Giải Đáp Thắc Mắc

Điều gì đã xảy ra với Mười Hai Vị Tông Đồ?

Điều gì đã xảy ra với Mười Hai Vị Tông Đồ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp. Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem. Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20). Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình. Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.

Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu ? Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không ?

Phêrô

Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó. Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia. Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma. Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma. Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê

Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp. Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X. Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)

Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo. Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2). Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này. Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela. Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan

Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo. Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su. Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9). Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê

Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp. Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên. Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô

Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô. Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau. Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.
Tôma

Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ. Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi”. Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)

Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài. Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải trước khi tử đạo ở Êthiopia. Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)

Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước. Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh. Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62. Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma. Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô

Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi. Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.” Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng. Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành

Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai cùng nhau giảng đạo như một cặp. Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm. Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia

Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi. Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó. Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.

________

Chú thích:

 (1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa. Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu. Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi). Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên. Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra. Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.

Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, ​​như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi. Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên. Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa. Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình. Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng. Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5. Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”. Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên. Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước. Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm! Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh. Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62. Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau. Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài. Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

Chia sẽ bài viết này trên:

Ngày 1-8: Ơn đại xá Portiuncula là gì?

Ngày 1-8: Ơn đại xá Portiuncula là gì?

Hằng năm, vào đầu tháng 8, Lịch Công Giáo lại nhắc nhở về ơn đại xá Portiuncula:

Từ trưa hôm nay (1/8) cho đến nửa đêm ngày mai (2/8), ai viếng nhà thờ giáo xứ, đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Tin Kính, thì hưởng ơn đại xá “Portiuncula”, với những điều kiện theo thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng). Ân xá này chỉ được hưởng một lần mà thôi (Ench. Indulg., ấn bản 1999, concessio 33).

Sách Lịch Công Giáo dựa vào Thủ Bản Ân Xá (Enchiridion indulgentiarum) của Tòa Thánh, năm 1999:

Một ơn đại xá được ban cho những tín hữu đọc một Kinh Lạy Cha và một Kinh Tin Kính khi viếng nhà thờ giáo xứ

  1. a) ngày lễ trọng mừng tước hiệu của nhà thờ,
  2. b) ngày “ơn đại xá Portiuncula” 2 tháng 8.

Nếu phải viếng nhà thờ hay nhà nguyện vào một ngày nhất định để được hưởng ơn đại xá, thì có thể viếng từ trưa ngày hôm trước đến nửa đêm của chính ngày.

Ơn đại xá Portiuncula là ơn mà thánh Phanxicô ở Assisi (1182-1226) đã xin Chúa Giêsu ban cho các tín hữu.

PORTIUNCULA nghĩa là “Thửa Đất Nhỏ”. Đây là thửa đất gần Assisi mà năm 1210 các đan sĩ Biển Đức đã nhượng lại để thánh Phanxicô và các anh em dùng làm nơi tu trì. Ở đó có một nhà nguyện nhỏ đổ nát. Thánh Phanxicô đã cùng các anh em xây dựng lại.

Sau này, một đại thánh đường uy nghi được xây dựng bao phủ trên nhà nguyện nhỏ bé của thánh Phanxicô xưa. Đại thánh đường này được xây dựng khoảng giữa những năm 1569-1679 và mang tước hiệu “Đức Bà Các Thiên Thần”.

Ban đầu, từ năm 1216, ơn đại xá Portiuncula chỉ được ban cho những ai viếng nhà nguyện Portiuncula. Về sau, ơn này được mở rộng đến các nhà thờ thuộc Dòng Anh Em Hèn Mọn (Dòng Phanxicô), và cuối cùng,được mở rộng đến các nhà thờ trên toàn thế giới.

Chia sẽ bài viết này trên:

ẢNH THÁNH TRONG NHÀ THỜ

ẢNH THÁNH TRONG NHÀ THỜ

Chúng ta đã xem xét những đòi hỏi về chức năng của kiến trúc nhà thờ, với những đề nghị hay yêu cầu để kiến trúc ấy phù hợp với phụng vụ và phù hợp với các khía cạnh khác trong đời sống của giáo xứ. Nhưng còn một điều khác nữa mà kiến trúc nhà thờ cần đáp ứng ngoài các khía cạnh chức năng: nhà thờ cũng có giá trị quan trọng về mặt biểu tượng. Nghĩa là, hình thức của nhà thờ tự nó nói lên được ý tưởng về “nhà thờ” vừa cho cộng đoàn giáo xứ vừa là một thành phần trong cơ cấu kiến trúc đô thị. Một cách nào đó nhà thờ cần nói lên được mình là cái gì: không phải là một toà nhà thế tục có Thánh giá đứng trên, nhưng là một toà nhà thánh: một nơi dành riêng cho Thiên Chúa và dân của Ngài. Hơn nữa, kiến trúc nhà thờ cần nói cho chúng ta về Nhiệm Thể Chúa Kitô, về Vương Quốc của Thiên Chúa, hay về Đền Thánh Giêrusalem trên Trời. Ở một chừng mực nào đó, một nhà thờ có thể bắt đầu có được đặc tính này nếu thật sự được sắp đặt hợp lý cho việc cử hành phụng vụ và cho đời sống của giáo xứ. Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhìn xa hơn việc bài trí theo chức năng để ngay cả ngôn ngữ và văn phạm của kiến trúc cũng có thể góp phần làm cho con người hiểu được những điều thuộc về Thiên Chúa. Để đưa ra một hướng dẫn cho vấn đề về các khía cạnh biểu tượng trong kiến trúc toà nhà, có thể sẽ hữu ích khi chúng ta nhìn trước hết vào ảnh tượng thánh, còn được gọi là icon, trên quy mô nhỏ, xem xét giá trị thần học, cách thực hiện trong lịch sử, và vị trí của ảnh tượng trong nhà thờ ngày nay. Rồi chúng ta sẽ chú ý đến toàn bộ kiến trúc nhà thờ và xem xét ý tưởng nhà thờ là một linh ảnh, nhà thờ đã có ý nghĩa nào trong lịch sử và trong thời đại ngày nay.

I. THẦN HỌC VÀ LỊCH SỬ VỀ LINH ẢNH

Trong suốt dòng lịch sử Kitô giáo, ảnh tượng thánh luôn là một phần quan trọng trong việc bài trí nhà thờ. Qua các bức bích hoạ, tranh khảm, tượng tạc trên đá và gỗ, hoạ ảnh và kính màu, các nghệ nhân đã đóng góp lớn lao vào chất lượng của khung cảnh nhà thờ bằng cách đặt vào nhà thờ (và trong tâm trí chúng ta) những ảnh tượng mô tả Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các thiên thần, các thánh, kể lại những câu chuyện trong Kinh Thánh và hạnh các thánh. Các Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai đã minh hoạ những nơi tụ họp và những nơi chôn cất bằng những dấu hiệu diễn tả đức tin của họ: các hình ảnh và biểu tượng về Chúa Kitô, chân dung các thánh Tử đạo và các bức bích hoạ về những biến cố trong Kinh Thánh hoặc về Thiên đàng. Họ đã thực hiện điều này vì nhiều lý do: để tưởng nhớ về những con người và những biến cố đã qua, để giúp cầm trí cầu nguyện và suy niệm, và để dạy đức Tin cho trẻ em và người dự tòng. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là nhằm diễn tả những chân lý Phúc Âm bằng phương tiện vật liệu. Từ những ngày đầu tiên, Giáo Hội đã nhận ra sự thống nhất và hoà hợp trong những cách thế mà Thiên Chúa mạc khải chính Ngài: nơi con người Chúa Kitô, trong các Lời của Phúc Âm, và trong việc dùng biểu tượng để mô tả bằng ngôn ngữ tượng trưng và đồ hoạ trong các linh ảnh.

Thật khó khăn cho các tư tưởng gia Tây phương ngày nay thấm nhuần ý tưởng về linh ảnh. Con người hiện đại hiểu về biểu tượng như thế này: biểu tượng gán cho thực tại tự nhiên một ý nghĩa thơ ca. Nhưng đối với những người tôn sùng ảnh tượng, và con người thời trung cổ nói chung, chính tự nhiên đã là một biểu tượng của thực tại. Điều “chân thực” trong văn hoá ngày hôm nay là sự kiện, dữ liệu, thông tin có thể định lượng – tiên vàn, đó là điều mang tính vật chất và vì thế có thể chứng minh bằng khoa học và toán học. Não trạng này thường đưa chúng ta rơi vào cái bẫy là trở thành người quan sát tách biệt với thực tại. Thế nhưng, đối với những người trước thời triết gia Descartes và những người phi bác phong trào Khai sáng, thì điều chân thực mang tính thiêng liêng và thuộc về Thiên Chúa, Đấng tạo dựng vũ trụ và do đó, cũng là Đấng xác định thực tại vật chất. Truyền thống thánh Augustine và Kinh viện nhận ra rằng tất cả các loài thụ tạo phản ảnh Đấng Tạo hóa, nghĩa là giống với Đấng Tạo hóa theo “vết tích”, nghĩa là theo dấu vết để lại. Những thụ tạo có lý trí giống như Đấng tạo thành theo “hình ảnh”, chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta được tạo thành theo hình ảnh Ngài. Vì thế, những gì được nhận biết qua biểu tượng, linh ảnh, không phải là tri thức có được nhờ suy tư trừu xuất (abstraction) hay phân tích khách quan (detached analysis). Đúng hơn, đó là sự nhận biết sâu xa và sống động nhờ sự tương thông, giống như những người yêu nhau nhận biết nhau. Nhờ sự tương thông hoàn toàn nhân bản này trong thế giới được tạo thành, chúng ta có thể tiến đến việc nhận biết Thiên Chúa trong một mối tương quan sâu sắc và mang tính toàn diện vốn dĩ là mục đích của việc Thiên Chúa tạo dựng nên chúng ta. Tất cả mọi sự đều dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa. Vì thế, tất cả mọi sự đều là dấu chỉ tượng trưng cho thực tại đằng sau biểu tượng. Đó là lý do tại sao đối với người trung cổ, biểu tượng là “định nghĩa có giá trị khách quan duy nhất về thực tại”.

Trong Kitô giáo ở cả Đông phương và Tây phương, việc xác định giá trị và giải thích ảnh tượng thánh đều được phát xuất từ một nguồn: Dinonysio Areopagite. Nhà thần học bí nhiệm của thế kỷ 16 này đã viết rằng toàn bộ công trình sáng tạo là một cuộc “thần hiện” (theophany), nghĩa là Thiên Chúa tự tỏ mình ra. Bởi vì lý trí hữu hạn của con người không có khả năng thấu hiểu sự vô biên của Thiên Chúa, cho nên Thiên Chúa tự mạc khải chính mình Ngài cho con người qua Kinh Thánh, qua công trình sáng tạo và qua các hình ảnh. Dĩ nhiên ý tưởng này chỉ khai triển điều mà Thánh Phaolô đã viết: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người.” (Rm. 1,19-20). Điều chúng ta biết về Thiên Chúa và công trình sáng tạo của Ngài được mạc khải qua hình ảnh, hoặc eikon trong tiếng Hy lạp. Quan trọng hơn hết, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mạc khải vĩ đại là Con của Ngài, Chúa Giêsu Kitô, “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15). Có rất nhiều đoạn Kinh Thánh khác nói đến nền tảng Kitô học của hình ảnh (x. Ga. 1,18; 12,45; 14,9; 2Cor. 4,4). Điều quan trọng là các nhà thần học nói đến Ngôi thứ Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa – Ngôi Lời làm Người – là “Hình ảnh Nguyên thủy”. Chính nhờ mầu nhiệm Nhập thể mà bây giờ giữa lãnh vực thiêng liêng và lãnh vực vật chất có mối liên hệ đã được phục hồi. Vì thế ảnh tượng vật chất được phép biểu hiện thực tại thiêng liêng đích thực. Đó là mối liên hệ do chính Thiên Chúa ấn định. Đây không phải là sự “cách tân” do Kitô giáo đem lại. Dù nghệ thuật Do Thái nói chung là bài trừ ảnh tượng, các Giáo Phụ đã nhận ra điều đáng ngạc nhiên là do lệnh truyền của Thiên Chúa mà con người được phép diễn đạt các thực tại thiêng liêng qua nghệ thuật vật chất; Ngài đã truyền cho Môisen xây dựng Nhà Tạm có tượng Kêrubim mạ vàng. (x. Xh. 25,18; 26,1 và 31).

Nhận thức này quan trọng vì nó bảo vệ những hiểu biết của chúng ta về Mầu nhiệm Nhập thể cũng như về ảnh tượng. Một mặt, nhận thức ấy cho thấy rằng nhờ có mối tương quan giữa thế giới thánh thiêng và thế giới vật chất do chính Đấng Tạo hóa ấn định mà chúng ta có được biến cố Nhập thể trọng đại. Mặt khác, nhận thức ấy cũng chỉ ra nền tảng Kitô học cho các ảnh tượng. Mọi quan điểm chính thống trong Thánh Mẫu học, Giáo Hội học, Bí tích học hay Cánh chung học đều có nền tảng từ Kitô học. Các quan điểm ấy, hoặc là bảo vệ và giải thích rõ về Kitô học chính thống, hoặc là phát triển từ Kitô học một cách hợp lý. Vì thế ảnh tượng, cũng giống như giáo lý về Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội hay linh mục thừa tác là Chúa Kitô khác, có được sự chính danh nhờ Con Người của Chúa Kitô.

Truyền thống ảnh tượng cổ xưa nhất có chuyện kể về ông vua xứ Edessa tên là Abgar bị bệnh phong cùi trong thời gian Chúa Kitô thực hiện sứ vụ dương thế. Nghe nói về những phép lạ của Chúa Giêsu, vua Abgar sai sứ thần Hannan (hay Anania) trảy đi Giêrusalem mời Chúa Giêsu đến chữa bệnh cho ông. Hannan không thể đến gần Chúa Giêsu vì dân chúng quá đông, nhưng vốn là viên quan trông coi văn khố và là hoạ sĩ trong triều đình Abgar, ông Hannan cố gắng hoạ lại chân dung Chúa Giêsu. Ông thấy mình không vẽ nổi chân dung ấy bởi vì “vinh quang không thể mô tả được trên gương mặt Chúa Giêsu đang biến đổi nhờ ân sủng.” Biết việc Hannan đang cố làm, Chúa Giêsu bảo người ta đem nước và khăn để Người rửa mặt. Hình ảnh gương mặt Người lập tức in lên chiếc khăn một cách kỳ diệu. Người đưa chiếc khăn cho Hannan để đem về chữa bệnh cho vua Abgar kèm theo lời nhắn gửi là Người không thể đi được vì còn đang thi hành sứ mạng cho dân Israel, nhưng Người sẽ sai môn đệ đi thay. Sau khi Chúa lên Trời, thánh Tađêô đến thăm xứ sở Edessa, rao giảng Tin Mừng cho vua Abgar và thần dân của ông. Bức chân dung kỳ diệu này, được gọi là “linh ảnh do Chúa thực hiện”, là nguồn gốc của bức linh ảnh Mandylion hay linh ảnh Thánh Nhan [hình 1].

Bức linh ảnh này nổi tiếng trong toàn Giáo Hội, và đã có nhiều văn bản đề cập đến bức linh ảnh ấy, bao gồm tường thuật của những người tận mắt chứng kiến. Người ta biết đến linh ảnh lần cuối cùng vào thời Thập Tự Chinh, khi đó bức linh ảnh hoặc là bị Giáo Hội Đông phương cất giấu đi, bị người Hồi giáo phá huỷ, hoặc bị thất lạc khi được quân lính Thập Tự Chinh đưa về châu Âu. Chắc chắn linh ảnh Mandylion đã được biết đến, và có lẽ đã được tôn kính, ở Winchester vào cuối thời Trung Cổ, vì có chứng cứ là chủ nhân các hầm mộ các tay đỡ trong kiến trúc trưng bày linh ảnh Thánh Nhan.

Những linh ảnh quan trọng khác trong thời kỳ đầu về Chúa Kitô gồm có Tấm Khăn Liệm thành Turin [hình 2], Khăn của bà Veronica, các bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh và Chúa Giêsu thơ ấu được cho là do thánh Luca vẽ ở nhiều nơi khác nhau quanh vùng Địa Trung Hải. Những bức linh ảnh “không do tay người phàm thực hiện”, tức linh ảnh Mandylion, Tấm Khăn Liệm, Khăn của bà Veronica, có tầm quan trọng đặc biệt đối với các Kitô hữu, vì những bức linh ảnh ấy xác nhận “những bằng chứng không thể phủ nhận của Mầu nhiệm Nhập thể”.

Dĩ nhiên, ngày nay chúng ta không chỉ đánh mất ý tưởng về ảnh tượng thánh, mà ngay cả từ biểu tượng cũng đã mang những ý nghĩa mới mẻ đầy tính vật chất trong cách nói thông thường. Trong thuật ngữ tin học, biểu tượng (icon) mang ý nghĩa là một hình ảnh trên màn hình. Tuy nhiên, cách sử dụng hiện tại có điểm tương đồng với ý nghĩa ban đầu. Biểu tượng trên màn hình máy tính là một loại cửa sổ mở ra một cấp độ thông tin khác. Thật đáng ngạc nhiên, cách sử dụng này lại trung thành với ý nghĩa nguyên thuỷ, vì trong thần học thần nghiệm, biểu tượng là một ảnh thánh, một loại cửa sổ mở ra một cấp độ thấu hiểu thiêng liêng, qua đó con người chiêm ngắm thực tại thiêng liêng. Điều quan trọng không ở nơi vật thể nhưng trong chủ thể, cũng như biểu tượng máy tính có giá trị chỉ ở chỗ nó mở đường tiếp cận một điều gì khác. Ảnh tượng thánh trình bày một thực tại vô hình, chẳng hạn nói đến một vị thánh đang ở trên Thiên Đàng, hay gợi lại một biến cố trong Kinh Thánh, và ảnh tượng thánh được sử dụng như phương tiện để chiêm ngắm về biến cố ấy.

II. CHỦ TRƯƠNG BÀI TRỮ ẢNH TƯỢNG

Một thời, Giáo Hội đã phải bênh vực địa vị của ảnh tượng thánh chống lại lạc giáo “bài trừ ảnh tượng”, tức nhóm người cho rằng tôn kính ảnh tượng thánh là thờ ngẫu tượng. Tông thư Duodecimum Saeculum (Kỷ niệm 1200 năm Công đồng Nicea II) của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II chỉ là tiếng nói mới mẻ nhất nhắc lại giáo huấn lâu đời của Giáo Hội. Có lẽ cuộc tấn công trực tiếp và tàn khốc nhất xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ 8 với Cuộc Tranh Luận Bài Trừ Ảnh Tượng. Bằng giọng văn súc tích, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II giải thích quan điểm của những người bài trừ ảnh tượng như sau:

Khi tách ra khỏi truyền thống chính thức của Giáo Hội, phong trào bài trừ ảnh tượng cho rằng tôn kính ảnh tượng là quay về với việc thờ ngẫu tượng. Đầy mâu thuẫn và mơ hồ, họ cấm những tác phẩm thể hiện Chúa Kitô và các ảnh tượng tôn giáo nói chung, nhưng lại tiếp tục cho phép sử dụng những hình ảnh có tính báng bổ, nhất là những hình ảnh về hoàng đế kèm theo những dấu hiệu sùng kính. Luận cứ bài trừ ảnh tượng dựa trên nền tảng Kitô học. Làm sao có thể mô tả Chúa Kitô, Đấng duy nhất trong Ngôi vị, mà không tách biệt hoặc lẫn lộn thiên tính nhân tính của Người? Không ai có đủ khả năng diễn đạt thiên tính bất khả thấu đạt của Người. Thể hiện nhân tính Chúa Kitô tức là tách rời thiên tính ra khỏi nhân tính nơi Người. Chọn nhân tính hay thiên tính đều là ngả theo hai lạc thuyết trái ngược nhau về Chúa Kitô: lạc thuyết Nhất tính và lạc thuyết Nestôriô. Bởi lẽ, khi cố gắng diễn đạt Chúa Kitô trong thiên tính của Người, người ta nhất thiết phải giảm thiểu nhân tính của Người. Còn khi chỉ trình bày hình ảnh nhân tính, thì người ta sẽ giấu đi sự thật Người cũng là Thiên Chúa.

Để trả lời cho các luận cứ này, Công đồng Nicea II đã tái xác định giáo lý về ngôi hiệp, và dưới ánh sáng của tín điều ấy, Công đồng đã bênh vực và giải thích tính cách chính đáng của việc chế tác và tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô cùng các thánh. Công đồng đã viện dẫn các Giáo phụ, nhất là những lời của thánh Basiliô: “Tôn kính ảnh tượng là tôn kính nguyên mẫu của ảnh tượng; và ai tôn kính ảnh tượng là tôn kính vị được thể hiện bằng ảnh tượng.” Khi viết: “Biểu trưng thì khác với điều được biểu trưng”, thánh Gioan Đamascenô nhằm bênh vực tính chính đáng của việc biểu trưng bằng ảnh tượng, đồng thời phân biệt việc biểu trưng này với hành vi tôn thờ ngẫu tượng. Các giáo huấn này liên tiếp nhận được sự ủng hộ: ngay sau Công đồng Nicea II, các giáo huấn này được sử dụng để chống lại hoàng đế Charlemagne của Tây phương cũng như chống lại hoàng đế Leo Armenian bên Đông phương; sau này tại Công đồng Trent, các giáo huấn này một lần nữa được vận dụng để chống lại phái Calvin và những người bài trừ ảnh tượng thuộc phái Zwingli trong phong trào Cải cách.

Cho đến ngày nay, Giáo Hội vẫn tiếp tục đề cao việc chế tác và tôn kính ảnh tượng thánh. Công đồng Vatican II dạy: “Phải nhiệt thành tuân giữ những sắc lệnh được ban hành vào thời kỳ đầu liên quan đến các ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Mẹ Đồng Trinh và các thánh” Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng khẳng định chỗ đứng của ảnh tượng trong Phụng tự Công giáo: “Cũng như việc đọc những cuốn sách vật chất cho phép chúng ta nghe Lời hằng sống của Thiên Chúa, thì việc trưng bày ảnh thánh cho phép những ai chiêm ngắm ảnh ấy nhờ thị giác mà được tham dự vào mầu nhiệm Cứu độ.” Việc sách Giáo lý Hội thánh Công giáo rất chú ý bàn về ảnh tượng thánh cho thấy đó vẫn là mối quan tâm đặc biệt của Huấn quyền, nhất là trong thời đại bài trừ ảnh tượng kiểu mới ngày nay:

Ngôi Lời đã làm người bằng cách nhận lấy một nhân tính thực sự, nên thân xác của Đức Kitô cũng bị giới hạn (x. Cđ. Latran 649. DS. 504). Do đó, gương mặt nhân loại của Đức Giêsu có thể được “họa lại” (Gl 3, 2). Trong Công đồng chung thứ VII (Nicea II năm 787), Hội Thánh nhìn nhận việc họa lại hình ảnh của Người là chính đáng.

Mệnh lệnh của Thiên Chúa cấm mọi hình thức tạc tượng vẽ hình Thiên Chúa bằng bàn tay con người. Sách Đệ Nhị Luật giải thích:”Anh em đã không thấy hình thể nào, ngày Đức Chúa phán với anh em tại núi Hô-rép từ trong đám lửa, vì thế đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì…”. Chính Thiên Chúa siêu việt tuyệt đối đã tự mạc khải cho Israrel. “Người là mọi sự” nhưng đồng thời, “vượt trên tất cả các công trình Người làm”. Người là “tác giả của mọi vẻ đẹp”.

Tuy nhiên, ngay từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh hay cho phép làm những hình tượng biểu trưng ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời Nhập thể: ví dụ con rắn đồng, khảm giao ước và các Kêrubim.

Dựa vào mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập thể mà Công đồng chung thứ bảy, ở Nicea (năm 787), đã biện minh cho việc tôn kính ảnh tượng thánh, như ảnh tượng Đức Kitô, Mẹ Thiên Chúa, các thiên thần và tất cả các thánh, để chống lại phái bài ảnh tượng. Khi Nhập thể, Con Thiên Chúa đã mở ra một “nhiệm cuộc” mới cho ảnh tượng.

Khi tôn kính ảnh tượng, các Kitô hữu không nghịch lại điều răn thứ nhất cấm thờ ngẫu tượng. Thực vậy, “khi tôn kính một ảnh tượng, chúng ta hướng tâm hồn lên nguyên mẫu của ảnh tượng” và “ai tôn kính ảnh tượng là tôn kính vị được thể hiện bằng ảnh tượng”. Đối với ảnh tượng thánh, chúng ta chỉ “tôn kính” chứ không thờ phượng, vì chỉ được thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi: “Phụng tự không hướng đến tự thân các ảnh tượng như là thực thể, nhưng theo khía cạnh riêng của chúng xét như những hình ảnh dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa Nhập thể. Việc tôn kính không dừng lại ở ảnh tượng, nhưng vươn tới chính thực tại được hình ảnh biểu thị”.

Vì thế, Giáo Hội luôn tiếp tục xác định nền tảng nghệ thuật Kitô giáo là Mầu nhiệm Nhập thể. Phẩm giá con người đòi hỏi điều ấy. Con người chúng ta có thân xác và linh hồn. Chúng ta có các giác quan cũng như có ý chí, trí tuệ và trí tưởng tượng. Chúng ta được tạo dựng với khả năng đáp ứng nghệ thuật tôn giáo, với tâm hồn có thể rung cảm trước tác phẩm khắc họa chân dung cái đẹp và sự thật. Qua hình ảnh hữu hình, tâm hồn chúng ta được nâng cao lên đến thực tại vô hình. Việc tôn kính ảnh tượng bắt nguồn từ các chân lý được Thiên Chúa mạc khải, trong các tín điều về Mầu nhiệm Sáng Tạo, Mầu nhiệm Nhập thể và Mầu nhiệm Cứu Chuộc. Đức Thánh Cha tóm tắt như sau: “Nghệ thuật có thể trình bày hình dáng gương mặt nhân loại của Thiên Chúa, và dẫn dắt những người chiêm ngắm đi vào mầu nhiệm khôn tả là Thiên Chúa đã làm người để cứu độ chúng ta.”

III. THÁNH GIÁ LÀ ẢNH TƯỢNG THÁNH

Chúng ta đã xem xét các khía cạnh lịch sử và phụng vụ của Thánh giá trong chương 4. Ở đây nên nêu ra vài ghi nhận về ý nghĩa thần học của Thánh giá xét như là ảnh tượng, vì điều này có thể giúp chúng ta có được kiến thức tổng quát hữu ích hơn về biểu tượng.

Ở nhiều khía cạnh, Thánh giá là biểu tượng trung tâm của Đức Tin. Người ta nói rằng Thánh giá “là hình ảnh cụ thể diễn tả thần học về ảnh tượng, tức thần học về Mầu nhiệm Nhập thể và Hiển dung”. Thánh giá lên tiếng hùng hồn nhất về Mầu nhiệm Nhập thể, vì Chúa Con đã trở thành con người, và khi làm người, Người đã chịu đóng đinh vào Thánh giá để cứu độ chúng ta. Người đã mặc lấy xác phàm, và điều này chúng ta có thể hiểu được nhờ các giác quan của mình: Ngôi Lời đã làm người, vì thế chúng ta có thể khắc hoạ Ngôi Lời.

Nếu không có mạc khải mới mẻ này nơi Chúa Kitô, chúng ta buộc phải chấp nhận luật của Môisen và của Hồi giáo cấm dùng ảnh tượng mô tả Thiên Chúa vô hình. Nhưng dưới ánh sáng của Mầu nhiệm Nhập thể, chúng ta có thể tự hào vì Thiên Chúa đã làm người và Người là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1, 15). Hình ảnh Đấng chịu đóng đinh cũng nói lên Mầu nhiệm Nhập thể: Chúa Giêsu đến đem ơn cứu chuộc bằng những đau khổ của Người khi dâng mình làm Lễ vật tinh tuyền để cứu độ thế gian. Đó là sứ điệp trung tâm của Thánh giá và là lý do tại sao Thánh giá là trung tâm của phụng vụ thánh. Do đó, Thánh giá không có tượng Chúa Giêsu làm cho Phụng vụ bàn thờ nghèo nàn đi vì không đưa chúng ta vào trọn vẹn hành vi cứu chuộc chúng ta.

Thánh giá cũng nói lên thần học về Chúa hiển dung: trong Chúa Kitô có một mối tương quan mới (hay có lẽ mối tương quan được phục hồi) giữa vật chất và tinh thần. Chúa Kitô liên kết mọi sự “trên Trời, dưới đất và cả trong nơi âm phủ” (x. Pl 2,10). Mầu nhiệm Chúa hiển dung, tức mầu nhiệm mạc khải cho chúng ta sự cao trọng của mầu nhiệm Nhập thể, cho chúng ta thấy rằng vật chất có thể được thánh hoá để trở thành khí cụ thánh hoá. Giờ đây, chúng ta có thể tham dự vào mầu nhiệm của Thiên Chúa với các giác quan, trí tưởng tượng, tình cảm, ý chí và trí tuệ của chúng ta. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là biến cố hiển dung ám chỉ mức viên mãn của quá trình con người nên giống Thiên Chúa trong vinh quang Phục sinh. Trong Chúa Kitô, con người được mời gọi “biến hình”, được “biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cor 3,18), khi “chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3,2), và “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21).

Tiến trình này, chuyển hóa thông qua vật chất, tức trung tâm của khoa ảnh tượng học, là chìa khoá mở cho chúng ta đi vào những hiểu biết của thời Trung cổ về ý nghĩa tượng trưng của thánh đường kiểu Gô-tích, một tiến trình được coi là “chiêm ngắm thần nghiệm” mà chúng ta sẽ xem xét trong chương sau. Bây giờ, để kết thúc phần bàn về biểu tượng Thánh giá, xin dẫn lời đúc kết của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II như sau: “Việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô bao hàm toàn bộ niềm tin vào thực tại Nhập thể và ý nghĩa vô biên của mầu nhiệm ấy đối với Giáo Hội và thế giới. Nếu Giáo Hội thực hành việc tôn kính ấy, đó là vì Giáo Hội tin tưởng rằng Thiên Chúa được mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô đã thật sự cứu chuộc và thánh hoá xác phàm cùng toàn bộ thế giới cảm giác, tức con người ngũ quan, và cho phép họ ngày càng đổi mới theo hình ảnh Đấng tạo hóa (x. Cl 3,10).”

VI. VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ CỦA CÁC ẢNH TƯỢNG

“Phải kiên quyết duy trì thói quen đặt ảnh tượng thánh trong các thánh đường để các tín hữu tôn kính; tuy thế số các ảnh tượng ấy chỉ vừa phải thôi và phải được sắp xếp sao cho thích hợp” (Hiến chế về Phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 125)

Cần xét xem lời Công đồng Vatican II kêu gọi tôn kính ảnh tượng có ý nghĩa như thế nào đối với giáo xứ hiện đại. Quan trọng nhất, lời Công đồng không cho phép tùy ý thi hành. Theo ghi nhận của J. Saward, tại Công đồng Nicea II “việc đặt ảnh tượng trong nhà thờ… không phải chỉ là được phép, mà đó là sắc lệnh… Đối với Công giáo và Chính thống giáo, ảnh tượng Kitô giáo không phải là điều tùy nghi dùng để trang trí, nhưng là mệnh lệnh thuộc tín lý.” Như Đức giáo hoàng Piô XII đã viết trong Thông điệp Mediator Dei (Đấng Trung gian của Thiên Chúa): “Chẳng hạn, ý muốn đưa ảnh tượng ra khỏi nhà thờ là điều sai lầm”. Trái lại, ngài cũng khiển trách “việc đưa vào quá nhiều ảnh tượng một cách vô lý”. Vì thế, trong khi ảnh tượng thánh là một phần của môi trường thờ phượng Công giáo, số lượng ảnh tượng nên ở mức vừa phải, kẻo ý nghĩa của ảnh tượng bị giảm sút do sự trùng lặp. Phải liệu sao cho những ảnh tượng này, dù là tác phẩm hội hoạ, điêu khắc hay kính ghép, đều là sự diễn đạt bằng ngôn ngữ kiến trúc cho câu trích trong thư Do Thái: “Chúng ta được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” (Dt. 12,1). Chớ để lòng sùng kính các thánh bị đánh mất đi vì não trạng bài trừ ảnh tượng thời hiện đại; có thể thấy rõ điều này qua việc Tòa Thánh nêu gương nuôi dưỡng lòng sùng kính ấy. Về mặt này, đáng lưu ý rằng Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong thánh cho nhiều vị thánh hơn bất cứ vị giáo hoàng nào trước kia, và có lẽ vào cuối triều đại giáo hoàng của ngài, ngài đã phong thánh cho nhiều vị hơn tất cả các vị giáo hoàng tiền nhiệm cộng chung lại! Những trường hợp này, cũng như công cuộc đang thực hiện của Uỷ ban Toà Thánh về các thánh Tử đạo, cung cấp thêm cho chúng ta những mẫu mực về sự thánh thiện và sự hy sinh trong một thời đại mà lối sống vị kỷ ngày càng gia tăng.

Trong khi lưu ý việc Đức giáo hoàng nhấn mạnh đến communio sanctorum (sự hiệp thông các thánh), cũng nên xem lại vai trò của ecclesia triumphans (Giáo Hội khải hoàn). Theo dòng lịch sử Giáo Hội, các thánh luôn hiện diện trong các tác phẩm bích hoạ, kính ghép, kính màu và điêu khắc. Ngay từ thời kỳ đầu tiên, Giáo Hội luôn tôn kính các thánh Tử đạo không chỉ bằng việc lưu giữ thánh tích của các ngài, mà còn bằng những bức tranh sinh động trong các hang toại đạo, martyria (các thánh đường có mộ thánh Tử đạo) và trong các nhà thờ. Những bức tranh cổ trong các hang toại đạo ở Rôma cho thấy đông đảo các vị thánh tiến vào Thiên Đàng, có các thánh khác và các thiên thần đi cùng. Nền điêu khắc Công giáo thời kỳ sơ khai không thường xuyên mô tả các thánh, nhưng hiển nhiên các bức bích hoạ và tranh khảm Byzantine để trang trí các nhà thờ và giếng rửa tội thời sơ khai đã nói lên sự cho phép thể hiện chư thánh bằng ảnh tượng [hình 3].

Trong lịch sử xây dựng nhà thờ, việc trưng bày ảnh tượng các thánh đã được duy trì như lời nhắc nhớ về thực tại linh thiêng vượt lên trên thế giới vật chất, thế giới mà Kinh Tin Kính của Công đồng Nicea tuyên xưng là công trình của Thiên Chúa, “Đấng tạo thành trời và đất, muôn vật hữu hình và vô hình”. Theo truyền thống, các ảnh tượng này có nhiều chức năng: huấn luyện đức tin cho những người không biết chữ, nhắc nhở người tín hữu về ơn gọi của họ, làm đối tượng giúp người ta chiêm niệm, và trang hoàng cho nhà của Thiên Chúa trở thành biểu hiện của thành thánh Giêrusalem trên Trời với “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ, đứng chầu trước ngai” (Kh.7,9). Ngày nay, các lý do “truyền thống” vẫn còn phù hợp để giải thích việc trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ: các ảnh tượng nhắc nhở về Đức Tin, giúp chúng ta dạy dỗ trẻ em, và – có lẽ cũng quan trọng không kém – ảnh tượng tiếp tục đem đến một đối tượng sùng kính để người chia trí mông lung có thể cầm lòng mà chiêm niệm.

Trong cả hai Hiến chế Sacrosanctum Concilium (về Phụng Vụ Thánh) và Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân), Công đồng Vatican II nhấn mạnh lại một cách đặc biệt về vai trò của các thánh và việc cổ vũ lòng tôn kính các ngài. Dưới ánh sáng của các văn kiện này, hành vi loại bỏ ảnh tượng ở những năm tháng sau Công đồng và sự say mê kính màu trừu tượng trong thời gian gần đây dường như sai lầm về căn bản và thậm chí mang tính bài trừ ảnh tượng. Trong khi hình ảnh đồ hoạ đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội hiện đại, như chúng ta thấy trong phim ảnh, phim nhạc rock, truyền hình, các tạp chí hào nhoáng và các phương tiện quảng cáo, thì dường như trong Giáo Hội vẫn còn có sự miễn cưỡng thâm căn cố đế đối với ảnh tượng thánh. Đó là một dạng tâm lý thù ghét ảnh tượng. Trong cuốn sách Moments of Vision (Những Khoảnh Khắc Nhìn Xa), Kenneth Clerk trình bày diễn tiến lịch sử của sự thù ghét ảnh tượng, đồng thời đưa ra những phân tích thú vị về tâm lý này. Tác giả đề cập đến những nguyên nhân triết lý, tôn giáo, xã hội và phong cách của hiện tượng này qua nhiều thời đại. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ luận điểm của ông không giải đáp được các vấn đề do sự thù ghét ảnh tượng trong Giáo Hội Công giáo (mặc dầu dĩ nhiên đó không phải là ý định của ông). Tôi muốn nêu lên rằng vấn đề của Công giáo thời hiện đại có hai mặt. Thứ nhất, đó là phản ứng đối với “nghệ thuật phế thải” kém cỏi. Hơn năm mươi năm trước, Maritain đã than thở về “tính ủy mị đáng hổ thẹn của nhiều sản phẩm thương mại” chỉ dành cho “số đông những người Kitô hữu có thị hiếu thấp kém.” Đành rằng qua một bức tượng Đức Mẹ bằng thạch cao sơn màu, “Thiên Chúa có thể đánh động tâm hồn con người nên sốt sắng… chẳng khác nào trước một kiệt tác tuyệt vời”, nhưng rất nên loại bỏ những bức tượng có nghệ thuật kém cỏi. Tuy nhiên, vấn đề ngày nay là những bức tượng Đức Mẹ bằng thạch cao ấy và những chặng Đàng Thánh giá thô thiển đã được thay thế bằng những bức tranh trừu tượng không giúp con người tiếp xúc với những thực tại thiêng liêng thuộc đề tài của tranh. Thứ hai, đa phần các phản ứng tiêu cực đối với ảnh tượng có lẽ do ước muốn “được coi trọng” và “được chấp nhận” bởi xã hội buông thả cho rằng trưng bày ảnh tượng tôn giáo là thờ ngẫu tượng, là đa cảm và dị đoan. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng các Kitô hữu được mời gọi để trở nên “dấu hiệu cho người ta chống đối” khi bắt chước Thiên Chúa. Từ Công đồng Vatican II, Giáo Hội đã đi đến chỗ có sự chấp nhận dễ dãi nào đó, một kiểu “đi theo số đông” (mainstreaming) mà chẳng mấy người muốn từ bỏ. Đối với tôi, dường như chỉ khi nào chúng ta vượt qua những kềm hãm này thì ảnh tượng các thánh mới có thể tìm được chỗ đứng thích hợp trong nhà của Thiên Chúa.

V. NHỮNG CHỈ DẪN TỔNG QUÁT

Nhưng thế thì “chỗ đứng thích hợp” là gì? Mặc dù hiện nay đã không còn vấn đề ảnh tượng được trưng bày đầy trên các bàn thờ phụ (khiến thông điệp Mediator Dei khiển trách), nhưng rõ ràng vẫn cần có sự hiểu biết về thứ bậc của các tượng ảnh. Tất nhiên, ảnh tượng duy nhất phải có trong thánh lễ là Thánh giá, nhưng trong bất cứ nhà thờ nào cũng có những ảnh tượng khác rất phù hợp như ảnh tượng Đức Mẹ Đồng Trinh, Thánh bổn mạng nhà thờ và các chặng Đàng Thánh giá. Và may mắn, đã có những chỉ dẫn tổng quát để sắp đặt các tượng ảnh trong nhà thờ sao cho phù hợp. Khi hoạch định số ảnh tượng đưa vào nhà thờ, có nhiều điều phải xem xét. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma chỉ nói rằng ảnh tượng cần được đặt “cách nào để không làm giáo dân chia trí trong lúc cử hành phụng vụ.” Trong khi ý tưởng “làm chia trí” có vẻ hơi chủ quan, thì cũng có những giải pháp khách quan. Điều quan trọng nhất là không bao giờ đặt ảnh tượng trên bàn thờ, còn ảnh tượng thánh bổn mạng nhà thờ hoặc của bàn thờ thì nên đặt ở một vị trí thích hợp và thứ yếu trong cung thánh. Cũng nên xem xét cẩn thận kích cỡ của ảnh tượng so với diện tích cung thánh và quy mô nhà thờ: ảnh tượng không quá to đến nỗi lấn át và không quá nhỏ để khỏi mất đi ý nghĩa. Một số tác giả khuyên không nên đặt các ảnh tượng khác trong cung thánh mặc dù điều ấy không bị cấm.

Quy chế tổng quát sách lễ Rôma cũng viết: “Cần… giới hạn số lượng ảnh tượng… Chỉ trưng bày một ảnh tượng của vị thánh nào đó.” “Giới hạn số lượng” cũng là một hướng dẫn có tính chủ quan, mà Giáo Hội công nhận bằng cách xác định: “Nói chung, lòng đạo đức của toàn thể cộng đồng (NV nhấn mạnh) phải là tiêu chí xem xét số ảnh tượng trong việc bài trí và sắp xếp nhà thờ.” Tôi nghĩ rằng khi Giáo Hội ra lệnh chỉ được trưng bày một ảnh tượng duy nhất của một vị thánh đặc biệt, thì lệnh ấy nhắm đến khu vực dành tôn kính vị thánh ấy hơn là cấm tiệt việc trưng ảnh tượng trùng lặp. Nghĩa là, xem ra không phải là phạm luật nếu đã có ảnh ghép kính màu thánh bổn mạng Gioan Tẩy giả trên vòm mái, lại có ảnh họa Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại giếng Rửa tội, và thêm tượng thánh Gioan Tẩy giả ở khu vực dành tôn kính Thánh bổn mạng. Điểm chính của lệnh này là chỉ được phép có một nơi tôn kính, với nến đặc trưng là những cây nến khấn, cho bất cứ vị thánh đặc biệt nào. Lệnh không áp dụng cho Thánh giá và nhiều ảnh tượng của Chúa, và Đức Mẹ khi Mẹ xuất hiện với nhiều tước hiệu khác nhau. Nếu lệnh này áp dụng cho tất cả, thì cả Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma và Đền thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở Washington, D.C sẽ phải cất bớt vô số ảnh tượng.

VI. ẢNH TƯỢNG CHÚA GIÊSU

Thật thú vị, trong khi việc sáng tác và sắp đặt các tượng ảnh có nhiều khác biệt muôn màu muôn vẻ qua các thời đại trên khắp thế giới, thì điểm chung cho tất cả các kiểu mẫu cổ điển là tính quy hướng Chúa Kitô. Điều này nhắc cho chúng ta rằng các thánh trong Giáo Hội luôn giữ vai trò dẫn đến Chúa Kitô: các thánh phản chiếu và chuyển thông vinh quang Chúa, đồng thời các ngài được thông phần vinh quang của Người (x. Pl 3,21; 2Tx 1,10). Chính với sự hiểu biết này mà con người thời Trung cổ đặt đầy trong nhà Chúa ảnh tượng các thánh và các thiên thần: không chỉ tranh khảm hay tượng bằng đá, nhưng còn cả hình ảnh trên kính màu. Ánh nắng chiếu qua hình ảnh trông giống như ánh sáng Chúa Kitô chiếu dọi qua các thánh và làm cho các ngài sáng rực rỡ. Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) viết: “Thực vậy, mọi chứng từ đích thực nói lên lòng mộ mến của chúng ta đối với các Thánh trên trời luôn quy hướng đến Chúa Kitô và kết thúc nơi Chúa Kitô là “triều thiên của toàn thể các Thánh”. Và nhờ Chúa Kitô, lòng mộ mến của chúng ta quy hướng đến Thiên Chúa và kết thúc nơi Thiên Chúa, Đấng đáng ca tụng và tôn vinh nơi các Thánh”

Một cách nào đó, việc sử dụng ảnh tượng các thánh phải dẫn chúng ta về với Chúa Kitô. Trong lịch sử Giáo Hội, đã có nhiều phương cách hữu hiệu trình bày ảnh tượng các thánh để trợ giúp phụng vụ mà không gây chia trí. Ảnh khảm trên mái vòm theo phong cách Byzantine, bình phong ảnh tượng, kính màu, đầu cột chạm khắc trong kiến trúc Rôma [hình 4], bức ngăn trong nhà thờ theo kiến trúc Gô-tích, và cả đến hốc tường đặt tượng ở Vương cung thánh đường Gioan Lateranô, tất cả đều trình bày cho người tín hữu một khía cạnh của các thánh trong tương quan với phụng vụ và Giáo Hội nói chung, nhưng với vai trò rõ ràng là thứ yếu và phục vụ cho địa vị của Chúa Kitô trong phụng vụ.

Các thánh dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô là ý tưởng rất phổ biến trong khoa ảnh tượng thời Trung cổ. Trong nhà thờ San Apollinare Nuovo ở Ravenna, trên những hàng cột là tranh khảm mô tả hai cuộc rước kiệu nổi tiếng của các thánh. Trụ ngạch phía bên phải trình bày hai mươi sáu thánh Tử đạo đang tiến đến Chúa Kitô [hình 5, 6], còn bên trái là hai mươi hai thánh nữ Đồng trinh đang tiến về phía Đức Trinh Nữ Maria ẵm Chúa Hài Đồng [hình 7, 8].

Ví dụ này nói lên sự hiểu biết hoàn toàn chính thống về vai trò của các thánh: các ngài là gương mẫu hằng nhắc nhở để dẫn đưa các tín hữu đến với Chúa Kitô. Các thánh Tử đạo bắt chước Chúa Kitô bằng cách thông phần đau khổ với Người, các Thánh Đồng Trinh thì thông phần sự sống của Chúa bằng cách theo gương Đức Mẹ Đồng Trinh, Đấng đón nhận ân sủng và vinh quang từ Con của mình theo cách thức tương tự. Phần trung tâm mái vòm của hai giếng rửa tội Neon và Arian ở Ravenna trình bày hình ảnh Chúa Giêsu chịu phép Rửa bởi tay thánh Gioan, còn hình ảnh mười hai Tông Đồ thì toả ra các hướng chung quanh Chúa Giêsu, bố cục này cho thấy hình ảnh các thánh vừa hỗ trợ vừa phụ thuộc vào hình ảnh Chúa Kitô [hình 9].

Những ví dụ khác như vòm nhà nguyện Thánh Zenon [hình 10], mặt hồi ở nhà thờ Thánh Denis, cửa sổ kiểu hoa hồng ở nhà thờ Orvieto, mặt tiền phía tây rực rỡ của nhà thờ Chính toà Wells hay mặt tiền nhỏ hơn nhưng có liên hệ ở tu viện Bath, đều diễn tả địa vị trung tâm và trên hết của Chúa Kitô.

Những ví dụ từ thời Trung cổ này nhằm làm nổi rõ nguyên tắc then chốt để sắp đặt ảnh tượng cho thời nay: vị trí của Đấng Cứu Chuộc, dù là Đấng Chịu Đóng Đinh hay Đấng Toàn Năng, có tầm quan trọng tối thượng trong nhà thờ, và tất cả các ảnh tượng khác phải phụ thuộc vào ảnh tượng của Người.

VII. ẢNH TƯỢNG ĐỨC MẸ

Đức Mẹ Đồng Trinh có vai trò quan trọng trong nghệ thuật ảnh tượng của Giáo Hội. Giáo Hội “khuyến khích mọi tín hữu lấy tình con cái, tôn kính đặc biệt Đức Maria hồng phúc trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ của cả loài người”. Ảnh tượng Mẹ nằm trong số những ảnh tượng lâu đời và phổ biến nhất, có từ cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai, dựa vào chứng tích trong hang toại đạo Priscilla ở Rôma. Ngày nay, phải tránh sự thiếu sót khi nhấn mạnh địa vị của Đức Trinh Nữ Maria hồng phúc, như đã được các nghị phụ Công đồng nói rõ trong Hiến chế Tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) (nguyên cả chương 8) và trong Thông điệp Mẹ Đấng Cứu Thế (Redemptoris Mater). Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II viết:

Các ảnh tượng về Đức Trinh Nữ Maria có một vị trí danh dự trong các nhà thờ và tư gia. Trong các ảnh tượng ấy, Đức Maria được trình bày theo nhiều phương diện: Mẹ là ngai toà Thiên Chúa, mang lấy Chúa Giêsu và trao Người cho nhân loại (Theotókos), Mẹ là con đường đưa dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu và giới thiệu Người cho chúng ta (Hodegetria), Mẹ là người cầu nguyện với tâm thế chuyển cầu cho chúng ta và là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc hành trình của người tín hữu cho đến ngày Chúa đến (Deẽsis); Mẹ là Đấng che chở luôn giang rộng áo choàng phù hộ muôn dân (Pokrov); Mẹ là Đức Nữ Đồng Trinh dịu hiền khoan nhân (Eleousa). Mẹ thường được nghệ thuật thể hiện đang ẵm Con của Mẹ là Chúa Hài Nhi: chính mối tương quan với Chúa Con làm cho Mẹ được vinh quang. Có khi Mẹ dịu dàng ôm lấy Chúa Giêsu (Glykophilousa); lại có khi Mẹ là người thánh đầy vẻ say mê chiêm ngắm Đấng là Chúa của lịch sử”

Thêm nữa, Đức giáo hoàng tiếp tục giải thích mối tương quan giữa Đức Trinh Nữ Maria với phụng vụ; đây là điều cần thiết để biết cách sắp đặt ảnh tượng Mẹ:

Địa vị Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria được người Kitô hữu đặc biệt chú ý và cảm nghiệm trong Bữa Tiệc Thánh – tức việc cử hành phụng vụ về mầu nhiệm Cứu Chuộc – trong đó Chúa Kitô hiện diện với Thân mình thật sự đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria.

Với lòng đạo đức, người Kitô hữu luôn cảm nhận đúng đắn mối liên kết sâu xa giữa việc tôn sùng Đức Trinh Nữ và phụng vụ Thánh thể: có thể thấy được điều này trong phụng vụ của cả Tây phương và Đông phương.

Tương tự, theo Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium), trong Giáo Hội, Đức Trinh Nữ giữ địa vị “cao nhất sau Chúa Kitô và cũng gần gũi chúng ta nhất”. Từ những trích dẫn ấy, có thể suy ra rằng ảnh tượng của Mẹ Thiên Chúa cần phải được đặt ở vị trí nổi bật trong cung thánh hay gần cung thánh. Vị trí này cũng thuận tiện cho các đôi tân hôn dâng bó hoa lên Đức Mẹ trong hôn lễ. Ảnh tượng thánh bổn mạng nhà thờ đôi khi có thể được đặt đối xứng với tượng Đức Mẹ trong nhà thờ.

VIII. ẢNH TƯỢNG CÁC THÁNH

Trong truyền thống ảnh tượng thánh, có một ngôn ngữ tế nhị và phức tạp về biểu tượng, hình thức và màu sắc. Các Tông đồ và các Thánh sử có ngôn ngữ mô tả riêng, và các ngài có lý do để sử dụng ngôn ngữ ấy. Một khi đã có được ngôn ngữ hình thể ổn định, dù ở ảnh tượng hay kính màu, người tín hữu mù chữ cũng có thể dễ dàng nhận ra các hình ảnh. Vì thế, người ta thường thấy thánh Phêrô có nước da ngăm, thân người tráng kiện với râu tóc quăn và đen; thánh Batôlômêô với mái tóc hoa râm, nước da trắng, đôi mắt to, mũi cao và chòm râu dài; thánh Phaolô dáng cao niên, đầu hói, râu trắng dài, lưa thưa; thánh Gioan còn trẻ, không có râu; thánh Máccô tuổi trung niên, trán có nếp nhăn, mũi to, tóc vàng hoe, râu dài và có vài sợi tóc hoa râm; thánh Gioan Tẩy giả có hình dáng một ẩn sĩ với làn da lạc đà; vân vân… Mỗi vị thánh tông đồ được trình bày cùng với dụng cụ tử đạo hay dấu hiệu riêng của các ngài, như ở các bức tượng của Rusconi trong lòng nhà thờ Thánh Gioan Latêranô [hình 11]: thánh Phêrô tay cầm chìa khoá; thánh Batôlômêô bị lột da sống; thánh Phaolô giữ thanh gươm đã chém đầu ngài; thánh Giacôbê với những vỏ sò gợi lại việc thân thể ngài trôi dạt vào bờ biển ở Compostela một cách kỳ lạ; và thánh Philipphê, “giống như Thầy của mình là Đấng ngài rao giảng, ngài cũng chịu đóng đinh vào thập giá”.

Các thánh Tử đạo khác cũng có những dụng cụ hành hình (chẳng hạn thánh Laurensô bên vỉ nướng bằng sắt [hình 12], thánh Sebastian với những mũi tên và thánh Stephanô với một đống đá dưới chân ngài).

Ảnh tượng thường trình bày các thánh Tử đạo cầm nhành cây hương bá, ý nhắc đến đoạn Kinh Thánh “người công chính lớn mạnh như cây hương bá Li băng, được trồng nơi nhà Chúa” (Tv. 92,12-13).

Bốn thánh sử Tin Mừng được diễn tả bằng bốn sinh vật trong sách Khải huyền: bò, sư tử, con người và chim phượng hoàng (Kh.4,7) [hình 13].

Thánh sử Matthêu được thể hiện với hình dáng con người, vì ngài mở đầu sách Tin Mừng bằng bản gia phả, và ngài viết về nhân tính của Chúa Giêsu, việc Chúa giáng sinh và những năm đầu đời của Chúa [hình 14].

Thánh Marcô được biểu trưng bằng con sư tử của chi tộc Giuđa vì nhiều lý do [hình 15].

Trước hết, Tin Mừng thánh Marcô trình bày Chúa Giêsu là Vua. Thứ hai, Tin Mừng thánh Marcô bắt đầu với “tiếng kêu trong sa mạc”, được các giáo phụ sánh ví với sư tử rống lên trong sa mạc. Thứ ba, vì thánh Marcô mô tả việc Chúa Phục sinh, mà sư tử là biểu tượng, có liên quan đến giai thoại về một con sư tử mẹ làm hồi sinh những đứa con của mình bằng cách thở hơi trên chúng. Tương tự như thế, thánh Luca được thể hiện bằng hình ảnh con bò [hình 16], biểu tượng cho hy lễ của thầy thượng tế, vì ngài mở đầu Tin Mừng với thầy thượng tế Giacaria, ngài khai triển gia phả Chúa Giêsu qua hàng tư tế Lêvi, và ngài tường thuật rất hùng hồn về cuộc Khổ nạn và Hy tế của Đức Kitô.

Cuối cùng, chim phượng hoàng tượng trưng cho thánh Gioan [hình 17], bởi vì Tin Mừng của ngài vút bay lên đến Thiên tính của Chúa Kitô, bắt đầu bằng câu “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời…”

Trong ngôn ngữ biểu tượng phức tạp này, đôi khi hình ảnh cuốn sách được đưa vào ảnh tượng các tác giả Tân Ước (gồm các thánh sử Phúc Âm, thánh Phaolô, thánh Giuđa, thánh Giacôbê và thánh Phêrô). Cuốn sách đang mở biểu trưng cho tri thức hoàn hảo mà các tông đồ thánh sử được chính Chúa dạy bảo cách trọn vẹn. Ngôn ngữ phổ biến này, tuy chưa đạt tới mức toàn cầu hoặc tuyệt đối, nhưng vẫn được sử dụng bởi các nghệ sĩ có tinh thần trách nhiệm trong việc chế tác ảnh tượng thánh, bởi lẽ ngôn ngữ ấy giúp cho nghệ sĩ tránh được những vấn đề do cảm quan cá nhân và luôn hoạt động trong phạm vi truyền thống của nghệ thuật ảnh tượng thánh.

IX. ẢNH TƯỢNG CÁC THIÊN THẦN

Tôi muốn đưa ra một luật trừ trong các quy luật liên quan đến ảnh tượng trên cung thánh, đó là vị trí ảnh tượng các thiên thần. Các thiên thần có một vị trí quan trọng đặc biệt trong Kinh Thánh, trong lịch sử cứu độ và trong phụng vụ. Một điều thật thú vị là các hình ảnh mà Thiên Chúa truyền lệnh thực hiện đầu tiên chính là hình ảnh thể hiện các hữu thể vô hình, tức các Kêrubim trên nắp Hòm Bia Giao Ước. Hai vị Kêrubim đứng hai đầu và hộ giá Nắp Xá tội (Xh 25,18), tựa như việc các ngài canh giữ lối vào Vườn Địa đàng (x. St 3,24). Chủ đề này được tiếp tục thực hiện trong chương trình trang hoàng đền thờ do vua Salomon xây dựng. Trong Nơi Cực Thánh dài mười thước, rộng mười thước, và cao mười thước vua cho khắc ảnh các thiên thần nơi khung ghép trên tường và các cánh cửa, và quan trọng nhất là khắc hoạ các thiên thần canh giữ lối vào Nơi Cực Thánh (1V 6,23). Ở đây có hai tượng Kêrubim, với đôi cánh dài hơn năm thước, bảo vệ lối vào, rõ ràng có liên hệ đến các Kêrubim với “lưỡi gươm sáng loé” canh giữ lối vào Vườn Địa đàng.

Trong Kinh Thánh, các thiên thần không chỉ là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa (chẳng hạn 1Sm 4,4, Tv. 80,2 và 99,1, Lc. 1,35), mà còn được nhắc đến cách đặc biệt khi Thánh sử nói về phụng vụ Kitô giáo: “Nhưng anh em đã tới núi Xion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện. Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben” (Dt. 12,22-24). Chính vì hiểu như thế mà sách Giáo lý Công giáo dạy: “Cho tới ngày Chúa quang lâm, tất cả đời sống Hội Thánh hưởng nhờ sự trợ giúp huyền nhiệm và hữu hiệu của các thiên thần. Trong phụng vụ, Hội Thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa ngàn trùng Chí Thánh. Hội Thánh khẩn cầu các thiên thần trợ giúp”, cầu xin trong Kinh nguyện Thánh thể thứ nhất: “Lạy Chúa toàn năng, chúng con nài xin Chúa sai Sứ thần dâng lễ vật này lên bàn thờ cao sang trước tôn nhan uy linh Chúa”, và trong phụng vụ cầu cho tín hữu qua đời “Xin các thiên thần Chúa dẫn đưa bạn về thiên đàng.”

Cha Jean Daniélou viết một cách đầy thuyết phục về sự trợ giúp của các thiên thần trong Hy tế thánh lễ. Để minh chứng, cha đã trích dẫn rất nhiều giáo phụ:

“Nhưng các thiên thần hiện diện đặc biệt trong Hy tế Thánh thể. Quả thật, thánh lễ là sự tham dự bằng bí tích vào phụng vụ trên Trời, là việc tôn thờ được toàn thể cơ binh các thụ tạo thiêng liêng trân trọng chuyển dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhờ có các thiên thần mà bí tích Thánh thể được đưa vào Nước Trời. Các thiên thần giúp hy tế được bao phủ bằng mầu nhiệm thánh. Thánh Gioan Kim khẩu viết: “Các thiên thần vây quanh linh mục. Cả cung thánh và không gian trước bàn thờ tràn ngập các thiên thần từ Trời đến để tôn vinh Người là Đấng hiện diện trên bàn thờ”. Ở nơi khác ngài viết: “Bây giờ bạn hãy nghĩ đến cơ binh thiên thần mà bạn sắp gia nhập. Mặc dù bạn đang sống trong thân xác, nhưng bạn đã được đánh giá là xứng đáng gia nhập vào đoàn ngũ các thiên thần trên trời để ca hát chúc tụng Người là Chúa của muôn loài.” “Này là bàn tiệc vương giả, có các thiên thần phục vụ. Chính Chúa hiện diện nơi đó.”

Cha Daniélou kết thúc phần bàn về các thiên thần trong phụng vụ bằng một đoạn văn nổi tiếng của thánh Gioan Kim khẩu: “Các thiên thần hiện diện nơi đây. Hôm nay các thiên thần và chư thánh tử đạo hội ngộ. Nếu muốn nhìn thấy các thiên thần và các thánh Tử đạo, bạn hãy mở mắt đức tin mà chiêm ngắm quang cảnh này. Nếu trong không trung có đầy các thiên thần, thì trong Giáo Hội các thiên thần còn hiện diện nhiều hơn. Và nếu trong Giáo Hội có đầy các thiên thần, thì ngày nay quả còn có nhiều thiên thần hiện diện hơn nữa khi Chúa của các ngài đã lên Trời! Trọn vẹn không gian quanh chúng ta tràn đầy các thiên thần.” Lời văn phong phú này đã được diễn đạt bằng ngôn ngữ kiến trúc qua dòng lịch sử kiến trúc nhà thờ. Một trong những công trình nên thơ nhất được tìm thấy trên tấm đỡ rầm nhà thờ Thánh Wendreda [hình 18] ở March, Cambridgeshire.

Ở đó có hơn một trăm thiên thần bay trên không gian lòng nhà thờ thành một cơ binh thiên thần vinh hiển. Chủ đề này cũng có trong cách trang trí trần nhà thờ chính toà Ely ở gần đó [hình 19].

Thuộc phong cách Barốc, đông đảo các thiên thần do Bernini thiết kế ở nhà thờ San Andrea al Quyrinale và các thiên thần do Borromini đưa vào nhà thờ San Ivo della Sapienza đã diễn tả lời Kinh Thánh rằng chúng ta “được vây quanh bởi vô số các nhân chứng” [hình 20].

Nhận thức này đưa tôi đến kết luận rằng, một khi đã biết rõ vị trí đặc biệt của các thiên thần trong đời sống Giáo Hội, thì việc dùng ảnh tượng diễn tả các ngài trên cung thánh không những là thích hợp, mà còn nên được khuyến khích, vì các ảnh tượng thiên thần nói lên việc chúng ta tham dự vào bữa tiệc Chiên Con trong Nước Trời. Trong nhà thờ, cung thánh, lòng nhà thờ và giếng rửa tội nên có nhiều ảnh tượng các thiên thần để mô tả sống động thực tại thần thiêng vô hình này! Ảnh tượng các thiên thần cũng như ảnh tượng các thánh nói lên các chân lý thiêng liêng, và đây là lý do đủ cho phép việc trưng bày ảnh tượng các ngài. Ngoài ra, ảnh tượng các thiên thần và các thánh giúp chúng ta nhớ rằng cộng đoàn giáo xứ không cô độc hay bị tách rời, nhưng liên kết với việc thờ phượng của toàn thể Thân Mình Mầu nhiệm Chúa Kitô. Ở đây và ngay lúc này, trong thánh lễ tại giáo xứ này, chúng ta được hòa chung vào phụng vụ trên thiên quốc của Giáo Hội khải hoàn cùng với toàn thể các thiên thần và các thánh qua Chúa Giêsu, vị linh mục thượng phẩm của chúng ta, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần, và đến với vinh quang của Đức Chúa Cha toàn năng. Đó là lý do tại sao qua nhiều thời đại, các nhà thờ luôn có đầy hình ảnh các thiên thần dưới dạng bích hoạ, tranh khảm, tượng đồng và đá: những ảnh tượng đó là chứng từ cho ta thấy chỗ ở của chúng ta trong vương quốc của Thiên Chúa, đồng thời nhắc cho chúng ta nhớ rằng các thiên thần hằng chuyển cầu, bảo vệ và trợ giúp chúng ta.

X. CÁC CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Một chuỗi những ảnh tượng khác cần được khảo sát là các Chặng đàng Thánh giá [hình 21], tức các hình ảnh trình bày điều mà truyền thống cho là những chặng đường trong cuộc Khổ nạn của Chúa chúng ta.

Các Chặng đàng Thánh giá thường được sắp xếp chung quanh chu vi khu vực lòng nhà thờ, để các tín hữu đi Đàng Thánh giá tưởng niệm via dolorosa, nghĩa là con đường Chúa vác thập giá qua các phố xá Giêrusalem [hình 22].

Việc đạo đức này chỉ mới phổ biến trong Giáo Hội từ thế kỷ thứ 17, và không bắt buộc phải có trong nhà thờ. Nếu các Chặng đàng Thánh giá được đặt trong lòng nhà thờ, chứ không phải ở khu hành lang nhà thờ hay trong khu vườn ngoài trời, thì tượng ảnh của các Chặng đàng Thánh giá cần phải hoà hợp với kích thước cũng như kiểu dáng của nhà thờ và luôn phải tuân theo các yêu cầu của phụng vụ. Vì thế, các Chặng đàng Thánh giá ở ngoài nhà thờ có thể dành cho nghệ sĩ phạm vi thiết kế rộng rãi hơn. Cha O’Connel, chắc chắn quá quen với vấn đề về những Chặng đàng Thánh giá thô thiển, đã đề nghị rằng “nếu không thể sắm những ảnh tượng có giá trị, thì tốt hơn là nên hài lòng với một cây Thánh giá mà thôi (kèm với tên gọi mỗi Chặng)”. Không nên vội vã quyết định loại bỏ các tượng ảnh các Chặng đàng Thánh giá như thế, nhưng hãy nỗ lực để tìm cho được những ảnh tượng xứng đáng và có giá trị thẩm mỹ cao để diễn tả các Chặng đàng Thánh giá.

Steven J. Schloeder
Sách “Architecture in Communion”, chương VII
Phêrô Nguyễn Đình Diễn chuyển ngữ

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGMVN, số 77 (tháng 7 & 8 năm 2013)

Chia sẽ bài viết này trên:

Sứ đồ Phaolô

Sứ đồ Phaolô

Phaolô thành Tarsus (còn gọi là Saolô theo chữ Saul, Paulus, Thánh Phaolô Tông đồ, Thánh Phaolồ hoặc Sứ đồ Phaolô, Thánh Bảo-lộc hay Sao-lộc theo lối cũ (tiếng Hebrew: שאול התרסי‎ Šaʾul HaTarsi, nghĩa là “Saul thành Tarsus”, tiếng Hy Lạp cổ đại: Σαούλ Saul và Σαῦλος Saulos và Παῦλος Paulos[2]), là “Sứ đồ của dân ngoại.” [3] Cùng các sứ đồ Phêrô, Gioan, và Giacôbê, ông được xem một trong những cột trụ của Hội Thánh Kitô giáo tiên khởi, và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Kitô giáo thời kỳ sơ khai.[4] (sinh 3–14 TCN; mất 62–69 CN).

Không giống Mười hai Sứ đồ, không có chỉ dấu nào cho thấy Phaolô từng gặp Giêsu trước khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá.[5] Theo ký thuật của Tân Ước, Phaolô là người Do Thái chịu ảnh hưởng văn minh Hy Lạp, và là công dân của Đế quốc La Mã, đến từ thành Tarsus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Phaolô là người kiên trì săn đuổi những Kitô hữu ban đầu (hầu hết là người Do Thái) để bách hại họ, cho đến khi chính ông trải qua kinh nghiệm lạ lùng trên đường đến thành Damascus. Trong một khải tượng, ông gặp Chúa Giêsu và mắt ông bị mù trong một thời gian ngắn. Trải nghiệm này đã đem ông đến với đức tin Kitô giáo, chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa.[6] Phaolô khẳng định rằng ông nhận lãnh Phúc âm không phải từ con người, nhưng từ chính “sự mặc khải của Chúa Giêsu.”[7]

Sau khi chịu lễ Thanh Tẩy, Phaolô đến ngụ cư ở xứ Arabia (có lẽ là Nabataea) cho đến khi ông gia nhập cộng đồng Kitô hữu còn non trẻ ở Jerusalem, và ở lại với Phêrô (hoặc Phi-e-rơ) trong mười lăm ngày.[8] Qua những thư tín gởi các cộng đồng Kitô giáo, Phaolô trình bày mạch lạc quan điểm của ông về mối quan hệ giữa tín hữu Kitô giáo người Do Thái với tín hữu Kitô giáo không phải người Do Thái, và giữa Luật pháp Moses (Mô-sê hoặc Môi-se) với giáo huấn của Chúa Giêsu.

Phaolô được sùng kính như một vị Thánh bởi các nhóm khác nhau như Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo, và một số người thuộc Giáo hội Luther. Ông được xem là thánh quan thầy của Malta và Thành Luân Đôn, một vài thành phố khác được đặt tên để vinh danh ông như São Paulo, Brasil và Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ. Đạo Mormon xem ông là nhà tiên tri.

Các thư tín của Phaolô hình thành phần nền tảng của Tân Ước (được xem là nguồn quan trọng cho nền thần học của Hội Thánh ban đầu) cùng những nỗ lực của ông nhằm truyền bá Kitô giáo trong vòng các dân tộc, là mục tiêu của nhiều khuynh hướng luận giải khác nhau. Kitô giáo truyền thống xem các thư tín của Phaolô là một phần của kinh điển Tân Ước và xác định rõ ràng rằng tư tưởng của Phaolô là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Giêsu và các sứ đồ khác.

Những người ủng hộ thần học giao ước tin rằng Hội Thánh đã thay thế dân tộc Do Thái trong vị trí Tuyển dân của Thiên Chúa, khơi mở những tranh luận hiện vẫn tiếp diễn xem xác định rõ ràng này có phải bắt nguồn từ ý tưởng của Phaolô khi ông giải thích Jeremiah 31: 31[9] và Ezekiel 36: 27[10], sau đó xác định rõ ràng này được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Kitô giáo.

Ảnh hưởng của Phaolô trong tư tưởng Kitô giáo được xem là quan trọng hơn bất cứ tác giả Tân Ước nào, xuyên suốt hệ tư tưởng Kitô giáo cho đến ngày nay: từ Augustine thành Hippo đến những bất đồng giữa Gottschalk và Hincmar thành Reims; giữa tư tưởng Thomas Aquinas và học thuyết của Molina; giữa Martin Luther, John Calvin và Arminius; giữa học thuyết của Jansen và các nhà thần học Dòng Tên, đến các tác phẩm của nhà thần học Karl Barth, đặc biệt là luận giải của Barth về một trong những thư tín của Phaolô,Thư gởi tín hữu ở Rôma, đã tạo ra những dấu ấn về chính trị và thần học trên giáo hội Đức thế kỷ 21.

Phaolô trên đường đến Damascus,

Có thể sử dụng hai nguồn chính để tái tạo những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Phaolô: các thư tín của ông và những ký thuật trong sách Công vụ các Sứ đồ.[11] Có một vài khó khăn khi dựa vào hai nguồn thông tin này: những thư tín của Phaolô được viết trong quãng thời gian tương đối ngắn (có lẽ khoảng từ năm 50 – 58), và có những nghi vấn về một số sự kiện trong sách Công vụ.[12][13] Riêng về Thứ kinh Công vụ của Phaolô và Thecla, các học giả thường không công nhận sách này, cho đó chỉ là một tác phẩm văn học được sáng tác trong thế kỷ thứ 2, do các sự kiện được chép trong đó không phù hợp với những ký thuật của sách Công vụ các Sứ đồ và các thư tín của Phaolô.

Tuổi trẻ

Theo Công vụ các Sứ đồ, Phaolô sinh tại thành Tarsus, xứ Cilicia, thuộc Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) với tên Saul.[14] Ông là người Israel thuộc chi phái Benjamin, được cắt bì vào ngày thứ tám, là một người Pharisee,[15] và “là người sốt sắng quá đỗi về cựu truyền của tổ phụ”[16] Theo sách Công vụ, Phaolô có quốc tịch La Mã – một đặc quyền mà ông đã dùng đến vài lần để tự bảo vệ mình [17]

Quan điểm được chấp nhận rộng rãi cho rằng Phaolô chưa hề kết hôn. Chính Phaolô đã viết;”Vậy, tôi nói với người những kẻ chưa cưới gả, và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn”.[18] Không có chứng cớ lịch sử nào đề cập đến việc Phaolô đã lập gia đình. Tuy nhiên, một số người lập luận rằng tập quán xã hội thời ấy đòi hỏi người Pharisee và thành viên Toà Công luận (Sanhedrin) phải lập gia đình. Nếu Phaolô là người Pharisee và có thể là thành viên Toà Công luận, thì có lẽ ông đã kết hôn vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

Theo Công vụ 22: 3,[19] Phaolô ở Jerusalem, theo học Gamaliel, một học giả tiếng tăm thời ấy. Khi đi nhiều nơi để rao giảng Phúc âm, Phaolô thường tự lo sinh kế cho mình[20] như được chép trong Công vụ 18: 3,[21] Phaolô từng sống với nghề may trại. Theo La Mã 16:2, Pheobe là người có những đóng góp tài chính hỗ trợ ông trong sứ mạng rao giảng phúc âm.

Tiếp nhận Đức tin Kitô giáo

Bài chi tiết: Sự cải đạo của Phaolô

Theo lời tự thuật của Phaolô, ông tìm mọi cách để săn đuổi và bức hại các tín hữu Kitô giáo cho đến chết,[22] theo ký thuật của sách Công vụ, ông có mặt trong số những người chứng kiến cái chết của Stephen, người tử đạo đầu tiên của Kitô giáo,[23] nhưng về sau Phaolô đã chấp nhận đức tin Kitô giáo:

“Bấy giờ, Saul chỉ hằng ngăm đe và chém giết môn đồ của Chúa không thôi, đến cùng thầy cả thượng phẩm, xin người những bức thư đề gởi cho các nhà hội thành Damascus, hầu cho hễ gặp người nào thuộc về đạo, bất kỳ đàn ông đàn bà, thì trói giải về thành Jerusalem. Nhưng Saul đang đi đường gần đến thành Damascus, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Saul, Saul, sao ngươi bắt bớ ta? Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Giêsu mà ngươi bắt bớ; nhưng hãy đứng dây, vào trong thành, người ta sẽ cho ngươi mọi điều phải làm. Những kẻ đi cùng với người đều đứng lại sững sờ, nghe tiếng nói mà chẳng thấy ai hết. Saul chờ dậy khỏi đất, mắt dẫu mở, nhưng không thấy chi cả; người ta bèn cầm lấy tay dắt người đến thành Damascus; người ở đó ba ngày, chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống.” (Công vụ 9. 1-9; xem thêm lời giải trần của Phaolô trước Vua Agrippa ở Công vụ 26, và Galatians 1. 13-16).

Cổng Kisan, nơi Phaolô trốn khỏi thành Damascus

Sau trải nghiệm tiếp nhận Kitô giáo, Phaolô lưu lại vài ngày ở Damascus rồi đến sống ở vương quốc Nabatea mà ông gọi là “Arabia”, rồi trở lại Damascus, khi ấy đang ở dưới sự cai trị của người Nabatea. Ba năm sau khi qui đạo, Phaolô bị buộc phải rời khỏi thành phố qua cổng Kisan trong ban đêm do phản ứng của giới cầm quyền Do Thái đối với lời giảng của ông. Về sau Phaolô đến Jerusalem, gặp James Người công chính (Giacôbe hoặc Gia-cơ) và Peter, ông ở với Peter trong 15 ngày.

Sau chuyến viếng thăm Jerusalem, Phaolô đến thành Antioch, từ đó ông bắt đầu cuộc hành trình qua Cộng hòa Síp và miền nam vùng Tiểu Á để rao giảng Phúc âm của Giêsu – được biết đến với tên “Hành trình Truyền giáo Thứ nhất của Phaolô”.[24] Tại Derbe, Phaolô và Barnabas bị ngộ nhận là “thần linh… trong hình dạng loài người”.[25] Những thư tín của Phaolô nhắc đến việc ông giảng dạy tại Syria và Cilicia,[26] sách Công vụ ký thuật rằng Phaolô “trải qua xứ Syria và Cilicia, làm cho các hội Thánh được bền vững”.[27]

Trong các cuộc hành trình truyền giáo, Phaolô thường chọn một hoặc hai người cùng đi với ông, đó là Barnabas, Silas, Titus, Timothy, John còn gọi là Mark, Aquila, Priscilla và thầy thuốc Luca. Ông nếm trải nhiều điều khổ ải dưới các hình thức khác nhau như bị giam cầm ở Philippi, bị roi vọt và ném đá, chịu đói khát, và suýt thiệt mạng vì một âm mưu sát hại ông.[28]

Thành lập các Giáo đoàn

Trong những năm kế tiếp, Phaolô đi khắp phía tây của vùng Tiểu Á, lần này ông tiến vào xứ Macedonia và thành lập cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên tại thành Philippi, tại đây ông phải đối diện với nhiều khó khăn. Phaolô thuật lại kinh nghiệm của mình:”Sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Philippi, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Thiên Chúa, cứ rao truyền Phúc âm của Thiên Chúa cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến”.[29] Sách Công vụ, từ góc nhìn của một nhân chứng, thuật lại việc Phaolô đuổi quỷ khỏi một phụ nữ nô lệ, làm người ấy mất khả năng bói toán và vì vậy làm giảm trị giá của người nô lệ; do đó, chủ nô cho ông là “kẻ cắp”, và nộp ông cho quan quyền.[30] Sau khi được trả tự do vì không có chứng cứ buộc tội,[31] Phaolô đi đến thành Thessalonica, lưu lại ở đây một thời gian trước khi vào Hy Lạp. Trước tiên ông đến Athens, nơi ông có bài thuyết giảng đã trở thành huyền thoại trên đồi Areopagus khi ông soi dẫn cho những người có mặt ở đây biết ai là “Chúa Không biết” mà họ vẫn thờ phụng.[32] Kế đó, Phaolô đến thành Corinth, lưu trú ở đó ba năm và viết thư nhất gởi tín hữu ở Thessalonica.

Một lần nữa, Phaolô lại vướng vào vòng lao lý ở thành Corinth khi một nhóm người Do Thái cáo buộc Phaolô “xúi giục dân chúng thờ Thiên Chúa cách trái nghịch với luật pháp”. Phaolô bị kéo đến trước quan trấn thủ Gallio, nhưng ông này cho đây là việc không đáng quan tâm và bác bỏ cáo trạng.[33] Một di chỉ ở Delpphi có nhắc đến tên Gallio, giúp xác định sự kiện này xảy ra trong năm 52, góp phần tái tạo bảng niên đại về cuộc đời của Phaolô.

Phaolô tiếp tục công cuộc rao giảng Phúc âm, thường được gọi là “Hành trình Truyền giáo Thứ ba”,[34] trải qua khắp vùng Tiểu Á và Macedonia, đến Antioch rồi quay trở lại. Nỗ lực thuyết giáo của Phaolô gặp phải những phản ứng giận dữ tại một hí viện ở Ephesus, khi lợi tức của giới thợ bạc ở đây bị thiệt hại do ảnh hưởng từ những lời thuyết giảng của ông. Thu nhập của những người này phụ thuộc vào nghề làm tượng nữ thần Artemis được cư dân địa phương sùng bái; hệ quả là đám đông bạo động vây phủ Phaolô khiến ông và những người bạn suýt bị mất mạng.[35] Về sau, khi Phaolô trên đường đến thành Jerusalem, có đi qua thành Ephesus nhưng không lưu lại ở đó vì ông phải đến Jerusalem cho kịp Lễ Ngũ Tuần. Dù vậy, Phaolô đã triệu tập các trưởng lão của hội Thánh tại Ephesus đến gặp ông tại Miletus. Tại đây, Phaolô giãi bày với họ những trải nghiệm cá nhân cũng như khuyên bảo và khích lệ họ.[36]

Giam cầm

Khi đến Jerusalem, Phaolô đối diện với lời đồn đại cho rằng ông chống lại luật pháp Moses. Để chứng minh việc tuân giữ luật pháp, Phaolô giữ lời thề Nazarite với bốn người khác.[37] Sau bảy ngày cho kỳ lễ tinh sạch gần trọn, Phaolô bị bắt giữ và hành hung ngay bên ngoài Đền thờ bởi một đám đông cuồng loạn kêu la: “Hỡi người Israel, hãy đến giúp với! Kìa, người này giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp, và nghịch cùng chốn này nữa, đến nỗi hắn dẫn người Hy Lạp vào trong đền thờ, và làm cho nơi Thánh này bị ô uế”.[38] Khi một đội binh La Mã đến cứu Phaolô khỏi đám đông đang giận dữ, họ kéo đến cáo buộc Phao lô là kẻ mưu phản, “kẻ xách động thuộc phe Nazareth”, kẻ rao giảng sự sống lại của người chết. Phaolô cố gắng giải thích và trình bày đức tin của mình với đám đông bằng ngôn ngữ của họ, có lẽ là tiếng Aram, nhưng đám đông càng bất bình kêu to, “Hãy cất người dường ấy khỏi thế gian, nó chẳng đáng sống đâu!”[39] Phaolô viện dẫn quyền công dân La Mã để xin được xét xử tại Rôma, nhưng do sự trì trệ của tổng đốc Antonius Felix, ông bị giam giữ hai năm ở Caesarea cho đến khi quan tổng đốc mới, Porcius Festus, đến nhậm chức, nghe giải trình và cho giải Phaolô bằng đường biển đến La Mã, tại đây ông bị quản chế thêm hai năm, với điều kiện sống tốt hơn.[40]

Đến đây chúng ta bị buộc phải dựa vào các truyền thuyết nếu muốn có thêm thông tin chi tiết về những ngày cuối cùng của Phaolô. Theo một truyền thuyết, Phaolô đã đến Tây Ban Nha và Anh quốc. Có lẽ Phaolô đã có ý định ấy, nhưng vẫn không có chứng cớ ông đã thực hiện chuyến đi. Theo một truyền thuyết khác, Phaolô đã chết ở La Mã. Eusebius thành Caesarea (khoảng 275 – 339) cho rằng Phaolô đã bị xử chém đầu trong thời trị vì của Nero, Hoàng đế La Mã, có thể là năm 64, khi thành La Mã bị thiêu rụi bởi một cơn hoả hoạn, hoặc vài năm sau đó, khoảng năm 67.

Đến La Mã, những ngày sau cùng

Sách Công vụ các Sứ đồ ký thuật chi tiết hành trình chuyến đi của Phaolô từ Caesarea đến La Mã. Quản cơ Julius giải giao Phaolô và những tù nhân khác bằng thuyền, có lẽ Luca và Aristarchus cùng đi trên tàu. Vì đang mùa giông bão, cuộc hành trình vừa chậm vừa gian khổ. Họ đi dọc bờ biển Syria, Cicilia và Pampylia. Đến thành Myra trong xứ Lycia, tù nhân được chuyển sang một tàu khác để đến Ý. Phải khó nhọc lắm tàu mới cập bến Mỹ Cảng trên đảo Crete.[41] Phaolô đưa ra lời khuyên nên nghỉ đông ở đây, nhưng họ không chịu nghe theo và tiếp tục cuộc hành trình.[42] Tàu bị bão, trôi giạt trong mười bốn ngày, sau cùng bị mắc cạn trên bờ biển Malta.[43] Đoàn người phải lưu lại trên đảo suốt ba tháng, ở đó Phaolô chữa lành bệnh sốt và bệnh lỵ cho thân phụ của tù trưởng của đảo, Publius, và những người khác. Khi mùa xuân đến, đoàn người lại lên đường.[44]

Sách Công vụ ký thuật cuộc đời của Phaolô cho tới khi ông đến La Mã, lúc ấy ước chừng 61 tuổi. Cuốn sách kết thúc với những lời cáo trách của Phaolô khi nói chuyện với một nhóm người Do Thái tìm đến để tra hỏi và chế giễu ông về Phúc âm:

Hãy đến nơi dân này và nói rằng;

Các ngươi lấy tai nghe mà chẳng hiểu chi;

Lấy mắt xem mà chẳng thấy gì;

Vì lòng dân này đã nặng nề;

Họ bịt tai; Họ nhắm mắt;

E rằng mắt mình sẽ thấy,

Tai mình sẽ nghe,

Lòng mình sẽ hiểu,

Và họ sẽ trở lại,

Để ta chữa lành chăng.

Vậy, hãy biết rằng

Sự cứu rỗi này của Thiên Chúa đã sai đến cho người ngoại;

Những người đó sẽ nghe theo vậy.[45]

Tác phẩm

Phaolô viết nhiều thư tín gởi các hội Thánh và những cá nhân. Tuy vậy, có lẽ có một số đã không còn được lưu giữ. 1Cor 5: 9[46] có thể được xem như là một gợi ý về thư tín trước đó ông đã gởi các tín hữu thuộc giáo đoàn Corinth nhưng nay không còn. Những thư tín vẫn còn lưu giữ đều được đưa vào Tân Ước, theo thứ tự từ dài đến ngắn. Có một ít thư tín được viết trong khi ông bị giam giữ, thường được gọi là “thư viết trong tù”, theo truyền thuyết những lá thư này được viết ở La Mã.

Những thư tín có được sự đồng thuận về quyền tác giả của Phaolô:

Thư gửi tín hữu Rôma

Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô

Thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô

Thư gửi tín hữu Galát

Thư gửi tín hữu Philípphê*

Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica

Thư gửi ông Philêmon*

Những “thư tín giống như của Phaolô” (nhiều học giả tin rằng như thư này không phải do chính Phaolô viết, nhưng thường được cho rằng ông là tác giả)

Thư gửi tín hữu Êphêsô*

Thư gửi tín hữu Côlôsê*

Thư thứ hai gửi tín hữu Thêxalônica

Những thư tín mục vụ của Phaolô:

Thư thứ nhất gửi ông Timôthê

Thư thứ hai gửi ông Timôthê

Thư gửi ông Titô

Ghi chú: Những thư tín có dấu * thuộc nhóm những bức thư viết trong tù.

Thần học

Tư tưởng của Phaolô ảnh hưởng đậm nét trên thần học Kitô giáo trong những lãnh vực như đức tin, sự xưng công chính, cứu rỗi, mối quan hệ giữa Kitô hữu và luật pháp Moses, Kitô học (Christology), Thánh Linh học, nguyên tội, chung thời học (eschatology) và bản chất của đời sau, cũng như vị trí của Kinh Thánh Do Thái trong Kitô giáo.

Đức tin và Sự xưng công chính

Phaolô tập chú vào vị trí trọng tâm của đức tin trong sự cứu rỗi được ban cho qua sự chết chuộc tội của Chúa Giêsu, và khả năng được xưng công chính qua đức tin ấy.[47] Một trong những điều Phaolô xác định rõ ràng đã trở nên rất nổi tiếng: “Vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm theo luật pháp”,[48] luôn luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sự xưng công chính và đức tin.

Xưng công chính là một ý niệm về pháp chế.[49] Được xưng công chính nghĩa là được tuyên bố trắng án. Vì mọi người đều là tội nhân, chúng ta chỉ có thể được trắng án khi Chúa Giê-xu thế chỗ chúng ta bằng cái chết đền tội thay trên cây thập tự. Như thế, theo cách nói của Phaolô tội nhân “được xưng công chính bởi đức tin,” ấy là bằng cách hiệp nhất với Chúa Kitô, tội nhân đồng chết và đồng sống lại với ông. Tuy nhiên, cần biết rằng được xưng công chính không có nghĩa là vì chúng ta hiệp nhất với Chúa Kitô trong sự vô tội của ông, mà vì sự chết hiến tế của đấng vô tội mang lấy hình phạt của chúng ta là tội nhân xứng hiệp với sự đoán phạt thiên thượng.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của đức tin, nhờ đó mà tội nhân được xưng công chính, Phaolô nhắc đến Abraham, người đã tin tưởng lời hứa của Thiên Chúa rằng ông sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc. Phaolô giải thích rằng, “Phúc âm đã được rao truyền trước cho Abraham.”[50] Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Phaolô về sự hiện hữu từ trước vô cùng của Chúa Giêsu, nghĩa là ông là Thiên Chúa.[51]

Cùng với sự dạy dỗ của Phaolô về sự phục sinh và sự sống vĩnh hằng, cái nhìn thấu suốt của Phaolô về thần học đức tin và sự xưng công chính là chủ đề của nhiều sự luận giải, dẫn đến những tranh luận về việc xưng công chính chỉ bởi đức tin đối nghịch với sự xưng công chính bởi đức tin và công đức. Hầu hết các giáo hội Kháng Cách khẳng quyết rằng tư tưởng Phaolô đã giúp hình thành định nghĩa cho rằng sự cứu rỗi đến chỉ từ đức tin mà không bởi bất cứ nỗ lực bên ngoài nào của tín hữu (xem Năm Tín lý Duy nhất), bất đồng với quan điểm của Công giáo Rôma và Chính Thống giáo cho rằng ý tưởng của Phaolô đã bị hiểu sai và không phù hợp với lời dạy của James (Giacôbê hoặc Gia-cơ): “Nhơn đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.”[52]

Sự Cứu rỗi và Luật pháp Moses

Vấn đề có còn cần thiết phải tuân giữ Luật pháp Moses để được cứu rỗi đã được nêu lên trong thời kỳ Hội Thánh tiên khởi tại Giáo hội nghị Jerusalem, ở đó quan điểm của Phaolô đã tạo ra ảnh hưởng đáng kể. Những tác phẩm của Phaolô trình bày giáo thuyết cho rằng có được sự cứu rỗi không phải bởi nỗ lực tuân giữ luật pháp Moses nhưng do đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu. Phaolô xác định rõ ràng rằng không có sự phân biệt nào hết giữa người Do Thái và các dân tộc khác “vì mọi người đều phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Thiên Chúa.”[53] Vì vậy Phaolô được xem là nhân tố chính thúc đẩy việc chấp nhận người “ngoại bang” (không phải dân Do Thái) gia nhập Kitô giáo mà không có bất cứ yêu cầu tuân giữ nghi thức Do Thái như phép cắt bì hoặc kiêng cữ một số thức ăn.

Nguyên tội

Trong Tân Ước, giáo lý nguyên tội (tội tổ tông) được luận giải mạch lạc bởi Phaolô. Ông viết: “Bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội….”[54] Về sau giáo lý này được trình bày cặn kẽ bởi các nhà thần học Kitô giáo, nổi bật nhất là Augustine thành Hippo. (Xem Nguyên tội)

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Linh

Chúa Giêsu

Trong các thư tín của mình, Phaolô có nhắc đến các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu như bữa ăn cuối cùng của ông với các môn đồ,[55] sự chết trên thập tự giá,[56] và sự sống lại.[57] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là người Do Thái thuộc dòng dõi Vua David.[58] Ông tập chú vào bản chất của mối quan hệ giữa tín hữu Cơ Đốc với Chúa Giê-su, nhất là sự chết chuộc tội của ông. Phúc Âm Máccô chép rằng Chúa Giêsu đã “phó sự sống mình là giá chuộc cho nhiều người.”[59] Trong các thư tín của mình, nhất là trong Thư gửi tín hữu Rôma, Phaolô đã triển khai mạch lạc và cặn kẽ ý niệm về hành động cứu chuộc của Chúa Giêsu.

Theo luận giải của Phaolô, dưới luật pháp mọi người đều là tội nhân, nhưng những ai tiếp nhận Chúa Giêsu thì “nhờ ân điển ông mà được xưng công chính bởi sự cứu chuộc đã làm trọn trong Chúa Giêsu Kitô.” Họ được “cứu chuộc” vì Chúa Giê-xu đã đền tội thay cho họ; bởi sự chết của ông mà họ được phục hòa với Thiên Chúa. Như thế, sự chết của Chúa Giêsu là sự hiến tế chuộc tội cho con người nhằm làm dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Ấy là ân điển của Thiên Chúa, và chỉ bởi đức tin mà con người mới có thể nhận lãnh ân điển ấy.[60]

Phaolô luận giải xác tín của ông trong giáo lý về thần tính của Chúa Kitô. Ông viết: “Vì muôn vật đã được dựng nên trong ông (Chúa Kitô), bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi ông và vì ông mà được dựng nên cả. ông có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong ông”.[61] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là “ảnh tượng của Thiên Chúa” (“Ấy chính ông là hình ảnh của Thiên Chúa không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên.”)[62][63]

Chúa Thánh Linh

Tương tự, Phaolô cũng trình bày một học thuyết vững chắc về Chúa Thánh Linh. Phần lớn Thư gởi tín hữu ở La Mã và phần cuối Thư thứ hai gởi tín hữu ở Corinth miêu tả Chúa Thánh Linh bình đẳng với Chúa Cha và Chúa Con, giúp hình thành giáo lý Ba Ngôi. Trong thư gởi tín hữu ở Galatia, Phaolô giải thích rằng việc tín hữu nhận lãnh Chúa Thánh Linh là do lời hứa Thiên Chúa dành cho Abraham thể hiện qua sự chết cứu chuộc của Chúa Giêsu,[64] và xác chứng rằng, “Nếu anh em thuộc về Chúa Cơ Đốc, thì anh em là dòng dõi của Abraham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.”[65]

Khi xem xét đến việc thực hành các ân tứ được ban cho từ Chúa Thánh Linh, Phaolô đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong thư gởi tín hữu ở Corinth.[66] với lời cảnh báo cần cẩn trọng với khả năng nói tiếng lạ trong trạng thái xuất thần, ngược lại vị sứ đồ khuyến khích những lời khuyên bảo có thể thông hiểu và gây dựng đức tin, ông cũng đặc biệt quan tâm đến việc duy trì trật tự trong hội Thánh.[67]

Dựa trên nguyên tắc vàng “Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích và làm gương tốt”[68] ông đưa ra lời khuyên chớ nên ăn thịt hiến tế cho các thần linh. Theo tập tục thời ấy, thịt thường được hiến tế trong các đền thờ trong những ngày lễ hội tôn giáo linh đình và trác táng.[69]

Phaolô miêu tả Chúa Thánh Linh là sức mạnh hiệp nhất, dù có nhiều ân tứ khác nhau nhưng tất cả đều là sự ban cho của Chúa Thánh Linh.[70] Ông ví von hội Thánh giống như thân thể con người, có chân tay và các cơ quan khác nhau nhưng chỉ là một thân thể; mọi thành viên của hội Thánh “đều đã chịu phép báp têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.” Như thế, để gây dựng và phát triển hội Thánh, tín hữu được ban cho các ân tứ khác nhau như giảng dạy, an ủi khích lệ, chữa bệnh, nói tiên tri và làm phép lạ.[71] Phaolô cũng liệt kê các phẩm chất cần có cho mỗi Kitô hữu mà ông gọi là “Trái của Thánh Linh”: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ.[72] Song, Phaolô gọi tình yêu thương là “sự ban cho lớn hơn hết”, và ông khuyên mọi tín hữu cần ước ao ân tứ này.[73]

Mặc khác, Phaolô cũng dạy về sự sống mới trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh,[74] và sự xác tín trong lòng của tín hữu để họ có thể tin quyết vào địa vị làm con Thiên Chúa.[75]

Các Vấn đề Xã hội

Quan điểm của Phaolô về các vấn đề xã hội cũng có ảnh hưởng lớn trên nền văn hoá Kitô như những quan điểm thần học của ông.

Trong thư gởi tín hữu ở Colossae, Phaolô cho biết người theo Chúa cần phải có cuộc sống tích cực như thế nào – ấy là theo đuổi những chuẩn mực của thiên đàng, không phải của trần thế. Trong suốt nhiều thế kỷ, những chuẩn mực ấy có ảnh hưởng đáng kể trên xã hội phương Tây. Phaolô kết án những hành vi như bất khiết, dâm dục, tham lam, giận dữ, vu khống, phỉ báng, dối trá và phân biệt chủng tộc trong khi ông đề cao những đức hạnh như nhân ái, tử tế, nhẫn nại, tha thứ, yêu thương, hòa bình, và biết ơn.[76]

Phaolô kết án sự dâm dục và việc thực hành đồng tính luyến ái, ông viết “Hãy tránh xa sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình.”[77][78]

Phaolô cũng dạy về sự tự do trong Chúa Kitô,[79][80][81] sự thờ phượng đúng cách và kỷ cương trong hội Thánh,[82][83] sự hiệp nhất của các tín hữu,[84][85] và hôn nhân.[86][87] Phaolô khuyến khích tín hữu theo đuổi cuộc sống độc thân “vì cớ tai vạ hầu đến”, nhưng cảnh báo rằng cả cuộc sống hôn nhân và cuộc đời độc thân đều có thể không tốt nếu không thuận phục ý Chúa. Ông nhắc nhở, “Vậy tôi nói với những kẻ chưa cưới gả và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn. Song nếu họ chẳng thìn mình được, thì hãy cưới gả; vì thà cưới gả còn hơn để cho tình dục un đốt.”[88]

Về việc sở hữu nô lệ, Phaolô dạy rằng vì ngày Chúa Giêsu tái lâm đã gần kề, tín hữu nên chú tâm vào đời sống đức tin hơn là vào địa vị xã hội.[89] Phaolô khuyên nhủ người nô lệ nên trung tín phục vụ chủ mình và người làm chủ phải tôn trọng và đối đãi tử tế với nô lệ hoặc người làm công “vì biết rằng cả hai đều có một chủ chung trên trời, và trước mặt ông chẳng có sự tây vị ai hết.”[90] Phaolô cũng tìm cách chuộc Onesimus, một nô lệ bỏ trốn, và yêu cầu người chủ xem Onesimus “không phải là nô lệ nữa, nhưng như anh em rất yêu dấu.”[91] Nhiều người xem đây là một hành động biểu thị tinh thần chống sở hữu nô lệ của Phaolô, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thời ấy, xem việc sở hữu nô lệ là một quyền công dân.

Nguồn gpcantho

Chia sẽ bài viết này trên:

Đường Ánh Sáng: Suy Ngắm 14 Chặng Đường Phục Sinh

ĐƯỜNG ÁNH SÁNG:
SUY NGẮM 14 CHẶNG ĐƯỜNG PHỤC SINH

Trong Mùa Chay, các tín hữu có thói quen suy ngắm cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu qua 14 chặng đàng thánh giá (Via Crucis). Dựa theo tục lệ ấy, một việc đạo đức khác đã được phổ biến trong những thập niên gần đây, đó là suy ngắm mầu nhiệm Phục sinh của Chúa qua 14 chặng đàng ánh sáng (Via Lucis), dựa theo châm ngôn nổi tiếng Per crucem ad lucem : “từ thập giá đến ánh sáng” (hoặc: từ thập giá đến vinh quang). Qua việc đạo đức này, các tín hữu suy ngắm biến cố trọng tâm của đức tin – cuộc sống lại của Đức Kitô – mà chúng ta được thông dự nhờ bí tích Thánh tẩy. Từ đó chúng ta nhớ đến ơn gọi của Kitô hữu là làm chứng nhân cho ánh sáng. Việc chiêm ngắm các mầu nhiệm hiển vinh của Chúa – bao gồm từ cuộc Phục sinh đến lễ Hiện xuống – sẽ dạy chúng ta hãy tiến bước như là “con cái ánh sáng”, gieo rắc niềm hy vọng vào một thế giới bị xâu xé vì hận thù tang tóc.

Cũng như trên Đường Thánh giá, người tín hữu dừng lại ở 14 “chặng” (statio trong tiếng Latinh có nghĩa là: trạm dừng) để suy niệm cuộc thương khó, thì Đường Ánh sáng cũng được chia làm 14 “chặng”, dựa theo các trình thuật của sách Tin mừng và Tông đồ công vụ. Đó là:

1/ Đức Kitô sống lại từ cõi chết (Mt 28,5-6).

2/ Các môn đệ nhận thấy mộ trống (Ga 20,8).

3/ Chúa hiện ra với bà Mađalêna (Ga 20,16).

4/ Chúa hiện ra với các môn đệ trên đường đi Emmaus (Lc 24,2-27).

5/ Chúa bẻ bánh cho các môn đệ (Lc 24,38-39).

6/  Chúa hiện ra với các tông đồ (Lc 24,38-39).

7/ Chúa ban cho các tông đồ quyền tha tội (Ga 20,22-23).

8/ Chúa củng cố đức tin cho ông Tôma (Ga 20-27-28).

9/ Chúa hiện ra cho các môn đệ trên hồ Tiberia (Ga 21,7.13).

10/ Chúa trao quyền thủ lãnh cho thánh Phêrô (Ga 21,15).

11/ Chúa sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng (Mt 28,19-20).

12/ Chúa lên trời (Cv 1,11).

13/ Các môn đệ cầu nguyện với Mẹ Maria để chuẩn bị đón Thánh Linh (Cv 1,14).

14/ Chúa Phục sinh cử Thánh Linh đến với Hội thánh (Cv 2,2-4).

Cấu trúc của “Đàng Ánh sáng” cũng tương tự như việc đi “Đàng Thánh giá”:

1/- Mở đầu: Làm Dấu Thánh giá. Lời chào

2/- Điệp ca: “Lạy Mẹ Maria, nhờ cuộc phục sinh của Đức Kitô, xin giữ gìn chúng con trong ánh sáng”. Hoặc: “Lạy Đức trinh nữ Maria, hãy vui mừng, vì Chúa đã sống lại thật, Alleluia”.

3/- Suy gẫm 14 mầu nhiệm:

a). Đọc đoạn Tin mừng

b). Chú giải (hoặc đọc bài suy niệm)

c). Một kinh Lạy Cha (hoặc: dâng ý chỉ cầu nguyện)

d). Lời nguyện

e). Điệp ca

4/- Kết thúc. Phép lành. Kinh Lạy Nữ vương thiên đàng. Giải tán.

Có nhiều cách thức suy ngắm Đàng Thánh giá. Tại Rôma, các bài suy ngắm tối thứ 6 Tuần thánh thay đổi hằng năm. Một cách tương tự như vậy, có nhiều cách thức suy ngắm Đàng Ánh Sáng. Mẫu sau đây trích từ đền Chúa Cứu Thế ở Andria (Bari, Italia).

C: Chủ tế

T: Tất cả cộng đoàn

X: Người xướng bài đọc hay kinh nguyện.

***

MỞ ĐẦU

C: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

T: Amen

C: Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em.

T: Và ở cùng cha.

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Đời là một cuộc hành trình. Trên con đường đời, chúng ta không lẻ loi. Chúa Phục Sinh đã hứa: “Thầy sẽ ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế”. Cuộc đời phải là một sự sống lại liên tục. Chúng ta sẽ khám phá sự phục sinh như nguồn của bình an và hân hoan.

X: Sau khi sống lại, Chúa Giêsu lại lên đường với chúng ta. Chúng ta hãy ôn lại những chặng đường ấy để xác định hướng đi. Cuộc đời người Kitô hữu là làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh, nghĩa là mỗi ngày một thêm vui tươi, can đảm, tích cực hơn.

Chúng ta hãy cầu nguyện

  1. Lạy Thiên Chúa là Cha, xin đổ xuống trên chúng con Thần khí ánh sáng của Cha, để chúng con hiểu biết mầu nhiệm cuộc Phục Sinh của Con Cha. Xin ban cho chúng con Thần khí của Đấng Phục sinh ngõ hầu chúng con có khả năng yêu thương, nhờ thế chúng con trở thành những chứng nhân của cuộc sống lại của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
  2. Amen.

Kinh Lạy Cha, Điệp ca

CHẶNG THỨ NHẤT:
CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI TỪ CÕI CHẾT
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Matthêu:Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên;, diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy (Mt 28,2-7).
  2. Dẫn giải. Cuộc đời chúng ta thường bị đè nặng bởi biết bao thứ đêm tối của lo lắng, sợ hãi, ức chế, bất động, thất vọng, chán chường. Nhưng lời của thiên thần đã vang lên: “Đừng sợ, Người đã trỗi dậy”. Các Kitô hữu cần trở nên những người loan báo tin mừng trọng đại ấy, để giúp cho anh chị em mình thêm can đảm và hy vọng.
  3. Chúng ta biết rằng cuộc sống mới của Đức Kitô là nguồn hy vọng cho chúng ta. Vì thế chúng ta sống trong hân hoan, và chúng ta hãy xin Người: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  4. Chúa là Đấng đã thắng tội lỗi và sự chết:  Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  5. Chúa đã không bị tan rã trong nấm mồ: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  6. Chúa đã hiện ra với các môn đệ bàng hoàng: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Kitô phục sinh. Thế giới đang cần được nghe Tin mừng của Chúa. Xin hãy gợi lên những người hăng say với cuộc Phục sinh của Chúa. Xin ban cho tất cả các Kitô hữu một con tim mới và một sức sống mới. Xin làm cho chúng con nghĩ như Chúa, yêu mến như Chúa, và biết phục vụ như chính Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca

CHẶNG THỨ HAI:
CÁC MÔN ĐỆ NHẬN THẤY MỘ TRỐNG

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan:Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. (Ga 20,3-9).
  2. Chú giải. Chúa Giêsu đã giết cái chết. Có như vậy thì niềm vui mới bộc phát được. Tình yêu chiến thắng tất cả. Nếu chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã thắng cái chết và tất cả mọi hình thức chết chóc, thì chúng ta sẽ hiên ngang tiến bước.
  3. Ngôi mộ đã không thể cầm giữ thân xác của Chúa Giêsu. Các khăn liệm không còn công dụng gì nữa. Sau cuộc thử thách đau thương, Con Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết. Chúng ta hãy tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô phục sinh: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  4. Lạy Chúa Giêsu, là Đấng được Chúa Cha sai đến để giải thoát thế giới khỏi tội lỗi, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  5. Lạy Chúa Giêsu là Đấng đã mang lại sứ điệp cứu độ vĩnh viễn, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  6. Lạy Chúa Giêsu, là Đấng đổ tràn niềm vui cho những ai tin vào Chúa, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, duy chỉ có Chúa mới mang lại niềm vui sự sống, duy chỉ có Chúa mới cho thấy ngôi mộ trống rỗng. Xin cho chúng con thầm tín rằng, nếu không có Chúa thì chúng con thúc thủ trước cái chết. Xin cho chúng con tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của tình yêu thắng vượt cái chết. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ BA:
CHÚA PHỤC SINH HIỆN RA VỚI BÀ MAĐALÊNA
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. Đức Giê-su nói với bà: “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” Đức Giê-su gọi bà: “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri: “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là `Lạy Thầy“). Đức Giê-su bảo: “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: `Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em“.” Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. (Ga 20,11-18).
  2. Chú giải. Bà Maria Mácđala mời gọi chúng ta hãy tiếp tục tìm kiếm Chúa kể cả trong lúc nghi nan, khi thiếu vắng mặt trời, khi con đường trở nên gồ ghề. Chúa Giêsu đã kêu tên của  chị. Chị cảm thấy xúc động. Tim chị tràn ngập niềm vui. Chúa Giêsu cũng ở bên cạnh bạn, và uỷ thác cho bạn một trọng trách: “Hãy loan báo rằng Chúa Kitô đang sống, và Người muốn cho tất cả chúng ta được sống”.
  3. Khi gặp nguy nan, ta cần phải bám chặt vào lời cầu nguyện, và kêu cầu Chúa Giêsu với tất cả lòng tin: Lạy Chúa, xin  chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa
  4. Khi bóng đêm của nghi nan đè nặng trên chúng con khiến chúng con không có khả năng nhìn thấy ánh sáng, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  5. Khi tội lỗi làm lu mờ tâm trí chúng ta khiến chúng con không đủ sức trỗi dậy, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin  chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  6. Khi những biến cố làm chúng con chao đảo khiến chúng con khó tin vào tình thương của Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa phục sinh, Chúa gọi chính tên của con vì Chúa yêu con. Chúa nói: “hãy đi loan báo Tin mừng cho các anh chị em”. Xin Chúa giúp con nhận ra Chúa trong mọi chuyện xảy ra hằng ngày, và giúp con đi khắp mọi nẻo đường trên thế giới, trong gia đình, trong trường học, trong xí nghiệp, trong các nơi lao động và giải trí, để chu toàn sứ mạng loan báo niềm vui của sự sống. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca

CHẶNG THỨ BỐN:
CHÚA PHỤC SINH ĐI TRÊN ĐƯỜNG VỀ EMMAUS
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca. Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy.” Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? (Lc 24,13-26).
  2. Chú giải. Câu trả lời của hai môn đệ trên đường Emmáus cho thấy nỗi chán chường vì đã mất niềm hy vọng. Thế nhưng Chúa Giêsu đã đến, đi bên cạnh những con người lạnh lùng. Dần dần, ngọn lửa đã đánh tan sự lạnh lùng, ánh sáng đã loé lên trong đêm tối. Thế giới đang cần đến ngọn lửa hăng say của các tín hữu. Chúa Phục sinh đang ở bên cạnh chúng ta, giải thích ý nghĩa của cuộc đời, nhắc nhở chúng ta rằng sự sống đã chiến thắng cái chết.
  3. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể trỏ cho chúng ta thấy con đường của sự sống. Vì thế chúng ta hãy tin tưởng van nài: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  4. Khi đám mây của những dục vọng che khuất lối đi, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  5. Khi tính thờ ơ và ngu muội làm cho nhiều người không thấy đường ngay nẻo chính, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống
  6. Khi chán nản, do dự làm tê liệt mọi hoạt động và ngăn chặn con đường về với Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin rằng Chúa đồng hành với chúng ta mặc dù chúng con không nhận ra Chúa. Xin tiếp tục ngỏ lời với chúng con, soi sáng cho chúng con và khích lệ chúng con, cách riêng khi cơn nguy nan, sợ hãi, buồn phiền bóp nghẹt trái tim chúng con, chặn đứng niềm hy vọng. Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con vì trời đã tối. Xin biến chúng con thành những chứng nhân của cuộc Phục sinh của Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.


CHẶNG THỨ NĂM:
CHÚA PHỤC SINH TỎ MÌNH KHI BẺ BÁNH
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca. Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”(Lc 24,28-32).
  2. Chú giải. Các môn đệ mời Chúa vào bàn. Và họ đã chứng kiến cảnh một chiếc bàn mộc mạc trong quán trọ nhỏ bé trở thành bàn Tiệc Ly. Cặp mắt của họ được mở ra. Họ đã tìm thấy ánh sáng và sức mạnh để trở về Giêrusalem. Mỗi khi chúng ta đón tiếp người nghèo cơm bánh, người nghèo tình thương là chúng ta chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón tiếp Chúa Kitô và rảo quanh khắp mọi nẻo đường để loan báo Tin vui mừng là Đấng chịu đóng đinh hiện đang sống.
  3. Cần có đức tin mạnh mẽ để nhận ra nơi bí tích Thánh Thể lương thực ban sự sống. Chúng ta hãy nguyện cầu: Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  4. Chúa là nguồn sự sống và tình yêu, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  5. Chúa là nguồn mọi ân sủng tuôn tràn xuống Hội thánh, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  6. Chúa là hy vọng của Nước Trời bất tận, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu, trước cuộc Tử nạn, Chúa dạy cho chúng con ý nghĩa của bí tích Thánh Thể qua việc rửa chân cho các môn đệ. Trong bữa tối ngày Phục sinh, Chúa đã cho thấy sự tiếp đón như là con đường hiệp thông với Chúa. Xin giúp chúng con sống bí tích Thánh Thể bằng việc rửa những đôi chân rã rời của những kẻ thấp hèn bằng cách đón tiếp họ vào lòng chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

T- Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ SÁU:
CHÚA PHỤC SINH TỎ MÌNH CHO CÁC MÔN ĐỆ
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca.Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em !” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói : “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi : “Ở đây anh em có gì ăn không ?” Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông. (Lc 24.36-43).
  2. Chú giải. Chúa Giêsu mời các môn đệ: “Cứ rờ xem”. Nhưng họ ngỡ ngàng vì không thể tin nổi. Chúa Giêsu lại nói tiếp và yêu cầu dùng bữa với họ. Thế rồi niềm vui bùng lên: Thật thế sao? Giấc mơ có thể thành sự thật sao? Có thể mơ rằng tình yêu thắng thù hận, sự sống thắng sự chết, kinh nghiệm thắng thách thức. Thật vậy, Đức Giêsu đang sống đây. Chúng ta có thể tin tưởng  rằng Người đã phục sinh. Để duy trì đức tin tươi trẻ, chúng ta cần phải sinh lại mỗi ngày trong Chúa Kitô, chấp nhận vượt qua sợ hãi để đến an toàn, vượt qua rụt rè để đến mạnh dạn, giống như các thánh tông đồ.
  3. Lạy Chúa Giêsu, ước chi các linh mục của Chúa nói được ngôn ngữ của Chúa. Xin cho các ngài nhắc nhở cho chúng con những lời của các tiên tri, những lời Chúa Cha đã hứa sẽ phái Đấng Cứu tinh đến, những chứng cớ mà Chúa đã ban cho các môn đệ khi sai họ đi truyền giáo. Vì thế chúng con hết lòng nài xin Chúa: Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  4. Lạy Chúa Giêsu, xin cho các gia đình đừng ngăn trở các bạn trẻ đi theo tiếng Chúa gọi:Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  5. Lạy Chúa Giêsu, xin cho những kẻ được kêu gọi hãy đáp lại cách quảng đại và mau mắn. Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  6. Lạy Chúa Giêsu, xin cho các linh mục thi hành chức vụ cách tận tâm và  tài khéo. Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con nhìn nhận Chúa là Đấng hằng sống, và dẹp tan những bóng ma làm chúng con xa cách Chúa. Xin giúp chúng con có khả năng trình bày những dấu chỉ của Chúa, ngõ hầu thế giới tin nhận Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen, Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ BẢY:
CHÚA PHỤC SINH BAN QUYỀN THA TỘI

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”(Ga 20, 19-23).
  2. Chú giảiSự sợ hãi thì khép kín, tình yêu thì cởi mở. Và tình yêu thâm nhập vào nơi cửa đóng then cài. Tình yêu của Đấng Phục sinh đã bước vào, khích lệ, trao ban. Người trao ban hơi thở của sự sống là Thánh Linh. Người trao ban một luồng khí mới, làm tươi trẻ linh hồn, phá vỡ bức tường mà tội lỗi đã dựng lên. Ngày nay, chúng ta có thể lãnh nhận hơi thở của Chúa Phục sinh qua bí tích giải tội: “con là một thụ tạo mới, hãy ra đi và mang luồng khí mới cho mọi người”.
  3.  Chỉ sau khi đã sống lại Chúa Giêsu mới thông ban cho các thánh tông đồ quyền tha tội. Trước đó, Người cần dang đôi tay trên thập giá. Thập giá là cái giá của tội lỗi; thập giá là cái chết mang lại sự sống cho chúng ta. Với lòng biết ơn sâu xa, chúng ta hãy cầu xin: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  4. Khi làn sóng của cơn cám dỗ nổi lên và đe doạ nhận chìm chúng con, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  5. Khi số tội lỗi nặng nề khiến chúng con đâm ra nghi ngờ ơn thứ tha của Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  6. Khi ý nghĩ về cuộc sống vĩnh cửu khiến chúng con lo sợ sự phán xét của Chúa, chúng con tin tưởng thưa lên: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Thánh Thần là sức sống mãnh liệt do Chúa Cha phái đến thế trần, xin thổi lên làn gió để thúc đẩy chúng con đến bờ biển công lý và an bình, xin thổi lên sự sống trên những đám xương khô cằn của chúng con, và biến chúng con thành những chứng nhân cho Chúa Kitô phục sinh. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ TÁM:
CHÚA PHỤC SINH CỦNG CỐ ĐỨC TIN CỦA THÁNH TÔMA 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”(Ga 20,24-29)
  2. Chú giải.Ông Tôma vẫn còn nghi ngờ về Chúa Phục sinh. Nhưng chính nhờ mối nghi ngờ ấy mà Chúa Phục sinh đã đến để chữa lành ông cũng như chúng ta: “Tôma, hãy đặt ngón tay vào đây … hãy đưa tay ra”. Ông đã khuất phục và đã để cho Chúa Thánh Thần giục ông thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Tin là chấp nhận mầu nhiệm: tin vào thái dương khi trời tối đen, tin vào tình yêu giữa cảnh hận thù. Tin là lao mình vào trong tay của Chúa. Cuộc đời của ta có ý nghĩa nhờ đức tin vào Thiên Chúa của sự sống, tin rằng dù khi mọi sự sụp đổ thì Ngài vẫn bền vững.
  3. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã kiên nhẫn giải thích cho các tông đồ về ý nghĩa của sự chết và sự sống. Chúng con vẫn còn cần đến Chúa. Chúng con xin lặp lại lời tuyên xưng của tông đồ Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”
  4. Chúng con cầu xin khi gặp nguy nan, khi tâm trí chúng con bị chao đảo trước những học thuyết thách đố đức tin, chúng con thưa lên rằng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  5. Chúng con cầu xin khi gặp khô khan, khi Chúa xem ra xa vắng đang khi chúng con mong cảm thấy Chúa gần gũi, cùng với tông đồ Tôma, chúng con thưa lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  6. Chúng con cầu xin khi bị lầm lẫn, khi khó nhận ra sự thật, và khi gặp nguy cơ rơi vào những kết luận sai lạc, chúng con thưa lên cùng với tông đồ Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, chúng con biết rằng đức tin đưa chúng con đến sự sống đời đời, nhưng không phải lúc nào đức tin cũng dễ dàng, Tin là phó thác cho Chúa trong những cơn thử thách. Lạy Chúa của sự sống, xin tăng thêm đức tin cho chúng con, đức tin là hoa trái của cuộc Phục sinh. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ CHÍN:
CHÚA PHỤC SINH GẶP CÁC MÔN ĐỆ Ở HỒ TIBERIA

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan.Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông : “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp : “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả. Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. Người nói với các ông : “Này các chú, không có gì ăn ư ?” Các ông trả lời : “Thưa không.” Người bảo các ông : “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô : “Chúa đó !” Vừa nghe nói “Chúa đó !”, ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước. Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giê-su bảo các ông : “Đem ít cá mới bắt được tới đây !” Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói : “Anh em đến mà ăn !” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai ?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. (Ga 21,2-13)
  2. Chú giải. Chúa Phục sinh đến gặp gỡ chúng ta giữa những hoàn cảnh sinh sống thường nhật: trong nhà, ngoài đường, trên đường phố, dọc theo bờ biển. Người xâm nhập vào những niềm vui nỗi buồn, những hy vọng và lo âu của nhân loại. Người mang lại luồng gió trẻ trung khi làm tăng thêm những điều tốt lành, tựa như những con cá, những bữa ăn. Bên bờ hồ Tibêria, Người dạy một bài học mới về sự sống: hễ càng chia sẻ thì càng tăng thêm. Chúa Giêsu vẫn còn đói nơi một nửa nhân loại trên địa cầu. Tin vào Chúa Giêsu là có khả năng làm gợi lên niềm hy vọng nơi những nấm mồ.
  3. Đấng đang xin miếng ăn là Chúa tể vạn vật. Đấng chìa tay xin chiếc bánh là chính Đấng Toàn năng. “Ta đói và các ngươi đã cho ta ăn”. Chúa Giêsu tỏ lộ sự hiện diện của mình nơi những người nghèo đang đói khổ. Với lòng tin, chúng ta hãy thưa với Người: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  4. Những người nghèo không có gì trong tay, những em bé chết vì không có gì để ăn, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  5. Những gia đình không nhà ở, những bạn trẻ không có công ăn việc làm, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  6. Những người bệnh không ai chăm sóc, những người già cả lâm cảnh neo đơn, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, Chúa không hiện ra oai phong lẫm liệt giữa sấm chớp, nhưng đã tỏ lộ như là Thiên Chúa của cuộc sống bình dị, trên bờ hồ. Chúa ngồi vào bàn những người đang thiếu thốn chứ không dư dật. Chúa ngồi vào bàn những người nghèo, thiếu niềm hy vọng. Xin biến chúng con thành những chứng nhân của Chúa Phục sinh trong cuộc sống thường ngày, và thế giới sẽ được biến đổi theo khuôn mẫu của cuộc Phục sinh của Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI:
CHÚA PHỤC SINH TRAO QUYỀN THỦ LÃNH CHO ÔNG PHÊRÔ

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : “Anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”.(Ga 21,15-17).
  2. Chú giải.Chúa Phục sinh hỏi ông Phêrô đến ba lần: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?”. Chúa Giêsu là chàng rể của nhân loại mới. Người muốn chia sẻ với cô dâu tất cả: Cha của Người, Thân mẫu, Mình và Máu của Người trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta cũng được kêu gọi đích danh giống như ông Phêrô: “con có yêu mến Thầy không?”. Và chúng ta cũng thấy lúng túng để trả lời. Tuy nhiên, cùng với ông, cùng với lòng can đảm của do Thần khí mang lại, chúng ta hãy thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết hết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Yêu là trao hiến mình, trao hiến mãi mãi.
  3. Chúa Giêsu đã đặt tình yêu làm trung tâm của sứ điệp Tin mừng, tình yêu dành cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu thì cần chứa đầy tình yêu trong trái tim. Chúng ta hãy cầu nguyện: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  4. Tình yêu chiến thắng sự chết. Chúng ta hãy thưa với Chúa: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  5. Tình yêu của Chúa đã được trút đổ xuống tâm hồn chúng ta, vì thế chúng ta hãy nguyện xin: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  6. Tình yêu thắng tất cả và chịu đựng tất cả. Vì thế chúng ta khẩn nài: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, chúng ta tạ ơn Chúa vì hồng ân Hội thánh, được thiết lập trên đức tin và lòng yêu mến của tông đồ Phêrô. Mỗi ngày, Chúa chất vấn chúng con: “Con có yêu mến Thầy hơn những người này không?”, và mời gọi chúng con góp phần vào việc xây dựng Hội thánh. Xin cho chúng con xác tín rằng chỉ nhờ tình yêu mà  chúng con mới  có thể trở thành những viên đá sống động của Hội thánh, và chỉ nhờ hy sinh thì chúng con mới có thể làm cho Hội thánh tăng trưởng trong chân lý và bình an. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI MỘT:
CHÚA PHỤC SINH UỶ THÁC CHO CÁC MÔN ĐỆ SỨ MỆNH PHỔ THẾ

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Matthêu. Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”(Mt 28,16-20).
  2. Chú giải. Thật là một vinh dự được Chúa tuyển chọn và kêu gọi. Ơn gọi kèm theo một nhiệm vụ được uỷ thác. Nhiệm vụ Chúa trao cho các môn đệ thật là nặng nề, bởi vì họ phải hành động nhân danh Người. Tuy nhiên, Người đã hứa sẽ ở lại với họ, để nâng đỡ họ. Trong Hội thánh có nhiều công tác khác nhau, nhiều chỗ đứng khác nhau, nhưng chỉ có một sứ mạng duy nhất, đó là: loan báo Tin mừng của công lý, tình yêu, hoà bình. Chúng ta hãy mang tin vui này cho hết mọi người đang mong chờ.
  3. Vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu, chúng ta hãy nguyện xin Chúa Cha: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  4. Xin cho các giám mục và linh mục không ngừng loan báo và dạy dỗ đức tin, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  5. Xin cho các nhà truyền giáo không thối chí trước những khó khăn, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  6. Xin cho tất cả các tín hữu ý thức nhiệm vụ loan báo Tin mừng khắp nơi, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã hứa với các môn đệ: “Thầy ở với các con mọi ngày”. Chúng con là những người yếu ớt, không thể gánh vác những nhiệm vụ được uỷ thác. Những lời trấn an của Chúa mang lại sức mạnh cho những kẻ yếu đuối, kiên trì cho những kẻ bấp bênh, can đảm cho những kẻ sợ sệt, hân hoan cho những kẻ sầu buồn. Xin Chúa hãy trở thành ánh sáng dẫn đường cho chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI HAI:
CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ. Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” Người đáp : “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.”Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói : “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1,6-11).
  2. Chú giải. Trời và đất gắn chặt với nhau. Nhờ mầu nhiệm Nhập thể, trời đã xuống đất. Nhờ mầu nhiệm Thăng thiên, đất được đưa lên trời. Chúng ta xây dựng thành phố của con người ở dưới đất, để được cư ngụ trong thành phố của Thiên Chúa ở trên trời. Chúng ta thường dồn hết tâm lực vào thế giới ở dưới đất này, muốn xây dựng một thế giới hạnh phúc ở đời này, nhưng chúng ta không tìm thấy hạnh phúc. Chúng ta cần tìm cách đưa thế giới này lên trời, bằng cách giúp cho những kẻ nghèo hèn, những kẻ bị gạt ra lề xã hội được ngẩng đầu lên, khôi phục lại phẩm giá của mình.
  3. Chúng ta là thành phần của Hội thánh là đoàn dân được Chúa Kitô cứu độ. Chúng ta hãy đặt niềm tin tưởng nơi Người và tha thiết nài xin: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  4. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho các con”. Trong niềm mong đợi, chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  5. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu nguyện với Chúa Cha để tất cả chúng con được đoàn tu với Chúa trên thiên quốc. Với niềm hy vọng ấy, chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  6. Lạy Chúa Giêsu, các thiên sứ đã đoan chắc rằng Chúa sẽ trở lại để kết liễu lịch sử cứu độ. Chúng con hy vọng ngày ấy sẽ là ngày hân hoan trọng đại, vì thế chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã đi trước để dọn chỗ cho chúng con. Xin cho chúng con cắm mắt nhìn về nơi hoan hỉ đích thực. Đang khi nhìn về cuộc Phục sinh viên mãn, chúng con cố gắng thực hiện lễ Phục sinh ở dưới trần gian này cho tất cả mọi người. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI BA:
HỘI THÁNH CÙNG VỚI MẸ MARIA CHỜ ĐỢI CHÚA THÁNH THẦN
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ.Bấy giờ các ông từ núi gọi là núi Ô-liu trở về Giê-ru-sa-lem. Núi này ở gần Giê-ru-sa-lem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát.  Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông : Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê, Phi-líp-phê, Tô-ma, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa con ông Gia-cô-bê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su. (Cv 1,12-14).
  2. Chú giải. Trong kinh Magnificat, Đức Mẹ đã ca tụng Thiên Chúa của sự phục sinh vì đã ban cho lịch sử một khuôn mặt con người: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm người. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng”. Giờ đây cùng với các môn đệ của Chúa, Mẹ tỉnh thức trông chờ khai nguyên của buổi bình minh mới. Các Kitô hữu cũng được mời gọi tỉnh thức cùng với Mẹ Maria. Mẹ dạy chúng ta hãy chắp tay lại để biết mở tay ra, những bàn tay dâng hiến, những bàn tay trong sạch, những bàn tay bị thương tích vì yêu thương giống như Chúa Phục sinh.
  3. Lạy Chúa Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, Chúa đã mang lại ý nghĩa cho những khát mong của nhân loại trong suốt dòng lịch sử, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện:Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  4. Lạy Thần khí khôn ngoan, Đấng gợi lên những lựa chọn thích đáng cho đời sống, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  5. Lạy Thần khí dũng mạnh, Đấng củng cố các ý chí mỏng giòn để chống đối sự dữ, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  6. Lạy Thần khí sùng mộ, Đấng gợi lên những tâm tình sốt sắng với công việc của Thiên Chúa và thuận theo ý của Ngài, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Kitô phục sinh, hằng hiện diện trong cộng đoàn Hội thánh, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin hãy đổ tràn Thánh Thần xuống trên chúng con, Thần khí sự sống, Thần khí vui tươi, Thần khí bình an, Thần khí dũng mạnh, Thần khí yêu thương. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI BỐN:
CHÚA PHỤC SINH PHÁI THÁNH THẦN ĐẾN CÁC MÔN ĐỆ 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ. Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình.(Cv 2,1-6).
  2. Chú giải. Chúa Thánh Thần đến, và Ngài biến đổi những gì mà Ngài chạm đến. Ngài chạm đến cũng lòng của một trinh nữ, và người ấy trở thành bà mẹ. Ngài chạm đến một thân xác bị vùi dập, và thân xác ấy được phục sinh. Ngài chạm đến một đám đông, thế rồi nảy sinh một đoàn các tín hữu sẵn sàng hiến mạng để làm chứng cho đức tin. Lễ Ngũ tuần là luồng gió thổi vào một thế giới tầm thường và thiếu niềm hy vọng. Lễ Ngũ tuần là lửa hăng say nhiệt thành. Mặt trời lặn xuống hôm nay thì ngày mai sẽ mọc lên huy hoàng. Thiên Chúa không đặt vào bàn tay chúng ta những giải đáp cho các vấn đề, nhưng Ngài ban cho chúng ta những bàn tay để giải quyết các vấn đề.
  3. Chúa Thánh Thần là sự sống của Hội thánh. Hội thánh do Chúa Giêsu thiết lập, bắt đầu sinh sống và bành trướng vào ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần gìn giữ ngọn lửa yêu mến luôn cháy sáng trong lòng Hội thánh. Chúng ta tin tưởng cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  4. Khi lòng hăng hái đã suy giảm và niềm phấn khởi trở nên yếu kém, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  5. Khi chân đã chùn bước , và bóng tối nghi nan không cho thấy lối đi, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  6. Khi tính uể oải muốn dừng lại hoặc lòng nhút nhát xóa bỏ mọi quyết tâm, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Thánh Thần là mối liên kết giữa Chúa Cha với Chúa Con, Chúa là Đấng kết hợp chúng con với Đức Kitô Phục sinh; Chúa là Đấng liên kết chúng con trong Hội thánh. Chúng con nài xin Chúa. Xin Chúa thở hơi trên chúng con để chúng con nghĩ đến điều thánh thiện; xin Chúa thúc đẩy chúng con để chúng con làm điều thánh thiện; xin Chúa thu hút chúng con, để chúng con yêu mến điều thánh thiện”. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
  8. Amen, Lạy Cha. Điệp ca.

***
LỜI NGUYỆN KẾT THỤC

Lạy Thiên Chúa là nguồn mạch an vui và hy vọng, chúng con đã sống những biến cố của cuộc sống lại và lên trời của Con Cha cho đến lúc Thánh Thần ngự xuống. Xin cho việc suy gẫm những mầu nhiệm này mang lại cho chúng con ân sủng tràn đầy của Cha, và giúp chúng con có khả năng làm chứng cho Tin mừng của Đức Giêsu Kitô giữa lòng thế giới. Chúng con cầu xin cho Hội thánh biết phản chiếu trung thực những bước chân của Đức Kitô trong lịch sử. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nguyện xin cho Hội thánh tỏ bày cho thế giới những kho tàng phong phú của tình yêu của Cha qua việc cử thành các bí tích, và giúp cho hết mọi người đạt đến sự phục sinh vĩnh viễn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

  1. Amen
  2. Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em.
  3. Amen
  4. Chúc anh chị em ra về bình an.
  5. Tạ ơn Chúa.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Nguồn: 
daminhvn.net

Chia sẽ bài viết này trên:

Các tín hữu Việt Nam còn xa lạ với “Đàng Ánh Sáng”

CÁC TÍN HỮU VIỆT NAM CÒN XA LẠ VỚI “ĐÀNG ÁNH SÁNG”

Trong Mùa Chay và thứ Sáu Tuần Thánh, các tín hữu thường đi Đàng Thánh Giá. Điều này thật dễ hiểu và hợp lý vì khi ngắm Đàng Thánh Giá, chúng ta dừng lại tại một trong 14 nơi (chặng) khác nhau để cầu nguyện hay suy gẫm về những biến cố trong cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, trong Mùa Phục Sinh, tốt nhất, chúng ta nên ngừng đi Đàng Thánh Giá để chuyển sang đi Đàng Ánh Sáng (còn được gọi là Đường Ánh Sáng/ Các Chặng Ánh Sáng/ Các Chặng Phục Sinh), tức suy niệm về Mầu Nhiệm Phục Sinh cùng các biến cố sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại. Thực hành này vừa phù hợp với khung cảnh và bầu khí của Mùa Phục Sinh lại vừa đáp ứng được những đòi hỏi của phụng vụ là việc đạo đức phải tùy thuộc vào phụng vụ, mô phỏng theo phụng vụ, tiếp nối phụng vụ, và bổ túc cho phụng vụ.

CÒN XA LẠ VỚI ĐÀNG ÁNH SÁNG

Tuy nhiên, tại Việt Nam, các tín hữu chỉ quen thuộc với Đàng Thánh Giá (Via crucis) hằng trăm năm qua, còn hầu như không biết đến Đàng Ánh Sáng (Via lucis). Bằng chứng là các nhà thờ và nhà nguyện đều có Các Chặng Thánh Giá hầu giúp các tín hữu dễ dàng thực hành lòng sùng kính đi Đàng Thánh Giá vốn có bề dày lịch sử lâu đời và lại rất cần thiết, nhưng hiếm thấy nơi nào có Các Chặng Ánh Sáng/ Các Chặng Phục Sinh. Nhiều giáo xứ đã có Đàng Thánh Giá trong thánh đường, vẫn làm thêm Đàng Thánh Giá chung quanh nhà thờ, lại còn xây dựng thêm Đàng Thánh Giá tại Đất Thánh nữa, nhưng không thấy Các Chặng Phục Sinh ở đâu cả. Cho đến nay, chỉ có hai tác giả của Việt Nam trình bày về Đường Ánh Sáng: đó là Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn với cuốn sách nhỏ mang tựa đề “Đường Ánh Sáng Theo Thánh Ignatio Loyola” (xem tại đây) và Lm. Phan Tấn Thành, OP với bản văn “Đường Ánh Sáng: Suy Ngắm 14 Chặng Đường Phục Sinh” (xem tại đây). Chúng ta có thói quen đi Đàng Thánh Giá suốt năm phụng vụ, đặc biệt là trong Mùa Chay và thứ Sáu Tuần Thánh, vừa như một hình thức cầu nguyện vừa như là cách huấn giáo về những khổ nạn Chúa Giêsu phải chịu, nhưng vì không biết hay không quan tâm, hiếm khi thấy ai thực hành đi Đàng Ánh Sáng, cả xứ đạo và cộng đoàn tu sĩ cũng vậy.

ĐÀNG ÁNH SÁNG LÀ GÌ?

Đàng Ánh Sáng hay còn gọi là Các Chặng Phục Sinh là một thực hành đạo đức bình dân trong đó chúng ta sẽ lần lượt chiêm ngắm và suy niệm về biến cố phục sinh của Chúa, những lần hiện ra của Ngài sau phục sinh và việc Chúa cử Chúa Thánh Thần đến với Hội Thánh như được ghi lại trong 4 Sách Tin Mừng và Sách Tông đồ Công vụ. Như vậy, Các Chặng Phục Sinh sẽ hoàn tất Các Chặng Thánh Giá.

HÌNH THÀNH NÊN ĐÀNG ÁNH SÁNG

Có những lý do sau đây góp phần hình thành nên thực hành đi Đàng Ánh Sáng ngày nay:

  • Thứ nhất, lòng sùng mộ này được truyền cảm hứng khi người ta khám phá ra những lời của thánh Phaolô trong thư gởi cho tín hữu Côrintô được khắc ghi trên các bức tường cổ xưa tại hang toại đạo thánh Callisto ở Rôma. Câu này là: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1Cr 15,3-8). Những lời trên đầy nhằm đáp lại một bản báo cáo cho biết rằng vài thành viên trong Hội Thánh đã phủ nhận mầu nhiệm Chúa Phục Sinh.
  • Thứ hai, đã có nhiều dân tộc đón nhận và thực hành việc đạo đức đi Đàng Ánh Sáng bằng cách suy niệm về những lần Chúa hiện ra và những bài học đạo đức kèm theo. Nghĩa là, thực hành chiêm ngắm và suy niệm Các Chặng Phục Sinh có thể đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử.
  • Thứ ba, các tín hữu ngày nay không thỏa mãn với chặng kết của 14 Đàng Thánh Giá khi suy niệm về Mầu nhiệm Vượt qua. Theo đó, Mầu nhiệm Vượt qua đạt tới đỉnh cao với biến cố Chúa sống lại và Mầu nhiệm này không thể không có biến cố Chúa Phục Sinh: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.” (1 Cr 15, 17–20). Nói cách khác, Mầu nhiệm Vượt qua là một thể thống nhất, trong đó bao gồm cả toàn bộ biến cố Chúa Kitô chịu nạn, chịu chết và phục sinh vinh hiển. Vì thế, trong phụng vụ chính thức của Giáo Hội hiện nay, biến cố Chúa trỗi dậy từ cõi chết không bị tách rời, nhưng được đưa vào ngay cả thứ Sáu Tuần Thánh. Và đây cũng là lý do tại sao vào Năm Thánh 1975, Đức Phaolô VI đã phê chuẩn một bộ Các Chặng Thánh Giá mới với 15 chặng dựa sát trên bản văn Tin Mừng hơn: từ Bữa Tiệc Ly cho đến kết thúc là biến cố Chúa Kitô phục sinh, chặng thứ XV mang nội dung Chúa sống lại từ cõi chết.
  • Thứ tư, trong 20 Mầu nhiệm kinh Mân côi, rõ ràng chúng ta có cả 5 mầu nhiệm mùa Thương (suy niệm về các biến cố Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu, chịu đánh đòn, chịu đội mũ gai, vác cây thánh giá, và chịu chết trên cây thánh giá) lẫn 5 mầu nhiệm mùa Mừng (suy niệm về các biến cố Chúa Giêsu sống lại, lên trời, và cử Chúa Thánh Thần xuống);
  • Thứ năm, bằng việc phát triển ý tưởng phối hợp những biến cố được khắc ghi ở hang toại đạo của thánh Callisto với các biến cố hậu phục sinh để tạo ra Các Chặng Phục Sinh, cha Sabino Palumbieri, giáo sư môn nhân chủng học tại Đại học Salêdiêng ở Rôma, được coi là người khởi xướng thực hành Đàng Ánh Sáng hiện nay. Vào mùa hè năm 1988, cha đã đề xuất việc tạo ra một hình thức thực hành đạo đức bình dân mới là đi Đàng Ánh Sáng theo mẫu của Các Chặng Thánh Giá, nhưng khác với Các Chặng Thánh Giá, các Chặng mới sẽ tập trung vào biến cố Chúa Phục Sinh và các sự kiện tiếp theo biến cố trọng đại này cho đến thời điểm Chúa Thánh Thần hiện xuống để giúp các tín hữu tham dự vào sự sống và niềm vui của Chúa Phục Sinh. Đàng Ánh Sáng như thế sẽ hướng chúng ta đến khía cạnh lạc quan tích cực và tràn đầy hy vọng trong câu chuyện cuộc đời của người Kitô hữu. Mặc dù không vắng mặt Các Chặng Thánh Giá, nghĩa là không ai tránh khỏi những đau khổ, buồn phiền và thử thách trong cuộc sống, nhưng đời người Kitô hữu không thể bị che khuất bởi sự nhấn mạnh quá đáng về đau khổ. Đúng hơn, đời sống của người Kitô hữu phải nhấn mạnh hơn đến niềm vui và ngập tràn hơn trong hy vọng, bình an và sự sống kỳ diệu của Đấng Phục Sinh

Lòng sùng mộ Đàng Ánh Sáng đã được thừa nhận bởi Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đồng thời được cử hành cách công khai và quy mô lần đầu tiên vào năm 1990, sau đó, ngày càng lan truyền rộng rãi hơn. Xuất hiện từ năm 1988, nhưng 3 năm sau, hình thức đạo đức này mới được ĐGH Gioan Phaolô II giới thiệu cho toàn thể Giáo Hội nhân dịp thứ Sáu Tuần Thánh năm 1991.

HUẤN QUYỀN CỦA HỘI THÁNH

Tài liệu của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích mang tên “Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ” nói về Đàng Ánh Sáng như sau (số 153):

Trong những năm gần đây, có một việc đạo đức, gọi là “Đàng Ánh Sáng” (Via lucis) được phổ biến ở nhiều nơi. Lấy mẫu từ Đàng Thánh Giá, trong Đàng Ánh Sáng các tín hữu được mời bước theo một hành trình lần lượt nhìn lại các lần Chúa hiện ra từ khi Người sống lại cho đến khi lên trời. Qua những lần Chúa hiện ra như thế, và trong cả viễn cảnh Chúa quang lâm sau này, Chúa đã bày tỏ vinh quang của Người cho các môn đệ, trong khi các ngài chờ đợi đón nhận Chúa Thánh Thần mà Người đã hứa ban hiện xuống (x. Ga 14,26; 16,13-15; Lc 24, 29), để củng cố đức tin của các ngài, hoàn thành các lời Người giảng dạy về Nước Trời, và sau cùng, định hình cơ cấu bí tích và phẩm trật của Giáo Hội.

Việc đạo đức đi Đàng Ánh Sáng giúp giáo dân nhớ lại biến cố trung tâm của đức tin – sự Phục Sinh của Đức Kitô – và địa vị làm môn đệ của mình, mà bí tích Rửa Tội đã đưa họ từ đêm tối của tội lỗi đến ánh sáng của ân sủng (x. Cl 1,13; Ep 5,8).

Qua nhiều thế kỷ, Đàng Thánh Giá, vốn giúp cho các tín hữu tham dự vào biến cố khởi đầu của mầu nhiệm Phục Sinh – cuộc Thương Khó – đã góp phần vào việc định hình những khía cạnh khác nhau của nội dung cuộc thương khó ấu trong cảm thức của giáo dân, Ở thời đại chúng ta, cũng tương tự như thế, Đàng Ánh Sáng cũng giúp hiện tại hóa nơi các tín hữu thời điểm thứ hai hết sức trọng yếu của cuộc Vượt Qua của Chúa, là sự Phục Sinh, với điều kiện việc đạo đức này diễn ra theo đúng với nội dung Tin Mừng.

Người ta thường nói “qua thập giá tới ánh sáng”. Đàng Ánh Sáng thật sự có thể trở nên một bài sư phạm tuyệt hảo về đức tin. Thực vậy, Đàng Ánh Sáng lấy ẩn dụ là một con đường phải đi, giúp các tín hữu hiểu rõ hơn hành trình thiêng liêng, khởi đi từ nhận thức về thực tại đau khổ, mà theo ý định của Thiên Chúa, thực tại này không phải là điểm dừng cuối cùng của cuộc đời con người, và tiến đến niềm hy vọng được đạt tới mục đích đích thực mỗi người theo đuổi: sự giải thoát, niềm vui, bình an, vốn là những giá trị chủ yếu của Phục Sinh.

Sau cùng, trong một xã hội thường được mang dấu ấn của lo âu và hư vô, tiêu biểu cho “nền văn hóa sự chết”, Đàng Ánh Sáng, ngược lại, làm nên một kích thích tố hiệu quả giúp xây dựng “nền văn hóa sự sống”, nghĩa là nền văn hóa biết đón nhận những trông đợi của hy vọng và các xác quyết của đức tin.”

DANH SÁCH CÁC CHẶNG PHỤC SINH

Kể từ năm 2007, người ta thấy danh sách Các Chặng Phục Sinh không thống nhất trên toàn cầu, cũng như không có thẩm quyền nào trong Giáo Hội tìm cách áp đặt một danh sách dứt khoát cả. Kết quả là một số nhà thờ đã xây dựng Các Chặng Phục Sinh theo sơ đồ và ý định riêng không trùng với những nơi khác. Điều này cũng tương tự như lịch sử hình thành nên danh sách Các Chặng Thánh Giá, nghĩa là Đàng Thánh Giá chỉ đạt được hình thức chính thức và thống nhất như hiện nay sau nhiều thế kỷ trước những thực hành khác nhau ở các địa phương khác nhau. Thật vậy, từ ban đầu, con số Các Chặng Thánh Giá tại Giêrusalem ít hơn 14 và thay đổi theo vùng cũng như theo thời gian, có thể là 11, 12, 19, 25, 37 hay 43 Chặng riêng rẽ; thậm chí ngay tại một nơi, con số cũng không chính xác như nhau. Truyền thống 14 Chặng có lẽ phát xuất từ Louvain (năm 1505), rồi tại Tây Ban Nha hồi đầu thế kỷ XVII, đặc biệt trong các cộng đoàn Dòng Phanxicô. Hình thức 14 Chặng Thánh Giá được chọn lựa và thiết lập một cách vững chắc và chính thức vào thế kỷ XVIII bởi Đức Clêmentê XII (năm 1731).

Về số lượng Các Chặng Ánh Sáng, nhằm nhấn mạnh đến tính bổ túc và cân đối giữa Các Chặng Thánh Giá và Các Chặng Phục Sinh, mặc dù Kinh Thánh chỉ kể ra 7-8 lần hiện ra của Đấng Phục Sinh, người ta đã đồng thuận với nhau là chia nhỏ những lần hiện ra để tạo ra phiên bản 14 Chặng Phục Sinh tương ứng với 14 Chặng Thánh Giá theo truyền thống. Dầu có thể tồn tại những phiên bản khác biệt ở cấp địa phương về danh sách Các Chặng Phục Sinh, dường như danh sách sau đây ngày càng được công nhận (có thể xem hình ảnh 14 Chặng Đàng Phục Sinh tại “Stations of the Resurrection with Pictures – Via Lucis” ):

1) Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết (Mt 28, 5b-6a)

2) Các môn đệ tìm thấy ngôi mộ trống (Ga 20,8)

3) Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với bà Maria Mácđala (Ga 20, 14b-18)

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
Nguồn: WHĐ 

Chia sẽ bài viết này trên:

Các đặc tính của Thân Xác Phục Sinh

Các đặc tính của Thân Xác Phục Sinh

Dẫn nhập

Các câu hỏi liên quan đến thân xác phục sinh từ lâu đã trở thành chủ đề chính của tư tưởng Kitô giáo và vẫn là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Nhiều câu hỏi cơ bản đã được đặt ra liên quan đến chủ đề này, chẳng hạn như: Mỗi tín hữu sẽ sống lại với thân xác nào? Chúng ta mong chờ một sự phục sinh thể lý hay chỉ thuần túy tinh thần, phi vật chất? Những phẩm chất đặc biệt nào thân xác phục sinh có? Trả lời những câu hỏi này một cách rốt ráo không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với bất kỳ nhà thần học Kitô giáo nào, nói gì đến những Kitô hữu bình thường. Nói cách khác, “một cách nào đó, sự phục sinh nằm quá xa so với chân trời hiểu biết của con người, vượt ra ngoài tất cả kinh nghiệm của chúng ta nên, khi trở về với chính mình, chúng ta thấy mình tiếp tục cuộc tranh luận của các môn đệ [Chúa ngày xưa]: Chính xác thì “sự trỗi dậy” này gồm những gì? Điều đó có ý nghĩa gì với con người, đối với cả thế giới và toàn bộ lịch sử?” (1). Thật vậy, chủ đề về bản chất của thân xác phục sinh này là một chủ đề còn rất nhiều tranh luận, và có rất ít sự chắc chắn về nó. Như Ratzinger bình luận, “khó có thể diễn tả một cách cụ thể về mối quan hệ của con người với vật chất trong thế giới mới, hay về ‘thân xác phục sinh’” (2). Trong khi vẫn không chắc chắn về bản chất của thân xác phục sinh, các nguồn kinh thánh và thần học khác nhau cho chúng ta biết rằng thân xác phục sinh, vốn dĩ thiêng liêng và biến đổi, sở hữu những đặc tính sau: Bất thụ khổ (Impassibility), Quang diệu (Clarity), Thần thấu (Subtlety), và Tinh nhanh (Agility).

Một vài khái niệm

Trước nhất, cần phải hiểu đúng các khái niệm của chủ đề này. Theo Ratzinger, nói “sự phục sinh của thân thể” hay “sự phục sinh của thân xác” là đúng; còn nói “sự phục sinh của thân xác vật lý” là sai (3). Lý do là, “‘thân xác’ và ‘tinh thần’ không đối lập nhau; cái đối lập là ‘thân xác vật lý’ và ‘thân xác thiêng liêng’ (4). Chính vì thế, Ratzinger khẳng định rằng đó không phải là sự phục sinh của thân xác vật lý, mà là sự phục sinh của con người toàn thể; đó không phải là sự trở lại của thân xác vật lý hay sinh học, mà là sự trở lại của thân thể phục sinh dưới một hình thức khác, như thân thể phục sinh của Chúa Giêsu. Nói cách khác, phục sinh là sự tái tạo con người toàn thể (6).

Những đặc tính của thân xác phục sinh của Chúa Kitô là những hình dung mẫu của thân xác vinh hiển (thân xác vinh hiển dành cho tất cả người lành được gọi vào sự kết hiệp và hiệp thông mãi mãi với Thiên Chúa). Giống như thân xác vinh quang của Chúa Kitô phục sinh, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ không sở hữu những khiếm khuyết do tội nguyên tổ, như sự phát triển không hoàn hảo, các bệnh mãn tính hoặc những khiếm khuyết về thể chất khác. Theo Levering, “mỗi đặc tính của thân xác phục sinh giúp loại bỏ những trở ngại đối với thân xác khi nó thông dự vào việc thờ lạy vĩnh cửu cùng với linh hồn” (7). Thánh Phaolô cũng nhắc nhở chúng ta: “[Chúa Giêsu] có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (8). Thật vậy, thân xác phục sinh sẽ dự phần vào bản chất của Thiên Chúa trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Thánh Thần. Như Gorman bình luận, “chết và phục sinh là một sự biến đổi: từ một cơ thể dễ hư nát, thấp hèn, yếu đuối và tự nhiên thành một cơ thể bất diệt, đáng kính, mạnh mẽ và thiêng liêng” (9). Nói cách khác, đối với những người chết trong ân sủng Chúa, sự vĩnh cửu của họ sẽ được thể hiện trong thân xác phục sinh. Thân xác này sẽ sở hữu những đặc tính tuyệt vời như thân xác phục sinh vinh hiển của Chúa Kitô.

Tính bất thụ khổ của Thân Xác Phục Sinh

Đặc tính đầu tiên của thân xác phục sinh là tính bất thụ khổ. Bất thụ khổ nghĩa là thân xác phục sinh sẽ không còn chịu đau đớn thể lý nữa. Nói cách khác, nhờ đặc tính này, thân xác hiển vinh sẽ không phải chịu bất kỳ loại đau đớn hay đau khổ nào. Trong cuộc khổ nạn của mình, Chúa Giêsu đã phải chịu đựng những cực hình khủng khiếp khiến Ngài đau đớn tột cùng. Sau khi Ngài sống lại từ cõi chết, không gì có thể làm tổn thương hay làm đau Ngài nữa. Cũng vậy, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ không biết đau đớn. Sẽ không có đau đớn, bệnh tật, đau khổ, hoặc cái chết trong trạng thái của thân xác phục sinh. Không có gì có thể làm tổn thương hoặc làm đau chúng ta nữa. McCann lập luận:

Tất cả các khiếm khuyết được loại trừ khỏi thân xác hiển vinh. Sự hư nát và hay thay đổi không còn sức mạnh trên chúng ta nữa. Tất cả các hoạt động phát sinh và duy trì sự sống hoặc bất cứ điều gì khác liên quan đến bản chất của một thân xác phàm trần và thụ động đều được loại trừ khỏi thân xác phục sinh. Thân xác đó được đồng hóa với bản chất của linh hồn và chia sẻ sự bất hoại của nó (10).

Thân xác phục sinh sẽ không phải chịu cái chết, hư nát, hoặc thay đổi. Những khiếm khuyết nơi xác phàm sẽ được sửa chữa nơi thân xác phục sinh vinh hiển. Sẽ có một niềm vui bất tận – thiêng liêng nhưng cũng có cảm giác và biến hóa. Thánh Phaolô dạy chúng ta: “[Thân xác] gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt” (11). Thân xác phàm thì thay đổi và hư nát. Thân xác phục sinh thì bất biến và không hư hoại. “Sự không hư hoại này,” theo lời của McCann, “là sự không hư hoại vượt thắng sự hư nát liên tục” (12). Trong cuộc sống hiện tại, cơ thể chúng ta theo lẽ thường sẽ trải qua mệt mỏi sau quá trình lao động nặng hoặc vui chơi. Cơ thể phục sinh sẽ không biết mệt mỏi, sẽ không cần nghỉ ngơi, cũng sẽ không lệ thuộc vào các đam mê thể lý.

Ngoài ra, tính bất thụ khổ (vốn dĩ con người đã từng sở hữu trong trạng thái nguyên thủy) cho ta biết linh hồn sẽ hoàn toàn điều khiển thân xác. Thánh Tôma lập luận rằng thông qua việc khôi phục lại trật tự đúng đắn, Thiên Chúa sẽ điều hành linh hồn, và linh hồn sẽ điều hành thân xác. Ngài viết:

Thân xác hiển vinh của con người và tất cả những gì của nó sẽ hoàn toàn chịu sự chi phối của linh hồn, giống như cách khi linh hồn hoàn toàn chịu sự chi phối của Thiên Chúa. Vì vậy, thân xác hiển vinh sẽ không chịu bất kỳ thay đổi nào trái với vận mệnh của nó và sẽ được hoàn thiện bởi linh hồn. Do đó, thân xác phục sinh sẽ không còn đau đớn (13).

Trong trạng thái vinh hiển, trật tự này sẽ được hoàn thiện. Việc linh hồn điều hành thân xác nghĩa là thân xác sẽ không còn phải chịu chi phối bởi những đam mê xấu hay sự hư nát thể lý, mặc dù thân xác sẽ vẫn còn cảm giác. McCann cho rằng: “Thân xác được đồng hóa với bản chất của linh hồn và chia sẻ tính bất thụ khổ của linh hồn” (14). Thật vậy, Thánh Tôma tin rằng tất cả các giác quan sẽ nên hoàn hảo, phù hợp với vinh quang của linh hồn. Trong đời sống vĩnh hằng, các biểu hiện thể lý của nhân đức vẫn đẹp tươi như các dấu chỉ của sự chiến thắng thiêng liêng. Nhưng các biểu hiện đó sẽ không bao giờ còn bị hư nát hay thối rữa nữa.

Tính bất thụ khổ bao gồm cảm giác thật của thân xác vinh hiển. Nói cách khác, thân xác vinh hiển sẽ sở hữu những cơ quan cảm giác thật và bất thụ khổ. Thánh Tôma cho rằng:

Các giác quan nơi thân xác phục sinh là kết quả của việc tiếp nhận các ngoại vật bên ngoài linh hồn. Tuy nhiên, cần lưu ý là các cơ quan giác quan được biến đổi bởi ngoại vật bên ngoài linh hồn theo hai phương thức. Một là bởi một sự biến đổi tự nhiên. Biến đổi tự nhiên xảy ra khi một cơ quan giác quan nào phát sinh cảm giác khi ngoại vật bên ngoài linh hồn tác động lên cơ quan đó… Hai là bởi một sự biến đổi tinh thần. Biến đổi tinh thần xảy ra khi các cảm giác được tiếp nhận bởi một công cụ theo phương thức thiêng liêng của một người. Cảm giác đó có thể là một ý hướng hay một hình thái, nhưng không phải là chính nó (15).

Cảm giác thật này miêu tả vai trò năng động của thân xác hiển vinh, vốn dĩ được phân biệt với linh hồn. Cảm giác đã biến đổi này không phát xuất từ linh hồn mà đến từ một thứ gì đó bên ngoài linh hồn. Biến đổi tự nhiên và biến đổi tinh thần là hai động lực bên ngoài siêu thăng và biến đổi thân xác hiển vinh thành “một trạng thái trong đó vật chất [thân xác hiển vinh] và tinh thần [linh hồn] sẽ mãi thuộc về nhau theo một thể thức mới” (16). Trong thể thức này, cả thân xác hiển vinh và linh hồn sẽ được siêu việt hóa. Fletcher lập luận:

Thân xác phục sinh sẽ là một dạng vật chất thật, và vật chất đó sẽ không đến từ một vật chất mới dành cho sự phục sinh mà sẽ là một với vật chất của thân xác đã từng sống ở thế gian. Theo cách này, tính liên tục được bảo tồn trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần, vì cả vật chất và tinh thần sẽ được chữa lành và tôn vinh vào thời cánh chung (17).

Vì vật chất tính của nó, thân xác hiển vinh sẽ hoạt động tương tự như cách thân xác trần gian hoạt động. Tuy nhiên, thân xác hiển vinh sẽ không còn đau đớn trong khi thân xác trần gian thì có, điều đó có nghĩa là thân xác hiển vinh sẽ không có cùng cảm giác với thân xác trần gian.

Tính quang diệu của Thân Xác Phục Sinh

Phẩm chất thứ hai của thân xác phục sinh là tính quang diệu. Tính quang diệu của thân xác hiển vinh ám chỉ vẻ đẹp tươi, vinh quang và sáng láng của nó theo mức độ ân sủng. Tính quang diệu hay sáng láng sẽ là vinh quang của linh hồn người lành tràn ngập từ đầu tới toàn bộ thân thể. Thánh Phaolô dạy: “Ánh mặt trời thì khác, ánh mặt trăng thì khác, ánh tinh tú thì khác, bởi vì ánh sáng tinh tú này khác với ánh sáng tinh tú kia. Việc kẻ chết sống lại cũng vậy” (18). Chính Chúa Giêsu mạc khải: “Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ” (19). Truyền thống Kitô giáo tin rằng, thân xác hiển vinh sẽ có những vầng quang. Những vầng quang này sẽ là dấu hiệu quang vinh trên thiên đàng của chúng ta cùng với Chúa Kitô. Chúa Giêsu đã cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về những vầng quang này qua biến cố biến hình của Ngài (20).

Thật vậy, chúng ta sẽ sở hữu ánh sáng quang vinh của Thiên Chúa mà qua đó chúng ta sẽ nhìn thấy Người trong vinh quang của Người điều mà thông thường không thể làm được. Bất kể ngoại hình một người có trên trái đất như thế nào, thân xác hiển vinh của người đó trên thiên đàng sẽ đẹp tuyệt vời vượt ngoài sức tưởng tượng, vượt xa vẻ đẹp và sự tráng lệ của ngay cả những người đẹp nhất trên trái đất. Sự thánh thiện sẽ là vẻ đẹp đích thực và trường cửu. McCann khẳng định: “Linh hồn yêu mến phúc kiến và phúc kiến soi sáng và biến đổi linh hồn” (21). Như thánh Phaolô đã nói: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (22).

Giống như pha lê, vinh quang thiên đàng của thân xác chúng ta là một vinh quang toàn thể. Nói cách khác, mọi bộ phận của thân xác phục sinh sẽ rõ rành rành. Giống như màu sắc của một vật thể trong một vật chứa pha lê được nhìn thấy, vinh quang của linh hồn sẽ tỏa sáng qua thân xác phục sinh. Thánh Tôma viết:

Sự sáng láng này là kết quả do vinh quang của linh hồn tràn ngập thân xác. Vì một vật được tiếp nhận bởi một vật khác thì được tiếp nhận không theo dạng thức của vật đó mà theo dạng thức của vật tiếp nhận. Chính vì thế, sự sáng láng thiêng liêng của linh hồn sẽ được chuyển qua thân xác theo cách thức thể lý. Và tùy theo mức độ sáng láng của linh hồn theo cấp độ ân sủng, thì thân xác phục sinh sẽ thừa hưởng những mức độ sáng láng khác nhau (23).

Vinh quang được sở hữu bởi linh hồn trong phúc kiến tràn ngập và biến đổi thân xác phục sinh. Do đó, thân xác phục sinh thừa hưởng những gì thuộc về linh hồn và kết hiệp hoàn hảo với linh hồn. Levering tin rằng: “Khi thân xác được đoàn tụ với linh hồn và chia sẻ sự vinh quang của nó, ‘Sự sáng láng của linh hồn, vốn dĩ thiêng liêng, sẽ được truyền qua cho thân xác một cách thể lý’” (24). Sự sáng láng này sẽ không giải phóng màu sắc tự nhiên của thân xác nhưng sẽ làm cho thân xác chói lọi tương xứng với mức độ đức mến của linh hồn. Giống như thân xác biến hình của Chúa Giêsu, thân xác hiển vinh của chúng ta sẽ rực rỡ hơn mặt trời, nhưng không hề chói lóa.

Tính thần thấu của Thân Xác Phục Sinh

Đặc tính thứ ba của thân xác phục sinh là tính thần thấu. Tính thần thấu có nghĩa là thân xác, khi vẫn còn là thân xác thật và chưa bị đồng hóa với linh hồn, hoàn toàn tùng phục linh hồn. Thánh Phaolô dạy chúng ta: “Gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (26). Thân xác của chúng ta ở đời này được gọi là “tự nhiên”, vì nó bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên như bao loài vật khác, chẳng hạn như sinh sản, tăng trưởng và những thứ tương tự. Tuy nhiên, sau khi được phục sinh và vào thời cánh chung, chúng ta sẽ không còn cần các chức năng sinh học này nữa. Thân xác hiển vinh thì thiêng liêng và hoàn toàn tùng phục những mong muốn và nhu cầu của linh hồn hiển vinh. Điều này không có nghĩa là thân xác phục sinh sẽ không còn là vật chất, vì cả vật chất và tinh thần sẽ được chữa lành và tôn vinh vào thời cánh chung. Nhưng thân xác phục sinh sẽ được giải phóng khỏi những yếu tố và chức năng sinh học. McCann giải thích: thân xác hiển vinh giống như thần khí, và tính thần thấu này là một đặc tính đặc biệt của thần khí. Nhưng nhớ rằng, trên thực tế, thân xác của chúng ta không và không thể biến thành thần khí, mà chỉ phảng phất thần khí mà thôi. Quan điểm này được thánh Tôma xác thực: “Thân xác không thể biến đổi thành thần khí, vì chúng không có cùng một nhóm vật chất” (29). Nói cách khác, thân xác hiển vinh phảng phất sự toàn thiện của nó trong liên hệ với fifth, hay bản chất thiên đàng. Bản chất này sẽ là nguyên lý hoạt động nền tảng của thân xác phục sinh (30).

Hơn nữa, tính thần thấu không có nghĩa là phi vật thể. Sở dĩ như vậy là vì thân xác của chúng ta sẽ không phải tuân theo bất kỳ định luật vật chất nào. Đúng hơn, như Levering giải thích, “đó là khả năng xuyên thấu của thân xác” (31). Nói cách khác, thân xác phục sinh, “vượt thắng trọng lượng” và “siêu thăng sự giới hạn của không gian” (32). Thân xác sẽ vẫn là thân xác, nhưng “khả năng xuyên thấu của các thân xác hiển vinh cho phép họ di chuyển cùng nhau một cách hài hòa, mà không gây xáo trộn hoặc ma sát. Bởi vì, thân xác phục sinh sẽ hoàn toàn chịu sự chi phối của mô thể của nó hay linh hồn” (33). Thánh Gioan cho chúng ta biết một ví dụ điển hình nhất về sự thần thấu khi Chúa Giêsu phục sinh đi xuyên qua các bức tường của một căn phòng bị khóa (34). Nhờ đặc tính thần thấu, Chúa Giêsu đã có thể đi xuyên qua tường của căn phòng, thì, có lẽ, theo một cách thế tương tự, trước đó cùng ngày, Ngài đã đi xuyên qua ngôi mộ đóng kín với thân xác phục sinh và vinh hiển của Ngài. Như Cornelis lập luận: “Thân xác phục sinh của Chúa Giêsu ở một trạng thái mới, có khả năng di chuyển như ý muốn của Ngài, không bị ràng buộc bởi áp suất, trọng lượng, hay các định luật tự nhiên khác” (35). Tương tự như vậy, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ có thể “thắng trọng lực và siêu việt” (36). Nói cách khác thân xác phục sinh của chúng ta cũng sẽ không bị ràng buộc bởi áp suất, trọng lượng, hay các định luật tự nhiên khác. Chúng ta cũng sẽ có thể đi xuyên qua các bức tường như Chúa Giêsu đã làm.

Ngoài ra, tính thần thấu là sự viên mãn của tính nội tại tương liên thụ tạo (phân biệt với nội tại tương liên tạo hóa) (perichoresis hay circumincession – chỉ Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần – Ba Ngôi bình lập bình tồn dùng phương thức rất giống nhau trong nội tại tương liên để trở nên một Thiên Chúa) của thân xác phục sinh. Cụ thể, đó là khả năng của chúng ta cư ngụ và được cư ngụ bởi Chúa và người khác. Theo McCann, “thân xác phục sinh sẽ thật như thân xác Chúa Giêsu” (37). Trong sự hiệp thông và kết hiệp thiêng liêng của Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu hiện diện trong Chúa Cha bởi chính Ngài và qua Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu dạy: “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng, Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (38). Nội tại năng động của Chúa Giêsu và Chúa Cha qua Chúa Thánh Thần mạc khải một chân lý, đó là chúng ta sẽ được dự phần vào đời sống vĩnh hằng của Chúa Giêsu và Ba Ngôi vào thời cánh chung. Perichoresis cũng cho thấy sự đồng nhất, sự nên một của thân xác phục sinh và linh hồn vào thời cánh chung. Ratzinger giúp ta hiểu rõ hơn về điểm này:

Thật vậy, nhu cầu hiệp nhất của vật chất chỉ được thành toàn bởi phi vật chất, bởi tinh thần. Tinh thần không chia nhỏ hiệp nhất thành nhị nguyên. Mà tinh thần là một năng lượng tốt mới của sự thống nhất, vốn dĩ tuyệt đối cần thiết cho những gì bị tan rã nếu nó muốn là một (39).

Sự hiệp nhất của vật chất thể lý chỉ được thành toàn bởi tinh thần phi vật chất. Sự hiệp nhất đó không bao giờ bị mất vào thời cánh chung. Nói đúng hơn, sự hiệp nhất sẽ ngày càng sống động và tích cực ngõ hầu tình trạng hiển vinh của linh hồn và thân xác sẽ là một.

Tính tinh nhanh của Thân Xác Phục Sinh

Đặc tính thứ tư của thân xác phục sinh là tính tinh nhanh. Tính tinh nhanh “giúp thân xác trở thành một công cụ cho linh hồn vinh hiển” (40). Theo thánh Phaolô: “[Thân xác] gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang” (41). Từ sự yếu đuối của một đứa trẻ sơ sinh không thể di chuyển, dễ bị tổn thương và yếu ớt, chúng ta được nuôi dưỡng bởi sức mạnh thiêng liêng. Với sức mạnh to lớn đó, thân xác vinh hiển của chúng ta có thể tồn tại mà không cần thức ăn và di chuyển từ nơi này sang nơi khác với tốc độ suy nghĩ. Chúa Giêsu mạc khải đặc tính này khi Ngài, sau khi phục sinh ở Giêrusalem, gần như ngay lập tức xuất hiện gần làng Em-mau cùng hai môn đệ đang đi về đó (42). McCann tin rằng thân xác hiển vinh: “có thể đi từ nơi này sang nơi khác cực kỳ nhanh, theo ý chí của linh hồn, và di chuyển cùng các thân xác phục sinh khác với vận tốc tương tự” (43). Nói cách khác, nhờ tính tinh nhanh, thân xác phục sinh: “sẽ được giải thoát khỏi sự nặng nề vật lý của nó và sẽ có khả năng di chuyển tới bất cứ nơi nào linh hồn muốn với sự dễ dàng và nhanh nhẹn nhất” (44).

Ngoài ra, thân xác vinh hiển sẽ hợp nhất và tuân phục linh hồn đến nỗi thân xác sẽ làm bất cứ điều gì chúng ta nghĩ. Điều đó có nghĩa là, “thân xác phục sinh sẽ phản ánh một cách hoàn hảo sự di chuyển thiêng liêng của linh hồn” (45). Nói cách khác, thân xác phục sinh “trở thành một công cụ hoàn hảo, luôn sẵn sàng và linh hoạt để tùng phục linh hồn trong mọi hoạt động trong đời sống viên mãn sau này” (46). Ngoài ra, thân xác phục sinh sẽ được giải phóng khỏi bất cứ thứ gì gây trở ngại cho linh hồn. Như thánh Tôma lập luận: “Sức mạnh của linh hồn vinh hiển quá đỗi lớn lao vượt thắng các sức mạnh tầm thường” (47) đến độ “bất cứ lúc nào linh hồn muốn ở đâu, thì ngay lúc đó thân xác sẽ hiện diện ở đó” (48). Do đó, khi chúng ta di chuyển từ nơi này sang nơi khác, “thời gian di chuyển sẽ không thể cảm nhận được” (49) (Nói cách khác, khái niệm thời gian di chuyển sẽ không còn vì thân xác phục sinh di chuyển bằng tốc độ của suy nghĩ). Vì vậy, vào thời cánh chung, khi Thiên Chúa biến đổi mọi sự, nếu chúng ta, trong thân xác vinh hiển, muốn về lại nhà mình mặc dù đang ở bất cứ nơi nào khác ở trên thế giới, tại thời điểm chúng ta mong muốn, chúng ta sẽ ở nhà ngay lập tức (Đây chỉ là một minh họa giúp người đọc dễ hình dung hơn về tính tinh nhanh của thân xác phục sinh. Vì, có lẽ, trong thế giới mới, chưa chắc nhà chúng ta còn tồn tại).

Thánh Tôma cho rằng người lành trên thiên đàng sẽ không ở yên một chỗ mà di chuyển linh hoạt. Ngài nói:

Linh hồn hợp nhất với thể xác không chỉ là mô thể của xác, mà còn là động lực của xác; và trong cả hai cách thế đó, thân xác hiển vinh tùng phục linh hồn hiển vinh một cách hoàn hảo… Nhờ tính tinh nhanh, thân xác tuân phục linh hồn như là động lực của nó, do đó, thân xác sẽ rất linh hoạt và sẵn sàng tuân phục linh hồn trong tất cả các chuyển động và hoạt động (50).

Sự di chuyển của người lành trên thiên đàng là sự di chuyển của cả linh hồn và thể xác vinh hiển, trong đó thân xác tuân phục linh hồn và hoàn thành các yêu cầu của linh hồn một cách tức thì. Theo Levering, “sự di chuyển của người lành, việc biểu lộ năng lực hòa hợp giữa linh hồn và thân xác vinh hiển tôn vinh Thiên Chúa” và “gia tăng sự hoàn hảo của phúc kiến” (51). Cũng nhờ di chuyển, người lành ngày càng thánh thiện và mật thiết với Thiên Chúa. Di chuyển cũng cho phép người lành nhìn thấy toàn cảnh công trình sáng tạo lộng lẫy và huy hoàng của Thiên Chúa bằng chính đôi mắt của họ.

Tạm kết

Ở một mức độ nào đó, thân xác phục sinh sẽ được ban cho những phẩm chất siêu nhiên để nó có thể trở thành một công cụ hoàn hảo của linh hồn. Thân xác vinh hiển sẽ bất thụ khổ, quang diệu, thần thấu, và tinh nhanh. Với những đặc tính siêu việt này, chúng ta sẽ thông dự vào đời sống thánh thiêng trong sự hiệp thông muôn đời với Ba Ngôi Thiên Chúa. Những phẩm chất đặc biệt này của thân xác phục sinh cho chúng ta hy vọng về một cuộc sống vĩnh cửu trong sự hiệp thông hoàn hảo với Thiên Chúa Ba Ngôi. Như McCann lập luận: “Nếu trong cuộc sống trần gian, đó là một thân xác phàm hèn giống như các loài vật khác, chịu chi phối bởi các điều kiện tự nhiên và có các nhu cầu thể lý, thì bấy giờ đó sẽ là một thân xác hiển vinh, hoàn toàn tuân phục linh hồn và thực hiện các yêu cầu của linh hồn một cách hoàn hảo” (53). Chính vì thế, tác dụng của sự phục sinh, phú bẩm cho chúng ta nhờ Chúa Giêsu, “là để phục hồi sự toàn vẹn của bản tính con người và làm cho thân xác phục sinh trở thành công cụ hoàn hảo của linh hồn” (54). Walter Kasper tin rằng: “Sự phục sinh không phải là sự nối tiếp cuộc sống cũ, mà là sự khởi đầu của một sáng tạo mới” (55). Mặc dù, dẫu biết rằng là trên đây chỉ vẫn là những suy đoán thần học. Nói cách khác, chúng ta không thể khẳng định chắc chắn một trăm phần trăm về những điều vừa thảo luận ở trên. Tuy nhiên, thân xác vinh hiển với tất cả vinh quang, đẹp đẽ và huy hoàng sẽ là phần thưởng cho tất cả người lành, những người được chúc phúc, không dành cho kẻ dữ. Nên hay không nên giành lấy cuộc sống đó, có lẽ, là câu hỏi thật dễ để trả lời.

Phaolô Phạm Lợi
(Chủng viện St. Meinrad, Mùa Phục Sinh 2020)

Tài liệu tham khảo

  1. Benedict XVI, Homily: Easter Vigil, (15 April 2006), The Holy See, accessed on April 16, 2018, http://w2.vatican.va/content/benedict-xvi/en/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060415_veglia-pasquale.html.
    2. Joseph Ratzinger, Eschatology: Death and Eternal Life (Washington D.C.: The Catholic University of America Press, 1988), 194.
    3. See Joseph Ratzinger, Introduction to Christianity (San Francisco: Ignatius Press, 2004), 357.
    4. Ibid.
    5. Ibid.
    6. Keith Lemna, Lecture on God and Human Person (St. Meinrad, IN: St Meinrad Seminary, recorded April 17 2018).
    7. Matthew Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple: Salvation according to Thomas Aquinas (Notre Dame, IN: University of Notre Dame Press, 2002), 133.
    8. Phil 3: 21.
    9. Michael Gorman, Apostle of the Crucified Lord: A Theological Introduction to Paul & His Letters (Grand Rapids, MI: William B. Eerdmans Publishing Company, 2017), 334.
    10. D.J. McCann, The Resurrection of the Body (New York: The Macmillan Company, 1928), 87.
    11. 1 Cor 15: 42.
    12. McCann, The Resurrection of the Body, 85.
    13. Thomas Aquinas, Summa Theologiae III, q. 82, a. 1, in Summa Theologica: First Complete American Edition in Three Volumes, vol. 3, trans. Fathers of the English Dominican Province (New York: Benziger Brothers, 1948), 2906.
    14. McCann, The Resurrection of the Body, 87.
    15. Summa Theologiae (ST) III, q. 82, a. 3, trans. English Dominican Province, 2908.
    16. Ratzinger, Eschatology: Death and Eternal Life, 194.
    17. Patrick Fletcher, Resurrection Realism: Ratzinger the Augustian (Eugene, OR: Cascade Books, 2014), 200.
    18. 1 Cor 15: 41- 42.
    19. Mt 13: 43.
    20. See Mt 17:1-8
    21. McCann, The Resurrection of the Body, 89.
    22. 1 Cor 2:9.
    23. ST III, q. 85, a. 1, trans. English Dominican Province, 2925.
    24. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 134.
    25. McCann, The Resurrection of the Body, 90.
    26. 1 Cor 15: 44.
    27. Fletcher, Resurrection Realism: Ratzinger the Augustian, 200.
    28. McCann, The Resurrection of the Body, 90.
    29. ST III, q. 83, a. 1, trans. English Dominican Province, 2911.
    30. See ST III, q. 83, a. 1, trans. English Dominican Province, 2912.
    31. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 133
    32. Lemna, Lecture on God and Human Person, recorded April 20, 2018.
    33. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 133.
    34. See John 20: 19.
    35. H. Cornelis, et al., The Resurrection of the Body, trans. M. Joselyn (Notre Dame, IN: Fides Publishers, 1964), 114.
    36. Lemna, Lecture on God and Human Person, recorded April 20, 2018.
    37. McCann, The Resurrection of the Body, 90.
    38. John 14: 20.
    39. Ratzinger, Eschatology: Death and Eternal Life, 191.
    40. McCann, The Resurrection of the Body, 91.
    41. 1 Cor 15:43.
    42. See Luke 24
    43. McCann, The Resurrection of the Body, 91.
    44. Catechism of Council of Trent, trans. Theodore Alois Buckley (London: George Routledge, 1852), 126. PDF Ebook.
    45. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 133.
    46. McCann, The Resurrection of the Body, 91.
    47. ST III, q. 84, a. 3, trans. English Dominican Province, 2921.
    48. ST III, q. 84, a. 1, trans. English Dominican Province, 2919.
    49. ST III, q. 84, a. 3, trans. English Dominican Province, 2921
    50. ST III, q. 84, a. 1, trans. English Dominican Province, 2919.
    51. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 134.
    52. See Ibid., 134.
    53. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 134.
    54. McCann, The Resurrection of the Body, 92.
    55. Walter Kasper, Jesus The Christ (New York: Paulist Press, 1976), 144.

Nguồn: giaophanhatinh.org

Chia sẽ bài viết này trên:

Ủy ban Phụng Tự giải thích về rước Mình Thánh Chúa trong hoàn cảnh hiện nay

Ủy ban Phụng Tự giải thích về rước Mình Thánh Chúa trong hoàn cảnh hiện nay

Trong thời gian đại dịch hiện nay, Giáo hội tại Việt Nam và rất nhiều nơi trên thế giới phải tạm dừng các cử hành cộng đồng và hạn chế tập trung. Ở hoàn cảnh này, các tín hữu phải tham dự trực tuyến các cử hành phụng vụ và không thể rước Mình Thánh Chúa như khi tham dự Thánh lễ chung cùng cộng đoàn như trước đây. Với những câu hỏi và ưu tư về cử hành và nhận lãnh Bí tích Thánh Thể trong hoàn cảnh hiện nay, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam giải thích như sau:

1. Thực hành “rước lễ thiêng liêng” là gì?

Rước lễ thiêng liêng là một thực hành đạo đức của người Kitô hữu đã có từ lâu đời (thế kỷ XII) và trải qua hàng thế kỷ cho đến nay, trong đó, theo mô tả của thánh Tôma Aquinô, họ “ước ao cháy bỏng lãnh nhận Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và trìu mến ôm lấy Người” vào lúc và trong hoàn cảnh không thể hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích được (rước lễ/ hiệp lễ Bí tích). Rước lễ thiêng liêng còn được gọi là rước lễ nội tâm, rước lễ trong lòng, rước lễ thần bí hay rước lễ vô hình vì không có dấu chỉ nào rõ rệt và hữu hình (có thể nhìn thấy) như trong hiệp lễ Bí tích.

Thực hành rước lễ thiêng liêng được sử dụng chủ yếu trong hai trường hợp: [i] Chuẩn bị cho việc tiến đến bàn thánh mà lãnh nhận Thánh Thể trong tương lai (Trent, Sess. 13, c. 8); [ii] Không thể rước lễ Bí tích được do những ngăn trở về thể lý (già yếu, đau bệnh), luân lý (tội trọng, mắc vạ tuyệt thông, mắc một hình phạt giáo luật, không giữ chay Thánh Thể) hay hoàn cảnh (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại).

Không những cho phép các tín hữu rước lễ thiêng liêng khi tham dự Thánh lễ trực tuyến, mà Hội Thánh còn mong muốn cho các tín hữu có lòng ao ước rước lễ thiêng liêng, bất cứ lúc nào trong ngày khi không thể rước lễ thực thụ, với những lời cầu nguyện riêng của mình hay với các lời kinh truyền thống trong Hội Thánh, dẫu rằng hình thức này không thể sánh ví được với hành động đón nhận chính Chúa Giêsu Thánh Thể vào tâm hồn mình cũng như ít toàn hảo theo cách Bí tích hơn là rước lễ Bí tích.

Đối với các Bí tích nói chung và Bí tích Thánh Thể nói riêng, tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận và sẽ nhận lãnh khi có cơ hội (Summa Theologica III, q.80, a.11,c.). Đó là lý do ngay từ thời cổ đại, Giáo hội đã công nhận những người tử đạo dù chưa được Rửa tội nhưng cũng đã trở thành Kitô hữu rồi. Mặc dù thân xác họ chưa lãnh nhận nước Rửa tội, nhưng họ đã lãnh Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát. Ngoài ra, mỗi khi thực hiện hành vi rước lễ thiêng liêng, tín hữu sẽ nhận được ơn xá từng phần (x. Enchiridion Indulgentiarum (1999), “Concessiones” 8, §2, 1°). Đối với nhiều vị thánh, các ngài không thỏa mãn ngay cả khi đã lãnh nhận Thánh Thể mỗi ngày trong Thánh lễ. Vì thế, việc rước lễ thiêng liêng trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của họ vì giúp lôi kéo họ thường xuyên đến gần sát với Chúa hơn.

Liên quan đến thực hành này, xin nhắc lại ở đây lời của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/04/2003):

Bí tích Thánh Thể được xem như chóp đỉnh của tất cả các Bí tích, vì Bí tích Thánh Thể luôn thể hiện một cách hoàn hảo nhất sự hiệp thông với Thiên Chúa Cha, nhờ sự đồng hình dạng với Chúa Con duy nhất bởi tác động của Chúa Thánh Thần. Với một niềm tin sâu sắc, một trong những tác giả thời danh của truyền thống Byzantin, đã diễn tả chân lý này khi bàn đến Bí tích Thánh Thể: “Như thế mầu nhiệm này thật hoàn hảo, khác với mọi nghi thức khác, và nó dẫn thẳng đến chóp đỉnh của mọi ơn ích, vì đó cũng là cứu cánh tuyệt đỉnh của mọi cố gắng con người. Bởi vì chúng ta gặp chính Thiên Chúa trong mầu nhiệm ấy, và chính Thiên Chúa kết hợp với chúng ta bằng một mối liên kết hoàn hảo nhất.”. Chính vì thế mà vun trồng trong các tâm hồn niềm ao ước Bí tích Thánh Thể triền miên là điều rất thích hợp. Cũng chính vì thế đã khai sinh một cách thức “rước lễ thiêng liêng”, được phổ biến tốt đẹp từ nhiều thế kỷ trong Giáo Hội và rất được các bậc thầy thánh thiện về đời sống thiêng liêng khuyến khích. Thánh Têrêsa Giêsu đã viết: “Khi bạn không thể rước lễ trong Thánh lễ được thì bạn hãy rước lễ thiêng liêng vậy, vì đó là một cách thức mang lại nhiều lợi ích […]; bằng cách đó bạn ghi khắc trong lòng tình yêu sâu xa với Chúa chúng ta” (số 34).

2. Khi hiện diện trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh Chúa, có được rước Mình Thánh đang lưu giữ nơi Nhà tạm lúc tham dự Thánh lễ trực tuyến không?

Không được. Lý do là vì có sự khác biệt rõ rệt về cả giá trị lẫn thực tại giữa hành vi tham dự Thánh lễ thực sự và tham dự Thánh lễ trực tuyến:

[1] Tham dự Thánh lễ trực tuyến chỉ là phương thế để kết hợp với Chúa Kitô, là sự thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng qua phương tiện truyền thông [truyền thanh và truyền hình] vốn được khuyến khích cho những trường hợp vì một lý do nào đó (già yếu, đau bệnh) hay trong một hoàn cảnh nào đó (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại) mà không thể hiện diện cách thể lý tại nơi cử hành Thánh lễ (nhà thờ/ nhà nguyện), tức là tín hữu không thể đến nhà thờ/ nhà nguyện để tham dự vào cử hành Thánh Thể cùng với cộng đoàn Giáo hội sống động ở đó (GLCG, số 1322). Đây là lý do mà ĐGH Bênêđictô XVI viết rằng: “Về giá trị của việc tham dự Thánh lễ bằng phương tiện truyền thông, những người nghe truyền thanh hay xem truyền hình nên biết rằng, theo những hoàn cảnh bình thường, họ không chu toàn luật buộc tham dự Thánh lễ. Những hình ảnh sống động có thể cho thấy đúng sự kiện, nhưng không thật sự tái diễn sự kiện ấy. Trong khi việc những người cao tuổi và bệnh nhân tham dự Thánh lễ qua truyền thanh và truyền hình là một điều rất đáng khen, không thể nói như vậy đối với những người nghĩ rằng các phương tiện truyền thông miễn cho họ khỏi đến nhà thờ và thông phần với cộng đoàn Thánh Thể giữa lòng Hội Thánh sống động” (Tông huấn Sacramentum Caritatis, số 57). Trả lời cho một câu hỏi tương tự như vấn nạn trên, cha Edward MacNamara cho rằng: “Trong tình trạng cách ly như hiện nay, tham dự Thánh lễ trực tuyến là rất tốt […]. Đó là một thời khắc cùng với vị chủ tế cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, và thực hiện một hành động dâng hiến thiêng liêng và rước lễ thiêng liêng với hy tế Thánh Thể. Tuy nhiên, như thế không phải là tham gia Thánh lễ thật sự, vốn đòi buộc phải có sự hiện diện hữu thể, và như vậy, không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn khi cho rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến” (Edward MacNamara, “Distribution of Communion During a TV Mass”, từ Zenit.org [07/04/2020]).

[2] Tham dự Thánh lễ trực tuyến là một thực hành đạo đức chứ không phải là cử hành phụng vụ. Một việc đạo đức thì không bao giờ gắn với hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích. Trong khi đó, Giáo hội cho phép và khuyến khích các tín hữu rước Chúa Kitô “hiện diện cách đích thực, chân thực, và theo bản thể trong Bí tích Thánh Thể” khi tham dự thực sự vào cử hành phụng vụ Thánh lễ như một sự tham dự Thánh lễ cách toàn hảo hơn vào Hy tế Thánh Thể để họ có thể tiếp nhận một cách dồi dào hơn hoa trái của Hy lễ Cực Thánh” (x. Mediator Dei, 118; Indulgentiarum Doctrina, 18-19; Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 55; GL 918; Qui chế tổng quát Sách Lễ Rôma, Lời mở đầu, số 13). Còn bên ngoài phụng vụ Thánh lễ, trong những hoàn cảnh đặc biệt, tín hữu có thể rước lễ Bí tích trong 2 trường hợp cử hành phụng vụ sau: [i] Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ; và [ii] Nghi thức thăm viếng và đưa Mình Thánh bệnh nhân (x. GL 918; Nghi thức Hiệp lễ và Tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ, 16-50; Nghi thức Xức dầu Bệnh nhân và việc Săn sóc họ theo Mục vụ, 46-47).

Như vậy, thánh Tôma Aquinô giải thích (St. Thomas Aquinas, Summa theologica III, Q. 80, a.), nếu như trong Hội Thánh có hai cách rước lễ là rước lễ thực thụ (in re) và rước lễ thiêng liêng [bằng lòng ước ao] (in voto), thì ứng với việc tham dự vào Hy tế Thánh Thể, tín hữu sẽ lãnh nhận Mình [và Máu Thánh] trong chính Thánh lễ họ tham dự nhằm làm nổi bật sự liên kết giữa việc rước lễ với Hy lễ; còn ứng với việc tham dự Thánh lễ trực tuyến, tức thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng, thì tín hữu chỉ rước lễ thiêng liêng mà thôi, cho dù trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh. Do đó, như cha Edward McNamara đã giải thích, rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn.

Nếu muốn rước lễ Bí tích thì có thể thực hiện ngay sau khi Thánh lễ [trực tuyến] kết thúc, hoặc vào một thời điểm thích hợp khác, và luôn tuân theo các nghi lễ đã được Giáo hội phê chuẩn liên quan đến thực hành cho rước lễ ngoài Thánh lễ. Giáo hội có hai hình thức tương tự nhưng khác nhau của nghi lễ này: “Nghi lễ cho bệnh nhân rước lễ”, và “Nghi lễ cho rước lễ ngoài Thánh lễ với việc cử hành Lời Chúa”. Trong bối cảnh của một cộng đoàn tu sĩ có Mình Thánh được lưu giữ trong nhà nguyện, nghi lễ thứ hai phải được sử dụng (x. Edward MacNamara).

3. Thừa tác viên có thể đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh không?

Việc thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà để cho rước lễ thuộc về thực hành trao Mình Thánh ngoài Thánh lễ. Thực hành này được quy định như sau:

[1] Bộ Giáo Luật (1983):

“Hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ trong chính Thánh Lễ. Tuy nhiên, nếu có người xin với lý do chính đáng, thì có thể cho rước lễ ngoài Thánh Lễ, miễn là giữ các nghi thức phụng vụ”. ( Số 918); “(1) Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử, dù vì bất cứ lý do nào, cần được bổ dưỡng bằng việc rước lễ như của ăn đàng; (2) Cho dù ngày ấy họ đã rước lễ rồi, cũng rất nên cho họ rước lễ lần nữa nếu mạng sống của họ bị lâm nguy; (3) Bao lâu cơn nguy tử kéo dài, nên cho họ rước lễ nhiều lần, vào những ngày khác nhau” (Số 921); “Không được khoan giãn việc đem của ăn đàng cho bệnh nhân. Các chủ chăn phải cẩn thận canh chừng để các bệnh nhân được bổ dưỡng khi còn tỉnh trí” (Số 922).

[2] Huấn Thị Rước Lễ và Tôn Thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ (1973):

Các tín hữu được rước lễ trong Thánh Lễ đang được cử hành, “tuy nhiên, các linh mục không được từ chối cho một tín hữu rước lễ, khi người này vì một lý do hợp pháp xin được rước lễ ngoài Thánh lễ” (số 14); “Có thể cho rước lễ vào bất cứ giờ hay ngày nào. […] Tuy nhiên: a) vào thứ Năm thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong Thánh lễ; có thể cho người bệnh rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; b) vào thứ Sáu thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong cử hành tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa, có thể cho người bệnh mà không thể tham dự vào cử hành phụng vụ được rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; c) vào ngày thứ Bảy Tuần Thánh chỉ đưa Của Ăn đàng cho người hấp hối” (số 16).

[3] Nghi Thức Xức Dầu Bệnh Nhân và việc Săn Sóc Họ theo Mục Vụ (1972):

“Các vị coi sóc linh hồn phải lo sao cho những người đau yếu và những người già lão, mặc dầu không đau yếu nặng và không đến nỗi nguy tử, được năng rước lễ, hơn nữa được rước lễ hàng ngày khi có thể được, nhất là trong mùa Phục sinh; việc trao Mình Thánh Chúa có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào. […] Những người giúp đỡ bệnh nhân và người già cả cũng có thể rước lễ cùng với người mà họ chăm sóc trong cùng một nghi lễ phụng vụ.” (số 46)

Từ những tài liệu đã được trích dẫn, chúng ta nhận ra rằng, theo ý muốn của Hội Thánh, việc trao Mình Thánh Chúa bên ngoài Thánh lễ đòi hỏi phải có lý do chính đáng/ lý do hợp pháp và đòi hỏi này phải được tuân giữ một cách nghiêm ngặt. Lý do chính đáng để cho/ được rước lễ bên ngoài Thánh lễ, các chuyên viên Giáo Luật giải thích: đó là những người không thể tham dự cử hành Thánh Thể do đau bệnh, già yếu hoặc do không có linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn (x. John B. Beal, et al.(eds.), New Commentary on the Code of Canon Law (2000), 1112-13).

Như thế, đối với những người đau bệnh, già yếu, hay đang trong cơn nguy tử, thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà/ bệnh viện để cho họ rước lễ ngoài Thánh lễ là thực hành bình thường. Nhưng đối với những người mạnh khỏe, Hội Thánh khuyên bảo một cách mạnh mẽ (maxime commendatur) rằng các tín hữu hãy rước lễ trong chính Thánh lễ. Họ chỉ có thể rước lễ ngoài Thánh lễ trong hai trường hợp: [i] khi làm công việc chăm sóc bệnh nhân/ người già yếu và tham dự vào nghi thức trao Mình Thánh Chúa cho những người này; [ii] khi không có linh mục đến dâng lễ, chẳng hạn tại những vùng xa xôi hẻo lánh và đặc biệt vào ngày Chúa nhật, họ quy tụ thành cộng đoàn phụng vụ tại một nơi xứng hợp (nhà thờ/ nhà nguyện) để cùng nhau “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ” dưới sự chủ tọa của một thừa tác viên hợp pháp do thánh chức hay do được Bản quyền cho phép.

Vì thế, hoàn cảnh đại dịch (Covid-19) hiện nay không phù hợp cho việc đi đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa. Cụ thể, trong hoàn cảnh này:

1. Về kỷ luật Hội Thánh: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên rước Mình Thánh Chúa đi từ nhà này sang nhà khác để trao cho tất cả các tín hữu (cả người đau bệnh và già yếu lẫn những người khỏe mạnh nhưng ngăn trở vì cấm cách do nguy cơ lây nhiễm) không phù hợp “ngôn ngữ phụng vụ” đối với nhu cầu mục vụ bệnh nhân, không xứng hợp với hoàn cảnh đòi buộc để “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ”, cũng không đáp ứng lý do chính đáng vì thiếu linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn. Thực hành này có vẻ mang lại tiện ích cho nhu cầu tạm thời nhưng có nguy cơ đánh mất tính thánh thiêng nền tảng của cử hành bí tích.

2. Về yếu tố xã hội: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà có thể cản trở qui định cách ly xã hội để phòng tránh lây nhiễm cộng đồng. Thực hành này có vẻ đáp ứng giãn cách xã hội khi không tập trung đông người nhưng có nguy cơ lây nhiễm cộng đồng, gây hoang mang đối với những cộng đồng dân cư chung quanh.

3. Về nguyên tắc luân lý: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà trong giai đoạn tạm dừng các cử hành cộng đồng/ tập trung tại giáo xứ vì nguy cơ lây nhiễm không đáp ứng nguyên tắc “ad impossibilia nemo tenetur” (nghĩa là không ai bị bó buộc làm điều bất khả). Sáng kiến tổ chức cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa tại nhà có thể dẫn đến tình trạng lây nhiễm cho chính thừa tác viên. Hơn nữa, xét về đức ái, thực hành này có thể không phải là chọn lựa tốt hơn so với việc khích lệ các tín hữu tham dự Thánh lễ trực tuyến và rước lễ thiêng liêng vì chúng ta biết rằng tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự (in re) họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận (in voto). Khao khát Chúa Kitô cũng chính là hiệp thông với Ngài.


Nguồn: Văn phòng HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

Tại sao Chúa Giêsu gấp tấm vải liệm che mặt của Ngài trong mộ?

Tại sao Chúa Giêsu gấp tấm vải liệm che mặt của Ngài trong mộ?

Một truyền thống của người Do Thái thời đó tiết lộ cho chúng ta một thông điệp quan trọng này.

Tin mừng theo Thánh Gioan, chương 20, kể lại cho chúng ta về tấm khăn liệm che mặt Chúa Giêsu khi Chúa được an táng trong mộ vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Sau Phục sinh, các môn đệ chạy đến mộ, các ông thấy ngôi mộ trống rỗng, tấm khăn không nằm trên đất giống như tấm khăn đã cuộn xác Chúa Giêsu. Tin mừng dành trọn một câu để kể cho chúng ta biết tấm khăn liệm không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.

Tại sao Chúa Giêsu cuốn tấm vải liệm che đầu trong mộ sau khi đã phục sinh?

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (Ga 20,1-7).

Điều đó có quan trọng không?. Chắc chắn là quan trọng.

Nó có ý nghĩa gì không? Có.

Tại sao?

Để hiểu được ý nghĩa của tấm vải liệm được cuốn lại, chúng ta cần biết một chút về truyền thống Do Thái thời đó.

Tấm vải liệm được cuốn lại có liên quan đến sự năng động hằng ngày giữa ông chủ và người đầy tớ – năng động mà mỗi đưa trẻ Do thái đều biết rõ. Người đầy tớ khi chuẩn bị bàn ăn cho chủ, đã thực sự cố gắng thực hiện việc này cách chính xác theo cách mà ông chủ muốn.

Sau khi bàn ăn đã chuẩn bị xong, người đầy tớ đứng đợi bên ngoài, khuất tầm nhìn của ông chủ cho đến khi ông ta ăn xong. Sau đó ông chủ đứng dậy, lau tay, miệng và râu, vo tròn chiếc khăn và bỏ nó lại trên bàn. Chiếc khăn ăn bị vo tròn muốn nói rằng : “Tôi đã ăn xong”.

Nếu ông chủ đứng dậy và để chiếc khăn gấp lại bên cạnh đĩa,  người đầy tớ sẽ không dám chạm vào bàn, bởi vì khi để lại chiếc khăn được gấp lại có nghĩa là: “Tôi sẽ trở lại!”.

Chuyển ngữ từ cuốn sách Histórias e parábolas para a família , của Cha Chrystian Shankar

Chrystian Shankar /Aleteia
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
Chia sẽ bài viết này trên:

Tại sao quan tâm Chúa Phục Sinh?

Tại sao quan tâm Chúa Phục Sinh?

Hằng ngày, càng ngày càng có nhiều người lưu tâm con người lịch sử là Giêsu Nadaret. Với một người bị người ta ghét cay ghét đắng đến nỗi giết chết mà tại sao ngày nay người ta vẫn quan tâm tới cuộc đời và các giáo huấn của Ngài như vậy?

ĐIỀU PHÁT HIỆN

Mọi điều về Ngài đều xảy ra chính xác: Các lời tiên tri về việc Ngài đến, sinh ra, cuộc sống, giáo huấn, phép lạ, sự chết, và nhất là sự sống lại của Ngài. Đó là các sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại.

Hiệu quả chính xác về chính Ngài đối với sự Phục Sinh – dù Ngài đã sống lại từ cõi chết hay vẫn còn trong mộ đá. Nhiều người đa nghi nói rằng tin vào Đức Kitô phục sinh không gì hơn chỉ là bước nhảy mù quáng của niềm tin vô căn cứ.

Tuy nhiên, khi đối diện với các sự kiện này, những người chân thật một cách thông minh đã phải chân nhận rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện lịch sử dựa trên các chứng cớ không thể bác bỏ.

Trên hành trình tâm linh từ không biết gì tới lúc tin vào Đức Kitô, người ta có vấn đề về sự phục sinh. Nhưng xét kỹ thì chúng ta thấy sức thuyết phục rằng sự sống lại về thể lý là lời giải thích duy nhất về ngôi mộ trống, nơi đã mai táng thi hài Đức Kitô.

Đây là vài chứng cớ lịch sử khiến tâm phục khẩu phục:

CHỨNG CỚ PHỤC SINH

  • Đức Kitô đã báo trước việc Ngài phục sinh. Kinh thánh nói: “Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.” (Mt 16:21) Mặc dù những người theo Ngài không hiểu Ngài nói gì với họ lúc đó, nhưng họ vẫn ghi nhớ lời Ngài.
  • Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với những người theo Ngài. Ngài an ủi những người than khóc bên ngoài mộ vào sáng Chúa Nhật. Trên đường đi Emmaus, Ngài đã giải thích những điều nói về chính Ngài từ Cựu Ước. Sau đó, Ngài ăn uống trước mặt họ và mời họ chạm vào Ngài. Kinh thánh nói rằng Chúa Giêsu được hơn 500 người thấy một lúc. Một số người có thể cho rằng chỉ có một số ít người đồng ý với sự dối trá đó, nhưng làm sao người ta có thể giải thích về sự cộng tác của 500 người đó?
  • Đức tin kiên cường của các Tông đồ đủ thuyết phục chúng ta về việc Chúa Giêsu phục sinh. Các Tông đồ này đã từng sợ hãi mà bỏ trốn và chối bỏ Thầy, nhưng nay họ can đảm công bố tin vui này, rao truyền mà không sợ chết. Hành động kiên cường và can đảm của họ sẽ vô nghĩa nếu họ không biết với sự chắc chắn tuyệt đối rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết.
  • Sự phát triển của Kitô giáo đủ xác minh Chúa Giêsu phục sinh. Bài giảng đầu tiên của ông Phêrô, nói về sự phục sinh của Chúa Giêsu, đã khiến người ta tin nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Độ hằng sống của họ. Thánh Luca cho biết một con số kỷ lục: “Hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo.” (Cv 2:41) Cho tới nay, số người tin đó càng ngày càng tăng thêm trên khắp thế giới. Ngày nay, có hàng tỷ người tin.
  • Chứng cớ của hàng tỷ người đã thay đổi đời sống qua các thế kỷ qua cho thấy sức mạnh của Đức Kitô phục sinh. Nhiều người đã bỏ được các chứng nghiện. Những người nghèo khổ và những người thất vọng đã tìm được niềm hy vọng. Những cuộc hôn nhân đổ vỡ đã được hàn gắn. Chứng cớ thuyết phục nhất về sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô là ngày nay Ngài vẫn đang sống giữa những người tin vào sự sống lại và sức mạnh hoán cải.

Sự Phục Sinh làm cho Kitô giáo trở nên đặc biệt. Chưa có một vị lãnh đạo tôn giáo nào đập tan sức mạnh của Tử thần và chiến thắng tội lỗi.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHỤC SINH

Sự Phục Sinh xác nhận rằng Chúa Giêsu là Đấng mà chính Ngài đã tuyên bố. Chúng ta hãy cân nhắc tầm quan trọng của sự kiện này:

  • Sự Phục Sinh chứng tỏ rằng Đức Kitô là Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu chết trên Thập Giá không chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa. Chúa Giêsu chứng tỏ thần tính của Ngài bằng việc hoàn tất các lời tiên tri về cái chết của Ngài và bằng việc Ngài trỗi dậy từ trong mộ. Kinh thánh tuyên bó: “Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng.” (Rm 1:4)
  • Sự Phục Sinh chứng tỏ quyền năng của Đức Kitô trong việc tha tội. Kinh thánh quả quyết: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em.” (1 Cr 15:17) Qua việc sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu chứng tỏ quyền năng và quyền lực phá vỡ mối ràng buộc của tội lỗi, bảo đảm ơn tha thứ và sự sống đời đời cho những ai tin vào Ơn Cứu Độ của Ngài.
  • Sự Phục Sinh mặc khải quyền lực của Đức Kitô đối với sự chết. Kinh thánh cho biết: “Một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người.” (Rm 6:9) Sự Phục Sinh bảo đảm chúng ta cũng chiến thắng sự chết: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời” (Ep 2:6).
  • Sự Phục Sinh đánh bại kẻ thù của Thiên Chúa. Từ cuộc nổi loạn đầu tiên cho đến Thập Giá, ma quỷ đã nham hiểm đấu tranh và xảo quyệt muốn lật đổ Thiên Quốc. Satan phải biết rằng nó đã bị một đòn chí tử trong cuộc chiến xưa kia. Nhưng cuộc chiến này là sự tính toán sai lầm của ma quỷ. Thập Giá là chiến thắng của Nước Trời. Khi Đức Kitô sống lại, quyền lực của tội lỗi và Tử thần đã bị đập tan vĩnh viễn. Nhờ sự Phục Sinh của Đức Kitô, các Kitô hữu không còn sợ Satan hoặc Tử thần nữa!

HOÀN TẤT ƠN CỨU ĐỘ

40 ngày sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại, Ngài đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ. Có lần Ngài quy tụ 11 môn đệ (không còn Giuđa) trên núi tại Galilê và trao cho họ sứ vụ quan trọng. Ngài nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:18-20)

Rồi sau đó, sách Công Vụ cho biết: “Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là: ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần. Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt,8 nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:4-5, 7-8)

Ngay sau đó, Ngài lên trời và biến vào trong đám mây, để các môn đệ ngơ ngẩn nhìn theo, mắt chữ O mà miệng chữ A. Chúa Giêsu lên trời là hành động cuối cùng trong công cuộc cứu độ. Sứ vụ của Ngài hoàn tất, Đức Giêsu Kitô được tán dương và vinh quang. Sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô là sự kiện cách mạng nhất trong lịch sử nhân loại.

Người ta không thể từ chối rằng Ngài đã làm rung động thế giới khi Ngài làm người trên thế gian. Nhưng cuộc đời Ngài đã hình thành lịch sử cả trong thời đại chúng ta. Sự Phục Sinh là minh chứng cuối cùng rằng ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG MÀ CHÍNH NGÀI ĐÃ TUYÊN BỐ.

Nhân chứng sống của chàng trai trẻ Gioan, người luôn kề cận Chúa Giêsu và chứng kiến từ đầu tới cuối, ngay cả khi đứng dưới chân Thập Giá, đã viết: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21:24-25)

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CCCI.ORG)

(Đăng báo ĐMHCG số 404, tháng 04-2020, DCCT xuất bản tại Hoa Kỳ)

Chia sẽ bài viết này trên:

CÁI CHẾT VÔ CÙNG KINH KHỦNG CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN THẬP GIÁ (Theo khoa học)

CÁI CHẾT VÔ CÙNG KINH KHỦNG CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN THẬP GIÁ (Theo khoa học)

Năm 33 tuổi, Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

Vào thời đó, đóng đinh là cái chết “tệ” nhất. Chỉ có những người phạm tội nặng nhất, mới bị kết án đóng đinh.

Ðối với Chúa Giêsu thì án này còn dễ sợ hơn, vì không như những tử tội bị xử án đóng đinh khác, Chúa Giêsu bị đóng đinh tay và chân vào thánh giá.

Mỗi cái đinh dài từ 6 cho tới 8 inches.

Ðinh được đóng vào cổ tay Chúa. Không phải nơi bàn tay như thường được minh họa. Ở cổ tay, có gân vươn tới vai.

Lính La Mã biết điều đó khi những chiếc đinh được đóng vào cổ tay, gân bị xé ra và đứt, khiến Chúa phải dùng bắp thịt ở lưng để nâng mình dậy, như thế, Ngài mới có thể thở.

Cả hai bàn chân được đóng đinh dính vào nhau. Như thế, Ngài buộc phải chống đỡ mình trên chiếc đinh xuyên qua hai bàn chân và Thánh Giá. Chúa Giêsu không thể chống đỡ với hai chân vì đau đớn, như thế, Ngài buộc phải luân phiên uốn cong lưng và dùng hai chân để tiếp tục thở.

Hãy tưởng tượng đến sự vật lộn, đau đớn, thống khổ, cam đảm của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu đã chịu đựng trong hơn 3 tiếng đồng hồ. Phải, trong hơn 3 tiếng đồng hồ! Bạn có thể tưởng tượng được sự đau đớn này không?

Vài phút trước khi chết, Chúa Giêsu bị ngưng chảy máu. Ngài chỉ chảy nước từ những vết thương.

Trong những hình ảnh, chúng ta thường thấy những vết thương trên bàn tay và chân và vết thương ở cạnh sườn do lưỡi đòng…nhưng chúng ta có nhận thức được rằng những vết thương đó thật đã được làm nơi thân thể của Chúa Giêsu không?

Một cái búa đóng những chiếc đinh dài xuyên qua cổ tay, và chiếc đinh lớn xuyên qua hai bàn chân chồng lên nhau và qua miếng gỗ chêm, rồi người lính canh đâm cạnh sườn Ngài với ngọn giáo.

Trước khi bị đóng đinh và bị ngọn giáo đâm, Chúa Giêsu đã bị quất bằng roi và bị đánh. Cú đánh bằng roi khủng khiếp đến nỗi xé thịt từ thân thể Ngài ra. Cú đánh ghê rợn đến nỗi mặt Ngài bị đứt và râu bị xé toạc trên mặt Ngài.

Mão gai đâm vào tận xương sọ của Chúa Giêsu.

Hầu như con người của Chúa Giêsu không thể sống sót được với cuộc tra tấn này!

Chúa Giêsu không còn máu để đổ ra nữa, chỉ có nước tuôn ra ở những vết thương. Cơ thể con người chứa chừng 3,5 lít máu (ít hơn một gallon). Chúa đã đổ hết 3,5 lít máu.

Ba chiếc đinh xuyên qua tứ chi; một mão gai trên đầu, và bên cạnh đó, người lính La Mã đâm ngọn giáo vào ngực. Tất cả những điều này, không kể đến sự nhạo cười Chúa Giêsu đã trải qua khi vác thập giá trên đoạn đường dài 2 cây số, trong lúc đó, đám đông vả vào mặt Ngài và ném đá.

Thập giá nặng cỡ 30 ký, chỉ có thanh ngang.

+++

Chúa Giêsu đã chịu đựng tất cả để cho Bạn được tự do đến với Chúa, để tội lỗi của Bạn được tẩy sạch. Tất cả tội lỗi, không trừ tội nào! …

CHÚA GIÊSU ÐÃ CHẾT CHO BẠN!…

Ðừng nghĩ rằng Ngài chết cho ai khác… Ngài chết cho Bạn! …

Chúa có chương trình cho Bạn.

Bạn hãy tỏ cho tất cả bạn bè của mình biết kinh nghiệm của Chúa Giêsu để cứu Bạn…

Xin Chúa Giêsu chúc bình an cho Bạn!

Linh mục Phạm Văn Dũng

Chia sẽ bài viết này trên:

Tìm hiểu Ơn Toàn Xá trong mùa đại dịch Covid -19

Tìm hiểu Ơn Toàn Xá trong mùa đại dịch Covid -19

 Nhằm giúp các tín hữu chưa hiểu rõ hoặc chưa để ý đến ân xá và việc lãnh nhận ơn toàn xá trong mùa đại dịch Covid-19, cũng như mong ước các tín hữu mạnh mẽ thể hiện tình thương đối với chính mình và tha nhân bằng lời cầu nguyện và thi hành các việc đạo đức bác ái để lãnh nhận các ân xá, chúng tôi xin mạn phép giải thích thêm ở đây nội dung của  “Sắc Lệnh ban ân xá đặc biệt cho các tín hữu chịu đau khổ vì dịch Covid-19, cũng như cho những nhân viên y tế, gia đình bệnh nhân và tất cả những ai đang giúp đỡ các bệnh nhân” được ban hành mới đây (ngày 19 tháng 3 năm 2020) từ Tòa Ân Giải (Paenitentiaria Apostolica).

Lý do ra đời của Sắc Lệnh này là vì: [1] Toàn thể nhân loại chúng ta đang ở trong thời kỳ “bị đe dọa bởi một căn bệnh vô hình và ác hiểm” do nhiễm virus corona, cho nên theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu, Hội Thánh muốn luôn mở lòng chăm sóc các bệnh nhân; [2] Để tất cả những ai đau khổ vì nạn dịch Covid-19 có thể tái khám phá ra “sự đau khổ mang tính cứu chuộc của Chúa Kitô”; [3] Noi theo ĐGH Phanxicô trong việc bày tỏ sự gần gũi của ngài đối với các bệnh nhân như một người cha và không ngừng mời gọi cầu nguyện cho những người bị nhiễm virus corona.

Để lãnh nhận ơn toàn xá theo đúng tinh thần siêu nhiên phải có, chúng ta nên hiểu một vài khái niệm về ân xá, nhưng quan trọng hơn, hội đủ các điều kiện cần thiết và thi hành những điều Hội Thánh qui định.

  1. ÂN XÁ LÀ GÌ?

Ân xá là việc tha trước mặt Thiên Chúa hình phạt tạm thời phải chịu do các tội gây nên, dù tội đã được tha thứ [qua Bí tích Giải tội]. Nhờ Bí tích Hòa giải, hối nhân được tha thứ tội lỗi và tái lập hiệp thông với Thiên Chúa, cũng như được tha các hình phạt đời đời do tội. Nhưng những hình phạt tạm vẫn còn. Kitô hữu nào đã được chuẩn bị đầy đủ và đã thực hiện một số điều kiện đã được ấn định, thì được hưởng ơn tha thứ hình phạt tạm nhờ sự trợ giúp của Giáo Hội (GL 992; GLCG 1471, 1473; Enchiridion Indulgentiarum [EI] (1999), “Normae de Indulgentiis”, N. 1).

Ân xá gồm có ơn xá từng phần hoặc ơn toàn xá. Tên gọi “ơn xá từng phần” và “ơn toàn xá” được sử dụng nhiều hơn là tên gọi “tiểu xá” và “đại xá” (GL 993; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 2). Bất cứ tín hữu nào cũng có thể hưởng ơn xá từng phần hoặc ơn toàn xá, hoặc cho chính mình, hoặc cho những người đã qua đời (GL 994; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 3). Mỗi ngày một tín hữu chỉ nhận hưởng được ơn toàn xá một lần mà thôi, ngoại trừ trường hợp nguy tử (EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 18).

  1. ƠN XÁ TỪNG PHẦN LÀ GÌ?

Ân xá được gọi là gọi là ơn xá từng phần (indulgentia partialis), nghĩa là ân xá chỉ tha một phần hình phạt tạm thời phải chịu vì tội (GL 993; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 2).

III. ƠN TOÀN XÁ LÀ GÌ?

Ân xá được gọi là ơn toàn xá (indulgentia plenria), nghĩa là ân xá tha hoàn toàn hình phạt tạm thời phải chịu vì tội (GL 993; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 2).

  1. CÓ THỂ LÃNH NHẬN ƠN TOÀN XÁ MỖI NGÀY KHÔNG?

Mỗi ngày, tín hữu có thể nhận được một ơn toàn xá khi làm những việc đạo đức sau: [1] Viếng Mình Thánh Chúa ít nhất nửa tiếng đồng hồ (Enchiridion Indulgentiarum [EI] (1999), “Concessiones” 7 § 1, 1°); [2] Đọc 50 kinh Mân côi trong nhà thờ, nhà nguyện, gia đình, tu viện hay cùng với hội đoàn (EI, “Concessiones” 17 § 1, 1° et conc. 23 § 1); [3] Đọc Kinh Thánh liên tục trong nửa tiếng đồng hồ với ý thức là đang đọc Lời Chúa (EI, “Concessiones” 30); [4] Đi Đàng Thánh giá (EI,  “Concessiones” 13, 2°). Ngoài ra, trong khá nhiều dịp đặc biệt như được ấn định trong Sổ bộ các Ân xá: Quy chế và Ân ban [1999] (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones), tín hữu cũng được lãnh nhận ơn toàn xá. Chẳng hạn dịp lãnh nhận phép lành “Urbi et Orbi” của ĐGH; dịp tham dự tuần cấm phòng (tĩnh tâm) ba ngày liên tiếp; dịp rước lễ lần đầu; dịp tham dự Thánh lễ mở tay (Thánh lễ Tạ ơn) của tân linh mục…

  1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐỂ LÃNH NHẬN ÂN XÁ LÀ GÌ?

Đó là những điều kiện sau:

[1] Có ý định muốn lãnh nhận ân xá (có ý chung chung cũng đủ, hoặc ý thường kỳ tỏ ra một lần mà không rút lại);

[2] Thi hành những công việc như đã ấn định: xưng tội, rước lễ, và cầu nguyện theo ý ĐGH. Việc xưng tội có thể thực hiện trước mấy ngày hoặc sau mấy ngày làm việc có ân xá (nếu trong lòng không mắc hoặc vương vấn tội lỗi) và xưng tội một lần thì đủ điều kiện để hưởng ơn toàn xá nhiều lần. Việc rước lễ thì nên làm mỗi ngày (chính ngày) khi lãnh nhận ân xá. Tuy nhiên, Bản quyền địa phương có thể miễn chuẩn việc rước lễ cho những người không thể tuân giữ được (ví dụ như người bệnh, người ở xa nhà thờ). Việc cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng cũng vậy, nên làm trong chính ngày muốn lãnh nhận ân xá, được diễn tả bằng việc đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Kính Mừng là đủ, nhưng vì lòng đạo đức mà đọc thêm những kinh khác cũng là điều tốt. Mỗi lần rước lễ và cầu nguyện theo ý ĐGH thì chỉ được hưởng một ơn toàn xá (EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 20).

[3] Dứt lòng quyến luyến tội lỗi, dù là tội nhẹ

  1. LÃNH NHẬN ƠN TOÀN XÁ TRONG MÙA ĐẠI DỊCH COVID-19

Sắc Lệnh của Tòa Ân Giải về việc ban Ân Xá Đặc Biệt cho các tín hữu trong đại dịch hiện nay chia ra 4 nhóm đối tượng lãnh nhận cũng như quy định các thực hành đạo đức tương ứng với mỗi nhóm và ý hướng kèm theo những thực hành đạo đức này để được hưởng ơn toàn xá:

1/ Bệnh nhân nhiễm virus Corona, người phải cách ly tại bệnh viện hay tại nhà do thẩm quyền y tế

  • Điều kiện:[1] Tinh thần dứt bỏ tội lỗi; [2] Ít là thực hành một trong các việc sau: a/ Tham dự trực tuyến Thánh lễ; b/ Đọc kinh Mân côi; c/ Đi Đàng Thánh Giá; d/ Các việc đạo đức khác; d/ Tối thiểu chỉ cần đọc kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính, kinh Kính Mừng và một lời khẩn cầu với Đức Trinh Nữ Maria; [3] Sớm hết sức có thể, sẽ xưng tội, rước Thánh Thể, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng. Điều kiện có ý định muốn lãnh nhận ân xá coi như được hiểu ngầm.
  • Ý hướng: Dâng đau khổ trong tinh thần đức tin hướng về Chúa và đức ái hướng đến anh chị em tha nhân.

2/ Nhân viên y tế, người nhà của bệnh nhân và thiện nguyện viên đang chăm sóc bệnh nhân nhiễm virus Corona

  •  Điều kiện: tương tự như nhóm đối tượng trên.
  • Ý hướng: Phục vụ theo lời Chúa dạy: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu” (Ga 15, 13).

3/ Các tín hữu nói chung

  • Điều kiện:[1] Tinh thần dứt bỏ tội lỗi; [2] Ít là thực hành một trong các việc sau: a/ Viếng Thánh Thể, hoặc chầu Thánh Thể ít là nửa tiếng đồng hồ; b/ Đọc Thánh Kinh ít là trong 30 phút; c/ Đọc kinh Mân côi; d/ Đi Đàng Thánh Giá; d/ Lần chuỗi kính Lòng Chúa Thương Xót; [3] Sớm hết sức có thể, sẽ xưng tội, rước Thánh Thể, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng. Điều kiện có ý định muốn lãnh nhận ân xá coi như được hiểu ngầm.
  • Ý hướng: để khẩn cầu Thiên Chúa Toàn năng chấm dứt đại dịch này, nâng đỡ những người nhiễm bệnh và ban ơn cứu rỗi muôn đời cho những kẻ đã được Chúa gọi về bên Chúa.

4/ Tín hữu nguy tử, không thể lãnh nhận Bí tích Xức dầu và Của ăn dàng

Điều kiện: [1] Đã chuẩn bị tâm hồn cách thích đáng và đã đọc một ít kinh nguyện khi còn sống (trong trường hợp này Hội Thánh sẽ bù đắp cho ba điều kiện thông thường để lãnh nhận ân xá); [2] Có tượng Chúa chịu đóng đinh hoặc Thánh giá.

VII. CÁC TÍN HỮU THAM DỰ THÁNH LỄ TRỰC TUYẾN CÓ ĐƯỢC LÃNH ƠN TOÀN XÁ KHÔNG?

Như phần trên đã nói, điều kiện căn bản là để lãnh nhận ân xá là: [1] Có ý định muốn lãnh nhận ân xá; [2] Thi hành những công việc như đã ấn định (ngày, nơi, dịp lãnh nhận ân xá và xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý ĐGH); [3] Dứt lòng quyến luyến tội lỗi, dù là tội nhẹ.

Dựa vào Sắc Lệnh ban ơn Toàn Xá của Tòa Ân Giải trong tình trạng dịch bệnh lan tràn hiện nay (19/03/2020), các tín hữu thuộc về Nhóm đối tượng 1/ (bao gồm: Bệnh nhân nhiễm virút Corona, người phải cách ly tại bệnh viện hay tại nhà do thẩm quyền y tế) và Nhóm đối tượng 2/ (bao gồm: Nhân viên y tế, người nhà của bệnh nhân và thiện nguyện viên đang chăm sóc bệnh nhân nhiễm virus Corona) đều có thể lãnh nhận ơn toàn xá nếu họ tham dự Thánh lễ trực tuyến và đáp ứng điều kiện là từ bỏ tội lỗi và sớm hết sức có thể, sẽ xưng tội, rước Thánh Thể, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng.

Còn đối với các tín hữu nói chung (Nhóm đối tượng 3/), Sắc Lệnh chỉ nhắc đến việc thi hành một số công việc đã ấn định với ý hướng cầu nguyện cho đại dịch chấm dứt, cho bệnh nhân được chữa lành và cho những người qua đời được an nghỉ ngàn thu, thì được ban ơn toàn xá. Như vậy, trong trường hợp này, nguyên việc tham dự Thánh lễ trực tuyến thì không được lãnh ơn toàn xá mà là do họ đáp ứng những điều kiện và có ý hướng như được chỉ ra trong Sắc Lệnh (coi phần trên).

THAY LỜI KẾT

Ân xá không đến từ việc hoàn tất cho xong công kia việc nọ, nhưng là kết quả từ lòng đạo đức chân thành trong đó chúng ta nhận ra nhu cầu hoán cải tâm hồn và đáp lại bằng một tình yêu đích thực trước những hoa trái thiêng liêng cao quý mà Thiên Chúa tuôn đổ một cách dạt dào trên chúng ta. Vậy chúng ta đừng lãng phí cơ hội quý báu để lãnh nhận ơn toàn xá trong thời gian này với lòng tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa, Đấng đã thiết lập Hội Thánh và đón nhận chúng ta vào Hội Thánh mà “với tư cách là thừa tác viên ơn cứu chuộc, Hội Thánh dùng quyền mình để phân phát và áp dụng kho tàng đền tội của Đức Kitô và các Thánh.”

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

Tại sao có Sự Dữ và Đau Khổ trong đời sống?

Tại sao có Sự Dữ và Đau Khổ trong đời sống?

I. Giới Thiệu

Nạn đại dịch covid-19, bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc, đã lan tràn ra khắp thế giới, và đe dọa mạng sống con người khiến cuộc sống thường ngày của hầu hết mọi người bị đảo lộn. Riêng với người Công Giáo, Tuần Thánh năm nay có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử mà giáo dân phải tham dự thánh lễ “từ xa” qua hệ thống kỹ thuật truyền thông hiện đại. Trong bối cảnh đối diện với đai dịch, và người Kitô hữu đồng hành với Đức Giêsu Kitô trong tuần thánh để cảm nghiệm Cuộc Thương Khó, Sự Chết và Sự Sống Lại của Ngài, tôi muốn dùng cơ hội này để ôn lại giáo lý Công Giáo dạy gì về những sự dữ và đau khổ xảy ra trong đời sống con người, và làm thế nào để qua những hiểu biết này, chúng ta tăng thêm đức tin vào Thiên Chúa toàn năng và nhân từ.

Câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa để có đại dịch covid-19 khiến hơn 1.2 triệu người nhiễm, và hơn 67 ngàn người tử vong? [1] Tại sao ông A bị ung thư? Tại sao bà B bị chết khi đang đi hành hương hay đang cầu nguyện? Tại sao anh C đang làm việc cho cộng đoàn lại bị xe tông và thành bất toại? Hay trên bình diện lớn hơn: Tại sao có chiến tranh gây thiệt mạng hàng triệu người? Khi Hitler giết sáu triệu người Do thái trong các lò hơi ngạt, Thiên Chúa ở đâu? Và hằng ngày, những người bị tù tội oan ức, Thiên Chúa ở đâu? Công bằng ở đâu?

Giáo Lý Công Giáo số 309 dạy “Nếu Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Ðấng Sáng Tạo nên thế giới có trật tự và tốt lành, chăm sóc hết mọi thụ tạo, tại sao có sự dữ?… Không thể có một câu trả lời ngắn gọn mà đầy đủ được.”

Sự hiện diện của sự dữ trong cuộc sống đã quá rõ ràng. Vì thế, đối diện với đau khổ là vấn nạn căn bản và cũng là mầu nhiệm phức tạp đầu tiên con người tiếp cận khi tìm hiểu đức tin họ đặt vào Thiên Chúa.

Những bất công, bệnh tật, chết chóc, đau khổ v.v… là một phần hiện thực của sự dữ (sự ác) được triết học và thần học quan tâm và tìm cách giải thích cho hợp lý. Câu hỏi ‘tại sao và làm cách nào sự dữ xâm nhập vào thế giới được Thiên Chúa tạo dựng’ vẫn chứa đựng bí ẩn thắc mắc nhiều hơn là câu trả lời.

Với đức tin Công Giáo, chúng ta hiểu gì mầu nhiệm này? Trước khi tìm hiểu thêm sâu rộng thêm về đề tài này, chúng ta cần phân biệt hai hình thức sự dữ được nói đến: một là sự dữ luân lý, hai là sự dữ tự nhiên. Sự dữ luân lý thường là hệ quả của việc con người sử dụng tự do (ví dụ như trộm cắp, giết người, cướp của, hãm hại nhau…). Sự dữ tự nhiên (như động đất, lụt lội, núi lửa, bệnh tật…) không là lựa chọn của con người nhưng họ lãnh hậu quả.

Dĩ nhiên không phải mọi kết quả sự dữ đều dễ nhận dạng theo hai hình thức trên, vì tính phức tạp của thực tế. Ví dụ như sập chiếc cầu Cần Thơ năm 2007 làm chết hơn 50 người, liệu đây là do sự dữ tự nhiên (cầu sập đè chết người) hay sự dữ luân lý khi con người làm lỗi (vì thiết kế cẩu thả, ăn cắp vật liệu, gian dối trong thi công…) gây sập cầu. Dịch Covid-19 là do sự dữ tự nhiên (con người vô tình lây lan từ một virus đang có trong động vật???…) hay sự dữ luân lý (vì con người muốn chế tạo để hại nhau, nhưng sai lầm trong kiềm chế kiểm soát khiến virus bị lọt ra ngoài??). Ngay cả với yếu tố sự dữ tự nhiên, việc lây lan nhanh chóng và quá rộng rãi trên thế giới có thể một phần do sự dữ luân lý khi con người che giấu sự thật về tình trạng nguy hiểm của virus này không?

Điều quan trọng là cho dù sự dữ luân lý hay tự nhiên, chúng ta cũng không dễ dàng tìm ra câu trả lời tại sao lại xảy ra như vậy.

Và tất cả những gì tôi chia sẻ dưới đây là tập hợp của những lý thuyết trong lịch sử tìm cách giải đáp thắc mắc này, nhưng không một giải đáp nào thỏa mãn được mọi thắc mắc của chúng ta. Dù sao, những tổng hợp vắn tắt này cho chúng ta một cái nhìn khái quát phức tạp về vấn nạn sự dữ và đau khổ trong cuộc sống, và giúp chúng ta cẩn thận hơn khi giảng dạy, thay vì cung cấp những câu trả lời đơn giản nhưng chứa đựng nhiều sai lầm.

II. Lịch sử tranh luận về sự dữ

Triết lý và thần học có cùng một câu hỏi, nhưng cách giải thích có nhiều khác nhau. Với triết lý, lý luận logic là nguyên tắc chính. Với thần học Kitô giáo, làm sao để bảo vệ được Một Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện mà không thể bỏ qua sự hiện diện của sự dữ trong đời.

Thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, triết gia Epicurus (341-270 BC) đã đặt câu hỏi tương quan giữa Triết học và Thần học khi ông hỏi về nguyên nhân của sự dữ, và được David Hume (1711-1776) lặp lại trong một lý luận ngắn gọn: “Có phải Thiên Chúa muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng Ngài không có thể? Vậy, Ngài không Toàn Năng. Nếu Ngài có thể, nhưng Ngài không ước muốn ngăn ngừa? Vậy Ngài không Toàn Thiện. Nếu Ngài vừa có khả năng và vừa ước muốn làm việc đó, vậy tại sao sự dữ lại có mặt trong đời sống?”

1. Triết lý và các thuyết giải thích

Triết lý tìm cách giải thích sự hiện diện của sự dữ mà không nhất thiết phải tin là có Một Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng vũ trụ. Vì thế, một vài lý luận được ghi lại như sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa Nhị Nguyên Thuyết (dualism) cắt nghĩa đơn giản rằng trong vũ trụ tồn tại hai thần lực, Tốt và Xấu. Sự đấu tranh này có thể là tạm thời (nghĩa là đến một lúc nào đó, một trong hai Thần sẽ thắng đối tượng kia), hay có tính cách vĩnh viễn (nghĩa là hai thế lực Tốt-Xấu này tồn tại muôn đời). Như thế, sự dữ trong thế gian là điều tất yếu, vì đó là một phần của thụ tạo trong vũ trụ. [2]

Thứ hai, không hề có hiện thực Tốt hay Xấu mà chỉ là những danh từ con người đặt tên cho những sự kiện xảy ra trong đời. Nói cách khác, “hên” hay “xui” không tùy thuộc vào sự kiện cho bằng tùy thuộc vào người đón nhận. Vì thế, không thể coi sự dữ như là một thực thể, mà tốt hơn là coi nó như một tình trạng tâm lý, hay một tình huống được con người diễn dịch theo ý mình. [3]

Thứ ba, thuyết Bất Khả Tri Luận (agnosticism) cho rằng khả năng con người không thể biết được. Thuyết Bất Khả Tri Luận được nhiều người chấp nhận vì mọi lý lẽ giải thích bí nhiệm sự dữ không thoả mãn được óc tò mò của con người, ngay cả vô thần như Voltaire, trong tác phẩm Candide,Ou L’Optimisme, cũng ủng hộ thuyết này. [4]

Thứ tư, thuyết Nhân Quả cho rằng “gieo gió thì gặp bão.” [5] Xuất phát từ tính dễ hiểu, triết thuyết này rất phổ biến trong đời sống con người, và là nền tảng niềm tin Ấn Độ giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Nho giáo…. Điều khó cắt nghĩa được kể lại trong Tin Mừng Gioan 9:1-12 là tại sao người mù từ khi mới sinh? Tội của anh ta hay của cha mẹ anh ta? Vì mù từ khi mới sinh nên chắc chắn anh ta chưa làm gì nên tội; còn nếu là tội cha mẹ anh thì câu hỏi: tại sao một người làm mà người khác phải chịu? Bên cạnh đó, ta lại còn chứng kiến nhiều người ác sống thảnh thơi trong khi người lành thánh gặp nhiều hoạn nạn. Thuyết Nhân Quả bị sách ông Gióp loại bỏ và cũng bị Chúa Giêsu lên án (John 9:2-3)

2. Triết lý và lý luận logic

Giáo lý Kitô giáo dạy chỉ có Một Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện. Vậy sự có mặt của sự dữ không thể dung hoà với những yếu tố trên của đức tin. Lý luận này được tóm gọn như sau:

a. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, Ngài phải tiêu diệt hết mọi sự dữ.
b. Nếu Thiên Chúa Toàn Năng, Ngài có thể tiêu diệt hết mọi sự dữ.
c. Vì thế, sự dữ trên thế gian chứng tỏ không có một Thiên Chúa vừa Toàn Năng – Toàn Thiện như Kitô giáo dạy.

Trước khi đi sâu vào tư tưởng thần học của lý luận này, chúng ta cùng nhau nhìn lại lý luận này theo phương thức logic của triết lý. Khi thách đố trên dựa vào lý luận để kết luận là không có Một Thiên Chúa như đức tin Kitô giáo dạy, thì chìa khóa giải đáp cũng dựa vào lý luận mà thôi.

Khi ta nói: “Thiên Chúa là Đấng toàn năng, làm được mọi sự” , câu này có nghĩa là gì? Có phải Ngài làm gì cũng được hay sao? Thưa không, vì có nhiều điều Thiên Chúa không làm được. Kinh thánh nói “với Thiên Chúa mọi sự đều có thể” (Mt. 19:26), nhưng Kinh thánh cũng dạy là có nhiều điều Thiên Chúa không làm được, như Ngài không thể lừa dối (Titus. 1:2), không thể phạm tội, hay cám dỗ người khác phạm tội (James 1:13). Nghĩa là Thiên Chúa không thể làm điều nghịch lại bản tính Ngài. Và cũng không thể làm điều gì ngoài định luật Ngài đã đặt ra, như không thể tạo ra một hình tam giác có bốn góc, hay làm sai thành đúng, hay người cao lại “ngắn” hơn người lùn…[6] Với con người, Thiên Chúa không thể cho họ vừa tự do, vừa mất tự do.

Vì thế, lý luận logic trên không thật sự cho chúng ta một thực thể nhưng cho ta một logic lập luận về từ ngữ mà thôi.

Nên trong thần học, chúng ta vẫn tuyên xưng Thiên Chúa Toàn Năng và Toàn Thiện, và dĩ nhiên Ngài có khả năng loại bỏ sự dữ, nhưng Ngài không thể làm mà không huỷ hoại tự do con người.

Còn với sự dữ tự nhiên (như động đất, lụt, bệnh tật…) thì sao? Lý luận trên cũng giúp ta hiểu rằng chúng ta không thể sống theo ý định Thiên Chúa muốn ta sống, nếu ta không có môi trường như ta đang có hiện tại. Nói cách khác, điều kiện sống hiện tại, dù có nhiều sự dữ, nhưng bảo đảm cho ta được tự do, và là điều kiện tốt nhất Thiên Chúa dành cho con người.

3. Sự dữ trong thần học truyền thống

Trong truyền thống thần học Kitô giáo, có vài hình thức giải thích được xem là phổ biến.

Trước hếtlà không thể hiểu được. Chúng ta không hiểu tại sao có sự dữ trên thế gian, nhưng chúng ta vẫn tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng đời mình, và con người cần kiên nhẫn trong đời sống đức tin. Cách hiểu này được kể lại trong sách ông Gióp khi cắt nghĩa rằng con người không thể hiếu được chương trình bí nhiệm của Thiên Chúa Toàn Năng (xem Job 38-41). Nên nhớ rằng chỉ vì ta không hiểu được lý do nào Thiên Chúa để cho sự dữ xảy ra, không có nghĩa là Thiên Chúa không có lý do để làm chuyện đó. Một em bé không luôn luôn hiểu hết những lý do đằng sau những việc bố mẹ làm cho mình, nhưng không phải vì thế mà bố mẹ không có lý do để cấm đoán hay khuyến khích em làm những gì bố mẹ muốn cho em. Vì thế, là con người mà đòi hỏi hiểu hết mọi mầu nhiệm của Thiên Chúa là điều không thể được, vì ngay cả biết bao điều chung quanh chúng ta mà ta còn chưa hiểu như sức ly tâm, sức hút trái đất, nguyên tử v.v…

Thứ hai là thanh luyện. Cách giải thích này là Thiên Chúa dùng đau khổ, sự dữ để thanh luyện con người ngày càng lớn mạnh hơn.[7] Tư tưởng này khá phổ biến trong thần học các giáo phụ, và ta có thể tìm thấy trong thần học thánh Phaolô, như trong thư gửi tín hữu Roma: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.” (Rom 8:18). Dĩ nhiên tư tưởng thánh Phaolô nhắc ở đây là những đau khổ con người chịu vì danh Đức Giêsu Kitô, chứ không là những đau khổ đến từ những điều kiện mà con người có thể loại bỏ hay thay đổi. Nghĩa là, đừng hiểu lầm rằng thánh Phaolô muốn con người sống thụ động trước đau khổ, nhưng Ngài muốn dạy rằng Thiên Chúa sẽ không để những đau khổ con người chịu đựng vì danh Ngài trở nên vô ích. Với những người chống lại lối giải thích này, họ hỏi rằng: liệu Thiên Chúa còn phải tôi luyện con người đến mức nào? Bao nhiêu thử thách đau khổ xảy ra mới đủ?

Thánh Irenaeus (thế kỷ 2) cho rằng sự dữ đơn giản là một phần của thụ tạo được dựng nên, và là điều kiện cần thiết để con người có thể sử dụng tự do chọn điều Tốt. Chỉ khi có sự dữ như một lựa chọn, con người mới thật sự hiểu tự do là gì khi chọn điều tốt – xấu cho mình. Và khi chọn điều tốt để làm và loại bỏ điều xấu, con người trưởng thành. Như vậy, sự dữ là điều kiện cần thiết để con người được tôi luyện và trưởng thành.[8]

Thứ ba là phó thác theo ý Chúa. Lối giải thích này cho rằng không việc gì xảy ra mà không theo ý Thiên Chúa, nghĩa là, mọi việc xảy ra dù Thiên Chúa cho phép xảy ra hay Thiên Chúa muốn nó xảy ra đều do Thiên Chúa định đoạt. Lối giải thích này cũng không quên nhấn mạnh rằng ý định cuối cùng của Thiên Chúa luôn luôn muốn sự tốt đẹp cho con người, vì những gì không tốt đẹp đều không hợp với bản tính tốt lành, yêu thương và khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa chắc chắn phải có lý do chính đáng khi để những sự dữ xảy ra. Nói cách khác, Thiên Chúa sẽ đem về những kết quả tốt đẹp đến từ đau khổ, và dùng sự dữ như phương tiện để thực hiện mục đích Ngài. Vậy, Thiên Chúa muốn có sự dữ, vì nếu Ngài không muốn thì nó không thể hiện hữu được. Điều đáng chú ý (về thần học) là liệu ước muốn có sự dữ trên thế gian có thuộc về bản tính Thiên Chúa không? Vì theo giáo lý Công Giáo, Thiên Chúa luôn luôn ước muốn điều thiện hảo? Tóm lại, lối giải thích này từ chối công nhận rằng sự dữ là một vấn nạn, và khuyên Kitô hữu chỉ cần phó thác theo ý Thiên Chúa là đủ.

Thứ tư là vũ trụ đang tiến hóa. Một quan điểm khác cho là những sự dữ trong đời như bệnh tật, già nua, thất bại… là một phần của tiến trình tiến hoá trong vũ trụ (như đau khi mọc răng là một phần của sự lớn mạnh của con người). Tựu trung, vũ trụ đang tiến hoá. Và bão tố, động đất… là một phần của tiến trình này. Cha Pierre Teilhard de Chardin, thần học gia người Pháp, là người cổ võ cho tư tưởng này. Hiểu cách này, tất cả những gì xảy ra trên thế giới được coi là chức năng của đời sống vũ trụ. Đây là nghĩa sâu nhất của danh từ “tiến hoá”. Thuyết này có ưu điểm là giải thích những sự dữ tự nhiên (động đất, lụt lội, núi lửa…) là bản năng tiến hoá. Vì thế, sự dữ không là một sản phẩm có mặt ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, và vì thế, không là một sản phẩm Thiên Chúa dựng nên. Do dó, sự dữ trong thuyết này không có từ đầu, và sau này cũng biến mất khi vũ trụ hoàn hảo, hết tiến hoá.[9]

4. Thánh Augustine và sự dữ

Thánh Augustine (354-430) được coi là thần học gia tiên phong có những giải đáp khá thỏa đáng liên quan đến câu hỏi này.[10] Lời giải thích của thánh nhân dựa trên đức tin căn bản: Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng (Ngài làm được mọi sự) và Toàn Thiện (Ngài luôn yêu điều thiện, không làm điều ác).[11] Lối giải thích của Ngài thực tế, đáng tin, giải đáp được những hi vọng của Kitô hữu, và giúp những gì ta đang làm có ý nghĩa.

Trước hết, Thiên Chúa tạo dựng nên mọi sự từ hư không, và mọi sự đều tốt đẹp. Vì thế, sự dữ không thể là một sản phẩm (thụ tạo) của Thiên Chúa toàn thiện được, vì Ngài không dựng nên sự dữ.[12] Vậy nếu không là một thụ tạo, sự dữ từ đâu đến? Thánh Augustine giải thích rằng sự dữ tự nó không hiện hữu được, vì Thiên Chúa không dựng nên nó, nhưng sự dữ là do vắng bóng sự thiện mà thôi.[13] Thánh Augustine cũng giải thích thêm rằng vì sự dữ tự nó không tồn tại như một thụ tạo, vì thế con người không chọn sự dữ như một đối tượng (vì không có thực để con người chọn). Nhưng khi con người từ chối và quay mặt lại với sự thiện, hay khi chọn lựa cái kém hơn sự thiện, con người đến với sự dữ. Và thánh Augustine kết luận rằng nguồn gốc của sự dữ nằm ở tự do của con người khi họ lựa chọn điều kém hơn sự thiện.[14]

5. Thần học hiện đại và cái nhìn mới về sự dữ

Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, với hơn sáu triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết chỉ vì họ là người Do Thái, thần học nhìn về sự dữ thay đổi rất nhiều. Nhiều thần học gia phê bình lối giải thích của thánh Augustine hay lối hiểu trong thần học cũ vì tính không thực tế, xa vời, và không giải thích được vai trò Thiên Chúa trong đời sống con người. Họ đề nghị cần phải có một cái nhìn mới trong vấn đề này. Lối giải thích của những thần học mới này cũng mang theo những yếu tố sau:

Thứ nhất là chất vấn tính toàn thiện của Thiên Chúa. Sự dữ ngày càng nhiều trên thế gian khiến con người mất tin tưởng vào Một Thiên Chúa Là Tình Yêu, như Thánh Kinh dạy. Như vậy không có nghĩa là họ từ chối Thiên Chúa toàn thiện, nhưng họ đặt câu hỏi để “xét xử” Thiên Chúa hơn là luôn bênh vực Thiên Chúa như trong thần học truyền thống.

Thứ hai là quy trách nhiệm gián tiếp cho Thiên Chúa khi để sự dữ hiện diện trong thế gian. Vì Thiên Chúa cho con người tự do, và họ đã làm điều xấu (cướp của, giết người…) mà Thiên Chúa không ngăn cản được, nên Thiên Chúa chịu trách nhiệm gián tiếp cho hành động con người gây ra sự dữ. Dù Thiên Chúa luôn ước mong những gì tốt đẹp nhất cho con người, và không muốn họ đau khổ, nhưng Ngài phải chịu một phần trách nhiệm trong thế giới Tốt-Xấu lẫn lộn này.

Thứ ba là con người trưởng thành và hoàn hảo qua chính những lựa chọn của mình. Lối giải thích này cho rằng mỗi con người sinh ra đều có một mục đích mong đạt được. Không như Augustine cho rằng sự dữ là kết quả của tội lỗi, hay như thánh Irenaeus cho rằng sự dữ tôi luyện đời sống đức tin, John Hick (người đại diện cho lối hiểu này) cho rằng chính sự dữ giúp con người có kinh nghiệm khi có những quyết định đúng đắn để xây dựng tư cách của mình. Chính những quyết định đúng đắn hằng ngày giúp ta sống trọn vẹn, đúng nghĩa Thiên Chúa đã ước định cho ta.

Cuối cùng là thần học giải phóng nhắm đến giải thoát con người khỏi những bất công hiện tại. Chính bất công gây ra nghèo đói, tội ác… và những đàn áp, bóc lột là hiện thân của sự dữ. Lối giải thích này không cắt nghĩa nguyên nhân sự dữ, nhưng mời gọi con người thông phần với Đức Kitô là nạn nhân của xã hội bất công, và luôn nhớ rằng Sự Sống Lại là chiến thắng của Thiên Chúa trên sự dữ.

III. Giáo lý Công Giáo và thần học về sự dữ

Trong sách giáo lý Công Giáo, Giáo Hội luôn khẳng định rằng sự dữ (kết quả dẫn đến đau khổ) trong đời sống con người luôn luôn là một mầu nhiệm. Vì thế, Giáo Hội không cho ta một câu trả lời rõ ràng, rành mạch theo lý luận bình thường cho câu hỏi “Tại sao Một Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện lại để cho sự dữ hoành hành trong đời sống con người” . Dù công nhận là một mầu nhiệm, Giáo Hội cũng đưa ra nhiều giải thích để chúng ta có thể hiểu và sống có ý nghĩa khi đương đầu với sự dữ. Một vài tư tưởng hiện tại:

Trước hếtvũ trụ và con người đang trong qúa trình tiến hoá. Giáo lý số 310 dạy: “Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện?” Giáo hội trả lời là cho dù Thiên Chúa quyền năng vô biên có thể làm được việc này, nhưng Ngài đã không làm, mà tạo dựng một thế giới “trong tình trạng lên đường” hướng về sự hoàn hảo sau cùng. Nghĩa là cả vũ trụ đang tiến triển, lớn mạnh để đi đến hoàn hảo. Vì thế, sự lớn mạnh khi “cái này xuất hiện, cái kia biến đi” (như núi lửa xuất hiện tạo nên núi mới trong khi núi già biến đi) là quá trình tiến hoá của mọi loài. Giáo hội kết luận: “Vì vậy bao lâu mà công trình tạo dựng chưa đạt được mức trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý.” Nói cách khác, lớn mạnh để đi đến hoàn hảo đòi hỏi thay đổi, thay đổi đòi hỏi nhiều đau khổ mà ta gọi là sự dữ[15].

Thứ haitự do là nguyên nhân gây sự dữ. Và dù Thiên Chúa không tạo dựng sự dữ, Ngài cho phép sự dữ xâm nhập thế gian. Giáo lý số 311: “Thiên thần và con người có tự do…trong thực tế, họ đã phạm tội… Tuy nhiên, vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.” [16] Giáo hội khẳng định “Thiên Chúa không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, trực tiếp hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý.” Nhưng trong và qua sự dữ, Thiên Chúa biến nó thành những gì lợi ích cho con người. Giáo lý 313 dạy: “Mọi sự đều sinh lợi ích cho ai yêu mến Thiên Chúa” (Rm 8, 28). Và giáo lý 312 khẳng định: “Thiên Chúa dẫn đưa ta tới điều thiện hảo từ những hậu quả của sự dữ.”

Thứ baThiên Chúa sẽ toàn thắng. Sách giáo lý số 314 dạy rằng hiện tại chúng ta không hiểu được mầu nhiệm đau khổ, nhưng ta tin rằng Thiên Chúa sẽ toàn thắng mọi sự trong ngày sau hết. Trong ngày “mặt đối mặt” đó (1 Cor 13:12), chúng ta hiểu trọn vẹn đường lối Thiên Chúa dẫn con người qua những thảm kịch của sự dữ và tội lỗi. Nói cách khác, cuối cùng ta sẽ hiểu trọn vẹn. Vì thế hãy cứ vững lòng tin.

IV. Kết Luận

Đau khổ mà thế giới đang gánh chịu vì nạn đại dịch Covid-19 khiến mọi người đặt câu hỏi về sự hiện diện của sự dữ, và câu hỏi này chắc chắn vẫn còn là vấn nạn ngàn đời cho mọi người. Là những Kitô hữu, dù chúng ta không biết tại sao mình bị đau khổ hay tại sao sự dữ khống chế cuộc sống, nhưng chúng ta tin những đau khổ mình chịu không vô nghĩa, vì chính Đức Giêsu Kitô đã chịu đau khổ cách bất công. Điều chúng ta TIN chắc chắn là Thiên Chúa luôn yêu thương con người, và Ngài đã tạo dựng một thế giới tốt nhất có thể được, để con người sinh hoạt.

Tôi mượn lời dạy của giáo lý Công Giáo số 324 để tóm kết: “Việc Thiên Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ luân lý là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa làm sáng tỏ nhờ Con của Ngài là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã chết và sống lại để chiến thắng sự dữ. Ðức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa đã không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó, bằng những đường lối mà chúng ta chỉ biết được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu.”

LM Mathêu Nguyễn Khắc Hy PSS
Nguồn Vietcatholic
——————-

Chú thích:
[1] Con số tính đến ngày 5-4-2020.
[2] Nhiều Kitô hữu nhầm lẫn cho rằng Nhị Nguyên Thuyết đến từ Kinh thánh, nhưng thực ra thuyết này đến từ Gnosticism (Vô Ngộ Thuyết) và Manichaeism (Thuyết Mani). Thuyết Nhị Nguyên được tìm thấy sớm nhất được tìm thấy trong lời dạy của Zarathustra (thể kỷ 6 trước công nguyên) và được Mani (chết 276) khai thác thêm. Thuyết này chủ trương vũ trụ tồn tại có Bóng Tối – Ánh Sáng, Trắng-Đen, Nóng-Lạnh…
[3] Lý luận này được triết gia Baruch Spinoza (1632-1677) cổ động và được gọi là Duy Danh Luận Chủ Nghĩa (nominalisticism).
[4] Triết gia Gottfried W. Leibnitz lý luận rằng thế giới hiện tại là chọn lựa tốt nhất mà Thiên Chúa đã dựng nên cho dù có sự hiện diện của Sự Dữ. Lý luận này nhằm đáp lại logic của triết lý mà nhiều người nói là câu trả lời của Leibnitz cho Descartes. Nhưng Voltaire, trong tác phẩm Candide,Ou L’Optimisme, đã bắt đầu với lời lẽ ủng hộ quan niệm của Leibniz về cách giải thích hiện hữu của sự dữ cho rằng vũ trụ này là chọn lựa tốt nhất mà Thiên Chúa có thể làm ra. Nhưng cuối tác phẩm, ông kết thúc bằng lời lẽ cổ võ cho thuyết Bất Khả Tri Luận, cho rằng bí nhiệm này vượt trên khả năng con người.
[5] Thuyết Nhân Qủa được người Do Thái chấp nhận vì tính dễ hiểu của nó. Gioan 9:1-2 kể chuyện khi gặp người mù từ khi mới sinh, một số môn đệ Chúa Giêsu cho là do tội của anh ta hay của cha mẹ anh ta. Chúa Giêsu dùng cơ hội này để sửa sai niềm tin của họ. Kitô giáo chưa bao giờ chính thức dùng thuyết Nhân Qủa để cắt nghĩa nguồn gốc sự dữ, nhưng nhiều người hiểu lầm lời dạy cho rằng sự trừng phạt Thiên Chúa áp đặt trên Adam và Eva vì bất tuân là hình thức Nhân Quả (xem Gen 3:16-18). Dù giáo lý Giáo Hội dạy rằng đau khổ là kết quả của tội lỗi, nhưng luôn nhắc nhở đây là một mầu nhiệm hơn là một sự kiện được cắt nghĩa cách đơn giản theo thuyết Nhân Quả.
[6] Đừng lầm tưởng lý luận “toàn năng” này với phép lạ. Dĩ nhiên Thiên Chúa có thể làm cho đá nổi trên mặt nước, hay cho trâu bò bay nhanh hơn chim, nhưng khi đã là phép lạ, thì thực chất của hiện vật thay đổi, nghĩa là, đá được phép “nhẹ” hơn nước, hay trâu bò được phép “bay” nhanh hơn chim. Điều Thiên Chúa không thể làm được là khi tốc độ bay 50 km/giờ lại nhanh hơn 100 km/giờ, hay 10 kg lại nhẹ hơn 5 kg. Tất cả những định luật tự nhiên này được chính Thiên Chúa định đoạt.
[7] Giáo phụ Origen, thế kỷ 3, giải thích rằng những thử thách là để ta được tôi luyện và lớn lên (xem De principiis, sách I, V,1). Thể xác con người như phương tiện qua đó ta được “huấn luyện và hướng dẫn” để được ơn cứu chuộc (xem De principiis, sách I, V,3). Sự Dữ bài học Thiên Chúa dạy con người.
[8] John Hick, một học giả nổi tiếng hiện đại của thế kỷ 20, khai thác tư tưởng này của thánh Ireneaus trong cuốn Evil and the God of Love (San Francisco: Harper San Francisco, 1978).
[9] Xem Pierre Teilhard de Chardin, The Future of Man, New York: Harper & Row Publisher, 1964, p. 261.
[10] Cho đến cuối đời thánh Augustine vẫn còn tranh luận vấn đề này với Julian. Xem John M. Rist, Augustine (New York: Cambridge University press, 1994) p. 261.
[11] Khi còn trẻ, Augustine theo nhóm Manichean chủ trương Nhị Nguyên Thuyết, cho là vũ trụ có Tốt-Xấu cùng tồn tại. Sau khi đã trở nên Kitô hữu, Augustine chống lại lạc thuyết này trong những bài viết của Ngài.
[12] Xem De Civitate Dei, ch. xII.
[13] Xem Augustine, De Civitate Dei, XI, CHAP. 9, và Confessiones, VII: [XII] 18. Thánh Augustine sửa đổi một phần tư tưởng của Hậu Plato (Neo-Platonism) khi trường phái này nhấn mạnh rằng sự dữ không là hữu thể tự hữu nhưng là vắng bóng của Sự Thiện.
[14] Xem Augustine, De Civitate Dei, XII, CHAP. 6, và Confessiones, VII: [III] 5.
[15] Giáo lý Công Giáo 310 – Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện? Xét theo quyền năng vô biên Thiên Chúa vẫn có thể tạo dựng được điều tốt hơn (x. T. Tôma Aquinô tổng luận 1, 25, 6). Nhưng trong sự khôn ngoan và nhân hậu vô biên của Ngừơi, Thiên Chúa đã tự ý sáng tạo một thế giới trong “tiến trình” hướng về sự trọn hảo tối hậu. Theo ý định của Thiên Chúa, sự tiến hóa này gồm có việc vật này xuất hiện và vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Vì vậy bao lâu mà cuộc sáng tạo chưa đạt được sự trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý (x. T. Tôma Aquinô, s. gent 3. 71).
[16] Giáo lý Công Giáo 311 – Thiên thần và con người là những thụ tạo thông minh và tự do, nên phải tiến về cùng đích bằng một sự lựa chọn tự do và yêu chọn cái tốt hơn. Do đó họ có thể lầm lạc. Trong thực tế, họ đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý, đã xâm nhập vào thế giới. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ luân lý, cho dù trực tiếp hay gián tiếp (x. T. Âu-tinh, lib 1, 1, 1; Th. Tôma Aqu, s. th, 1-2, 79, 1). Tuy nhiên, vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.

Chia sẽ bài viết này trên:

TÍNH HIỆN SINH TRONG VỤ ‘BÁN CHÚA’ CỦA GIU-ĐA?

TÍNH HIỆN SINH TRONG VỤ ‘BÁN CHÚA’ CỦA GIU-ĐA?
(Theo Tin mừng Mát-thêu)

Tiền bạc là cơn cám dỗ xưa như trái đất và cũng mới như thời dịch Covid-19 hôm nay. Tiền là tiên là phật cơ mà. Tiền bạc là nô lệ tốt nhưng lại là ông rất tồi. Đó chính là tính hai mặt của đồng tiền. Vì thế, Thánh vịnh cũng khuyến cáo: Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở, lòng chẳng nên gắn bó làm chi (Tv 61,11).

Phải thú nhận một điều: Cơm áo gạo tiền là mối bận tâm khôn nguôi và là điều con người nghĩ tới mỗi sớm mai thức. Mà không phải chỉ những người giật gấu vá vai mới có phản ứng ấy. Mọi người, không trừ ai, kể cả bậc vua chúa và bậc tu hành cũng khó thoát khỏi vòng cương tỏa này. Trong ý tứ này, ta cùng suy tư đôi điều về tính hiện sinh trong vụ ‘bán Chúa’ của Giu-đa qua lăng kính của Tin mừng theo thánh Mát-thêu.

  1. Ơn gọi và những điều nên biết về Giu-đa.Trước hết,Giu-đa chỉ được nhắc tới một lần trong danh sách Nhóm Mười Hai (Mt 10,4). Nghĩa là Giu-đa cũng được Chúa Giê-su được tuyển chọn, huấn luyện và rảo bước trên hành trình sứ vụ với Chúa Giê-su như các tông đồ khác. Nhưng có lẽ, Thầy Giê-su đọc ra tố chất làm quản lý, kiếm tiền, thủ kho của Giu-đa nên ông đã được trao trọng trách theo ngôn ngữ của Tin mừng ấy là ‘giữ túi tiền’. Trong cương vị này, thoạt tiên ông đã làm rất tốt; Chúa và anh em cũng hài lòng khi được Giu-đa chăm sóc chu đáo. Một cánh tay phải quan trọng không thể thiếu trong mỗi cơ cấu tổ chức… Có thể Giu-đa đã rất thiện chí trong tư cách và bổn phận của mình trong thời gian đầu. Nhưng không biết ngọn nguồn từ đâu và từ bao giờ, Giu-đa đã nổi loạn như thế?

Nếu đọc kỹ hơn Tin mừng Mát-thêu, ta ngộ điều này. Thực ra Giu-đa không có ý định bán Chúa từ trước. Vì nếu dịch sát theo tiếng Hip-ri thì Giu-đa hỏi các thượng tế rằng: “Quý vị muốn trả cho tôi điều gì?” chứ không hề dễ ngả giá theo kiểu trắng trợn: “Tôi sẽ nộp ông ấy cho quý vị, vậy quý vị muốn trả cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26,14-16). Phải chăng, đằng trước của cuộc ngả giá ‘30 đồng bạc’ đã trải qua một cuộc chiến nội tâm dai dẳng không hề nhỏ?

  1. Cuộc chiến người ‘giữ túi tiền’ dẫn tới cơ hội ‘bán Chúa’.Với tư cách là quản lý, Giu-đa cũng bận tâm trong việc xoay xở, giao lưu để có vốn liếng, trăm thứ phải lo cho các sinh hoạt thường nhật của Thầy Trò, đặc biệt trong mỗi dịp lễ. Như người ta thường nói:Tiền là nô lệ tốt và là ông chủ tồiCó lẽ trong tư cách của mình, thay vì chọn Chúa thì ông đã biến thái lao đầu chọn việc của Chúa lúc nào không hay. Vì gánh nặng tài chính cơm áo gạo tiền đè lên vai, nhiều lần ông đã tính khôn khi bỏ nhóm, rồi ‘ngang dọc chén chú chén anh’ tranh thủ sự đồng tình ủng hộ để có thật nhiều tiền, mà đỡ tốn công nhọc sức, để ‘chi chế khơ khớ’ cho đời sống nhóm 12, như Thầy đã trao phó.

Nhưng chẳng bao lâu, cái biến thái của mục đích tốt biện minh cho phương tiện xấu dần lòi ra. Trong những lần giao lưu gặp gỡ như thế, những chân tay của nhóm thượng tế, biệt phái chen vào và thủ mưu chính trị manh nha. Vô tình khi hòa nhập Giu-đa lại bị hòa tan trong cơn lốc, đánh mất tư cách môn đệ của mình, bị tiêm nhiễm đưa vào tròng với những ý đồ đen tối của ‘con cái thế gian’ mà không hay. Không thiếu những lần Giu-đa cũng ngất ngây ‘chém gió-nổ’ về chính mình và nhóm 12, theo kiểu Hê-rô-đê thề thốt: “Con xin gì trẫm cũng ban, dù nửa nước cũng được.” (Mc 6,23), chứ cộng tác để nộp Thầy có đáng là gì?

  1. Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa (Ga 13,2).Ma quỷ gieo theo chiến lược ‘mật ngọt chết ruồi, ‘đội lốt chiên’, đi guốc trong bụng Giu-đa. Giờ của ma quỷ đã đến, chúng tha hồ vẽ đường cho hươu (Giu-đa) tẩm ngẩm chạy theo ‘linh đạo tinh khôn’ ấy. Bắt đầu từ cao trào với những vụ ‘ném đá’, Giu-đa nhận thấy sắp ‘toang thật rồi’. Sự đối kháng giữa Đức Giê-su với nhà cầm quyền Do-thái ngày càng ban căng, ‘tức nước ắt sẽ vỡ bờ’… Thầy mình sẽ phải chết là cái chắc. Trong khi hắn quẩn quanh với chiều hướng điêu tàn như thế, thì lại được bồi thêm những phân tích hết sức hợp tình hợp lý của nhóm ‘đang rình mò khai thác’: Đàng nào mà toán quân chẳng đến bắt ông ấy, khi ấy anh chỉ cần ra hiệu ‘nháy mắt-hôn thầy’ thế là xong. Anh không cộng tác thì ông ấy cũng chết như Sách nói về còn gì? Nhưng cái đáng trách ở đây là: ‘Đã hẳn Con Người ra đi như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn’(26,24).
  2. Thái độ hối hận muộn màng.Cuộc chơi “bán Chúa’ trong những lần chém gió trước kia, nay Giu-đa đã phải trả giá đắt. Như chính Thầy bảo: đã hẳn Con Người ra đi mà… Nghĩa là không có mình can thiệp thì Thầy vẫn bị bắt như chơi đấy thôi. Lúc đó, ông thấy bình chân như vại, điếc hết. Có đáng là gì mà Thầy lại chửi ‘khốn’ thế cơ chứ? Lại còn nguyền: thà nó đừng sinh ra thì hơn, liệu có độc miệng đời quá không?… Rồi phải mãi đến sáng hôm sau, khi thấy các thượng tế và kỳ mục bàn kế xử tử, trói và giải Người đi (27,1-2); lúc đó Giu-đa mới tỉnh cơn say ‘lâm sàn’, chợt nhận ra quả đúng như Thầy nói, đã hẳn, nhưng khốn thật, vì mình lại tiếp tay, nối giáo cho giặc, để rồi kết tội danh ‘nộp Thầy’. Còn gì đau hơn cái đau, nỗi đau của ‘Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con(Tv 41,10). Càng yêu, càng thân, càng gần đến độ hai đã trở nên một, mà phản bội, mà giơ góp đạp nhau thì đau biết chừng nào? Có lẽ trước đó Giu-đa chỉ nghĩ mình mang Thầy ‘đổi chác’ như thế để Thầy bừng tỉnh phản đòn và kiếm chác tí thôi. Ai dè, lại ra nông nỗi thế. “Thấy Người bị kết án thì hối hận” (27,3). Tiếc thay, thái độ sám hối là quá muộn màng, cho một chuyến đi về.
  3. Tính hiện sinh ‘Giu-đa’ thời đại dịch Covid-19?Ngày nay, có lẽ nhiều người trong chúng ta vẫn còn đang miên man muốn trả lời cho câu hỏi:Nếu Giu-đa không bán Chúa, liệu Chúa có phải chết không? Thưa, Chúa vẫn chết như thường, vì cái chết nằm trong ý định yêu thương của Ngài. Giống như cơn khốn cùng hoảng loạn của đại dịch Covid-19. Chúa có thừa khả năng đẩy lui bệnh dịch chỉ trong ý nghĩ, nháy mắt. Cũng như Ngài có nhiều cách thế để bảo toàn sự sống trước sự tấn công như vũ bão của toán quân dù có đông hơn nhiều cùng vũ khí hiện đại tối tân đến cỡ nào. Nhưng Chúa của chúng ta đã không cưỡng lại, cũng chẳng tháo luiNgài biết giờ của Ngài đã đến.. Giờ mà tất cả các sự việc xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh (26,47-56).

Nếu không có Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, thì vẫn còn đó Giu đa Ít-ca-ri-bạn và Ít-ca-ri-bạn, Ít-ca-ri của những người chối bỏ tình thương của Thiên Chúa, của những người đã đóng đinh và giết chết Ngài bằng tội lỗi và sự kiêu căng; của những lần lạc mất trong sự khủng hoảng của Đức Tin, những khi tâm hồn chúng ta khô khan, nguội lạnh, tưởng chừng như muốn bỏ cuộc, như muốn trao thân gửi phận cho ác thù Sa-tan hoành hành, đó chính là những thỏa hiệp trong vụ ‘bán Chúa’ chẳng khác gì Giu-đa năm xưa. Một Giu-đa đã bị nhúng vào cơn lốc ‘túi tiền’, dù đã thức tỉnh sám hối, nhưng là quá muộn cho cuộc trở về. Câu chuyện Giu-đa và ‘túi tiền’ vẫn còn khá hiện sinh trong thời hiện đại Covid hôm nay.

Hy vọng nó sẽ là bài học nên khôn cho chúng ta trên hành trình Đức tin và trong thực trạng của đời sống hôn nhân gia đình? Đừng để tiền bạc lên ngôi đến độ trở thành ông chủ của chính mình. Bởi vì: ‘Một khi vật chất được lên ngôi, thì mọi thứ đều được đem ra trao đổi, ngay cả tình yêu và những giá trị tinh thần cao quý nhất cũng được đánh giá qua nhãn quan vật chất rẻ tiền: “Muốn biết rõ về ai nên nhúng người ấy nhiều lần vào tiền, cái dung dịch siêu thượng này làm trôi đi tất cả những màu mè bọc ngoài. Đạo mạo trở nên hau háu lỗ mãng. Dịu dàng trở nên chua ngoa cướp giật (x. Cơ hội của Chúa, tác giả Việt Hà). Xin cho chúng ta thấy được tính chất hiện sinh trong việc ‘bán Chúa-nộp Thầy’ của Giu-đa. Cuộc chiến đấu giằng co nội tâm giữa chọn Chúa hay chọn việc của Chúa và đi đến thái độ hối hận quá ư là muộn màng của Giu-đa liệu có là bài học đắt giá thức tỉnh lý trí và con tim của tôi?

 Giuse Phạm Văn Quang
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

Dịch corona trong mầu nhiệm Vượt Qua

Dịch corona trong mầu nhiệm Vượt Qua

Trước tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp trên toàn thế giới trong khi tuần thánh đã đến. Có nhiều trăn trở rằng liệu Giáo Hội sẽ sống mầu nhiệm vượt qua như thế nào giữa dịch bệnh Corona. Suy ngắm những gì đang diễn ra, tôi nhận thấy rằng lúc này Giáo Hội không chỉ cử hành mà là đang sống mầu nhiệm vượt qua cùng với Chúa Giêsu. Thật vậy nếu như trong cuộc thương khó khổ nạn của Chúa Giêsu có biết bao điều xảy đến thì những điều tương tự đang diễn ra giữa đại dịch Corona lúc này.

Nhân loại bắt gặp một Thiên Chúa thing lặng trong hai biến cố này. Thật thế, Phúc Âm cho thấy hình ảnh một Thầy Giêsu năng động đi từ làng này sang làng khác, nhìn với ánh mắt yêu thương, nghe với cảm thông, chạnh lòng thương với những ai bơ vơ lạc lõng, giảng dạy khôn ngoan và hành động đầy uy quyền chữa lành tật bệnh và xua trừ ma quỷ. Thế nhưng, bước vào cuộc thương khó là một Giêsu hoàn toàn khác: âm thầm đón nhận tất cả phản bội, chối từ, cáo gian, nhạo báng, đánh đập và cuối cùng chết tất tưởi trên thập giá giữa hai tên trộm cướp. Giêsu đó là Con Thiên Chúa tốt lành hay chỉ là tên gian phi bịp bợm? Ngài là Đấng toàn năng hằng hữu hay là kẻ bất lực trước bất công và sự dữ đang hoành hành?

Những câu hỏi tương tự đang dấy lên giữa bao cõi lòng. Có Thiên Chúa hay chăng mà tại sao lại có sự dữ xảy ra? Thiên Chúa có tốt lành và quyền năng không mà để dịch Corona hoành hành cướp đi bao nhiêu sinh linh, gây khốn cùng cho bao nhiêu con người? Giữa bao chất vấn ấy là hình ảnh một Thiên Chúa im lặng. Ngài im lặng bước vào cuộc khổ nạn cùng nhân loại giữa đại dịch.

Trong cuộc-khổ-nạn-đại-dịch Covid này, có những PHẢN BỘI lại niềm mong chờ việc dùng khoa học để bảo vệ và thăng tiến sự sống thay vì là công cụ hại người, dùng chính trị để bảo vệ an toàn và yên bình cho cộng đồng xã hội thay vì gây bất ổn chiến tranh; có những CHỐI TỪ hợp tác với những tấm lòng thiện ý để kịp thời tiếp cứu, chối từ chữa trị cho người già yếu; có những CÁO GIAN nơi việc đem mọi hậu quả của sai lỗi cá nhân đổ lên đầu người khác, sai lỗi của con người đổ lên đầu Thiên Chúa; có những NHẠO BÁNG BÁCH HẠI khi người nghèo đói bị coi thường rẻ rúng nhân phẩm và tính mạng, người lên tiếng cảnh báo sự thật về đại dịch bị quản thúc, bức bách và cả khử trừ.

Trong cuôc-khổ-nạn-đại-dịch Covid này, có những kẻ âm mưu tính toán vì lợi ích và ý đồ riêng khiến đại dịch bùng nổ, như Giuđa phản bội Chúa để theo tính toán của riêng mình. Có những kẻ không sử dụng quyền thế được trao cách đúng đắn để ngăn ngừa đại dịch xảy ra, như Herode, Philato và Thượng tế Caipha làm ngơ, tiếp tay và kết án oan Chúa. Có những kẻ thừa nước đục thả câu, tranh thủ thời cơ chuộc lợi qua thu tích và buôn bán vật dụng y tế, hàng hóa, thực phẩm với giá tăng mấy lần, như Giuđa tranh thủ bán thầy Giêsu kiếm ít tiền bỏ túi. Có bao người hoảng loạn tìm cách bảo đảm an toàn cho bản thân không hề quan tâm đến an nguy của người xung, giống như các môn đệ hoảng loạn bỏ chạy thoát thân khi thầy Giêsu bị bắt trong vườn Cây Dầu.

Bên cạnh những vô tâm ấy là bao tấm lòng. Nhiều người đau buồn và thương khóc cho bao nhiêu người đang phải khốn khổ vì dịch bệnh, giống như các phụ nữ thành Giêrusalem thương khóc cho Chúa Giêsu. Nhiều người bất chấp nguy hiểm đe dọa, sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ vật chất, tinh thần, chuyên môn hầu mong bao người bệnh và thế giới có thể qua cơn nguy kịch, khống chế được dịch bệnh, giống hình ảnh bà Veronica lau mặt Chúa và ông Simon phụ Chúa vác thập giá. Một số khác băn khoăn trăn trở nhưng chẳng biết nên làm thế nào thôi đành dò dẫm tình hình để hành động như Phêrô và Gioan bám theo Thầy xa xa , nhưng chẳng biết phải làm sao, chỉ cố dò dẫm lần mò. Một số khác đau khổ trước cảnh bao người chết chóc tang thương, chẳng hiểu là sao nhưng vẫn kiên định sẻ chia và đồng hành cùng nạn nhân trong dịch bệnh với tinh thần  nhận định và cầu nguyện, với lòng cậy trông hy vọng, như Mẹ Maria dõi bước theo Chúa suốt cuộc thương khó cho đến giờ phút cuối.

Thiên Chúa vẫn âm thầm thổn thức trước cảnh dịch bệnh đang hoành hành. Ngài âm thầm ghi nhận tất cả thiện tâm và nỗ lực. Ngài cũng âm thầm đón nhận tất cả phản bội, chối từ, cáo gian, nhạo báng, đánh đập và cuối cùng cái chết tất tưởi trong ý thức và lòng tin của bao người. Ngài đang chết, đang trút những hơi thở cuối trong họ.

Khi Thầy Giêsu chết tất tưởi trên thập giá và được mai táng trong mồ thì các môn đệ hoang mang và sợ hãi, không hiểu tại sao và chẳng biết làm thế nào. Họ chỉ còn biết tụ họp với nhau để tìm an ủi đỡ nâng, cùng nhau hồi niệm và đợi chờ trong hy vọng, hy vọng đến tuyệt vọng. Ba năm dong duổi theo thầy Giêsu, ấp ủ trong lòng niềm tin yêu hy vọng nơi vị Thầy vốn tràn đầy ân sủng và quyền năng cả trong lời nói lẫn việc làm. Ấy vậy mà Thầy lại chấp nhận bị bắt, cáo gian, kết án tử hình treo thân trần trụi trên thập giá giữa hai tên gian phi. Không một lời phản kháng, không một hành động tỏ lộ quyền năng. Tại sao? Tại sao Thầy lại im lặng? Tại sao Thầy không tỏ lộ quyền năng? Tại sao lại làm thế trước bất công và bạo quyền, trước sự dữ và khổ đau?

Cũng thế, Thiên Chúa đang trong cuôc-khổ-nạn-đại-dịch Covid và Giáo Hội đang trong cảnh thương khó cùng với Ngài. Một màn u ám bao trùm lấy nhân loại và Giáo Hội. Trước màn đêm của đau khổ bệnh tật chết chóc tràn lan khắp nơi, biết bao câu hỏi TẠI SAO không khỏi dấy lên trong muôn cõi lòng và giữa lòng Giáo Hội. Tại sao? Lạy Chúa, tại sao Ngài im lặng?

Thiên Chúa vẫn đang im lặng. Ngài im lặng bước vào cuộc khổ nạn cùng nhân loại giữa đại dịch. Ngài âm thầm thổn thức trước cảnh dịch bệnh; âm thầm đón nhận tất cả tình yêu, niềm tin, cảm thông, sẻ chia; âm thầm đón nhận cả những phản bội, chối từ, cáo gian, nhạo báng, đánh đập. Ngài đang thầm lặng đón nhận tất cả, yêu thương tất cả, tha thứ tất cả và tín thác trọn vẹn cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trong mỗi con người, chết tất tưởi trong ý thức và lòng tin của bao người.

Như Mẹ Maria và các môn đệ tụ họp trong phòng và đóng kín cửa không hiểu mọi sự đang diễn ra là thế nào, Giáo Hội dẫu hoang mang, vân đang chờ đợi trong hy vọng nơi Thánh Ý Yêu Thương của Thiên Chúa. Giáo Hội vẫn cậy trông và tín thác nơi Lời Hứa của Chúa phá tan màn đêm thê lương chết chóc của đại dịch và mang đến ánh sáng niềm vui và hy vọng của mầu nhiệm Phục Sinh. Giáo Hội đang thực sự sống Mầu Nhiệm Vượt Qua giữa đại dịch Corona này.

Đối với nhiều người thương khó là điên rồ là sỉ nhục, là bất lực; đối với đại đa số là không thể hiểu nổi. Nhưng đối với những ai đặt tình yêu, niềm tin và hy vọng nơi Thiên Chúa thì đau buồn của thương khó với Chúa Giêsu là đường đến với hạnh phúc của việc được phục sinh cùng Ngài.

Lạy Chúa, xin cho con được luôn Tin tưởng Cậy trông và Hy vọng để chọn lựa thái độ và lối sống thích hợp, hầu có thể bước theo Chúa trong u buồn của cuộc thương khó giữa đại dịch này, hầu mong chờ ngày giờ được phục sinh tươi vui cùng Ngài, với Ngài và trong Ngài.

Vinh Sơn Phạm Văn Đoàn SJ

Chia sẽ bài viết này trên: