Tư Liệu

13 Tháng 10 – Mặt Trời Múa

13 Tháng 10 – Mặt Trời Múa

     Hôm nay 13 tháng 10, là kỷ niệm Ðức Mẹ hiện ra lần thứ sáu cho ba em Lucia, Phanxicô và Giacinta tại làng Fatima bên Bồ Ðào Nha.

Ðây là lần hiện ra có đông đảo dân chúng chứng kiến nhất. Mặc dù thời tiết xấu, ngay từ ngày 12, có trên mười ngàn người Bồ Ðào Nha từ khắp nơi trong nước đổ xô về Fatima để chờ đợi phép lạ như Ðức Mẹ đã hứa trong các lần hiện ra trước. Người lo lắng nhất trong suốt mấy ngày hôm đó chính là bà mẹ của Lucia. Bà khuyên cô con gái hãy đi xưng tội để nhỡ nếu không có phép lạ xảy ra, thì khi bị giết chết, họ cũng an tâm vì đã xưng tội. Cô Lucia trả lời: con sẽ đi xưng tội, nhưng không phải vì sợ phép lạ không xảy ra…Ðức Mẹ sẽ giữ lời hứa.

Buổi sáng sớm ngày 13/10, người ta đã thấy đám đông đứng phủ đầy ngọn đồi Cova da Iria, nơi Ðức Mẹ hứa sẽ hiện đến. Dưới cơn mưa lất phất của những ngày đầu mùa thu, ai cũng cảm thấy lạnh cóng, nhưng đều hiệp ý với nhau trong lời kinh Mân Côi kính Mẹ. Mọi người đều chăm chú hướng nhìn về ba em bé mục đồng, trong y phục rách rưới và bê bết những bùn.

Lucia bắt đầu đọc kinh Mân Côi, bỗng cô hô lớn: “Xin mọi người hãy xếp dù lại”. Với hai em Phanxicô và Giacinta, cô ra lệnh:

“Hai em hãy quỳ xuống, vì Ðức Mẹ đang hiện đến”.

Cùng với ba em, nhiều người đã nhìn thấy vệt sáng trên nền trời. Trong một cái nhìn vừa cảm thông và u buồn, Ðức Mẹ nói với ba em bé: “Ta là Ðức Mẹ Mân Côi… Ta muốn người ta xây một nhà nguyện tại đây để kính nhớ Ta. Các con hãy tiếp tục lần hạt mỗi ngày”. Và Ðức Mẹ đã hứa sẽ nhận lời cầu xin của một số người mà Lucia đại diện trình lên Mẹ. Nhưng Mẹ cảnh cáo: “Ðừng xúc phạm đến Chúa nữa, người ta đã xúc phạm quá đỗi rồi”. Nói xong những điều đó, Ðức Mẹ chỉ tay về hướng mặt trời… Trong cơn ngây ngất, Lucia đã thốt lên: “Xin mọi người hãy nhìn về mặt trời”.

Lạ lùng thay, ai cũng có thể nhìn về mặt trời mà không bị lóa mắt. Như một bánh xe cuồn cuộn lửa đỏ, ánh thái dương bỗng quay lượn, nhảy múa và toát ra những tia sáng muôn màu sắc. Rồi thình lình, từ trời cao, mặt trời bỗng đổ xuống như một trái bóng da khổng lồ. Trong cơn hốt hoảng, mọi người cảm thấy như mặt trời sắp rơi xuống, ai ai cũng nằm rạp xuống trên bãi cỏ và đấm ngực ăn năn như để chờ đợi giây phút cuối cùng của vũ trụ… Hiện tượng mặt trời nhảy múa và sa xuống mặt đất kéo dài trong vòng hai phút. Khi mặt trời đã trở lại trạng thái bình thường, mọi người đều nhận thấy rằng, bãi cỏ ướt đẫm trong cơn mưa bỗng trở nên khô ráo.

Việc Ðức Mẹ hiện ra và hiện tượng mặt trời nhảy múa đi kèm như được mô tả trên đây, mang nhiều ý nghĩa.

Chính phủ cách mạng tại Bồ Ðào Nha vào năm 1917 muốn đánh đổ những thứ mà họ gọi là huyền thoại tôn giáo, cũng như dẹp bỏ mọi thứ cuồng tín. Buổi sáng ngày 13/10 hôm đó, cả một lực lượng vũ trang hùng hậu đã được gửi đến đồi Cova da Iria để ngăn cản mọi cuộc tập họp của dân chúng. Báo chí thì tung ra lời tuyên đoán rằng phép lạ sẽ không bao giờ xảy ra và huyền thoại tôn giáo sẽ cáo chung từ hôm đó.

Thế nhưng tất cả những sức ép trên đây đã không đánh đổ được lòng tin của người tín hữu.

Phép lạ mặt trời múa vừa là một thể hiện của quyền năng của Thiên Chúa vừa là một lời mời gọi sám hối. Ðệ nhất chiến tranh đã phát sinh nhiều làn sóng vô thần chủ trương tiêu diệt tôn giáo bằng bạo lực. Bên cạnh những chế độ độc tài chối bỏ quyền sống của con người, nhiều người cũng buông thả trong đời sống luân lý.

Thế giới chỉ có thể cứu vãn được nếu con người biết hoán cải: đó là sứ điệp mà Ðức Maria đã không ngừng lặp đi lặp lại tai Fatima. Và phương tiện để giúp con người hoán cải trước tiên đó là cầu nguyện.

Cầu nguyện không những là quay trở lại với Chúa, nhưng còn là một cải đổi tương quan đối với người anh em.

Lịch sử đang lập lại không ngừng. Quyền sống của con người đang bị chối bỏ nhiều nơi trên thế giới. Con người cũng chối bỏ và chà đạp chính Thiên Chúa trong những sa đọa về luân lý. Ðức Maria đang tha thiết kêu mời chúng ta hãy sám hối, siêng năng cầu nguyện với kinh Mân Côi… Ðó là phương thế duy nhất để cứu vãn thế giới của chúng ta.

Lẽ Sống

Chia sẽ bài viết này trên:

ĐỨC MẸ DẠY LẦN HẠT MÂN CÔI TẠI FATIMA

ĐỨC MẸ DẠY LẦN HẠT MÂN CÔI TẠI FATIMA

Tại Fatima, Đức Mẹ từ trời hiện xuống với 3 em tất cả là 6 lần đều vào các ngày 13 trong tháng (từ tháng 5 tới tháng 10)

1/ Ngày 13-5- 1917, khi gặp Bà lạ, Luxia hỏi: Con có được về trời không?

– Đức Mẹ phán: Được, con sẽ về.

– Còn em Giaxinta?

– Giaxinta cũng được về.

– Còn em Phanxicô sao?

– Phanxicô cũng được về trời, nhưng nó phải đọc nhiều kinh Mân Côi đã.

Đức Mẹ còn bảo:- Hãy lần hạt Mân Côi để xin hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh.

2/ Ngày 13-6, Luxia hỏi: Bà muốn con làm chi?

Lần thứ 2 Đức Mẹ nói “Các con hãy lần hạt hằng ngày”.

Lần này Đức Mẹ còn nói Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ trên thế giới…

3/ Ngày 13-7, lần thứ 3 Đức Mẹ nói:

“Ta muốn các con tiếp tục lần hạt hằng ngày tôn kính Đức Mẹ Mân Côi để xin hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh vì chỉ có Đức Mẹ có thể giúp.

Đức Mẹ còn nói: những người muốn được ơn xin, cần phải đọc kinh Mân Côi để được ơn .

Rồi Đức Mẹ dặn tiếp:

– Hãy hy sinh cầu cho tội nhân và lặp lại mỗi hy sinh: “Lạy Chúa Giêsu, vì yêu Chúa, để cầu cho tội nhân thống hối và đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ.”

Đặc biệt lần hiện ra tháng này, Đức Mẹ cho 3 em thấy hỏa ngục. Luxia tả:

“Đức Mẹ mở rộng tay ra như đã làm trong hai lần trước. Những tia sáng thấu qua trái đất và chúng con thấy một biển lửa. Ma quỉ và các linh hồn dưới hình người bị dìm vào đó như những cục than hồng, cháy đen hay đỏ rực đang ngoi ngóp, phập phồng, có lúc bị ném lên như cùng với cuộn khói đen kịt rồi văng trở lại hỏa hào tràn ngập rên siết, nghiến răng thống khổ và thất vọng. Điều đó làm chúng con kinh hãi và run sợ. (chắc điều đó làm con khóc thét lên như những người chung quanh nói họ thấy con khóc) Quỉ dữ có thể phân biệt nhờ sự hung dữ và tàn bạo giống như những quái vật khủng khiếp chưa từng thấy, cháy đen hay đỏ rực như than trong lò. Kinh khiếp và hoảng hốt chúng con ngước nhìn xin Đức Mẹ cứu giúp. Đức Mẹ đã nhân từ, buồn sầu nhắn nhủ:

– Các con vừa thấy hỏa ngục nơi tội nhân khốn nạn phải rơi vào. Để cứu họ, Chúa muốn thiết lập trên thế giới sự tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Tội Mẹ. Nếu những điều Mẹ dạy được thi hành, nhiều linh hồn được cứu rỗi và thế giới sẽ có hòa bình.

Đức Mẹ còn dạy thêm:

“Mỗi khi các con lần hạt, đọc lời nguyện sau đây sau mỗi mầu nhiệm:

“Lạy Chúa Giêsu xin tha tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục. Xin đem các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là các linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.”

4/ Ngày 13-8. Các em bị bắt lên Quận để bị tra hỏi, lần này Đức Mẹ dạy:

“Ta muốn con tiếp tục tới Cova da Iria vào ngày 13 và tiếp tục lần hạt hằng ngày. Vẻ mặt rất buồn, Đức Mẹ dặn: Hãy cầu nguyện thực nhiều và hy sinh cho tội nhân; có nhiều linh sa hỏa ngục vì không có ai hy sinh cho họ.

5/ Ngày 13-9 Đức Mẹ dạy:” hãy tiếp tục lần hạt để xin chiến tranh chấm dứt. Tháng Mười Mẹ sẽ làm một phép lạ để mọi người tin”.

6/ Ngày 13-10-1917  Đức Mẹ đã làm những gì Đức Mẹ đã hứa trong các tháng trước:

Đức Mẹ xưng tên: Ta là Đức Mẹ Mân Côi.

Hãy tiếp tục lần hạt hằng ngày.

Chiến tranh sẽ chấm dứt và binh sĩ sẽ trở lại gia đình.

*Ngày 13 tháng 5 năm 1917 tại Fatima: “Các con hãy siêng năng lần hạt Mân Côi hằng ngày để cầu nguyện cho thế giới được hòa bình và chiến tranh chóng chấm dứt.”

*Có người thắc mắc với Chị Lucia: “Tại sao Đức Mẹ kêu gọi lần hạt hàng ngày mà không bảo đi tham dự thánh lễ?” Chị trả lời là chị không nghĩ ra để hỏi Đức Mẹ và Đức Mẹ cũng đã không giải thích. Tuy nhiên theo ý chị, nếu Đức Mẹ yêu cầu tham dự thánh lễ hàng ngày thì chắc chắn sẽ có rất nhiều người cho rằng đó là điều không thể vì xa nhà thờ, vì hoàn cảnh sinh nhai, hay điều kiện cuộc sống, hoặc công việc, sức khỏe….Ngược lại việc lần hạt Mân Côi là việc ai ai cũng có thể làm được, giàu có hay nghèo nàn, thông giỏi hay dốt nát, cao sang hay hèn kém.

Chị nói thêm: “Kinh Mân Côi là lời nguyện làm đẹp lòng Thiên Chúa và mưu ích lợi cho linh hồn chúng ta nhiều nhất. Nếu không, có lẽ Đức Mẹ đã không kiên trì kêu gọi chúng ta hãy lần chuỗi Mân Côi như vậy.”

Qua 6 lần hiện ra trên, ta thấy Đức Mẹ dạy đọc kinh Mân Côi để Đức Mẹ ban ơn cho cá nhân, gia đình, thế giới…

Lm. Đoàn Quang, CRM

Chia sẽ bài viết này trên:

Lời Kinh Kết Nối – LỄ MẸ MÂN CÔI

Lời Kinh Kết Nối
LỄ MẸ MÂN CÔI

Xã hội được xây dựng trên nhiều nền tảng. Một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là truyền thông.Truyền thông càng ngày càng có nhiều ảnh hưởng thiết thực trong cuộc sống con người và trong đời sống của Giáo Hội.Thời đại hôm nay, mạng internet được gọi là xa lộ thông tin cung cấp rất nhiều thông tin về mọi lãnh vực, cho con người mối quan hệ rộng lớn và nhiều cơ hội diễn đạt cảm xúc cũng như suy nghĩ của mình. Hòa vào mạng internet, con người trên khắp thế giới được kết nối với nhau. Hầu như ai cũng dùng điện thoại di động, đi đâu cũng có Wifi, 3G, 4G…Đến đâu cùng có kết nối.

Phụng vụ Giáo hội bước vào tháng Mân Côi kính Đức Mẹ. Từ ý tưởng truyền thông liên kết, tôi nghĩ đến: Kinh Mân Côi như điện thoại di động hòa đời người tín hữu vào mạng sự sống thiêng liêng. Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

  1. Kết nối với Đức Maria

Kinh Kính Mừng là nối kết hai lời chào. Lời Sứ thần Gabriel chào Đức Maria trong buổi Truyền tin: “Mừng vui lên hỡi đấng đầy ơn phúc” (Lc 1,28) và  lời bà Êlisabet chào Mẹ Maria: “Em thật có phúc hơn mọi người nữ”(Lc 1,42) trong ngày thăm viếng. Phần hai là lời khẩn nài được Giáo hội thêm vào xin Đức Mẹ cầu bàu: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử Amen.

Khi lần chuỗi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta được nối kết với Đức Maria. Chiêm ngắm Mẹ chỉ là “Nữ tỳ hèn mọn”, nhưng “Chúa đã đoái thương nhìn tới”. Vì thế, “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Một thiếu nữ nhỏ bé sống ở làng quê nghèo Nadaret đã trở thành Mẹ Thiên Chúa. Sứ thần Gabriel đến Nadaret chào thôn nữ Maria: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Ba tiếng “Đầy-ân-sủng” gộp lại trở thành như là tên gọi riêng của Đức Maria. Mẹ được tràn đầy ân sủng. Mẹ luôn luôn có Thiên Chúa ở cùng. Không có giây phút nào mà Mẹ không có Thiên Chúa với mình. Không có giây phút nào mà Mẹ không trọn vẹn thuộc về Chúa. Không có bất cứ dấu vết tội lỗi chen vào giữa Mẹ và Thiên Chúa. Là một tâm hồn luôn luôn nghiền ngẫm Kinh thánh, chắc hẳn Đức Maria nhớ lại Lời Chúa đã dùng Ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavit xưa. Nhưng điều mà Mẹ không bao giờ nghĩ tới là mình có thể đóng vai trò gì trong việc thực hiện lời tiên tri ấy. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Sau khi được Sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Và thế là Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành Thánh Mẫu của Thiên Chúa.

Mẹ được Thiên Chúa sủng ái, được trở nên cao trọng vì Mẹ khiêm nhường. Đức khiêm nhường dẫn Mẹ đến chỗ hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa.Đức Maria đã trở thành Mẹ Thiên Chúa qua thái độ khiêm nhường và lời đáp xin vâng phát xuất từ lòng tin của Mẹ.

Đức Maria là người diễm phúc vì Mẹ đã tin như bà Êlisabet đã thốt lên : “Phúc cho em vì đã tin những lời Chúa phán”.

Đọc Kinh Mân Côi là kết nối hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, cách tự nhiên như tình mẫu tử.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thổ lộ tâm tình : “Từ thuở niên thiếu, lời kinh Kinh Mân Côi đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi… Kinh Mân Côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng và trong những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu; nơi lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ…. Kinh Mân Côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu! Kỳ diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó”.

  1. Kết nối với Chúa Giêsu

Điều huyền diệu làm cho chuỗi Mân Côi hữu hiệu là khi đọc, chúng ta vừa cầu nguyện vừa suy niệm. Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Những tâm tình suy niệm hướng về Chúa Giêsu Kitô.

Chuỗi Mân Côi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.

Đọc Kinh Mân Côi là suy niệm các mầu nhiệm của Phúc Âm. Vì thế, Thánh Gioan Phaolô II  nói: “Kinh Mân Côi không thay thế việc đọc Kinh thánh, lectio divina; trái lại, Kinh Mân Côi giả định trước và cổ võ việc đọc Kinh thánh. Trong Kinh Mân Côi, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi ngày một hơn. Khi suy ngẫm về Kinh Mân Côi, chúng ta bước vào trường học của Đức Maria để Mẹ dạy chúng ta về Chúa Giêsu vì Mẹ đã nuôi dưỡng Chúa Giêsu, đồng hành với Chúa Giêsu và cùng chịu khổ với Chúa Giêsu dưới cây thánh giá”.

Chuỗi hạt Mân Côi 200 hạt, 150 hạt, 50 hạt hay 10 hạt được dùng để đếm số Kinh Kính mừng là “…lời ca tụng Đức Kitô không ngừng. Đức Kitô được nhắc đến trong mỗi Kinh Kính Mừng cũng là Đấng được trình bày trong chuỗi các mầu nhiệm: Người là Con Thiên Chúa và là Con Đức Trinh Nữ…” (ĐGH Phaolô VI, Rosamrum Virginis Mariae, số 18).

Các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng, hòa quyện trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Chuỗi Mân Côi lần lượt diễn tả:

– Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc khổ nạn Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang phục sinh của Đức Kitô.

Qua Kinh Mân Côi, chúng ta lặp đi lặp lại không những một hai lần Kinh Kính Mừng, nhưng là đọc đi đọc lại cả hai trăm lần, như hai trăm đóa hoa hồng dâng kính Mẹ Maria. Đức Giáo Hoàng Piô V đã nói: “Đây là việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria bằng cách đọc một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng, theo con số các thánh vịnh của Đavít, chia thành từng chục kinh một với một Kinh Lạy Cha, đồng thơi suy ngắm các mầu nhiệm về toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô”.

Chuỗi Mân Côi là quà tặng quí báu, Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta. Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người bình dân. Các mầu nhiệm Mân Côi còn được gọi là cuốn sách Phúc Âm rút gọn của người bình dân. Cứ 10 Kinh Kính mừng lại suy gẫm về một mầu nhiệm mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng.

  1. Kết nối với nhau

Đọc kinh Mân Côi mỗi người được kết nối với Đức Maria và với Đức Kitô, từ đó được hiệp thông với mọi tín hữu.

Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Cầu nguyện với Đức Mẹ bằng lời kinh Mân Côi, chúng ta được kết nối với Chúa Giêsu là nguồn mạch ban sự sống. Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện.Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái thì phải được tháp nhập vào thân nho.Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể. Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với cội nguồn là Chúa Giêsu.

Chuỗi Mân Côi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mân Côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria.Chuỗi Mân Côi mang đến vô vàn huyền diệu cho con người. Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

“Với Kinh Mân Côi, tín hữu nhận biết người Ấn Độ là anh em của mình, người Châu Âu sung túc cũng nhận ra người Somali đói nghèo là chi thể của mình, người Kinh cảm nhận hơn nữa người Thượng gần gũi với mình. Tại sao ta lần hạt ở nhà thờ, gia đình, trên đường…? Tại sao ai cũng lần hạt được, từ giáo sĩ đến giáo dân, từ trí thức đến nông dân, từ em thơ đến các cụ? Thưa bởi vì Kinh Mân Côi bình đẳng phổ cập, chẳng những phù hợp với mọi người mà còn củng cố hiệp thông với mọi người. Buồn hay vui người ta đều lần hạt, đám cưới thì lần hạt xin hạnh phúc đời này, còn đám tang thì lần hạt xin hạnh phúc đời sau”. (x. Nút vòng xoay, trang 193, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối mỗi người với Chúa Giêsu, với Mẹ Maria và với nhau. Đó là kinh nguyện phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

Theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta quyết tâm sống theo lời Mẹ trong dịp hiện ra lần cuối tại Fatima là “Hãy siêng năng lần hạt”. Kinh Mân Côi đưa chúng ta vào trong đại dương của Tình Yêu Thiên Chúa qua các mầu nhiệm chiêm ngắm và lời kinh lặp đi lặp lại. Kinh Mân Côi là nguồn an ủi, nguồn sức mạnh trong mọi hoàn cảnh của đời người tín hữu. “Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán” (Đường Hy vọng, số 947).

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con biết yêu mến tràng Chuỗi Mân Côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống, nhờ đó chúng con được hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau. Xin Mẹ khẩn cầu cho chúng con bên tòa Chúa. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Tháng 10. Nhiều vị thánh dành cho người trẻ

Tháng 10. Nhiều vị thánh dành cho người trẻ

Nếu mở lịch công giáo trong tháng 10, chúng ta dễ bắt gặp nhiều vị thánh trẻ nổi tiếng. Gọi là trẻ vì có người trạc tuổi như chúng ta, có vị tâm hồn luôn hướng về tuổi trẻ. Trong tâm thế đó, người trẻ được mời gọi và gợi hứng để bước vào đời với nhiều hy vọng lớn lao.

1. Tuổi còn trẻ

– Ngày 1: Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Chắc bạn cũng đoán ra vị thánh được mừng ngày đầu tháng. Đó là thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Ngài sinh năm 1873, qua đời năm 1897. Trải qua vỏn vẹn 24 năm sống trên trần gian, lúc nào tâm hồn ngài cũng hướng về trời cao. Thực vậy, nhớ lại thuở ngài hạnh phúc sống với cha mẹ và các chị, họ đã hướng dẫn ngài biết cách yêu mến Chúa Giêsu. Là công chúa út, ngài hay nhõng nhẽo, nhưng cha mẹ ngài luôn biết cách dạy bảo ngài trong trìu mến, yêu thương. Lúc nào cha mẹ cũng mong các con nên người con ngoan của Chúa. Một hôm ngài tinh nghịch đến bên mẹ và chúc mẹ mau chết! “Mẹ chết để về Thiên đàng!” – ngài giải thích! Rồi khi nào yêu cha quá, ngài cũng chúc cha chết như thế.  Rồi từng ngày tuổi thơ của ngài được cha mẹ uốn nắn trong lối về Thiên Đàng.

Ngay từ nhỏ, thánh nhân có khao khát dâng mình cho Thiên Chúa. Năm 1887, cùng với cha, ngài can đảm xin Đức Giáo Hoàng cho phép mình được vào dòng kín ở tuổi 14. Năm sau ngài mới được thỏa lòng ước mong ở trong Dòng kín Carmel, thành Lisieux nước Pháp.

Với 9 năm sống trong tu viện, sơ Têrêsa Hài Đồng Giêsu để lại cho hậu thế biết bao gương lành thánh thiện và  “con đường nhỏ” để nên thánh. Những điều ấy chúng ta dễ dàng tìm thấy trong những trang sách được cả thế giới yêu chuộng: “Truyện Một Tâm Hồn”[1].

Trước khi qua đời, ngài hứa từ Trời Cao, ngài sẽ làm mưa hoa hồng rơi xuống trần gian! Từ đó ngài trở nên vị thánh nổi tiếng gắn liền với những cơn mưa hoa hồng. Đó là những ân sủng của Thiên Chúa mà ngài nài xin để gửi xuống trần gian.

– Ngày 2: Lễ Kính Các Thiên Thần Hộ Thủ

Các ngài được biết đến với những Thiên thần với đôi cánh tung bay. Các ngài không có tuổi, không có tiểu sử. Do tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa, các ngài được cử đến để đồng hành với chúng ta[2]. Có thể người trẻ ít để ý đến các ngài; tuy nhiên, nếu không có các thiên thần bảo vệ ta, cuộc sống của ta sẽ nhiều phưu lưu nguy hiểm.

– Ngày 5: Thánh Faustina

Đây là vị thánh nổi tiếng với phong trào lòng Chúa Thương xót. Thánh nữ chào đời năm 1905, mất ở độ tuổi 33 (1938). Trước khi là nữ tu, thánh nhân đã có nhiều thị kiến về Thiên Chúa. Nhất là khi vào Dòng, Quyển Nhật Ký về các lần thị kiến của thánh nữ Faustina mỗi lúc một dày hơn. Trong đó thực sự là một bản tường thuật sâu sắc về những thị kiến và cả những thử thách của một tâm hồn. Trên hết, đó là bằng chứng về một niềm tín thác trọn vẹn vào Lòng Thương Xót vô cùng của Thiên Chúa. Thánh nhân còn có lòng mộ mến thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

Ngày nay tại Balan có một trung tâm hành hương mang tên thánh nhân (Tp. Krakow). Không chỉ nơi đó, nhưng trên toàn thế giới, những điều Thiên Chúa mạc khải cho chị luôn được nhiều người cầu nguyện. Đó là phong trào Lòng Chúa Thương xót vốn quen thuộc với chúng ta.

– Ngày 15: Thánh Têrêsa Avila

Thánh Têrêsa Avila sinh năm 1515, mất ngày 4 tháng 10 năm 1582. Đây là thời gian Giáo Hội Công Giáo gặp nhiều khủng hoảng từ phía phong trào cải cách Tin Lành. Xuất thân từ gia đình quý tộc, nhưng thánh nhân lúc nào cũng hướng đề Chúa. Năm 14 tuổi thánh nhân đã là một nữ tu. Từ đó, thánh nhân phải chịu biết bao cơn bạo bệnh. Có lần bác sĩ đã xác định nữ tu ấy đã chết. Gia đình đã lo hậu sự. Nhưng trong tang lễ thánh nhân đã sống lại.

Có thể trong những lần kết hợp với Thiên Chúa, thánh nhân đón nhận được những mặc khải sâu xa. Cứ đọc vài tác phẩm của Têrêsa sẽ thấy: Con đường đi đến toàn thiện, Lâu đài nội tâm, Quyển sách của những nền tảng. Đó là những tư tưởng quan trọng của phong trào thăng tiến dòng tu và Giáo Hội thời bấy giờ.

– Ngày 22: Thánh giáo hoàng Gioan Phao lô II

Gioan Phaolô Đệ Nhị sinh năm 1920, mất 2 tháng 4 năm 2005. Đây là vị thánh gần thời đại chúng ta nhất. Ngài làm giáo hoàng trước Đức Bênêdictô XVI. Ngài thực sự là một vị thánh ngay từ thuở nhỏ. Dưới nhiều biến động của chính trị tại Balan, ngài đã cùng với các thanh niên cố gắng thấy dấu chỉ của thời đại[3].

Trong khi tại vị, ngài đã không quảng ngại tông du khắp thế giới. Ngài không mệt mỏi lên tiếng phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình, phản đối chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, chế độ độc tài, chủ nghĩa duy vật, các phương pháp phá thai, thuyết tương đối, chủ nghĩa tư bản và cách thức chết êm dịu. Ngài cũng được coi là một trong những nguồn lực dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan và Đông Âu.

Năm 1985, chính thánh nhân đã công bố lập Ngày Giới Trẻ Thế Giới (World Youth Day) 3 năm 1 lần. Từ đó, ngày hội này quy tụ hàng triệu người trẻ trên toàn thế giới ở mỗi nước luôn phiên. Chẳng hạn diễn từ năm 1993, Ngài nói với người trẻ:

“Hỡi những người trẻ,

Chúa Kitô cần tới các con để thắp sáng địa cầu, để chỉ cho nhân loại ‘nẻo đường đi tìm sự sống’. Thách thức mới là các con cần phải thể hiện sự có mặt của Giáo hội Chúa bằng chính cuộc đời và lối sống cụ thể của các con. Các con hãy sắp sẵn trí khôn, tài năng, lòng nhiệt thành và tình thương của các con để đối diện với đời sống và phục vụ đời sống.”

Chính Đức Gioan Phaolô II đẩy nhanh phong trào Lòng Thương Xót Chúa của thánh Faustina. Nhiều lần ngài lên tiếng: “Quả thật, Tôi tha thiết kêu gọi anh chị em hãy trở nên những tông đồ của Lòng Thương Xót Chúa, như Faustina Kowalska, trong đời sống thường nhật và tại những nơi làm việc của anh chị em.” Đức Gioan Phaolô II đã ấn định Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh là Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa trong toàn Giáo Hội.

Với biết bao đóng góp quan trọng của thánh nhân, với lòng tin yêu tuyệt đối vào Thiên Chúa, ngài được Giáo hoàng Phanxicô phong thánh ngày 27 tháng 4 năm 2014.

2. Tâm hồn yêu mến Chúa

Chúng ta không dám mơ làm những thánh vĩ đại như các ngài! Tuy nhiên, chúng ta có thể học tập từ mẫu gương các ngài trong đời sống yêu mến Chúa. Đó là ơn huệ của Thiên Chúa, nhưng cũng là nỗ lực của các ngài. Đừng quên chính thánhTêrêsa Hài Đồng Giêsu hay Têrêsa Avila đã phải chịu rất nhiều đau khổ như Chúa Giêsu trên thập giá. Các ngài có lần cũng muốn bỏ cuộc. Vì lòng yêu mến Chúa quá nồng nàn, mọi bệnh tật, thử thách các ngài đã vượt qua.

Trong thời đại hôm nay, hẳn là người trẻ ngại nên thánh. Giữa xã hội muôn màu, thời thượng lên ngôi, đời sống tâm linh dường như quá xa vời. Không ít bạn đọc những dòng tiểu sử trên đây, tưởng như đọc tiểu thuyết hoặc những chuyện thiêng liêng ảo tưởng. Không! Đó là những con người rất trẻ như chúng ta. Các ngài cũng có những thách đố như chúng ta. Điều khác là các ngài đã dám để Chúa dẫn đưa. Họ cho Chúa một cơ hội để thánh hóa bản thân. Ước sao người trẻ chúng ta cũng thế.

Để cảm nhận rõ hơn về lòng yêu mến Chúa của các ngài, chúng ta thấy nơi những dòng lưu bút các ngài để lại:

–  “Đừng để điều gì làm bạn xao xuyến, đừng để điều gì làm bạn sợ hãi. Mọi sự qua đi, Chúa không bao giờ thay đổi. Kiên nhẫn đạt được tất cả. Ai có Chúa thì không còn thíếu gì nữa. Mình Chúa là đầy đủ rồi.” (Thánh Têrêsa Avila)

– “Tôi không chết, tôi đi vào sự sống.” (Thánh Têrêsa Hài Đồng).

– “Chúa Giêsu nói với tôi: Con hãy cho vẽ lại bức ảnh như con xem thấy Cha, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” (Thánh Faustina).

– “Tôi xin các bạn với tất cả sự khiêm tốn và tin tưởng: Hãy để Chúa Kitô nói với nhân loại. Chỉ mình Ngài mới có lời ban sự sống đời đời. Các bạn đừng sợ hãi! Nhưng hãy mở cửa cho Đức Kitô.” (Lời mở đầu triều đại Giáo Hoàng của thánh Gioan Phaolô II).

3. Tạm kết

Tháng 10 cũng được gọi là tháng mân côi kính Đức Mẹ Maria. Chúng ta xin với Mẹ cho mỗi người trẻ dám nên thánh giữa đời. Những mẫu gương của các vị thánh có thể khai mở những lối nẻo nên thánh rất riêng cho người trẻ.

Điều thú vị là các ngài cũng rủ ta nên thánh. Chúng ta cũng ước sao cùng nhau nên thánh. “Ta phải trở nên thánh chung với nhau. Ta phải đến với Thiên Chúa chung với nhau, trình diện trước Thiên Chúa chung với nhau. Ta không được gặp Thiên Chúa tốt lành người này sau người kia. Thiên Chúa có thể nói tốt lành sao được nếu ta lại ra đi người này không có người kia?”[4]

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

……………..

[1] Đọc thêm: Một Tâm Hồn (Trinh nữ Têrêsa viết – Kim Thiếu dịch). Đây là quyển sách một thời là sách “gối đầu giường” của những người đạo đức!

[2] Bởi đó các thiên thần bản mệnh còn gọi là “đặc phái viên” của Thiên Chúa (God’s emissaries).

[3] “Trong những năm tôi làm linh mục, tôi đã đề cao giới trẻ và tuổi trẻ. Về sau, lý tưởng này đã không bao giờ rời khỏi tôi và chính nó đã khiến tôi gặp giới trẻ bất cứ nơi nào tôi đi.” (x. Jean Offredo, Đức Gioan Phaolô II: Giấc mơ về Giêrusalem, 236).

[4] Charles Péguy (1873–1914, thi sĩ Pháp).

Chia sẽ bài viết này trên:

Vẻ đẹp của Mẹ Maria theo tác giả cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn”

Vẻ đẹp của Mẹ Maria theo tác giả cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn”

WGPSG /Aleteia — Tiểu thuyết gia nổi tiếng yêu mến Đức Mẹ và coi Mẹ là tiêu chuẩn cho cái Đẹp. 

Con gái tôi hiện đang đọc cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn” lần thứ hai. Khi cháu đọc cuốn này, tôi cố chỉ ra cho cháu một số câu đố Công giáo thú vị ẩn trong đó. Ví dụ, con có biết rằng cuối cùng có phải Frodo đã phá hủy chiếc nhẫn vào ngày 25-3 không? Ngày đó là ngày lễ Truyền Tin, ngày mà Chúa Kitô được thụ thai và bắt đầu quá trình đánh bại sự dữ một lần và mãi mãi. Hoặc, con có biết rằng bánh Lembas (loại bánh đặc biệt do thần tiên làm) giống với Bí tích Thánh Thể một cách kỳ lạ không?

Những ám chỉ về Công giáo nơi cuốn tiểu thuyết này không có gì đáng ngạc nhiên. Xét cho cùng, tác giả Tolkien là một người Công giáo dấn thân, coi đức tin là trung tâm từ đó nhìn ra thế giới. Tolkien nói, “Từ trong bóng tối của đời tôi với quá nhiều thất vọng, tôi đặt trước mặt bạn một điều tuyệt vời đáng yêu quý nhất trên trái đất: đó là Bí tích Thánh Thể.”

Với cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn” của mình, Tolkien không dự định viết một cuốn tiểu thuyết mang tính Công giáo, nhưng sau đó ông phải thừa nhận rằng hóa ra nó lại là “một tác phẩm chủ yếu có tính tôn giáo và Công giáo; lúc đầu chỉ là vô thức thôi, nhưng đã mang tính ý thức khi được duyệt lại.”

“Một nét Công giáo đã thấm vào các cuốn sách của tôi chính là hình ảnh Đức Trinh Nữ Maria. Nàng tiên Galadriel không hoàn toàn nói năng giống như Đức Trinh Nữ – có nghĩa là nàng không chỉ đơn giản là một nhân vật giả dạng Đức Maria – nhưng có một số tính cách giống với Đức Maria. Tolkien coi nàng tiên này “vĩ đại nhất trong số các tiên nữ”, giống như cách chúng ta coi Mẹ Maria là vĩ đại nhất trong tất cả các vị thánh. Galadriel là một nữ hoàng, một người mẹ, và thường xuất hiện như một người trợ giúp kỳ diệu. Đôi khi, nàng tiên này được gọi đơn giản là “Người phụ nữ của ánh sáng”.

Những điều này rõ ràng ám chỉ Đức Trinh Nữ. Mẹ Maria có tất cả những đặc điểm này. Mẹ thường hiện ra giúp đỡ những người túng thiếu, đó là lý do tại sao một trong những danh hiệu của Mẹ là “Mẹ Hằng Cứu Giúp”. Hình ảnh thú vị nhất của nàng tiên Galadriel là ở trong Hai Tòa Tháp, khi bà tiên này hiện ra cứu giúp Sam. Tolkien viết, “Rất xa, như trong một bức tranh nhỏ do thần tiên vẽ ra, anh ấy nhìn thấy bà tiên Galadriel đang đứng trên bãi cỏ ở Lorien với những món quà trên tay. Và này bạn Đeo Nhẫn ơi, anh ấy đã nghe bà tiên nói, từ xa nhưng rõ ràng: ‘Tôi đã chuẩn bị thứ này cho bạn đây.’” Sau đó, bà tiên nhắc Sam rằng anh ấy sở hữu một thứ ánh sáng kỳ diệu xua đuổi được bóng tối và tất cả những sinh vật xấu xa trú ngụ trong đó. Sam sử dụng nó và anh ấy cùng với Frodo đã được cứu thoát.

Tolkien thực sự yêu mến Mẹ Maria. Ông thậm chí đã dịch kinh Kính Mừng sang ngôn ngữ thần tiên. Trên tất cả, ông đã coi Mẹ Maria là tiêu chuẩn của cái Đẹp, đó là lý do tại sao ông miêu tả Galadriel đẹp tuyệt vời. Trong một lá thư gửi cho một người bạn là linh mục, cha Robert Murray, người đã chỉ ra những điểm tương đồng giữa Mẹ Maria và Galadriel, Tolkien viết, “Tôi nghĩ rằng tôi biết chính xác ý của bạn… qua những lời bạn nhắc đến Đức Mẹ, đã hình thành tất cả nhận thức bé nhỏ của tôi về cái Đẹp vừa uy nghiêm vừa giản dị.”

Thật là táo bạo khi nói rằng Đức Maria là nền tảng để xây nên tất cả cái Đẹp khác. Ý của ông là gì khi nói như thế? Ông ấy có lẽ không có ý nói rằng Mẹ Maria là người phụ nữ đẹp nhất từng sống trên thế gian. Ông ấy đang đề cập đến vẻ đẹp nội tâm, vẻ đẹp tâm hồn. Đây là lý do tại sao ông nói về sự uy nghiêm của Mẹ, theo truyền thống Công giáo, dựa trên sự khiêm tốn tuân theo lời mời gọi của Chúa, và sự đơn giản của Mẹ, theo đó ông muốn nói cuộc đời Mẹ chỉ tập trung cao độ vào tình yêu, không bị sao nhãng phức tạp. Vẻ đẹp hình thể của Đức Maria là phản ảnh tâm hồn cao đẹp của Mẹ.

Vâng, tuyên bố của Tolkien thoạt đầu gây sốc, nhưng đó là một tuyên bố Công giáo đích thực. Chẳng hạn, Đấng Đáng kính Fulton Sheen cũng đã nói điều tương tự:

“Sự tinh khiết xinh đẹp của Đức Maria hẳn đã đạt đến mức độ nó ít thu hút con mắt, nhưng lại thu hút linh hồn của đàn ông nhiều hơn… Rất có thể con mắt người ta khi nhìn vào Đức Maria, hiếm khi ý thức được rằng Đức Maria trông thật đẹp mắt. Giống như những người đàn ông hư hỏng được làm cho trong sạch tư tưởng bởi hình ảnh của một đứa trẻ vô tội, cũng vậy, tất cả những suy nghĩ xác thịt sẽ bị loại bỏ nhờ một cái nhìn về Đức Mẹ Vô nhiễm.”

ĐGM Fulton Sheen đã nói điều tương tự như Tolkien, rằng vẻ đẹp giản dị của Mẹ trở thành nền tảng để thanh lọc tâm trí chúng ta, những người hằng ngắm nhìn Mẹ. Nếu cuộc sống của chúng ta được nên tươi đẹp, nếu tâm hồn chúng ta bắt đầu rực sáng tình yêu, thì đó là vì chúng ta trước tiên đã nhìn thấy vẻ đẹp của người Mẹ thiêng liêng của chúng ta.

Cách ông Tolkien mô tả vẻ đẹp của Đức Maria giúp chúng ta xác định cái Đẹp thực sự là gì. Nó không liên quan gì đến ngoại hình hoặc quần áo bắt mắt; nó liên quan đến cách tâm hồn tỏa sáng và làm cho một người đẹp từ trong ra ngoài. Vẻ đẹp trong sáng, ngây thơ, duyên dáng và siêu thoát. Nó rực sáng tình yêu. Nếu chúng ta cũng muốn nên xinh đẹp, thì nơi đầu tiên cần tô điểm chính là đời sống nội tâm của chúng ta. Về điều này, chúng ta không thể có tấm gương nào tốt hơn là Đức Trinh Nữ Maria.

Lm Michael Rennier (Aleteia) / Tóc Ngắn chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG 

Chia sẽ bài viết này trên:

LỜI CHÚA TRONG KINH MÂN CÔI

LỜI CHÚA TRONG KINH MÂN CÔI

WHĐ (24.9.2020) – Tháng 10, tháng Mân Côi lại về. Tôi muốn viết một chút về Kinh Mân Côi dưới góc độ Lời Chúa trong Kinh Mân Côi.

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân ở miền Bắc, công giáo “đạo gốc” [không phải theo nghĩa của một số người trẻ ngày nay ở Sàigòn, ngồi trên xe gắn máy dưới “gốc cây” ngoài sân nhà thờ để dự lễ…]. Ở quê tôi, trẻ bắt đầu tập nói thì đã học chắp tay “ạ!” trước tượng Chúa, tượng Đức Mẹ, rồi học làm dấu Thánh Giá, học kinh Kính Mừng… Tối nào gia đình cũng tụ họp trước bàn thờ lần chuỗi “năm chục”. Còn bé thì làm dấu thánh giá rồi đi ngủ. Thước đo độ lớn là kinh Kính Mừng, một, rồi ba, rồi một chục kinh chung với cả gia đình… tới tuổi lãnh phép Thêm Sức thì ngồi đọc năm chục kinh chung với cả nhà.

Tôi 6, 7 tuổi thì bà nội tôi mắt đã lòa, trời mưa thì bà ngồi ở nhà lần chuỗi đủ 15 ngắm, trời nắng thì bà bảo dắt bà qua nhà một người bà con ở gần nhà, bị liệt hai chân, hai bà lần chuỗi với nhau, như một niềm vui, niềm an ủi. Tôi ngồi với bà một chục kinh, rồi bà cho tôi đi chơi. Bà lần chuỗi xong thì gọi dắt bà về. Nhà tôi ở cách nhà thờ giáo xứ cũng khá xa. Ngày Chúa nhật đi lễ thì bọn trẻ rủ nhau vừa vui đùa vừa đi lễ, người lớn thì vừa đi vừa lần chuỗi, khoảng năm chục kinh thì tới nhà thờ. Tôi lớn lên dưới bầu trời ven sông Hồng, mỗi buổi tối, trên thì sao lấp lánh gọi nhau, dưới là lời Kinh Mân Côi vọng từ nhà này qua nhà khác.

Nay tôi là ông lão 80, từng sống 9 năm “hơn hẳn thầy tu một dấu huyền”, chẳng được phép mang đồ đạo nào trên mình. Hết 6 tháng “làm việc” đến những tháng nhàn rỗi: “Một mình một cỗ thảnh thơi ngồi”, cơm bưng nước rót, một mình một cõi, chẳng có gì để làm, chẳng có gì để đọc, chỉ có bốn bức tường để ngắm và thiên thần bổn mạng làm bạn… thì mười đốt ngón tay là xâu chuỗi, ngày ngày đếm thời giờ bằng chuỗi Mân Côi.

Hai chục năm sau đó thì ngược lại, sáu năm trời được Bề Trên Dòng sai đi khắp năm châu bốn bể vì nhiệm vụ trong Dòng, trước khi “định cư định canh” từ mười hai năm nay tại miền đất mà Chúa đã chọn làm quê hương khi từ trời xuống thế, chờ ngày song ca với ông già Si-mê-ôn.

Tại miền đất này, Tổng Lãnh Thiên Thần Gáp-ri-en đã xướng phần đầu kinh Kính Mừng và lời xin vâng của Trinh Nữ làng Na-da-rét mở ra Tin Mừng do các Tông Đồ rao giảng, nay được tóm tắt trong 20 mầu nhiệm Kinh Mân Côi. Rồi bà Y-sa-ve được đầy Thánh Thần, tiếp lời Thiên Sứ Gáp-ri-en cho trọn kinh Kính Mừng, các thiên thần đồng ca lời “Sáng Danh” và sau đó Con Thiên Chúa đích thân dạy kinh Lạy Cha. Tất cả nội dung Kinh Mân Côi xảy ra ở miền đất này.

Các nhà thờ chánh tòa lớn và cổ kính bên Tây thì dùng tượng đá, bên trong bên ngoài, không phải chỉ để trang trí, nhưng là “sách giáo lý” và Kinh Thánh cho mọi người. Bên Đông thì dùng nghệ thuật “tranh thánh”, tiếng Hy-lạp gọi là “i-kôn”, dùng nhiều biểu tượng và có thể gom nhiều chi tiết trên cùng một mặt phẳng để giúp người xem đi sâu vào từng mầu nhiệm. Người ta không nói là “vẽ i-kôn”, nhưng là “viết i-kôn”, vì mỗi “i-kôn” giống như cả một chương sách thần học kinh thánh, tín lý và thiêng liêng, giải nghĩa một mầu nhiệm. Người “viết i-kôn” xuất phát từ một kinh nghiệm chiêm niệm mầu nhiệm và “viết” ra để giúp cho người nhìn ngắm i-kôn đi vào cảm nghiệm thiêng liêng mà chính mình đã được trong chiêm niệm. Vì thế từ màu sắc tới các đường nét, cách bố cục đều có những “qui ước”, giống như viết văn vậy. Bức “i-kôn” nhiều người biết là bức của Rublev, diễn tả mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, gợi hứng từ câu chuyện “Ba Vị Khách tới viếng ông Áp-ra-ham” (St 18)

Bức “i-kôn” của Rublev

Có lẽ Kinh Mân Côi khởi sự từ cách cầu nguyện bên phương Đông với những lời vắn tắt được lặp đi lặp lại, dấu vết rõ nhất là câu “Kyrie eleison”, “xin Chúa thương xót”, và lời kinh Lạy Cha mà Chúa Giê-su dạy. Chúa Giê-su căn dặn: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mt 26, 41). Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu “cầu nguyện không ngừng” (1Tx 5,17). Sau này trong các tu viện, các tu sĩ cầu nguyện theo sát lời chỉ dẫn của thánh Phao-lô: với các thánh vịnh (của Cựu Ước), thánh ca được Thánh Thần linh hứng mà chúng ta còn gặp thấy trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca và các thư của thánh Phao-lô:

Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. 20Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha. (Ep 5,19-20; x. Cl 3,16-17).

Rồi đến thời phần đông giáo dân và cả những tu sĩ không biết đọc, họ đọc 150 lần kinh Lạy Cha thay cho 150 thánh vịnh. Dần dần lời Thiên Sứ truyền tin cho Đức Ma-ri-a và lời bà chào của bà Y-sa-ve được dùng, sau này thêm phần thứ hai của kinh Kính Mừng… Cứ như thế mà Kinh Mân Côi thành hình như chúng ta đọc ngày nay vào thế kỷ 15.

Hai mươi mầu nhiệm trong Kinh Mân Côi giống như tựa đề của hai mươi bức “tranh thánh” diễn tả từng mầu nhiệm trong các sách Tin Mừng và tín lý của Hội Thánh, xướng lên để chúng ta tự hình dung theo Tin Mừng, chiêm ngắm trong khi nhẩm đi nhẩm lại những lời kinh rút ra từ sách Tin Mừng và phụng vụ, cũng là những lời gợi lên khởi đầu (Sứ Thần truyền tin) và kết quả của ơn cứu độ trong Đức Giê-su, là chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, và được trực tiếp thân thưa với Cha chúng ta ở trên trời, ngợi khen và giãi bày những tâm tình và những nhu cầu của chúng ta trong đời sống làm người và làm con Thiên Chúa, được hiệp với thần thánh trên trời và Hội Thánh trên trần gian tung hô Ba Ngôi Thiên Chúa là nguồn ơn cứu độ (kinh Sáng Danh), cầu xin với Đức Ma-ri-a, Đấng vừa là Mẹ của Đấng Cứu Chuộc vừa là Mẹ chúng ta, những kẻ được hưởng ơn cứu chuộc.

Trẻ thơ nào cũng cần nghe và cảm nghiệm những lời, những cử chỉ âu yếm. Có gì ngọt ngào âu yếm cho trẻ thơ hơn là hai tiếng “Ba”, “Má”. Vui, buồn, khổ, đau, hay sung  sướng thì “Ba”, “Má”, cũng là lời diễn tả đầu tiên ở sẵn ngay đầu môi. Có bàn tay nào êm ái bằng bàn tay của mẹ; bàn tay nào chở che mạnh mẽ hơn bàn tay của cha… Kinh Mân Côi cho chúng lặp đi lặp lại tiếng kêu “Cha”, và “Mẹ”…

Những lời kinh và các mầu nhiệm trong Kinh Mân Côi giúp chúng ta cảm nghiệm Tình Thương của Thiên Chúa là Cha. Chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, thân thưa với Cha. Nhớ đến, ôn lại những gì Cha đã làm cho chúng ta trong mầu nhiệm cứu độ, như thánh Gio-an diễn tả:

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ. (Ga 3,16-17).

Và Thánh Phao-lô cảm nghiệm: “Người đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi” (Gl 2,20).

Tình Thương ấy là nguồn sức mạnh và cậy trông của chúng ta trong mọi hoàn cảnh:

Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? 36Như có lời chép: chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. 37Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. 38Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, 39trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

Và khi chúng ta cảm nghiệm được hạnh phúc ấy thì chúng ta cũng được thôi thúc yêu mến đồng loại và có gương mẫu để biết yêu mến như Chúa Giê-su dạy:

Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 35Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau. (Ga 13,34-35)

Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

12Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. (Ga 15, 9-13)

Chúng ta được gọi Thân Mẫu của Chúa, Nữ Vương Thiên Đàng là Mẹ của mình, được cảm nghiệm Tình Thương của Mẹ suốt từ khi Mẹ nhận sứ mạng làm Mẹ Đấng Cứu Chuộc cho đến khi Mẹ đứng gần thập giá như Người Đàn Bà Mới, nghe Chúa Giê-su từ trên thập giá trao chúng ta – qua đại diện là người môn đệ Chúa yêu mến – cho Thân Mẫu của Người, để chúng ta thành con của Bà, và Bà làm Mẹ của chúng ta, “Mẹ của kẻ sống”, thay cho người Đàn Bà đầu tiên đã đem cái chết vào trước khi thành mẹ của chúng ta. Rồi để kết thúc, chúng ta chiêm ngắm cuộc khải hoàn của Mẹ, Mẹ được tham dự hoàn toàn vào cuộc khải hoàn của Đấng Cứu Chuộc do Mẹ sinh ra.

Mẹ trở thành nguồn cậy trông, bảo chứng cho chúng ta về quyền năng cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta được tin tưởng thân thưa với Mẹ mọi nhu cầu của chúng ta “khi nay và trong giờ lâm tử”.

Kinh Mân Côi đưa chúng ta vào trong đại dương của Tình Yêu Thiên Chúa qua các mầu nhiệm chúng ta chiêm ngắm và lời kinh chúng ta lặp đi lặp lại. Kinh Mân Côi là nguồn an ủi, nguồn sức mạnh trong mọi hoàn cảnh của đời người tín hữu.

Tôi xin kết thúc bằng kinh nghiệm của “người tù xuyên thế kỷ” 38 năm, với hai năm ngồi trong khám tử hình bị vợ bỏ, con trai con gái còn nhỏ, lớn lên thì nghèo nên chẳng ai có điều kiện đi thăm cha.

Là sĩ quan đi cải tạo, bị bắt lại một lần, với tội danh tuyên truyền phản cách mạng, bị bắt lại lần nữa và lãnh án tử hình. Hai lần trước anh đã được bạn tù người công giáo dạy giáo lý, thuộc Kinh Mân Côi và ngắm Đàng Thánh Giá, nhưng chưa chịu phép rửa. Trong khám tử hình, hai chân cột vào một dây xích sắt dài. Anh nảy ra sáng kiến tự chế xâu chuỗi để đọc Kinh Mân Côi: đếm mười mắt xích, xé áo lấy vải đánh dấu, làm chuỗi Mân Côi. Ngày ngày lần chuỗi năm vòng 15 mầu nhiệm, rồi “ngồi Đàng Thánh Giá” ba vòng nữa. Ngày nào anh cũng chờ trong hy vọng, không phải hy vọng được tha, nhưng “nếu hôm nay người ta tháo xiềng đem ra bắn thì con sẽ được ở với Chúa trên thiên đàng”. Hai năm sau, một ngày người ta mở cửa, tháo “xâu chuỗi”, nhưng chưa cho anh lên thiên đàng với Chúa, chỉ đưa anh qua phòng án chung thân. Ít lâu sau, anh được đưa lên trại lao động. Ở đây anh đã gặp cha Đaminh Ngô Quang Tuyên và tôi, Cha Tuyên chuẩn bị và tôi làm phép rửa cho anh trong âm thầm. Nhiều người đã nghe biết tên anh, vì ngày đầu tiên đi lễ, gặp lễ cầu cho hòa bình và công lý, anh được mời lên chia sẻ. Lời đầu tiên của anh: “Tôi tha thứ tất cả, cho mọi người đã làm tôi đau khổ 38 năm qua”. Anh xóa từ hận thù, oán hận trong các bài thơ, bài hát anh đã viết hồi trước.

Khi anh được ra về thì tuổi đã cao, mắt đã gần lòa, sức khỏe suy yếu, con trai anh đã 45 tuổi, vẫn nghèo. Nhưng anh vẫn giữ được sự lạc quan và óc hài hước. Chuỗi Mân Côi và đàng thánh giá đã giữ tâm hồn anh bình an, lạc quan, vui vẻ sau ba mươi tám năm tù…

Giê-ru-sa-lem ngày 23 tháng 9 năm 2020
Linh mục Giu-se Nguyễn Công Đoan, S.J.

Chia sẽ bài viết này trên:

CẦU NGUYỆN

CẦU NGUYỆN

“Cầu nguyện thinh lặng…nghĩa là thường xuyên dành thời gian ở một mình với Chúa, Đấng mà chúng ta biết yêu thương chúng ta” (Thánh Tê-rê-xa Avila, Tiểu Sử Tự Thuật 8,5).

Câu chuyện minh họa:

Ở tù về, tôi được nhiều người chất vấn: “Cha sướng thật, trong tù cha đã có nhiều thời giờ để cầu nguyện!” Không phải đơn giản như các bạn nghĩ đâu! Chúa đã cho tôi có dịp hiểu rõ sự yếu đuối thể lý và tinh thần của tôi. Thời giờ trong tù trôi qua chậm rãi, đặc biệt trường hợp của những ai bị biệt giam. Bạn hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng thinh lặng … thấy lâu dài cách kinh khủng. Khi thinh lặng ấy kéo dài từng năm, thì nó trở thành đời đời … Ông bà ta thường bảo: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại, nghĩa là, một ngày trong tù dài bằng ngàn thu tự do”.

Có những lúc quá đau, quá mệt không đọc được một kinh.

Tôi nhớ lại chuyện ông già Jim. Cứ mỗi ngày lúc 12 giờ trưa ông ta vào nhà thờ không quá hai phút. Ông từ (giữ nhà thờ) rất thắc mắc theo dõi, rồi một hôm chận ông Jim lại và hỏi:

– Tại sao bác vào đây mỗi ngày?

– Tôi đến cầu nguyện.

– Không thể được! Kinh gì trong hai phút?

– Tôi vừa già, vừa dốt, đọc kinh theo kiểu của tôi.
– Ông nói gì với Chúa?

– Tôi cầu nguyện: “Giêsu, có Jim đây!” rồi tôi về.

Thời gian trôi qua. Jim già yếu, bệnh tật, phải vào bệnh viện, nơi khu vực người già. Sau đó Jim yếu liệt, chuẩn bị đi xa … Linh mục tuyên úy và nữ tu y tá đến bên giường Jim:

– Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào khu vực này, có nhiều điều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ hơn, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?

– Chả biết!… Lúc còn sức tôi đi quanh thăm mọi người, chào hỏi, chuyện trò một chốc; lúc sau liệt giường tôi gọi tên họ, thăm hỏi, làm cho họ cười. Với Jim ai cũng vui.

– Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?

– Khi nào cha và sơ được người ta đến thăm mỗi ngày có vui không?

– Vui chứ! Nhưng có thấy ai thăm Jim đâu?
– Lúc mới vào, tôi có xin hai chiếc ghế, một dành riêng cho cha và sơ, một cho khách quí của tôi, thấy không?

– Khách của ông là ai?

– Là Chúa Giêsu. Trước kia tôi đến thăm Ngài ban trưa, nay đi hết nổi, cứ 12 giờ trưa Ngài đến thăm tôi.
– Ngài nói gì với Jim?
– Ngài bảo: Jim, có Giêsu đây!…
Trước lúc Jim chết, người ta thấy Jim đưa tay chỉ chiếc ghế như thể muốn mời ai ngồi, Jim mỉm cười, nhắm mắt ra đi.

Những lúc tôi không còn sức để đọc nổi dù một kinh, tôi lặp đi lặp lại: “Giêsu, có con đây”, tôi cảm thấy như Chúa Giêsu trả lời: “Thuận ơi, có Giêsu đây!” Tôi vui vẻ và bình an.

Fx Nguyễn Văn Thuận

Chia sẽ bài viết này trên:

Truyền thông Công Giáo với Facebook

Truyền thông Công Giáo với Facebook

Truyền thông về đạo ở Việt Nam cơ bản vẫn là những Website chính thống của Giáo hội Công Giáo, nhưng sức mạnh loan truyền rộng rãi của nó lại nhờ mạng xã hội – Facebook (Fb). Thường mỗi Giáo phận, dòng tu, tu hội đều có Website riêng (27 Giáo phận, hơn 300 dòng tu), là những trang truyền thông chính thức trong Giáo hội (GH). Mỗi trang đều có Ban Truyền Thông mang tính chuyên hoặc bán chuyên nghiệp, tùy theo nhu cầu và tầm mức của nó.

VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG

Giáo hội Công giáo VN có khoảng 7 triệu giáo dân (gần 8% dân số cả nước), trên 4.500 giáo xứ, với 307 dòng tu, tu đoàn, tu hội và hiệp hội, thuộc 27 Giáo phận (thống kê 2019). Mạng xã hội (Fb) thông dụng đến nỗi đa số mỗi giáo phận, dòng tu, giáo xứ, hội đoàn đều có Fanpage (trang tạo ra từ tài khoản Fb) để phổ biến thông tin, sự kiện, bài, ảnh, video…và những sinh hoạt trong địa bàn GH địa phương. Với hàng ngàn Fanpage, trang nhóm (Facebook group) và rất nhiều Fb của giáo dân thông tin về đạo, nhờ đó mà người giáo dân Việt Nam biết được mọi thông tin, từ GH địa phương cho đến GH hoàn vũ.

Khi cần kiểm chứng thông tin, người ta buộc phải dựa vào những trang chính thống của GH, và nếu thắc mắc cũng được giải đáp trên những trang đó, điển hình như Website của Dòng Tên (dongten.net), kênh YouTube (Truyền Thông Dòng Tên), Fanpage (Dòng Tên Việt Nam) luôn có hàng ngàn người theo dõi, cũng như Website của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM (hdgmvietnam.com), là trang chính thống của Giáo hội VN. Ngoài ra còn có những trang của Tổng Giáo Phận như TGP Sài Gòn (tgpsaigon.net), các Giáo phận, các dòng tu, hoặc những trang Web độc lập có uy tín trong Giáo hội. Do đó với 7 triệu tín hữu, người giáo dân VN có quá đủ thông tin, và việc truyền bá Tin Mừng thật dồi dào trên phương tiện truyền thông đại chúng, mà không phải Giáo hội địa phương nước nào cũng có được như vậy.

Do Fb là mạng xã hội nên mọi cá nhân đều có thể lập cho mình một tài khoản riêng để đăng (post) những thông tin mà mình muốn, nó được ví như cái chợ tự do, ai cũng có thể mang hàng của mình ra để trưng bày, nên điểm yếu của Fb chính là có rất nhiều “món hàng độc hại” được ngụy trang mà người khác không biết, thật giả lẫn lộn. Nhất là đối với người VN, đa số không biết vi tính (computer), chỉ dùng điện thoại thông minh, nên việc đối chiếu và kiểm chứng thông tin rất khó, nhiều khi không thể được. Hơn nữa, người VN cảm tính nên dễ tin vào những gì mang chất cảm xúc, hiện tượng mới lạ, dễ thần thánh hóa những quy luật tự nhiên, gán những thuộc tính của con người cho Thiên Chúa. Vì vậy họ dễ tin vào những mạc khải đồng bóng, hoang tưởng, nên thường bị sai lạc nếu không biết tin tưởng và dựa vào GH.

Mặt trái của Fb có những nguy hại, do nó tiện lợi và có sức mạnh trên đại chúng, nên có một số giáo dân và một số người ngoài tôn giáo lợi dụng phương tiện này để xuyên tạc hoặc chống đối GH. Họ phổ biến những thông tin giả (Fake news), sứ điệp giả, video clip ngụy tạo, giải nghĩa những văn bản trong đạo sai lạc, những mạc khải hoang tưởng… Họ thổi phồng hoặc phóng rọi những khiếm khuyết trong GH, họ miệt thị và phê phán GH nặng nề, kết án cực đoan. Nói chung những người này luôn nghi ngờ, những canh tân trong GH đều bị họ phê phán, chống đối, bất tuân, ngay cả HĐGM, Giáo hoàng, cơ cấu GH họ cũng không tin và cho rằng các ngài sai lầm hoặc bị ma quỷ lừa bịp. Những điều này xảy ra khá phổ biến trên Fb những năm gần đây, thường họ tập trung thành nhóm ngầm hoặc bán công khai. Như mới đây (hot), Huynh đoàn Thánh Phêrô do linh mục Laurent Demets làm tuyên úy, đã làm giả“Sắc lệnh thành lập Cộng đoàn Huynh đoàn Thánh Phêrô tại Tổng giáo phận Sài Gòn” có chữ ký và đóng dấu đầy đủ, và sau đó còn có văn bản lên tiếng bất tuân Tòa TGM, chỉ tuân theo Đức nguyên Giáo hoàng Benedict XVI mà thôi.

Dòng thời gian trên Fb cũng không thiếu những bài viết hoặc video sai lạc về tâm linh, nhiều khi do chính những người đạo đức đưa lên, như “sách sự thât” từ Sứ Điệp Từ Trời, bí mật thứ 3 Fatima giả, di chúc của thánh GH Gioan Phaolo II, những đặc sủng mới lạ, những “phép lạ và tiên tri” qua hiện tượng khác thường… Họ trích Kinh Thánh, nhặt một số câu tâm đắc, tách ra để phê phán cơ cấu GH, phê phán những khuyết điểm hoặc sa ngã của một số chủ chăn, và nghi ngờ tất cả đều như vậy. Lại có những người do muốn “nên thánh tốc hành” nên bắt chước lối tu hành của vị thánh nào đó trong lịch sử để noi theo một cách cực đoan, xem như mình được ơn đặc sủng, cảm thấy mình có bổn phận phải rao truyền đường lối của ơn soi sáng cho mọi người, và dùng Fb như cách “truyền giáo” hữu hiệu nhất. Từ đó họ thoát ly khỏi lối sống của bậc giáo dân, và chinh phục những người khác lập thành một nhóm để sinh hoạt tâm linh theo linh đạo mới.

Nếu tìm hiểu kỹ sẽ thấy đa số những “trào lưu mạc khải” và “linh đạo” của nhiều nhóm mới đều mang nội dung tiên tri về sự dữ của thời đại và tinh thần của “Sứ Điệp Từ Trời”, họ luôn nghi ngờ và phê phán GH, cho mình là chân chính, ai không tin và ủng hộ là sai lầm. Có lẽ đây là sự biến tướng của nó.

Không ai có thể bơi ngược dòng sông, thời của “thế giới phẳng”, dù muốn hay không cũng phải hội nhập với thế giới, thế giới của internet, mà hình thức phổ biến nhất hiện nay là mỗi ngưới lập cho mình một tài khoản Fb. Nhưng nó lại như con dao hai lưỡi, phục vụ hay đầu độc chính mình, điều mà mỗi người cần học hỏi, suy nghĩ và cân nhắc khi sử dụng mạng nói chung, Fb nói riêng. Thiên Chúa đã cho con người có phương tiện vượt trên mọi thời đại, con người sử dụng có đúng đắn và sinh ơn ích hay không là tùy ở mỗi cá nhân, nhưng trước hết cần học hỏi để biết và phát huy những mặt tích cực của nó.

MẶT TÍCH CỰC CỦA FACEBOOK

Facebook (Fb) là mạng xã hội thịnh hành nhất ở Việt Nam, nó có sức sống lan tỏa mạnh mẽ và là món ăn tinh thần không thể thiếu với cộng đồng xã hội, nhất là đối với lớp trẻ. Theo gso.gov.vn, tính đến tháng 06/2020, tại Việt Nam đã có hơn 69 triệu tài khoản Facebook, chiếm 2/3 dân số.

Fb như chiếc cầu nối để mọi người cùng trao đổi, chia sẻ, kết nối mọi thông tin trong đời sống thường ngày. Nó rất tiện lợi cho các thành viên kết bạn, liên lạc riêng tư (Private) qua thư thoại (Messenger), hoặc công khai (Public) với mọi người, trong đó tìm thấy một số bạn chung sở thích, chung suy nghĩ, nó là tường (wall) để tỏ bày, chia sẻ kinh nghiệm, những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống, góp phần phong phú cho cuộc đời đỡ cô đơn và buồn tẻ, hơn nữa còn là nơi học hỏi được nhiều điều bổ ích, nhiều thông tin thú vị, kiến thức phổ thông phong phú và đa dạng.

Nhiều người, nhiều nhóm trong tổ chức xã hội cũng như tôn giáo sử dụng Fb hoặc trang nhóm (Fanpage) làm phương tiện đắc lực trong việc truyền thông, đăng bài (post), chia sẻ (share) những thông tin (news), câu chuyện (story), trạng thái (Status), thông điệp (Message), sự kiện (Event), đăng ảnh-video (up), gắn thẻ (Tag) … mà bạn bè hoặc nhiều người quan tâm, tạo được thành quả tốt lành cho xã hội và tôn giáo. Bởi vậy nó là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng hiệu quả (lợi hại) nhất trong xã hội.

Ngày nay nhờ mạng xã hội, mỗi cá nhân hoặc một nhóm đều có thể thiết lập cho mình một trang riêng (Nick, Fanpage), giống như một trang báo nhỏ thật dễ dàng mà không tốn kém gì cả. Nhưng mỗi bạn trẻ nên “đầu tư’ chất xám để thể hiện nội dung trang của mình được giá trị, hữu ích và phong phú, vì nó không chỉ liên đới với những thành viên đã kết bạn, mà trang của mình còn lan rộng đến nhiều người khác. Ngoài những người đã sành sỏi, có những người mới làm quen hoặc chưa biết rõ “luật chơi” mạng xã hội này, họ tự tìm tòi hoặc nhờ người quen lập cho mình một trang Fb, đặc biệt những người lớn tuổi cũng được con cháu lập cho cái tài khoản để làm quen với mạng để hội nhập cho cuộc đời đỡ tẻ nhạt.

Khi vào trang Fb của ai, người ta có thể nhận ra giá trị, trình độ, tính khí, nhân cách, tâm tư, sở thích, khuynh hướng, mục đích… hay những lệch lạc trong nhận thức, hoặc biểu cảm ẩn chứa những trạng thái tâm thần (tự tôn, tự ti, ảo tưởng, khoe mẽ, bất mãn, uẩn ức, ham hố, tham vọng…) nơi người đó. Nó được thể hiện rõ trên Dòng Thời Gian (Timeline) Fb của người đó.

Thông thường “dòng thời gian” đăng (post) bài, ảnh, video mang tính thời sự (Curent…) hay kỷ niệm (Memories), hoặc ảnh minh họa (illustration) ngắn gọn, vì giao diện (Interface) và mục đích của Fb chỉ cho phép hình thức như vậy, chứ không như một Website. Chỉ những người quen đọc sách và ham tìm hiểu mới ưa chuộng đọc những bài dài, nó hợp với người lớn tuổi hơn là với người trẻ.

Còn lỗi thường thấy trên “dòng thời gian” là trích đăng bài hoặc video clip không ghi nguồn, không chú thích hoặc giới thiệu không gian và thời gian (Where, When…), hoặc không ghi bút danh của tác giả, khiến người xem dễ thắc mắc, khó kiểm chứng, sinh hiểu lầm là “đạo văn, đạo thơ”, vì nếu không ghi tên tác giả tất nhiên phải hiểu chính tác giả là người đăng. Về ngôn ngữ tiếng Việt cần giữ cho trong sáng, chữ có dấu đầy đủ, vì tiếng Việt không dấu trông rất dị hợm, mang tính cẩu thả, người khác ngại đọc và còn đánh giá những điều không tốt. Hơn nữa bây giờ tràn lan thông tin giả (Fake news) mà qua điện thoại rất khó hoặc không thể đối chiếu và kiểm chứng. Như có nhiều trang Web đăng tin bài, hình ảnh, video thổi phồng, lèo lái, xuyên tạc, khiến thông tin bị nhũng nhiễu như mớ hổ lốn, không biết đâu là thật, đâu là giả.

Một trang Fb đầy đủ trước tiên cần phải có ảnh đại diện “Avatar”, ảnh bìa (cover photo), giới thiệu bản thân (Profile). Tuy nó linh động và tế nhị, nhưng cần phải đúng đắn để người muốn kết bạn hiểu rõ, một khi nó càng rõ ràng và đầy đủ thì càng đáng tin tưởng. Người được mời kết bạn khó chấp nhận (confirm) với tài khoản thiếu những phần này, vì họ có cảm tưởng như kết bạn với người trong bóng tối, hoặc như với bóng ma cuộc đời. Khi giấu giếm thì tự bản thân đã có vấn đề, dù chủ quan hay khách quan, nếu không có lý do chính đáng.

Ngoài ra còn có nút “thích” (like), bình luận (comment), trả lời (Reply), chia sẻ (Share) rất tiện cho các bạn tương tác bày tỏ. Đặc biệt là nút “like”, nhiều bạn như vô cảm, không bao giờ sử dụng, khiến người đăng có cảm tưởng rằng bạn đó ích kỷ, đôi khi bị hiểu lầm là cao ngạo. Nút “like” biểu hiện tình cảm của sự tương tác chứ chưa hẳn là cái giá trị thực của nội dung, mà bất cứ ai cũng muốn có sự tương tác hoặc đồng cảm nào đó, tất nhiên có những trường hợp ngoại lệ. Như ai cũng biết, mỗi tài khoản có quyền và hoàn toàn chịu trách nhiệm trên trang của họ, nên người khác cần tôn trọng “mảnh đất canh tác” đó, không nên tự tiện đăng (Post) hoặc gắn thẻ (Tag) trên trang của họ, nếu không sẽ trở thành người không biết tôn trọng vì đã xâm phạm vào chủ quyền (Admin) của trang người khác, trừ phi họ cho phép hoặc đã được hiểu ngầm. Những điều này ít người dám nói ra, nhưng chắc chắn họ không hài lòng chút nào.

Về mặt tích cực và sự đúng đắn khi chơi Fb như vậy, nhưng thực ra nhiều người còn mày mò, vô tình hoặc chưa biết “luật chơi”, vẫn chưa ý thức đầy đủ hoặc vô tâm không chú trọng đến nó, đôi khi có những suy nghĩ cá nhân. Thiết nghĩ, những người đã am hiểu cũng nên suy nghĩ thông thoáng, không nên chấp nhất và cứng nhắc với người khác, cần chút cảm thông trong tinh thần xây dựng trên lãnh vực này, để mọi người có cơ hội tham gia vào cộng đồng mạng xã hội, góp phần làm cho xã hội tiến bộ, tôn giáo triển nở.

Mong rằng mặt tích cực của Facebook được phát huy, đẩy lùi mặt tiêu cực của nó như một “hội chứng tâm thần” làm suy nhược tinh thần con người và xã hội. Đặc biệt là để loan báo Tin Mừng, phổ biến truyền thống tâm linh tốt lành trong GH, yêu thương và phục vụ con người, bênh vực, hiệp nhất và yêu mến GH trong Đức Kitô.

Hàn Cư Sĩ

(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

Chia sẽ bài viết này trên:

Thách thức cấp bách trước mắt chúng ta

Thách thức cấp bách trước mắt chúng ta

Đọc

Laudato Si’, Dẫn Nhập: “Lời kêu gọi của tôi”

Cuối phần dẫn nhập, Đức thánh cha Phanxicô đã đưa ra lời kêu gọi của ngài khi ngài mô tả “thách thức cấp bách” trước mắt chúng ta. Ngài lạc quan cho rằng con người sẽ làm điều đúng đắn khi ngài nhắc đến thách thức này “bao gồm mối bận tâm đưa toàn thể gia đình nhân loại gắn kết với nhau để tìm kiếm sự phát triển bền vững và toàn vẹn, để chúng ta biết rằng mọi vật đều có thể thay đổi.” Thêm nữa, chúng ta không đơn độc: “Đấng Tạo Hóa không bỏ rơi chúng ta; Ngài không bao giờ từ bỏ kế hoạch yêu thương của ngài hay hối tiếc vì đã dựng nên chúng ta. Nhân loại vẫn có khả năng cùng nhau làm việc để xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta.” Sau đó Đức thánh cha đánh giá cao tất cả những ai “tìm kiếm không mệt mỏi cách xử lý các hậu quả bi đát gây ra do sự tàn phá môi trường đang ảnh hưởng đến cuộc sống của những người nghèo nhất thế giới.” Sau cùng, Đức thánh cha kết thúc phần này bằng tiếng kêu của người trẻ: “Người trẻ đòi hỏi sự thay đổi. Họ tự hỏi làm thế nào con người có thể hô hào xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn mà không nghĩ đến khủng hoảng môi trường và những đau khổ của người bị loại trừ.” (13)

Phản tỉnh

Thách thức xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn không phải là một nhiệm vụ cỏn con. Căn bản mà nói, đó là việc tạo ra một thế giới nơi các nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người được đáp ứng một cách bền vững. Suy ngẫm hình ảnh trên đây, vốn là một sự minh họa tính hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Bạn sẽ làm gì để thực hiện lời kêu gọi của Đức thánh cha Phanxicô? Bạn muốn đảm đương vai trò nào?

Hành động

Vì bất cứ ai cũng có những giải pháp khác nhau, nên bạn cũng góp phần mình vào thách thức cấp bách này. Không một ai có thể cứu tất cả các loài đang gặp nguy hiểm, chữa mọi thứ bệnh tật hay cung cấp nước sạch, năng lượng sạch và thực phẩm an toàn cho tất cả mọi người khắp mọi nơi. Biết ơn thay, “xây dựng một tương lai tươi đẹp hơn” là một nhiệm vụ lớn lao và đa dạng nơi đó bất cứ ai cũng có thể đóng một vai trò nhất định.

Nêu bạn là học sinh sinh viên, hãy suy xét sử dụng thời gian đang được thụ huấn để nghĩ về mục tiêu lớn hơn của bạn, và rồi tiến từng bước nhỏ theo hướng ấy. Nếu bạn đứng tuổi hơn, có thể đang là trụ cột gia đình hay có địa vị cao trong nghề nghiệp của mình, hãy suy xét đến những khác biệt giữa việc cá nhân tự hành động so với việc phân bổ công việc cho người khác. Có thể bạn sẽ thay đổi ngay bây giờ để góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn một chút, hoặc có thể bạn sẽ đầu tư hun đúc khả năng của các thế hệ tương lai nhằm tạo nên sự khác biệt. Có thể bạn sẽ tiến hành cả hai việc. Một điểm chính yếu từ Laudato Si’ là: Mọi hành động tốt đều đáng giá, dù nó nhỏ bé thế nào đi nữa.

Tác giả: Samantha Panchèvre
Chuyển ngữ: Minh Vương
Nguồn: https://www.ncronline.org/news/earthbeat/urgent-challenge-us

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Giê-su Ki-tô ĐƯỜNG THINH LẶNG

Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022
Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (9)

Đức Giê-su Ki-tô
ĐƯỜNG THINH LẶNG
(Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 9 năm 2020)

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Tám vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thánh Thiện. Tháng Chín này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thinh Lặng. Hành trình dương thế của Đức Giê-su cho chúng ta nhận thức rằng Người vừa là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, vừa là Lời Thiên Chúa và là Đường Thinh Lặng của Thiên Chúa giữa dòng đời. Sự thinh lặng mà chúng ta đề cập trong bài viết này chủ yếu không phải là sự thinh lặng môi miệng, mà là sự thinh lặng tâm hồn, đặc biệt, tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, tác giả Thánh Vịnh thốt lên: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,2). Quả thật, thế giới thụ tạo và mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng thinh lặng là một cách nói của Thiên Chúa hay ngôn ngữ của Người là ngôn ngữ thinh lặng. Từ buổi ban đầu Thiên Chúa sáng tạo cho đến hôm nay và tới thời cánh chung, Thiên Chúa nói bằng lời quá ít so với Thiên Chúa nói bằng sự thinh lặng. Như thế, sự thinh lặng của Thiên Chúa cũng có giá trị như Thiên Chúa nói bằng lời vậy. Do đó, con người không chỉ quan tâm đến cách truyền thông của Thiên Chúa qua những gì Thiên Chúa nói và làm trong dòng lịch sử, mà còn qua sự thinh lặng của Người nữa.

Nhiều lúc, con người cảm thấy Thiên Chúa thinh lặng như thể ‘ngoảnh mặt làm ngơ’ trước những thảm họa thiên nhiên, đặc biệt, trước đau khổ, bất công, bạo lực, chết chóc của con người. Thực ra, Thiên Chúa không thinh lặng như con người lầm tưởng. Người luôn tỉnh thức, bởi vì, Người ‘không bao giờ ngủ’, “Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành” (Tv 121,4). Người thinh lặng không có nghĩa Người không hiện diện, không hoạt động. Người luôn hiện diện, luôn hoạt động theo ‘thì’ của Người chứ không theo ‘thì’ của chúng ta. Con người thường mong muốn đường lối của Thiên Chúa giống đường lối của mình. Tuy nhiên, để hòa nhịp được với chương trình Thiên Chúa, đúng hơn, con người cần uốn nắn đường lối của mình theo đường lối của Thiên Chúa.

Hình ảnh Dân Do-thái rong ruổi bốn mươi năm trong sa mạc là bài học lớn cho chúng ta về sự thinh lặng, hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Đối với sự hiểu biết của con người, sa mạc là nơi không ai muốn đến, bởi vì, sa mạc thiếu nguồn nước, bóng cây, sức sống. Thế nhưng, từ sa mạc, Thiên Chúa đã biểu dương quyền năng và tình yêu đối với Dân Người. Sa mạc là nơi cằn cỗi, chết chóc, lại là nơi Thiên Chúa hiện diện và hoạt động cách mãnh liệt nhất. Điều đó cho chúng ta nhận thức rằng nơi con người bị yếu thế nhất, bất lực nhất, khổ đau nhất lại là nơi Thiên Chúa biểu dương tình yêu và quyền năng của Người. Nơi con người cho rằng ‘vắng bóng Thiên Chúa’ lại là nơi Thiên Chúa hiện diện để cứu giúp họ.

Nhờ tin tưởng vào Thiên Chúa và trung thành với sứ mệnh Người giao phó, trong cơn hoạn nạn, ngôn sứ Ê-li-a phải chạy trốn vua A-kháp và những người của vua. Ê-li-a đi bốn mươi đêm ngày lên núi Khô-rếp, núi của Thiên Chúa và nghỉ lại trong một cái hang. Nhiều biến cố ồn ào xảy ra trên núi, chẳng hạn như gió to, bão lớn, động đất, lửa cháy, nhưng Thiên Chúa không xuất hiện trong các biến cố đó. Tuy nhiên, khi có ‘tiếng gió hiu hiu’ hay ‘tiếng thì thào êm nhẹ’, Ê-li-a đã được ‘diện kiến’ Thiên Chúa và được trao sứ mệnh tiếp tục chương trình của Người. Điều này ngược với nhãn quan chung của các dân tộc Trung Đông thời đó cho rằng thần thánh hiện diện trong những biến cố ồn ào, náo động. Qua sự gặp gỡ với Thiên Chúa, Ê-li-a nhận ra rằng sứ mệnh của mình còn gặp nhiều bất trắc, đau khổ, nhưng luôn được sự nâng đỡ, phù trì của Người.

Trong Cựu Ước, tác giả sách Khôn Ngoan viết: “Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu, ví tựa người chiến sĩ can trường xông vào giữa miền đất bị tru diệt, mang theo bản án không thể hủy của Ngài như lưỡi gươm sắc bén” (Kn 18,14-15). Thiên Chúa thinh lặng, trong môi trường vĩnh cửu, Thiên Chúa chỉ có một Lời thôi, Lời đó chính là Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ Người và trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tạo dựng muôn vật muôn loài và khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã ‘nói Lời đó’ trong môi trường thế giới thụ tạo. Lời đã làm người và ở giữa chúng ta (Is 7,14; Ga 1,1-18).

Giáng Sinh là biến cố thinh lặng. Ngôi Lời đến thế gian trong đêm tối, trong thinh lặng. Người đã không xuất hiện ‘ồn ào’ ở Giê-ru-sa-lem hay nơi phố phường đông đúc, nhộn nhịp, vội vã nào đó của đất nước Do-thái, nhưng đã xuất hiện ‘kín tiếng’ ở Bê-lem quê mùa. Lời bài hát nổi tiếng nhất trong dịp Giáng Sinh diễn tả rất đúng về Biến Cố này: Đêm thinh lặng, đêm thánh thiện, tất cả an bình (silent night, holy night, all is calm). Sự thinh lặng của Biến Cố Giáng Sinh là sự thinh lặng linh thiêng, sự thinh lặng nhiệm mầu, sự thinh lặng ban ơn cứu độ. Sự thinh lặng này giúp cho những ai thao thức tìm Người có thể nghe được lời chỉ dẫn để đến gặp Người.

Chúng ta nhận thức rằng đặc tính chung của mọi người trong Gia Đình Na-da-rét là thinh lặng. Thánh Giu-se thinh lặng, Đức Ma-ri-a thinh lặng, Đức Giê-su thinh lặng. Sự thinh lặng của Thánh Gia diễn tả sự thinh lặng của Gia Đình Thiên Chúa. Kinh Thánh Tân Ước chỉ có ‘7 lời’ của Đức Ma-ri-a (Lc 1,34; Lc 1,38; Lc 1,40; Lc 1,46-55; Lc 2,48; Ga 2,3; Ga 2,5). Còn thánh Giu-se thì các tác giả Kinh Thánh Tân Ước không ghi lại lời nói trực tiếp nào của ngài. Đặc tính duy nhất diễn tả thánh Giu-se là ‘công chính’. Trong bối cảnh Kinh Thánh, người công chính cũng chính là người thánh thiện, người thinh lặng, người luôn kết hợp với Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người.

Đức Ma-ri-a không chỉ thinh lặng, mà còn ‘ghi nhớ những điều đó và suy đi nghĩ lại trong lòng’, nghĩa là trong môi trường thinh lặng (Lc 2,19.51). Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a chính là ‘sự thinh lặng cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa’. Đức Ma-ri-a đã học được ngôn ngữ Thiên Chúa và nói chuyện với Người bằng ngôn ngữ này. Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a là sự thinh lặng thánh thiện, bởi vì sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a đồng nghĩa với việc suy niệm Lời Chúa, yêu mến Thiên Chúa, phụng thờ Thiên Chúa, tin tưởng vào Thiên Chúa, hy vọng vào Thiên Chúa, phó thác đường đời cho Thiên Chúa và ngạc nhiên trước mặc khải của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.

Thánh Giu-se là người có đời sống thinh lặng đặc biệt. Khi được tin Đức Ma-ri-a, bạn đời của mình mang thai và chắc chắn rằng đó không phải là con ruột của mình, ngài có ý định lìa bỏ Đức Ma-ri-a cách kín đáo, cách thinh lặng. Tuy nhiên, trong giấc mơ, sứ thần truyền tin cho thánh Giu-se và trao ban sứ mệnh đón Đức Ma-ri-a về nhà mình. Không như những trường hợp khác, chẳng hạn, việc truyền tin cho Đức Ma-ri-a hay truyền tin cho Da-ca-ri-a đều diễn ra khi các ngài thức tỉnh, còn thánh Giu-se thì được truyền tin trong giấc mơ, trong thinh lặng. Tuy nhiên, thánh nhân đã trung tín thực thi thánh ý Thiên Chúa. Đức Giê-su được sinh ra và lớn lên với sự chăm sóc âm thầm và cần mẫn của thánh Giu-se. Như Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se luôn ở lại với Thiên Chúa, lắng nghe Lời Thiên Chúa, tin tưởng vào Lời Thiên Chúa, hiệp thông với Lời Thiên Chúa và thực thi Lời Thiên Chúa cách trung tín nhất. Đặc biệt, thánh nhân đắm chìm trong mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người và giữ vai trò quan trọng trong chương trình kỳ diệu này.

Người ta thường nói rằng ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’. Đức Giê-su là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, tuy nhiên, trong thân phận con người, Đức Giê-su cũng học hỏi được đời sống thinh lặng từ Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Cuộc đời trần thế của Đức Giê-su là cuộc đời thinh lặng. Ngoại trừ Biến Cố Giáng Sinh và sự việc xảy ra lúc Người mười hai tuổi ở Giê-ru-sa-lem, chúng ta không biết gì nữa về thời thơ ấu của Người cho đến khi Người bắt đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Trước các biến cố lớn trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su luôn dành thời gian thinh lặng và cầu nguyện. Người đã vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện và chịu ma quỉ cám dỗ bốn mươi đêm ngày. Sự kiện này gợi lên cho chúng ta biến cố Dân Do-thái rong ruổi trong sa mạc bốn mươi năm. Thay vì thinh lặng để đón nhận và thực thi thánh ý Thiên Chúa, họ đã nhiều lần to tiếng, than trách và phản nghịch chương trình Thiên Chúa. Trong khi đó, Đức Giê-su thinh lặng để gặp gỡ Thiên Chúa Cha, thinh lặng để nhận ra sứ mệnh của mình, thinh lặng để đón nhận sức mạnh chống trả ma quỉ, thinh lặng để cảm nhận sự đau khổ của thân phận con người, thinh lặng để nhận ra những bất cập gây nên bởi ‘sự ô nhiễm tiếng ồn’ trong xã hội loài người do tội lỗi gây nên.

Không nơi nào trong Tin Mừng cho thấy rằng Đức Giê-su dùng ‘quá nhiều lời’ khi giảng dạy dân chúng. Người dùng lời vừa đủ cho người nghe. Có những điều Người không giải thích dài dòng, nhưng dùng dụ ngôn để có thể giảm thiểu lời nói. Thánh Mác-cô trình thuật: “Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tùy theo mức họ có thể nghe. Người không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn” (Mc 4,33-34). Có những lúc sau khi giải thích, Đức Giê-su nói với những người lắng nghe: “Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12). Rõ ràng, trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su đề cao việc thinh lặng, lắng nghe và phân định của thính giả.

Khi Đức Giê-su chữa người vừa điếc vừa ngọng ở miền Thập Tỉnh, Người truyền cho những người chứng kiến không được kể lại chuyện đó (Mc 7,31-36). Tương tự như vậy, sau khi biến hình trên núi Ta-bo, từ trên núi xuống, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17,1-8). Câu hỏi đặt ra là tại sao Đức Giê-su lại nói với các môn đệ như vậy? Thưa, tại vì Đức Giê-su muốn con người hiểu đúng hơn về sứ mệnh của Người giữa lòng nhân thế. Người muốn tất cả đều thinh lặng cho đến khi toàn bộ sự thật về chương trình dương thế của Người được biểu lộ cách trọn vẹn trong khổ nạn, chịu chết và phục sinh của Người. Người cũng muốn các môn đệ hiểu rằng một lời nói mà không hiểu được ý nghĩa, một lời tuyên xưng đức tin mà không đi kèm hành động và lối sống phù hợp, thì đó chỉ là những tiếng kêu trống rỗng, không chuyển tải sự thật.

Thánh Mát-thêu trình thuật rằng khi Đức Giê-su đi về miền dân ngoại (địa hạt Tia và Xi-đôn, ngày nay ở phía Nam đất nước Li-băng), một người phụ nữ Ca-na-an xuất hiện và xin Đức Giê-su trừ quỉ cho con gái của bà. Tuy nhiên, ban đầu, Đức Giê-su thinh lặng, không trả lời sự khẩn cầu của người phụ nữ. Sau đó là cuộc đối thoại ngắn và Đức Giê-su đã tán dương bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15,28)Niềm tin và sự kiên nhẫn của bà đã được đền đáp bằng việc con bà được chữa khỏi. Như vậy, sự thinh lặng của Đức Giê-su đã đem lại hiệu quả lớn lao, đó là lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ và niềm tín thác của người phụ nữ được củng cố. Đọc Tân Ước, chúng ta có được nhận thức chung rằng, sau sự thinh lặng, Đức Giê-su thường mặc khải những điều lớn lao, kỳ diệu để cứu giúp mọi người.

Câu chuyện Đức Giê-su cho La-da-rô hồi sinh đáng để chúng ta quan tâm. Khi nghe tin La-da-rô, người được Đức Giê-su thương mến bị đau nặng, Người đã không trực tiếp đến thăm viếng ngay. Người đã thinh lặng trước cái chết của La-da-rô, còn La-da-rô thì thinh lặng trong mộ. Khi Người tới thì La-da-rô đã được chôn trong mộ bốn ngày, đã ‘nặng mùi’ rồi. Tuy nhiên, Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô hồi sinh trước sự ngỡ ngàng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a cũng như những người thân thuộc. Sự thinh lặng, sự chậm trễ của Đức Giê-su được xem như chuẩn bị cho mặc khải lớn lao là hồi sinh kẻ chết. Trong biến cố này có bốn điểm quan trọng đáng để chúng ta quan tâm: (1) tình yêu của Đức Giê-su, (2) quyền năng của Đức Giê-su, (3) căn tính của Đức Giê-su là ‘sự sống lại và là sự sống’ (Ga 11,25), và (4) niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu của mọi người được diễn tả và củng cố.

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, chúng ta thấy hai cảnh thinh lặng: (1) Đức Giê-su và (2) các môn đệ. Đức Giê-su ‘thinh lặng cầu nguyện’, còn các môn đệ thì ‘thinh lặng ngủ nghỉ’. Chúng ta có thể gọi hai hình thức thinh lặng này là ‘thinh lặng siêu nhiên’ (Đức Giê-su) và ‘thinh lặng tự nhiên’ (các môn đệ). Cũng trong vườn Ghết-sê-ma-ni, thinh lặng siêu nhiên đưa đến sự tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa Cha và kết hợp với Người. Đức Giê-su đã thưa lên với Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22,42). Quả thật, trong thân phận con người, Đức Giê-su cảm nhận được sự cô đơn, đau khổ tột bậc. Nhưng Người luôn tin tưởng và vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha và đã trở nên căn nguyên cứu độ tất cả mọi người.

Thánh Lu-ca trình thuật rằng trong cuộc khổ nạn, khi Đức Giê-su bị bắt, “một người tớ gái nhìn Phê-rô chòng chọc và nói: Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy! Ông liền chối: Tôi có biết ông ấy đâu, chị!” (Lc 22,56-57). Sau đó, một người khác nữa cũng quả quyết rằng Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô chối phăng. Khi người thứ ba khẳng định Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô vừa chối xong thì gà gáy. Đó là hệ quả của sự ‘thinh lặng tự nhiên’ từ phía các môn đệ trong vườn Ghết-sê-ma-ni. Sau đó, Đức Giê-su quay lại nhìn Phê-rô và Phê-rô nhớ lại lời Đức Giê-su: “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (Lc 22,61). Phê-rô đã ăn năn hối cải. Thánh Lu-ca không cho chúng ta biết ánh mắt của hai người sau có nhìn Phê-rô ‘chòng chọc’ như người tớ gái đầu tiên hay không, nhưng ánh mắt của những người đó đã làm cho trái tim của Phê-rô loạn nhịp và Phê-rô đã chối Thầy mình. Tuy nhiên, khi ánh mắt thinh lặng, ánh mắt nhân từ, ánh mắt tha thứ, ánh mắt trái tim của Đức Giê-su hướng về Phê-rô, vị tông đồ đã ăn năn hối cải. Từ đây, Phê-rô đã trung thành với ơn gọi và sứ mệnh của mình cho đến lúc bị treo ngược trên thập giá và tử đạo tại Rô-ma. Đây là hệ quả của sự ‘thinh lặng siêu nhiên’ xuất phát từ sự kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su.

Tam Nhật Vượt Qua luôn là thời gian đặc biệt, thời gian quan trọng nhất, thời gian đỉnh điểm, thời gian trung tâm diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Trước cái chết, Đức Giê-su cảm nhận được sự thinh lặng nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đức Giê-su đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,43). Với cái chết, Đức Giê-su đã xuống vực thẳm thinh lặng rùng rợn nhất của thân phận con người. Đức Giê-su đã tham dự vào sự thinh lặng đau thương của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Người thông phần với sự thinh lặng này để ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Như vậy, sự thinh lặng kỳ diệu nhất của Đức Giê-su trong hành trình nhân thế là sự thinh lặng trong nấm mộ. ‘Vị Thiên Chúa chết’, đó là sự kiện không những không thể tưởng tượng nổi đối với những người Hy-lạp hay Do-thái, mà còn không thể tưởng tượng nổi đối với tất cả mọi người trong các nền văn hóa từ cổ chí kim. Hôm nay, ‘Vị Thiên Chúa chết’ vẫn còn là nỗi ám ảnh cho biết bao người. Quả thực, nếu cuộc đời Đức Giê-su chỉ tới đó thì không còn gì để nói nữa. Tuy nhiên, Người đã tiêu diệt sự chết, Người đã sống lại. Sự chết mạnh, nhưng sự thinh lặng của Đức Giê-su trong sự chết còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng sự sống lại của Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tiếng nói cuối cùng của con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo không phải là tiếng nói của sự chết, nhưng là tiếng nói của Đấng Phục Sinh, Đấng Thinh Lặng, Đấng Hằng Sống.

Những gì Đức Giê-su nói và làm trong hành trình dương thế minh chứng rằng Người từ Thiên Chúa mà đến, Người là Thiên Chúa. Tuy nhiên, con người thường quan tâm đến nhân tính của Đức Giê-su hơn là thần tính của Người. Thần tính của Người hầu như ‘thinh lặng’, ẩn dấu, bởi vì trong mọi sự, Đức Giê-su đều qui hướng về Thiên Chúa Cha, chứ không phải bản thân mình. Giáo Hội sơ khai cần đến gần năm thế kỷ để có được định tín cách đầy đủ hơn về Đức Giê-su, Thiên Chúa thật và con người thật với Công Đồng Can-xê-đô-ni-a (Chalcedon, 451). Những khai triển và học hỏi về Đức Giê-su vẫn tiếp tục trong khi Đức Giê-su vẫn thinh lặng.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta ngạc nhiên trước những gì mắt chúng ta thấy được, tai chúng ta nghe được và lòng chúng ta cảm nghiệm được. Chúng ta ngạc nhiên trước những khám phá của con người về những qui luật trong vũ trụ. Chúng ta ngạc nhiên trước những gì mà thế giới tự nhiên ban tặng để con người sống xứng đáng với phẩm giá của mình. Tuy nhiên, những gì mắt chúng ta không thấy, trí và tâm chúng ta không thể đụng chạm hay cảm nghiệm được lại còn kỳ diệu hơn. Chẳng hạn, có những hình thức tồn tại khác trong thế giới thụ tạo này mà con người không thể nào vươn tới hay giải thích được trong điều kiện hiện tại, chẳng hạn như năng lượng tối (dark energy) hay vật chất tối (dark matter). Bản chất đích thực của ‘năng lượng tối là gì?’ hay ‘vật chất tối là gì?’, chưa ai có thể biết và diễn tả cách đầy đủ được. Điều mà con người biết được là: Nếu không có năng lượng tối và vật chất tối thì vũ trụ khả giác, vũ trụ vật chất, vũ trụ cấu tạo bằng những ‘viên gạch nguyên tử’ không thể tồn tại được. Quả thật, những gì ‘vô hình trong thế giới thụ tạo’ luôn dồi dào và kỳ diệu hơn những gì hữu hình mà con người có thể cân đong đo đếm hay giải thích. Nói cách khác, ‘những gì thinh lặng’ thì kỳ diệu hơn, mạnh mẽ hơn, siêu việt hơn ‘những gì ồn ào’. Trong thế giới thụ tạo, con người có thể cảm nghiệm được rằng ‘thinh lặng là đỉnh cao của âm thanh’. Trong thinh lặng của tâm hồn và không gian, con người có thể nghe được tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của vũ hoàn và tiếng nói của Đấng Sáng Tạo.

Trong lĩnh vực khoa học, nhiều trường hợp cho thấy những khám phá về các quy luật thiên nhiên, hoặc các phát minh kỳ diệu, lại là hệ quả của tiến trình thinh lặng. Câu chuyện Isaac Newton thấy trái táo rơi và đã khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là câu chuyện giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của thinh lặng. Chắc rằng Newton đã thinh lặng, đã tìm hiểu, đã ưu tư nhiều về sự thinh lặng của muôn vật muôn loài trong vũ trụ. Việc Newton khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là hiệu quả, là hoa trái của tiến trình lâu dài, chứ không chỉ là sản phẩm của ngạc nhiên, may rủi. Nếu Newton không thinh lặng, không chú tâm đủ thì không bao giờ có được hoa trái mỹ mãn như vậy. Nhìn chung, những khám phá, sáng chế từ các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau đều đến từ những người có khả năng đi vào thế giới thinh lặng. Như vậy, những người biết thinh lặng, biết chuẩn bị mới có thể đọc được những gì xảy đến cách bất ngờ.

Chúng ta không chỉ được mời gọi lắng nghe tiếng nói của người này, người kia mà còn được mời gọi lắng nghe ‘tiếng nói của thinh lặng’. Đặc điểm của các thánh trong lịch sử Giáo Hội là thực thi đời sống thinh lặng. Nói cách khác: Những người thánh thiện cũng là những người thinh lặng [sự thinh lặng của tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa] và ngược lại. Nhờ thinh lặng, các ngài có được kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa và diễn tả kinh nghiệm gặp gỡ đó bằng lời nói và hành động thánh thiện của mình. Đọc hạnh các thánh tử đạo, ai cũng ngạc nhiên về sự thinh lặng, sự bình an của các ngài khi phải đối diện với cái chết. Chúng ta cần ý thức rằng để có được sự thinh lặng, sự bình an như vậy, các ngài đã thực thi đời sống thinh lặng, đời sống bình an. Nói cách khác, các ngài đã chuẩn bị cho sự thinh lặng, sự bình an trước cái chết bằng cuộc đời thinh lặng, cuộc đời bình an gắn kết mật thiết với Đức Giê-su, Đường Thinh Lặng, Đường Bình An, được Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại.

Theo gương Đức Giê-su, các nhà thần bí (mystics) là những người có kinh nghiệm đặc biệt về môi trường thinh lặng. Họ nhận ra rằng đời sống thinh lặng là đời sống lý tưởng để họ gặp gỡ Thiên Chúa và thỉnh vấn ý Người. Các ngài đã trở nên mẫu gương sống động cho chúng ta về sự hoán cải và qui hướng về Thiên Chúa, chẳng hạn như thánh Gio-an Tẩy Giả, Tê-rê-xa A-vi-la, Gio-an Thánh Giá. Họ là những nhân chứng mạnh mẽ nhất cho sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, cũng như tình yêu của Người. Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta nói: “Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện, hoa trái của cầu nguyện là niềm tin, hoa trái của niềm tin là tình yêu, hoa trái của tình yêu là phục vụ, hoa trái của phục vụ là bình an.” Như vậy, thinh lặng là khởi đầu cho những hiệu quả tốt lành: Cầu nguyện, đức tin, tình yêu, phục vụ, bình an. Thực ra, theo một nghĩa nào đó thì ‘bình an’ cũng có nghĩa là ‘thinh lặng’ hay nói cách khác, môi trường bình an cũng là môi trường thinh lặng và ngược lại. Như vậy, ‘thinh lặng’ vừa là khởi đầu, vừa là kết thúc, vừa là khởi đầu mới.

Thinh lặng là điều kiện cần thiết để chúng ta nhận ra Thiên Chúa, nhận ra bản thân mình. Trong tác phẩm Tự Thuật, thánh Au-gút-ti-nô viết: ‘Thiên Chúa thân mật với tôi hơn tôi với chính mình’ (Deus est intimior intimo meo) hay ‘Thiên Chúa sâu thẳm trong tôi hơn tôi với chính mình và cao cả trong tôi hơn tôi với chính mình’ (Deus est interior intimo meo et superior summo meo). Chắc chắn rằng, nhờ thinh lặng, thánh nhân đã có được kinh nghiệm quí giá đó và ngài đã truyền lại cho tất cả mọi người. Sứ điệp mà ngài muốn gửi đến là: Khi con người càng gần Thiên Chúa bao nhiêu, thì càng gần chính mình bấy nhiêu và ngược lại.

Người ta kể lại rằng trong đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), quân lính Đức lùng bắt tất cả những người Do-thái và tống vào các trại tập trung. Ở đây, họ phải chịu nhiều hình thức cực hình cho đến chết. Có một cô gái trẻ Do-thái thoát được và trốn trong một cái hang. Khi người ta tìm thấy xác cô, họ cũng phát hiện trên bức tường của hang đó cô gái viết mấy câu: “Tôi tin có mặt trời, ngay cả khi nó không chiếu sáng. Tôi tin vào tình yêu, ngay cả khi tôi đơn độc. Tôi tin vào Thiên Chúa, ngay cả khi Người thinh lặng.” Với cô gái Do-thái này, khi con người không thấy mặt trời, không có nghĩa là mặt trời không hoạt động. Khi con người đơn độc, không có nghĩa là tình yêu không hiện hữu. Tương tự như thế, khi Thiên Chúa thinh lặng không có nghĩa là Người không hành động.

Thinh lặng, lời nói và hành động được xem là ba cột trụ căn bản trong đời sống con người. Trong đó, thinh lặng đóng vai trò quan trọng nhất. Thinh lặng chính là căn nguyên, là nền tảng và là môi trường khởi xuất lời nói và hành động. Nếu con người không có được sự thinh lặng đúng nghĩa, con người cũng không thể nói năng và hành động đúng được. Như vậy, vấn đề chính yếu mà chúng ta cần quan tâm là luôn tạo sự hòa hợp giữa thinh lặng, lời nói và hành động. Trong trường hợp không thể, ưu tiên phải là thinh lặng. Tuy nhiên, khi sự lên tiếng hay hành động của chúng ta đem lại bình an, sự thật, sự lành thì chúng ta cần phải thực thi. Còn người nào chỉ có nói mà không hành động tốt, thì họ không phải là người môn đệ thực thụ của Đức Giê-su (Mt 7,21-27). Thánh Phao-lô viết: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4,2).

Người Ni-giê-ri-a có câu ngạn ngữ: “Hãy lắng nghe và bạn sẽ nghe được bước chân của những con kiến.” Chúng ta học hành và luyện tập nhiều thứ để chuẩn bị cho cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta ít luyện tập cho mình khả năng thinh lặng. Ai không có khả năng thinh lặng, người đó cũng không có khả năng lắng nghe tiếng lòng mình, và cũng không thể lắng nghe tiếng Thiên Chúa, bởi vì tiếng Thiên Chúa đến với những tâm hồn thinh lặng. Hơn nữa, thinh lặng là điều kiện cần thiết giúp chúng ta phân biệt đâu là tiếng Thiên Chúa và đâu là tiếng của ác thần. Tiếng Thiên Chúa thường là tiếng mời gọi sống bác ái, hoán cải, hướng tới sự lành. Tiếng ma quỉ thường là tiếng xui khiến, rủ rê, chia rẽ, tạo nghi ngờ lẫn nhau, đặc biệt, nghi ngờ về tình yêu Thiên Chúa hay sự hiện diện và hoạt động của Người.

Năng lực thinh lặng diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của chúng ta không phải tự nhiên mà có, trái lại, chúng ta cần không ngừng vun đắp mỗi ngày. Chúng ta cần tạo cho mình khả năng thinh lặng hơn là khả năng ồn ào, khả năng lắng nghe hơn là khả năng gào thét, khả năng thông cảm hơn là khả năng chỉ trích, khả năng nhìn nhận những điều tốt nơi người khác hơn là khả năng ‘vạch lá tìm sâu’ nơi họ, khả năng giúp người khác biến đổi hơn là khả năng trù dập, khả năng cởi mở hơn là khả năng đóng kín, khả năng trút bỏ hơn là khả năng sở hữu. Để có được những khả năng đó, chúng ta không có con đường nào khác ngoài Đường Thinh Lặng của Đức Giê-su.

Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng họ ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian (Ga 15,18-19). Câu hỏi đặt ra là làm sao các môn đệ có thể không thuộc về thế gian được? Câu trả lời là các môn đệ ở giữa thế gian với muôn vàn tiếng động, tuy nhiên, các ngài có được sự thinh lặng hay sự bình an của Đức Giê-su, bình an mà thế gian không thể ban tặng (Ga 14,27). Tâm hồn các ngài được liên kết mật thiết với Đức Giê-su. Nhờ đó, các ngài vững tâm giữa muôn vàn bấp bênh, khốn khó và đau khổ của cuộc đời. Đồng thời, các ngài trở nên khí cụ hữu hiệu trong việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại.

Đường của Đức Giê-su là Đường Thinh Lặng, Đường giúp chúng ta gặp gỡ chính mình, gặp gỡ anh chị em chúng ta, gặp gỡ muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, đặc biệt, gặp gỡ Thiên Chúa. Để đi Đường đó, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong máng cỏ, chiêm ngắm Đức Giê-su trong lúc trốn sang Ai-cập, chiêm ngắm Đức Giê-su trong Gia Đình Na-da-rét. Chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong sa mạc bốn mươi đêm ngày, chiêm ngắm Đức Giê-su cúi xuống với những người bệnh tật, bị quỉ ám và muôn hình thức đau khổ khác, chiêm ngắm Đức Giê-su trên núi Ta-bo. Chúng ta được mời gọi để chiêm ngắm Đức Giê-su trên thập giá, chiêm ngắm Đức Giê-su chịu chết và chịu mai táng trong mộ, chiêm ngắm Đức Giê-su phục sinh vinh hiển. Đặc biệt, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su Thánh Thể, chiêm ngắm Đức Giê-su khi chia sẻ Lời Chúa, chiêm ngắm Đức Giê-su trong anh chị em mình.

Qua những gì được trình bày trên đây, chúng ta có thể xác quyết rằng Thiên Chúa là Đấng Thinh Lặng và Đức Giê-su đã đi Đường Thinh Lặng để đến với gia đình nhân loại. Cuộc đời Người trong hành trình trần thế đặt nền tảng trên sự thinh lặng. Là Thiên Chúa trong thân phận con người, Đức Giê-su trở nên mẫu gương cho chúng ta về đời sống thinh lặng, cầu nguyện, vâng phục, tin tưởng, lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Trong Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su luôn hiện diện với tất cả chúng ta. Giữa cảnh ồn ào, náo động của thế sự, Người luôn mời gọi tất cả chúng ta hãy đi Đường Thinh Lặng của Người để chúng ta có thể đạt được sự hòa hợp giữa các yếu tố trong đời sống cá nhân, hòa hợp với anh chị em, hòa hợp với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, và đặc biệt, hòa hợp với Thiên Chúa.

Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên
WHĐ (1.9.2020)

Chia sẽ bài viết này trên:

NGƯỜI TRẺ DẤN THÂN TRONG THẾ GIỚI KỸ THUẬT SỐ: NHỮNG THÁCH ĐỐ VÀ CƠ HỘI

NGƯỜI TRẺ DẤN THÂN TRONG THẾ GIỚI KỸ THUẬT SỐ:
NHỮNG THÁCH ĐỐ VÀ CƠ HỘI

WHĐ (3.9.2020) – Khi còn trẻ, bố tôi là một thủy thủ. Bố gặp mẹ nơi bến cảng của thành phố Roxas và họ đã cùng nhau xây dựng tình yêu và gia đình bên bờ biển. Không có cơ hội sống gần nhà, bố đã phải đưa ra một quyết định hết sức khó khăn khi thử vận may ở nước ngoài, như một công nhân hợp tác lao động xa gia đình. Vào những năm 1980, khi chưa có internet, laptop và điện thoại cầm tay, gia đình chúng tôi liên lạc với bố cách chậm chạp qua đường bưu điện. Có lần bố đã bảo tôi viết thư thường xuyên hơn vì cuộc sống xa nhà đầy cô đơn và khó khăn. Dù vậy, phải mất mấy tháng thư mới đến được tay bố.

Ngày nay, việc liên lạc trở nên dễ dàng hơn. Cảm ơn những thành quả của khoa học và công nghệ. Mọi lúc và mọi nơi, gia đình những công nhân hợp tác lao động đều có thể liên lạc với người thân, và nhờ đó làm vơi bớt nỗi cô đơn luôn đeo bám những người công nhân hợp tác lao động khi phải sống xa nhà để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người thân yêu.

I. Thế giới như ngôi làng kỹ thuật số toàn cầu

Nhờ khoa học và công nghệ, thế giới đã có những thay đổi lớn và đang từng bước chuyển mình với tốc độ chúng ta khó lòng đuổi kịp. Thế giới đã trở nên ngôi làng toàn cầu, được miêu tả bởi sự mở rộng và thu hẹp của không gian và thời gian. Theo Franz-Josef Eilers, trước đây người ta phải thu xếp thời gian để du lịch sang những quốc gia và lục địa khác, nhưng ngày nay việc du lịch chỉ còn là vài giờ, vì mỗi người đều có thể “hô biến” và thế giới bị thu hẹp lại nhờ du lịch qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Một người sống ở vùng quê, trong một thế giới bé nhỏ, vẫn cảm nghiệm được sự bao la của thế giới và có thể chạm đến những nơi xa xôi (mở rộng) trong vài phút. Họ trở thành công dân toàn cầu, những người cảm thấy thế giới trở nên nhỏ bé hơn (thu hẹp), vì có thể vượt qua các đường biên và ranh giới, mà không phải dời bước ra khỏi nơi cư trú.

Sự mở rộng và thu hẹp được miêu tả trong thế giới như ngôi làng toàn cầu đã có lần hiện lên trong tôi tại một giáo xứ vùng xa của Giáo phận Antique, nơi tôi được bổ nhiệm năm 2010. Trong lúc tôi đang lái xe về nhà xứ thì thấy một cậu bé đang ngồi thong thả trên lưng trâu từ ngoài đồng về. Hình ảnh bước đi chậm chạp của con trâu và cậu bé ngồi trên lưng biểu trưng cho cuộc sống vùng quê. Sự di chuyển chậm chạp trong một ngôi làng nhỏ như tách ra khỏi thế giới được bao bọc bởi không gian và thời gian. Tuy nhiên, cậu bé đang cầm trong tay chiếc điện thoại di động. Ngồi thư thái trên lưng trâu đang di chuyển chậm chạp, cậu bé du lịch tốc hành xuyên biên giới qua đường truyền tốc độ cao được phương tiện truyền thông kỹ thuật số cung cấp. Đứa trẻ trong khu làng nhỏ vùng quê đã có thể trải nghiệm sự bao la của thế giới, trở nên một con người vĩ đại đang du lịch và giao tiếp nhanh trong một thế giới vốn rộng lớn nhưng lại được thu hẹp trong ngôi làng toàn cầu, nơi có cư dân vừa gần vừa xa. Cậu bé đã trở thành công dân thời hậu hiện đại, của thế giới hậu hiện đại đã được số hóa.

Một kinh nghiệm cá nhân rõ ràng và thuyết phục khác mà tôi gặp thấy là thế giới đang dần được biến đổi bởi truyền thông kỹ thuật số đã xuất hiện nơi tôi trong chuyến thăm nhà ngắn gần đây. Tôi có đứa cháu tên là Trenz. Cháu bé được sinh ngày 23 tháng 3 năm 2016. Năm nay cậu bé được 3 tuổi và đã sống sót sau chứng bệnh ung thư. Lúc mới 8 tháng tuổi, cháu đã chiến đấu với căn bệnh ung thư và đã trải qua 12 liệu trình xạ trị. Cháu không biết chuyện gì đang xảy ra khi cứ phải đi thăm bệnh viện, được bác sĩ chẩn đoán, lấy máu và những thủ tục y tế khác. Cha mẹ cháu và toàn thể gia đình cháu đều hướng về Trenz, khi cháu trải qua những năm tháng bất ổn do bệnh tật và chữa trị.

Bây giờ Trenz được 3 tuổi và đã sống sót qua giai đoạn khó khăn nhất chống lại ung thư. Cuộc chiến đó vẫn còn tiếp diễn. Chúng tôi cầu nguyện hằng ngày để cháu được chữa lành, hoàn toàn thoát khỏi căn bệnh ung thư và sống hạnh phúc trong những năm sắp tới. Hiện tại, cháu là đứa bé năng động, tràn trề sức sống và là nguồn vui của gia đình.

Tuy nhiên, Trenz có một chuyện khác còn đáng nói hơn cuộc chiến chống ung thư. Cháu là đại diện còn rất trẻ cho một hiện tượng mới và một văn hóa mới đang rộ lên trong thế giới ngày nay. Khi thức dậy vào mỗi buổi sáng, điều cháu tìm đầu tiên không phải là mẹ, nhưng là chiếc điện thoại di động của mẹ, hay những chương trình TV, những bộ phim được yêu thích. Cháu thích phim Vua Sư Tử, cứ xem đi xem lại hàng trăm lần và nhớ hầu hết các cảnh trong phim. Cháu biết Simba, Mufasa, Scar, Timon, Pumba… Dù chưa nói rõ ràng nhưng cháu biết những đoạn hội thoại trong phim, cũng như hoạt động của các nhân vật. Cháu cũng biết Tom và Jerry. Chúng tôi có thể để Trenz ở nhà một mình mà không phải lo sợ gì cả, miễn là cháu có những người bạn được yêu thích, các nhân vật trong phim hoạt hình, những người bạn đáng tin cậy của cháu trong thế giới ảo do truyền thông kỹ thuật số đem lại.

Đồ chơi điện tử kỹ thuật số có lẽ là đồng minh tốt, giúp giảm áp lực trông nom trẻ con, để người lớn tự do làm việc nhà hay việc bổn phận khác. Thế nhưng, đồ chơi cũng âm thầm biến đổi tính cách của trẻ con và người trẻ. Trenz không phải là trường hợp duy nhất được chơi những đồ chơi do truyền thông kỹ thuật số mang lại. Truyền thông kỹ thuật số đã trở thành ngôi trường lưu động, cung cấp vô vàn dụng cụ giáo dục cho các bậc cha mẹ, em gái tôi là một thí dụ điển hình. Dù chưa chính thức đến trường nhưng Trenz đã học cách đọc, viết và làm toán. Tuy nhiên, Trenz không chỉ được trợ giúp giáo dục nhờ vào truyền thông kỹ thuật số, mà thái độ và tính tình của cháu cũng từng bước được định hình và thay đổi bởi những điều được thấm nhập từ truyền thông kỹ thuật số. Khi chơi, Trenz thể hiện tính cách của những người bạn ảo. Cháu bắt chước theo những người bạn trong phim hoạt hình. Cháu gầm lên giống như lúc Mufasa đang chiến đấu chống lại Scar trong phim Vua Sư Tử.

Trenz chỉ là một trong những ví dụ không thể đếm xuể của những cách thức mà truyền thông kỹ thuật số đang tạo nên và tái tạo những yếu tố nền tảng cho việc hình thành và biến đổi tính cách con người, đặc biệt là trẻ em và người trẻ thời nay. Bede Ukwuije nói rằng “cuộc cách mạng công nghệ mới đã làm biến đổi những cách thế hiện hữu. Một số nhà khoa học còn cho rằng chúng đang sáng tạo lại con người”. Trong khi cung cấp những cơ hội bình đẳng và vô hạn cho sự phát triển vượt bậc và tiến bộ của con người, truyền thông kỹ thuật số cũng đặt ra những đe dọa tiềm tàng không thể tưởng tượng trên cuộc sống con người. Trong khi nói về những thách đố do truyền thông kỹ thuật số đặt ra cho công tác đào tạo ứng viên linh mục và tu sĩ, Ukwuije cho rằng “trong khi những công nghệ mới như Internet, Facebook, Twitter, điện thoại thông minh, ipad… tạo ra những cơ hội giao tiếp tuyệt vời và liên kết con người hết sức có thể trong bối cảnh hậu hiện đại, chúng cũng đặt ra những thách đố chưa từng có cho công tác đào tạo linh mục, tu sĩ và công tác truyền giáo”.

Nếu đây là thách đố cho việc đào tạo người trẻ, thì thách đố này cũng được đặt ra cho những người được gọi là “công dân kỹ thuật số”.[1]

Theo Desmond Upton Patton, Robert Eschmann và Dirk Butker, giới giang hồ dùng cả súng và tài khoản Twitter. Truyền thông kỹ thuật số tạo không gian cho sự gia tăng đối tượng cực đoan và những trang mạng kích động hận thù. Người trẻ là một trong những mục tiêu chính của những nhóm thông thạo truyền thông kỹ thuật số, nhưng lại tán thành những ý thức hệ trái ngược với giá trị của Tin Mừng. Từ đó, người trẻ sử dụng truyền thông kỹ thuật số dễ bị tiêm nhiễm những thái độ tai hại từ các băng nhóm cổ vũ cho cực đoan và bạo lực.

II. Đáp lại những thách đố của truyền thông kỹ thuật số nơi người trẻ

Văn hóa là một dòng chảy liên tục. Nếu bạn không biết điều gì đang xảy ra thì bạn đứng ngoài dòng chảy đó. Nhận xét về khẳng định này, Daniella Zsusan-Jerome nói “những biến động, phấn khích và áp lực của văn hóa kỹ thuật số khiến cho nhiều giáo dân và mục tử cảm thấy bối rối và lo lắng. Truyền thông kỹ thuật số đang biến đổi thế giới và văn hóa đương đại. Hiện tượng này không còn có thể quay lại được. Những người trẻ hiện nay đều là công dân kỹ thuật số. Vì người trẻ thuộc về một gia đình, một cộng đoàn, giáo xứ và xã hội nên những cộng đoàn này cũng chia sẻ với thế giới của những công dân kỹ thuật số. Thách đố và cơ hội do truyền thông kỹ thuật số mang lại cho những công dân kỹ thuật số cũng tác động đến các cộng đoàn này. Cách chúng ta tiếp cận và đối diện với những thách đố và cơ hội đó đóng vai trò quyết định trong việc biến thách đố thành cơ hội, để đạt được những giá trị tích cực cho sự phát triển công nghệ và giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực trong cuộc sống của người trẻ và cộng đoàn nơi họ đang sống.

Hãy trở lại với câu chuyện về Trenz, cũng như những gì tôi đã khám phá nơi cậu bé kỹ thuật số này về những cách thức cuốn hút người trẻ vào thế giới kỹ thuật số mà chúng ta đang cùng đối diện với họ.

Em gái tôi sinh Trenz khi bước vào tuổi 40. Em trai và một người em gái khác của tôi đã có gia đình và ra ở riêng nên Trenz là đứa trẻ duy nhất trong nhà. Từ khi Trenz bình phục trở lại sau cơn bệnh, cháu ít khi có điều kiện chơi chung với các bạn khác. Truyền thông kỹ thuật số mang đến cho Trenz những người bạn qua chiếc điện thoại di động, ipad và tivi. Simba, Mafasa, Tom và Jerry, và những nhân vật khác trong phim hoạt hình trở thành những người bạn ảo của Trenz. Tuy nhiên, những gì cậu bé học được từ những người bạn ảo này thật đáng báo động cho tất cả chúng ta. Trenz bị tiêm nhiễm bởi những người bạn ảo như tôi đã đề cập trên đây. Chúng tôi phải lôi kéo Trenz lại thế nào, để những công nghệ đó không gây hại, nhưng giúp cậu bé phát triển nhân cách?

Mẹ tôi đã tập cho Trenz dần dần tránh xa tivi một ít ngày trong tuần. Thế nhưng, điện thoại di động và ipad vẫn là chướng ngại, vì người lớn xung quanh Trenz cũng là công dân kỹ thuật số. Trò chơi điện tử kỹ thuật số đã là một phần thiết yếu trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, chứ không chỉ có người trẻ. Thực ra, người lớn mới là thế hệ đầu tiên nghiện truyền thông kỹ thuật số và mạng xã hội.

Dù vậy, chuyến thăm nhà ngắn hạn đã dạy cho tôi bài học quan trọng về tình trạng cuốn hút trẻ em và người trẻ vào thế giới kỹ thuật số.

Thứ nhất, mối tương quan cá nhân chân thành là điều không thể thay thế được. Tình thương ấm áp của những người yêu thương trẻ em và người trẻ vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống của người trẻ. Điều này đúng cho tất cả mọi người, kể cả người lớn. Việc hiện diện với trẻ con và người trẻ khi các em bị cuốn vào truyền thông kỹ thuật số là điều thiết yếu. Sự hiện diện này không đơn thuần chỉ là có mặt, nhưng còn hiện diện với tình thương chân thành và chăm sóc họ. Yêu thương và chăm sóc chân thành nghĩa là chúng ta đi vào thế giới của các em, quan tâm đến những gì các em quan tâm khi các em khám phá mê cung vô tận của không gian ảo. Điều này có thể là một thách đố thực sự cho người lớn và những người bảo mẫu, vì nó đòi phải dành thời gian, sự can đảm, đào tạo và kỹ năng… Tuy nhiên, những kết quả tích cực sẽ càng có giá trị trước gánh nặng này.

Thứ hai, việc tạo không gian và thời gian cho trẻ con và người trẻ để xây dựng các mối tương quan với người khác cũng là điều thiết yếu. Khi chơi với những đứa trẻ khác, Trenz quên đi chiếc điện thoại di động và ipad. Cậu ấy thích có những người bạn thực. Cậu ấy tràn trề năng lượng khi dành thời gian và không gian cho những đứa trẻ khác. Cậu ấy chạy, nhảy, la hét, ôm ấp, chia thức ăn và đồ chơi với những đứa trẻ khác, chia sẻ cả điện thoại di động và những đoạn phim về Vua Sư Tử… Bằng chứng từ tâm trạng thoải mái này – như là món quà đơn sơ của sự sống hay trải nghiệm những giây phút có giá trị – cho thấy truyền thông kỹ thuật số có thể được đưa vào chương trình phát triển sức khỏe thể lý và tâm lý nơi trẻ em và người trẻ.

Thứ ba, chúng ta cần phải vượt lên trên những quảng cáo để sở hữu đồ chơi điện tử mà mọi người đang gặp phải. Chúng ta cần đi sâu hơn vào thực trạng hiện tại của thế giới, một thế giới đang bị cuốn vào nền văn hóa mới được tạo ra bởi ảnh hưởng của truyền thông kỹ thuật số. Chúng ta cần quan sát ảnh hưởng của truyền thông kỹ thuật số trong thế giới hiện tại dưới lăng kính đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, những món đồ chơi điện tử này có ý nghĩa gì? Thiên Chúa đang mặc khải điều gì cho chúng ta về chính Ngài, về kế hoạch cho thế giới và cho chúng ta, về công trình tạo dựng của Chúa nơi những tiến bộ do truyền thông kỹ thuật số mang lại? Cách nhìn vào thực tại như thế là hành vi phân định và suy ngẫm. Karl Rahner đã nói từ nhiều thập kỷ trước rằng “người Kitô hữu của tương lai sẽ là một nhà thần bí hoặc sẽ không hiện hữu nữa”. Tương lai mà Karl Rahner nói đến là thế giới hiện tại của chúng ta. Chúng ta cần quan sát và đi vào thực tại ngày nay bằng đôi mắt được mở ra với ân sủng của Thánh Thần. Theo McColman, thần bí là một linh đạo sống động, một cảm xúc thân mật của tâm hồn với Thiên Chúa, tập trung vào sự tận hưởng đầy huyền diệu và hân hoan về khả năng chữa lành và biến đổi đời sống của Chúa Thánh Thần.

Richard Rohr dùng từ thần bí theo nghĩa như sau:

“Hiểu biết bằng kinh nghiệm chứ không chỉ là qua sách vở hay điều luật… nhà thần bí làm mọi sự trong tính toàn thể, các mối tương quan, cấu trúc phổ quát và thần linh chứ không chỉ từng thành phần riêng biệt. Các nhà thần bí nhìn mọi sự trong tính toàn thể, do đó vượt lên những cách nhìn rời rạc của chúng ta trong từng thời điểm. Vì thế, các nhà thần bí gần gũi với thi nhân và nghệ sĩ hơn là những nhà tư tưởng suy nghĩ theo một đường thẳng”.

Lời mời gọi đến với thần bí – nghĩa là học cách nhìn thực tại cách chiêm nghiệm, là yêu cầu khẩn thiết cho người Kitô hữu ngày nay, khi chúng ta sống trong một thế giới được biến đổi bởi truyền thông kỹ thuật số. Người trẻ, những công dân kỹ thuật số, cần có đôi mắt chiêm ngắm của các nhà thần bí, hầu dẫn họ đi xuyên qua mê cung của không gian ảo và truyền thông kỹ thuật số.

III. Nhìn vào truyền thông kỹ thuật số và công dân kỹ thuật số dưới lăng kính đức tin

Nhìn từ lăng kính đức tin, bối cảnh của người trẻ (công dân kỹ thuật số) trong thế giới kỹ thuật số trở thành bối cảnh truyền giáo. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã mạnh dạn mời gọi các Kitô hữu trở nên công dân của thế giới kỹ thuật số. Ngài đề nghị rằng phương thức truyền giáo mới nên tham gia vào đại lộ kỹ thuật số, để đối thoại với con người thời nay và giúp họ gặp gỡ Đức Kitô. Tương tự, Isabelle Jonveaux lý luận rằng mục tiêu của việc truyền giáo là người trẻ, thế nên việc truyền giáo nên hội nhập với lối giao tiếp của người trẻ, nói bằng ngôn ngữ của người trẻ và sử dụng cách thức giao tiếp của họ. Thách đố và cơ hội được đặt ra bởi truyền thông kỹ thuật số cũng là thách đố và cơ hội truyền giáo.

Daniella Zsupan-Jerome cho rằng việc hòa quyện của văn hóa với truyền thông kỹ thuật số “ngày càng cần thiết cho mọi bối cảnh truyền thông thời nay, kể cả với Giáo Hội trong mọi cách thể hiện của mình”. Thuyết phục không thua gì Đức Giáo hoàng Phanxicô, [Zsupan-Jerome còn nói thêm] tính cách phù hợp này trở thành mệnh lệnh truyền giáo, thu hút người trẻ và công dân kỹ thuật số vào một bối cảnh mới, được tạo ra bởi truyền thông kỹ thuật số. Tuy nhiên, Zsupan-Jerome cũng quan sát thấy rằng mệnh lệnh khẩn thiết này không chỉ hấp dẫn, nhưng cũng có thể gây bối rối và lo lắng, vì cho rằng chúng ta đang ở trong sự biến đổi văn hóa đầy đau đớn, mà không chắc là mình đang phục vụ triều đại Thiên Chúa cách hữu hiệu. Chúng ta phải bắt đầu từ đâu? Làm thế nào để có thể đón nhận thách đố của truyền thông kỹ thuật số như một bối cảnh truyền giáo mới?

Tiếp theo những suy tư của Zsupan-Jerome, cô ấy gợi ý nhẹ nhàng rằng mặc dù có vẻ như đây là thách đố đầy lấn át và đe dọa của truyền thông kỹ thuật số, nhất là khi khẳng định rằng “những gì phù hợp với văn hóa cũng là điều hợp thời nhất”, truyền thông – giá trị cốt lõi của kỹ thuật số, “là một thực tại văn hóa xuất hiện xưa như chính tương giao con người”. Cô nói tiếp:

Xét từ quan điểm thần học, đây là khái niệm mời gọi chúng ta đi vào chính mầu nhiệm của Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, trong sự hiệp thông hỗ tương và trao ban, và là Đấng giao tiếp với nhân loại qua tiến trình mặc khải trong lịch sử. Mặc khải này đạt đến đỉnh điểm nơi Ngôi Lời nhập thể, Đấng loan truyền ơn cứu độ qua cuộc sống, cái chết và phục sinh của Người. Sau Chúa Giêsu, việc loan truyền Tin Mừng của Người được thực hiện nhờ vai trò dẫn dắt của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Sứ vụ truyền giáo này đặt nơi trái tim của Giáo Hội. Từ quan điểm này, truyền thông kỹ thuật số không gì khác hơn là chương cuối cùng trong câu chuyện dài về cách Giáo Hội đi ra để biểu lộ căn tính và loan truyền sứ vụ này.

Đoạn trích dẫn dài trên đây của Zsupan-Jerome có thể mang lại tầm nhìn có ý nghĩa về việc phải bắt đầu từ đâu và bằng cách nào để khám phá về những thách đố được đặt ra cho truyền thông kỹ thuật số. Cách chung, con người, kể cả người trẻ, sử dụng truyền thông kỹ thuật số để giao tiếp, để nối kết với người khác, để được biết đến, được đón nhận, được yêu thích, và cũng để tiếp cận và biết những gì đang xảy ra nơi cuộc sống của người khác. Nhìn thoáng qua, truyền thông kỹ thuật số có thể làm phát sinh chủ nghĩa cá nhân, khi người ta loại bỏ các mối tương quan cá nhân xung quanh công dân kỹ thuật số, giống như khi người trẻ đóng lại với thế giới xung quanh và dán mắt vào đồ chơi điện tử trong tay, những người trẻ này đói khát tương quan và sự liên kết với người khác. Khao khát được liên đới là yếu tố bẩm sinh nơi con người. Xét về khía cạnh thần học, chúng ta được sinh ra là để tương quan. Chúng ta là tương quan, được Thiên Chúa sáng tạo, Đấng là tương quan đích thực. Cái khó là nhìn nhận khát vọng vô hình này nơi sâu thẳm của tâm hồn nhưng được bày tỏ bằng những trao đổi nối kết của công dân kỹ thuật số, đang tiếp xúc với nhau trên đại lộ cao tốc kỹ thuật số.

IV. Kết luận

Như đã đề cập từ đầu, bài viết này không phải là một nghiên cứu thực nghiệm mang tính học thuật về những vấn nạn xoay quanh truyền thông kỹ thuật số và ảnh hưởng của nó, tốt hơn hoặc xấu hơn, trong đời sống của người trẻ, những công dân kỹ thuật số. Nói đúng hơn, đây là những suy nghĩ tản mạn của tác giả, được góp nhặt từ kinh nghiệm thực tế về cách thức truyền thông kỹ thuật số chạm đến cá nhân người trẻ, cũng như người lớn, bao gồm cả tác giả, những hiệu ứng và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của họ, cả tích cực lẫn tiêu cực. Đây chỉ là bàn luận sơ lược trên bề mặt của đại dương bao la, tương tự như những thách đố mà truyền thông kỹ thuật số tác động đến mọi người và từng người. Nếu có một cách gọi rõ ràng tập trung vào các vấn đề, đặc biệt là Giáo Hội, vốn được ủy thác để tiếp tục rao giảng Tin Mừng đã được Chúa Giêsu rao giảng và thi hành, thì chúng ta hãy chuẩn bị và thiết lập đội ngũ các thừa tác viên – giáo dân và có chức thánh – để đối diện với những thách đố trong việc đồng hành với người trẻ, khi họ đang du ngoạn trên đại lộ cao tốc của thế giới kỹ thuật số.

Tôi muốn kết thúc bài viết bằng cách tóm lược những đề nghị của Bede Ukwuije về những cách thức đào tạo, nhằm đáp lại những thách đố này. Ukwuije đưa ra cho chúng ta 5 đề nghị:

  1. Suy tư về việc sử dụng có đạo đức hệ thống truyền thông hiện đại

Không thể dừng lại việc sở hữu và sử dụng các phương tiện giao tiếp hiện đại. Vấn đề nan giải là làm thế nào để kiểm soát việc sử dụng các hệ thống truyền thông hiện đại. Kiểm soát cách sử dụng chỉ vì sợ hãi thì không ích lợi gì. Tốt hơn là nên suy nghĩ về việc sử dụng hợp lý các phương tiện đó, về những hậu quả của tự do, của việc đào tạo và trưởng thành nhân cách.

  1. Đào tạo chiều kích nội tâm

Trong bối cảnh hiện tại, việc đào tạo nên tập trung vào tầm quan trọng của nội tâm. Đức Giáo hoàng Phanxicô kêu gọi công cuộc Phúc-Âm-hóa đầy Thần Khí. Điều cần thiết là khả năng trau dồi không gian nội tâm, yếu tố có thể mang lại ý nghĩa Kitô giáo cho những cam kết và hoạt động. Nội tâm là không gian gặp gỡ với chính mình, với người khác và với môi trường. Căng thẳng quá mức do việc nghiện công nghệ mới có thể gây cản trở cho việc tự nhận thức này.

  1. Đức tin như là việc từ bỏ mình

Trong bối cảnh hậu hiện đại, nơi mà mỗi người đều ý thức rõ về sự tự do và tự trị cá nhân, công tác đào tạo nên đặt mục tiêu nơi việc từ bỏ mình. Hiện hữu của chúng ta là ân sủng, được Chúa ban cách nhưng không. Chúng ta chỉ có thể khám phá ra bản thể thực sự của mình khi từ bỏ ảo tưởng muốn tự tạo ra hiện tại và tương lai cho riêng mình. Khi người ta tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa, Đấng có thể làm được mọi sự, thì họ có thể làm được những việc lớn lao hơn những gì họ nghĩ dựa vào khả năng của mình.

  1. Đạo đức học về sự mỏng manh và dễ tổn thương

Trong bối cảnh hậu hiện đại, nơi mà con người bị cám dỗ bởi khuynh hướng tự làm chủ, việc đào tạo nên nhắm đến đạo đức học về sự mỏng manh và dễ bị tổn thương. Nhà truyền giáo chân chính nên nhận ra thân phận mỏng manh của mình. Khám phá về sự mỏng manh của chúng ta gắn liền với khám phá về ân sủng của Thiên Chúa nơi chúng ta. Lòng thương xót của Chúa đi trước ơn gọi của chúng ta.

  1. Đào tạo cộng đoàn chứng tá

Trong bối cảnh hậu hiện đại, nơi mà mỗi cá nhân tìm chỗ đứng cho bản thân, việc đào tạo nên nhắm đến cộng đoàn chứng tá. Đây là tiếng gọi của Thánh Thần để làm chứng cho sự liên đới nơi con người trong thế giới toàn cầu hóa, nơi chân lý được loan báo và được sống, nơi không có sự thống trị và nô dịch, nơi mà sự khác biệt được nhìn nhận và khẳng định mà không cần phải thỏa hiệp.

Tác giả: Serge C. Maniba
Nguồn: “Engaging the Youth in the Digital World: Challenges and Opportunities”; Institute for Consecrated Life in Asia, Quezon City, Philippines.
Chuyển ngữ: Lm. Gioan Phan Văn Định

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 118 (Tháng 5 & 6 năm 2020)

[1] Cụm từ “công dân kỹ thuật số” nói đến thế hệ những người trẻ được sinh ra và lớn lên trong thời đại phát triển kỹ thuật số.

Chia sẽ bài viết này trên:

Điều mà Chúa truyền dạy tha thiết lúc này

1. Tôi xin chia sẻ điều mà Chúa tha thiết truyền dạy tôi lúc này. Chúa truyền dạy không chỉ riêng tôi, mà cũng truyền dạy cho mọi người con Chúa. Chúa truyền dạy một cách tha thiết, một cách khẩn cấp, như một sứ điệp cứu rỗi.

2. Điều mà Chúa truyền dạy là: “Lúc này hơn bao giờ hết, các con hãy nhờ Đức Mẹ Maria, mà đổi mới bản thân, hầu tránh được đại họa diệt vong phần xác phần hồn”.

3. Vâng lời Chúa truyền dạy, tôi đến với Đức Mẹ, tôi ôm lấy Mẹ, tôi cảm nhận được sự an tâm, an ủi, an vui lạ lùng.

4. Tôi nhận thấy rất rõ: Tình thương Mẹ dành cho tôi là rất đậm đà đặc tính khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Mẹ là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Mẹ là đền thờ Chúa Th|nh Thần.

5. Với sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, Mẹ mong đợi hãy tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều trong tình hình hiện nay. Tình hình càng khó khăn phức tạp, thì sự làm chứng cho Chúa càng phải rất khôn ngoan.

6. Tôi hỏi Mẹ:“Thế nào là làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan?” Thì Mẹ cho tôi nhận thấy: Muốn làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan trong bất cứ tình hình nào, thì hãy để ý đến hai việc này:

7. Một là phải phục vụ con người một cách tận tình và khiêm nhường.

8. Hai là hãy coi sám hối, đổi mới bản thân là việc phải làm mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Đổi mới bản thân theo Lời Chúa, đó là điều cần xác định rõ.

Thí dụ: Lời Chúa là.
Bố thí phải kín đáo (Mt 6,1)
Cầu nguyện nơi kín đáo (Mt 6,5)
Ăn chay cách kín đáo (Mt 6,16)
Thực tế thường không được vậy, nên tôi cần s|m hối, đổi mới bản
th}n mỗi ng{y.

9. Mấy ngày nay, Đức Cha Bề trên của nhiều giáo phận đã ra thông báo khuyên các tín hữu của mình không nên tụ tập đông người, cho dù để tham dự Thánh lễ, vì lý do dịch Covid-19. Tôi cũng coi thông báo đó là khôn ngoan.
Qua sự kiện trên đây, Mẹ dạy tôi điều này: Khôn ngoan mà Chúa Thánh Thần muốn, là hãy biết linh hoạt trong cách sống đức tin. Điều gì là căn bản, thì phải giữ, điều gì là hình thức, thì có thể đổi, và cần đổi, nếu tình hình khuyến cáo. Chứ khôn ngoan không có nghĩa là luôn phải đúng thói quen.

10. Tôi được may mắn tiếp xúc với nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân sống trong các chế độ khắt khe với Công giáo. Họ cho thấy họ phải khôn ngoan thế nào, để có thể tồn tại một cách bình an, mà vẫn giữ được đức tin.

11. Riêng tôi, lúc này, nhờ có nhiều quen biết với các thành phần xã hội, thì khôn ngoan mà Mẹ dạy tôi thực hiện, là hãy chân thành nói về Chúa một cách công khai và riêng tư, tôi nói một cách tình nghĩa, và xem ra nhiều người đã gặp được Chúa: Tạ ơn Chúa.

12. Thế là tôi đã được Mẹ Maria dạy tôi về sự khôn ngoan, một đức tính rất cần cho người mục tử tại Việt Nam hôm nay.

13. Mẹ cũng đang còn dạy tôi về sự khôn ngoan, qua gương sáng của nhiều giám mục, tu sĩ và giáo dân.

14. Nhiều phong trào đạo đức mang sự khôn ngoan Phúc Âm đang hoạt động mạnh tại nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam. Thí dụ phong trào kinh Mân Côi.

15. Phần thưởng mà chúng tôi chờ, cũng chỉ là Chúa mà thôi, đó là sự khôn ngoan sau cùng.

Long Xuyên, ngày 11.8.2020
ĐGM GB. Bùi Tuần

Chia sẽ bài viết này trên:

Điều gì đã xảy ra với Mười Hai Vị Tông Đồ?

Điều gì đã xảy ra với Mười Hai Vị Tông Đồ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp. Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem. Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20). Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình. Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.

Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu ? Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không ?

Phêrô

Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó. Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia. Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma. Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma. Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê

Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp. Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X. Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)

Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo. Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2). Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này. Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela. Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan

Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo. Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su. Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9). Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê

Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp. Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên. Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô

Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô. Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau. Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.
Tôma

Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ. Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi”. Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)

Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài. Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải trước khi tử đạo ở Êthiopia. Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)

Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước. Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh. Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62. Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma. Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô

Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi. Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.” Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng. Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành

Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai cùng nhau giảng đạo như một cặp. Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm. Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia

Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi. Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó. Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.

________

Chú thích:

 (1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa. Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu. Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi). Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên. Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra. Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.

Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, ​​như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi. Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên. Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa. Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình. Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng. Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5. Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”. Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên. Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước. Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm! Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh. Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62. Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau. Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài. Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

Chia sẽ bài viết này trên:

Phục hồi sự vô tội

Phục hồi sự vô tội

“Tôi nói thật cho anh em biết, nếu không quay lại và trở thành như trẻ em, anh em sẽ không bao giờ được vào Nước Trời” (Mt 18,3).

Đặc điểm đầu tiên đánh động mọi người khi nhìn vào mắt một đứa trẻ là sự vô tội: vô tội vì thật đáng yêu khi không có khả năng nói dối hay đeo mặt nạ hoặc làm bộ là một nhân vật nào đó chứ không phải như sự thật của mình. Về điều này, trẻ em rất giống với thiên nhiên.

Chó là chó, hoa hồng là hoa hồng, ngôi sao là ngôi sao: vạn vật ra sao thì cứ như vậy.

Chỉ có người lớn mới có khả năng vừa là thế này vừa làm bộ thế khác.

1. Khi người lớn phạt trẻ con vì đã nói thật, vì đã cho biết cách thẳng thắn những gì nó nghĩ nó cảm   thấy,  người ta đã vô tình dạy trẻ con dấu diếm và thế là đã phá vỡ sự đơn sơ vô tội của nó.

Rồi chẳng bao lâu sau, nó sẽ lọt vào hàng ngũ của vô số người phải tuyệt vọng thốt lên: ‘Rốt cuộc tôi chẳng biết mình là ai cả’, vì đã che dấu sự thật của mình với người khác quá lâu, đến nỗi sau cùng chính mình cũng chẳng biết sự thật của mình.

Bạn còn giữ bao nhiêu phần trăm sự vô tội ấy của tuổi thơ? Hiện nay, có ai mà khi đứng trước mặt người ấy bạn hoàn toàn là mình, cởi mở và vô tội như một đứa trẻ?

2. Còn một cách khác tinh tế hơn sẽ làm mất sự vô tội của tuổi thơ, đó là khi đứa trẻ bị nhiễm tham vọng muốn trở thành một nhân vật nào đó.

Hãy xem hàng hàng lớp lớp những người đang ra sức trở thành một nhân vật nào đó, thay vì trở thành những gì thiên nhiên đã định cho mình như làm nhạc, nấu nướng, sửa máy, đóng bàn ghế, làm vườn, sáng chế. Người ta ra sức làm sao cho mình thành công, nổi tiếng, có quyền lực; trở thành một điều gì đó không làm cho mình được hoàn thành bản thân trong âm thầm lặng lẽ, mà trở thành một điều gì đó có thể giúp mình được vẻ vang, được bành trướng. Hãy nhìn những người đã đánh mất sự vô tội chỉ vì đã không chọn để trở thành chính mình, mà muốn mình được thăng quan tiến chức, được tỏ ra mình là một điều gì đó, dù chỉ là trong mắt nhìn.

Hãy nhìn vào đời sống thường ngày của mình. Bạn thấy có suy nghĩ nào, lời nói nào hay hành động nào của mình mà không mang dấu vết của lòng khao khát muốn trở thành một nhân vật nào đó, cho dù nhân vật ấy có thể chỉ là một nhà tu đức thành công hay một vị thánh vô danh tiểu tốt?

Trẻ em, giống như các loài vật vô tội, phó mình hoàn toàn cho tự nhiên để thiên nhiên đã định cho mình thế nào thì mình trở thành thế ấy.

Người lớn nào còn giữ được sự vô tội cũng đều buông mình cho thiên nhiên hay cho định mệnh đưa đẩy, không hề có ý định trở thành một ai đó hay gây ấn tượng trên người khác. Chỉ có điều khác là: người lớn làm như vậy không dựa vào bản năng tự nhiên, như trẻ con, mà dựa vào sự tỉnh ngộ liên tục về tất cả mọi sự đang diễn ra nơi mình và chung quanh mình. Nhờ sự tỉnh ngộ ấy họ tránh được các điều xấu và lớn lên theo như thiên nhiên đã trù định, chứ không theo kế hoạch của những cái tôi đầy tham vọng.

3. Còn một cách nữa người lớn làm mất sự vô tội của tuổi thơ: đó là dạy chúng phải bắt chước ai đó. Khi bắt một đứa trẻ trở thành bản sao của ai đó, là bạn đã dập tắt cái tia sáng độc đáo đã đi theo đứa trẻ khi nó chào đời. Khi bạn quyết định rở thành một ai đó, bất kể có vĩ đại và thánh thiện hay không, là bạn đã làm hỏng con người mình.

Thử nghĩ tới ánh lửa độc đáo trong lòng mình, đã bị chôn vùi dưới bao nhiêu lớp sợ hãi. Sợ mình sẽ bị chê cười hay bị khai trừ bởi đã dám sống trung thực với mình, không chịu máy móc khuôn theo cách ăn mặc, hành động, nghĩ suy của nhiều người. Bạn đã từng uốn mình theo người khác không chỉ trong hành vi và tư tưởng, mà cả trong những phản ứng, những cảm xúc, những thái độ và những giá trị. Bạn không dám bứt ra khỏi tình trạng hư hỏng ấy, không dám đòi lại sự vô tội nguyên thuỷ của mình. Đây chính là cái giá bạn phải trả để được xã hội và tổ chức của mình đón nhận. Nhưng như thế là bạn đã bước vào thế giới của những người luồn cúi, những người bị kiểm soát; là đã bị lưu đày ra khỏi vương quốc chỉ dành cho những ai vô tội như trẻ thơ.

4. Một cách nữa rất tinh vi có thể làm mất đi sự vô tội của bạn là ưa ganh đua và so sánh với người khác. Khi làm như thế, là bạn đã đánh đổi sự đơn sơ của mình để lấy tham vọng muốn như một ai đó hoặc hơn một ai đó.

Sở dĩ trẻ em có thể giữ được sự vô tội của mình và sống như bao thụ tạo khác trong hạnh phúc Nước Trời, ấy là vì nó không bị hút vào cái mà chúng ta gọi là thế gian – là nơi tăm tối của người lớn, trong đó người ta không dành thời gian để sống mà là để tìm lời khen và sự ngưỡng mộ, không dành thời gian để sống trung thực với mình cách vui vẻ mà là để so sánh và ganh đua tới mức điên cuồng, để chạy theo những điều trống rỗng mang tên là thành công và danh tiếng, dù đôi khi phải trả giá đắt tới mức đánh gục, làm nhục và tiêu diệt người thân cận mình.

5. Nếu cho mình nếm cảm thực sự những đau khổ của địa ngục trần gian ấy và sự trống  rỗng do địa ngục trần gian ấy mang tới, có thể bạn sẽ thấy lòng mình như muốn nổi loạn, lòng mình chán ngán tới mức bạn muốn phá tan mọi xích xiềng của lệ thuộc và lừa phỉnh đã từng quấn quanh tâm hồn bạn, để được bước vào vương quốc của sự vô tội – nơi đó có các trẻ thơ và các nhà thần bí.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách: Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên:

Sự thay đổi nhã nhặn

Sự thay đổi nhã nhặn

“Nước Trời phải chịu sự mạnh bạo, và những người tàn bạo đã dùng bạo lực mà giành lấy Nước Trời” (Mt 11, 12).

Thử so sánh vẻ đẹp đơn sơ và thanh thoát của một đoá hoa hồng đang nở với những căng thẳng và bất an trong cuộc đời bạn. Cánh hoa ấy có một điều mà bạn không có, là hoàn toàn bằng lòng với chính mình. Đoá hoa không bị cài đặt chương trình từ ban đầu như bạn đã bị – chương trình bất mãn với chính mình. Vì thế, đoá hoa không mảy may bị thúc bách phải trở nên một cái gì đó hơn sự thật của mình.

Đó là lí do giải thích tại sao đoá hoa có được một vẻ đẹp không giả tạo, không có những dằng co nội tâm mà trong nhân loại chúng ta chỉ thấy nơi các trẻ nhỏ và các nhà thần bí.

Hãy xem tình trạng buồn bã của bạn. Lúc nào bạn cũng bất mãn với chính mình, muốn thay đổi chính mình. Vì thế, người bạn lúc nào cũng đầy bạo lực và không chịu được mình, mà điều này chỉ thấy xuất hiện mỗi khi bạn cố gắng thay đổi chính mình. Nếu vậy, bất cứ sự thay đổi nào bạn thực hiện cũng có kèm theo sự dằng co nội tâm.

Bạn đau khổ khi thấy người khác làm được điều mà mình không làm được, hay trở thành cái mà mình chưa trở thành.

Bạn có cảm thấy ghen tương và tức tối hay không, nếu như bạn biết bằng lòng với chính mình và không bao giờ khao khát cái mà mình không phải là? Tiếc rằng bạn bị thôi thúc trở thành một người khác, có kiến thức nhiều hơn, có vóc dáng đẹp hơn, nổi tiếng và thành công hơn. Bạn muốn trở thành người có nhiều nhân đức hơn, yêu nhiều hơn, trầm tư hơn; bạn muốn tìm được Chúa, ngày càng xích lại gần hơn với lí tưởng của mình.

Hãy nhớ lại lịch sử đáng buồn của mình khi ra sức hoàn thiện bản thân; lịch sử ấy đã kết thúc, nếu không tan tành mây khói thì cũng chỉ thành công với biết bao đau khổ và chiến đấu.

Bây giờ hãy thử hình dung bạn buộc phải thôi không còn cố gắng thay đổi bản thân mình và bất mãn với bản thân mình nữa, lúc ấy bạn có sẵn sàng đi ngủ, miễn cưỡng chấp nhận mọi sự nơi mình và chung quanh mình không?

Nhưng còn một cách khác, không cần cù đẩy mình tiến lên mà cũng không miễn cưỡng chấp nhận bỏ cuộc. Đó là tự hiểu lấy bản thân mình. Đây là một điều không dễ dàng vì muốn hiểu sự thật của mình, bạn cần phải tự do hoàn toàn khỏi mọi ham muốn thay đổi sự thật của mình để trở thành một điều gì khác.

Bạn sẽ hiểu điều này rõ hơn, khi so sánh thái độ của nhà khoa học nghiên cứu các thói quen của loài kiến nhưng không hề mảy may muốn thay đổi các thói quen ấy với thái độ của một người huấn luyện chó tìm hiểu các thói quen của chó để bắt chúng học một điều gì đó.

Nếu điều bạn đang cố gắng làm không phải là tìm cách thay đổi bản thân mình, mà chỉ là quan sát bản thân mình, nghiên cứu từng phản ứng của mình đối với con người và sự vật, không phê phán hay kết án mà cũng chẳng muốn cải tạo bản thân, sự quan sát của bạn lúc ấy sẽ không trở nên thành kiến hay thiên vị mà là bao trùm lên tất cả, sẽ không cứng ngắc với những kết luận chắc nịch mà là cởi mở và luôn luôn mới mẻ.

Sau đó, bạn sẽ thấy có một điều hết sức kì diệu xảy ra nơi mình: bạn sẽ trở nên hết sức tỉnh táo, trong suốt và hoàn toàn thay đổi.

Lúc ấy, sự thay đổi sẽ xảy ra chăng? Phải. Nơi con người bạn và trong môi trường chung quanh bạn.

Nhưng sự thay đổi ấy có không phải là do sự khéo léo và ngược xuôi vất vả của bạn, lúc nào cũng tranh giành, cũng so sánh, cũng ép uổng, cũng lên lớp, cũng lèo lái một cách bất bao dung và đầy tham vọng, sinh ra bao căng thẳng, xung đột và đối kháng giữa bạn và thiên nhiên – một quá trình sẽ làm bạn kiệt sức và thất bại như khi người ta chạy xe mà cứ đạp thắng mãi.

Nhờ sự tỉnh ngộ sáng suốt và có sức biến đổi ấy, người ta dẹp sang một bên cái tôi lúc nào cũng đòi hoạch định, lúc nào cũng tìm mình, để trao cho thiên nhiên toàn quyền tạo ra sự thay đổi như thiên nhiên đã từng làm cho đoá hoa hồng: không gượng gạo, duyên dáng, quên mình, khoẻ khoắn, không vướng một sự xung đột nội tâm nào. Nếu thay đổi nào cũng bạo tàn thì đoá hoa hồng ấy cũng sẽ bạo tàn. Nhưng phẩm chất tuyệt vời của thiên nhiên không phát sinh từ sự bất bao dung và thù ghét bản thân mình.

Chính vì thế trong cơn mưa bão quét đi tất cả mọi sự không hề có sự giận dữ, cũng không hề có loài cá nào ăn con mình để tuân thủ các định luật môi trường lạ lùng, cũng không hề có các tế bào trong thân thể con người phá huỷ nhau vì một lợi ích nào đó cao hơn.

Nếu thiên nhiên có huỷ hoại điều gì thì đó không phải là do thiên nhiên tham vọng, tham lam hay đòi bành trướng bản thân mình, mà chỉ là vì tuân thủ một định luật huyền bí nào đó nhằm lợi ích cho toàn vũ trụ hơn là chỉ lo cho sự sống còn và lành mạnh của các thành phần riêng lẻ.

Đây là thứ mạnh bạo mà chúng ta gặp thấy nơi các nhà huyền bí: mạnh bạo là vì chống lại các ý kiến và cơ chế đã ăn sâu vào xã hội và văn hoá chúng ta và nhờ đó nhìn ra những tệ đoan mà các người cùng thời với các ngài có thể mù quáng không thấy.

Cũng chính sự mạnh bạo này đã khiến cho đoá hoa hồng vươn thẳng và đương đầu với các sức mạnh thù nghịch. Đó cũng là sự mạnh bạo mà đoá hoa hồng bắt chước nhà thần bí kia: là nhẹ nhàng hưởng ứng, sau khi đã mở hết các cánh hoa ra đón lấy ánh nắng mặt trời, và sống một cách thanh thoát, thật đáng yêu, không cần phải lo lắng tìm cách làm cho tuổi đời đã được an bài cho mình kéo dài thêm một phút. Đoá hoa ấy đã sống trong hạnh phúc và duyên dáng như các cánh chim trên trời và các đoá hoa ngoài đồng nội, không chút bất an và bất mãn, ghen tị và lo âu, tranh đua và giành giật, không như thế giới hôm nay, lúc nào cũng tìm cách nắm lấy phần kiểm soát và cưỡng ép, thay vì bằng lòng với sự tỉnh ngộ ấy, trao hết mọi gánh nặng cho Thiên Chúa bày tỏ quyền năng trong thiên nhiên.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách:Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên: