy chính họ bị nhốt trong những nhà tù của sự sợ hãi do chính họ xây lên.

Tại sao chúng ta lại sợ hãi đến thế?

Càng biết nhiều người và càng hiểu họ thì tôi càng thoát khỏi thế lực của những sợ hãi tiêu cực. Một khi chúng ta sống trong lo sợ thì nỗi sợ càng có sức mạnh vây hãm cuộc sống của chúng ta. Sợ hãi xâm nhập vào toàn bộ cơ cấu của chúng ta, cá nhân cũng như cộng đoàn. Nhiều người đã để cho sự sợ hãi chi phối mọi động lực, suy nghĩ và hành động của họ. Chúng ta quá lo lắng cho bản thân mình và cho những người chung quanh. Chúng ta sợ điều dữ, sợ những điều không may có thể xảy ra cho mình và cho người thân.

Trong cuộc sống, hầu như lúc nào chúng ta cũng có cái gì đó để sợ: sợ những điều ở bên trong, ở chung quanh chúng ta, sợ những chuyện rất gần hoặc rất xa, sợ những điều nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được, sợ chính mình, sợ người khác và sợ cả Thiên Chúa. Trong mọi suy nghĩ, lời nói, hành động hoặc những phản ứng của chúng ta dường như luôn mang dáng dấp của sự sợ hãi. Nỗi sợ này dường như có một sức mạnh vô hình mà chúng ta không thể giũ bỏ nó được. Một khi sự sợ hãi xâm chiếm tâm hồn chúng ta cách sâu xa, nó đi vào cả trong cõi vô thức. Một cách ý thức hay không ý thức, chúng ta đã để cho nỗi sợ điều khiển tất cả mọi sự lựa chọn và quyết định của chúng ta. Sự sợ hãi nếu chưa được thuần hóa có thể trở thành một bạo chúa hung hãn hành hạ và đàn áp chúng ta phải sống như những con tin trong ngục tù của nó.

Một khi chúng ta để cho nỗi sợ hãi len lỏi vào cuộc sống của mình, chúng ta tự nhốt mình trong căn nhà của sợ hãi và nhìn mọi thứ bên ngoài qua lăng kính sợ hãi. Vì thế, những gì chúng ta thấy chỉ là bế tắc, thiếu thốn, khan hiếm và xa tránh. Ai bị chi phối bởi sức mạnh của sợ hãi, tâm trí họ luôn cảm thấy căng thẳng và muốn xa tránh người khác. Những ai làm chúng ta sợ hãi, thường sai khiến chúng ta làm những gì họ muốn. Khi sợ người nào, chúng ta thường để cho người đó điều khiển chúng ta. Sự sợ hãi là một trong những vũ khí hữu hiệu nhất trong tay những ai muốn điều khiển chúng ta. Những người đó có khi là bố mẹ, thầy cô giáo, bác sĩ, cấp trên, giám mục, cha xứ hoặc Thiên Chúa. Một khi bị sợ hãi khống chế, chúng ta suy nghĩ, nói năng và hành động như một người nô lệ.

Nhìn vào mối quan tâm của xã hội hôm nay, những chủ đề và chuyên mục trên tạp chí, trên đài phát thanh thường tập trung vào quyền lực và sự sợ hãi. Mọi người luôn lo lắng tự hỏi: Tôi sẽ phải làm gì hoặc tôi sẽ sống ra sao nếu tôi không tìm được một người bạn đời, không mua được nhà, không tìm được việc làm xứng hợp, không tìm được người bạn hay một vị ân nhân nào giúp tôi? Tôi sẽ phải làm gì nếu tôi bị đuổi việc? Nếu như tôi bị bệnh hoặc gặp tai nạn thì tôi phải làm thế nào? Làm sao tôi có thể vượt qua được nỗi đau nếu tôi mất đi người bạn thân, hoặc hôn nhân của tôi tan vỡ? Nếu chiến tranh xảy ra thì cuộc sống của tôi sẽ như thế nào? Thực ra, sự thật vô hình hàm chứa trong những câu hỏi này là: sẽ chẳng bao giờ có những câu trả lời khỏa lấp được sự sợ hãi trong tâm hồn họ vì họ luôn luôn cảm thấy sợ, hết sợ chuyện này lại đến chuyện khác. Việc này giải quyết chưa xong lại xuất hiện nỗi sợ khác. Để đi đến quyết định sinh con, chúng ta vạch ra rất nhiều thứ phải làm liên hệ đến đứa con như sự lo lắng liệu mình có đủ khả năng để trợ cấp cho con vào đại học hay không? Việc nuôi dạy con sẽ như thế nào? Và cứ thế, chúng ta cứ bị cuốn vào hết nỗi lo này đến nỗi lo khác liên quan đến nghề nghiệp, nơi mình sống, bạn bè, người thân và rất nhiều thứ khác. Nếu chúng ta cho rằng, chúng ta sẽ không hạnh phúc nếu không được bạn bè tán thành, ca tụng? Hoặc chúng ta nghĩ là sẽ bất hạnh nếu không có đủ tiền. Những ý nghĩ như thế sẽ khiến chúng ta tiếp tục ở trong tình trạng sợ hãi lo lắng và cố tìm mọi cách để thu tích, để có nhiều hơn nữa. Cứ thế, từ nỗi sợ này lại sinh ra nỗi sợ khác. Sợ hãi chẳng bao giờ nảy sinh tình yêu.

Tác động của sự sợ hãi trên cuộc đời chúng ta có thể rất tinh vi. Trong ý thức, chúng ta có thể không dám nghĩ mọi người chung quanh là kẻ thù của chúng ta, tuy nhiên, chúng ta vẫn có những thái độ và ứng xử như thể họ là kẻ thù. Ngày qua ngày, nếu điều đó cứ tiếp tục xảy ra, thì một ngày nào đó, chúng ta sẽ cảm thấy mình trở thành kẻ xa lạ với những người hàng xóm láng giềng và ngay cả với những người sống chung một nhà với chúng ta. Chúng ta cảm thấy sợ hãi, cô lập và bất lực. Thay vì tự tin và tự do, chúng ta lại cảm thấy lo âu buồn phiền và tê liệt. Thay vì sống trong niềm vui và hy vọng, chúng ta lại cảm thấy buồn phiền và trống rỗng. Thay vì sống trong căn nhà trào tràn tình thương, nơi Thiên Chúa ngự trị, chúng ta lại nhốt mình trong ngục tù của sự sợ hãi.

NGÔI NHÀ NƠI TÌNH YÊU ĐƯỢC VUN TRỒNG

Trong vài tháng được chia sẻ và quan sát đời sống của những anh chị em nghèo khổ, bị áp bức tại Châu Mỹ La Tinh, tôi dần nhận ra rằng họ là những người rất tự do, không sợ gì cả. Họ sống rất đơn sơ, chân thành và luôn thể hiện lòng biết ơn giữa một đất nước đầy những mối nguy hiểm, sợ hãi. Ở nơi đó, tôi nhìn thấy những người nghèo đói, đau đớn và khổ cực. Cũng nơi đó tôi tìm được niềm vui, sự bình an và lòng biết ơn. Tôi cũng sớm nhận ra rằng, sự áp bức và sự nghèo đói của Nam Bán cầu là những nỗi lo sợ, thống khổ và sự giam hãm của những người sống trong Bắc Bán cầu. Một cách nào đó, hai thực tại này không thể tách rời nhau. Sự đau khổ và mất tự do được tạo nên bởi nhu cầu tích trữ và sợ hãi hoang mang không tách rời khỏi những đau khổ mà anh chị em đang sống trong các vùng mà chúng ta gọi là “quốc gia đang phát triển” phải hứng chịu. Tại Bắc Mỹ, dường như chúng ta quên đi những điều dẫn chúng ta tới cuộc sống yêu thương. Chúng ta dường như đã đánh đổi niềm hy vọng ở trong ngôi nhà yêu thương của Chúa bằng những bức tường kiên cố, hệ thống an ninh trật tự và những cộng đồng kín cổng cao tường.

Thánh Gioan đã rất chí lý khi khẳng định tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi. Ở đây thánh nhân muốn ám chỉ đến một tình yêu thánh thiêng đến từ Thiên Chúa. Ngài không đưa ra một chiến lược cụ thể nhằm đạt được mục tiêu hay phát triển hệ thống an ninh. Ngài cũng không nói đến những cảm xúc của con người hay sự hòa hợp tâm lý, hấp dẫn lẫn nhau hoặc những cảm xúc sâu đậm thu hút nhau. Tất cả những điều này đều có giá trị của nó. Tuy nhiên, tình yêu hoàn hảo mà thánh Gioan muốn nói ở đây là một tình yêu phổ quát và vượt trên mọi dự định, cảm xúc, tình cảm và đam mê. Tình yêu hoàn hảo là một tình yêu linh thánh, trong đó chúng ta được mời gọi thông phần vào sự mật thiết của Thiên Chúa và học biết ở lại trong sự mật thiết với Đấng là tác giả và là cội nguồn của tình yêu. Sự mật thiết này không khởi đi từ con người nhưng phát xuất từ Thiên Chúa và do sáng kiến của Chúa – Đấng đã đến cắm lều và ở giữa chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta vào ở trong nhà của Ngài, nơi mà Ngài đã chuẩn bị phòng ốc sẵn sàng cho chúng ta.

Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU

Thánh kinh Cựu ước cũng như Tân ước rất nhiều lần đã dùng từ “nhà – home”. Các Thánh vịnh luôn diễn tả một sự khao khát được ở trong nhà của Thiên Chúa, được ẩn náu dưới cánh của Ngài và trú ẩn an toàn trong đền thánh Chúa; các Thánh vịnh ca ngợi nơi thánh của Chúa, là lều tạm lý tưởng và nơi trú ẩn an toàn vững chắc. Cụm từ “ở trong nhà Chúa” diễn tả nỗi khát mong trong những lời cầu nguyện tâm tình trên đây. Thật là ý nghĩa khi thánh Gioan mô tả Chúa Giêsu – Ngôi Lời Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Thánh Gioan không chỉ kể lại cho chúng ta về việc Chúa Giêsu đã mời gọi thánh nhân và người anh là ông Andrê đến và ở lại trong nhà của Chúa (Ga 1, 38-39) nhưng thánh Gioan còn khéo léo cho chúng ta thấy cách thức Chúa Giêsu thể hiện Ngài chính là Đền Thờ mới (Ga 2,19). Điều này được biểu lộ rõ ràng trong diễn từ ly biệt, khi Chúa Giêsu cho thấy Ngài chính là nơi cư ngụ đích thực của chúng ta: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4). Chúa Giêsu, nơi cư ngụ trọn vẹn của Thiên Chúa, đã trở thành nhà – nơi ở của chúng ta. Bằng cách chọn ở lại trong chúng ta như nhà của Chúa, Chúa Giêsu cho phép chúng ta ở lại trong Chúa như nhà của chúng ta. Bằng việc xây dựng mối tương quan thân mật với chúng ta, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tham dự vào mối tương quan thân mật giữa Ngài với Chúa Cha. Bằng việc chọn chúng ta làm nơi ở yêu thích của Ngài, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta chọn Ngài làm nơi cư ngụ yêu thích của chúng ta. Có thể chúng ta sẽ phân vân tự hỏi làm sao chúng ta có thể ở trong ngôi nhà tình yêu? Hoặc phải chăng vì chúng ta đã quen sống trong sự sợ hãi đến độ không còn khả năng nghe được lời mời gọi, “Đừng sợ!” của Chúa?”

ĐỪNG SỢ!

Đây là lời quả quyết mà không chỉ một mình chúng ta cần học để có thể nghe thấy nhưng còn phải được minh chứng bằng cuộc sống để tất cả mọi người đều có thể cảm nhận và nghe được lời này. Cụm từ “Đừng sợ!” được nhắc đến nhiều lần trong Tân ước. Khi sứ thần của Chúa xuất hiện, lời đầu tiên của các ngài, đó là “đừng sợ!” Đây cũng là lời sứ thần Gabriel đã nói với ông Giacaria khi hiện ra với ông trong đền thờ và báo cho ông biết vợ ông, bà Elizabeth sẽ sinh một con trai; cũng với lời này, sứ thần Gabriel nói với Đức Maria khi hiện ra với Mẹ trong căn nhà của Mẹ tại làng Nazareth. Sứ thần báo cho Mẹ biết là Mẹ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu.

Qua cuộc đời sứ vụ, Chúa Giêsu đã nhiều lần dạy các môn đệ đừng nhát đảm, đừng để cho sự sợ hãi thống trị. Khi các môn đệ hoảng sợ trước các đợt sóng dữ dội, Chúa Giêsu vẫn thản nhiên ngủ trên thuyền! Như các môn đệ đầu tiên, mỗi khi nỗi lo âu ập đến làm chúng ta chao đảo, chúng ta cũng muốn đánh thức Chúa và hoảng hốt thưa với Ngài: “Xin cứu chúng con, lạy Chúa, vì chúng con sắp chìm rồi!” Ngài cũng sẽ bảo với chúng ta: “Hỡi những người kém lòng tin, sao các con lại hoảng hốt đến thế?” Và Ngài ngăm đe gió và biển, biển lặng như tờ (x. Mt 8,23-27). Lời trấn an này cũng được lặp lại cho các phụ nữ khi các bà đến thăm mộ Chúa và thấy tảng đá bị lăn sang một bên: “Đừng sợ, đừng sợ, đừng sợ.”

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ trong căn phòng đóng kín vì sợ, Ngài nói với các ông: “Hãy an tâm, chính Thầy đây, đừng sợ” (Mt 28,10). “Thầy là Thiên Chúa tình yêu, Đấng mời gọi các con đến lãnh nhận món quà của niềm vui, của sự bình an và lòng biết ơn để các con trút bỏ hết mọi nỗi sợ hãi lo âu. Nhờ đó các con có thể chia sẻ cho người khác kinh nghiệm về những điều các con sợ phải buông bỏ.” Lời mời gọi của Chúa Giêsu gọi mời tất cả chúng ta hãy bước ra khỏi căn nhà của sự sợ hãi để đến ở trong mái nhà của tình yêu; ra khỏi sự giam hãm của chốn ngục tù để bước vào vùng trời tự do: “Hãy đến với Ta, hãy vào trong nhà của Ta, căn nhà của tình yêu!”

“Đừng sợ!” – lời trấn an được lặp đi lặp lại nhiều lần. Đây là lời mà chúng ta cần nghe nhất. Một lời chứa đựng những từ như “Fear not!- Đừng sợ!” đã và đang được vang lên trong suốt dòng lịch sử nơi môi miệng các sứ giả của Chúa, nơi lời của các thiên thần hoặc các thánh, nhất là lời của chính Chúa Giêsu. Đó là lời mở ra một cuộc sống hoàn toàn mới – cuộc sống trong mái ấm yêu thương, trong căn nhà của Chúa.

Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng ta dọc dài cuộc sống, Ngài dạy dỗ và chỉ lối cho chúng ta trở về với mái ấm yêu thương. Nhưng thật không dễ để hiểu được những bài học của Chúa vì chúng ta thường bị chi phối bởi rất nhiều nỗi sợ hãi hoang mang. Chúng ta cảm thấy lo lắng sợ hãi khi nhìn vào những công việc hoặc những nhiệm vụ tưởng như vượt quá sức mình, khi phải đối diện với những thách đố, những đợt sóng dữ dội, những cơn lốc và bão tố gầm thét. Chúng ta thường thốt ra những câu nói đượm vẻ hoài nghi như: “Vâng, vâng, … nhưng cứ nhìn xem, thực tế đâu có thể bảo đảm cho tôi khỏi những lo lắng.” Chúa Giêsu, một vị Thầy đầy kiên nhẫn, Ngài không ngừng dạy chúng ta phải xây đắp cho căn nhà – quê hương đích thực của mình ở đâu. Ngài dạy chúng ta nên tìm kiếm điều gì và chọn lựa lối sống nào hầu dẫn chúng ta đến tình yêu đích thực. Khi chúng ta phân vân, mất định hướng, chúng ta thường tập trung mọi chú ý của mình vào những khó khăn, nguy hiểm mà quên đi những điều chúng ta đã nghe. Những lúc đó, Chúa Giêsu tiếp tục nhắc nhở chúng ta: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong các con. Ai ở lại trong Thầy thì Thầy sẽ ở lại với người ấy và người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái…. Thầy đã nói với các con điều này để niềm vui của Thầy ở mãi trong các con, và niềm vui của các con nên trọn vẹn” (Ga 15,4 – 5.11). Quả vậy, Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta hãy ở trong ngôi nhà yêu thương của Ngài.

TỪ SỢ HÃI ĐẾN YÊU THƯƠNG

Cầu nguyện là con đường dẫn chúng ta ra khỏi ngôi nhà sợ hãi để bước vào ngôi nhà tình yêu. Cầu nguyện giúp chúng ta vượt thắng nỗi lo sợ do bị lệ thuộc vào một cá nhân nào đó, bị chi phối bởi cách họ suy nghĩ về chúng ta và cách hành xử của họ đối với chúng ta. Chúng ta lo lắng “anh hoặc chị ấy nghĩ gì về tôi? Ai thực sự là bạn của tôi? Kẻ thù của tôi là ai? Ai tán thành tôi, khen ngợi tôi hay phản đối tôi? Ai nói tốt hoặc nói xấu về tôi?” Chúng ta cứ mải lo lắng băn khoăn đi tìm ảnh hưởng, giá trị và căn tín đời mình từ người khác. Một khi chúng ta để cho người khác quyền quyết định về giá trị bản thân hay lòng tự trọng của mình tùy vào cách họ phản ứng, suy nghĩ hoặc nói về chúng ta, lúc đó, chúng ta trở thành nô lệ cho những mối tương quan. Chúng ta trở thành những người bị lệ thuộc hoặc ăn bám vào một ai đó để họ bố thí cho mình chút tình thương, giá trị và chỗ đứng của bản thân mình. Và nếu không được người ấy nhìn nhận, chúng ta sẽ cảm thấy bị hụt hẫng và mất định hướng. Chúng ta đã để cho người đó quyết định căn tính và phẩm giá của mình. Dần dần sự lệ thuộc cách mù quáng này khiến chúng ta mất định hướng và mục đích sống. Lúc đó, thay vì chọn sống cuộc sống của mình cách tự do thoải mái, chúng ta lại sống trong sự bất an, lo âu và sợ hãi.

Trong một thế giới đầy những hỗn loạn, bất an, một trong những cách cầu nguyện tốt nhất là chúng ta chọn tình yêu hơn là lo lắng băn khoăn, chọn mở rộng tâm hồn để cảm nhận sự hiện diện sống động của Đấng luôn yêu thương che chở chúng ta. Khi chúng ta đạt đến sự trưởng thành thiêng liêng và cảm nghiệm sâu xa về sự hiện diện của Chúa, đồng thời ý thức rằng cuộc sống của chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Thiên Chúa và sự thông hiệp với Ngài cho dù hoàn cảnh bên ngoài có thế nào đi nữa, chính lúc đó, chúng ta mới có thể rũ bỏ mọi nỗi sợ hãi đang đeo bám tâm trí chúng ta. Thực tế cho thấy, thật hiếm có một ngày trong đời, một ngày mà chúng ta không phải đối diện với bất kỳ một nỗi lo âu nào cả, bên trong cũng như bên ngoài. Thế nhưng, cho dù cuộc sống luôn phải đối diện với trăm nghìn mối lo, chúng ta không phải sống trong sự sợ hãi, vì tình yêu mạnh hơn sợ hãi: “Trong tình yêu không có sợ hãi; tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” (1Ga 4,18).

Thật sự tôi chưa bao giờ thấy ở đâu mô tả về ngôi nhà của tình yêu đẹp và đầy đủ ý nghĩa như nơi bức i-côn về Chúa Ba Ngôi của họa sĩ Andrei Rublev đã vẽ vào năm 1410 để tưởng nhớ thánh Sergius (1313 – 92) – vị thánh vĩ đại người Nga. Đối với tôi, bức tranh i-côn như là cánh cửa sổ hé mở cho chúng ta nhìn vào bên trong ngôi nhà tình yêu. Quả thật, câu chuyện đằng sau bức tranh gợi mở cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa.

Trước đây khá lâu, ở nước Nga, nhiều cuộc bạo động xảy ra tại một thành phố nhỏ khiến các thầy trong Đan viện cảm thấy lo lắng sợ hãi đến nỗi họ không thể cầm trí cầu nguyện được. Trước tình hình đó, Viện phụ đã mời Rublew, một họa sĩ nổi tiếng về tranh i-côn, vẽ một bức tranh hầu giúp các thầy có thể duy trì đời sống cầu nguyện ngay giữa những hỗn loạn, hiểm nguy và sợ hãi. Rublev đã vẽ một bức i-côn dựa trên câu chuyện trong sách Sáng Thế kể lại việc ba thiên thần đến thăm ông Abraham và cùng chia sẻ với nhau quanh bàn tròn của tình thân và lòng hiếu khách. Trong bức tranh i-côn, nhân vật ở giữa chỉ hai ngón tay về chén thánh và nghiêng người về phía nhân vật ở bên trái, Đấng đang dâng lời chúc tụng. Nhân vật thứ ba ngồi phía bên phải chỉ về lỗ trống hình vuông ở trên mặt bàn. Từ những chuyển động của các nhân vật và những chi tiết của bức tranh, người xem như được mời gọi tham dự vào cuộc đối thoại cùng với những chuyển biến thiêng liêng diễn ra khi đàm đạo. Ba nhân vật đã hợp thành vòng tròn bí nhiệm được chuyển động theo một sự cân xứng hoàn hảo. Vì thế, khi các thầy cầu nguyện trước bức tranh i-côn và tập trung tâm trí vào vòng tròn của tình yêu, sự thân mật và lòng hiếu khách, họ bỗng nhận ra rằng họ chẳng có gì phải sợ. Khi các thầy tự cho mình trở thành thành viên của cộng đoàn được thiết lập bởi ba Đấng Thánh, đồng thời để mình bị lôi cuốn vào trong vòng tròn của sự an toàn và tình yêu thương, lúc đó các thầy sẽ cảm thấy vững tâm và cầu nguyện tốt.

Đứng trước bức i-côn này, tôi ý thức về những nỗi lo lắng đang có trong tôi. Nhưng khi tôi tập trung mọi chú ý vào ô vuông trên mặt bàn, tôi cảm thấy đó như một chiếc cửa sổ dẫn tôi bước vào nơi sâu thẳm trong sự thân mật với Thiên Chúa. Điều này giúp tôi xác tín hơn rằng, dù tôi vẫn phải đối diện với những khó khăn thử thách của một thế giới ngập tràn những nỗi ghét ghen và sợ hãi, thì chính sự thân tình, lòng hiếu khách và sự niềm nở đón tiếp của các nhân vật trong bức tranh đã trở thành con đường dẫn tôi đi sâu vào trong mầu nhiệm của cuộc sống thần linh.

HÃY LƯU LẠI TRONG TÌNH YÊU

Buông bỏ sợ hãi và nhìn nhận sự thật về chính mình luôn là một thách đố. Khi chúng ta quên đi căn tính đích thực của mình – con yêu dấu của Chúa, chúng ta sẽ đánh mất mục đích sống, sẽ cảm thấy bất an, sợ hãi. Vì sợ nên chúng ta không còn tự do để quyết định và hành động. Chỉ khi nào chúng ta dành chỗ cho Thiên Chúa và bắt đầu lắng nghe tiếng nói yêu thương của Ngài, chúng ta mới cảm nhận được một tình yêu đích thực và hoàn hảo. Dần dần chúng ta có thể giũ bỏ mọi nỗi sợ hãi và nhìn nhận phẩm vị người con yêu dấu của mình trong tình yêu thương của Chúa. Chắc chắn sự sợ hãi sẽ không hoàn toàn biến mất khỏi cuộc sống của chúng ta. Có thể ngày mai nó sẽ trở lại chi phối chúng ta và chúng ta cũng sẽ phải tiếp tục chiến đấu với nó, nhưng không phải vì thế mà chúng ta lo sợ hay hoảng loạn, chúng ta lại tiếp tục hành trình buông bỏ sợ hãi để đạt đến yêu thương. Mỗi lần chúng ta cảm thấy sợ, chúng ta hãy đặt mình trong sự hiện diện của Chúa, lắng nghe tiếng nói của Chúa và để Ngài dẫn chúng ta về với tình yêu hoàn hảo của Ngài, một tình yêu có sức mạnh giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi và ban cho chúng ta sự tự do đích thực.

Thật không dễ khi phải chống lại và vượt ra khỏi sự giam hãm của những thế lực tối tăm để chọn sống trong mái ấm yêu thương như là nơi trú ẩn đích thực của mình. Lựa chọn này không chỉ làm một lần cho tất cả nhưng đây là một lựa chọn liên tục trong hành trình thiêng liêng. Lựa chọn này được củng cố trong các việc thực hành thiêng liêng như: chuyên chăm cầu nguyện, siêng năng đọc và chia sẻ Lời Chúa theo phương pháp lectio divina và khao khát sống sự sống của Chúa trong mỗi phút giây của cuộc sống. Các việc đạo đức như thế cùng với những tập luyện thiêng liêng khác nhằm giúp chúng ta ý thức hơn về căn tính người con yêu dấu của mình. Những luyện tập căn bản như lòng hiếu khách, tình bạn thiêng liêng, nguyện gẫm, sự tha thứ và tinh thần vui tươi sẽ giúp chúng ta dần dần thoát khỏi sự giam hãm của sợ hãi để lưu lại trong mái nhà của tình yêu. Lúc đó chúng ta có thể mặc lấy tâm tình Thánh vịnh gia thốt lên, “tôi được ở trong đền Người, những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23,6).

MỘT MÁI ẤM YÊU THƯƠNG DÀNH CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI

Việc thoát khỏi sự giam hãm thống trị của sợ hãi để sống trong mái nhà của tình yêu là một việc cần thiết, không chỉ cho một cá nhân mà cho sự tồn tại của cả gia đình nhân loại. Nếu chúng ta suốt ngày chỉ lo nghĩ đến những điều làm chúng ta sợ khác như: sợ khủng bố, sợ xã hội chủ nghĩa, sợ đất nước mình không thể tiếp tục giữ được danh tiếng là một cường quốc hùng mạnh và giàu có nhất thế giới. Hoặc có khi chúng ta bị chi phối bởi những nỗi sợ như làm sao có thể đầu tư nhiều thời gian, tiền bạc và năng lượng hơn để có thể chế tạo thật nhiều vũ khí tối tân, có sức hủy diệt địa cầu nhanh hơn. Trên bình diện quốc gia, chúng ta phải thoát khỏi những ước muốn thống trị cùng với những mối đe dọa của sự chết để tìm ra những phương thế củng cố cho việc hòa giải, sự hợp tác và tương trợ mang tính quốc tế. Chúng ta cần lập một chương trình đào tạo về sự bình an, về mục vụ bình an hoặc về khả năng tạo thêm nguồn lực để duy trì sự bình an. Chúng ta cần đổi mới hệ thống giáo dục, tổ chức tôn giáo, luật lệ trao đổi trên thương trường và ngay cả những trò tiêu khiển, giải trí, để tất cả đều nhắm đến mục đích là xây dựng sự bình an như mối quan tâm hàng đầu của mọi hoạt động. Chúng ta cần một trật tự mới về kinh tế vượt trên mọi chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội để tái tạo sự bình an và công bằng như mục tiêu chung của xã hội. Trên bình diện quốc gia, chúng ta cần tin rằng một trật tự mang tính quốc tế là điều khả thi và những ganh đua, kình địch giữa các quốc gia hoặc các khối liên minh nay đã lỗi thời.

Liệu chúng ta có thể phát triển một linh đạo toàn cầu trong đó những chỉ dẫn của Tin mừng không chỉ dừng lại ở thái độ và lối ứng xử của những cá nhân nhưng còn là của các quốc gia? Phải chăng chúng ta cần có một cuộc thay đổi rộng lớn, một cuộc cách mạng đi từ sợ hãi đến yêu thương, từ sự chết đến sự sống, từ tình trạng tù hãm đến tái sinh sự sống mới, từ thái độ sống thù nghịch đến lối sống tự do của con cái Thiên Chúa, những người thuộc về cùng một gia đình nhân loại? Có thể nhiều người sẽ cho rằng, cuộc cách mạng trên đây là hão huyền hoặc chỉ là những ý tưởng ngây ngô, không thực tế. Họ đón nhận và thực hiện những giáo huấn của Chúa Giêsu trong phạm vi cá nhân và gia đình họ, nhưng khi áp dụng những giáo huấn đó cho các vấn đề thuộc phạm vi quốc tế, họ lại thấy những giáo huấn này không thực tế và hầu như không tưởng. Nhưng Chúa Giêsu đã sai các môn đệ của Ngài ra đi để làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài. Ngài không chỉ sai các môn đệ đến với một cá nhân nào đó nhưng là đến với muôn dân, dạy cho mọi dân tộc tuân giữ các giới răn và mệnh lệnh của Chúa (Mt. 28,19-20). Vào ngày sau hết, Chúa Giêsu sẽ tập hợp tất cả các nước và sẽ hỏi họ: “Các người đã làm gì cho các anh em bé nhỏ nhất của Ta?” (Mt 2, 31-46). Hành trình trở nên môn đệ ở đây phải hiểu là hành trình vượt trên sự đạo đức cá nhân hoặc trung thành cộng đồng để đến với muôn dân, làm cho mọi dân nước đón nhận Tin mừng của Chúa. Không chỉ một vài cá nhân, nhưng là tất cả mọi quốc gia, được mời gọi thoát khỏi sự giam hãm của sợ hãi – nguyên nhân của mọi nỗi nghi ngờ, hận thù và chiến tranh, để bước vào ngôi nhà chung của tình yêu, nơi đó sự hòa giải, chữa lành và bình an ngự trị.

Các thầy dạy đàng thiêng liêng tuyệt vời như thánh Bênêđictô, thánh Catarina Siena, mục sư Martin Luther King, cha Thomas Merton, tất cả đều dẫn chúng ta tới một chân lý sức mạnh của sự đổi mới trong Lời Chúa không chỉ giới hạn trong phạm vi an toàn của cá nhân hoặc giữa những tương quan cá nhân nào đó nhưng sức mạnh đó phải được lan tỏa trên phạm vi toàn thế giới. Một thế giới được gọi là Giêrusalem mới, một thế giới mới, một cộng đồng mang tính toàn cầu và thuộc về tất cả mọi người, mọi quốc gia. Những ai dám tham gia vào vòng tròn thân mật của Chúa, họ sẽ là những vị thánh Phanxicô mới của thời đại. Họ được mời gọi và sai đi để hoàn tất vòng tròn thân mật của Thiên Chúa bằng sự đáp trả của họ. Họ cho chúng ta một cái nhìn về một trật tự mới, một trật tự được nảy sinh từ những đổ nát của cái cũ. Thế giới đang chờ đợi những vị thánh mới – những người nam, người nữ ngôn sứ được cắm rễ sâu trong tình yêu của Chúa, nhờ đó họ được tự do để hình dung và thiết tạo một thế giới mới nơi công lý ngự trị, nơi không còn chiến tranh, nơi mà những thể chế, trật tự cũ sẽ bị loại bỏ. Chúng ta mong ngóng ngày mà tất cả chúng ta được lưu lại trong tình yêu, ở đó chúng ta được giải thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi, không chỉ trong chốc lát nhưng là được tự do hoàn toàn và mãi mãi.

Nhà của Chúa là nhà của tình yêu được dành cho tất cả mọi người. Trong ngôi nhà, chúng ta được ở trong quỹ đạo của sự an toàn, niềm nở và thân mật. Ở đó, chúng ta sẽ dần dần giũ bỏ được những nỗi sợ hãi của mình để học biết tin yêu phó thác. Trong nhà đó, chúng ta tìm được tự do, niềm vui và sự gần gũi thân thương. Khi sống trong ngôi nhà của tình yêu, chúng ta dễ dàng kiến tạo bình an và thực thi công bình. Được sống trong bầu khí yêu thương, chúng ta sẽ thi hành sứ vụ cách nhiệt thành và hiệu quả hơn. Nơi mái ấm yêu thương, chúng ta được tự do thể hiện chính mình, được tự do hoạt động, tin tưởng và yêu thương mà không phải sợ bất cứ điều gì.

Những thực hành cụ thể cho việc huấn luyện thiêng liêng

Ai trong chúng ta cũng thấy rằng thế giới chúng ta đang sống đầy những mối nguy hiểm, sợ hãi và bấp bênh. Nhiều người trong chúng ta phải sống trong những hoàn cảnh nơi mà những người chung quanh chỉ cảm thấy thú vị và phấn khởi trước những thất bại của chúng ta. Chúng ta cũng có thể phải sống trong một môi trường bị bao vây bởi những người luôn muốn làm hại chúng ta, coi chúng ta như kẻ thù. Chúng ta cũng có thể cảm thấy sợ vì có quá nhiều thay đổi đang diễn ra trên thế giới, nơi mà dường như sự “thống lãnh và quyền lực” của những bậc thống trị thế giới tối tăm này (Ep 6,12) đang xâm chiếm cơ cấu xã hội đến nỗi sự bình an và công lý không còn đất sống. Mặc dù chúng ta không muốn sợ những người chúng ta gặp ngoài đường, nhưng thực tế khiến chúng ta phải sợ họ. Chúng ta không muốn khóa xe hơi, xe đạp hoặc thậm chí khóa cửa nhà của chúng ta, nhưng với tình trạng xã hội như hôm nay buộc chúng ta phải khóa để bảo đảm an toàn. Chúng ta không muốn cảnh báo bố mẹ, con cái hay bạn bè không nên đi ra ngoài một mình, nhưng vì sự bất ổn của an ninh buộc chúng ta phải nhắc nhở họ. Sống trong một xã hội như thế, làm sao chúng ta có thể vượt ra khỏi mọi nỗi sợ hãi để dám sống hoàn toàn cho tình yêu?

Hồi tâm và viết nhật ký

Sau đây là những câu hỏi đơn giản giúp chúng ta suy niệm riêng hoặc thảo luận với một nhóm nhỏ:

  1. Ngày hôm nay, điều gì đã khiến bạn cảm thấy sợ và lo lắng?
  2. Ai hoặc điều gì làm bạn sợ nhất?
  3. Khi bạn sợ thiếu thốn, bạn thường tích trữ hoặc bám víu vào điều gì?
  4. Lúc nào bạn cảm thấy an toàn và không sợ hãi? Đó là những hoàn cảnh nào?
  5. Ngày hôm nay, Chúa đã thể hiện tình yêu và sự quan tâm của Ngài đối với bạn bằng cách nào?
  6. Thư của Thánh Gioan chương 1,18 “tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” có ý nghĩa gì đối với bạn?

Visio Divina[1]: Sống trong ngôi nhà của tình yêu

Hãy dành ra ít là 10 phút cho việc cầu nguyện bằng hình ảnh. Hãy nhìn thật lâu và chăm chú vào bức i-côn về Chúa Ba Ngôi của họa sĩ Rublev. Hãy lắng nghe cha Henri Nouwen nói về bức i-côn này trong Nét đẹp của Thiên Chúa: “Khi đặt mình trước tác phẩm và cầu nguyện, tôi có cảm tưởng như được mời gọi tham gia vào cuộc trò chuyện thân mật của Thiên Chúa và được đồng bàn với Thiên Chúa. Ba Ngôi Sự chuyển động từ Chúa Cha sang Chúa Con và sự chuyển động của Chúa Con và Chúa Thánh Thần về phía Chúa Cha trở thành một chuyển động thiêng liêng giúp tôi nâng tâm hồn lên và cảm thấy bình an.”

Tiếp đến là quan sát vòng tròn thân mật được tạo ra bởi ba Đấng Rất Thánh trong bức tranh. Kế đó, đưa mắt nhìn về phía ô vuông ở trên mặt bàn. Vài phút sau, chúng ta ngừng nhìn vào bức tranh và cầu nguyện lớn tiếng bằng một trong những câu Thánh vịnh dưới đây. Rồi lại tiếp tục nhìn vào bức tranh và đi vào trong vòng tròn thân mật.

“Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.
Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo”
(Tv 46,1)

“Nhưng con đây vẫn tin tưởng nơi Ngài, lạy CHÚA,
dám thưa rằng: Ngài là Thượng Đế của con”
(Tv 31,14).

“Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,
còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt”
(Tv 95,7).

“Tôi tin chắc rằng: dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).

“Lòng nhân hậu và tình thương Chúa,
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên”
(Tv 23,6).

Vào cuối giờ cầu nguyện, bạn hãy đọc lớn tiếng Thánh vịnh sau đây:

“Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền CHÚA tôi
mọi ngày trong suốt cuộc đời, …
Ngày tôi gặp tai ương hoạn nạn,
Người che chở tôi trong lều thánh,
đem giấu tôi thật kín trong nhà,
đặt an toàn trên tảng đá cao.
Nên giờ đây tôi ngẩng đầu đắc ý,
nhìn quân thù vây bủa chung quanh.
Tôi sẽ dâng lễ tế trong thánh điện,
lễ tạ ơn, nhã nhạc vang lừng,
tôi sẽ đàn ca mừng kính CHÚA”
(Tv 27,4-6).

Dịch từ cuốn “Spiritual Formation” của cha Henri Nouwen
Chuyển ngữ: Nt. Theresa Nguyễn Thị Ngọc Hà
Nguồn: Nouwen, Henri JM. Spiritual Formation: From Fear to Love. HarperSanFrancisco, 2006, p. 72 – 88.
[1] Visio Divina là phương pháp cầu nguyện bằng hình ảnh

Chia sẽ bài viết này trên:

ẢNH THÁNH TRONG NHÀ THỜ

ẢNH THÁNH TRONG NHÀ THỜ

Chúng ta đã xem xét những đòi hỏi về chức năng của kiến trúc nhà thờ, với những đề nghị hay yêu cầu để kiến trúc ấy phù hợp với phụng vụ và phù hợp với các khía cạnh khác trong đời sống của giáo xứ. Nhưng còn một điều khác nữa mà kiến trúc nhà thờ cần đáp ứng ngoài các khía cạnh chức năng: nhà thờ cũng có giá trị quan trọng về mặt biểu tượng. Nghĩa là, hình thức của nhà thờ tự nó nói lên được ý tưởng về “nhà thờ” vừa cho cộng đoàn giáo xứ vừa là một thành phần trong cơ cấu kiến trúc đô thị. Một cách nào đó nhà thờ cần nói lên được mình là cái gì: không phải là một toà nhà thế tục có Thánh giá đứng trên, nhưng là một toà nhà thánh: một nơi dành riêng cho Thiên Chúa và dân của Ngài. Hơn nữa, kiến trúc nhà thờ cần nói cho chúng ta về Nhiệm Thể Chúa Kitô, về Vương Quốc của Thiên Chúa, hay về Đền Thánh Giêrusalem trên Trời. Ở một chừng mực nào đó, một nhà thờ có thể bắt đầu có được đặc tính này nếu thật sự được sắp đặt hợp lý cho việc cử hành phụng vụ và cho đời sống của giáo xứ. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhìn xa hơn việc bài trí theo chức năng để ngay cả ngôn ngữ và văn phạm của kiến trúc cũng có thể góp phần làm cho con người hiểu được những điều thuộc về Thiên Chúa. Để đưa ra một hướng dẫn cho vấn đề về các khía cạnh biểu tượng trong kiến trúc toà nhà, có thể sẽ hữu ích khi chúng ta nhìn trước hết vào ảnh tượng thánh, còn được gọi là icon, trên quy mô nhỏ, xem xét giá trị thần học, cách thực hiện trong lịch sử, và vị trí của ảnh tượng trong nhà thờ ngày nay. Rồi chúng ta sẽ chú ý đến toàn bộ kiến trúc nhà thờ và xem xét ý tưởng nhà thờ là một linh ảnh, nhà thờ đã có ý nghĩa nào trong lịch sử và trong thời đại ngày nay.

I. THẦN HỌC VÀ LỊCH SỬ VỀ LINH ẢNH

Trong suốt dòng lịch sử Kitô giáo, ảnh tượng thánh luôn là một phần quan trọng trong việc bài trí nhà thờ. Qua các bức bích hoạ, tranh khảm, tượng tạc trên đá và gỗ, hoạ ảnh và kính màu, các nghệ nhân đã đóng góp lớn lao vào chất lượng của khung cảnh nhà thờ bằng cách đặt vào nhà thờ (và trong tâm trí chúng ta) những ảnh tượng mô tả Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các thiên thần, các thánh, kể lại những câu chuyện trong Kinh Thánh và hạnh các thánh. Các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai đã minh hoạ những nơi tụ họp và những nơi chôn cất bằng những dấu hiệu diễn tả đức tin của họ: các hình ảnh và biểu tượng về Chúa Kitô, chân dung các thánh Tử đạo và các bức bích hoạ về những biến cố trong Kinh Thánh hoặc về Thiên đàng. Họ đã thực hiện điều này vì nhiều lý do: để tưởng nhớ về những con người và những biến cố đã qua, để giúp cầm trí cầu nguyện và suy niệm, và để dạy đức Tin cho trẻ em và người dự tòng. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là nhằm diễn tả những chân lý Phúc Âm bằng phương tiện vật liệu. Từ những ngày đầu tiên, Giáo Hội đã nhận ra sự thống nhất và hoà hợp trong những cách thế mà Thiên Chúa mạc khải chính Ngài: nơi con người Chúa Kitô, trong các Lời của Phúc Âm, và trong việc dùng biểu tượng để mô tả bằng ngôn ngữ tượng trưng và đồ hoạ trong các linh ảnh.

Thật khó khăn cho các tư tưởng gia Tây phương ngày nay thấm nhuần ý tưởng về linh ảnh. Con người hiện đại hiểu về biểu tượng như thế này: biểu tượng gán cho thực tại tự nhiên một ý nghĩa thơ ca. Nhưng đối với những người tôn sùng ảnh tượng, và con người thời trung cổ nói chung, chính tự nhiên đã là một biểu tượng của thực tại. Điều “chân thực” trong văn hoá ngày hôm nay là sự kiện, dữ liệu, thông tin có thể định lượng – tiên vàn, đó là điều mang tính vật chất và vì thế có thể chứng minh bằng khoa học và toán học. Não trạng này thường đưa chúng ta rơi vào cái bẫy là trở thành người quan sát tách biệt với thực tại. Thế nhưng, đối với những người trước thời triết gia Descartes và những người phi bác phong trào Khai sáng, thì điều chân thực mang tính thiêng liêng và thuộc về Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và do đó, cũng là Đấng xác định thực tại vật chất. Truyền thống thánh Augustine và Kinh viện nhận ra rằng tất cả các loài thụ tạo phản ảnh Đấng Tạo hóa, nghĩa là giống với Đấng Tạo hóa theo “vết tích”, nghĩa là theo dấu vết để lại. Những thụ tạo có lý trí giống như Đấng tạo thành theo “hình ảnh”, chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta được tạo thành theo hình ảnh Ngài. Vì thế, những gì được nhận biết qua biểu tượng, linh ảnh, không phải là tri thức có được nhờ suy tư trừu xuất (abstraction) hay phân tích khách quan (detached analysis). Đúng hơn, đó là sự nhận biết sâu xa và sống động nhờ sự tương thông, giống như những người yêu nhau nhận biết nhau. Nhờ sự tương thông hoàn toàn nhân bản này trong thế giới được tạo thành, chúng ta có thể tiến đến việc nhận biết Thiên Chúa trong một mối tương quan sâu sắc và mang tính toàn diện vốn dĩ là mục đích của việc Thiên Chúa tạo dựng nên chúng ta. Tất cả mọi sự đều dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa. Vì thế, tất cả mọi sự đều là dấu chỉ tượng trưng cho thực tại đằng sau biểu tượng. Đó là lý do tại sao đối với người trung cổ, biểu tượng là “định nghĩa có giá trị khách quan duy nhất về thực tại”.

Trong Kitô giáo ở cả Đông phương và Tây phương, việc xác định giá trị và giải thích ảnh tượng thánh đều được phát xuất từ một nguồn: Dinonysio Areopagite. Nhà thần học bí nhiệm của thế kỷ 16 này đã viết rằng toàn bộ công trình sáng tạo là một cuộc “thần hiện” (theophany), nghĩa là Thiên Chúa tự tỏ mình ra. Bởi vì lý trí hữu hạn của con người không có khả năng thấu hiểu sự vô biên của Thiên Chúa, cho nên Thiên Chúa tự mạc khải chính mình Ngài cho con người qua Kinh Thánh, qua công trình sáng tạo và qua các hình ảnh. Dĩ nhiên ý tưởng này chỉ khai triển điều mà Thánh Phaolô đã viết: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người.” (Rm. 1,19-20). Điều chúng ta biết về Thiên Chúa và công trình sáng tạo của Ngài được mạc khải qua hình ảnh, hoặc eikon trong tiếng Hy lạp. Quan trọng hơn hết, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mạc khải vĩ đại là Con của Ngài, Chúa Giêsu Kitô, “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15). Có rất nhiều đoạn Kinh Thánh khác nói đến nền tảng Kitô học của hình ảnh (x. Ga. 1,18; 12,45; 14,9; 2Cor. 4,4). Điều quan trọng là các nhà thần học nói đến Ngôi thứ Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa – Ngôi Lời làm Người – là “Hình ảnh Nguyên thủy”. Chính nhờ mầu nhiệm Nhập thể mà bây giờ giữa lãnh vực thiêng liêng và lãnh vực vật chất có mối liên hệ đã được phục hồi. Vì thế ảnh tượng vật chất được phép biểu hiện thực tại thiêng liêng đích thực. Đó là mối liên hệ do chính Thiên Chúa ấn định. Đây không phải là sự “cách tân” do Kitô giáo đem lại. Dù nghệ thuật Do Thái nói chung là bài trừ ảnh tượng, các Giáo Phụ đã nhận ra điều đáng ngạc nhiên là do lệnh truyền của Thiên Chúa mà con người được phép diễn đạt các thực tại thiêng liêng qua nghệ thuật vật chất; Ngài đã truyền cho Môisen xây dựng Nhà Tạm có tượng Kêrubim mạ vàng. (x. Xh. 25,18; 26,1 và 31).

Nhận thức này quan trọng vì nó bảo vệ những hiểu biết của chúng ta về Mầu nhiệm Nhập thể cũng như về ảnh tượng. Một mặt, nhận thức ấy cho thấy rằng nhờ có mối tương quan giữa thế giới thánh thiêng và thế giới vật chất do chính Đấng Tạo hóa ấn định mà chúng ta có được biến cố Nhập thể trọng đại. Mặt khác, nhận thức ấy cũng chỉ ra nền tảng Kitô học cho các ảnh tượng. Mọi quan điểm chính thống trong Thánh Mẫu học, Giáo Hội học, Bí tích học hay Cánh chung học đều có nền tảng từ Kitô học. Các quan điểm ấy, hoặc là bảo vệ và giải thích rõ về Kitô học chính thống, hoặc là phát triển từ Kitô học một cách hợp lý. Vì thế ảnh tượng, cũng giống như giáo lý về Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội hay linh mục thừa tác là Chúa Kitô khác, có được sự chính danh nhờ Con Người của Chúa Kitô.

Truyền thống ảnh tượng cổ xưa nhất có chuyện kể về ông vua xứ Edessa tên là Abgar bị bệnh phong cùi trong thời gian Chúa Kitô thực hiện sứ vụ dương thế. Nghe nói về những phép lạ của Chúa Giêsu, vua Abgar sai sứ thần Hannan (hay Anania) trảy đi Giêrusalem mời Chúa Giêsu đến chữa bệnh cho ông. Hannan không thể đến gần Chúa Giêsu vì dân chúng quá đông, nhưng vốn là viên quan trông coi văn khố và là hoạ sĩ trong triều đình Abgar, ông Hannan cố gắng hoạ lại chân dung Chúa Giêsu. Ông thấy mình không vẽ nổi chân dung ấy bởi vì “vinh quang không thể mô tả được trên gương mặt Chúa Giêsu đang biến đổi nhờ ân sủng.” Biết việc Hannan đang cố làm, Chúa Giêsu bảo người ta đem nước và khăn để Người rửa mặt. Hình ảnh gương mặt Người lập tức in lên chiếc khăn một cách kỳ diệu. Người đưa chiếc khăn cho Hannan để đem về chữa bệnh cho vua Abgar kèm theo lời nhắn gửi là Người không thể đi được vì còn đang thi hành sứ mạng cho dân Israel, nhưng Người sẽ sai môn đệ đi thay. Sau khi Chúa lên Trời, thánh Tađêô đến thăm xứ sở Edessa, rao giảng Tin Mừng cho vua Abgar và thần dân của ông. Bức chân dung kỳ diệu này, được gọi là “linh ảnh do Chúa thực hiện”, là nguồn gốc của bức linh ảnh Mandylion hay linh ảnh Thánh Nhan [hình 1].

Bức linh ảnh này nổi tiếng trong toàn Giáo Hội, và đã có nhiều văn bản đề cập đến bức linh ảnh ấy, bao gồm tường thuật của những người tận mắt chứng kiến. Người ta biết đến linh ảnh lần cuối cùng vào thời Thập Tự Chinh, khi đó bức linh ảnh hoặc là bị Giáo Hội Đông phương cất giấu đi, bị người Hồi giáo phá huỷ, hoặc bị thất lạc khi được quân lính Thập Tự Chinh đưa về châu Âu. Chắc chắn linh ảnh Mandylion đã được biết đến, và có lẽ đã được tôn kính, ở Winchester vào cuối thời Trung Cổ, vì có chứng cứ là chủ nhân các hầm mộ các tay đỡ trong kiến trúc trưng bày linh ảnh Thánh Nhan.

Những linh ảnh quan trọng khác trong thời kỳ đầu về Chúa Kitô gồm có Tấm Khăn Liệm thành Turin [hình 2], Khăn của bà Veronica, các bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh và Chúa Giêsu thơ ấu được cho là do thánh Luca vẽ ở nhiều nơi khác nhau quanh vùng Địa Trung Hải. Những bức linh ảnh “không do tay người phàm thực hiện”, tức linh ảnh Mandylion, Tấm Khăn Liệm, Khăn của bà Veronica, có tầm quan trọng đặc biệt đối với các Kitô hữu, vì những bức linh ảnh ấy xác nhận “những bằng chứng không thể phủ nhận của Mầu nhiệm Nhập thể”.

Dĩ nhiên, ngày nay chúng ta không chỉ đánh mất ý tưởng về ảnh tượng thánh, mà ngay cả từ biểu tượng cũng đã mang những ý nghĩa mới mẻ đầy tính vật chất trong cách nói thông thường. Trong thuật ngữ tin học, biểu tượng (icon) mang ý nghĩa là một hình ảnh trên màn hình. Tuy nhiên, cách sử dụng hiện tại có điểm tương đồng với ý nghĩa ban đầu. Biểu tượng trên màn hình máy tính là một loại cửa sổ mở ra một cấp độ thông tin khác. Thật đáng ngạc nhiên, cách sử dụng này lại trung thành với ý nghĩa nguyên thuỷ, vì trong thần học thần nghiệm, biểu tượng là một ảnh thánh, một loại cửa sổ mở ra một cấp độ thấu hiểu thiêng liêng, qua đó con người chiêm ngắm thực tại thiêng liêng. Điều quan trọng không ở nơi vật thể nhưng trong chủ thể, cũng như biểu tượng máy tính có giá trị chỉ ở chỗ nó mở đường tiếp cận một điều gì khác. Ảnh tượng thánh trình bày một thực tại vô hình, chẳng hạn nói đến một vị thánh đang ở trên Thiên Đàng, hay gợi lại một biến cố trong Kinh Thánh, và ảnh tượng thánh được sử dụng như phương tiện để chiêm ngắm về biến cố ấy.

II. CHỦ TRƯƠNG BÀI TRỮ ẢNH TƯỢNG

Một thời, Giáo Hội đã phải bênh vực địa vị của ảnh tượng thánh chống lại lạc giáo “bài trừ ảnh tượng”, tức nhóm người cho rằng tôn kính ảnh tượng thánh là thờ ngẫu tượng. Tông thư Duodecimum Saeculum (Kỷ niệm 1200 năm Công đồng Nicea II) của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II chỉ là tiếng nói mới mẻ nhất nhắc lại giáo huấn lâu đời của Giáo Hội. Có lẽ cuộc tấn công trực tiếp và tàn khốc nhất xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ 8 với Cuộc Tranh Luận Bài Trừ Ảnh Tượng. Bằng giọng văn súc tích, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II giải thích quan điểm của những người bài trừ ảnh tượng như sau:

Khi tách ra khỏi truyền thống chính thức của Giáo Hội, phong trào bài trừ ảnh tượng cho rằng tôn kính ảnh tượng là quay về với việc thờ ngẫu tượng. Đầy mâu thuẫn và mơ hồ, họ cấm những tác phẩm thể hiện Chúa Kitô và các ảnh tượng tôn giáo nói chung, nhưng lại tiếp tục cho phép sử dụng những hình ảnh có tính báng bổ, nhất là những hình ảnh về hoàng đế kèm theo những dấu hiệu sùng kính. Luận cứ bài trừ ảnh tượng dựa trên nền tảng Kitô học. Làm sao có thể mô tả Chúa Kitô, Đấng duy nhất trong Ngôi vị, mà không tách biệt hoặc lẫn lộn thiên tính nhân tính của Người? Không ai có đủ khả năng diễn đạt thiên tính bất khả thấu đạt của Người. Thể hiện nhân tính Chúa Kitô tức là tách rời thiên tính ra khỏi nhân tính nơi Người. Chọn nhân tính hay thiên tính đều là ngả theo hai lạc thuyết trái ngược nhau về Chúa Kitô: lạc thuyết Nhất tính và lạc thuyết Nestôriô. Bởi lẽ, khi cố gắng diễn đạt Chúa Kitô trong thiên tính của Người, người ta nhất thiết phải giảm thiểu nhân tính của Người. Còn khi chỉ trình bày hình ảnh nhân tính, thì người ta sẽ giấu đi sự thật Người cũng là Thiên Chúa.

Để trả lời cho các luận cứ này, Công đồng Nicea II đã tái xác định giáo lý về ngôi hiệp, và dưới ánh sáng của tín điều ấy, Công đồng đã bênh vực và giải thích tính cách chính đáng của việc chế tác và tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô cùng các thánh. Công đồng đã viện dẫn các Giáo phụ, nhất là những lời của thánh Basiliô: “Tôn kính ảnh tượng là tôn kính nguyên mẫu của ảnh tượng; và ai tôn kính ảnh tượng là tôn kính vị được thể hiện bằng ảnh tượng.” Khi viết: “Biểu trưng thì khác với điều được biểu trưng”, thánh Gioan Đamascenô nhằm bênh vực tính chính đáng của việc biểu trưng bằng ảnh tượng, đồng thời phân biệt việc biểu trưng này với hành vi tôn thờ ngẫu tượng. Các giáo huấn này liên tiếp nhận được sự ủng hộ: ngay sau Công đồng Nicea II, các giáo huấn này được sử dụng để chống lại hoàng đế Charlemagne của Tây phương cũng như chống lại hoàng đế Leo Armenian bên Đông phương; sau này tại Công đồng Trent, các giáo huấn này một lần nữa được vận dụng để chống lại phái Calvin và những người bài trừ ảnh tượng thuộc phái Zwingli trong phong trào Cải cách.

Cho đến ngày nay, Giáo Hội vẫn tiếp tục đề cao việc chế tác và tôn kính ảnh tượng thánh. Công đồng Vatican II dạy: “Phải nhiệt thành tuân giữ những sắc lệnh được ban hành vào thời kỳ đầu liên quan đến các ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Mẹ Đồng Trinh và các thánh” Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng khẳng định chỗ đứng của ảnh tượng trong Phụng tự Công giáo: “Cũng như việc đọc những cuốn sách vật chất cho phép chúng ta nghe Lời hằng sống của Thiên Chúa, thì việc trưng bày ảnh thánh cho phép những ai chiêm ngắm ảnh ấy nhờ thị giác mà được tham dự vào mầu nhiệm Cứu độ.” Việc sách Giáo lý Hội thánh Công giáo rất chú ý bàn về ảnh tượng thánh cho thấy đó vẫn là mối quan tâm đặc biệt của Huấn quyền, nhất là trong thời đại bài trừ ảnh tượng kiểu mới ngày nay:

Ngôi Lời đã làm người bằng cách nhận lấy một nhân tính thực sự, nên thân xác của Đức Kitô cũng bị giới hạn (x. Cđ. Latran 649. DS. 504). Do đó, gương mặt nhân loại của Đức Giêsu có thể được “họa lại” (Gl 3, 2). Trong Công đồng chung thứ VII (Nicea II năm 787), Hội Thánh nhìn nhận việc họa lại hình ảnh của Người là chính đáng.

Mệnh lệnh của Thiên Chúa cấm mọi hình thức tạc tượng vẽ hình Thiên Chúa bằng bàn tay con người. Sách Đệ Nhị Luật giải thích:”Anh em đã không thấy hình thể nào, ngày Đức Chúa phán với anh em tại núi Hô-rép từ trong đám lửa, vì thế đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì…”. Chính Thiên Chúa siêu việt tuyệt đối đã tự mạc khải cho Israrel. “Người là mọi sự” nhưng đồng thời, “vượt trên tất cả các công trình Người làm”. Người là “tác giả của mọi vẻ đẹp”.

Tuy nhiên, ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh hay cho phép làm những hình tượng biểu trưng ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời Nhập thể: ví dụ con rắn đồng, khảm giao ước và các Kêrubim.

Dựa vào mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập thể mà Công đồng chung thứ bảy, ở Nicea (năm 787), đã biện minh cho việc tôn kính ảnh tượng thánh, như ảnh tượng Đức Kitô, Mẹ Thiên Chúa, các thiên thần và tất cả các thánh, để chống lại phái bài ảnh tượng. Khi Nhập thể, Con Thiên Chúa đã mở ra một “nhiệm cuộc” mới cho ảnh tượng.

Khi tôn kính ảnh tượng, các Kitô hữu không nghịch lại điều răn thứ nhất cấm thờ ngẫu tượng. Thực vậy, “khi tôn kính một ảnh tượng, chúng ta hướng tâm hồn lên nguyên mẫu của ảnh tượng” và “ai tôn kính ảnh tượng là tôn kính vị được thể hiện bằng ảnh tượng”. Đối với ảnh tượng thánh, chúng ta chỉ “tôn kính” chứ không thờ phượng, vì chỉ được thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi: “Phụng tự không hướng đến tự thân các ảnh tượng như là thực thể, nhưng theo khía cạnh riêng của chúng xét như những hình ảnh dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa Nhập thể. Việc tôn kính không dừng lại ở ảnh tượng, nhưng vươn tới chính thực tại được hình ảnh biểu thị”.

Vì thế, Giáo Hội luôn tiếp tục xác định nền tảng nghệ thuật Kitô giáo là Mầu nhiệm Nhập thể. Phẩm giá con người đòi hỏi điều ấy. Con người chúng ta có thân xác và linh hồn. Chúng ta có các giác quan cũng như có ý chí, trí tuệ và trí tưởng tượng. Chúng ta được tạo dựng với khả năng đáp ứng nghệ thuật tôn giáo, với tâm hồn có thể rung cảm trước tác phẩm khắc họa chân dung cái đẹp và sự thật. Qua hình ảnh hữu hình, tâm hồn chúng ta được nâng cao lên đến thực tại vô hình. Việc tôn kính ảnh tượng bắt nguồn từ các chân lý được Thiên Chúa mạc khải, trong các tín điều về Mầu nhiệm Sáng Tạo, Mầu nhiệm Nhập thể và Mầu nhiệm Cứu Chuộc. Đức Thánh Cha tóm tắt như sau: “Nghệ thuật có thể trình bày hình dáng gương mặt nhân loại của Thiên Chúa, và dẫn dắt những người chiêm ngắm đi vào mầu nhiệm khôn tả là Thiên Chúa đã làm người để cứu độ chúng ta.”

III. THÁNH GIÁ LÀ ẢNH TƯỢNG THÁNH

Chúng ta đã xem xét các khía cạnh lịch sử và phụng vụ của Thánh giá trong chương 4. Ở đây nên nêu ra vài ghi nhận về ý nghĩa thần học của Thánh giá xét như là ảnh tượng, vì điều này có thể giúp chúng ta có được kiến thức tổng quát hữu ích hơn về biểu tượng.

Ở nhiều khía cạnh, Thánh giá là biểu tượng trung tâm của Đức Tin. Người ta nói rằng Thánh giá “là hình ảnh cụ thể diễn tả thần học về ảnh tượng, tức thần học về Mầu nhiệm Nhập thể và Hiển dung”. Thánh giá lên tiếng hùng hồn nhất về Mầu nhiệm Nhập thể, vì Chúa Con đã trở thành con người, và khi làm người, Người đã chịu đóng đinh vào Thánh giá để cứu độ chúng ta. Người đã mặc lấy xác phàm, và điều này chúng ta có thể hiểu được nhờ các giác quan của mình: Ngôi Lời đã làm người, vì thế chúng ta có thể khắc hoạ Ngôi Lời.

Nếu không có mạc khải mới mẻ này nơi Chúa Kitô, chúng ta buộc phải chấp nhận luật của Môisen và của Hồi giáo cấm dùng ảnh tượng mô tả Thiên Chúa vô hình. Nhưng dưới ánh sáng của Mầu nhiệm Nhập thể, chúng ta có thể tự hào vì Thiên Chúa đã làm người và Người là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1, 15). Hình ảnh Đấng chịu đóng đinh cũng nói lên Mầu nhiệm Nhập thể: Chúa Giêsu đến đem ơn cứu chuộc bằng những đau khổ của Người khi dâng mình làm Lễ vật tinh tuyền để cứu độ thế gian. Đó là sứ điệp trung tâm của Thánh giá và là lý do tại sao Thánh giá là trung tâm của phụng vụ thánh. Do đó, Thánh giá không có tượng Chúa Giêsu làm cho Phụng vụ bàn thờ nghèo nàn đi vì không đưa chúng ta vào trọn vẹn hành vi cứu chuộc chúng ta.

Thánh giá cũng nói lên thần học về Chúa hiển dung: trong Chúa Kitô có một mối tương quan mới (hay có lẽ mối tương quan được phục hồi) giữa vật chất và tinh thần. Chúa Kitô liên kết mọi sự “trên Trời, dưới đất và cả trong nơi âm phủ” (x. Pl 2,10). Mầu nhiệm Chúa hiển dung, tức mầu nhiệm mạc khải cho chúng ta sự cao trọng của mầu nhiệm Nhập thể, cho chúng ta thấy rằng vật chất có thể được thánh hoá để trở thành khí cụ thánh hoá. Giờ đây, chúng ta có thể tham dự vào mầu nhiệm của Thiên Chúa với các giác quan, trí tưởng tượng, tình cảm, ý chí và trí tuệ của chúng ta. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là biến cố hiển dung ám chỉ mức viên mãn của quá trình con người nên giống Thiên Chúa trong vinh quang Phục sinh. Trong Chúa Kitô, con người được mời gọi “biến hình”, được “biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cor 3,18), khi “chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3,2), và “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21).

Tiến trình này, chuyển hóa thông qua vật chất, tức trung tâm của khoa ảnh tượng học, là chìa khoá mở cho chúng ta đi vào những hiểu biết của thời Trung cổ về ý nghĩa tượng trưng của thánh đường kiểu Gô-tích, một tiến trình được coi là “chiêm ngắm thần nghiệm” mà chúng ta sẽ xem xét trong chương sau. Bây giờ, để kết thúc phần bàn về biểu tượng Thánh giá, xin dẫn lời đúc kết của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II như sau: “Việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô bao hàm toàn bộ niềm tin vào thực tại Nhập thể và ý nghĩa vô biên của mầu nhiệm ấy đối với Giáo Hội và thế giới. Nếu Giáo Hội thực hành việc tôn kính ấy, đó là vì Giáo Hội tin tưởng rằng Thiên Chúa được mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô đã thật sự cứu chuộc và thánh hoá xác phàm cùng toàn bộ thế giới cảm giác, tức con người ngũ quan, và cho phép họ ngày càng đổi mới theo hình ảnh Đấng tạo hóa (x. Cl 3,10).”

VI. VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ CỦA CÁC ẢNH TƯỢNG

“Phải kiên quyết duy trì thói quen đặt ảnh tượng thánh trong các thánh đường để các tín hữu tôn kính; tuy thế số các ảnh tượng ấy chỉ vừa phải thôi và phải được sắp xếp sao cho thích hợp” (Hiến chế về Phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 125)

Cần xét xem lời Công đồng Vatican II kêu gọi tôn kính ảnh tượng có ý nghĩa như thế nào đối với giáo xứ hiện đại. Quan trọng nhất, lời Công đồng không cho phép tùy ý thi hành. Theo ghi nhận của J. Saward, tại Công đồng Nicea II “việc đặt ảnh tượng trong nhà thờ… không phải chỉ là được phép, mà đó là sắc lệnh… Đối với Công giáo và Chính thống giáo, ảnh tượng Kitô giáo không phải là điều tùy nghi dùng để trang trí, nhưng là mệnh lệnh thuộc tín lý.” Như Đức giáo hoàng Piô XII đã viết trong Thông điệp Mediator Dei (Đấng Trung gian của Thiên Chúa): “Chẳng hạn, ý muốn đưa ảnh tượng ra khỏi nhà thờ là điều sai lầm”. Trái lại, ngài cũng khiển trách “việc đưa vào quá nhiều ảnh tượng một cách vô lý”. Vì thế, trong khi ảnh tượng thánh là một phần của môi trường thờ phượng Công giáo, số lượng ảnh tượng nên ở mức vừa phải, kẻo ý nghĩa của ảnh tượng bị giảm sút do sự trùng lặp. Phải liệu sao cho những ảnh tượng này, dù là tác phẩm hội hoạ, điêu khắc hay kính ghép, đều là sự diễn đạt bằng ngôn ngữ kiến trúc cho câu trích trong thư Do Thái: “Chúng ta được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” (Dt. 12,1). Chớ để lòng sùng kính các thánh bị đánh mất đi vì não trạng bài trừ ảnh tượng thời hiện đại; có thể thấy rõ điều này qua việc Tòa Thánh nêu gương nuôi dưỡng lòng sùng kính ấy. Về mặt này, đáng lưu ý rằng Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong thánh cho nhiều vị thánh hơn bất cứ vị giáo hoàng nào trước kia, và có lẽ vào cuối triều đại giáo hoàng của ngài, ngài đã phong thánh cho nhiều vị hơn tất cả các vị giáo hoàng tiền nhiệm cộng chung lại! Những trường hợp này, cũng như công cuộc đang thực hiện của Uỷ ban Toà Thánh về các thánh Tử đạo, cung cấp thêm cho chúng ta những mẫu mực về sự thánh thiện và sự hy sinh trong một thời đại mà lối sống vị kỷ ngày càng gia tăng.

Trong khi lưu ý việc Đức giáo hoàng nhấn mạnh đến communio sanctorum (sự hiệp thông các thánh), cũng nên xem lại vai trò của ecclesia triumphans (Giáo Hội khải hoàn). Theo dòng lịch sử Giáo Hội, các thánh luôn hiện diện trong các tác phẩm bích hoạ, kính ghép, kính màu và điêu khắc. Ngay từ thời kỳ đầu tiên, Giáo Hội luôn tôn kính các thánh Tử đạo không chỉ bằng việc lưu giữ thánh tích của các ngài, mà còn bằng những bức tranh sinh động trong các hang toại đạo, martyria (các thánh đường có mộ thánh Tử đạo) và trong các nhà thờ. Những bức tranh cổ trong các hang toại đạo ở Rôma cho thấy đông đảo các vị thánh tiến vào Thiên Đàng, có các thánh khác và các thiên thần đi cùng. Nền điêu khắc Công giáo thời kỳ sơ khai không thường xuyên mô tả các thánh, nhưng hiển nhiên các bức bích hoạ và tranh khảm Byzantine để trang trí các nhà thờ và giếng rửa tội thời sơ khai đã nói lên sự cho phép thể hiện chư thánh bằng ảnh tượng [hình 3].

Trong lịch sử xây dựng nhà thờ, việc trưng bày ảnh tượng các thánh đã được duy trì như lời nhắc nhớ về thực tại linh thiêng vượt lên trên thế giới vật chất, thế giới mà Kinh Tin Kính của Công đồng Nicea tuyên xưng là công trình của Thiên Chúa, “Đấng tạo thành trời và đất, muôn vật hữu hình và vô hình”. Theo truyền thống, các ảnh tượng này có nhiều chức năng: huấn luyện đức tin cho những người không biết chữ, nhắc nhở người tín hữu về ơn gọi của họ, làm đối tượng giúp người ta chiêm niệm, và trang hoàng cho nhà của Thiên Chúa trở thành biểu hiện của thành thánh Giêrusalem trên Trời với “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ, đứng chầu trước ngai” (Kh.7,9). Ngày nay, các lý do “truyền thống” vẫn còn phù hợp để giải thích việc trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ: các ảnh tượng nhắc nhở về Đức Tin, giúp chúng ta dạy dỗ trẻ em, và – có lẽ cũng quan trọng không kém – ảnh tượng tiếp tục đem đến một đối tượng sùng kính để người chia trí mông lung có thể cầm lòng mà chiêm niệm.

Trong cả hai Hiến chế Sacrosanctum Concilium (về Phụng Vụ Thánh) và Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân), Công đồng Vatican II nhấn mạnh lại một cách đặc biệt về vai trò của các thánh và việc cổ vũ lòng tôn kính các ngài. Dưới ánh sáng của các văn kiện này, hành vi loại bỏ ảnh tượng ở những năm tháng sau Công đồng và sự say mê kính màu trừu tượng trong thời gian gần đây dường như sai lầm về căn bản và thậm chí mang tính bài trừ ảnh tượng. Trong khi hình ảnh đồ hoạ đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội hiện đại, như chúng ta thấy trong phim ảnh, phim nhạc rock, truyền hình, các tạp chí hào nhoáng và các phương tiện quảng cáo, thì dường như trong Giáo Hội vẫn còn có sự miễn cưỡng thâm căn cố đế đối với ảnh tượng thánh. Đó là một dạng tâm lý thù ghét ảnh tượng. Trong cuốn sách Moments of Vision (Những Khoảnh Khắc Nhìn Xa), Kenneth Clerk trình bày diễn tiến lịch sử của sự thù ghét ảnh tượng, đồng thời đưa ra những phân tích thú vị về tâm lý này. Tác giả đề cập đến những nguyên nhân triết lý, tôn giáo, xã hội và phong cách của hiện tượng này qua nhiều thời đại. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ luận điểm của ông không giải đáp được các vấn đề do sự thù ghét ảnh tượng trong Giáo Hội Công giáo (mặc dầu dĩ nhiên đó không phải là ý định của ông). Tôi muốn nêu lên rằng vấn đề của Công giáo thời hiện đại có hai mặt. Thứ nhất, đó là phản ứng đối với “nghệ thuật phế thải” kém cỏi. Hơn năm mươi năm trước, Maritain đã than thở về “tính ủy mị đáng hổ thẹn của nhiều sản phẩm thương mại” chỉ dành cho “số đông những người Kitô hữu có thị hiếu thấp kém.” Đành rằng qua một bức tượng Đức Mẹ bằng thạch cao sơn màu, “Thiên Chúa có thể đánh động tâm hồn con người nên sốt sắng… chẳng khác nào trước một kiệt tác tuyệt vời”, nhưng rất nên loại bỏ những bức tượng có nghệ thuật kém cỏi. Tuy nhiên, vấn đề ngày nay là những bức tượng Đức Mẹ bằng thạch cao ấy và những chặng Đàng Thánh giá thô thiển đã được thay thế bằng những bức tranh trừu tượng không giúp con người tiếp xúc với những thực tại thiêng liêng thuộc đề tài của tranh. Thứ hai, đa phần các phản ứng tiêu cực đối với ảnh tượng có lẽ do ước muốn “được coi trọng” và “được chấp nhận” bởi xã hội buông thả cho rằng trưng bày ảnh tượng tôn giáo là thờ ngẫu tượng, là đa cảm và dị đoan. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng các Kitô hữu được mời gọi để trở nên “dấu hiệu cho người ta chống đối” khi bắt chước Thiên Chúa. Từ Công đồng Vatican II, Giáo Hội đã đi đến chỗ có sự chấp nhận dễ dãi nào đó, một kiểu “đi theo số đông” (mainstreaming) mà chẳng mấy người muốn từ bỏ. Đối với tôi, dường như chỉ khi nào chúng ta vượt qua những kềm hãm này thì ảnh tượng các thánh mới có thể tìm được chỗ đứng thích hợp trong nhà của Thiên Chúa.

V. NHỮNG CHỈ DẪN TỔNG QUÁT

Nhưng thế thì “chỗ đứng thích hợp” là gì? Mặc dù hiện nay đã không còn vấn đề ảnh tượng được trưng bày đầy trên các bàn thờ phụ (khiến thông điệp Mediator Dei khiển trách), nhưng rõ ràng vẫn cần có sự hiểu biết về thứ bậc của các tượng ảnh. Tất nhiên, ảnh tượng duy nhất phải có trong thánh lễ là Thánh giá, nhưng trong bất cứ nhà thờ nào cũng có những ảnh tượng khác rất phù hợp như ảnh tượng Đức Mẹ Đồng Trinh, Thánh bổn mạng nhà thờ và các chặng Đàng Thánh giá. Và may mắn, đã có những chỉ dẫn tổng quát để sắp đặt các tượng ảnh trong nhà thờ sao cho phù hợp. Khi hoạch định số ảnh tượng đưa vào nhà thờ, có nhiều điều phải xem xét. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma chỉ nói rằng ảnh tượng cần được đặt “cách nào để không làm giáo dân chia trí trong lúc cử hành phụng vụ.” Trong khi ý tưởng “làm chia trí” có vẻ hơi chủ quan, thì cũng có những giải pháp khách quan. Điều quan trọng nhất là không bao giờ đặt ảnh tượng trên bàn thờ, còn ảnh tượng thánh bổn mạng nhà thờ hoặc của bàn thờ thì nên đặt ở một vị trí thích hợp và thứ yếu trong cung thánh. Cũng nên xem xét cẩn thận kích cỡ của ảnh tượng so với diện tích cung thánh và quy mô nhà thờ: ảnh tượng không quá to đến nỗi lấn át và không quá nhỏ để khỏi mất đi ý nghĩa. Một số tác giả khuyên không nên đặt các ảnh tượng khác trong cung thánh mặc dù điều ấy không bị cấm.

Quy chế tổng quát sách lễ Rôma cũng viết: “Cần… giới hạn số lượng ảnh tượng… Chỉ trưng bày một ảnh tượng của vị thánh nào đó.” “Giới hạn số lượng” cũng là một hướng dẫn có tính chủ quan, mà Giáo Hội công nhận bằng cách xác định: “Nói chung, lòng đạo đức của toàn thể cộng đồng (NV nhấn mạnh) phải là tiêu chí xem xét số ảnh tượng trong việc bài trí và sắp xếp nhà thờ.” Tôi nghĩ rằng khi Giáo Hội ra lệnh chỉ được trưng bày một ảnh tượng duy nhất của một vị thánh đặc biệt, thì lệnh ấy nhắm đến khu vực dành tôn kính vị thánh ấy hơn là cấm tiệt việc trưng ảnh tượng trùng lặp. Nghĩa là, xem ra không phải là phạm luật nếu đã có ảnh ghép kính màu thánh bổn mạng Gioan Tẩy giả trên vòm mái, lại có ảnh họa Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại giếng Rửa tội, và thêm tượng thánh Gioan Tẩy giả ở khu vực dành tôn kính Thánh bổn mạng. Điểm chính của lệnh này là chỉ được phép có một nơi tôn kính, với nến đặc trưng là những cây nến khấn, cho bất cứ vị thánh đặc biệt nào. Lệnh không áp dụng cho Thánh giá và nhiều ảnh tượng của Chúa, và Đức Mẹ khi Mẹ xuất hiện với nhiều tước hiệu khác nhau. Nếu lệnh này áp dụng cho tất cả, thì cả Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma và Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở Washington, D.C sẽ phải cất bớt vô số ảnh tượng.

VI. ẢNH TƯỢNG CHÚA GIÊSU

Thật thú vị, trong khi việc sáng tác và sắp đặt các tượng ảnh có nhiều khác biệt muôn màu muôn vẻ qua các thời đại trên khắp thế giới, thì điểm chung cho tất cả các kiểu mẫu cổ điển là tính quy hướng Chúa Kitô. Điều này nhắc cho chúng ta rằng các thánh trong Giáo Hội luôn giữ vai trò dẫn đến Chúa Kitô: các thánh phản chiếu và chuyển thông vinh quang Chúa, đồng thời các ngài được thông phần vinh quang của Người (x. Pl 3,21; 2Tx 1,10). Chính với sự hiểu biết này mà con người thời Trung cổ đặt đầy trong nhà Chúa ảnh tượng các thánh và các thiên thần: không chỉ tranh khảm hay tượng bằng đá, nhưng còn cả hình ảnh trên kính màu. Ánh nắng chiếu qua hình ảnh trông giống như ánh sáng Chúa Kitô chiếu dọi qua các thánh và làm cho các ngài sáng rực rỡ. Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) viết: “Thực vậy, mọi chứng từ đích thực nói lên lòng mộ mến của chúng ta đối với các Thánh trên trời luôn quy hướng đến Chúa Kitô và kết thúc nơi Chúa Kitô là “triều thiên của toàn thể các Thánh”. Và nhờ Chúa Kitô, lòng mộ mến của chúng ta quy hướng đến Thiên Chúa và kết thúc nơi Thiên Chúa, Đấng đáng ca tụng và tôn vinh nơi các Thánh”

Một cách nào đó, việc sử dụng ảnh tượng các thánh phải dẫn chúng ta về với Chúa Kitô. Trong lịch sử Giáo Hội, đã có nhiều phương cách hữu hiệu trình bày ảnh tượng các thánh để trợ giúp phụng vụ mà không gây chia trí. Ảnh khảm trên mái vòm theo phong cách Byzantine, bình phong ảnh tượng, kính màu, đầu cột chạm khắc trong kiến trúc Rôma [hình 4], bức ngăn trong nhà thờ theo kiến trúc Gô-tích, và cả đến hốc tường đặt tượng ở Vương cung thánh đường Gioan Lateranô, tất cả đều trình bày cho người tín hữu một khía cạnh của các thánh trong tương quan với phụng vụ và Giáo Hội nói chung, nhưng với vai trò rõ ràng là thứ yếu và phục vụ cho địa vị của Chúa Kitô trong phụng vụ.

Các thánh dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô là ý tưởng rất phổ biến trong khoa ảnh tượng thời Trung cổ. Trong nhà thờ San Apollinare Nuovo ở Ravenna, trên những hàng cột là tranh khảm mô tả hai cuộc rước kiệu nổi tiếng của các thánh. Trụ ngạch phía bên phải trình bày hai mươi sáu thánh Tử đạo đang tiến đến Chúa Kitô [hình 5, 6], còn bên trái là hai mươi hai thánh nữ Đồng trinh đang tiến về phía Đức Trinh Nữ Maria ẵm Chúa Hài Đồng [hình 7, 8].

Ví dụ này nói lên sự hiểu biết hoàn toàn chính thống về vai trò của các thánh: các ngài là gương mẫu hằng nhắc nhở để dẫn đưa các tín hữu đến với Chúa Kitô. Các thánh Tử đạo bắt chước Chúa Kitô bằng cách thông phần đau khổ với Người, các Thánh Đồng Trinh thì thông phần sự sống của Chúa bằng cách theo gương Đức Mẹ Đồng Trinh, Đấng đón nhận ân sủng và vinh quang từ Con của mình theo cách thức tương tự. Phần trung tâm mái vòm của hai giếng rửa tội Neon và Arian ở Ravenna trình bày hình ảnh Chúa Giêsu chịu phép Rửa bởi tay thánh Gioan, còn hình ảnh mười hai Tông Đồ thì toả ra các hướng chung quanh Chúa Giêsu, bố cục này cho thấy hình ảnh các thánh vừa hỗ trợ vừa phụ thuộc vào hình ảnh Chúa Kitô [hình 9].

Những ví dụ khác như vòm nhà nguyện Thánh Zenon [hình 10], mặt hồi ở nhà thờ Thánh Denis, cửa sổ kiểu hoa hồng ở nhà thờ Orvieto, mặt tiền phía tây rực rỡ của nhà thờ Chính toà Wells hay mặt tiền nhỏ hơn nhưng có liên hệ ở tu viện Bath, đều diễn tả địa vị trung tâm và trên hết của Chúa Kitô.

Những ví dụ từ thời Trung cổ này nhằm làm nổi rõ nguyên tắc then chốt để sắp đặt ảnh tượng cho thời nay: vị trí của Đấng Cứu Chuộc, dù là Đấng Chịu Đóng Đinh hay Đấng Toàn Năng, có tầm quan trọng tối thượng trong nhà thờ, và tất cả các ảnh tượng khác phải phụ thuộc vào ảnh tượng của Người.

VII. ẢNH TƯỢNG ĐỨC MẸ

Đức Mẹ Đồng Trinh có vai trò quan trọng trong nghệ thuật ảnh tượng của Giáo Hội. Giáo Hội “khuyến khích mọi tín hữu lấy tình con cái, tôn kính đặc biệt Đức Maria hồng phúc trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ của cả loài người”. Ảnh tượng Mẹ nằm trong số những ảnh tượng lâu đời và phổ biến nhất, có từ cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai, dựa vào chứng tích trong hang toại đạo Priscilla ở Rôma. Ngày nay, phải tránh sự thiếu sót khi nhấn mạnh địa vị của Đức Trinh Nữ Maria hồng phúc, như đã được các nghị phụ Công đồng nói rõ trong Hiến chế Tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) (nguyên cả chương 8) và trong Thông điệp Mẹ Đấng Cứu Thế (Redemptoris Mater). Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II viết:

Các ảnh tượng về Đức Trinh Nữ Maria có một vị trí danh dự trong các nhà thờ và tư gia. Trong các ảnh tượng ấy, Đức Maria được trình bày theo nhiều phương diện: Mẹ là ngai toà Thiên Chúa, mang lấy Chúa Giêsu và trao Người cho nhân loại (Theotókos), Mẹ là con đường đưa dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu và giới thiệu Người cho chúng ta (Hodegetria), Mẹ là người cầu nguyện với tâm thế chuyển cầu cho chúng ta và là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc hành trình của người tín hữu cho đến ngày Chúa đến (Deẽsis); Mẹ là Đấng che chở luôn giang rộng áo choàng phù hộ muôn dân (Pokrov); Mẹ là Đức Nữ Đồng Trinh dịu hiền khoan nhân (Eleousa). Mẹ thường được nghệ thuật thể hiện đang ẵm Con của Mẹ là Chúa Hài Nhi: chính mối tương quan với Chúa Con làm cho Mẹ được vinh quang. Có khi Mẹ dịu dàng ôm lấy Chúa Giêsu (Glykophilousa); lại có khi Mẹ là người thánh đầy vẻ say mê chiêm ngắm Đấng là Chúa của lịch sử”

Thêm nữa, Đức giáo hoàng tiếp tục giải thích mối tương quan giữa Đức Trinh Nữ Maria với phụng vụ; đây là điều cần thiết để biết cách sắp đặt ảnh tượng Mẹ:

Địa vị Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria được người Kitô hữu đặc biệt chú ý và cảm nghiệm trong Bữa Tiệc Thánh – tức việc cử hành phụng vụ về mầu nhiệm Cứu Chuộc – trong đó Chúa Kitô hiện diện với Thân mình thật sự đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria.

Với lòng đạo đức, người Kitô hữu luôn cảm nhận đúng đắn mối liên kết sâu xa giữa việc tôn sùng Đức Trinh Nữ và phụng vụ Thánh thể: có thể thấy được điều này trong phụng vụ của cả Tây phương và Đông phương.

Tương tự, theo Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium), trong Giáo Hội, Đức Trinh Nữ giữ địa vị “cao nhất sau Chúa Kitô và cũng gần gũi chúng ta nhất”. Từ những trích dẫn ấy, có thể suy ra rằng ảnh tượng của Mẹ Thiên Chúa cần phải được đặt ở vị trí nổi bật trong cung thánh hay gần cung thánh. Vị trí này cũng thuận tiện cho các đôi tân hôn dâng bó hoa lên Đức Mẹ trong hôn lễ. Ảnh tượng thánh bổn mạng nhà thờ đôi khi có thể được đặt đối xứng với tượng Đức Mẹ trong nhà thờ.

VIII. ẢNH TƯỢNG CÁC THÁNH

Trong truyền thống ảnh tượng thánh, có một ngôn ngữ tế nhị và phức tạp về biểu tượng, hình thức và màu sắc. Các Tông đồ và các Thánh sử có ngôn ngữ mô tả riêng, và các ngài có lý do để sử dụng ngôn ngữ ấy. Một khi đã có được ngôn ngữ hình thể ổn định, dù ở ảnh tượng hay kính màu, người tín hữu mù chữ cũng có thể dễ dàng nhận ra các hình ảnh. Vì thế, người ta thường thấy thánh Phêrô có nước da ngăm, thân người tráng kiện với râu tóc quăn và đen; thánh Batôlômêô với mái tóc hoa râm, nước da trắng, đôi mắt to, mũi cao và chòm râu dài; thánh Phaolô dáng cao niên, đầu hói, râu trắng dài, lưa thưa; thánh Gioan còn trẻ, không có râu; thánh Máccô tuổi trung niên, trán có nếp nhăn, mũi to, tóc vàng hoe, râu dài và có vài sợi tóc hoa râm; thánh Gioan Tẩy giả có hình dáng một ẩn sĩ với làn da lạc đà; vân vân… Mỗi vị thánh tông đồ được trình bày cùng với dụng cụ tử đạo hay dấu hiệu riêng của các ngài, như ở các bức tượng của Rusconi trong lòng nhà thờ Thánh Gioan Latêranô [hình 11]: thánh Phêrô tay cầm chìa khoá; thánh Batôlômêô bị lột da sống; thánh Phaolô giữ thanh gươm đã chém đầu ngài; thánh Giacôbê với những vỏ sò gợi lại việc thân thể ngài trôi dạt vào bờ biển ở Compostela một cách kỳ lạ; và thánh Philipphê, “giống như Thầy của mình là Đấng ngài rao giảng, ngài cũng chịu đóng đinh vào thập giá”.

Các thánh Tử đạo khác cũng có những dụng cụ hành hình (chẳng hạn thánh Laurensô bên vỉ nướng bằng sắt [hình 12], thánh Sebastian với những mũi tên và thánh Stephanô với một đống đá dưới chân ngài).

Ảnh tượng thường trình bày các thánh Tử đạo cầm nhành cây hương bá, ý nhắc đến đoạn Kinh Thánh “người công chính lớn mạnh như cây hương bá Li băng, được trồng nơi nhà Chúa” (Tv. 92,12-13).

Bốn thánh sử Tin Mừng được diễn tả bằng bốn sinh vật trong sách Khải huyền: bò, sư tử, con người và chim phượng hoàng (Kh.4,7) [hình 13].

Thánh sử Matthêu được thể hiện với hình dáng con người, vì ngài mở đầu sách Tin Mừng bằng bản gia phả, và ngài viết về nhân tính của Chúa Giêsu, việc Chúa giáng sinh và những năm đầu đời của Chúa [hình 14].

Thánh Marcô được biểu trưng bằng con sư tử của chi tộc Giuđa vì nhiều lý do [hình 15].

Trước hết, Tin Mừng thánh Marcô trình bày Chúa Giêsu là Vua. Thứ hai, Tin Mừng thánh Marcô bắt đầu với “tiếng kêu trong sa mạc”, được các giáo phụ sánh ví với sư tử rống lên trong sa mạc. Thứ ba, vì thánh Marcô mô tả việc Chúa Phục sinh, mà sư tử là biểu tượng, có liên quan đến giai thoại về một con sư tử mẹ làm hồi sinh những đứa con của mình bằng cách thở hơi trên chúng. Tương tự như thế, thánh Luca được thể hiện bằng hình ảnh con bò [hình 16], biểu tượng cho hy lễ của thầy thượng tế, vì ngài mở đầu Tin Mừng với thầy thượng tế Giacaria, ngài khai triển gia phả Chúa Giêsu qua hàng tư tế Lêvi, và ngài tường thuật rất hùng hồn về cuộc Khổ nạn và Hy tế của Đức Kitô.

Cuối cùng, chim phượng hoàng tượng trưng cho thánh Gioan [hình 17], bởi vì Tin Mừng của ngài vút bay lên đến Thiên tính của Chúa Kitô, bắt đầu bằng câu “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời…”

Trong ngôn ngữ biểu tượng phức tạp này, đôi khi hình ảnh cuốn sách được đưa vào ảnh tượng các tác giả Tân Ước (gồm các thánh sử Phúc Âm, thánh Phaolô, thánh Giuđa, thánh Giacôbê và thánh Phêrô). Cuốn sách đang mở biểu trưng cho tri thức hoàn hảo mà các tông đồ thánh sử được chính Chúa dạy bảo cách trọn vẹn. Ngôn ngữ phổ biến này, tuy chưa đạt tới mức toàn cầu hoặc tuyệt đối, nhưng vẫn được sử dụng bởi các nghệ sĩ có tinh thần trách nhiệm trong việc chế tác ảnh tượng thánh, bởi lẽ ngôn ngữ ấy giúp cho nghệ sĩ tránh được những vấn đề do cảm quan cá nhân và luôn hoạt động trong phạm vi truyền thống của nghệ thuật ảnh tượng thánh.

IX. ẢNH TƯỢNG CÁC THIÊN THẦN

Tôi muốn đưa ra một luật trừ trong các quy luật liên quan đến ảnh tượng trên cung thánh, đó là vị trí ảnh tượng các thiên thần. Các thiên thần có một vị trí quan trọng đặc biệt trong Kinh Thánh, trong lịch sử cứu độ và trong phụng vụ. Một điều thật thú vị là các hình ảnh mà Thiên Chúa truyền lệnh thực hiện đầu tiên chính là hình ảnh thể hiện các hữu thể vô hình, tức các Kêrubim trên nắp Hòm Bia Giao Ước. Hai vị Kêrubim đứng hai đầu và hộ giá Nắp Xá tội (Xh 25,18), tựa như việc các ngài canh giữ lối vào Vườn Địa đàng (x. St 3,24). Chủ đề này được tiếp tục thực hiện trong chương trình trang hoàng đền thờ do vua Salomon xây dựng. Trong Nơi Cực Thánh dài mười thước, rộng mười thước, và cao mười thước vua cho khắc ảnh các thiên thần nơi khung ghép trên tường và các cánh cửa, và quan trọng nhất là khắc hoạ các thiên thần canh giữ lối vào Nơi Cực Thánh (1V 6,23). Ở đây có hai tượng Kêrubim, với đôi cánh dài hơn năm thước, bảo vệ lối vào, rõ ràng có liên hệ đến các Kêrubim với “lưỡi gươm sáng loé” canh giữ lối vào Vườn Địa đàng.

Trong Kinh Thánh, các thiên thần không chỉ là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa (chẳng hạn 1Sm 4,4, Tv. 80,2 và 99,1, Lc. 1,35), mà còn được nhắc đến cách đặc biệt khi Thánh sử nói về phụng vụ Kitô giáo: “Nhưng anh em đã tới núi Xion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện. Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben” (Dt. 12,22-24). Chính vì hiểu như thế mà sách Giáo lý Công giáo dạy: “Cho tới ngày Chúa quang lâm, tất cả đời sống Hội Thánh hưởng nhờ sự trợ giúp huyền nhiệm và hữu hiệu của các thiên thần. Trong phụng vụ, Hội Thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa ngàn trùng Chí Thánh. Hội Thánh khẩn cầu các thiên thần trợ giúp”, cầu xin trong Kinh nguyện Thánh thể thứ nhất: “Lạy Chúa toàn năng, chúng con nài xin Chúa sai Sứ thần dâng lễ vật này lên bàn thờ cao sang trước tôn nhan uy linh Chúa”, và trong phụng vụ cầu cho tín hữu qua đời “Xin các thiên thần Chúa dẫn đưa bạn về thiên đàng.”

Cha Jean Daniélou viết một cách đầy thuyết phục về sự trợ giúp của các thiên thần trong Hy tế thánh lễ. Để minh chứng, cha đã trích dẫn rất nhiều giáo phụ:

“Nhưng các thiên thần hiện diện đặc biệt trong Hy tế Thánh thể. Quả thật, thánh lễ là sự tham dự bằng bí tích vào phụng vụ trên Trời, là việc tôn thờ được toàn thể cơ binh các thụ tạo thiêng liêng trân trọng chuyển dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhờ có các thiên thần mà bí tích Thánh thể được đưa vào Nước Trời. Các thiên thần giúp hy tế được bao phủ bằng mầu nhiệm thánh. Thánh Gioan Kim khẩu viết: “Các thiên thần vây quanh linh mục. Cả cung thánh và không gian trước bàn thờ tràn ngập các thiên thần từ Trời đến để tôn vinh Người là Đấng hiện diện trên bàn thờ”. Ở nơi khác ngài viết: “Bây giờ bạn hãy nghĩ đến cơ binh thiên thần mà bạn sắp gia nhập. Mặc dù bạn đang sống trong thân xác, nhưng bạn đã được đánh giá là xứng đáng gia nhập vào đoàn ngũ các thiên thần trên trời để ca hát chúc tụng Người là Chúa của muôn loài.” “Này là bàn tiệc vương giả, có các thiên thần phục vụ. Chính Chúa hiện diện nơi đó.”

Cha Daniélou kết thúc phần bàn về các thiên thần trong phụng vụ bằng một đoạn văn nổi tiếng của thánh Gioan Kim khẩu: “Các thiên thần hiện diện nơi đây. Hôm nay các thiên thần và chư thánh tử đạo hội ngộ. Nếu muốn nhìn thấy các thiên thần và các thánh Tử đạo, bạn hãy mở mắt đức tin mà chiêm ngắm quang cảnh này. Nếu trong không trung có đầy các thiên thần, thì trong Giáo Hội các thiên thần còn hiện diện nhiều hơn. Và nếu trong Giáo Hội có đầy các thiên thần, thì ngày nay quả còn có nhiều thiên thần hiện diện hơn nữa khi Chúa của các ngài đã lên Trời! Trọn vẹn không gian quanh chúng ta tràn đầy các thiên thần.” Lời văn phong phú này đã được diễn đạt bằng ngôn ngữ kiến trúc qua dòng lịch sử kiến trúc nhà thờ. Một trong những công trình nên thơ nhất được tìm thấy trên tấm đỡ rầm nhà thờ Thánh Wendreda [hình 18] ở March, Cambridgeshire.

Ở đó có hơn một trăm thiên thần bay trên không gian lòng nhà thờ thành một cơ binh thiên thần vinh hiển. Chủ đề này cũng có trong cách trang trí trần nhà thờ chính toà Ely ở gần đó [hình 19].

Thuộc phong cách Barốc, đông đảo các thiên thần do Bernini thiết kế ở nhà thờ San Andrea al Quyrinale và các thiên thần do Borromini đưa vào nhà thờ San Ivo della Sapienza đã diễn tả lời Kinh Thánh rằng chúng ta “được vây quanh bởi vô số các nhân chứng” [hình 20].

Nhận thức này đưa tôi đến kết luận rằng, một khi đã biết rõ vị trí đặc biệt của các thiên thần trong đời sống Giáo Hội, thì việc dùng ảnh tượng diễn tả các ngài trên cung thánh không những là thích hợp, mà còn nên được khuyến khích, vì các ảnh tượng thiên thần nói lên việc chúng ta tham dự vào bữa tiệc Chiên Con trong Nước Trời. Trong nhà thờ, cung thánh, lòng nhà thờ và giếng rửa tội nên có nhiều ảnh tượng các thiên thần để mô tả sống động thực tại thần thiêng vô hình này! Ảnh tượng các thiên thần cũng như ảnh tượng các thánh nói lên các chân lý thiêng liêng, và đây là lý do đủ cho phép việc trưng bày ảnh tượng các ngài. Ngoài ra, ảnh tượng các thiên thần và các thánh giúp chúng ta nhớ rằng cộng đoàn giáo xứ không cô độc hay bị tách rời, nhưng liên kết với việc thờ phượng của toàn thể Thân Mình Mầu nhiệm Chúa Kitô. Ở đây và ngay lúc này, trong thánh lễ tại giáo xứ này, chúng ta được hòa chung vào phụng vụ trên thiên quốc của Giáo Hội khải hoàn cùng với toàn thể các thiên thần và các thánh qua Chúa Giêsu, vị linh mục thượng phẩm của chúng ta, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần, và đến với vinh quang của Đức Chúa Cha toàn năng. Đó là lý do tại sao qua nhiều thời đại, các nhà thờ luôn có đầy hình ảnh các thiên thần dưới dạng bích hoạ, tranh khảm, tượng đồng và đá: những ảnh tượng đó là chứng từ cho ta thấy chỗ ở của chúng ta trong vương quốc của Thiên Chúa, đồng thời nhắc cho chúng ta nhớ rằng các thiên thần hằng chuyển cầu, bảo vệ và trợ giúp chúng ta.

X. CÁC CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Một chuỗi những ảnh tượng khác cần được khảo sát là các Chặng đàng Thánh giá [hình 21], tức các hình ảnh trình bày điều mà truyền thống cho là những chặng đường trong cuộc Khổ nạn của Chúa chúng ta.

Các Chặng đàng Thánh giá thường được sắp xếp chung quanh chu vi khu vực lòng nhà thờ, để các tín hữu đi Đàng Thánh giá tưởng niệm via dolorosa, nghĩa là con đường Chúa vác thập giá qua các phố xá Giêrusalem [hình 22].

Việc đạo đức này chỉ mới phổ biến trong Giáo Hội từ thế kỷ thứ 17, và không bắt buộc phải có trong nhà thờ. Nếu các Chặng đàng Thánh giá được đặt trong lòng nhà thờ, chứ không phải ở khu hành lang nhà thờ hay trong khu vườn ngoài trời, thì tượng ảnh của các Chặng đàng Thánh giá cần phải hoà hợp với kích thước cũng như kiểu dáng của nhà thờ và luôn phải tuân theo các yêu cầu của phụng vụ. Vì thế, các Chặng đàng Thánh giá ở ngoài nhà thờ có thể dành cho nghệ sĩ phạm vi thiết kế rộng rãi hơn. Cha O’Connel, chắc chắn quá quen với vấn đề về những Chặng đàng Thánh giá thô thiển, đã đề nghị rằng “nếu không thể sắm những ảnh tượng có giá trị, thì tốt hơn là nên hài lòng với một cây Thánh giá mà thôi (kèm với tên gọi mỗi Chặng)”. Không nên vội vã quyết định loại bỏ các tượng ảnh các Chặng đàng Thánh giá như thế, nhưng hãy nỗ lực để tìm cho được những ảnh tượng xứng đáng và có giá trị thẩm mỹ cao để diễn tả các Chặng đàng Thánh giá.

Steven J. Schloeder
Sách “Architecture in Communion”, chương VII
Phêrô Nguyễn Đình Diễn chuyển ngữ

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGMVN, số 77 (tháng 7 & 8 năm 2013)

Chia sẽ bài viết này trên:

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Cách ly đang gây hoảng sợ. Văn hoá của chúng ta vốn đã quen với những lối giải trí tức thời không ngưng nghỉ thì viễn cảnh mỗi người phải tự cách ly lại càng gây thêm hoang mang. Chúng ta phải đương đầu làm sao?

 Tôi gặp lại chính mình khi nghĩ đến Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận. Tôi đã từng gặp ngài khi ngài còn ở Roma trong những ngày vàng son. Ngài nhận chức Giám mục Nha Trang, Việt Nam, năm 1967 và được bổ nhiệm làm Giám mục Phó Sài Gòn năm 1975 ngay trước những ngày Sài Gòn rơi vào tay quân đội Bắc Việt. Tháng tám năm đó, dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời, ngài bị bắt và trải qua mười ba năm sau đó trong tù. Vào ngày được thả, ngài vẫn bị quản thúc tại nhà cho đến ngày bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1991. Có đến chín năm trong thời gian mười ba năm tù đày, ngài bị biệt giam. Chúng ta học được gì nơi ngài?

 Rời Việt Nam, Hồng Y Thuận đến Roma. Năm 1998, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặt ngài làm Chủ Tịch Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình và vào năm 2000, Đức Thánh Cha mời ngài hướng dẫn tuần linh thao cho giáo triều Roma vốn được tổ chức mỗi năm vào đầu Mùa Chay. Đức Gioan Phaolô II yêu cầu ngài trình bày những trải nghiệm riêng tư của những năm biệt giam. Những bài nói chuyện của ngài sau đó được phổ biến như những Chứng Từ của Niềm Hy Vọng.

 Đức Hồng Y đã mô tả những hoàn cảnh bị giam giữ. Ngài ở trong một xà lim không có cửa sổ và trong nhiều ngày nhiều đêm đèn điện không bao giờ tắt; và sau đó, nhiều đêm nhiều ngày ngài lại bị vùi chôn vào bóng tối hoàn toàn. Ngài cảm nhận như thể “đang ngạt thở vì cái nóng và độ ẩm đến phát điên”. Ngài cảm thấy khủng hoảng vì không thể chu toàn sứ vụ linh mục của mình.

 Và rồi, vào một đêm, từ sâu thẳm lòng mình, ngài nghe một tiếng nói, “Tại sao con phải dằn vặt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và công việc của Người”. Ngài chợt nhận ra rằng, sứ vụ của ngài là tốt nhưng sứ vụ của ngài đã không là Thiên Chúa mà là công việc của Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa có thể làm điều này điều kia tốt hơn ngài làm rất nhiều, vì thế, ngài phải chọn Thiên Chúa, không phải công việc của Người và chỉ chọn một mình Người.

 Trải nghiệm của Hồng Y Phanxicô Xavier, dẫu quá khắc nghiệt như hoàn cảnh của nó, có thể giúp chúng ta suy nghĩ về các ưu tiên của mình trong thời gian dịch bệnh Corona. Đây cũng là một khủng hoảng cá nhân đối với nhiều người trong chúng ta cũng như đối với tình trạng khẩn cấp về sức khoẻ và các biến động xã hội cũng như chính trị. Một bài học nhớ mãi đối với Hồng Y Phanxicô Xavier là ngài ý thức sâu sắc về giá trị của giây phút hiện tại. Ngài viết, “Đây là thời khắc duy nhất chúng ta đang có trong tay, quá khứ đã qua và chúng ta không biết liệu có một tương lai hay không. Giây phút hiện tại là kho tàng lớn lao của mỗi người”. Khi chúng ta chấp nhận cuộc sống giãn cách xã hội liệu chúng ta có quá để tâm đến quá khứ hoặc quá bứt rứt về tương lai? Hoặc là chúng ta có khả năng nhìn thời gian hiện tại, dẫu có thể đang khó khăn, như một quà tặng?

 Việc sống giây phút hiện tại, trong thinh lặng và giãn cách xã hội không làm cho mọi sự nên dễ dàng. Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier giải thích, “Thời gian trôi chậm trong nhà tù, đó là điều đáng nói nhất của việc cách ly. Hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng và nhiều hơn nữa… trong thinh lặng”. Chúng dài một cách kinh khủng và khi đã trở thành nhiều năm, chúng là vô tận”. Dẫu chúng ta không nghĩ một điều gì đó khốc liệt hơn sẽ xảy ra nhưng những tuần sau đó, những tháng sau đó vẫn rất nghiệt ngã. Hồng Y Phanxicô Xavier thừa nhận rằng, trong cuộc đời ngài, có những giai đoạn mà ngài cảm thấy hết sức đau khổ khi thấy mình không thể cầu nguyện, “Tôi trải nghiệm sâu sắc sự yếu hèn thể xác và tinh thần của mình”. Nhiều lần ngài viết, ngài đã kêu lên như Chúa Giêsu đã kêu lên trên thập giá, “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con”. Mỗi lần như thế, ngài thêm, “Vậy mà, con biết Chúa không bỏ con”. Dẫu thế, những thời khắc này có thể vẫn rất khó khăn cho chúng ta và một đôi khi cũng thật khó để xác tín rằng, đức tin bảo đảm cho chúng ta, chúng ta không bao giờ bị bỏ rơi.

 Trong khi hoạ lại trải nghiệm của mình về sự cách ly, Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ để mình bị cuốn hút vào đó. Đơn giản, cách ly không bao giờ là tất cả đối với ngài. Trên hết, Ngài giữ cho tinh thần mình phấn chấn bằng một cảm thức mình là thành viên của Hội Thánh mà ngài thể hiện theo một cách thức khiến người khác ngạc nhiên. Ngài kể, khi còn bị cách ly ở Hà Nội, một nữ công an mang đến cho ngài một con cá để làm thức ăn, con cá được gói với hai trang nhật báo Vatican, L’Osservatore Romano, vốn theo sự thường là bị tịch thu. Ngài giấu nỗi vui khi nhìn thấy nó; sau đó, một mình, ngài rửa sạch, hong khô tờ báo và cất lấy nó, ngài coi nó như một vật thánh. Ngài giải thích, “Với tôi, trong một chế độ cách ly ngặt nghèo không khoan nhượng đó, những trang này là một dấu chỉ của sự hiệp thông với Roma, với thánh Phêrô, với Giáo Hội và một cái ôm hôn từ toà thánh”. Ngài thêm, “Hẳn tôi đã không thể sống sót nếu không nhận thức mình là một thành phần của Hội Thánh”.

 Thế nhưng, cảm thức về cộng đoàn của Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ chỉ hẹp hòi trong phạm vi Giáo Hội. Giới răn yêu thương là nền tảng cho cuộc sống của ngài. Không ai bị loại ra ngoài; cách riêng, không phải là những người canh gác ngài. Các nhà chức trách thường xuyên thay đổi những người canh gác ngài vì sợ rằng, đặt họ ở đó, họ sẽ bị “lây nhiễm” bởi ngài. Sau đó họ ngưng đổi người, vì sợ ngài sẽ làm lây nhiễm tất cả. Ngày kia, một trong những người canh gác ngài hỏi, “Ông có yêu thương chúng tôi không?”, ngài trả lời, “Có, tôi yêu các ông”. Người ấy không tin, “Nhưng chúng tôi bỏ tù ông nhiều năm, không một phiên toà, không một bản án và ông vẫn yêu thương chúng tôi? Không thể có điều đó”. Hồng Y Phanxicô Xavier nói với người canh gác mình rằng, “Tôi ở với các ông đã nhiều năm, ông thấy đó là sự thật”. Người ấy nói với ngài, “Khi ông được tự do, ông không phái giáo dân tới đốt nhà chúng tôi và giết gia đình chúng tôi chứ?”; “Không! Ngay cả nếu các ông muốn giết tôi, tôi vẫn yêu thương các ông”; “Nhưng tại sao?”; “Bởi vì Chúa Giêsu dạy tôi yêu thương mọi người, yêu thương ngay cả những kẻ thù của tôi. Nếu tôi không yêu thương, tôi không đáng được gọi là người công giáo”. Đó là một chuyện kể phi thường nhắc cho chúng ta rằng, giới răn yêu thương tha nhân của Chúa Giêsu một đôi khi lên tiếng mạnh mẽ nhất vào những thời điểm khi người ta cần đến nó nhất. Một nét đặc trưng cho hoàn cảnh của chúng ta là chăm sóc, cách ly hay không cách ly, chúng ta cũng phải chăm sóc nhau.

 Chuyện kể cuối cùng là khi Hồng Y Phanxicô Xavier còn là sinh viên ở Roma, ngài viếng Lộ Đức. Tại hang đá, ngài suy nghĩ về lời Đức Mẹ nói với Bernadette, “Mẹ không hứa cho con niềm vui và những ủi an trên cuộc đời này, nhưng là thử thách và khổ đau”. Ngài tự hỏi với thoáng chút sợ hãi rằng, liệu những lời này cũng nói với mình chăng. Nhiều năm êm ả dần trôi, từ một Giáo sư chủng viện đến Giám đốc, rồi Tổng đại diện và Giám mục sau đó, thì ngài nghĩ rằng, những lời đó chẳng dính dáng chút nào đến mình. Thế nhưng, đến năm 1975 và với năm đó, “Tôi bị bắt vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời với tù đày, cách ly; bấy giờ tôi mới hiểu, Đức Mẹ đã chuẩn bị cho tôi điều này từ năm 1957”.

 Trải nghiệm của chúng ta vào những tuần những tháng sắp tới vốn sẽ không khắc nghiệt như trải nghiệm của Đức Hồng Y Phanxicô Xavier, chúng ta tin như thế; nhưng nó cũng trao tặng chúng ta một cơ hội. Đức Hồng Y nói, “Khi tôi trải qua những giờ phút đau khổ cùng cực về thể xác và tinh thần, tôi nghĩ đến Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Với con mắt thế gian, cuộc đời của Ngài là một thất đoạt, thất vọng và thất bại…; vậy mà với cái nhìn của Thiên Chúa, đó là một thời khắc quan trọng nhất trong cuộc đời của Ngài, bởi đó cũng chính là lúc Ngài đổ máu ra cho ơn cứu độ toàn thể nhân loại”.

Chúng ta đã sống những ngày đầu tiên của cuộc khủng hoảng này. Khắt nghiệt là điều có thể có nhưng phải chăng trong cái nhìn quan phòng thì một điều gì đó xảy ra đã rất trùng hợp với Mùa Chay năm nay? Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận tại Lộ Đức, chúng ta có cảnh tỉnh trước những bài học vốn có thể dạy cho mình một điều gì đó?

Rev. Fr. RODERICK STRANGE
—————————————————-

 Cha Roderick Strange là một giáo sư thần học của đại học St. Mary, Twickenham; ngài cũng là Viện Trưởng của Mater Ecclesiae College, một học viện giáo hoàng thuộc đại học St. Mary. Cuốn sách mới nhất của ngài là Newman: The Heart of Holiness, do Hodder & Stoughton xuất bản.

 Nguồn: https://www.thetablet.co.uk/features/2/17772/living-in-the-present-moment

 Người dịch: Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Chia sẽ bài viết này trên:

Sứ đồ Phaolô

Sứ đồ Phaolô

Phaolô thành Tarsus (còn gọi là Saolô theo chữ Saul, Paulus, Thánh Phaolô Tông đồ, Thánh Phaolồ hoặc Sứ đồ Phaolô, Thánh Bảo-lộc hay Sao-lộc theo lối cũ (tiếng Hebrew: שאול התרסי‎ Šaʾul HaTarsi, nghĩa là “Saul thành Tarsus”, tiếng Hy Lạp cổ đại: Σαούλ Saul và Σαῦλος Saulos và Παῦλος Paulos[2]), là “Sứ đồ của dân ngoại.” [3] Cùng các sứ đồ Phêrô, Gioan, và Giacôbê, ông được xem một trong những cột trụ của Hội Thánh Kitô giáo tiên khởi, và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Kitô giáo thời kỳ sơ khai.[4] (sinh 3–14 TCN; mất 62–69 CN).

Không giống Mười hai Sứ đồ, không có chỉ dấu nào cho thấy Phaolô từng gặp Giêsu trước khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá.[5] Theo ký thuật của Tân Ước, Phaolô là người Do Thái chịu ảnh hưởng văn minh Hy Lạp, và là công dân của Đế quốc La Mã, đến từ thành Tarsus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Phaolô là người kiên trì săn đuổi những Kitô hữu ban đầu (hầu hết là người Do Thái) để bách hại họ, cho đến khi chính ông trải qua kinh nghiệm lạ lùng trên đường đến thành Damascus. Trong một khải tượng, ông gặp Chúa Giêsu và mắt ông bị mù trong một thời gian ngắn. Trải nghiệm này đã đem ông đến với đức tin Kitô giáo, chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa.[6] Phaolô khẳng định rằng ông nhận lãnh Phúc âm không phải từ con người, nhưng từ chính “sự mặc khải của Chúa Giêsu.”[7]

Sau khi chịu lễ Thanh Tẩy, Phaolô đến ngụ cư ở xứ Arabia (có lẽ là Nabataea) cho đến khi ông gia nhập cộng đồng Kitô hữu còn non trẻ ở Jerusalem, và ở lại với Phêrô (hoặc Phi-e-rơ) trong mười lăm ngày.[8] Qua những thư tín gởi các cộng đồng Kitô giáo, Phaolô trình bày mạch lạc quan điểm của ông về mối quan hệ giữa tín hữu Kitô giáo người Do Thái với tín hữu Kitô giáo không phải người Do Thái, và giữa Luật pháp Moses (Mô-sê hoặc Môi-se) với giáo huấn của Chúa Giêsu.

Phaolô được sùng kính như một vị Thánh bởi các nhóm khác nhau như Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo, và một số người thuộc Giáo hội Luther. Ông được xem là thánh quan thầy của Malta và Thành Luân Đôn, một vài thành phố khác được đặt tên để vinh danh ông như São Paulo, Brasil và Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ. Đạo Mormon xem ông là nhà tiên tri.

Các thư tín của Phaolô hình thành phần nền tảng của Tân Ước (được xem là nguồn quan trọng cho nền thần học của Hội Thánh ban đầu) cùng những nỗ lực của ông nhằm truyền bá Kitô giáo trong vòng các dân tộc, là mục tiêu của nhiều khuynh hướng luận giải khác nhau. Kitô giáo truyền thống xem các thư tín của Phaolô là một phần của kinh điển Tân Ước và xác định rõ ràng rằng tư tưởng của Phaolô là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Giêsu và các sứ đồ khác.

Những người ủng hộ thần học giao ước tin rằng Hội Thánh đã thay thế dân tộc Do Thái trong vị trí Tuyển dân của Thiên Chúa, khơi mở những tranh luận hiện vẫn tiếp diễn xem xác định rõ ràng này có phải bắt nguồn từ ý tưởng của Phaolô khi ông giải thích Jeremiah 31: 31[9] và Ezekiel 36: 27[10], sau đó xác định rõ ràng này được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Kitô giáo.

Ảnh hưởng của Phaolô trong tư tưởng Kitô giáo được xem là quan trọng hơn bất cứ tác giả Tân Ước nào, xuyên suốt hệ tư tưởng Kitô giáo cho đến ngày nay: từ Augustine thành Hippo đến những bất đồng giữa Gottschalk và Hincmar thành Reims; giữa tư tưởng Thomas Aquinas và học thuyết của Molina; giữa Martin Luther, John Calvin và Arminius; giữa học thuyết của Jansen và các nhà thần học Dòng Tên, đến các tác phẩm của nhà thần học Karl Barth, đặc biệt là luận giải của Barth về một trong những thư tín của Phaolô,Thư gởi tín hữu ở Rôma, đã tạo ra những dấu ấn về chính trị và thần học trên giáo hội Đức thế kỷ 21.

Phaolô trên đường đến Damascus,

Có thể sử dụng hai nguồn chính để tái tạo những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Phaolô: các thư tín của ông và những ký thuật trong sách Công vụ các Sứ đồ.[11] Có một vài khó khăn khi dựa vào hai nguồn thông tin này: những thư tín của Phaolô được viết trong quãng thời gian tương đối ngắn (có lẽ khoảng từ năm 50 – 58), và có những nghi vấn về một số sự kiện trong sách Công vụ.[12][13] Riêng về Thứ kinh Công vụ của Phaolô và Thecla, các học giả thường không công nhận sách này, cho đó chỉ là một tác phẩm văn học được sáng tác trong thế kỷ thứ 2, do các sự kiện được chép trong đó không phù hợp với những ký thuật của sách Công vụ các Sứ đồ và các thư tín của Phaolô.

Tuổi trẻ

Theo Công vụ các Sứ đồ, Phaolô sinh tại thành Tarsus, xứ Cilicia, thuộc Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) với tên Saul.[14] Ông là người Israel thuộc chi phái Benjamin, được cắt bì vào ngày thứ tám, là một người Pharisee,[15] và “là người sốt sắng quá đỗi về cựu truyền của tổ phụ”[16] Theo sách Công vụ, Phaolô có quốc tịch La Mã – một đặc quyền mà ông đã dùng đến vài lần để tự bảo vệ mình [17]

Quan điểm được chấp nhận rộng rãi cho rằng Phaolô chưa hề kết hôn. Chính Phaolô đã viết;”Vậy, tôi nói với người những kẻ chưa cưới gả, và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn”.[18] Không có chứng cớ lịch sử nào đề cập đến việc Phaolô đã lập gia đình. Tuy nhiên, một số người lập luận rằng tập quán xã hội thời ấy đòi hỏi người Pharisee và thành viên Toà Công luận (Sanhedrin) phải lập gia đình. Nếu Phaolô là người Pharisee và có thể là thành viên Toà Công luận, thì có lẽ ông đã kết hôn vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

Theo Công vụ 22: 3,[19] Phaolô ở Jerusalem, theo học Gamaliel, một học giả tiếng tăm thời ấy. Khi đi nhiều nơi để rao giảng Phúc âm, Phaolô thường tự lo sinh kế cho mình[20] như được chép trong Công vụ 18: 3,[21] Phaolô từng sống với nghề may trại. Theo La Mã 16:2, Pheobe là người có những đóng góp tài chính hỗ trợ ông trong sứ mạng rao giảng phúc âm.

Tiếp nhận Đức tin Kitô giáo

Bài chi tiết: Sự cải đạo của Phaolô

Theo lời tự thuật của Phaolô, ông tìm mọi cách để săn đuổi và bức hại các tín hữu Kitô giáo cho đến chết,[22] theo ký thuật của sách Công vụ, ông có mặt trong số những người chứng kiến cái chết của Stephen, người tử đạo đầu tiên của Kitô giáo,[23] nhưng về sau Phaolô đã chấp nhận đức tin Kitô giáo:

“Bấy giờ, Saul chỉ hằng ngăm đe và chém giết môn đồ của Chúa không thôi, đến cùng thầy cả thượng phẩm, xin người những bức thư đề gởi cho các nhà hội thành Damascus, hầu cho hễ gặp người nào thuộc về đạo, bất kỳ đàn ông đàn bà, thì trói giải về thành Jerusalem. Nhưng Saul đang đi đường gần đến thành Damascus, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Saul, Saul, sao ngươi bắt bớ ta? Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Giêsu mà ngươi bắt bớ; nhưng hãy đứng dây, vào trong thành, người ta sẽ cho ngươi mọi điều phải làm. Những kẻ đi cùng với người đều đứng lại sững sờ, nghe tiếng nói mà chẳng thấy ai hết. Saul chờ dậy khỏi đất, mắt dẫu mở, nhưng không thấy chi cả; người ta bèn cầm lấy tay dắt người đến thành Damascus; người ở đó ba ngày, chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống.” (Công vụ 9. 1-9; xem thêm lời giải trần của Phaolô trước Vua Agrippa ở Công vụ 26, và Galatians 1. 13-16).

Cổng Kisan, nơi Phaolô trốn khỏi thành Damascus

Sau trải nghiệm tiếp nhận Kitô giáo, Phaolô lưu lại vài ngày ở Damascus rồi đến sống ở vương quốc Nabatea mà ông gọi là “Arabia”, rồi trở lại Damascus, khi ấy đang ở dưới sự cai trị của người Nabatea. Ba năm sau khi qui đạo, Phaolô bị buộc phải rời khỏi thành phố qua cổng Kisan trong ban đêm do phản ứng của giới cầm quyền Do Thái đối với lời giảng của ông. Về sau Phaolô đến Jerusalem, gặp James Người công chính (Giacôbe hoặc Gia-cơ) và Peter, ông ở với Peter trong 15 ngày.

Sau chuyến viếng thăm Jerusalem, Phaolô đến thành Antioch, từ đó ông bắt đầu cuộc hành trình qua Cộng hòa Síp và miền nam vùng Tiểu Á để rao giảng Phúc âm của Giêsu – được biết đến với tên “Hành trình Truyền giáo Thứ nhất của Phaolô”.[24] Tại Derbe, Phaolô và Barnabas bị ngộ nhận là “thần linh… trong hình dạng loài người”.[25] Những thư tín của Phaolô nhắc đến việc ông giảng dạy tại Syria và Cilicia,[26] sách Công vụ ký thuật rằng Phaolô “trải qua xứ Syria và Cilicia, làm cho các hội Thánh được bền vững”.[27]

Trong các cuộc hành trình truyền giáo, Phaolô thường chọn một hoặc hai người cùng đi với ông, đó là Barnabas, Silas, Titus, Timothy, John còn gọi là Mark, Aquila, Priscilla và thầy thuốc Luca. Ông nếm trải nhiều điều khổ ải dưới các hình thức khác nhau như bị giam cầm ở Philippi, bị roi vọt và ném đá, chịu đói khát, và suýt thiệt mạng vì một âm mưu sát hại ông.[28]

Thành lập các Giáo đoàn

Trong những năm kế tiếp, Phaolô đi khắp phía tây của vùng Tiểu Á, lần này ông tiến vào xứ Macedonia và thành lập cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên tại thành Philippi, tại đây ông phải đối diện với nhiều khó khăn. Phaolô thuật lại kinh nghiệm của mình:”Sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Philippi, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Thiên Chúa, cứ rao truyền Phúc âm của Thiên Chúa cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến”.[29] Sách Công vụ, từ góc nhìn của một nhân chứng, thuật lại việc Phaolô đuổi quỷ khỏi một phụ nữ nô lệ, làm người ấy mất khả năng bói toán và vì vậy làm giảm trị giá của người nô lệ; do đó, chủ nô cho ông là “kẻ cắp”, và nộp ông cho quan quyền.[30] Sau khi được trả tự do vì không có chứng cứ buộc tội,[31] Phaolô đi đến thành Thessalonica, lưu lại ở đây một thời gian trước khi vào Hy Lạp. Trước tiên ông đến Athens, nơi ông có bài thuyết giảng đã trở thành huyền thoại trên đồi Areopagus khi ông soi dẫn cho những người có mặt ở đây biết ai là “Chúa Không biết” mà họ vẫn thờ phụng.[32] Kế đó, Phaolô đến thành Corinth, lưu trú ở đó ba năm và viết thư nhất gởi tín hữu ở Thessalonica.

Một lần nữa, Phaolô lại vướng vào vòng lao lý ở thành Corinth khi một nhóm người Do Thái cáo buộc Phaolô “xúi giục dân chúng thờ Thiên Chúa cách trái nghịch với luật pháp”. Phaolô bị kéo đến trước quan trấn thủ Gallio, nhưng ông này cho đây là việc không đáng quan tâm và bác bỏ cáo trạng.[33] Một di chỉ ở Delpphi có nhắc đến tên Gallio, giúp xác định sự kiện này xảy ra trong năm 52, góp phần tái tạo bảng niên đại về cuộc đời của Phaolô.

Phaolô tiếp tục công cuộc rao giảng Phúc âm, thường được gọi là “Hành trình Truyền giáo Thứ ba”,[34] trải qua khắp vùng Tiểu Á và Macedonia, đến Antioch rồi quay trở lại. Nỗ lực thuyết giáo của Phaolô gặp phải những phản ứng giận dữ tại một hí viện ở Ephesus, khi lợi tức của giới thợ bạc ở đây bị thiệt hại do ảnh hưởng từ những lời thuyết giảng của ông. Thu nhập của những người này phụ thuộc vào nghề làm tượng nữ thần Artemis được cư dân địa phương sùng bái; hệ quả là đám đông bạo động vây phủ Phaolô khiến ông và những người bạn suýt bị mất mạng.[35] Về sau, khi Phaolô trên đường đến thành Jerusalem, có đi qua thành Ephesus nhưng không lưu lại ở đó vì ông phải đến Jerusalem cho kịp Lễ Ngũ Tuần. Dù vậy, Phaolô đã triệu tập các trưởng lão của hội Thánh tại Ephesus đến gặp ông tại Miletus. Tại đây, Phaolô giãi bày với họ những trải nghiệm cá nhân cũng như khuyên bảo và khích lệ họ.[36]

Giam cầm

Khi đến Jerusalem, Phaolô đối diện với lời đồn đại cho rằng ông chống lại luật pháp Moses. Để chứng minh việc tuân giữ luật pháp, Phaolô giữ lời thề Nazarite với bốn người khác.[37] Sau bảy ngày cho kỳ lễ tinh sạch gần trọn, Phaolô bị bắt giữ và hành hung ngay bên ngoài Đền thờ bởi một đám đông cuồng loạn kêu la: “Hỡi người Israel, hãy đến giúp với! Kìa, người này giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp, và nghịch cùng chốn này nữa, đến nỗi hắn dẫn người Hy Lạp vào trong đền thờ, và làm cho nơi Thánh này bị ô uế”.[38] Khi một đội binh La Mã đến cứu Phaolô khỏi đám đông đang giận dữ, họ kéo đến cáo buộc Phao lô là kẻ mưu phản, “kẻ xách động thuộc phe Nazareth”, kẻ rao giảng sự sống lại của người chết. Phaolô cố gắng giải thích và trình bày đức tin của mình với đám đông bằng ngôn ngữ của họ, có lẽ là tiếng Aram, nhưng đám đông càng bất bình kêu to, “Hãy cất người dường ấy khỏi thế gian, nó chẳng đáng sống đâu!”[39] Phaolô viện dẫn quyền công dân La Mã để xin được xét xử tại Rôma, nhưng do sự trì trệ của tổng đốc Antonius Felix, ông bị giam giữ hai năm ở Caesarea cho đến khi quan tổng đốc mới, Porcius Festus, đến nhậm chức, nghe giải trình và cho giải Phaolô bằng đường biển đến La Mã, tại đây ông bị quản chế thêm hai năm, với điều kiện sống tốt hơn.[40]

Đến đây chúng ta bị buộc phải dựa vào các truyền thuyết nếu muốn có thêm thông tin chi tiết về những ngày cuối cùng của Phaolô. Theo một truyền thuyết, Phaolô đã đến Tây Ban Nha và Anh quốc. Có lẽ Phaolô đã có ý định ấy, nhưng vẫn không có chứng cớ ông đã thực hiện chuyến đi. Theo một truyền thuyết khác, Phaolô đã chết ở La Mã. Eusebius thành Caesarea (khoảng 275 – 339) cho rằng Phaolô đã bị xử chém đầu trong thời trị vì của Nero, Hoàng đế La Mã, có thể là năm 64, khi thành La Mã bị thiêu rụi bởi một cơn hoả hoạn, hoặc vài năm sau đó, khoảng năm 67.

Đến La Mã, những ngày sau cùng

Sách Công vụ các Sứ đồ ký thuật chi tiết hành trình chuyến đi của Phaolô từ Caesarea đến La Mã. Quản cơ Julius giải giao Phaolô và những tù nhân khác bằng thuyền, có lẽ Luca và Aristarchus cùng đi trên tàu. Vì đang mùa giông bão, cuộc hành trình vừa chậm vừa gian khổ. Họ đi dọc bờ biển Syria, Cicilia và Pampylia. Đến thành Myra trong xứ Lycia, tù nhân được chuyển sang một tàu khác để đến Ý. Phải khó nhọc lắm tàu mới cập bến Mỹ Cảng trên đảo Crete.[41] Phaolô đưa ra lời khuyên nên nghỉ đông ở đây, nhưng họ không chịu nghe theo và tiếp tục cuộc hành trình.[42] Tàu bị bão, trôi giạt trong mười bốn ngày, sau cùng bị mắc cạn trên bờ biển Malta.[43] Đoàn người phải lưu lại trên đảo suốt ba tháng, ở đó Phaolô chữa lành bệnh sốt và bệnh lỵ cho thân phụ của tù trưởng của đảo, Publius, và những người khác. Khi mùa xuân đến, đoàn người lại lên đường.[44]

Sách Công vụ ký thuật cuộc đời của Phaolô cho tới khi ông đến La Mã, lúc ấy ước chừng 61 tuổi. Cuốn sách kết thúc với những lời cáo trách của Phaolô khi nói chuyện với một nhóm người Do Thái tìm đến để tra hỏi và chế giễu ông về Phúc âm:

Hãy đến nơi dân này và nói rằng;

Các ngươi lấy tai nghe mà chẳng hiểu chi;

Lấy mắt xem mà chẳng thấy gì;

Vì lòng dân này đã nặng nề;

Họ bịt tai; Họ nhắm mắt;

E rằng mắt mình sẽ thấy,

Tai mình sẽ nghe,

Lòng mình sẽ hiểu,

Và họ sẽ trở lại,

Để ta chữa lành chăng.

Vậy, hãy biết rằng

Sự cứu rỗi này của Thiên Chúa đã sai đến cho người ngoại;

Những người đó sẽ nghe theo vậy.[45]

Tác phẩm

Phaolô viết nhiều thư tín gởi các hội Thánh và những cá nhân. Tuy vậy, có lẽ có một số đã không còn được lưu giữ. 1Cor 5: 9[46] có thể được xem như là một gợi ý về thư tín trước đó ông đã gởi các tín hữu thuộc giáo đoàn Corinth nhưng nay không còn. Những thư tín vẫn còn lưu giữ đều được đưa vào Tân Ước, theo thứ tự từ dài đến ngắn. Có một ít thư tín được viết trong khi ông bị giam giữ, thường được gọi là “thư viết trong tù”, theo truyền thuyết những lá thư này được viết ở La Mã.

Những thư tín có được sự đồng thuận về quyền tác giả của Phaolô:

Thư gửi tín hữu Rôma

Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô

Thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô

Thư gửi tín hữu Galát

Thư gửi tín hữu Philípphê*

Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica

Thư gửi ông Philêmon*

Những “thư tín giống như của Phaolô” (nhiều học giả tin rằng như thư này không phải do chính Phaolô viết, nhưng thường được cho rằng ông là tác giả)

Thư gửi tín hữu Êphêsô*

Thư gửi tín hữu Côlôsê*

Thư thứ hai gửi tín hữu Thêxalônica

Những thư tín mục vụ của Phaolô:

Thư thứ nhất gửi ông Timôthê

Thư thứ hai gửi ông Timôthê

Thư gửi ông Titô

Ghi chú: Những thư tín có dấu * thuộc nhóm những bức thư viết trong tù.

Thần học

Tư tưởng của Phaolô ảnh hưởng đậm nét trên thần học Kitô giáo trong những lãnh vực như đức tin, sự xưng công chính, cứu rỗi, mối quan hệ giữa Kitô hữu và luật pháp Moses, Kitô học (Christology), Thánh Linh học, nguyên tội, chung thời học (eschatology) và bản chất của đời sau, cũng như vị trí của Kinh Thánh Do Thái trong Kitô giáo.

Đức tin và Sự xưng công chính

Phaolô tập chú vào vị trí trọng tâm của đức tin trong sự cứu rỗi được ban cho qua sự chết chuộc tội của Chúa Giêsu, và khả năng được xưng công chính qua đức tin ấy.[47] Một trong những điều Phaolô xác định rõ ràng đã trở nên rất nổi tiếng: “Vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm theo luật pháp”,[48] luôn luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sự xưng công chính và đức tin.

Xưng công chính là một ý niệm về pháp chế.[49] Được xưng công chính nghĩa là được tuyên bố trắng án. Vì mọi người đều là tội nhân, chúng ta chỉ có thể được trắng án khi Chúa Giê-xu thế chỗ chúng ta bằng cái chết đền tội thay trên cây thập tự. Như thế, theo cách nói của Phaolô tội nhân “được xưng công chính bởi đức tin,” ấy là bằng cách hiệp nhất với Chúa Kitô, tội nhân đồng chết và đồng sống lại với ông. Tuy nhiên, cần biết rằng được xưng công chính không có nghĩa là vì chúng ta hiệp nhất với Chúa Kitô trong sự vô tội của ông, mà vì sự chết hiến tế của đấng vô tội mang lấy hình phạt của chúng ta là tội nhân xứng hiệp với sự đoán phạt thiên thượng.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của đức tin, nhờ đó mà tội nhân được xưng công chính, Phaolô nhắc đến Abraham, người đã tin tưởng lời hứa của Thiên Chúa rằng ông sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc. Phaolô giải thích rằng, “Phúc âm đã được rao truyền trước cho Abraham.”[50] Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Phaolô về sự hiện hữu từ trước vô cùng của Chúa Giêsu, nghĩa là ông là Thiên Chúa.[51]

Cùng với sự dạy dỗ của Phaolô về sự phục sinh và sự sống vĩnh hằng, cái nhìn thấu suốt của Phaolô về thần học đức tin và sự xưng công chính là chủ đề của nhiều sự luận giải, dẫn đến những tranh luận về việc xưng công chính chỉ bởi đức tin đối nghịch với sự xưng công chính bởi đức tin và công đức. Hầu hết các giáo hội Kháng Cách khẳng quyết rằng tư tưởng Phaolô đã giúp hình thành định nghĩa cho rằng sự cứu rỗi đến chỉ từ đức tin mà không bởi bất cứ nỗ lực bên ngoài nào của tín hữu (xem Năm Tín lý Duy nhất), bất đồng với quan điểm của Công giáo Rôma và Chính Thống giáo cho rằng ý tưởng của Phaolô đã bị hiểu sai và không phù hợp với lời dạy của James (Giacôbê hoặc Gia-cơ): “Nhơn đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.”[52]

Sự Cứu rỗi và Luật pháp Moses

Vấn đề có còn cần thiết phải tuân giữ Luật pháp Moses để được cứu rỗi đã được nêu lên trong thời kỳ Hội Thánh tiên khởi tại Giáo hội nghị Jerusalem, ở đó quan điểm của Phaolô đã tạo ra ảnh hưởng đáng kể. Những tác phẩm của Phaolô trình bày giáo thuyết cho rằng có được sự cứu rỗi không phải bởi nỗ lực tuân giữ luật pháp Moses nhưng do đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu. Phaolô xác định rõ ràng rằng không có sự phân biệt nào hết giữa người Do Thái và các dân tộc khác “vì mọi người đều phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Thiên Chúa.”[53] Vì vậy Phaolô được xem là nhân tố chính thúc đẩy việc chấp nhận người “ngoại bang” (không phải dân Do Thái) gia nhập Kitô giáo mà không có bất cứ yêu cầu tuân giữ nghi thức Do Thái như phép cắt bì hoặc kiêng cữ một số thức ăn.

Nguyên tội

Trong Tân Ước, giáo lý nguyên tội (tội tổ tông) được luận giải mạch lạc bởi Phaolô. Ông viết: “Bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội….”[54] Về sau giáo lý này được trình bày cặn kẽ bởi các nhà thần học Kitô giáo, nổi bật nhất là Augustine thành Hippo. (Xem Nguyên tội)

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Linh

Chúa Giêsu

Trong các thư tín của mình, Phaolô có nhắc đến các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu như bữa ăn cuối cùng của ông với các môn đồ,[55] sự chết trên thập tự giá,[56] và sự sống lại.[57] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là người Do Thái thuộc dòng dõi Vua David.[58] Ông tập chú vào bản chất của mối quan hệ giữa tín hữu Cơ Đốc với Chúa Giê-su, nhất là sự chết chuộc tội của ông. Phúc Âm Máccô chép rằng Chúa Giêsu đã “phó sự sống mình là giá chuộc cho nhiều người.”[59] Trong các thư tín của mình, nhất là trong Thư gửi tín hữu Rôma, Phaolô đã triển khai mạch lạc và cặn kẽ ý niệm về hành động cứu chuộc của Chúa Giêsu.

Theo luận giải của Phaolô, dưới luật pháp mọi người đều là tội nhân, nhưng những ai tiếp nhận Chúa Giêsu thì “nhờ ân điển ông mà được xưng công chính bởi sự cứu chuộc đã làm trọn trong Chúa Giêsu Kitô.” Họ được “cứu chuộc” vì Chúa Giê-xu đã đền tội thay cho họ; bởi sự chết của ông mà họ được phục hòa với Thiên Chúa. Như thế, sự chết của Chúa Giêsu là sự hiến tế chuộc tội cho con người nhằm làm dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Ấy là ân điển của Thiên Chúa, và chỉ bởi đức tin mà con người mới có thể nhận lãnh ân điển ấy.[60]

Phaolô luận giải xác tín của ông trong giáo lý về thần tính của Chúa Kitô. Ông viết: “Vì muôn vật đã được dựng nên trong ông (Chúa Kitô), bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi ông và vì ông mà được dựng nên cả. ông có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong ông”.[61] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là “ảnh tượng của Thiên Chúa” (“Ấy chính ông là hình ảnh của Thiên Chúa không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên.”)[62][63]

Chúa Thánh Linh

Tương tự, Phaolô cũng trình bày một học thuyết vững chắc về Chúa Thánh Linh. Phần lớn Thư gởi tín hữu ở La Mã và phần cuối Thư thứ hai gởi tín hữu ở Corinth miêu tả Chúa Thánh Linh bình đẳng với Chúa Cha và Chúa Con, giúp hình thành giáo lý Ba Ngôi. Trong thư gởi tín hữu ở Galatia, Phaolô giải thích rằng việc tín hữu nhận lãnh Chúa Thánh Linh là do lời hứa Thiên Chúa dành cho Abraham thể hiện qua sự chết cứu chuộc của Chúa Giêsu,[64] và xác chứng rằng, “Nếu anh em thuộc về Chúa Cơ Đốc, thì anh em là dòng dõi của Abraham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.”[65]

Khi xem xét đến việc thực hành các ân tứ được ban cho từ Chúa Thánh Linh, Phaolô đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong thư gởi tín hữu ở Corinth.[66] với lời cảnh báo cần cẩn trọng với khả năng nói tiếng lạ trong trạng thái xuất thần, ngược lại vị sứ đồ khuyến khích những lời khuyên bảo có thể thông hiểu và gây dựng đức tin, ông cũng đặc biệt quan tâm đến việc duy trì trật tự trong hội Thánh.[67]

Dựa trên nguyên tắc vàng “Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích và làm gương tốt”[68] ông đưa ra lời khuyên chớ nên ăn thịt hiến tế cho các thần linh. Theo tập tục thời ấy, thịt thường được hiến tế trong các đền thờ trong những ngày lễ hội tôn giáo linh đình và trác táng.[69]

Phaolô miêu tả Chúa Thánh Linh là sức mạnh hiệp nhất, dù có nhiều ân tứ khác nhau nhưng tất cả đều là sự ban cho của Chúa Thánh Linh.[70] Ông ví von hội Thánh giống như thân thể con người, có chân tay và các cơ quan khác nhau nhưng chỉ là một thân thể; mọi thành viên của hội Thánh “đều đã chịu phép báp têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.” Như thế, để gây dựng và phát triển hội Thánh, tín hữu được ban cho các ân tứ khác nhau như giảng dạy, an ủi khích lệ, chữa bệnh, nói tiên tri và làm phép lạ.[71] Phaolô cũng liệt kê các phẩm chất cần có cho mỗi Kitô hữu mà ông gọi là “Trái của Thánh Linh”: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ.[72] Song, Phaolô gọi tình yêu thương là “sự ban cho lớn hơn hết”, và ông khuyên mọi tín hữu cần ước ao ân tứ này.[73]

Mặc khác, Phaolô cũng dạy về sự sống mới trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh,[74] và sự xác tín trong lòng của tín hữu để họ có thể tin quyết vào địa vị làm con Thiên Chúa.[75]

Các Vấn đề Xã hội

Quan điểm của Phaolô về các vấn đề xã hội cũng có ảnh hưởng lớn trên nền văn hoá Kitô như những quan điểm thần học của ông.

Trong thư gởi tín hữu ở Colossae, Phaolô cho biết người theo Chúa cần phải có cuộc sống tích cực như thế nào – ấy là theo đuổi những chuẩn mực của thiên đàng, không phải của trần thế. Trong suốt nhiều thế kỷ, những chuẩn mực ấy có ảnh hưởng đáng kể trên xã hội phương Tây. Phaolô kết án những hành vi như bất khiết, dâm dục, tham lam, giận dữ, vu khống, phỉ báng, dối trá và phân biệt chủng tộc trong khi ông đề cao những đức hạnh như nhân ái, tử tế, nhẫn nại, tha thứ, yêu thương, hòa bình, và biết ơn.[76]

Phaolô kết án sự dâm dục và việc thực hành đồng tính luyến ái, ông viết “Hãy tránh xa sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình.”[77][78]

Phaolô cũng dạy về sự tự do trong Chúa Kitô,[79][80][81] sự thờ phượng đúng cách và kỷ cương trong hội Thánh,[82][83] sự hiệp nhất của các tín hữu,[84][85] và hôn nhân.[86][87] Phaolô khuyến khích tín hữu theo đuổi cuộc sống độc thân “vì cớ tai vạ hầu đến”, nhưng cảnh báo rằng cả cuộc sống hôn nhân và cuộc đời độc thân đều có thể không tốt nếu không thuận phục ý Chúa. Ông nhắc nhở, “Vậy tôi nói với những kẻ chưa cưới gả và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn. Song nếu họ chẳng thìn mình được, thì hãy cưới gả; vì thà cưới gả còn hơn để cho tình dục un đốt.”[88]

Về việc sở hữu nô lệ, Phaolô dạy rằng vì ngày Chúa Giêsu tái lâm đã gần kề, tín hữu nên chú tâm vào đời sống đức tin hơn là vào địa vị xã hội.[89] Phaolô khuyên nhủ người nô lệ nên trung tín phục vụ chủ mình và người làm chủ phải tôn trọng và đối đãi tử tế với nô lệ hoặc người làm công “vì biết rằng cả hai đều có một chủ chung trên trời, và trước mặt ông chẳng có sự tây vị ai hết.”[90] Phaolô cũng tìm cách chuộc Onesimus, một nô lệ bỏ trốn, và yêu cầu người chủ xem Onesimus “không phải là nô lệ nữa, nhưng như anh em rất yêu dấu.”[91] Nhiều người xem đây là một hành động biểu thị tinh thần chống sở hữu nô lệ của Phaolô, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thời ấy, xem việc sở hữu nô lệ là một quyền công dân.

Nguồn gpcantho

Chia sẽ bài viết này trên:

ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm: Ngày Thế giới Truyền Thông 2020 – Những bài học từ đại dịch Covid-19

ĐGM Phêrô Nguyễn Văn Khảm: Ngày Thế giới Truyền Thông 2020 – Những bài học từ đại dịch Covid-19

WHĐ — Theo lời mời gọi của Công đồng Vatican II (Inter Mirifica số 18), các Giáo phận của chúng ta sẽ cử hành Ngày Thế giới Truyền thông xã hội vào Chúa nhật Chúa Thăng Thiên 24-5-2020.

Trước đó, vào lễ Thánh Phanxicô Salêsiô 25-1-2020, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi đi toàn văn Sứ điệp cho Ngày Thế giới Truyền thông xã hội năm 2020 để các tín hữu suy nghĩ, học hỏi và thực hiện. Sứ điệp mang tựa đề: “Để ngươi thuật lại cho con cháu” (Xh 10,2) – Cuộc sống trở thành câu chuyện.

Và trong dịp này, Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm cũng gửi đến những người làm truyền thông một bài nhắn nhủ mang tựa đề: NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG 2020 – Những bài học từ đại dịch COVID-19

 Ngày thế giới truyền thông năm 2020 được cử hành trong khung cảnh đặc biệt là đại dịch Covid-19 và sự tàn phá khủng khiếp của nó trên toàn thế giới, không chỉ về số người tử vong nhưng còn là những hậu quả lâu dài về mọi mặt: kinh tế, xã hội, tâm lý, tôn giáo.

1. Trong khung cảnh đó, khi suy nghĩ về truyền thông, tôi tự hỏi có thứ virus nào đang tàn phá truyền thông như Covid-19 tàn phá sự sống con người không.

Nếu hiểu mục đích của truyền thông là để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, gắn kết với nhau hơn, cùng nhau làm cho cuộc sống hạnh phúc hơn và xây dựng thế giới tốt đẹp hơn, thì phải nói gian dối và bạo lực là loại virus đang tàn phá truyền thông nguy hiểm nhất. Fake news là một minh họa cụ thể: tràn ngập trên mạng xã hội không chỉ ở Việt Nam nhưng là khắp thế giới; kèm theo là những ngôn từ đầy bạo lực. Nếu nhìn rộng ra thế giới, vấn đề không chỉ là fake news theo nghĩa một vài cá nhân tung tin thất thiệt nhưng còn là sự gian dối có tính hệ thống và đầy quyền lực do những thế lực đen tối điều hành từ phía sau để lèo lái dư luận theo tính toán của họ.

Đối diện với sự gian dối và bạo lực có tính hệ thống và đầy quyền lực đó, truyền thông Công giáo xem ra giống như Đavít đứng trước tên khổng lồ Goliat ngạo mạn nói với Đavít, “Tao sẽ đem thịt mày làm mồi cho chim trời và dã thú” (1Sam 17,44); và như Chúa Giêsu đứng trước Philatô, người dám nói với Chúa: “Ông không biết tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?” (Ga 19,10). Nhưng Đavít đã không gục ngã và Chúa Giêsu cũng không bị khuất phục! Đơn giản là vì như Đavít nói, “Tôi bước vào cuộc chiến này nhân danh Chúa các đạo binh” (1Sam 17,45), và Chúa Giêsu khẳng định, “Tôi đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37). Thế nên cho dù thiếu thốn về tài lực và vật lực, người làm truyền thông Công giáo vẫn vững tâm vì xác tín vào chính nghĩa của Chúa và chân lý Tin Mừng.

2. Trong bối cảnh virus gian dối và bạo lực tàn phá truyền thông chân chính như thế, chúng ta có thể làm gì để ngăn cản và chống trả?

Để phòng chống đại dịch Covid-19, biện pháp đầu tiên được tất cả các quốc gia áp dụng là giãn cách xã hội. Giãn cách xã hội được dịch từ social distancing, nghĩa là tạo khoảng cách. Vậy trong hoạt động truyền thông, có nên tạo khoảng cách không? Thiết nghĩ là rất nên vì nhiều lý do.

Internet và mạng xã hội ngày nay tràn ngập thông tin và hình ảnh. Vì qúa nhiều thông tin và hình ảnh nên người ta chỉ “lướt web” như lướt sóng (surfing), cũng có nghĩa là hời hợt, chỉ tiếp cận bề mặt (superficial), thiếu chiều sâu. Đồng thời, khi để mình bị lôi ra bên ngoài quá nhiều và quá thường xuyên, “nội giới” có nguy cơ bị xói mòn, đang khi chính nội giới đó mới là nguồn của phán đoán đúng đắn, suy tư độc lập, và tính sáng tạo. Thế nên cần tạo khoảng cách.

Thế rồi, trong biển cả thông tin và hình ảnh đó, thật giả chen lẫn khó lường, bên cạnh những thông tin hữu ích làm gia tăng kiến thức và phong phú tâm hồn, cũng không ít tin giả, tin vịt, thuyết âm mưu… Để nhìn một sự vật, cần có khoảng cách giữa mắt và sự vật; cũng thế, người làm công tác truyền thông cần phải biết tạo khoảng cách với các nguồn thông tin, để có thể tiếp nhận cách chủ động, tích cực, và hữu ích.

3. Để phòng chống coronavirus, cùng với yêu cầu giãn cách xã hội, các chuyên viên còn khuyến khích mọi người tăng cường sức đề kháng. Đây cũng là lời khuyên hữu ích cho công tác truyền thông. Trong thời đại mà gian dối và bạo lực đang tàn phá truyền thông chân chính, người làm truyền thông không những cần tạo khoảng cách (distancing) mà còn cần tăng cường sức đề kháng.

Trên bình diện cá nhân, để chống lại virus gian dối và bạo lực, cách tốt nhất là tăng cường kháng thể chân lý và tình yêu. Nếu cho rằng người này nhóm nọ loan tin sai sự thật, nhưng chính chúng ta cũng vội vã đưa tin chưa kiểm chứng thì có hơn gì? Nếu bị người khác chỉ trích bằng những lời lẽ bạo lực, mà chính chúng ta cũng dùng thứ ngôn ngữ đó để đáp trả thì có khác chi? Thay vào đó, người Công giáo cần phải bước vào thế giới mạng với tâm thế của Kinh Hòa Bình : “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”.

Trên bình diện cộng đồng, người làm truyền thông Công giáo cần phải hợp tác với nhau chặt chẽ hơn. Trong đại dịch Covid-19, giữa những đau khổ và sợ hãi, bệnh tật và chết chóc, vẫn xuất hiện nhiều hình ảnh rất đẹp về tình liên đới nhân loại. Một trong những hình ảnh đẹp đó là buổi hòa nhạc One World: together at home quy tụ hơn 100 ca sĩ, nghệ sĩ hàng đầu thế giới, thu hút 18 triệu khán giả xem trực tuyến, quyên góp ngay trong ngày 19/4/2020 được 180 triệu USD, để giúp vào việc phòng chống Covid-19 trên toàn thế giới.

Buổi hòa nhạc đó chỉ có thể thực hiện được nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại: các ca sĩ đều ở nhà mình, và nhờ phương tiện truyền thông, họ kết nối với nhau và thực hiện chương trình vĩ đại. Thế nhưng phương tiện truyền thông hiện đại cũng chỉ là “phương tiện kỹ thuật, vật chất’’. Điều làm cho những phương tiện đó trở thành hữu dụng là tầm nhìn (vision) được diễn tả qua bài hát kết thúc The Prayer của David Foster, với tiếng hát của Andrea Bocelli, Celine Dion, Lady Gaga, và tiếng đàn của Lang Lang: “một thế giới không còn bạo lực, một thế giới công bằng và hi vọng, nơi đó mỗi người là bàn tay của người hàng xóm, biểu tượng của huynh đệ và hòa bình”. Chính tầm nhìn, lý tưởng đó đã lôi kéo, liên kết các nghệ sĩ lại với nhau để làm nên chương trình hòa nhạc trên.

Bài học lớn nhất ở đây là sự hợp tác. Người làm truyền thông Công giáo ý thức rõ sứ mạng của mình là vận dụng các phương tiện truyền thông để loan báo Tin Mừng Nước Trời đến mọi người. Sứ mạng đó hết sức cao cả và cũng đầy thách thức, chúng ta chỉ có thể thành công nếu biết hợp tác với nhau : hợp tác giữa các Giáo phận, hợp tác giữa Giáo phận và các dòng tu, hợp tác giữa các giáo xứ.

Hợp tác được thể hiện qua sự đồng lòng đồng hướng. Việt Nam thành công trong việc phòng chống Covid-19 chủ yếu là nhờ sự đồng lòng của mọi thành phần trong xã hội. Công tác truyền thông Công giáo sẽ thành công nếu mọi người làm truyền thông đồng lòng với nhau trong sứ mạng chung, thay vì mỗi người chỉ làm theo sở thích riêng của mình.

Hợp tác cũng được thể hiện qua việc chia sẻ: chia sẻ ý tưởng, chia sẻ sáng kiến, chia sẻ kinh nghiệm. Nhờ đó những ý tưởng hay được phát huy, những sáng kiến đẹp được nhân rộng, những kinh nghiệm tốt được học hỏi và đem lại hiệu quả lớn cho sứ mệnh chung của Hội Thánh.

Ủy ban Truyền thông trực thuộc Hội đồng giám mục được thiết lập là để thúc đẩy, cổ võ, và phát huy sự hợp tác này. Cầu chúc Ủy ban cũng như tất cả anh chị em đang làm việc trong lãnh vực truyền thông đạt được nhiều thành quả tốt đẹp trong sứ mạng đã được trao phó.

Cuối cùng, thiết nghĩ nên ghi lòng tạc dạ lời nhắn nhủ của Thánh Phaolô : “Anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Người. Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những kẻ thống trị thế giới tối tăm, với những thần linh quái ác chốn trời cao. Bởi đó anh em hãy nhận lấy toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa; như thế anh em có thể vận dụng toàn lực để đối phó và đứng vững trong ngày đen tối” (Eph 6,10-13).

         Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Nguồn: Truyền Thông HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

[Vui bước Tin Mừng] Sức mạnh của lời cầu nguyện

[Vui bước Tin Mừng] Sức mạnh của lời cầu nguyện

Câu chuyện được kể từ một sơ trực tiếp trên cánh đồng truyền giáo và chứng kiến những việc lạ lùng Thiên Chúa làm như những ngày đầu của Công vụ Tông đồ. Mục Vui bước Tin Mừng là kết quả sự cộng tác giữa Vatican News Tiếng Việt và Uỷ ban Loan báo Tin Mừng của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Người kể chuyện: Sr. Dominique- Rndm
Viết bài: Sr. M. Phạm Thị Tuyết Mai- Rndm
Dòng Đức Bà Truyền Giáo

Tân Thông Hội là một xã thuộc huyện Củ Chi, Sài Gòn. Vào năm 1970, sau biến cố chính trị ở Campuchia, đông đảo bà con Việt Nam sinh sống bên đất nước Campuchia hồi hương về nước. Một số đông đồng bào lương giáo được tiếp nhận và thành lập một Làng Việt kiều tại Xã Tân Thông Hội. Ấp Tân Tiến thuộc xã tân Thông Hội, lúc đó chỉ là rừng cây cao su, bà con đã khai hoang và dựng nhà để ở. Tân Thông Hội thời thập niên 1970- 1980 rất nghèo đói, dân chúng ở trong những căn nhà lá lụp sụp, chung quanh trồng trúc, họ làm đủ mọi việc để sinh sống. Các dòng tu cũng được Giáo quyền mời về đây phục vụ. Đáp lời mời, dòng Đức Bà Truyền Giáo (ĐBTG) đã đến Tân Thông Hội. Sứ mạng của các nữ tu ĐBTG trong giai đoạn này là phụ trách một Cô nhi viện, dạy nghề cho phụ nữ: may, thêu, móc, đan lát, thăm viếng, hàn gắn các gia đình có nguy cơ tan vỡ, phát lương thực, phát thuốc cho người nghèo.

Trong khu xóm nhỏ, có anh chị Thuận-Phượng là gia đình lương dân. Anh Thuận làm nghề thêu khăn bàn và các bức tranh đồng quê rất đẹp, còn vợ anh, chị Phượng, buôn bán ngoài chợ. Họ tên Thuận nhưng sống không hòa thuận chút nào. Tối ngày họ to tiếng với nhau, có lúc còn rượt nhau ra đường, hoặc khóc rấm rứt suốt đêm. Các nữ tu luôn phải khuyên giải và can ngăn…nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Thế rồi như sợi dây đàn quá căng, thì phải đứt… Họ đi đến ly hôn, dù đã có với nhau một cậu con trai 2 tuổi, tên Thắng, rất đẹp và dễ thương. Từ đó anh Thuận bỏ đi nơi khác để sống.

Trong hoàn cảnh đó, các nữ tu Đức Bà Truyền Giáo đến thăm viếng, an ủi, khuyên bảo, hỗ trợ chị Phượng. Ngày qua ngày chị Phượng xin đọc kinh với các nữ tu, nhưng vẫn không muốn theo đạo Công giáo…

Vài tháng sau, một buổi tối, tôi sang nhà chị và đưa cho chị cuốn sách Tân Ước, vì chị ao ước đọc Kinh Thánh. Ôi, thật ngạc nhiên, tôi thấy anh Thuận có mặt trong phòng. Anh bẽn lẽn chào tôi, tôi hiểu ra sự việc, tôi quay về cộng đoàn của mình… Sau đó tôi khuyên họ trở về với nhau để lo cho con.

 Sau vài năm tôi kiên trì cầu nguyện và khuyên nhủ, chị Phượng đã được ơn làm con cái Chúa, chị rất ngoan đạo, siêng năng học và thực hành Lời Chúa. Chị còn gia nhập gia đình Trợ Tá Truyền Giáo và tham gia các hoạt đồng truyền giáo rất tích cực, chị còn là thành viên của nhóm Kinh Thánh, tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa hằng tuần. Chị tâm sự với tôi:

– Con chỉ còn một mối quan tâm duy nhất là cầu xin tha thiết cho chồng con theo Chúa.

Thế rồi, một ngày kia, anh Thuận đi xe honda gặp phải một cô bé sang đường, anh không tránh kịp, nên tự té, nằm lăn quay ra, không sao chỗi dậy được, mọi người phải đỡ lên, nhưng anh không sao đi lại được nữa và anh cảm thấy quá đau đớn, toàn thân ê ẩm. Gia đình đưa anh đến bệnh viện Xuyên Á, cách nhà khoảng 7 km, sau khi chụp X quang bác sĩ cho biết: Anh bị gẫy 7 chiếc xương sườn, không bó bột được, bác sĩ cho thuốc về uống và bảo anh phải ngủ ngồi trong vòng 8 tuần lễ, và tiếp tục uống thuốc, rồi sẽ tái khám sau.

Từ đó anh không thể đi, đứng hay nằm được, suốt ngày đêm chỉ ngồi dựa lưng vào các chồng gối mà thôi. Anh cảm thấy đau đớn, mỏi mệt, chán chường và thất vọng vô cùng. Mọi người đến an ủi, một ngày, hai ngày rồi ba ngày… Thời gian coi như bất tận, miệt mài, dai dẳng… hết đêm rồi lại ngày, anh cố chợp mắt, vừa ngủ gật một cái thôi, các xương sườn gẫy của anh lên tiếng, cả thân thể anh rúng động. Ôi! cơn đau đớn không thể diễn tả được… Anh rên rỉ trong tuyệt vọng khốn cùng, và vẫn nhớ lời bác sĩ căn dặn:

– Anh phải ngồi ngủ như vậy trong 8 tuần lễ liên tục, đồng thời uống thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ mới hy vọng lành được những chiếc sương xườn đã gẫy.

Ba ngày ba đêm trôi qua, anh đau khổ vì không sao cựa quậy được, lại thêm mệt mỏi vì không thể ngả lưng xuống giường dù chỉ một giây. Anh ngồi như một bức tượng, chung quanh là những chiếc gối to nhỏ đủ kiểu chèn cho anh không bị ngả nghiêng… đến ngày thứ tư anh quá đau đớn, anh lại cảm thấy mình là gánh nặng của vợ con, anh bắt đầu nghĩ quẩn, không muốn sống nữa, anh cảm thấy chết còn sướng hơn… Anh âm thầm nói với người cháu:

– Chú không sao ngủ được, con ra tiệm thuốc tây mua cho chú thuốc an thần, nhiều nhiều vào để chú uống dần.

Ngày hôm đó, khi chị Phượng đang chăm sóc, anh rên rĩ đau đớn và nói với chị:

– Đám tang công giáo bên nhà ồn ào quá, chắc là đông người đến viếng xác, đọc kinh cầu lễ cho người quá cố phải không em?

Chị Phượng thủ thỉ:

– Anh Thuận ơi, em theo Chúa lâu rồi, chỉ còn anh chưa cùng chiến tuyến với em. Nếu anh có mệnh hệ gì, em biết làm sao đây. Bấy lâu nay, em nghĩ anh đã có lần tin Chúa. Vậy anh theo Chúa với em nhé, anh dọn lòng chịu phép thanh tẩy nghen.

Trong lúc cơn đau đang hành hạ anh từng đợt, mồ hôi tước ra nhễ nhại, anh yếu ớt gật đầu tỏ ý ưng thuận. Chị Phượng thấy sắc mặt anh nhợt nhạt, nhịp tim yếu, anh từ chối không ăn uống thứ gì. Chị Phượng lo lắng và sợ hãi nên kêu cô Châu là y tá đến truyền nước cho anh. Sau khi truyền hết một chai, cô thấy mạch cứ tụt dần, cô Châu liền nói với chị Phượng:

– Anh ấy yếu lắm rồi, phải đưa đi bệnh viện gấp thôi.

Chị Phượng nói vói chồng:

– Anh ơi, em mời Cha Sở rửa tội cho anh trước khi đi bệnh viện nhé.

Mắt anh vẫn nhắm chặt, nhưng anh gật đầu. Chị Phượng vội báo cho chị Thi, một phụ nữ đạo đức, và cũng là một Trợ Tá Truyền Giáo rất nhiệt thành trong công việc truyền giáo. Chị Thi nhanh nhẹn tìm cách liên lạc với cha sở để xin ngài đến rửa tội gấp, nhưng thật không may, chị không sao gặp được ngài…Cuối cùng chị xoay sở và tìm được cha phó Anton, cha mau mắn đi với chị đến nhà anh chị Thuận mặc dù đã rất khuya.  Bí tích thánh tẩy được cử hành ngay và chỉ có 2 giáo dân tham dự, cha Antôn làm cha đỡ đầu cho anh Thuận luôn. Sau khi rửa tội xong, anh hé mắt thì thầm lời cám ơn cha Anton xong là anh rơi vào tình trạng hôn mê ngay. Chị Phượng tìm xe để đưa anh đi bệnh viện, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, phải chờ đến sáng mới có xe để đi bệnh viện. Chị Phượng lo lắng, chị càng cầu nguyện khẩn thiết hơn, vừa cầu nguyện chị vừa sắp xếp lại những chiếc gối cho anh, đến nữa đêm chị cảm thấy mệt, nên ghé nằm bên những đống gối của anh và thiếp ngủ. Bỗng chị nghe tiếng anh gọi:

– Em ơi, anh chưa chết hả? Hình như anh đang sống? Nhưng sao anh lại nằm xuống được? Em đỡ anh ngồi dậy thử xem. Ôi, sao anh hết đau rồi, hết đau rồi…

Lúc đó chị Phượng vừa sợ vừa ngạc nhiên vì thấy khuôn mặt anh Thuận đang thảng thốt, chị không biết thật hư ra sao. Chị lắp bắp:

– Anh sao rồi? Đừng làm em sợ.

Anh Thuận thì thầm:

– Anh còn sống thật hả em? Em cho anh nắm tay em thử xem…

Sau đó anh Thuận thú nhận với vợ là anh đã uống hết 40 viên thuốc an thần một lần để tự tử vì anh quá đau đớn và thất vọng, anh nghĩ quẫn rằng anh không thể nào chịu đựng tình trạng đau đớn này và phải ngồi im không ngủ được trong 8 tuần. Mỗi lần anh chuyển mình thì những chiếc xương sườn của anh như rú lên và gào thét. Anh nghĩ rằng anh không nên làm khổ vợ con nữa và muốn tìm cái chết nhanh nhất để giải phóng cho chính mình.

Câu chuyện được chữa lành của anh thật lạ lùng. Anh kể rằng:

– Chiều hôm đó, khi uống xong 40 viên thuốc an thần, tôi bị thuốc vật, ruột gan tôi đau đớn khủng khiếp, tôi nghĩ rằng tôi sẽ chết trước khi mọi người có thể làm gì đó để cứu tôi, tôi không còn hy vọng gì cho đến khi cha phó Anton đến và ban phép Thanh Tẩy cho tôi, khi cha Anton mặc áo các phép, mắt tôi bổng như chói lòa bởi một luồng ánh sáng, sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, tôi thiếp đi luôn, tôi tự nghĩ mình đã chết, đã được giải thoát để về với Chúa. Nhưng tôi không ngờ, Chúa đã chữa lành cho tôi. Tạ ơn Chúa.

Chị Phượng vô cùng xúc động và biết ơn Chúa, chị liên tục nói lời tạ ơn Chúa và gọi báo tin cho mọi người biết anh Thuận đã được chữa lành cách kỳ diệu sau khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Mọi người xung quanh hân hoan chúc tụng quyền năng vô biên của Thiên chúa đã dành cho gia đình anh chị Thuận Phượng.

Nhờ lời cầu nguyện tha thiết và kiên trì của chị Phượng, Thiên Chúa đã ban những ân huệ đặc biệt cho gia đình: Anh Thuận được chữa lành khỏi bệnh tật thể lý và bệnh tật trong tâm hồn. Anh đã trở thành con cái của Thiên Chúa, hiệp thông trong đoàn chiên của giáo xứ Tân Thông Hội, và trở thành gia đình sống đạo gương mẫu và hạnh phúc.

Đó là câu chuyện về “Mãnh lực của lời cầu nguyện trong gia đình”, lời cầu nguyện chân thành của một người vợ trở lại đạo đã cứu lấy được gia đình mình và đem được người chồng gia nhập giáo hội Công giáo cùng với mình và trở thành con Thiên Chúa. Hiện nay anh chị có được 3 người con trai và cả 3 đã lập gia đình.

 “Tạ ơn Thiên Chúa, đã thương đoái đến phận hèn tôi tớ Ngài. Từ nay muôn đời sẽ khen tôi diễm phúc” …Đó là lời trong kinh Magnificat của Đức Maria, mà chị Phượng đã lập lại trong biến cố vô cùng trọng đại của gia đình chị.

 Nguồn VietVatican

Chia sẽ bài viết này trên:

THÁNG HOA THỜI ĐẠI DỊCH

THÁNG HOA THỜI ĐẠI DỊCH

Tháng Năm, tháng trái đất nở hoa, nhất là ở Bắc bán cầu, và thông thường người ta bắt đầu nghĩ đến việc trồng vườn, dã ngoại, lên kế hoạch cho kỳ nghỉ…

Đó cũng là tháng Hoa kính Đức Mẹ.

Trong nhiều thế kỷ, Giáo hội Công giáo đã dành toàn bộ tháng Năm để tôn vinh Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Truyền thống lâu đời này bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại. Vào thời khởi thủy của Hy Lạp, tháng Năm được dành riêng để kính thần Artemis, nữ thần của sự phong nhiêu. Còn ở La Mã cổ đại, tháng Năm được dành riêng để tôn vinh nữ thần Flora – thần của các loài hoa. Họ tổ chức lễ hội Hoa vào cuối tháng Tư và cầu xin nữ thần Flora làm cho toàn thể cây cối trên mặt đất được trổ bông.[1]

Trong thời Trung Cổ, các phong tục tương tự đã có rất nhiều, xoay quanh việc giã từ mùa đông, vì ngày đầu tháng Năm được coi như là khởi đầu của một mùa tăng trưởng mới.

Cũng trong thời kỳ này, truyền thống dâng kính 30 ngày cho Đức Mẹ đã ra đời, cũng được gọi là Tháng Đức Mẹ, được tổ chức từ ngày 15-8 đến ngày 14-9 và hiện vẫn được giữ ở một số khu vực.

Ý tưởng về một tháng dành riêng cho Đức Mẹ có thể bắt nguồn từ thời Baroque (khoảng 1600 đến 1750) với ba mươi bài ‘suy niệm linh thao’ để tôn vinh Đức Mẹ. Sau đó, tháng Năm kính Đức Mẹ với những việc sùng kính đặc biệt đã được tổ chức mỗi ngày trong suốt cả tháng Năm. Phong tục này được phổ biến rộng rãi trong suốt thế kỷ 19 và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Và cách sùng kính Đức Mẹ vào tháng Năm cũng trở nên đa dạng như chính những người tôn vinh Đức Mẹ: dựng bàn thờ tôn kính Mẹ Maria, đọc kinh Mân Côi, dâng triều thiên và dâng hoa lên Đức Maria với những lời ca trìu mến, ngọt ngào…

Tháng Hoa của những năm đầu thế kỷ 20 được ghi dấu đặc biệt với sự kiện Đức Mẹ lần đầu tiên hiện ra với ba trẻ làng Fatima vào ngày 13-5-1917. Hai trong số ba trẻ này đã được Mẹ Maria tiên báo là sẽ sớm được đưa về thiên đàng nếu biết siêng năng lần hạt Mân Côi, và quả thực, lần lượt trong năm 1919 và năm 1920, Francisco và Jacinta đã qua đời vì dịch Cúm Tây Ban Nha – một trong những đại dịch khủng khiếp nhất lịch sử, kéo dài từ đầu năm 1918 đến cuối năm 1920 – đã làm cho khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới nhiễm bệnh, dẫn đến khoảng 50 đến 100 triệu ca tử vong (x. Đại dịch 1918-1920: Cái chết của hai vị Thánh trẻ ở Fatima).

100 năm sau khi Jacinta lìa trần vì đại dịch Cúm Tây Ban Nha, chúng ta bước vào tháng Hoa năm 2020 khi mà thế giới cũng đang lao đao với đại dịch Covid-19, khởi phát vào cuối năm  2019, là năm kỷ niệm 100 năm ngày vị Thánh trẻ Francisco qua đời cũng vì dịch bệnh.

Nhớ đến hai vị thánh trẻ của tháng Hoa 1917 đã chết vì dịch bệnh của thế kỷ trước, chúng ta cũng nhớ đến các nạn nhân của đại dịch hôm nay, và đặc biệt nhớ đến các chuyên viên y tế cũng như các linh mục tu sĩ đang phục vụ các bệnh nhân nhiễm virus corona – được Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là ‘những vị thánh nhà bên cạnh’. Vì sự hy sinh của những vị thánh ấy, hiệp với sự hy sinh tột đỉnh của Đức Giêsu trên thánh giá và của Mẹ Maria đứng cận kề thánh giá, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa và Mẹ Maria thương cứu nhân loại mau qua khỏi đại dịch và cải hóa chúng ta cùng toàn thể thế giới.

Tháng Hoa năm nay, hoa vẫn nở đẹp, nhưng người ta không thể tổ chức dã ngoại đông đảo để ngắm hoa, cũng như không thể tổ chức dâng hoa long trọng để tôn kính Mẹ Maria. Nhưng chúng ta vẫn có thể dâng lên Mẹ những đóa hoa lòng rất đẹp, những lời kinh Mân Côi sốt sắng tại gia, những nghĩa cử bác ái cụ thể để giúp những người đang đau khổ thiếu thốn trong dịch bệnh. Như thế, Tháng Hoa trong mùa đại dịch lại trở nên có ý nghĩa vô cùng. Chắc chắn chúng ta sẽ đặc biệt cảm nhận được tình thương của Mẹ Maria, Đấng đang đứng sát bên cạnh chúng ta trong thương đau, như ngày xưa Mẹ đã kiên cường đứng cận kề thánh giá để an ủi Con Mẹ đến cùng…

Vi Hữu
Trích Sách Nhịp Sống Tin Mừng 05-2020
Nguồn: WGPSG

[1] x. Marge Fenelon, Why is May the Month of Mary?

Chia sẽ bài viết này trên:

Bạn trẻ với Chúa Giêsu

Bạn trẻ với Chúa Giêsu

Dẫn nhập

Đã là người, ai cũng mong muốn cuộc đời mình hạnh phúc, nhưng để đạt được hạnh phúc đích thật điều đó không dễ dàng chút nào. Với niềm khao khát được hạnh phúc con người đã dành cả đời để học tập, tìm kiếm, chọn lựa cho đời mình. Mặt khác hạnh phúc đó cũng tùy thuộc vào Thiên định tức là ý Trời phú ban. Hạnh phúc đích thực thì khó đạt đến nhưng không phải là không thể. Mỗi người đều có khả năng để sống hạnh phúc với hoàn cảnh thực tại của riêng mình. Hạnh phúc tùy thuộc vào cách suy nghĩ, hành xử và sự lựa chọn của mỗi người.

Với niềm tin Công giáo, người Kitô hữu được mời gọi sống hạnh phúc bên Chúa và chỉ có hạnh phúc đích thực khi cuộc đời của họ luôn có Chúa song hành. Vậy, Chúa Giêsu có ý nghĩa gì đối với bạn trẻ hôm nay ? Đâu là ý nghĩa cứu cánh cuộc đời của các bạn ? Đâu là những câu hỏi được đặt ra cho bạn trẻ Công giáo để họ tự chất vấn và cảm nếm sâu lắng nơi cuộc đời của họ trong con người thật của Chúa Cứu Thế.

Trước hết, Chính Chúa Giêsu đã nhập thế và nhập thể; Ngài đã trải qua những vui buồn sướng khổ, những thiệt thòi, những hy sinh của phận người. Và đỉnh cao của con người nơi Chúa Giêsu chính là con đường khổ giá, nơi đó Ngài đã gánh lấy tất cả tội lỗi trần gian. Sau tất cả những đau khổ của kiếp người mà Ngài đã oằn vai gánh lấy, Ngài đã sống lại từ cõi chết để minh chứng rằng: Ngài là Vua tình yêu; Vua trên các vua. Ngài sống lại để lôi kéo con người đến với Chúa Cha và để hưởng dung nhan rạng ngời của Ngài. Đức Giêsu chính là con đường, là sự thật và là nguồn hy vọng tuyệt đối của nhân loại (x. Ga 14,6). Hôm nay, Ngài vẫn sống và luôn sống mãi trong lòng Hội Thánh và nơi mỗi người chúng ta (x. Mt 28,20). Ngài đang hướng dẫn và dõi bước trên hành trình của từng người. Như thế, bạn trẻ cảm nếm tình Chúa yêu thương dường nào ? Các bạn đáp lại tình yêu vô bờ bến ấy ra sao ? Các bạn làm gì để Thiên Chúa có thể nhìn thấy được tấm lòng yêu thương và quảng đại của mình đối với tha nhân, gia đình, Giáo Hội và xã hội.

Chúa Giêsu là ánh sáng cho cuộc đời bạn

“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con đi” (Tv. 118,105). Thánh vịnh nói với cuộc đời bạn và tỏ cho thấy rằng: Bạn đang phải bước đi trong tăm tối mịt mù ư, hãy đến với Giêsu là nguồn ánh sáng của bạn. Bạn đang thất vọng ư, hãy đến với Giêsu là nguồn hy vọng của bạn. Bạn muốn hạnh phúc ư, hãy đến với Giêsu, là nguồn hạnh phúc đích thực của bạn. Vì thế, nếu bạn là Kitô hữu, bạn chỉ thực sự hạnh phúc khi có Chúa song hành cùng bạn.

Nếu bạn xác tín rằng Chúa là gia nghiệp của đời bạn, thì khi bạn gặp phải biến cố đau thương như thế nào, bạn cũng có thể chấp nhận và vượt qua được nó. Vì chính Chúa Giêsu đã phán: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Nếu bạn chọn Chúa Giêsu như điểm tựa cho cuộc sống thì sự hiện diện của Ngài ắt sẽ trở nên rõ ràng và sâu xa hơn bạn hiểu. Nếu cuộc đời của bạn đặt dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, chắc chắn bạn sẽ cảm nếm được sự ngọt ngào yêu thương hơn bạn hiểu và bạn nghĩ đến. Nếu đường đời của bạn có bóng tối bao phủ, Chúa Giêsu sẽ ra tay rẽ lối để bạn bước đi trong ánh sáng của Ngài.

Chính Ngài là ánh sáng chiếu soi cho mỗi bước đường bạn đi; giúp bạn hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời này, ngay cả khi bạn đang cảm thấy đau khổ và tuyệt vọng. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu mến Thầy … thì Thầy sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14,21). Vì thế, con người luôn hướng về Thiên Chúa để được sống trong tình yêu và sự thánh thiện của Ngài. Thiên Chúa muốn tất cả chúng ta nên thánh trong bổn phận hằng ngày: “Bởi chưng đã viết rằng: Các ngươi hãy là thánh vì Ta là Thánh” (1Pr 1, 16).

Chúa Giêsu là Lời Hằng Sống cho cuộc đời bạn

Bài hát “Xin cho con biết lắng nghe” của linh mục nhạc sĩ: Nguyễn Duy đã giúp cho mỗi người chúng ta hiểu được phần nào về giá trị của LỜI. Có LỜI trong cuộc đời, bạn sẽ biến từ lẻ loi, cô đơn, buốt giá, và đêm tối ngờ vực, nguy nan trở nên ánh sáng dõi đường, trở nên tình yêu hy vọng và trở nên hạnh phúc cho trần ai. Hiểu được giá trị của LỜI, ắt bạn sẽ cảm thấy không gì hạnh phúc vui sướng cho bằng khi có LỜI hướng dẫn trên mọi nẻo đường cuộc sống: “Lời Ngài là sức sống của con, Lời Ngài là ánh sáng đời con, Lời Ngài làm chứa chan hy vọng và là đường để con hằng dõi bước” (Bài hát: Xin cho con biết lắng nghe).

Chỉ khi bạn tin rằng, Chúa Giêsu là điểm tựa và là cứu cánh của cuộc đời bạn, lúc ấy việc làm của bạn sẽ thật sự có ý nghĩa và sự phục vụ của bạn sẽ làm phong phú đời sống cho chính bạn, cho Giáo hội và cho tha nhân.

Trong Tin Mừng Matthêu kể về dụ ngôn: “Người khôn xây nhà trên đá”, ý nói đến sự bền vững của Lời Chúa trong cuộc đời người Kitô hữu; nó được ví như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập tới, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá (x. Mt 7,25). Với bạn trẻ khi nghe và thực hành Lời Chúa cũng sẽ giống như người khôn xây tòa nhà đức tin trên nền đá vững chắc. Còn những kẻ chỉ nghe Lời mà không thực hành, sẽ giống như người ngu dại xây tòa nhà trên cát. Khi gặp mưa sa bão táp, nhà ấy sẽ bị lún và sụp đổ tan tành (x. Mt 7,26-27).

Chỉ khi bạn cảm nếm được tình thương vô bờ của Chúa một cách sâu lắng thì việc thực hành Lời Chúa mới có giá trị. Vì LỜI của tình yêu, LỜI của chân lý, LỜI của ân phúc, LỜI của lẽ sống và LỜI của sự biến đổi. Chỉ khi đụng chạm đến LỜI, thì LỜI sẽ thể biến đổi cuộc đời bạn và đánh thức được thế giới. Thế giới chỉ thay đổi, khi bạn đổi thay. Biến đổi cuộc đời không gì khác là tỉnh thức trước lối sống phù vân nơi cõi trần gian này; tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa và đáp lại lời mời gọi trước những biến cố đang xảy đến với mình và thế giới.

Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh cho cuộc đời bạn

“Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”(Ga 6,35). Chúa Giêsu là Tấm Bánh Trường Sinh được bẻ ra và phân phát cho muôn người. Ngài đã trở nên Tấm Bánh cuộc đời cho mỗi người chúng ta. Cuộc đời thanh thiếu niên của Ngài thật bình dị đến lạ thường. Nhưng lại trở nên Tấm Bánh Tình Yêu đi vào cuộc đời nhân thế. Đỉnh cao của Tấm Bánh Hằng Sống được bẻ ra là lúc Ngài chịu chết trên thập giá để con người được thông phần vào sự sống vĩnh hằng. Chúa Giêsu đã trở nên Tấm Bánh Trường Sinh và được bẻ ra trao cho muôn dân, thì hôm nay Ngài cũng mời gọi bạn và tôi hãy trở nên tấm bánh và bẻ đời mình ra cho tha nhân.

Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta là mẫu gương tuyệt vời về tấm bánh đời mình với lòng quảng đại và tình thương hải hà mà Thiên Chúa đã gửi đến cho nhân loại. Những bước chân không biết mệt mỏi của Mẹ đã chữa lành cơn khát yêu thương của biết bao người đang quằn quại đau khổ vì bệnh tật và nghèo đói.

Một trong những câu nói ý nghĩa của Mẹ Thánh Têrêsa: “vấn đề không phải chúng ta cho đi bao nhiêu, mà chúng ta đặt tình thương vào việc cho đi như thế nào”. Đó chẳng phải là ý muốn mà Thiên Chúa đòi hỏi bạn phải trao ban cả lòng mến của mình sao ? Lòng mến ấy được thể hiện nơi đồng tiền nhỏ của bà góa nghèo trong Tin Mừng (x. Mc 12,38-44). Bà đã cho đi tất cả cái mình có, cho đi với lòng mến vô bờ bến. Giá trị của việc cho đi không chỉ nằm ở những món quà sang trọng đắt tiền, mà còn ở tấm lòng quảng của người trao ban.

Phép lạ hóa bánh ra nhiều (x. Mt 15, 29-37) để nuôi sống đám đông dân chúng ngày xưa là hình ảnh những tấm bánh của đời mình cho tha nhân hôm nay. ‘Năm chiếc bánh và hai con cá’ đó là hình ảnh tuyệt đẹp cho đời mình khi nghĩ đến tha nhân: Một nụ cười cảm thông và ánh mắt yêu thương cũng đủ làm cho người khác ấm lòng khi họ phải lìa cõi đời này. ‘Năm chiếc bánh và hai con cá’ của bạn cũng là sự cho đi; một chút chịu đựng quên mình hay bỏ đi sự kiêu căng tự phụ và sự tha thứ cho kẻ thù là sự cho đi ý nghĩa. Bạn cũng có thể cho đi thời gian, sức khỏe và tiền bạc đến những người đang cần sự giúp đỡ quảng đại của bạn. ‘Năm chiếc bánh và hai con cá’ của bạn, cũng đủ làm cho bạn biết từ bỏ ý riêng và những đòi hỏi quá đáng nơi Chúa. Qua biến cố nào đó, bạn có thể đọc ra được thánh ý Chúa để biết từ bỏ ý riêng mà sống hạnh phúc với thực tại đang đến. Đó là điều Chúa muốn dạy bảo.

Tấm bánh đời bạn có nhỏ bé đến đâu, thì Thiên Chúa vẫn luôn cần đến. Tấm bánh đời mình cần có được mùi vị thơm ngon thì mới có thể cho người khác ưa thích. Thứ mùi vị ấy là lòng yêu mến, quảng đại và sự hy sinh cho người khác. Bạn có thể tìm được Đấng Tuyệt Đối trong cuộc sống thiếu thốn và bất toàn nơi những con người nghèo khổ và bất hạnh. (x. Mt 25, 35-46). Chúa Giêsu mời gọi bạn, hãy chia sẻ cái mà bạn đang có cho người nghèo khổ, người bất hạnh. Chính lòng quảng đại, vui vẻ và sự chân thành của bạn sẽ làm cho người khác được hạnh phúc hơn.

Hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang làm phép lạ trên cuộc đời của bạn. Phép lạ ấy được thể hiện trong Bí tích Thánh Thể mỗi ngày, như Lời Ngài đã phán: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).

Lời kết

Nhân loại nói chung và người Kitô hữu nói riêng đang đứng trước những thách đố của thời đại; làm chao đảo và khủng hoảng niềm tin Kitô giáo, nhất là nơi Bạn trẻ Công giáo. Cuộc sống xã hội chung quanh chúng ta là cả một hãng thông tấn xảy ra những tin buồn: Tin buồn của dối trá lường gạt, của tranh giành địa vị, của quyền lực ác thần, của đòi hỏi bất công, của đạo hiếu bất trung, của phản bội xâu xé, của buông xuôi bỏ cuộc, của thất vọng chán chường, của mê dâm phóng đãng, của nghèo đói chết chóc.

Nhân loại đang đối mặt với đại dịch bệnh coronavirus (Covid 19). Nó đang hoành hành dường như tất cả các quốc gia. Một đại dịch khủng khiếp, gây ra hàng trăm ngàn người phải chết. Nó làm cho hàng trăm triệu gia đình đang phải đau khổ. Vì nó, mà nhân loại đang đối diện với các vấn đề nhân sinh: Giáo dục, kinh tế, thương mại, chính trị, tôn giáo… và những nạn đói đang bao trùm khắp nơi. Đứng trước đại dịch này, đứng trước con virut nhỏ bé này con người đang phải bó tay. Các bạn trẻ lại càng bó tay hơn cho dù họ có tài ‘dời non lấp biển’. Thế giới chỉ mong sao, ai đó cho nhân loại một phép màu, phép màu ấy vượt trên tất cả những gì con người suy tưởng. Phép mầu này không ai khác là chính Chúa Giêsu, Vị Cứu Tinh của nhân loại và là Thiên Chúa của người sống và kẻ chết.

Cuối cùng, Chúa Giêsu chỉ muốn bạn nên giống Ngài: “Các người hãy Thánh, vì Ta là Thánh” (Lv 19,2). Công Ðồng Vatican II cũng luôn nhấn mạnh: ơn gọi của mọi người Kitô hữu là nên thánh. Vậy, bạn hãy can đảm dấn thân trong việc bác ái với tha nhân và biết từ chối trước những lời ngọt ngào giả tạo của thế gian; nhất là quyết tâm sống theo Tin Mừng của Chúa Giêsu ngang qua Tám Mối Phúc để bạn có thể được hưởng sự sống vĩnh hằng: “Sự sống đời đời là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô” (Ga 17,3).

Lm. Phêrô Nguyễn Trọng Đường, SVD

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Giáo hoàng chỉ cách phân biệt được Chúa hay Satan đang nói

Đức Giáo hoàng chỉ cách phân biệt được Chúa hay Satan đang nói 

Đức Giáo Hoàng Phanxicô cung cấp một số cách phân định những tiếng nói mà chúng ta nghe thấy trong lương tâm của chúng ta.

Phân biệt được tiếng nói của Chúa với tiếng nói của Satan là một yếu tố cho thấy rất rõ sự trưởng thành tâm linh. Vào trưa Chủ nhật, trước khi đọc kinh ‘Lạy Nữ Vương Thiên Đàng’, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đưa ra một bài học nhỏ về sự phân định này:

Chúa nhật thứ tư Mùa Phục sinh hôm nay, chúng ta hướng lòng về Chúa Giêsu Mục tử nhân lành. Tin Mừng nói rằng: “Chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra.” (Ga 10: 3). Chúa gọi tên ta, Ngài gọi ta vì Ngài yêu thương ta. Nhưng Tin Mừng sau đó cho chúng ta biết, có những tiếng nói khác, không được chiên nghe theo: đó là tiếng của những người lạ, của kẻ trộm và những kẻ có ý làm hại con chiên.

Những tiếng nói khác nhau này cộng hưởng trong chúng ta. Có tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng nói lời tốt lành trong lương tâm, và cũng có tiếng nói cám dỗ dẫn đến cái ác.

Làm thế nào chúng ta có thể nhận biết tiếng nói của mục tử nhân lành hơn là tiếng của kẻ trộm, làm thế nào chúng ta có thể phân biệt lời linh hứng của Thiên Chúa với những gợi ý của ma quỷ?

Người ta có thể học cách nhận ra hai giọng nói này: đó là hai ngôn ngữ khác nhau, với những cách đối nghịch gõ vào cửa trái tim chúng ta. Hai ngôn ngữ khác nhau: Cũng giống như khi ta phân biệt được ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác, ta cũng có thể phân biệt tiếng nói của Chúa với tiếng nói của ma quỷ.

1. TÔI CÓ TỰ DO KHÔNG?

Tiếng nói của Thiên Chúa không bao giờ ép buộc chúng ta: Thiên Chúa đề xuất chính Ngài, Ngài không áp đặt chính Ngài. Ngược lại, giọng nói ma quỷ thì quyến rũ, tấn công, áp đặt: nó khơi dậy những ảo ảnh rực rỡ, những cảm xúc đầy cám dỗ nhưng chóng qua.

2. TÔI ĐANG BỊ TÂNG BỐC?

Lúc đầu, nó tâng bốc, nó làm cho chúng ta tin rằng chúng ta toàn năng, nhưng sau đó nó khiến chúng ta trống rỗng bên trong và buộc tội chúng ta: Bạn không có giá trị gì cả. Trái lại, tiếng nói của Chúa sửa chữa chúng ta, với sự kiên nhẫn tuyệt vời, nhưng luôn khuyến khích chúng ta, an ủi chúng ta: nó luôn nuôi dưỡng hy vọng.

3. TÔI CÓ ĐANG NHÌN VỀ PHÍA TRƯỚC?

Tiếng nói của Chúa là tiếng nói có một chân trời, trong khi giọng nói của ác quỷ dẫn bạn đến một bức tường, nó đẩy bạn vào góc tường.

4. TÔI CÓ SỐNG TRONG HIỆN TẠI KHÔNG?

Có một sự khác biệt nữa. Tiếng nói của ma quỷ làm chúng ta xao lãng khỏi hiện tại và muốn chúng ta tập trung vào nỗi sợ hãi về tương lai hay nỗi buồn về quá khứ – ma quỷ không muốn hiện tại – nó mang đến sự cay đắng, những ký ức về những sai lầm gây đau đớn, những người đã làm tổn thương chúng ta, và nhiều kỷ niệm xấu. Ngược lại, tiếng nói của Chúa nói về hiện tại: “Bây giờ con có thể làm tốt, bây giờ con có thể thực hiện được sự sáng tạo của tình yêu, bây giờ con có thể từ bỏ những hối tiếc và hối hận khiến trái tim con bị giam cầm.” Tiếng nói đó truyền cảm hứng, dẫn ta đi tới, và nói ngay trong hiện tại: ngay bây giờ.

5. NÓ CÓ NÓI VỀ ‘CÁI TÔI’?

Xin nhắc lại một lần nữa: hai tiếng nói đặt ra những câu hỏi khác nhau trong chúng ta. Tiếng nói từ Thiên Chúa sẽ là: “Điều gì tốt cho tôi?” Ngược lại, tiếng ma quỷ nhấn mạnh vào một câu hỏi khác: “Tôi cảm thấy như thế nào?” Điều tôi cảm thấy là: tiếng ma quỷ xoay quanh ‘cái tôi’, thôi thúc, đòi hỏi: mọi sự phải có ngay. Nó giống như cơn thịnh nộ của một đứa trẻ: mọi thứ phải có ngay bây giờ. Ngược lại, tiếng Chúa không bao giờ hứa hẹn niềm vui thấp hèn, nhưng mời gọi ta vượt lên trên ‘cái tôi’của mình để tìm thấy sự tốt lành và bình an thực sự.

6. NÓ ĐỂ LẠI DƯ VỊ NÀO?

Chúng ta hãy nhớ rằng: cái ác không bao giờ mang lại cho chúng ta sự bình an, nó gây ra sự điên cuồng trước tiên và để lại sự cay đắng sau đó. Đây là phong cách của cái ác.

7. TÔI TÌM KIẾM ÁNH SÁNG HAY BÓNG TỐI?

Tiếng nói của Chúa và của ma quỷ, cuối cùng, phát ra trong các ‘môi trường’ khác nhau: Ma quỷ thích bóng tối, giả dối và buôn chuyện; Chúa yêu ánh sáng mặt trời, sự thật và sự minh bạch chân thành.

8. TÔI CÓ HƯỚNG ĐẾN NIỀM TIN TƯỞNG?

Ma quỷ sẽ nói với ta: “Hãy tự khép mình lại, không ai hiểu và lắng nghe bạn đâu, đừng tin ai cả!” Ngược lại, Thiên Chúa mời gọi chúng ta mở lòng ra, để hiểu rõ và tin tưởng vào Thiên Chúa cũng như tin tưởng vào người khác.

Anh chị em thân mến, trong thời gian này quá nhiều suy nghĩ và lo lắng khiến chúng ta phải hướng nội vào chính mình. Chúng ta hãy chú ý đến những tiếng nói đến với trái tim của chúng ta. Hãy tự hỏi chúng đến từ đâu. Hãy xin ơn nhận biết và đi theo tiếng nói của Mục Tử nhân lành, Đấng đưa chúng ta ra khỏi vòng vây của sự ích kỷ và dẫn chúng ta đến đồng cỏ của tự do thực sự.

Xin Mẹ Maria, vị Tư vấn tốt lành, hướng dẫn và đồng hành với những phân định của chúng con.

Kathleen N. Hattrup (Aleteia) / Mạnh Tú chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG

Chia sẽ bài viết này trên:

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.

Xã hội của chúng ta ngày nay phải đối mặt sự gia tăng của chủ nghĩa thế tục và đánh mất đức tin nơi các đô thị phồn hoa. Chúng ta chợt nhận ra mình đang đối đầu với một thế giới đắm chìm trong sự bành trướng của sự dữ và chủ nghĩa khủng bố, chiến tranh và bạo lực. Chúng ta gặp nhiều rắc rối bởi những đổ vỡ trong đời sống gia đình, cùng vô số những ồn ào chia trí và cả việc thiếu vắng những nỗ lực sống thánh.

Nhưng chuỗi Mân Côi có thể giúp chúng ta. Và chúng ta cũng biết điều này, vì chính Đức Maria đã nói điều này cách đây 100 năm tại làng Fatima, Bồ Đào Nha, khi Mẹ hiện ra sáu lần với ba trẻ chăn cừu từ tháng Năm đến tháng Mười năm 1917, mỗi tháng một lần. Mẹ nhắc đi nhắc lại rằng: “Hãy lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày để có được hòa bình trên khắp thế giới và kết thúc chiến tranh.”

Chúng ta cũng biết những giá trị tuyệt vời của chuỗi Mân Côi, vì nó đã minh chứng sức mạnh của nó hết lần này đến lần khác xuyên suốt lịch sử nơi đời sống của các tín hữu nam nữ. Chắc chắn điều này có được không phải bởi vì chuỗi Mân Côi là thần chú phép thuật nhưng bởi vì chuỗi Mân Côi mang chúng ta đến với Chúa Giêsu. Theo như lời của Đức Hồng y Francis E. George – Tổng Giám mục Tổng giáo phận Chicago, vào dịp bế mạc năm Mân Côi 2013 – thì chuỗi Mân Côi “mang chúng ta đến với trái tim của Tin Mừng”.

Vượt thắng sự ồn ào

Trong lối sống hiện đại điển hình, chúng ta rất dễ bị chia trí và bị lấn át bởi tất cả mọi ồn ào xung quanh. Công nghệ đang liên tục đòi hỏi sự chú ý của chúng ta. Ngay cả khi đang ngồi trước những màn hình lớn thì chúng ta vẫn nhìn vào những màn hình điện thoại nhỏ hơn. Chúng ta bị lôi cuốn bởi những cám dỗ của các công cụ truyền thông xã hội và sử dụng tin nhắn như một hình thức giao tiếp chính yếu. Chúng ta đã hình thành một não trạng “luôn luôn bận rộn” hoặc “luôn luôn rảnh rỗi”, và ồn ào không còn biên giới đối với chúng ta. Trong một báo cáo của Nielson công bố vào tháng 6 năm 2016 cho biết trung bình người Mỹ sử dụng hơn 10 tiếng mỗi ngày để chỉ nhìn vào các loại màn hình (Tivi, máy tính, điện thoại,…). Chúng ta dễ nói với bản thân rằng mình đang làm việc chăm chỉ và việc tiêu thụ một lượng lớn thời gian cho các thiết bị công nghệ là cần thiết, nhưng thực tế thì tất cả những ồn ào đó đang hủy hoại mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.

Mặc dù vấn đề này trở nên đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, nhưng đây không phải chỉ là vấn đề của thế kỉ XXI. Năm 1973, Đức Hồng y Albino Luciani – lúc đó là Tổng Giám mục Tổng giáo phận Venice, sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I – đã có một bài giảng về “sự khủng hoảng trong cầu nguyện” trên khắp thế giới, trong đó một phần nguyên nhân là do “những ồn ào đã xâm chiếm cuộc sống của chúng ta”.

Nếu Đức Thánh Cha nghĩ rằng cuộc sống năm 1973 đầy ồn ào, vậy thì ngài sẽ nghĩ gì về cuộc sống hiện tại ?

Chúng ta cũng đối diện với vô số những ồn ào nội tâm. Chúng ta bị chia trí trong cầu nguyện bởi những cản trở bên trong, điều thường được biểu hiện dưới hình thức của kiêu ngạo và tự cho mình là trung tâm. Trong tất cả những lúc khó khăn ấy, chúng ta có thể nhờ đến chuỗi Mân Côi. Những suy ngắm tuyệt vời của lời kinh Mân Côi có thể giúp chúng ta tập trung và vượt thắng những ồn ào bên ngoài. Đồng thời, bằng việc cầu nguyện với lời kinh đơn sơ này một cách liên lỉ, tín thác và khiêm nhường, chúng ta có thể phá vỡ được những rào cản bên trong chúng ta.

Bài giảng của Đức Hồng y Luciani được viết lại trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” trình bày một sự bảo trợ tuyệt hảo và mạnh mẽ của chuỗi Mân Côi – điều mà phù hợp với hiện tại như nó đã từng phù hợp vào năm 1973.

Tận hiến sâu xa hơn cho Giáo Hội

Tổng Giám mục Fulton J. Sheen, một trong những “người khổng lồ” tri thức, tinh thần và thậm chí là truyền thông của thế kỉ XX, cũng đã tận hiến thẳm sâu chính mình cho Đức Mẹ, và ngài đã viết tặng Mẹ một cuốn sách có tựa đề “Tình yêu đầu của nhân loại, Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa”

Nhiều người trong chúng ta có lẽ giống với cha Patrick Peyton, người được biết đến như là “linh mục của chuỗi Mân Côi”. Ngài là người đã tạo ra cụm từ “gia đình cùng cầu nguyện, cùng chung sống”.

Nhưng hồi ấy, cha Peyton không chỉ tạo ra cụm từ ấy; từ lúc nhỏ, ngài được giáo dục và đào tạo bởi các giá trị to lớn của chuỗi Mân Côi.

Cha Peyton đã quá quen với việc cầu nguyện cùng gia đình bằng chuỗi Mân Côi mỗi tối, và khi cha rời xa gia đình lần đầu tiên để đi làm và sống chung với một gia đình Công Giáo khác, thì cha đã rất sốc và đau buồn khi mọi người trong nhà ấy không cầu nguyện trước khi đi ngủ.

Ngài viết rằng: “Trong khi giả vờ ngủ, tôi đã cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi của mình và tôi cảm nhận được nỗi đau khổ của người con xa nhớ quê hương, nỗi đắng cay khi sống giữa những người mà lối sống của họ khác biệt với tôi, quan niệm về các giá trị sống của họ không đúng với tất cả những rèn luyện và trải nghiệm của tôi, điều mà tôi được dạy là bình thường.”

Đây rõ ràng là một trải nghiệm quan trọng của cha Peyton – cha nhận ra rằng cha không thể xem thường đức tin đã được lãnh nhận nơi gia đình. Đó cũng là lý do tại sao khi bi kịch gieo xuống cuộc đời mình, đang lúc chuẩn bị lãnh nhận chức thánh, cha Peyton vẫn có thể hướng về Đức Maria. Nhờ vào việc tận hiến cho Mẹ, cha Peyton đã được chữa lành một cách thần kỳ khỏi chứng bệnh suy nhược. Và đáp trả lại, cha đã cống hiến đời mình để lan truyền việc tận hiến cho Đức Maria. Ngài đã nói rằng: “Công trạng và vinh quang của mỗi việc làm mà tôi thực hiện đều sẽ thuộc về Mẹ và chỉ mình Mẹ”.

Cha Peyton tiếp tục thành lập phong trào Gia đình Mân Côi, sử dụng phát thanh vô tuyến, phim ảnh, các biển hiệu bên ngoài và hơn 260 nhóm họp trên khắp 6 châu lục để khuyến khích hàng triệu người cầu nguyện cùng gia đình Mân Côi.

Đoạn trích mô tả giai đoạn này trong cuộc đời của cha Peyton, trong cuốn “tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?”, được trích từ tiểu sử và ký sự của cha Peyton khi ngài bị bệnh tật đe dọa và hồi phục cách phi thường – cũng như sự tận hiến cho Đức Maria và chuỗi Mân Côi, điều mà không bao giờ bỏ rơi ngài.

Phát triển mối tương quan môn đệ Chúa Kitô

Tôi nghĩ thật đúng khi nói rằng mỗi người trong chúng ta, dù ở đâu đó trên đường đời, thì cũng đã từng tình cờ cảm nhận được lời nguyện cầu hay đức tin của ai đó mà chúng ta cực kì ngưỡng mộ và thậm chí có thể là đố kỵ. Dường như việc chứng kiến này là một món quà, và nó nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng chúng ta cũng được mời gọi để xây dựng mối tương quan mật thiết và thân tình với Chúa Giêsu.

Để làm điều đó, chúng ta phải gặp gỡ Ngài, “gặp gỡ Chúa Kitô” – một cụm từ đã trở nên phổ biến trong triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và điều này là rất thiết yếu – nghĩa là cần phải tìm hiểu Chúa Kitô một cách sâu sắc, trọn vẹn và không nghi ngờ, cùng dọn trống tâm hồn mình để tâm hồn của chúng ta có thể được đổ tràn đầy Thánh Thần Chúa.

Có nhiều cách để gặp gỡ Đức Kitô trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta như: nhờ cầu nguyện, các bí tích và dĩ nhiên, nơi Thánh Thể. Nhưng một bước tiến nhỏ trên con đường gặp gỡ Đức Giêsu là hình thành mối thân tình với Mẹ của Ngài trước. Vì sau cùng thì Mẹ là người hiểu rõ Đức Giêsu nhất và chính Mẹ đã cưu mang Người trong lòng mình. Đức Maria đã luôn dõi theo Con của Mẹ, chăm sóc và dạy dỗ Người. Mẹ đã trân quý từng khoảnh khắc khi ở bên Chúa Giêsu và luôn suy niệm chúng trong lòng, như Tin Mừng Luca thuật lại. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đáng mến của chúng ta đã viết trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae về chuỗi Mân Côi rằng, việc tận hiến cho Đức Mẹ là một trong những phương cách cầu nguyện truyền thống của Kitô giáo, hướng tới việc chiêm ngắm dung mạo Đức Kitô. Khi chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, chúng ta suy ngắm những khoảnh khắc khác nhau trong cuộc đời Đức Giêsu thông qua cách nhìn của Thánh Mẫu Người. Việc chiêm ngắm này dẫn chúng ta đến với một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa, điều mà dẫn đưa chúng ta vào con đường của người môn đệ Chúa Kitô.

Sự thiếu vắng một cách đáng kinh ngạc mối tương quan môn đệ Chúa Kitô trong thế giới ngày nay phần lớn là do rất khó để từ bỏ chính mình mà vác thập giá mình và bước theo Chúa, dù rằng chúng ta được dạy là phải làm như vậy. Tuy nhiên, là những môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi bỏ đi cái tôi, sự ích kỷ, kiêu ngạo và thay vào đó là ưu tiên dành cho tha nhân. Đó là một lối sống khác biệt với thế gian, thế nhưng Đức Maria và chuỗi Mân Côi có thế giúp chúng ta thực hiện được điều đó.

Mang hòa bình cho thế giới

Trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê, một trong những bài Kinh Thánh yêu thích của tôi, ngài khuyên các tín hữu trong mỗi ngày sống: “Đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4,6-7)

Gần cuối năm 2014, Đức cha Doeme đã có một thị kiến, ngài trông thấy Đức Giêsu hiện ra và trao cho ngài một thanh gươm. Nhưng khi ngày cầm lấy thanh gươm ấy thì nó liền biến thành một tràng chuỗi Mân Côi. Đức cha cho biết: “Rõ ràng với chuỗi Mân Côi, chúng ta có thể loại trừ được sự dữ”. Mặc dù đây là một lời chứng đặc biệt cho sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu chống sự dữ, nhưng đó không phải là duy nhất.

Nhiều câu chuyện khác và nhiều vị thánh đã phát họa lại những sự bảo trợ mà chuỗi Mân Côi mang lại, từ trận chiến Lepanto – cứu Giáo Hội Công Giáo Tây Phương thoát khỏi sự xâm lăng của quân Ottoman, cho đến thánh Piô Năm Dấu – người gọi chuỗi Mân Côi là “vũ khí chống lại sự dữ trong thế giới ngày nay”.

Trong một tài liệu liên quan được viết vào tháng 9 năm 1951, Đấng đáng kính Giáo Hoàng Pius XII đã xem chuỗi Mân Côi là phương dược giúp cho thế giới lúc bấy giờ giải trừ những sự dữ.

Chắc chắn không ít khó khăn khi chúng ta nhận thấy mình đang ở trong những hoàn cảnh khác nhau như hiện nay, với việc chiến tranh liên miên ở Trung Đông, chủ nghĩa khủng bố ở quê hương và trên thế giới, và việc bắt bớ các Kitô hữu khắp nơi.

Những lời của Đức Giáo Hoàng Pius XII về sự dữ cách đây 70 năm nhưng lại phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, chuỗi Mân Côi tiếp tục là vũ khí giúp chúng ta chiến đấu chống sự dữ.

Chiến đấu chống chủ nghĩa thế tục

Một nghiên cứu mới đây về sứ mạng tông đồ được thực hiện bởi Trung Tâm Nghiên cứu Ứng dụng tại Đại học Georgetown, Washington D.C, chỉ ra rằng 13 là độ tuổi tiêu biểu mà vào độ tuổi đó người ta sẽ đánh mất niềm tin của mình. Khi được hỏi rằng bạn có từng xem xét việc quay trở lại Giáo Hội hay không, thì con số xấu xa đó lại tiếp tục xuất hiện, với chỉ 13% người trẻ được hỏi có câu trả lời là “có”.

Cả hai dữ liệu thống kê nói trên đang gây ra lo lắng cho chúng ta, nhưng chúng không may lại trình bày một bức tranh chính xác về vị trí của chúng ta hiện nay trong khía cạnh loan truyền niềm tin nơi xã hội của chúng ta. Chúng ta đang thất bại. Xã hội hiện tại đang phải đối mặt với sự bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa thế tục. Trong một diễn văn dành cho các Giám mục Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2012, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cảnh báo về sự ngập tràn của chủ nghĩa thế tục trong xã hội nước Mỹ, ngài nói: “Thật cấp thiết, toàn thể Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ cần nhận ra những đe dọa nghiêm trọng đối với những chứng tá đời sống đạo đức nơi Giáo Hội, đó là chủ nghĩa thế tục đang gia tăng mạnh mẽ trong các hoạt động chính trị lẫn văn hóa”

Nhưng Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI không phải là vị Giáo Hoàng đầu tiên lên tiếng chống lại chủ nghĩa thế tục. Đức Leo XIII, trị vì từ năm 1878 đến năm 1903, đã từng bị tấn công bởi các chính sách chính trị và những rắc rối của chủ nghĩa nhân văn thế tục trong suốt thời gian kế vị Thánh Phêrô. Trong một vài phần của 11 thông điệp về chuỗi Mân Côi (Đức Leo XIII được biết đến với biệt hiệu “vị Giáo Hoàng của chuỗi Mân Côi”) – một trong số đó được liệt kê trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” – Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã nói về những nguy hiểm của một thế giới thiếu vắng niềm tin. Những lời đó của ngài mạnh mẽ và phù hợp với cả hiện tại, giống như nó đã từng phù hợp lúc bấy giờ. Đức Leo XIII tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu với những rắc rối đang gia tăng – và ngài đã đúng. Cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể giúp thế giới tái khám phá niềm tin của mình.

Giúp chúng ta nên thánh

Mỗi người trong chúng ta được mời gọi nên thánh, nhưng như chúng ta biết, cuộc sống đó không hề đơn giản. Nó đòi hỏi những hy sinh, dâng hiến, đức hạnh và trên hết đó là mối tương quan thân mật với Chúa Kitô, cùng một quyết tâm nghe theo thánh ý Ngài, dù bất kể có chuyện gì. Mặc dù điều đó không dễ dàng, nhưng nên thánh là điều mà mỗi người trong chúng ta được mời gọi.

Lời mời gọi chung này được diễn tả trong Hiến chế Tín lý về Giáo Hội của Công Đồng Vaticanô II – điều mà nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta được mời gọi “hãy nên hoàn thiện như Cha của anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” Khi mong muốn thực hiện được điều đó, còn gì tốt hơn khi chiêm ngắm các thánh – những người đã làm được điều đó. “Các thánh và các chân phước trên trời nhắc nhở chúng ta, những kẻ lữ hành trần thế, rằng lời cầu nguyện, trên hết, là lương thực cho mỗi ngày sống để chúng ta không bao giờ lạc mất hướng nhìn về đời sống vĩnh hằng.” Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Đối với nhiều người, chuỗi Mân Côi […] là phương cách để họ trò chuyện với Thiên Chúa mỗi ngày. Chuỗi Mân Côi dẫn chúng ta vào một sự mật thiết sâu sắc hơn nữa với Chúa Kitô và với Đức Trinh Nữ Maria.”

Rất nhiều vị thánh đã tận hiến mình cho chuỗi Mân Côi như: thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, thánh Têrêsa Calcutta, thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, thánh Zelie Martin, chân phước John Henry Newman, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và thánh Louis de Montfort. Nhờ những mẫu gương của các ngài, chúng ta tìm thấy được cảm hứng cho chính mình trong việc cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi nhiều hơn, để tiến gần hơn tới việc nên thánh nhờ Đức Maria và Con của Mẹ.

Grentchen R.Crowe
Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com

Chia sẽ bài viết này trên: