Đức Mẹ Maria

Đức Mẹ Lộ Đức và Thánh Nữ Bernadette

Đức Mẹ Lộ Đức và Thánh Nữ Bernadette

Lộ Đức là trung tâm hành hương quốc tế. Cách đây mấy năm, tôi có đi hành hương Đức Mẹ Lộ Đức. Từ Rôma qua hướng Tây Ban Nha, vượt đỉnh Pyrênê đến miền Nam nước Pháp. Lộ Đức nằm ở một vị trí khá hẻo lánh, thuộc một tỉnh nhỏ. Nơi đây, từng giờ từng phút, khách thập phương tấp nập đổ về để dâng lễ, cầu nguyện và xin ơn với Đức Mẹ.

Khi bước vào Vương Cung Thánh Đường Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi thấy bên phải, có phiến đá cẩm thạch ghi lời tuyên bố long trọng của Đức Giám Mục Laurence về những lần hiện ra của Đức Mẹ: “Chúng tôi tuyên bố rằng Đức Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous, ngày 11 tháng 02 năm 1858 và những ngày kế tiếp, tất cả là 18 lần, trong hang động Massabielle, gần thành Lộ Đức; rằng sự hiện ra này mang tất cả những tính cách của sự thật, và các giáo hữu đều đã tin là chắc chắn. Chúng tôi xin dâng cách khiêm nhượng sự phán đoán của chúng tôi cho Sự Phán Đoán của Đức Giáo Hoàng, Vị được giao trọng trách guồng lái Giáo Hội hoàn vũ “.

Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần tại Hang đá Lộ Đức, từ ngày 11 tháng 02 đến ngày 16 tháng 07 năm 1858.

Ngày 28 tháng 07 năm 1858, Đức Giám Mục địa phận Lộ Đức đã thiết lập Ủy Ban Điều Tra về những lần Đức Trinh Nữ Maria hiện ra tại hang đá Massabielle. Công việc điều tra kéo dài trong 4 năm.

Trang web: lourdes-france.com, cho biết công việc nghiên cứu điều tra tỉ mỉ và sự phân định sáng suốt, trong lời kinh nguyện. Sau 4 năm, ngày 18 tháng 01 năm 1862, Đức Giám Mục, nhân danh Giáo Hội, nhìn nhận những lần hiện ra là đích thực. Giáo Hội nhìn nhận chính thức những lần Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, dựa trên chứng từ xác quyết của cô Bernadette Soubirous.

Đức Thánh Cha Lêô XIII chấp thuận mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Thánh Cha Piô X cho phép toàn thể Giáo hội mừng lễ này vào ngày 11.2 hàng năm.

Chúng tôi dâng lễ tại Hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra. Cạnh bàn thờ dâng lễ là mạch nước chảy không ngừng từ trong Hang Đá. Ngày nay, mạch suối này được dẫn xuôi theo Nhà thờ tới chân tháp để khách hành hương tới lấy nước và uống nước suối này. Tôi uống liền mấy ly và đem về 5 lít nước để tặng cho bà con giáo dân.

Hành hương về Lộ Đức, tôi được hiểu biết thêm nhiều về lịch sử và sứ điệp Đức Mẹ nhắn gửi qua thánh nữ Bernadette.

Bernadette là một cô bé 14 tuổi, không biết đọc, không biết viết, con một gia đình nghèo ở Lộ Đức. Gia đình cô tạm trú tại một nơi trước kia dùng làm nhà giam.Nơi tồi tàn này, cả gia đình gồm ông bà thân sinh và bốn chị em Bernadette làm nơi nương thân. Đức Mẹ muốn chọn một cô bé nơi nghèo hèn để làm sứ giả của Mẹ.

Theo lời kể của Bernadette. Hôm đó là ngày thứ năm, 11.02.1858, được nghỉ học, Bernadette xin phép mẹ đi nhặt củi. Bình thường theo dọc bờ sông Gave, có rất nhiều cành cây khô. Nhưng suốt buổi sáng đó, dường như chị em của Bernadette không nhặt được bao nhiêu. Bernadette mới tiến đến một hang động gần đó mà dân làng quen gọi là Massabielle. Cô đang loay hoay nhặt củi, từ trong hang đá, một thiếu nữ diễm lệ xuất hiện và đứng trên một tảng đá, ánh sáng bao trùm cả hang Massabielle. Theo lời mô tả của cô, thì người thiếu nữ chỉ trạc độ 16, 17 tuổi. Bernadette tưởng mình như đang mơ. Cô bước thêm bước nữa. Người thiếu nữ diễm lệ chỉ mỉm cười. Trong cơn xúc động, Bernadette lấy tràng chuỗi từ trong túi áo ra và bắt đầu đọc kinh Kính Mừng. Khi Bernadette vừa lần xong chuỗi mân côi, người thiếu nữ làm hiệu cho cô tiến lại gần hơn. Bernadette say sưa ngắm nhìn và tiếp tục đọc kinh cho đến khi ánh sáng bao trùm người thiếu nữ nhạt dần và tắt hẳn.

Cô về nhà kể lại biến cố ấy, nhưng chẳng ai tin cô. Chính cha mẹ cô cũng không muốn cho cô trở lại hang đá nữa. Nhưng như có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó khiến cô vẫn trở lại hang đá ấy.

Sau lần này, cô còn được trông thấy “người thiếu nữ diễm lệ” hiện ra 17 lần nữa.

Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 18.02.1958, người thiếu nữ ấy mới bắt đầu nói với cô: “Con có vui lòng đến đây liên tiếp 15 ngày nữa không? Ta không hứa sẽ làm cho con được sung sướng ở đời này, nhưng là ở đời sau.”.

Trong 15 ngày tiếp đó, người thiếu nữ đã nhắn nhủ và truyền cho Bernadette nhiều điều. Cô kể : “Bà dặn tôi nhiều lần rằng: Hãy sám hối, hãy nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây, hãy đến uống và rửa ở suối này, phải cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn hối cải. Trong vòng 15 ngày ấy, Bà còn nói với tôi 3 điều và dặn tôi không được nói với ai. Tôi vẫn trung thành giữ kín. Sau ngày thứ 15, tôi hỏi Bà 3 lần liên tiếp: Bà là ai? Nhưng Bà chỉ mỉm cười. Tôi đánh bạo hỏi thêm lần thứ tư. Lúc ấy, Bà mới buông tay xuống, ngước mắt nhìn lên trời rồi vừa nói vừa chắp tay trước ngực: ‘QUE SOY ERA IMMACULADA COUNCEPTIOU’”. Đó là thổ âm của vùng Lộ Đức lúc bấy giờ, được dịch ra tiếng pháp là: ‘Je suis l’Immaculée Conception’, và dịch sang tiếng Việt Nam là: ‘Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội’.

Các bậc khôn ngoan chống đối, dân chúng xúc động, cảnh sát thẩm vấn Bernadette nhiều lần. Cô bình thản trả lời và không hề nao núng trước những lời đe dọa. May mắn là cô không bị vướng mắc vào những tiểu xảo của người thẩm vấn. Các nữ tu dạy học cũng tỏ ra bất bình, còn Bernadette vẫn luôn giữ được thái độ khiêm tốn lịch sự.

Ngày 25.2.1858, một đoàn người cảm kích theo cô sau khi cầu nguyện, Bernadette đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rồi quì xuống. Theo lệnh của “người thiếu nữ diễm lệ”, cô cúi xuống lấy tay cào đất. Một dòng nước vọt lên. Dòng nước đó đến nay cứ chảy mãi, cứ 24 tiếng đồng hồ là có khoảng 120.000 lít nước chảy ra.

Ông biện lý cho gọi Bernadette tới. Ông chế giễu, tranh luận và đe dọa cô nữa. Cuối cùng ông kết luận :

 – Cô hứa với tôi là sẽ không tới hang đá nữa chứ ?

Nhưng Bernadette bình tĩnh trả lời cách rõ ràng.

 – Thưa ông, cháu không hứa như vậy.

Cha sở tỏ ra nghi ngại, ngài cấm các linh mục không được tới hang. Khi Bernadette tới gặp ngài và thuật lại ““người thiếu nữ diễm lệ” nói : Ta muốn mọi người tổ chức rước kiệu tại đây”.

Cha sở liền quở trách và gằn từng tiếng :

– Con hãy nói với bà ấy rằng, đối với cha sở Lộ Đức, phải nói cho rõ rệt. Bà muốn những buổi rước kiệu và một nhà nguyện à ? Trước hết Bà phải cho biết Bà tên là gì và làm một phép lạ đã chứ.

Dòng nước vẫn chảy thành suối. Dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau tới, những kẻ hoài nghi phải chùn bước.

Đã có những phép lạ nhãn tiền :

– Một người thợ đẽo đá mù lòa đã thấy được ánh sáng.

– Một phụ nữ bại tay sáu năm nay bình phục.

– Một em bé hai tuổi bệnh hoạn đang hấp hối trước những cặp mắt thất vọng của cha mẹ. Họ nghèo lắm, bà hàng xóm đã dọn sẵn cho một một cái quách. Người cha thở dài : – Nó chết rồi.

Người mẹ chỗi dậy. Không nói một lời nào, bà ôm đứa trẻ chạy thẳng ra hang đá, dìm nó vào trong dòng nước giá lạnh. Dân chúng cho rằng bà khổ quá hóa điên. Sau khi tắm cho bé khoảng 15 phút, bà ẵm con về nhà. Sáng hôm sau, bé hết bệnh. Ba bác sĩ đã chứng thực chuyện lạ này.

Báo chí công kích dữ dội và cho rằng đó chỉ là ảo tưởng. Bernadette vẫn giản dị vui tươi tự nhiên. Hàng ngày cô trở lại hang đá.

Ngày 25.3, cô quì cầu nguyện và khuôn mặt bỗng rỡ nên rạng rỡ. Rồi cô quay lại nói với vài người có mặt : – Bà nói: Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội.

Vài phút sau, lời Đức Trinh Nữ được truyền từ miệng người này sang người khác. Đám đông cất cao lời cầu khẩn:

– Lạy Đức Mẹ Maria chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Đức Mẹ.

Ngày 8.12.1854, Ðức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trong Hiến Chế Ineffabilis Deus. Hơn ba năm sau, trong lần hiện ra ngày 25.3. 1858, Đức Mẹ tự xưng là: “Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.“.

Vào năm 1866, Bernadette được gửi vào dòng Nữ Tu Ðức Bà ở Nevers. Ở đây, sơ trở nên một phần tử của cộng đoàn, và bị sơ giám đốc đệ tử đối xử rất tệ hại. Sự bất nhẫn ấy chỉ chấm dứt khi họ khám phá rằng sơ Bernadette đang chịu đau khổ vì một căn bệnh bất trị. Sơ từ trần ở Nevers vào ngày 15.4.1879, khi mới 35 tuổi. Sơ Bernadette được phong chân phước năm 1925, và được Ðức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933. Lễ kính thánh nữ vào ngày 16.4 hàng năm.

Lộ Ðức đã trở nên trung tâm hành hương và chữa lành, nhất là đức tin. Ðối với những người có đức tin thì không có gì ngạc nhiên. Ðó là sứ vụ chữa lành của Chúa Giêsu được tiếp tục thể hiện qua sự can thiệp của mẹ Người.

Nhiều người đến Lộ Ðức và trở về với một đức tin được đổi mới, sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa trong các nhu cầu của tha nhân. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người nghi ngờ việc hiện ra ở Lộ Ðức. Ðể nói với họ, có lẽ tốt hơn là dùng những lời mở đầu của cuốn phim “Song of Bernadette”: “Với những ai tin vào Chúa thì không cần giải thích. Với những người không tin, thì chẳng sự giải thích nào đầy đủ.“.

Sứ điệp Đức Mẹ trao cho Bernadette có thể tóm lược trong ba lời mời gọi sau đây:

– Mời gọi cầu nguyện: Khi hiện ra lần thứ nhất, Mẹ đã dạy Bernadette làm dấu Thánh Giá và lần hạt cách sốt sắng. Mỗi lần hiện ra Mẹ đều làm như vậy. Mẹ còn dạy riêng cho Bernadette một kinh nguyện, rồi cuối cùng mới trao cho cô sứ điệp cầu nguyện: Con hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở lại.

– Mời gọi sám hối: Đức Trinh Nữ lập lại với Bernadette ba lần: ‘Hãy sám hối, sám hối, sám hối’. Ngày 25-2-1858, Mẹ nói với Bernadette: ‘Con hãy đến uống và rửa ở suối này’. Mẹ chỉ cho cô tìm ra một dòng suối. Suối nước này ban đầu rất đục, sau đó bùn lắng xuống rồi trở thành suối nước trong lành. Đó là dấu hiệu cho sự sám hối. Nó tượng trưng cho sự lắng đọng trong tâm hồn tất cả những gì là vẩn đục hầu nên thanh sạch hơn.

– Mời gọi rước kiệu và xây nhà nguyện:“Con hãy nói với các linh mục xây nhà nguyện ở đây. Mẹ muốn người ta đến đây rước kiệu”. Nhà nguyện là nơi dân Chúa tụ họp để nghe lời Chúa và cử hành nhiệm tích Thánh Thể. Để đáp lại nguyện vọng của Đức Maria mà ba đại giáo đường và 2 Nhà thờ khá lớn lần lượt được xây dựng ở đây.“Người ta sẽ xây nhà nguyện cho con, và xây rất lớn” , cha sở Lộ Đức Peyramale đã nói với Bernadette như thế khi cô đến trình bày về lời yêu cầu của Đức Mẹ, hẳn cha đã không ngờ rằng mình nói rất đúng.Những Thánh đường này hằng ngày quy tụ từng đoàn người hành hương đến viếng thăm, chầu Thánh Thể và rước kiệu. Chính tại nơi đây, Thánh lễ cũng như các buổi rước kiệu Thánh Thể luôn được cử hành rất long trọng. Lộ Đức xứng với danh hiệu “Thành phố của nhiệm tích Thánh Thể”.

Hai buổi chiều, tôi dành thời giờ ngồi bên dòng sông Pau, đối diện với Hang Đá, ngắm nhìn Vương Cung Thánh Đường uy nghi xây vách đá, nơi Đức Mẹ hiện ra, nhìn dòng người không ngớt cầu nguyện dưới chân Mẹ. Tôi hiểu tại sao Giáo hội, trong dọc dài thời gian hơn hai ngàn năm qua vẫn luôn vững bền và phát triển cho dù trải biết bao thăng trầm dâu bể của lịch sử nhân loại. Nhờ Mẹ Maria luôn chở che Giáo hội như Mẹ đã bao bọc nâng đỡ các Tông Đồ sau Lễ Ngũ Tuần. Mẹ là dòng sông tưới mát cho nhân loại đang trên hành trình tìm về nguồn hạnh phúc bên Chúa.

Lộ Đức là địa chỉ của tình thương, là điểm hẹn của bình an nội tâm. Tạ ơn Đức Mẹ và xin Mẹ thương ban ơn cho các bệnh nhân.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Như Dạ Lý Mùa Xuân – SN Lễ Mẹ Thiên Chúa 2020

Như Dạ Lý Mùa Xuân – SN Lễ Mẹ Thiên Chúa 2020

“Đã có rất nhiều bài Thánh ca tôn vinh Đức Trinh nữ Maria, thế nhưng những ca khúc viết về Đức Mẹ và Mùa Xuân thì lại còn khá khiêm tốn – trong số đó, ca khúc Như Dạ Lý Mùa Xuân của nhạc sĩ Ngọc Kôn, được coi là đã chạm đến những cung bậc cảm xúc bày tỏ lòng mến yêu đối với Mẹ Thiên Chúa…

Nhạc sĩ Ngọc Kôn, tên khai sinh là Phaolô Võ Văn Côn, sinh năm 1950 tại An Hòa, Châu Thành, An Giang (giáo xứ Năng Gù, giáo phận Long Xuyên). Hiện ở tại số 15/2 đường số 5, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức (Giáo xứ Fatima Bình Triệu).

Thời niên thiếu và thanh niên của Võ Văn Côn đã kinh qua các “lò”  đào tạo linh mục như Tiểu Chủng viện Thánh Phụng (Châu Đốc), Têrêxa (Long Xuyên), Đại Chủng viện Thánh Giuse (Sài Gòn), Thánh Tôma Aquinô (Long Xuyên), học xong tháng 12.1975 (chưa được truyền chức linh mục)… Sau khi tốt nghiệp Đại Chủng viện, thầy Côn tình nguyện đi vùng sâu lập lại giáo họ Ong Dèo (tháng 12.1975). Sau một tai nạn không mong muốn vào năm 1976, thầy Côn lưu lạc nhiều nơi, sống trong mòn mỏi để mong được lãnh tác vụ linh mục. Thời gian này, thầy đã đi học thêm và tạm làm nhạc sĩ sáng tác thánh ca để “chờ thời” và tự nâng đỡ “đời tu một mình” – tức sáng tác thánh ca, và chỉ thánh ca… Khởi đi từ năm 1976, bút danh Ngọc Kôn là do người bạn, linh mục nhạc sĩ Duy Linh Phạm Hồng Nhật (hiện ở giáo phận Long Xuyên) đặt cho.

Trước đó, thầy cũng đã được học âm nhạc với linh mục nhạc sư Tiến Dũng từ năm 1965 (khi ngài vừa về nước), bạn đồng học lúc ấy có linh mục nhạc sĩ Văn Chi (Úc), linh mục nhạc sĩ Duy Thiên, linh mục nhạc sĩ Duy Linh Phạm Hồng Nhật (Long Xuyên) và linh mục nhạc sĩ Dao Kim (Mỹ)… Năm 1987, Ngọc Kôn học tiếp âm nhạc nâng cao, đặc biệt là thánh nhạc chuyên ngành với linh mục nhạc sư Tiến Dũng, sau đó được ngài đề cử sang Rôma thi lấy bằng nhạc sư sáng tác, nhưng không đi vì thiếu kinh phí. Không còn thấy hy vọng được lãnh tác vụ linh mục nên Ngọc Kôn hoàn tục và lập gia đình năm 1996, tuy nhiên, bây giờ thì người nhạc sĩ này sống cô độc với đôi mắt bị thương tật trầm trọng…

Hiện nay, nhạc sĩ Ngọc Kôn cùng với linh mục nhạc sĩ Ân Đức (Ocis), linh mục Giuse Trần Thanh Công (chính xứ Vườn Xoài), nhạc sĩ Phan Thanh Dũng, một số nhạc sĩ, ca trưởng, ca sĩ và nghệ sĩ… tạo một môi trường Thánh ca Phụng vụ thể hiện qua ca đoàn và dàn nhạc Thánh Thi (đàn hát Lời Chúa, đàn hát Lời Chúa với cộng đoàn, đàn hát Lời Chúa với cộng đoàn bằng các tác phẩm có hình thể xứng tầm phụng vụ); sau 4 năm thể nghiệm, nay đang hoạt động thường xuyên trong phạm vị toàn quốc (nơi nào muốn thì ca đoàn “tự thân vận động” đến hát trong thánh lễ, không gây phiền hà hay tốn kém cho bất kỳ ai).

Riêng về tác phẩm Như Dạ Lý Mùa Xuân, nhạc sĩ cho biết là đã sáng tác vào năm 1976, bằng nguồn cảm xúc nóng sốt trong một đêm ngắm hoa Dạ Lý nở về khuya, bằng sự đau khổ trong cuộc sống và do lòng muốn tạ ơn Đức Mẹ đã gìn giữ trong những cơn hoạn nạn… Nhạc sĩ đã viết một mạch hết điệp khúc với cảm xúc đột ngột, tình cờ và cháy bỏng, qua hôm sau mới viết tiếp các phần phiên khúc. Trong trạng thái chất ngất, cảm xúc trào tràn, với Ngọc Kôn, điểm nhấn của ca từ là “Con say sưa tìm đến bên Mẹ, không xin gì cũng chẳng dâng gì, chỉ cần nhìn ngắm Mẹ”… Giai điệu như tiếng lòng thổn thức, tiết tấu tự nhiên như hơi thở, chỉ cốt dâng lên Đức Mẹ lời khen ngợi mọi nét đẹp đa dạng và tuyệt mỹ của Người”. (Hà Đình Nguyên; cgvdt.vn).

Ngày đầu năm mới và cũng là ngày Quốc Tế Hòa Bình, Giáo Hội hân hoan cử hành lễ Đức Maria rất thánh, Mẹ Thiên Chúa. Cả hai sự kiện này cùng diễn ra khi Giáo Hội đang cử hành mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, Ngài là Hoàng Tử Bình An, là hòa bình đích thực của nhân loại.

Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban chính Con của Ngài sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria đã được nâng lên địa vị là Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội muốn đặt lễ hôm nay lên hàng đầu của năm tháng ngày giờ.

Giáo Hội mừng lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày đầu năm Dương lịch,cũng là ngày cầu nguyện cho hòa bình thế giới như một nhắc nhớ việc chiêm ngưỡng Mẹ là một Tạo Vật mới tinh tuyền của Thiên Chúa, một Evà mới khởi đầu một thời đại mới, một tạo dựng mới. Kỷ nguyên cứu độ đã khởi sự qua việc Chúa Giêsu nhập thể trong cung lòng Đức Mẹ sau lời xin vâng. Mẹ được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế để bắt đầu kỷ nguyên cứu độ. Nếu Evà cũ đã bất tuân để vùi lấp con người trong khổ đau và sự chết, thì Đức Mẹ với tâm tình xin vâng đã đưa Chúa Giêsu đến với nhân loại mang lại sự sống và tình yêu. Từ đây nhân loại sẽ bước đi trong ánh sáng cứu độ. Chúa Giêsu vị Vua Thái Bình, Hoàng Tử Bình An đã đi vào lòng thế giới, để thiết lập vương quốc Nước Trời qua Mẹ Maria.

Ðức Thánh Cha Phaolô VI đã viết: “Vì sự trùng hợp tốt đẹp giữa ngày 01 tháng giêng với ngày thứ tám giáp lễ Giáng Sinh mà chúng tôi đã đặt ngày đó là ngày Thế Giới Hòa Bình, mà thế giới mỗi ngày càng hưởng ứng thêm, và thành quả của hòa bình đã phát sinh trong lòng nhiều người.” (Marialis Cultus, số 5).

Chúa Giêsu được xưng tụng là Hoàng Tử Hòa Bình, đến chuộc tội nhân loại, giao hòa con người với Chúa Cha. Mẹ Maria luôn gắn bó, hợp tác, hiệp công với Con của mình nên đã trở nên Nữ Vương Hòa Bình cho toàn thế giới. Mẹ đã đóng góp cả cuộc đời mình cùng với Chúa Giêsu mà giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi.

Mẹ được Thiên Chúa sủng ái, và được trở nên cao trọng, vì Mẹ khiêm nhường. Đức khiêm nhường dẫn Mẹ đến chỗ hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa.Từ biến cố Truyền tin, qua lời đáp xin vâng của Mẹ, Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng dạ Mẹ. Đức Maria trở thành Mẹ Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế. Giáo hội đã tuyên bố Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, Người có ngôi vị duy nhất trong hai bản tính. Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Thiên Chúa làm người, nên là Mẹ của Thiên Chúa. Công đồng Êphêsô 431 đã minh định điều ấy khi tuyên tín Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.

Mẹ Thiên Chúa trở thành một tín điều và là mầu nhiệm của đức tin Công Giáo. Tước hiệu này đã trở nên một phần vĩnh viễn trong những kinh tuyên xưng đức tin và trong phụng vụ của toàn thể Giáo Hội Công Giáo.

Chúng ta đặt năm mới này vào tay Đức Mẹ. Xưa Đức Mẹ đã sinh ra Đấng Cứu Thế mở đầu một nhân loại mới, nay xin Đức Mẹ cũng cho năm mới này được chúc phúc, được cứu độ và được hòa bình. Chúng ta cũng cầu nguyện cho mọi người biết noi gương mục đồng, luôn lắng nghe sứ điệp hòa bình, luôn phấn đấu đi tìm đến nguồn mạch hòa bình và luôn phấn khởi loan tin mừng hòa bình.

Năm 2019 đã trôi qua. Ngày 01.01.2020 là thời gian khởi đầu một năm mới. Năm cũ kết thúc để lại dấu ấn 12 tháng đã trôi qua. Thời gian là một vòng tròn, tuần hoàn đều đặn trong đó, 60 phút trong một giờ, 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần… cứ lặp đi lặp lại. Nhưng thời gian là một đường thẳng gồm những sự kiện, phút, giờ, ngày, tháng, năm riêng biệt, mỗi đơn vị trôi qua trong một chuỗi nối tiếp nhau không bao giờ kết thúc. Thời gian đang xoay vần từ những ngày đông chí đến lập xuân, để bắt đầu một mùa xuân mới. Rõ ràng là thời gian đang qua đi, và thời gian không bao giờ trở lại. Thời gian luôn luôn mới, và thời gian không thể luân hồi.

Thời gian là chiều kích tự nhiên của đời người và người đời.Thời gian gắn liền với thân phận mỗi người. Sống trong thời gian là có một khởi đầu và sẽ có một kết thúc.

Thời gian quý giá vẫn liên tục trôi qua không dừng nghỉ. Hãy sống như thế nào để thời gian trở thành một dòng sông, một dòng suối mát cuộn tràn niềm vui và hạnh phúc đến với ta trong dòng chảy không ngừng của nó. Chỉ như thế chúng ta mới không bỏ phí đi giá trị của thời gian, và mới nhận ra được tình yêu đong đầy trong từng phút giây cuộc sống.

Giờ phút linh thiêng của thánh lễ khởi đầu năm mới hôm nay, chúng ta hãy đặt 365 ngày của năm 2020 này dưới sự che chở và nâng đỡ của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta.

Ngày lễ mừng Mẹ Thiên Chúa, nghe lại ca khúc “Như Dạ Lý Mùa Xuân”, một bài hát ngợi ca vẻ đẹp của Đức Mẹ : Như Dạ Lý mùa Xuân. Mẹ đẹp tươi như Dạ lý ngát hương trinh (Dạ Lý thơm ngát hương trinh). Con say sưa lời hát ân tình. Con dâng Mẹ lòng mến chân thành, với trọn tâm tình (tâm tình)… Như Huệ thắm vườn thiêng. Mẹ kiều diễm như Huệ non núi Si-on (Huệ non trên núi Si-on). Con say sưa tìm đến bên Mẹ, không xin gì cũng chẳng dâng gì : Chỉ cần nhìn ngắm Mẹ…”, chúng ta sẽ thấy lòng dâng trào cảm xúc để cầu nguyện với Mẹ Maria – Nữ hoàng của các Mùa Xuân !

Lễ Mẹ Thiên Chúa kết thúc tuần Bát Nhật Giáng Sinh làm tỏa sáng vẻ đẹp kỳ diệu của tình yêu cứu độ. Ngôi Hai đã vâng phục nhập thể cứu rỗi nhân loại. Với tiếng xin vâng, Đức Maria làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể và làm Mẹ hết thảy những ai được tháp nhập vào thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

Ngày đầu Năm Mới, xin Mẹ ban bình an và cho chúng con thêm tuổi thêm khôn ngoan, thêm nhân đức, thêm ơn nghĩa trước mặt Thiên Chúa và mọi người.Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Maria, người Mẹ đồng hành với con dân Đất Việt

Đức Maria, người Mẹ đồng hành với con dân Đất Việt

Không biết tự bao giờ, Mẹ Maria gắn bó với đời sống niềm tin của dân tộc tôi – gần gũi và huyền nhiệm. Mẹ đã trở nên người Mẹ Việt Nam, Mẹ vận áo bà ba, đội nón quai thao; Mẹ có trong bài hát và đi vào những câu vè câu thơ tâm tình, Mẹ trở thành hồn thơ của đời sống tâm linh. Mẹ đã trở nên người Mẹ yêu thương và che chở con cái trong mọi biến cố buồn vui trong cuộc sống thường ngày. Mẹ nên như chỗ chúng tôi cậy dựa khi gặp thử thách gian truân. Mẹ trở thành người Mẹ của dân tôi vì đời sống của Mẹ bình dị như cuộc sống của bao người. Mẹ là người môn đệ trung tín và luôn sống kề cận Chúa nên chúng tôi cũng khao khát Mẹ trở nên người đồng hành với đời sống đức tin của con dân Đất Việt.

Mẹ Maria và cảm thức văn hoá dân tộc

Đi vào truyền thống văn hoá Việt Nam theo cách thật tự nhiên và gần gũi, Mẹ Maria trở nên một phần trong cảm thức thiêng liêng hồn dân tộc. Chính đời sống và nhân đức của Mẹ đã trở thành nguồn khởi hứng sâu xa cho những sáng tác phong phú đượm văn hoá Việt. Các thi sĩ thường ví Mẹ với ánh trăng đêm rằm tháng Tám. Sự tròn vẹn và sáng trong của ánh trăng quả là hình ảnh giầu chất thơ để viết lên dòng ngợi khen về cuộc đời Mẹ Maria. Cuộc đời trọn vẹn trong lời thưa xin vâng với Thánh Ý Chúa của Mẹ đã nên áng thơ cung kính ca tụng Đấng Toàn Năng. Đối với những người con đang trên đường lữ hành trần thế, những lời vãn, câu kinh với cung giọng nỉ non đã trở thành lời tâm tình tha thiết đến Mẹ Maria để tâm hồn được ủi an. Trong những làn điệu dân ca, cùng âm hưởng truyền thống, Mẹ trở nên hồn của những bài ca vốn đã đi vào lòng người qua biết bao thế hệ. Hình ảnh Mẹ bồng ẵm Chúa Hài Đồng đã trở nên Việt hơn trong tà áo dài và khăn đóng qua những nét vẽ của người hoạ sĩ. Những sáng tác nghệ thuật này trở nên sự nâng đỡ giúp dân Việt sống với Mẹ và đến với Chúa trong chính nền văn hoá của mình.

Tâm tình của một người mẹ nơi Đức Maria cũng nên nguồn cảm thức thiêng liêng về tình mẫu tử trong lòng con dân đất Việt. Chúng tôi thường mang trong mình hình ảnh người mẹ đượm tâm tình thương yêu và giàu lòng trắc ẩn; người mẹ dịu dàng và nỉ non; người mẹ tinh tế và nhạy bén. Chính cảm thức về lòng từ mẫu của một người mẹ trong truyền thống Việt ấy đã giúp đưa con dân đến gần Mẹ hơn. Muốn nhờ con điều gì, đôi khi tôi rí rách người mẹ. Trong cảm thức đức tin, Mẹ đã gần Chúa; Mẹ đã sống với Chúa; Mẹ trở nên môn đệ trung tín của Chúa. Vì thế, niềm tin tưởng về sự chuyển cầu và nâng đỡ, yêu thương và chở che của Mẹ trở nên một điểm tựa cho niềm hy vọng của dân tôi.

Mẹ Maria gần gũi trong đời sống Đức tin của dân tôi

Đối với người công giáo nói chung, Mẹ Maria có một vị trí quan trọng trong sinh hoạt phụng tự. Nhưng với người Việt, có lẽ Mẹ Maria còn gần gũi với đời sống Đức tin của chúng tôi hơn qua những hình thức đạo đức bình dân thấm đượm lòng hiếu kính. Cùng với Giáo hội phổ quát, chúng tôi dành tháng Năm và tháng Mười biểu tỏ lòng tôn kính Mẹ cách đặc biệt, nhưng mang những nét riêng. Vào những ngày trong tháng Hoa, các buổi dâng hoa với những câu hát và điệu múa tôn vinh Mẹ đã trở nên một nét văn hoá độc đáo trong sinh hoạt phụng vụ của dân tôi. Rồi đến tháng Mười, lòng sùng kính Đức Mẹ còn được thể hiện rõ nét qua việc cầu nguyện lần chuỗi Mân côi. Chúng tôi có những giờ lần chuỗi chung gia đình, cộng đoàn; những ngày đọc kinh liên gia. Ngày không có Thánh lễ, các gia đình cùng nhau quy tụ nơi nhà thờ để đọc kinh và hát kính Mẹ. Theo lời ông bà kể, đã từng có những giai đoạn khó khăn, khi các giáo xứ không có linh mục săn sóc, lời kinh Mân côi đã giúp duy trì đời sống đức tin của cả một cộng đoàn qua nhiều thế hệ.

Niềm tin đơn sơ với lòng sùng kính Mẹ Thiên Chúa cũng trở thành nguồn nuôi dưỡng tâm hồn bao người dân đất Việt chúng tôi trong suốt cuộc đời. Từ tấm bé, chúng tôi được đầm mình truyền thống phụng thờ Thiên Chúa và lòng tôn kính đặc biệt dành cho Đức Maria. Những lời kinh Mân Côi dường như là những bài học vỡ lòng đối với những đứa nhỏ Công giáo chúng tôi. Lời kinh ấy đi với chúng tôi theo năm tháng. Trong tâm thức chúng tôi, Mẹ đã trở thành Đấng bầu cử mạnh mẽ trước mặt Chúa. Rồi khi lớn lên, và cho tới lúc rời xa gia đình, kinh Mân côi trở nên mối dây liên kết thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái.

Đức Maria, Mẹ chở che dân tôi lúc gặp hoạn nạn, truân chuyên

Mẹ Maria cũng là điểm tựa cho đời sống Đức tin của dân tôi trong những thử thách, gian lao. Chúng tôi chạy đến với Mẹ trong những vui buồn của cuộc sống với niềm tin tưởng rằng, Mẹ là Đấng chuyển cầu mạnh mẽ với Con của Mẹ là Đức Giêsu. Lời của Giáo hội ghi rằng, ngay từ thời rất xa xưa, Đức Maria đã được tôn kính dưới tước hiệu là “Mẹ Thiên Chúa”, và các tín hữu đã khẩn cầu cùng ẩn náu dưới sự che chở của Mẹ trong mọi cơn gian nan khốn khó” (LG 66). Đây cũng chính là kinh nghiệm của dân tôi khi hướng về Mẹ Maria trong cảnh khó khăn. Có lẽ biến cố lớn lao hơn cả là tại La Vang, khi cuộc bách hại đạo diễn ra khắc nghiệt thời vua Cảnh Thịnh, Mẹ nên chốn tựa nương cho con cái. Mẹ đã hiện đến để an ủi và nâng đỡ để dân tôi không mất niềm tin. Trời Tây có chuyện về một Bà Đẹp hiện ra mang sứ điệp ủi an và dạy dỗ, bên đất Việt có La vang, Mẹ đến mang lại cho dân tôi niềm hy vọng và trung trinh. Giữa cảnh gian truân, thử thách trăm bề và tưởng chừng như không còn biết cậy dựa nơi đâu, Mẹ đến và mang Chúa đến trong hồn những người nao núng. Qua sự nâng đỡ của Mẹ, dân tôi giữ vững một lòng tin sắc son và sống trong niềm phó thác vào Chúa.

Mẹ Maria đã đi vào tâm thức dân tôi trong một cách thế rất Việt như thế! Mẹ đi vào hồn dân tộc. Mẹ gần gũi với nền văn hoá. Cảm thức về người mẹ Việt yêu thương, bao bọc chở che đã thấm đượm vào niềm tin của dân tôi. Mẹ đến với dân tôi trong tình mẫu tử thiêng liêng. Nếu như Mẹ Maria là mẫu mực cho niềm hy vọng, không bao giờ thất vọng (x. Rm 5, 5) thì càng đúng hơn việc Mẹ là Mẹ của dân tôi khi dân Việt vốn là dân tộc gặp nhiều trắc trở và khổ đau. Giữa bao cảnh đổi thay của thời thế xã hội, cùng với những khó khăn và thách đố mới trong việc sống đạo, tôi tin rằng lòng đạo đức bắt rễ sâu trong truyền thống yêu mến Mẹ Maria vẫn sẽ là một nguồn nâng đỡ cho dân Việt sống son sắt niềm tin thờ phượng Thiên Chúa.

Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Ôm Chặt Tội Nhân Không Cho Đến Pháp Trường

Ôm Chặt Tội Nhân Không Cho Đến Pháp Trường

Abady là 1 thanh niên mồ côi cha từ nhỏ. Nhà nghèo, mẹ phải gửi chàng vào giúp việc cho 1 ông quan ở triều đình. Khi từ giã con, mẹ bắt con phải giữ lời hứa là mỗi ngày phải đọc 1 kinh kính mừng với lời cầu nguyện: Lạy Mẹ Maria Trinh Nữ, xin cứu con trong giờ lâm tử.

Chàng vào triều đình, sống 1 thời gian, lúc đầu còn tỏ ra ngoan ngoãn đạo đức. Nhưng càng ngày càng bê tha trụy lạc hư đốn. Ông quan buộc lòng phải sa thải chàng, không cho ở trong triều đình nữa. Tuyệt vọng không nơi nương tựa, anh bắt đầu đi chơi với bạn xấu, cướp của giết người. Tuy vậy, anh vẫn cứ tiếp tục đọc kinh kính mừng với lời nguyện như mẹ đã dạy xưa. Sau đó, chàng bị quan quân truy nã, bắt bỏ tù vì tội phạm. Sau nhiều lần xét xử, toà tuyên án tử hình vì đã cướp của giết người .

Trước ngày thi hành bản án, chàng thấy mình quá tội lỗi, làm nhục cho mẹ già, vì cái chết đau thương này. Quỷ lấy hình 1 thanh niên tuấn tú đến thăm, hứa sẽ cứu chàng khỏi bị chém đầu, và bắt chàng phải làm tất cả những gì mà quỷ bảo. Chàng chấp nhận hết, kể cả việc từ bỏ Chúa Giêsu, và các phép Bí Tích. Sau đó quỷ buộc chàng phải bỏ Đức Trinh Nữ Maria, và cấm không còn được đọc kinh Kính Mừng nữa. Đến đây thì chàng không nghe, và bảo quỷ:

– Tao không bao giờ bỏ được việc này.

Nghe vậy tên quỷ bỏ chạy trốn, để 1 mình chàng chịu trận. Abady chạy đến Đức Trinh Nữ, xin Mẹ cứu giúp tha thứ tội lỗi, vì đã chối bỏ Chúa, với lòng ăn năn thống hối, lệ sầu chứa chan. Đến ngày ra pháp trường, chàng đi ngang qua tượng Đức Mẹ, chàng cúi đầu chào và đọc kinh Kính Mừng với lời nguyện như mọi khi. Lạ thay! mọi người đều thấy tượng Đức Mẹ cúi đầu chào lại. Vô cùng cảm động, chàng xin được đến hôn chân tượng Đức Mẹ. Lý hình không cho, nhưng vì quần chúng ồn ào hô to xin cho chàng được đến hôn chân Đức Mẹ trước khi chết. Thật lạ lùng! Khi chàng vừa cúi hôn chân Đức Mẹ, thì Đức Mẹ giơ tay nắm chặt lấy chàng, chặt đến nỗi không ai có thể kéo ra khỏi bàn tay Đức Mẹ được. Thấy sự lạ, mọi người đều hô to:

– Xin tha. Xin tha.

Quan quân lý hình không chịu tha, nhưng toàn dân xô xát biểu tình chống đối. Cuối cùng, họ đành phải tha. Thế là chàng Abady tội lỗi được tha bổng. Chàng hồi hương sống cuộc đời thánh thiện và làm tông đồ cho Đức Mẹ bằng chuỗi hạt Mân Côi.

Lời bàn : Linh Mục Razzi, dòng Biển Đức đã kể truyện này trong sách các phép lạ, quyển 3. Như vậy là đúng. Nếu chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào quyền phép Đức Mẹ thì những truyện tích như thế, không lấy gì làm ngạc nhiên .Có điều là ở mỗi thời gian không gian khác nhau, Đức Mẹ làm những phép lạ khác nhau, có thể còn vĩ đại hơn nhiều, như ở Fatima, Đức Mẹ làm phép lạ cho mặt trời nhảy múa trước hằng trăm ngàn người thấy. Ở Medgugorje Đức Mẹ đã xuất hiện liên tục 25 năm nay, mà nay vẫn còn tiếp tục.

Truyện tích 5 trong 100 truyện tích chuỗi hạt Mân Côi

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

MẸ MARIA

MẸ MARIA

Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp đi lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán.

Chuỗi Mân Côi là giây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm con đường hy vọng của Mẹ: âu yếm từ ở Bêlem, khắc khoải như bên Ai Cập, trầm lặng như thời Nazareth, lao động như trong xưởng mộc, sốt sắng như tại đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên thánh giá, vui mừng lúc phục sinh, làm tông đồ bên thánh Gioan. Tóm lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Ðừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ.

Trên đường hy vọng, con nắm tay Mẹ Maria; có Mẹ, đã đủ cho con rồi, con không cô đơn. Mẹ là “nguồn sống, là an vui, là hy vọng của chúng con”.

FX. NGUYỄN VĂN THUẬN ( Đường Hy Vọng )

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Ngôi nhà Ðức Mẹ từng ở trước khi về trời

Ngôi nhà Ðức Mẹ từng ở trước khi về trời

Cách thị trấn miền biển Kusadasi (Thổ Nhĩ Kỳ) trên bờ tây của biển Aegea khoảng 27 km là một địa điểm linh thiêng trong các chuyến hành hương của cả tín hữu Công giáo lẫn Hồi giáo.

Nơi đây tọa lạc Meryem Ana Evi, tức “Ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh”, trên núi Koressos thuộc vùng Ephesus. Tương truyền, Đức Mẹ Maria đã được Thánh sử Gioan đưa đến cư ngụ tại ngôi nhà bằng đá này cho đến ngày Đức Mẹ lên trời.

Ngôi nhà của sự nhiệm mầu

Ngôi nhà khiêm tốn có cấu trúc toàn bằng đá, được xây dựng theo kiến trúc La Mã thời xưa, và hiện đã trở thành nhà nguyện nhỏ. Các nhà khảo cổ học giám định nơi này cho rằng hầu hết cấu trúc có niên đại từ thế kỷ VI hoặc VII, trong khi nền tảng của nó có thể còn xa hơn gấp nhiều lần, và có lẽ có niên đại từ thế kỷ thứ nhất, tức vào thời Đức Mẹ Maria còn tại thế. Theo thời gian, phần còn lại của ngôi nhà được người đời sau bổ sung, như các cảnh quan sân vườn và kiến trúc phía ngoài.

Vào mùa hè trong năm, những hàng người dài dằng dặc nối đuôi nhau đến đỉnh Koressos, chờ đợi đến lượt mình tiến vào nhà nguyện nổi tiếng. Khi bước vào, người hành hương sẽ thấy trước mặt là hai hàng ghế hai bên, nơi bạn có thể quỳ xuống và cầu nguyện. Một số người lại chọn quỳ trước bàn thờ. Trên bàn thờ có đặt một bức tượng nhỏ của Đức Mẹ Đồng Trinh, xung quanh là những đóa hoa đầy màu sắc. Thông thường, không được phép chụp ảnh bên trong nhà nguyện, trừ trường hợp đặc biệt như các chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng. Bên ngoài ngôi nhà có một “bức tường ước nguyện”, trên đó treo đầy những tờ giấy hoặc mảnh vải ghi lại những mong ước chân thành của người hành hương đến nơi này. Một đài phun nước gần đó được kể rằng có thể chữa lành bệnh tật hoặc mang lại khả năng làm mẹ cho phụ nữ.

Sự phát hiện kỳ diệu

Theo sách của tác giả người Đức Clemens Brentano (1778-1842), ngôi nhà này được phát hiện vào thế kỷ 19 theo sự mô tả trong thị kiến của Chân phước Anne Catherine Emmerich (1774-1824), nữ tu dòng thánh Augustinô ở Đức. Chân phước Emmerich từ năm 1802 cho đến khi qua đời đã mang trên người các vết thương của mão gai, và từ năm 1812, có hẳn dấu thánh trên ngực và một vết thương tương đồng với vết giáo đâm. Nhà văn Brentano, đã gặp nữ tu vào năm 1818 và túc trực bên cạnh cho đến khi bà mất vào năm 1824, ghi chép lại các thị kiến về những ngày cuối đời của Chúa Giêsu, cũng như chi tiết về cuộc đời Đức Mẹ Maria và chuyến di cư của Mẹ tới Ephesus từ khoảng 2.000 năm trước.

Nhờ vào một trong những thị kiến được ghi lại, linh mục người Pháp tên Julien Gouyet vào năm 1881 đã tìm đến ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh. Theo Wikipedia, Chân phước Emmerich từng mô tả ngôi nhà là do thánh Gioan Tông đồ đã xây dựng ở Ephesus cho Đức Maria, nơi mà Mẹ đã cư ngụ cho tới khi về với Chúa. “Đức Maria không cư ngụ ở Ephesus, nhưng ở một nơi gần đó… Nhà Đức Maria ở trên một ngọn đồi phía bên trái con đường hướng đến Jerusalem, cách Ephesus khoảng 3 giờ rưỡi. Ngọn đồi này dốc đứng về phía Ephesus…. Những đường đi bộ hẹp dẫn về phía nam tới ngọn đồi gần đỉnh của nó là một cao nguyên không bằng phẳng, đi mất khoảng nửa giờ”.

Chân phước Emmerich cũng mô tả các chi tiết khác của ngôi nhà, chẳng hạn như được xây bằng những viên đá hình chữ nhật, các cửa sổ đặt cao lên gần mái nhà bằng phẳng và ngôi nhà gồm 2 phần với nền bếp lò ở giữa ngôi nhà. Ngài còn tả thêm vị trí của các cửa ra vào, hình dạng của ống khói … Cuốn sách liệt kê các chi tiết trên có tựa đề “The Life of the Blessed Virgin”, được xuất bản năm 1852 ở München, Đức.

Các chuyến thăm của nhiều Giáo Hoàng

Giáo hội Công giáo chưa hề công nhận hoặc bác bỏ tính xác thực của ngôi nhà vì thiếu chứng cứ khoa học cụ thể. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, vào năm 1896, đã làm phép cho đoàn hành hương đầu tiên đến viếng nơi này, chứng tỏ quan điểm tích cực của Giáo hội đối với ngôi nhà lịch sử tại Ephesus. Bản thân ngài cũng đích thân viếng thăm ngôi nhà. Đến thời Đức Giáo Hoàng Piô XII, vào năm 1951, dựa trên tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, đã gọi ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh là thánh địa, và Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII sau đó đã xác thực vĩnh viễn sự công nhận đó cho nơi này.

Liên tiếp nhiều Giáo Hoàng đã đến thăm địa điểm thánh thiêng của Đức Mẹ. Chân phước Phaolô VI đã tới viếng ngày 26.7.1967, sau đó là Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ngày 30.11.1979, còn Đức Bênêđictô XVI cũng theo bước những người tiền nhiệm khi đến nơi này ngày 29.11.2006 nhân chuyến tông du 4 ngày ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Manh mối từ Kinh Thánh

Thánh sử Gioan viết lại, Chúa Giêsu trước khi chịu khổ hình trên thập giá đã tin tưởng nhờ cậy ngài chăm sóc mẹ mình. “Đây là mẹ của con”, và kể từ giây phút đó, thánh Gioan đã xem Đức Maria như mẹ ruột. Sách Công vụ tông đồ sau đó đã ghi lại số phận của các thánh tông đồ sau khi Chúa Giêsu qua đời. Thánh Stêphanô bị ném đá đến chết vào năm 37. Thánh Giacôbê bị chặt đầu vào năm 42. Và những vị thánh tông đồ khác bắt đầu việc rao giảng Lời Chúa. Thánh Gioan truyền giáo tại Tiểu Á, và ngài đã đưa Đức Maria theo để bảo vệ.

LING LANG

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Một triệu trẻ em đọc kinh Mân Côi vì hiệp nhất và hòa bình

Một triệu trẻ em đọc kinh Mân Côi
vì hiệp nhất và hòa bình

Một triệu trẻ em của hơn 80 quốc gia sẽ liên kết với nhau trong cầu nguyện vào ngày 18/10 tới đây, khi tham gia sáng kiến “Một triệu trẻ em đọc kinh Mân Côi vì hiệp nhất và hòa bình” lần thứ XV, do tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ tổ chức.

Trong số các trẻ em thuộc hơn 80 nước tham gia sáng

kiến, có các em thuộc các quốc gia như Camerun, Malawi, Libăng, Philippines, Paraguay, Perù, Tân Guinea, vv.

Sáng kiến ra đời năm 2005

Sáng kiến này ra đời lần đầu tiên vào năm 2005 tại Caracas, Venezuela. Lần đó, khi một nhóm trẻ em đang đọc Kinh Mân Côi, một số phụ nữ có mặt cảm thấy sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Maria. Vào lúc đó, một trong số họ nhớ lời hứa của Cha Pio: “Nếu một triệu trẻ em cầu nguyện đọc kinh Mân côi, thế giới sẽ thay đổi”. Kể từ đó, cứ vào ngày 18/10, trẻ em từ khắp nơi trên thế giới liên kết trong cầu nguyện để đọc kinh Mân côi. Không phải ngẫu nhiên mà sự kiện này được tổ chức vào ngày 18/10, nhưng nó được chọn vì ngày này là lễ kính thánh sử Luca, người đã thuật lại câu chuyện về thời thơ ấu của Chúa Giêsu và theo

truyền thống, là người rất gắn bó với Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Khuyến khích các em đọc Kinh Mân Côi

Qua 23 trụ sở quốc gia của mình, tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ mời gọi các phụ huynh, giáo viên và những người làm việc tại các trường học, nhà trẻ, bệnh viện, nhà mồ côi và tại các nơi có các nhóm trẻ em, khuyến khích các em đọc kinh Mân Côi. Tổ chức này cũng đưa ra một băng rôn và một lá thư bằng 25 ngôn ngữ khác nhau để mời gọi các trẻ em trên toàn thế giới tham gia sáng kiến.

Tin tưởng vào sức mạn của lời cầu nguyện

Ông Alessandro Monteduro, giám đốc phân bộ của tổ chức

tại Ý, giải thích: “Bên cạnh hoạt động và thông tin, cầu nguyện là một trong ba đường hướng của tổ chức. Cùng với các nhà tài trợ của chúng tôi và những người được giúp đỡ từ sự quảng đại của họ trên toàn thế giới, chúng tôi làm thành một cộng đồng duy nhất, tin tưởng vững chắc vào sức mạnh của lời cầu nguyện.

Năm 2019: cầu nguyện cho các linh mục bị sát hại

Năm 2018 chúng tôi đã dành sáng kiến này cho bà Asia Bibi, bằng cách kêu  gọi người lớn và trẻ em cầu nguyện cho bà ấy. Thật kỳ diệu, chỉ 13 ngày sau đó, bà đã được tuyên

bố vô tội. Năm nay chúng tôi sẽ cầu nguyện về việc nhiều linh mục bị giết. Năm 2019, 17 vị đã bị giết, nhiều người trong số họ bị giết vì là các thừa tác viên của Chúa. Chúng tôi sẽ nhớ đến họ trong lời cầu nguyện, biết ơn về chứng tá đức tin can đảm của họ. Chúng tôi cũng sẽ nghĩ đến cha Pier Luigi Maccalli, bị bắt cóc vào ngày 17/09/2018, và c

ác linh mục khác bị bắt cóc. Chúng tôi sẽ cầu nguyện để họ sớm gặp lại gia đình của họ”. (REI 07/10/2019)

Hồng Thủy – Vatican

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Giáo quyền nhìn nhận một vụ khỏi bệnh lạ lùng tại Đền thánh Đức Mẹ Knock

Giáo quyền nhìn nhận một vụ khỏi bệnh lạ lùng tại Đền thánh Đức Mẹ Knock

Lần đầu tiên từ 30 năm nay, Giáo quyền Công Giáo nhìn nhận một vụ khỏi bệnh lạ lùng tại Đền thánh Đức Mẹ Knock ở miền tây Cộng hòa Ai Len.


G. Trần Đức Anh, O.P. – Roma

Knock là một làng chỉ có 972 dân cư, cách thủ đô Dublin 180 cây số về hướng tây bắc. Địa điểm này trở thành trung tâm hành hương kính Đức Mẹ từ sau khi có cuộc hiện ra của Đức Mẹ, Thánh Gioan và thánh Giuse tại đây trên mặt tiền nhà thờ giáo xứ ở địa phương ngày 21 tháng 8 năm 1879, tức là cách đây 140 năm. Cuộc hiện ra kéo dài hai tiếng đồng hồ, trước tiên trước mắt của hai phụ nữ và sau đó trước hàng chục dân trong làng.

Cuộc khỏi bệnh của cô Marion Carroll

Nhật báo “Ai Len Độc Lập” (Irish Independent) trực tuyến, truyền đi ngày 02/09/2019 vừa qua đưa tin: Đức Cha Francis Duffy, Giám mục giáo phận Ardagh và Clonmacnois, tuyên bố rằng cuộc khỏi bệnh của cô Marion Carroll là điều y khoa không giải thích được”

Cô Carroll, người làng Athlone, thuộc Huyện Westmaeth. Cách đây 30 năm, cô ở lứa tuổi gần 40, bị khuyết tật phải ngồi xe lăn, không tự chế được, bị mù một mắt, và mắt còn lại chỉ nhìn được một phần, cô đến hành hương tại Đền thánh Đức Mẹ Knock vào tháng 9 năm 1989.

Cô ghi lại trong sách: “Tôi đã được chữa lành tại Knoch”. Trước đó, các bắp cơ của cô bị hư, cổ và giọng nói của cô bị thương tổn nặng nề. Mặc dù các bác sĩ khuyên can, nhưng cô vẫn nhất định tham dự cuộc ban bí tích xức dầu bệnh nhân tại Vương cung thánh đường Knock”.

Cô Carroll cho biết mình đã được phép lành, cô đứng dậy khỏi cáng, đau đớn biến mất.

Tuyên bố của Đức Cha Duffy

Tuyên bố hôm 01/09/2019 vừa qua tại Đền thánh Đức Mẹ Knock, Đức Cha Duffy nói: “Tôi nhìn nhận rằng cô Marion Carroll đã được chữa lành khỏi căn bệnh dai dẳng trong cuộc hành hương tại Đền thánh này. Cuộc chữa lành cô Marion là một cuộc đổi đời. Nhiều người đã làm chứng về sự thay đổi sâu rộng xảy ra nơi cô Marion tại nơi này và khi cô trở về Athlone hồi năm 1989. Đây là một cuộc lành bệnh mà hiện nay y khoa không giải thích được. Cuộc khỏi bệnh này là chung kết và thách thức giải thích y khoa”.

Trong cuốn sách, Cô Carroll kể lại về việc cô “được một cảm tưởng đẹp đẽ tuyệt vời rằng nếu cáng được bỏ qua, tôi có thể đứng dậy và bước đi”.

Đức Tổng giám mục giáo phận Tuam

Đức Tổng giám mục Michael Neary của giáo phận Tuam sở tại, cũng lên tiếng tại Knock hôm 01/09 và nói: “Ngày hôm nay, Giáo Hội chính thức nhìn nhận rằng cuộc lành bệnh này không giải thích được về phương diện y khoa và góp phần vào kinh nguyện, chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa”. (www.Independent.ie 2-9-2019)

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Khái lược về Legio Mariae

Khái lược về Legio Mariae

Hội viên Legio Mariae, cùng với Nữ Tướng Maria của mình, chỉ để làm vinh danh Chúa và đem hạnh phúc đến cho nhân loại.
Legio Mariae là đoàn thể giáo dân, được Hội Thánh phê chuẩn và đặt dưới quyền chỉ huy hùng mạnh của Đức Maria Vô nhiễm, trung gian các ơn, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, và oai hùng như cơ binh dàn trận đối với Satan và đạo quân của nó. Họ họp thành hiệp hội để phục vụ trong trận chiến mà Giáo hội không ngừng giao tranh với thế gian và quyền lực tội ác.

“Hậu quả của sa ngã làm cho suốt đời sống con người, cá nhân hay tập thể, thành cuộc chiến đấu gay gắt giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối” (GS 13)

Hội viên Legio nguyện trở nên xứng đáng với Nữ Vương Thiên Đàng cao cả, nhờ trung tín, đức độ và lòng dũng cảm. Legio Mariae tổ chức theo lối binh đoàn, đặc biệt theo lối quân đội Rôma, mượn luôn cả danh xưng của nó. Tuy nhiên binh đoàn và vũ khí của người Legio Mariae không thuộc về thế gian này.

Đạo quân này hiện nay rất đông đảo, nhưng khởi đầu rất khiêm tốn. Không có dự tính trước để lập hội, Legio đột khởi. Do đó không có chuẩn bị luật lệ, kế hoạch chi cả. Một người đưa ý kiến, và chiều nọ một nhóm nhỏ họp lại với nhau, không ai ngờ mình trở nên dụng cụ của Đấng quan phòng khả ái. Quang cảnh hội họp khi đó không khác những buổi họp Legio ngày nay trên khắp thế giới. Tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (theo mẫu Đức Mẹ hay làm phép lạ) ngự giữa cử tọa, trên mặt bàn trải khăn trắng giữa hai ngọn nến sáng và hai bình hoa tươi. Cách bài trí này tạo bầu không khí rất phong phú là sáng kiến của một người trong nhóm tình nguyện đầu tiên. Cách bài trí này kết tinh tất cả những gì mà Legio Mariae nhằm đạt tới. Legio là một đạo quân. Trước khi họ tụ họp, thì Đức Mẹ, Nữ Vương của họ đã đứng chờ, niềm nở tiếp nhận những ai mà Mẹ biết sẽ đến theo Mẹ. Không phải họ đón nhận Đức Mẹ, chính Đức Mẹ đã đón nhận họ. Từ đó, với Đức Mẹ họ ra đi chiến đấu, và biết rõ khi kết hợp với Đức Mẹ thì sẽ thành công và bền vững.

Cử chỉ tập thể đầu tiên của họ là quỳ gối xuống. Những chiếc đầu xanh nghiêm chỉnh cúi xuống. Họ khẩn cầu, thỉnh nguyện với Chúa Thánh Thần, tiếp đến họ lần hạt, những bàn tay làm lụng vất vả suốt ngày cầm chuỗi lần, một lối tôn sùng giản dị nhất. Đọc kinh xong, mọi người ngồi lên : trước tượng Đức Mẹ (biểu chứng tình Mẹ hỗ trợ) họ cùng nhau khởi sự bàn định những phương pháp tốt nhất để làm đẹp lòng Chúa và làm cho mọi người trên trần gian yêu mến Chúa. Từ cuộc trao đổi ý kiến đó, Legio Mariae hiện nay đã xuất hiện với tất cả những đặc điểm nói trên.

Lạ thay ! Nếu chỉ nhìn vào những người tầm thường với những phương tiện rất giản dị của họ, thì ai có thể dự đoán đến vận mạng đang chờ đợi họ ở ngày mai ? Chính trong nhóm họ, ai có thể tưởng rằng mình đang thiết lập một tổ chức, sau này là một lực lượng mới trên thế giới, nếu quản lý đúng quy chế và kiên quyết, tổ chức này nhờ Đức Mẹ, sẽ có khả năng thông truyền sức sống, sự ngọt ngào và niềm hy vọng cho các dân tộc. Thế mà sự việc xảy ra đúng như vậy.

Lần đầu quân sơ khởi của hội viên Legio Mariae đã diễn ra tại căn nhà Maria: đường Phanxicô, thành Dublin, Ái Nhĩ Lan, lúc 8 giờ tối, ngày 7 tháng 9 năm 1921, áp lễ Sinh Nhật Đức Mẹ. Vì đơn vị đầu tiên này nhận tước hiệu Đức Mẹ Từ Bi, nên tổ chức này, trong một thời gian, được gọi là “Hội đoàn Đức Mẹ Từ Bi”.

Việc chọn ngày trên đây có vẻ bất ngờ, một ngày xem ra không thích hợp bằng ngày hôm sau. Chỉ mấy năm sau, với muôn vàn chứng cớ biểu lộ tình từ mẫu của Mẹ Maria, người ta mới nhận thấy, trong ngày Sinh Nhật đó, chính bàn tay Đức Mẹ ban cho Legio Mariae sự nâng niu âu yếm nhất. Kinh Thánh rằng : “Qua một buổi chiều và buổi sáng đó là ngày thứ nhất” (St 1,5), do đó tổ chức, mà mục đích trên hết và trường cửu là họa lại hình ảnh Mẹ Maria trong chính tổ chức của mình để làm vinh danh Chúa hơn và đưa Chúa đến với mọi người, thì sinh nhật đó phải đượm nhuần hương vị đầu Sinh Nhật của chính Đức Mẹ, hơn là hương vị cuối ngày lễ.

Đức Maria là Mẹ các chi thể của Chúa Kitô, tức là tất cả chúng ta, vì do đức mến mà Đức Mẹ đã sinh các tín hữu cho Hội thánh. Đức Maria là khuôn sống động đúc nên Thiên Chúa làm người. Đúng vậy, vì chỉ trong Đức Mẹ, Thiên Chúa làm người trở thành một con người đầy đủ về mặt tự nhiên, mà vẫn không thiếu nét nào về bản tính Thiên Chúa ; cũng chỉ nơi Đức Mẹ mà con người, nhờ ơn Chúa Kitô, mới được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, tùy mức độ mà khả năng của bản tính loài người có thể thu nhận“. (T. Augustinô)

Legio Mariae diễn tả khuôn mặt đích thực của Hội thánh Công giáo“. (Đức GH. Gioan XXIII)

1) Phong trào Legio Mariae khởi sự như thế nào ?
(Ý Tưởng Ban Đầu, Diễn Tiến …)

* Legio Mariae được khởi đầu rất khiêm tốn, không dự định trước. Vì thế không có sự chuẩn bị luật lệ, kế hoạch. Thoạt đầu, một người đưa ý kiến, và chiều nọ một nhóm nhỏ họp lại với nhau, sau khi quỳ cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, họ lần hạt, bàn định phương pháp tốt nhất để đẹp lòng Chúa và làm cho mọi người trên trần gian yêu mến Chúa.

2) Quang cảnh buổi họp đầu tiên của Legio Mariae ?
* Tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ngự giữa cử toạ, đặt trên tấm khăn trắng, giữa hai ngọn nến sáng và hai bình hoa tươi. Tất cả quỳ xuống cầu nguyện. Cảnh bài trí bàn thờ và quỳ gối cầu nguyện lần hạt vừa giản dị vừa thánh thiêng ấy là truyền thống của Legio Maria vẫn đựơc duy trì tới ngày nay.

3) Ai là người khởi xướng phong trào Legio Mariae ? 
* Ông Frank Duff, đã cùng một nhóm phụ nữ công giáo và cha Michael Toher, thuộc tổng giáo phận Dublin, thành lập Praesidium đầu tiên vào ngày 07/09/1921

4) Tiểu sử vị sáng lập Legio Mariae ?
* Ông Frank Duff sinh ngày 07/06/1889 tại Dublin . Năm 18 tuổi ông vào ngành bưu chính. Năm 24 tuổi, ông gia nhập hội Bác Ái Vinh Sơn. Năm 32 tuổi thành lập Legio Mariae. Ông qua đời ngày 07/11/1980 tại Dublin- Ái Nhĩ Lan. (Điểm đặc biệt trong đời ông Frank Duff là ngày khai sinh Legio Mariae, ngày sinh và mất của ông đều cùng ngày 07.

5) Danh hiệu đầu tiên của Legio Mariae là gì ? 
* Đó là “Hội Đoàn Đức Mẹ Từ Bi”

6) Buổi họp đầu tiên của Legio Mariae diễn ra ở đâu? Lúc nào ? 
* Buổi họp đầu tiên của Legio Mariae diễn ra tại ngôi nhà Maria, đường Phanxico, thành phố Dublin, nước Ái Nhĩ Lan, lúc 8 giờ tối ngày 07/09/1921, áp lễ Sinh Nhật Đức Mẹ.

7) Cho biết ý nghĩa ngày sinh Legio Mariae ?
* Mặc dầu việc chọn ngày sinh cho Leigo Mariae (áp lễ Sinh Nhật Đức Mẹ) là bất ngờ không ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa vì mục đích trên hết và trường cửu, là hoạ lại hình ảnh Mẹ Maria trong chính tổ chức của mình để làm vinh danh Chúa hơn và đưa Chúa đến với mọi người, thì sinh nhật đó phải đượm nhuần hương vị đầu sinh nhật của chính Đức Mẹ hơn là hương vị cuối ngày lễ.

8) Cử chỉ tập thể đầu tiên của Praesidium tiên khởi này là gì ? 
* Cùng nhau quỳ gối, khẩn xin ơn Chúa Thánh Thần và lần hạt Mân Côi.

9) Trước giờ họp, Đức Mẹ chờ đón ta hay ta chờ tiếp rước đức Mẹ ?
* Đức Mẹ chờ đón ta, từ đó cùng với Đức Mẹ, ta ra đi phục vụ các linh hồn.

10) Để xứng đáng với “Nữ Vương Thiên Đàng (Đức Mẹ Vô Nhiễm), vị chỉ huy hùng mạnh”, hội viên Legio Mariae phải thế nào ? 
* Hội viên Legio  Mariae phải trung tín, đức độ và dũng cảm.

11) Legio Mariae được tổ chức theo hình thức nào ?
* Legio Mariae được tổ chức theo lối quân đội Roma, mượn luôn cả danh xưng (Legio= đạo quân). Nhưng tổ chức và vũ khí của người hội viên Legio Mariae không thuộc về thế gian này.

12) Tại sao Legio Mariae lại mượn danh hiệu của đạo quân Roma ? 
* Legio Mariae ngày nay mượn danh hiệu của đạo quân Roma thời xưa vì họ đã lừng danh trong nhiều thế kỷ với những đức tính trung kiên, can đảm, kỷ luật, nhẫn nại và thu được nhiều kết quả. Nhưng đấy là quân đội trần thế. Còn người hội viên Legio Mariae, cùng với Nữ Tướng Maria của mình, chỉ để làm vinh danh Chúa và đem hạnh phúc đến cho nhân loại.

13) Chủ đích của Legio là gì ?

* Thánh hóa hội viên bằng sự cầu nguyện và dưới sự lãnh đạo của Giáo quyền,tích cực cộng tác vào công cuộc hành động của Đức Maria và của Hội Thánh là đạp đầu rắn độc satan và mở rộng Nước Chúa Kitô.

14) Hai mục đích của Legio có thể nói gọn như thế nào ?

* Làm cho hội viên nên Thánh và cứu giúp các linh hồn.

15) Phương thế để đạt được mục đích trên ?

* Cầu nguyện.
* Cộng tác với Giáo quyền địa phương.
* Liên kết chặt chẽ với Đức Mẹ.
* Trực tiếp gặp gỡ với từng linh hồn.
* Cộng tác với các hội đoàn khác như các bộ phận trong một thân thể.

16) Tinh thần Legio Mariae là gì ?

* Là chính tinh thần của Đức Maria. Do đó,người hội viên Legio Mariae cố gắng rèn luyện:
Đức khiêm nhường sâu thẳm / Đức vâng lời hoàn hảo /
Đức hiền hậu tuyệt vời / Đức thanh khiết không tì vết /
Chí nhẫn nhụcanh dũng / Lòng can đảm xả thân /
Trí khôn ngoan siêu phàm / Lòng mến Chúa nồng nàn.

17) Động lực nào giúp người hội viên Legio hoàn thành nhiệm vụ ?

* Người hội viên Legio Mariae hoàn thành nhiệm vụ là cậy nhờ Tình yêu và Đức Tin của Mẹ.

18) Với đức tin và tình yêu Mẹ Maria,người Legio đảm nhận nhiệm vụ với thái độ nào ?

* Người Legio đảm nhận nhiệm vụ với thái độ sẵn sàng. ”Không bao giờ viện cớ khó quá, vì họ cho rằng mọi việc đều có thể làm và được phép làm”.

19) Chiến phục của người hội viên Legio Mariae là gì ?

* Ngoài những đức tính của quân đội Roma là lòng trung kiên, can đảm, kỷ luật, nhẫn nại. Người hội viên Legio còn phải mang lấy chiến phục của Thiên Chúa là : “lưng thắt đai chân lý, mình mặc áo giáp sự công chính, chân đi giày là lòng hăng hái loan báo Tin Mừng bình an, đội mũ chiến bào là ơn cứu độ, cầm gươm của Thần Khí ban cho là Lời Thiên Chúa”.

20) Trong việc truyền giáo, hội viên Legio Mariae phải hiến thân thế nào ?

* “Là một hiến tế sống động, thánh hảo, đẹp lòng Thiên Chúa và không theo mẫu của trần gian”(Rm 12,1-2)

21) Khi hoạt động tông đồ, gặp những trường hợp bị xa lánh, xua đuổi, thù nghịch, hất hủi….. Người Legio phải có thái độ, cử chỉ như thế nào ?

* Người Legio hãy ôn tồn lãnh nhận tất cả, xem đó là niềm vui, bền đỗ đến cùng, dũng cảm hy sinh. Người Legio không được trốn tránh những cực nhọc lao phiền.

22) Bí quyết thành công với đồng loại hệ tại đâu? Được xây dựng trên nền tảng nào?

* Bí quyết thành công với đồng loại là ở sự giao tiếp cá nhân với cá nhân bằng tình thương và thiện cảm chân thật. Tình thương ấy là “con đường Bác Ái theo gương Chúa kitô đã thương chúng ta và đã phó mình chịu chết cho chúng ta”.

23) Làm sao để công việc của người Legio đạt kết quả dồi dào ?

* Muốn công việc đạt kết quả dồi dào, người Legio phải có chí hiến thân hoàn toàn, không đặt giới hạn cho lòng nhiệt thành của mình.

24) Làm sao để hội viên Legio “chạy hết quãng đường của mình “ ?

* Bằng cách kiên gan, bền chí, với một đức tin không lay chuyển, và lòng nhiệt thành trong ân sủng Chúa và Tình yêu của Mẹ, luôn sẵn sàng ứng trực nhằm mục đích trọn lành thánh thiện.

25) Để thực hiện chương trình với lòng nhiệt thành, Legio không cần gì và cần gì nơi người hội viên ?

* Legio không cần hội viên phải có tiền tài, thể lực nhưng đòi hỏi phải có một đức tin không lay chuyển.
* Không đòi hỏi những việc làm vẻ vang nhưng xin cố gắng không ngừng.
* Không đòi hỏi tài ba lỗi lạc nhưng cần một tình yêu không phai lợt.
* Không đòi buộc một sức mạnh khổng lồ nhưng xin hãy bền đỗ tuân theo kỷ luật.
* Phải làm nhiệm vụ mà đừng nghĩ đến thành công.
* Phải chiến đấu, chống thất bại nhưng nếu thất bại không nản chí.

26) Ứng trực của người Legio là gì ?

* Sẵn sàng hưởng ứng mọi tiếng gọi.
* Vui vẻ nhận những nhiệm vụ tầm thường nhất.
* Nhiệm vụ dù lớn hay nhỏ vẫn cứ cẩn thận chú trọng, kiên nhẫn vô tận, can đảm bất khuất, kiên trung.
* Luôn luôn đứng dưới cây Thánh giá của anh em, quên hẳn mình, cho đến khi mọi sự đã hoàn tất mới rời khỏi nhiệm sở.

27) Điều gì làm trở ngại cho việc chinh phục con người về với Chúa ? 
*Do thiếu Tin Yêu và Khiêm Nhường.

28) Đối với Thiên Chúa Đức Maria ở vị trị nào ?
* Đối với Thiên Chúa, Đức Maria được tạo nên từ hư vô. Nhưng là một thọ tạo đặc biệt được Chúa nhắc lên “bậc cao cả bao la vô lượng của ơn Thánh”, là tuyệt phẩm của Thiên Chúa.

 29) Tại sao Chúa lại liên kết Đức Mẹ vào chương trình huyền diệu của ơn Thánh (chương trình cứu chuộc loài người) ? 
* Để Đức Mẹ làm Mẹ Chúa Con.
* Để Đức Mẹ làm Mẹ những ai kết hiệp với Chúa Con.
* Để Chúa nhận lãnh nơi Mẹ tấm lòng tri ân lớn lao.
* Để việc ta làm sáng danh Chúa tăng lên.

30) Việc cầu nguyện và sùng kính của chúng ta dâng lên Mẹ Maria có tổn hại cho Chúa không ? Tại sao ? 
* Không. Những gì chúng ta dâng lên cho Mẹ Maria để tỏ lòng biết ơn lòng từ mẫu của Mẹ đã không làm tổn hại Chúa mà còn :
– Làm vinh quang Chúa được tăng lên
– Những gì chúng ta dâng lên Mẹ sẽ đến được với Chúa hoàn toàn,
chắc chắn và nguyên vẹn.
* Đồng thời còn thêm ân sủng cho ta.
Vì Đức Mẹ :
* Là Đấng trung gian chuyển đạt toàn vẹn.
* Là yếu tố sống động trong kế hoạch từ bi của Chúa.

31) Cho biết đặc điểm tôn sùng của Legio. 
* Lòng tôn sùng Đức Maria được xây dựng trên nền tản Đức Tin sâu xa vào Thiên Chúa và Tình Chúa yêu ta vô bờ.
* Đức Maria được tạo dựng trong kế hoạch từ bi của Thiên Chúa để liên kết Đức Maria vào chương trình huyền diệu của ơn Thánh.
* Việc tôn sùng Đức Maria là đấng trung gian, chuyền đạt toàn vẹn lên Thiên Chúa những ước nguyện của chúng ta, thêm vinh quang cho Chúa và thêm ân sủng cho ta.

32) Tại sao Legio đặt tin tưởng nơi Đức Maria không bờ bến ?
* Vì Đức Maria có quyền lực vô biên, do quyết định của Chúa.
* Tất cả những gì Chúa có thể ban cho Mẹ thì Chúa ban hết.
* Tất cả những gì Mẹ có sức lãnh nhận thì được lãnh nhận đầy.
* Thiên Chúa dùng Đức Mẹ là phương thế đặc biệt để ban ơn.
* Những ai liên kết với Mẹ mà hành động sẽ tiến gần Chúa hơn.

33) Một đặc điểm khác, Legio tôn sùng Đức Mẹ là gì ? 
* Legio tôn sùng Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

34) Tại sao nói Đức Maria đồng nghĩa với vô nhiễm nguyên tội ?
* Vì với đặc ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Đức Trinh Nữ lãnh nhận mọi ơn huệ khác Chúa sẽ ban sau này:
* Làm Mẹ Thiên Chúa,
* Nhờ ơn cứu chuộc, đạp nát đầu Satan.
* Làm Mẹ phần hồn nhân loại.

35) Phương sách hoạt động đắc lực nhất của người Legio là gì ? 
* Là liên kết chặt chẹ với Đức Maria, hành động như dụng cụ của người, trở nên là gót chân của Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm.

36) Đức Maria là Mẹ của chúng ta khi nào ?
* Từ đời đời, Thiên Chúa đã nghĩ đến Đức Mẹ cùng một lượt với Chúa Cứu Thế, để những ai liên kết với Chúa Con cũng liên kết với Mẹ Người.
* Từ khi Mẹ tỏ ý khiêm nhường ưng thuận lời Sứ Thần Truyền.
* Đức Mẹ làm mẹ trọn vẹn do lời Chúa tuyên bố lúc hoàn tất ơn Cứu Chuộc: “ Này là Mẹ Con”

37) Chúng ta được lợi ích gì khi hoàn toàn tin tưởng vào Đức Mẹ ? 
* Chúng ta được săn sóc, dạy dỗ ủi an, dẫn dắt.
* Chúng ta được lớn lên trong ơn nghĩa Chúa, trở nên giống Chúa hơn.
* Được chia sẻ sứ mạng của Chúa là chiến thắng tội ác.

38) Tại sao Đức Maria được tôn phong là Mẹ Giáo Hội ? 
* Vì Đức Mẹ là Mẹ Chúa Kitô.
* Là cộng sự viên mật thiết với Thiên Chúa. Nhờ Mẹ Thiên Chúa nhận nhân tính.
* Chính Thiên Chúa đã tuyên xưng Mẹ là Mẹ Giáo Hội nói riêng, Mẹ nhân loại nói chung mà Gioan là đại diện khi nhận lời ký thác của Chúa Cứu Thế: “ Này là Mẹ Con”.

39) Việc tông đồ của Legio đặt trên nền tảng nào? Biểu hiện cụ thể lòng tôn sùng Đức Maria của người hội viên Legio là gì ? 
* Việc tông đồ của Legio đặt trên nền tảng là lòng tôn sùng Đức Maria. Lòng tôn sùng ấy được người hội viên Legio cụ thể hoá bằng việc chu toàn phận sự: họp (cầu nguyện) và công tác (thực hiện tông đồ) tích cực hàng tuần.

40) Việc tôn sùng Đức Maria một cách sâu rộng và vững chắc đem lại những kết quả gì ? 
* Danh Chúa được biết đến.
* Cải tạo và cứu vớt nhiều linh hồn khỏi hư mất.
* Ân sủng được tuôn trào.

41) Với những tác dụng lạ lùng của việc tôn sùng Đức Maria, bổn phận chúng ta (Kitô Hữu) phải làm gì ? 
*Chúng ta phải tổ chức thành một hội đoàn làm tông đồ chung cho tất cả giáo hữu để được nhiều người thâm nhập khắp nơi phổ biến lòng tôn sùng Đức Maria, để Đức Maria thực hiện chương trình làm Mẹ các linh hồn và tiếp tục công việc trường cửu là toàn thắng và đạp nát đầu rắn hoả ngục.

42) Bổn phận của hội viên Legio đối với Đức Maria là gì ? 
* Nhiệt thành thực hiện lòng tôn sùng Đức Maria.
* Đưa Đức Maria đến với thế giới (phổ biến lòng tôn sùng)
* Liên kết chặt chẽ với Đức Maria, vị chỉ huy tối cao của Legio Mariae.

43) Tại sao người Legio phải liên kết chặt chẽ với Đức Maria ? 
* Đức Maria là “Đấng Thông Ơn Thiên Chúa”, là “Đấng Trung Gian Các Ơn” …. là “Đấng Phân Phối Máu Thánh Chúa” nên người Legio liên kết chặt chẽ với Đức Maria vừa là phương thế tuyệt diệu để thánh hoá bản thân, vừa là nguồn lực phi thường đưa các linh hồn về Chúa.

44) Để việc liên kết với Đức Mẹ thực sự đem lại lợi ích, người Legio làm gì ? 
* Người Legio thường xuyên dâng mình, năng lặp lại câu “Lạy Nữ Vương là Mẹ Con, toàn thân con thuộc về Mẹ và mọi sự của con là của Mẹ” để qua ta, Đức Mẹ lại hợp tác với ta cùng ta phụng sự Chúa trong người mà ta đến giúp đỡ.

45) Để xứng danh là Legio của Đức Maria người hội viên phải như thế nào ? 
*Người hội viên phải là hình ảnh sống động của Đức Maria.

46) Trong trận đánh quyết liệt vì linh hồn con người, người Legio phải dùng chiến thuật nào ?
* Người Legio phải đánh theo chiến thuật của Trời, vung gươm chiến đấu của Legio phải là một tay khiêm nhường và tính can đảm cao thượng phi thường.

47) Theo đường lối Legio, đức tính nào giữ vai trò số một ? 
* Khiêm nhường chiếm chỗ nhất, là dụng cụ căn bản cho hoạt động tông đồ của Legio.

48) Lý do nào người Legio hoạt động không đem lại kết quả ? 
* Vì thiếu đức khiêm nhường là gốc của mọi hoạt động. Người Legio luôn ý thức rằng ta làm được là do Chúa ban cho và cho nhưng không.

49) Tại sao nơi Mẹ Maria, Chúa đã ra tay uy quyền ? 
* Chúa đã ra tay uy quyền nơi Mẹ Maria vì Chúa đã trông đến sự thấp hèn tôi tớ Chúa. Chính Đức Khiêm Nhượng của Mẹ Maria đã đem Chúa xuống để chấm dứt đời cũ và mở đầu đời mới.

50) Tại sao nói Mẹ Maria là gương mẫu khiêm nhượng đang khi Mẹ còn biết bao đức tính khác gần như vô tận ? 
* Vì Mẹ hiểu Mẹ phải được Cứu Chuộc như tất cả con cháu nhân loại (Mẹ cũng là thọ tạo)
* Mẹ biết tất cả những đức tính sáng chói của Mẹ là do công nghiệp của Chúa Con.
* Thái độ khiêm nhường của Mẹ vừa tự nhiên, vừa dịu dàng dễ yêu và không bao giờ thay đổi.

51) Khiêm nhường chân chính là gì ? 
* Là chúng ta chân thành nhận thức về con người của mình trước mặt Chúa. Tự bản thân ta chỉ là số không. Chúa là đấng duy nhất ban mọi ơn lành cho ta, nên người có quyền tăng, giảm hay chấm dứt.

52) Đối với lính ở đời, họ bất lực vì thiếu can đảm, thiếu thông minh, thiếu năng lực, còn với hội viên Legio, họ bất lực là vì sao ? 
* Vì thiếu đức khiêm nhượng. Ở đâu thiếu đức khiêm nhượng ở đó không có sự thánh thiện. Mất khiêm nhượng ơn Chúa bị thu hồi.

53) Trận chiến để cứu các linh hồn xuất phát từ đâu ? 
* Xuất phát từ mỗi nội tâm của hội viên Legio. Mỗi người phải chiến đấu với chính mình, quyết tâm thắng tính kiêu căng và lòng ích kỷ của mình.

54) Điểm tựa chắc chắn của hội viên Legio là ai ? Tại sao ? 
* Là Đức Maria. Vì Người là gốc đã đâm rễ sâu trong đức khiêm nhường.

55) Gót chân của Trinh Nữ Khiêm Nhượng đạp con rắn kiêu ngạo nhiều đầu (tức nhiều “Cái tôi”). Vậy những cái “tôi” đó là gì ? 
* Là tự cao, tự phụ, tự đắc, tự ái, tự mãn, tự tôn, tự ý và vị kỷ.

56) Để được thông truyền đức tính của Mẹ, người hội viên Legio phải như thế nào ? 
* Người hội viên Legio phải thực sự quên mình, lúc đó Mẹ sẽ xây dựng cho họ một nghị lực và lòng hy sinh để trở thành người lính can đảm của Chúa Kitô.

57) Thành thực tôn sùng Đức Maria, chúng ta phải làm gì ? 
* Phải hoạt động tông đồ.

58) Thế nào là tôn sùng Đức Mẹ cách thành thực ? 
* Là cố hoạ lại mọi nét về con người và sứ mang của Đức Mẹ.
* Là chi sẻ với Đức Mẹ lúc vui mừng cũng như khi gặp đau khổ.
* Là tiếp tay với Mẹ chăm lo săn sóc các chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô một cách mau mắn, không chần chừ.

59) Mẹ sử dụng những ai hoạt động tông đồ ? 
* Mẹ sử dụng tất cả, không trừ ai. Mẹ luôn săn sàng mau mắn đón tiếp những ai tự động đến dâng mình cộng tác với Mẹ để cứu rỗi các linh hồn.

60) Đức Mẹ đấy quyền năng sao lại phải nhờ đến sự giúp đỡ của những con người yếu kém như chúng ta ? 
* Vì Chúa muốn có sự cộng tác của loài người, muốn loài người phải cứu vớt lẫn nhau.
* Trong kho tàng ơn phước tràn đầy của Mẹ, nếu ta không giúp Mẹ, Mẹ không phân phát được. Do đó Mẹ chờ đón sự săn sàng cộng tác của chúng ta.

61) Nói rằng Chúa Giêsu và Mẹ Maria là Adam, Eva mới, chúng ta hiểu và phải sống như thế nào ? 
* Để đền bù những tội do nguyên tổ gây ra trong vườn Địa Đàng và để khai thông con đường giúp loài người đoạt lại Nước Trời, Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã chấp nhận mọi đau khổ bằng cây Thánh Giá và bằng Tình Thương.
* Bởi đó, theo ý Chúa, chúng ta phải sống với tâm tình yêu mến, biết ơn và ca tụng Mẹ vì nhờ sự liên kết với Chúa, Mẹ được giao “quản lý kho trời” để phân phát mọi ân cần thiết cho những ai biết liên kết với Mẹ.

62) Tâm tình của người Legio khi hoạt động tông đồ là gì ? 
* Không hạn chế sự cố gắng. Việc lớn việc bé người Legio vẫn làm tận lực, cho dù việc đó chỉ đống đến là xong. Người Legio làm tận lực vì Đức Mẹ.

63) Thái độ của hội viên khi làm việc là gì ? Giải thích thái độ đó. 
* Tích cực chủ động cộng tác với Đức Mẹ.
Thực sự cộng tác là bên này bù đắp những thiếu sót của bên kia. Ta hiểu tất cả mọi hoạt động, mọi khả năng nghĩa là tất cả con người của mình. Còn Đức Mẹ cũng tấn hiến bản thân tinh tuyền và quyền năng của Đức Mẹ.

64) Có phải biết rằng kết quả mà Mẹ đem lại vượt ngoài sức cố gắng của ta khiến ta có ý nghĩ mức độ cố gắng của ta là không quan trọng ?
* Ý nghĩ như thế là sai. Khi bỏ vốn chung với nhà triệu phú, người nghèo vẫn phải cố gắng thêm từng đồng để vốn ngày càng tăng lên.
* Dù hết lòng tín thác nơi sự trợ lực của Đức Mẹ, ta vẫn phải cố gắng đến mức tối đa, để lòng quảng đại của ta cũng phải vươn cao như lòng tín thác. Hãy cố gắng tận lực như tất cả đều tuỳ vào sự cố gắng của ta.

65) Nguyên tắc chính của sự hợp tác giữa hội viên Legio và Đức Mẹ là gì ? 
* Cố gắng hết sức mình dù việc khó hay dễ.
* Người Legio làm không chỉ để xong việc hay để có kết quả.
* Tin tưởng phó thác vào Mẹ là không ỷ lại vào Mẹ, là làm hết khả năng và cố gắng của mình.
* Khi ta làm tròn phận vụ mình, Mẹ sẽ trợ lực, thánh hoá, hoàn hảo, siêu nhân hoá, cải tạo những yếu hèn của ta.

66) Cách “Thành thức tôn sùng Đức Mẹ” của thánh Monfort như thế nào ? 
* Là nô lệ cho Đức Mẹ, tức là lệ thuộc hoàn toàn từ tư tưởng đến hành động, cả tài sản thiêng liêng lẫn vật chất. Dĩ vãng, hiện tại, tương lai, tất cả đều lệ thuộc vào Mẹ.

67) Ý nghĩa của sự tân hiến là gì ? 
* Là cách sống sau sự tận hiến chứ không phải là nghi lễ tận hiến.Cũng không tuỳ ở lòng sốt sắng hay bất cứ hình thức tình cảm nào.

68) Ơn ích của đời tận hiến là gì ? 
* Làm cho đời sống trong Hội Thánh được nâng cao.
* Đời sống siêu nhiên, đức tin và lòng can đảm của người tín hữu được nâng cao, đức khiêm nhượng dịu dàng, trí khôn ngoan thêm mạnh mẽ.

69) Nếu tận hiến cho Mẹ, tôi còn gì với hai bàn tay trắng khi phải ra trước toà Chúa ? 
*Nếu giao tất cả cho Mẹ, đến giờ chót trước toà Chúa, để đổi lấy hai bàn tay trắng ta được Mẹ có mặt trong phiên xử với vai trò trạng sư, là một bảo dảm vững chắc nhất.

70) Có phải ta tận hiến là lúc bị mất mát không ? 
*Tận hiến là hy sinh nhưng không có nghĩa là mất mát mà là để đổi lại một lợi ích giá trị gấp ngàn lần. Hình ảnh cậu bé hy sinh 5 cái bánh và 2 con cá để cứu đói cả ngàn người là một bằng chứng.

71) Từ phép lạ Cana chúng ta rút ra bài học gì ? 
* Khi chúng ta rộng rãi tận hiến tất cả cho Mẹ vô điều kiện, không giới hạn, nghĩa là chúng ta làm tất cả mọi việc hằng ngày hoàn toàn lệ thuộc theo ý Mẹ, như người giúp việc tại tiệc cưới Cana nghe lời Mẹ dặn, chúng ta đổ vào bình bác ái và hy sinh những thùng nước lã (là những công việc hằng ngày) thì những việc ta làm hoá thành những ơn quý cho ta và cho các linh hồn.

Nguồn : Website GP Lạng Sơn

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

MẸ MARIA DIU HIỀN XINH ĐẸP

MẸ MARIA DIU HIỀN XINH ĐẸP

Lần nọ, có 1 thanh niên ao ước được thấy Đức Mẹ hiện ra. Anh được Chúa soi sáng cho biết là người trần mắt thịt sẽ không chịu đựng nổi ánh sáng vinh quang chói loà của Đức Mẹ. Nếu chấp nhận nhìn thì sẽ bị mù mắt.

Với lòng ao ước mạnh mẽ, anh chấp nhận mù để được nhìn thấy Đức Mẹ dù chỉ 1 lần. Đức Mẹ nhân từ đã đáp ứng nguyện vọng của anh và đã hiện ra cho anh nhìn. Nhưng để có thể tiếp tục cuộc sống trần gian, khi Đức Mẹ hiện ra, anh đã vội vàng nhắm mắt phải, chỉ để mắt trái thấy Đức Mẹ thôi. Khi thấy Đức Mẹ đẹp quá, anh mở luôn mắt phải để nhìn nhưng Đức Mẹ đã nhanh lẹ biến mất.

Từ đó anh bị chột 1 mắt vì mắt trái đã mù. Sau đó, anh cứ mơ tưởng Đức Mẹ ngày đêm vì Đức Mẹ quá đẹp. Anh lại nài nẵng cầu xin Đức Mẹ hiện ra 1 lần nữa. Anh chấp nhận mù luôn con mắt phải còn lại, miễn là được chiếm ngắm Đức Mẹ, người Mẹ tốt lành của anh.

Lời cầu nguyện của anh đã được chấp nhận. Đức Mẹ nhân từ lại hiện ra âu yếm nhìn anh, còn anh thì cố gắng mở to mắt để nhìn Mẹ.

Sau đó, thay vì con mắt phải bị mù, Đức Mẹ đã cho anh sáng lại cả 2 con mắt. Vì Mẹ là Nữ Vương quyền phép nhưng cũng là Nữ Vương tình thương. Đặc biệt là tình thương với những người con bé nhỏ, ngoan ngoãn năng chạy đến với Mẹ.

Chuyện Kể Về Mẹ, CRM

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Ngày 22/08: ĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG

Ngày 22/08: ĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG

Ngày 1 tháng 11 năm 1954, bốn năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Maria hồn xác về trời, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng đội triều thiên lên tượng Đức Trinh Nữ là “sự cứu rỗi của dân Roma”. Đây là cử chỉ tượng trưng biểu thị sự công bố về vương quyền phổ quát của Đức Mẹ Maria.

Đoàn người đông đảo đứng chật quảng đường đền thờ thánh Phêrô, nhân danh cả hoàn cầu, dâng cao niềm hoan hỉ.

 Đức Thánh Cha cầm những vòng vàng dát đá quí từ khắp thế giới gởi về, để đặt trên đầu tượng Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài nói: “Xin Mẹ cai quản trên Giáo hội, trên mọi trí khôn, mọi cõi lòng, mọi cá nhân, mọi gia đình cũng như mọi xã hội và mọi quốc gia, trên mọi cộng đoàn, những người quyền thế. Xin mẹ hãy cai trị trên mọi nẻo đường và mọi quảng trường, trong thành thị và chốn thôn quê, trên nền trời, cũng như trên mặt đất và cả biển khơi.”

Ngài còn nói: “Vương quyền của Đức Maria là một thực tại siêu vượt thế trần, đồng thời lại thấm nhập mọi cõi lòng và chạm tới phần cốt yếu sâu thẳm nhất có tính cách siêu nhiên và bất tử nhất của con người.”

Đức Maria là Mẹ thánh, tước hiệu này khiến cho Mẹ được đặc ân không bị thương tổn vì tội lỗi. Vô nhiễm nguyên tội, Mẹ cũng không bị thương tổn vì sự chết. Khi kết thúc cuộc đời trần gian cũng như từ những lời đầu tiên buổi truyền tin, mẹ là tuyệt đỉnh của nhân tính bất khả xâm phạm luôn hiệp nhất với Ngôi Lời để hoàn tất công cuộc cứu rỗi thế gian. Không một ý tưởng, hành vi nào của Mẹ lại rời khỏi con Mẹ trong việc chinh phục bản tính nhân loại và việc chinh phục vũ trụ.

Trong kinh lạy Nữ Vương chúng ta xưng tụng “Thân lạy Nữ Vương, lạy Mẹ từ bi, Mẹ là sự sống, sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con”. Mẹ Maria được xưng tụng như Esther trong Cựu Ước đã cứu dân ra khỏi hoạ diệt vong, Nữ Vương có mọi quyền hành bên Đức Vua và là Đấng bầu cử linh thiêng nhất bên cạnh Đức Vua. Ngày nay, những lời ca tụng Đức Mẹ hướng về vẻ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ và uy quyền của Mẹ bên ngai tòa Chúa Giêsu. Mẹ là hoa quả tuyệt vời của ơn cứu rỗi và là hoa trái tuyệt mỹ của thập giá Chúa Giêsu “Một người nữ mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Mẹ Maria là người Mẹ đầy uy quyền trước mặt Chúa: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5).

Lễ Mông Triệu (Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời) kéo dài một tuần đến lễ Đức Trinh Nữ Vương, lễ này cho thấy Đức Mẹ Maria sáng chói như Nữ Hoàng và như Bà Mẹ, Ngài là Đấng cầu bầu cho chúng ta bên cạnh Đức Vua muôn thuở.” (Marialis cultus, 6)

Kinh Lạy Nữ Vương.

Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy, thân lạy Mẹ! Chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy kêu đến cùng Bà, chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương.

Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mắt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.

Gốc Tích Kinh Lạy Nữ Vương.

Vào khoảng năm 1100, bên Ðức, có một gia đình sang trọng đạo đức, sinh được một con trai đặt tên là Herman. Herman lọt lòng với một hình thù xấu xa lại tàn tật. Ðứa bé thấp lùn, mồm méo, lớn lên lưng còng như đai thùng, ăn nói thì ngập ngọng, lại thọt một chân. Tâm trí thì u mê tối tăm, dáng bộ ngờ nghệch không biết gì. Cha mẹ thấy con mình tàn tật dốt nát làm vậy thì thương hại, lại xấu hổ không cho con ra khỏi nhà.

Herman lên 12 tuổi, cha mẹ rước một thầy Dòng về nhà để dạy con mình. Suốt hai năm trời, Herman chỉ học được mấy lẽ cần trong đạo như: Một Thiên Chúa ba ngôi, dựng nên trời đất, tổ tông phạm tội, Ngôi Hai xuống thế làm người trong lòng Trinh Nữ Maria, chịu chết trên Thánh Giá để chuộc tội thiên hạ…

Herman lên 16 tuổi mới đủ trí khôn nhận thấy mình tàn tật và kém chúng bạn. Herman sinh buồn bã, đêm ngày những than thân tủi phận.

Thầy Dòng thấy học sinh của mình buồn bã đêm ngày, thì khuyên bảo cậu chạy đến cùng Ðức Mẹ và vững vàng trông cậy Người cứu giúp. Herman vâng lời thầy, cầu xin Ðức Mẹ ba năm trời, mà chẳng được kết quả gì. Mặc dầu vậy Herman không ngã lòng, cứ tiếp tục cầu nguyện.

Một ngày kia, Herman cảm thấy mình sầu khổ hơn mọi khi, liền đến trước bàn thờ Ðức Mẹ kêu van rằng: “Lạy Mẹ là Nữ Vương trời đất, là Mẹ nhân ái, là sức sống, là nguồn vui, là hy vọng của con, con là con cháu khốn nạn của Evà, ở chốn khách đầy đau khổ, kêu van xin Mẹ ghé mặt thương xót. Ðến giờ sau hết xin cho con được về Trời xem thấy Chúa Giêsu Con của Mẹ, lạy Mẹ nhân ái”.

Sau mấy lời kêu van thống thiết, Herman thấy Ðức Mẹ hiện ra sáng láng tốt đẹp và bảo: “Herman, con yêu của Mẹ, Mẹ đã nghe lời con cầu xin. Mẹ cho con chọn một trong hai điều này: một là khỏi các bệnh tật phần xác, hai là được trở nên thông thái, con muốn điều nào tùy ý.”

Herman bấy lâu khổ cực vì bệnh tật cũng như đau lòng vì trí khôn thấp kém. Cậu nghĩ ngợi một lúc, rồi quả quyết trả lời: “Con xin Mẹ trí thông minh.” Ðiều Herman xin đẹp lòng Ðức Mẹ. Người cho Herman được trí thông minh lại cho khỏi các tật bệnh phần xác nữa.

Từ đó Herman chăm chỉ học hành, nổi tiếng thông minh vượt hẳn chúng bạn. Sau Herman trở nên một nhà tu hành thông thái chép nhiều sách có giá trị. Ðể tạ ơn Ðức Mẹ, thầy Herman đặt lại kinh Nữ Vương cho mọi người đọc.

                 Trích sách THÁNG ĐỨC BÀ

 

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

5 Điểm Quan Trọng để Sùng Kính và Yêu Mến Đức Mẹ đúng nghĩa hơn

5 Điểm Quan Trọng để Sùng Kính và Yêu Mến Đức Mẹ đúng nghĩa hơn

Sau đây là một số điểm quan trọng để có một niềm sùng kính đúng đắn hơn với Đức Trinh Nữ Maria vinh hiển. Những điều này do Thánh Louis de Montfort đề ra; ngài là một linh mục sống hồi thế kỷ XVIII có đầy lòng sùng kính Đức Mẹ, đã dành cả đời để dẫn đưa các linh hồn nhờ Mẹ đến với Chúa.

  1. Nội tâm

Lòng sùng kính thật cần xuất phát từ tinh thần và trái tim, từ sự tôn trọng sâu xa ta dành cho Đức Mẹ Maria, từ hiểu biết của bản thân về sự vĩ đại của Mẹ, và từ cảm xúc ta có với Mẹ.

  1. Trông cậy

Nghĩa là ta thật sự tin tưởng vào Mẹ, thật sự hy vọng ơn phù trợ của Mẹ. Như một người con thơ, ta kêu xin Mẹ giúp đỡ trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi sự.

Khi nghi nan, khi lạc lõng, khi bị cám dỗ, khi mệt mỏi buồn chán, khi sa cơ thất thế, khi vô vọng bế tắc, khi đắn đo lo lắng, khi khổ cực vất vả công việc, khi bất mãn cuộc đời, trong mọi nỗi gian nan khốn khó về phần xác cũng như phần hồn, ta đều hãy kêu đến bàn tay Đức Mẹ Maria, đừng sợ Mẹ chán vì phải nghe ta mãi, hay sợ làm phiền lòng Chúa.

  1. Đạo đức Sùng kính thật là sống đạo đức, nghĩa là biết tránh xa tội lỗi, noi gương Đức Trinh Nữ thánh thiện vô song về đức khiêm nhường, đức tin, cầu nguyện liên lỉ, đức hy sinh hãm mình chịu khổ hồn xác, đức trong sạch, đức kiên nhẫn, sự dịu dàng như thiên thần, và đức khôn ngoan. Đó là 10 nhân đức hàng đầu của Đức Nữ Rất Thánh Đồng Trinh.
  2. Bền đỗ Sùng kính thật là phải lâu dài. Bền đỗ bảo đảm con người duy trì những việc lành, không dễ bỏ qua các thói quen đạo đức. Một người sốt sắng với Đức Mẹ phải là người không dễ thay đổi, cảm xúc không nhất thời, không hay ngại ngùng, cũng không nhút nhát. Tình yêu mến với Đức Mẹ dựa trên đức tin, không phải trên cảm giác hay cảm xúc vài ba bữa.
  3. Vô vị lợi

Cuối cùng, lòng sùng kính thật với Đức Mẹ là lòng sùng kính vô vị lợi, không vì để thoả mãn một điều cầu xin cụ thể nào đó rồi thôi, nhưng là một sự đơn thuần tìm kiếm Thiên Chúa qua Đức Mẹ rất thánh. Một tôi tớ đúng nghĩa của Đức Maria không phục vụ Mẹ chỉ để mong được một ơn ban tạm thời hay dài hạn về thân xác hay cả tâm linh (như mong được mạnh khoẻ hay ước có ngày được thị kiến thấy Mẹ). Ta không nên yêu mến Mẹ vì Mẹ ban điều này điều kia cho ta, hay vì ta trông mong Mẹ được nhiều, mà duy nhất là vì Mẹ đáng mến vô cùng. Tình mến ấy phải không khác biệt với một Đức Mẹ rộng rãi và đáng yêu ở tiệc cưới Cana lẫn với một Đức Mẹ buồn bã và sầu khổ ở đồi Canvê.

Gioakim Nguyễn lược dịch

Chia sẽ bài viết này trên:

Hãy Cầu Nguyện cho Hòa Bình

Hãy Cầu Nguyện cho Hòa Bình

Vào một ngày mùa xuân năm 1916, ba đứa trẻ đang chăn cừu của gia đình các em trên một sườn đồi ở vùng nông thôn Bồ Đào Nha. Hoàn toàn không biết gì về việc đất nước của mình đang có chiến tranh và Đức Giáo hoàng Benedict XV đang cầu xin sự can thiệp của Đức Maria và than khóc về Thế chiến I như một “vụ tự sát của Châu Âu”, các em vẫn ca hát, nhảy nhót và chơi các trò chơi.

Khi trời bắt đầu mưa, các em trú ẩn trong hốc đá giống như hang động và cầu nguyện chuỗi Mân côi hàng ngày như thói quen vẫn làm. Trong lúc vội vã quay trở lại trò chơi của mình, các em chỉ đọc những lời đầu tiên của mỗi lời cầu nguyện khi các em đưa ngón tay lần chuỗi: “Lạy Cha chúng con, Kính mừng Maria, Kính mừng Maria, Kính mừng …”

Vào buổi chiều ấm áp đó, Lucia dos Santos, mười tuổi và hai anh em họ Phanxicô và Giaxinta Marto, chín và bảy tuổi, đã nhìn thấy một thiên thần lần đầu tiên trong ba lần thấy thị kiến. Và những cảnh tượng này chỉ nhằm mục đích dẫn đến một điều gì đó phi thường hơn nữa đó là sự  hiện ra của Đức Mẹ Fatima.

Sứ Điệp từ Thiên Đàng. Sứ giả trên trời tự nhận mình là “Sứ Thần (Thiên Thần) của Hòa bình” và bảo các em hãy cầu nguyện và dâng hy sinh để cầu cho những người không tin vào Chúa. Trong lần hiện ra cuối cùng, Sứ Thần xuất hiện tay đang mang Thánh Thể. Người trao Thánh Thể cho các em và nói rằng: “Hãy ăn và uống Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô”. Một lần nữa, thiên thần mời các em hãy cầu nguyện thay cho những người có tội làm đau lòng Chúa.

Mặc dù không hoàn toàn hiểu lời mời gọi của Sứ Thần, các em đã đáp lại bằng sự đơn sơ chân thành. Các em để cho Chúa Giêsu lấp đầy các em với khát khao được tiếp cận với những người không tin và các em bắt đầu cầu nguyện, đồng thời tìm kiếm những cơ hội để dâng những hy sinh nho nhỏ như một cách để cầu nguyện chuyển cầu cho họ.

Đức Mẹ Mân Côi. Vài tháng sau, vào ngày 13 tháng 5 năm 1917, trong khi đang nhốt đàn gia súc của mình trên một cánh đồng, các em sợ hãi bởi một tia sáng. Khi tia sáng lóe lên lần tiếp đó, các em nhìn thấy một quả cầu ánh sáng trên ngọn cây thấp. Trong ánh sáng đó là một bà (Thánh Mẫu) xinh đẹp.

Khi Thánh Mẫu nói rằng Mẹ đến từ thiên đàng, Lucia cũng xin Mẹ đem các em lên đó. Để làm các em vui, Đức Mẹ hứa sẽ làm như vậy: Giaxinta và Phanxicô sẽ đi sớm, trong khi đó, Lucia sẽ ở lại “thêm một thời gian nữa”. Sau đó Đức Mẹ yêu cầu các em đón nhận bất cứ điều gì đau khổ có thể xảy đến, hy sinh cầu nguyện cho cả những người đã chối bỏ Thiên Chúa và như một cách để “an ủi” Chúa. Các em đồng ý. Đức Mẹ cảnh báo: “Các con sẽ phải chịu đau khổ rất nhiều, nhưng ân sủng của Thiên Chúa sẽ là niềm an ủi của các con”. Đức Mẹ nói các em hãy đọc Kinh Mân Côi mỗi ngày để cầu cho hòa bình thế giới và Mẹ đã nhẹ nhàng “sửa dạy” cách cầu nguyện rút ngắn “hiệu quả” của các em! Sau đó, Đức Mẹ rời đi và hứa sẽ trở lại vào ngày mười ba của tháng trong năm tháng tiếp theo.

Trong lần hiện ra thứ hai, vào ngày 13 tháng 6, Đức Mẹ cho các em thấy một tầm nhìn về hỏa ngục khiến các em kinh hãi khủng khiếp. Đức Mẹ dạy các em một lời cầu nguyện để thêm vào cuối mỗi mười Kinh của chuỗi Mân côi: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi xa hỏa ngục và đưa tất cả các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn đến lòng thương xót Chúa hơn”. Mỗi lần hiện ra, Đức Mẹ đều yêu cầu các tín hữu hãy phó thác thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ và lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày để cầu nguyện cho hòa bình và cho các cuộc hoán cải.

Khi thông tin về sự hiện ra (của Đức Mẹ) lan rộng, các đám đông bắt đầu tuốn về Fatima. Thống đốc địa phương, một người vô thần, đã quyết định dừng lại “những điều vô nghĩa”. Vào ngày 13 tháng 8, ông ta đã nhốt ba trẻ trong một nhà tù ẩm ướt và đe dọa sẽ nấu sôi các em trong dầu trừ khi các em phủ nhận những lần đã thấy (Đức Mẹ hiện ra). Nhưng các em đã kiên vững và Đức Mẹ đã hiện ra với các em vào ngày 19 tháng 8 sau khi các em được thả ra.

Đức Mẹ hứa rằng sẽ có một phép lạ trong cuộc gặp gỡ của Mẹ với các em ngày 13 tháng 10 và khoảng bảy mươi ngàn người đã tập trung tại cánh đồng để xem phép lạ. Ngày hôm đó, giữa một cơn mưa bão, mặt trời xuất hiện và làm khô cả cánh đồng lầy lội và những người hành hương ẩm ướt. Sau đó mặt trời quay tròn và chiếu thẳng về phía mặt đất. Các nhân chứng nhìn thấy các màu sắc liên tục thay đổi xung quanh họ. Nhiều người đã quỳ xuống cầu xin ơn tha thứ.

Không lâu sau đó, Phanxicô và Giacinta đã bị nhiễm “cúm Tây Ban Nha” và đã chết. Hai em đã được phong chân phước vào ngày 13 tháng 5 năm 2000, với sự hiện diện của chị Lucia. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II giải thích rằng các em “đã sống các nhân đức Kitô giáo ở một mức độ anh hùng mặc dù tuổi còn rất trẻ”. Đó là “những thái độ anh hùng của trẻ em, nhưng là anh hùng thực sự”.

Hơn nữa, Đức Giáo hoàng còn nói: sự thánh thiện của các tùy thuộc hoàn toàn “vào sự trung thành và dấn thân của các em trong việc đáp lại ân huệ phi thường mà các em đã lãnh nhận từ Chúa và từ Mẹ Maria… Các em là một tấm gương sáng chói… về việc vâng theo cách đơn sơ và quảng đại với hành động biến đổi của ân sủng thánh thiêng”.

Phanxicô: Làm Vui Lòng Chúa Giêsu. Trước khi gặp Đức Mẹ Maria, Phanxicô Marto không mấy đạo đức. Em đã cầu nguyện Kinh Mân Côi hàng ngày nhưng không do dự sử dụng phương pháp rút ngắn của Giaxinta. Lần đầu tiên nhìn thấy Đức Mẹ, Phanxicô đã bảo chị Lucia hãy ném đá vào Mẹ để xem Mẹ có thật không.

Phanxicô đã thay đổi sau khi Đức Mẹ hiện ra với em. Em thường mất hút để cầu nguyện và từ chối chơi cho đến khi em đọc xong chuỗi tràng hạt của mình. Phanxicô cũng đề nghị như một sự hy sinh là các em nên nhường bữa ăn trưa của các em cho đàn cừu. (Sau đó, Giaxinta đã cải thiện ý tưởng bằng cách nhường thức ăn cho các trẻ em nghèo).

Khi các trẻ bị bắt, Phanxicô vẫn kiên quyết. Tin chắc rằng các em thực sự sắp bị ném vào dầu sôi, Phanxicô nói với chị Lucia: “Nếu họ giết chúng ta, chúng ta sẽ ở trên thiên đàng trong vài phút nữa! Chúng ta thật may mắn biết bao! Em không sợ gì cả. Em hy vọng Giaxinta không sợ!”

Trong năm sau các cuộc hiện ra, Phanxicô đã dành nhiều thời gian cầu nguyện trước Thánh Thể. Khi Phanxicô và Lucia đi bộ đến trường, em nói: “Chị đi học đi, em sẽ ở đây trong nhà thờ. Thật không đáng để em học đọc, vì em sẽ sớm được lên thiên đàng”. Phanxicô trân trọng thời gian ấy để ở với “Chúa Giêsu ẩn mình (trong Thánh Thể)” và em đã dùng đó để  suy gẫm về những sứ điệp trên trời mà Đức Mẹ đã trao cho em. Với sự đơn sơ và quảng đại, em tận hiến chính mình cho đời sống cầu nguyện tha thiết và tự do từ bỏ những thú vui thời thơ ấu ngây thơ.

Giaxinta: Quyết Tâm Giúp Đỡ Những Người Hư Mất. Giaxinta có thể trông giống Phanxicô, nhưng em có một tính tình rất khác. Giaxinta năng động, vui vẻ và bốc đồng, em thích nhảy nhót và vui chơi.

Giaxinta bị xúc động sâu sắc bởi thị kiến ngày 13 tháng 6 về hỏa ngục. Từ lúc đó, em không bỏ lỡ cơ hội cầu nguyện và hy sinh cho những người khác. Em thấy không đủ để chỉ bản thân em được bảo đảm lên thiên đàng – em đã không muốn bất cứ ai xuống địa ngục. Theo cách cầu nguyện chuyển cầu của Giaxinta, em đã dành bữa ăn trưa của em cho trẻ em nghèo, thay vào đó em đã ăn quả đầu đắng và những trái ô liu xanh; em đã từ bỏ khiêu vũ và hy sinh không uống nước ngay cả trong sự oi bức của mùa hè.

Trong thời gian Giaxinta bị bệnh, mối tương quan của em với Mẹ Maria ngày càng sâu sắc. Khi Phanxicô sắp chết, Mẹ Maria hỏi Giaxinta rằng em có sẵn sàng chịu đựng và chuyển cầu lâu hơn không. Giaxinta đã đồng ý. Sau đó, khi Mẹ Maria tiết lộ Giaxinta sẽ chết một mình trong một bệnh viện tối tăm, em đã trả lời: “Lạy Chúa Giêsu, bây giờ Chúa có thể hoán cải nhiều tội nhân, bởi vì của lễ này là một sự hy sinh lớn lao”. Ở Lisbon[1], khi trải qua cuộc phẫu thuật để loại bỏ hai xương sườn mà không có thuốc gây mê, các bác sĩ đã nghe Giaxinta kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, đó là vì tình yêu của Chúa! … Bây giờ, Chúa có thể hoán cải nhiều tội nhân”.

Hành động anh hùng như vậy của một cô bé gần như không thể tưởng tượng được, nhưng trái tim non trẻ của Giaxinta đã bị say mê bởi tình yêu dành cho Chúa và em mong muốn mọi người sẽ được ở bên Chúa mãi mãi. Sự đáp trả của em đối với ân sủng Chúa làm cho em có khả năng chịu đựng những hy sinh đáng kinh ngạc bằng tình yêu và sự kiên nhẫn, tất cả thời gian em đều dành để cầu nguyện cho những người có nguy cơ lìa xa Chúa vĩnh viễn.

Hòa Bình cho Thế Giới. Sứ điệp Fatima mời gọi mỗi chúng ta hãy góp phần của mình để mang hòa bình vào thế giới và vào trái tim mỗi cá nhân bằng cách cầu nguyện chuỗi Mân Côi hàng ngày và cầu nguyện cho những người không tin.

Sự làm chứng của Phanxicô và Giacinta thôi thúc chúng ta thưa vâng (đồng ý) với Thiên Chúa một cách yêu thương và trọn vẹn như các em đã làm. Sự lựa chọn là của chúng ta. Như Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói vào tháng 10 năm 2000: “Chúng ta có thể biến thế giới này thành một khu vườn hoặc thu nhỏ nó thành một đống gạch vụn… Ngày nay, như chưa từng có trong quá khứ, nhân loại đang đứng trước ngã ba đường. Và một lần nữa, hỡi Đức Thánh Trinh Nữ Maria, ơn cứu độ nằm trọn vẹn và duy nhất nơi Chúa Giêsu, Con của Mẹ”.

Có niềm hy vọng vào lòng thương xót của Chúa! Sức mạnh của lời cầu nguyện, như được thể hiện trong cuộc sống của Phanxicô và Giaxinta Marto, có thể là nguồn cảm hứng cho chúng ta. Chúng ta hãy bắt chước các em và hãy để cho Chúa Giêsu lấp đầy chúng ta bằng tình yêu và sự quan tâm chăm sóc của Người đối với thế giới. Chúng ta hãy cầu nguyện cho hòa bình và tạo sự khác biệt trong thế giới của chúng ta!

Theo The Word Among Us (wau.org)

Saints & Heroes Resources
Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

[1] Lisbon: seaport and capital city of Portugal (Hải cảng và thành phố thủ đô của Bồ Đào Nha).

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Phép lạ thứ 70 được công nhận tại Lộ Đức.

Đền Đức Mẹ Lộ Đức ở phía nam nước Pháp là một trung tâm hành hương nổi tiếng dành cho các khách hành hương sùng kính Đức Mẹ và cho các người muốn được khỏi bệnh.

Đây là nơi chị Bernadette Soubirous đã chứng kiến Đức Mẹ hiện ra 18 lần từ ngày 11.2.1858 đến 16.7.1858. Ngày 25.2.1858, một đoàn người cảm tình đi theo Bernadette đến hang động. Sau khi cầu nguyện, cô đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rồi qùi xuống. Theo lệnh của “người thiếu nữ diễm lệ”, cô cúi xuống lấy tay cào đất. Một dòng nước vọt lên. Dòng nước đó chảy mến cho đến ngày nay, khoảng 120.000 lít nước chảy ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Khách hành hương đến uống nước và ước mong được chữa lành bệnh tật xác hồn. Nhiều người đã nhận được ân phúc nhờ uống nước Lộ Đức.

Trong số 70 ngàn trường hợp khỏi bệnh nhờ sự can thiệp của Đức Mẹ Lộ Đức, chỉ có 70 trường hợp được chính thức công nhận là phép lạ qua các thủ tục điều tra và khám nghiệm y khoa.

Ngày 11.2.2019, Lễ Đức Mẹ Lộ Đức và Ngày Thế Giới của Bệnh Nhân, Đức Cha Jacques Benoit-Gonin, Giám mục giáo phận Beauvais, đã chính thức công nhận phép lạ thứ 70 tại Lộ Đức.

Từ năm 1980, nữ tu Bernadette Moriau bị đau cột xương sống nên phải dùng xe lăn di chuyển vì không thể đi đứng được. Dì phải dùng thuốc phiện để giảm đau. Dì đi hành hương tại đền Đức Mẹ Lộ Đức năm 2008. Nữ tu 79 tuổi kể lại: Vào 10 năm trước, tôi đi hành hương đền Đức Mẹ Lộ Đức nhưng không cầu xin phép lạ. Tuy nhiên, sau khi tham dự nghi thức xức dầu bệnh nhân và chúc lành Thánh Thể cho bệnh nhân tại đền Đức Mẹ, tôi cảm thấy có gì đang xảy ra. Tôi cảm thấy thân thể khỏe mạnh và thư giãn…Tôi về phòng và có tiếng nói với tôi “hãy bỏ nạng đi”. Thật ngạc nhiên, tôi có thể đi lại…tôi rời xe lăn, đôi nạng và thuốc giảm đau”

Trường hợp Dì Moriau được trình lên Ủy Ban Y Khoa Quốc Tể để khám nghiệm việc dì được khỏi bệnh lạ lùng và khoa học không thể giải thích được về việc khỏi bệnh này. Sau khi việc khỏi bệnh được Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế nhìn nhận, hồ sơ được gửi đến Giám Mục Giáo Phận phán quyết. Sau khi Đức Giám Mục Giám Mục nhìn nhận sự kiện, việc khỏi bệnh có thể được Giáo Hội công nhận là một phép lạ.

Phép lạ là một dấu hiệu ngoại lệ của Chúa vượt qua khả năng và trật tự thụ tạo nhưng con người có thể cảm nhận được qua giác quan. Có 5 yếu tố cấu tạo:

1/. Phép lạ hoàn toàn là do quyền năng Thiên Chúa vì Thiên Chúa là nguồn gốc của phép lạ;

2/. Phép lạ vượt khỏi quyền năng của thụ tạo. Mặt trời đứng yên như được thuật lại trong sách Joshua 10,33. Mặt trời múa ngày 13.10.1917 tại Fatima;

3/. Phép lạ vượt khỏi trật tự của thụ tạo. Chúa Giêsu làm phép nước thành rượu tại tiệc cưới Cana;

4/. Phép lạ là biến cố ngoại lệ. Lazarô chết 3 ngày được Chúa cho sống lại;

5/. Phép lạ có thể cảm nghiệm được qua giác quan. Chúng ta không hiểu tại sao xảy ra nhưng cảm giác đón nhận được sự kiện lạ là những công trình của Thiên Chúa, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, của một vị thánh hay nhiều vị thánh.

Lm. Nguyễn Tất Thắng OP

Chia sẽ bài viết này trên: