Giải Đáp Thắc Mắc

Các đặc tính của Thân Xác Phục Sinh

Các đặc tính của Thân Xác Phục Sinh

Dẫn nhập

Các câu hỏi liên quan đến thân xác phục sinh từ lâu đã trở thành chủ đề chính của tư tưởng Kitô giáo và vẫn là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Nhiều câu hỏi cơ bản đã được đặt ra liên quan đến chủ đề này, chẳng hạn như: Mỗi tín hữu sẽ sống lại với thân xác nào? Chúng ta mong chờ một sự phục sinh thể lý hay chỉ thuần túy tinh thần, phi vật chất? Những phẩm chất đặc biệt nào thân xác phục sinh có? Trả lời những câu hỏi này một cách rốt ráo không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với bất kỳ nhà thần học Kitô giáo nào, nói gì đến những Kitô hữu bình thường. Nói cách khác, “một cách nào đó, sự phục sinh nằm quá xa so với chân trời hiểu biết của con người, vượt ra ngoài tất cả kinh nghiệm của chúng ta nên, khi trở về với chính mình, chúng ta thấy mình tiếp tục cuộc tranh luận của các môn đệ [Chúa ngày xưa]: Chính xác thì “sự trỗi dậy” này gồm những gì? Điều đó có ý nghĩa gì với con người, đối với cả thế giới và toàn bộ lịch sử?” (1). Thật vậy, chủ đề về bản chất của thân xác phục sinh này là một chủ đề còn rất nhiều tranh luận, và có rất ít sự chắc chắn về nó. Như Ratzinger bình luận, “khó có thể diễn tả một cách cụ thể về mối quan hệ của con người với vật chất trong thế giới mới, hay về ‘thân xác phục sinh’” (2). Trong khi vẫn không chắc chắn về bản chất của thân xác phục sinh, các nguồn kinh thánh và thần học khác nhau cho chúng ta biết rằng thân xác phục sinh, vốn dĩ thiêng liêng và biến đổi, sở hữu những đặc tính sau: Bất thụ khổ (Impassibility), Quang diệu (Clarity), Thần thấu (Subtlety), và Tinh nhanh (Agility).

Một vài khái niệm

Trước nhất, cần phải hiểu đúng các khái niệm của chủ đề này. Theo Ratzinger, nói “sự phục sinh của thân thể” hay “sự phục sinh của thân xác” là đúng; còn nói “sự phục sinh của thân xác vật lý” là sai (3). Lý do là, “‘thân xác’ và ‘tinh thần’ không đối lập nhau; cái đối lập là ‘thân xác vật lý’ và ‘thân xác thiêng liêng’ (4). Chính vì thế, Ratzinger khẳng định rằng đó không phải là sự phục sinh của thân xác vật lý, mà là sự phục sinh của con người toàn thể; đó không phải là sự trở lại của thân xác vật lý hay sinh học, mà là sự trở lại của thân thể phục sinh dưới một hình thức khác, như thân thể phục sinh của Chúa Giêsu. Nói cách khác, phục sinh là sự tái tạo con người toàn thể (6).

Những đặc tính của thân xác phục sinh của Chúa Kitô là những hình dung mẫu của thân xác vinh hiển (thân xác vinh hiển dành cho tất cả người lành được gọi vào sự kết hiệp và hiệp thông mãi mãi với Thiên Chúa). Giống như thân xác vinh quang của Chúa Kitô phục sinh, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ không sở hữu những khiếm khuyết do tội nguyên tổ, như sự phát triển không hoàn hảo, các bệnh mãn tính hoặc những khiếm khuyết về thể chất khác. Theo Levering, “mỗi đặc tính của thân xác phục sinh giúp loại bỏ những trở ngại đối với thân xác khi nó thông dự vào việc thờ lạy vĩnh cửu cùng với linh hồn” (7). Thánh Phaolô cũng nhắc nhở chúng ta: “[Chúa Giêsu] có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (8). Thật vậy, thân xác phục sinh sẽ dự phần vào bản chất của Thiên Chúa trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Thánh Thần. Như Gorman bình luận, “chết và phục sinh là một sự biến đổi: từ một cơ thể dễ hư nát, thấp hèn, yếu đuối và tự nhiên thành một cơ thể bất diệt, đáng kính, mạnh mẽ và thiêng liêng” (9). Nói cách khác, đối với những người chết trong ân sủng Chúa, sự vĩnh cửu của họ sẽ được thể hiện trong thân xác phục sinh. Thân xác này sẽ sở hữu những đặc tính tuyệt vời như thân xác phục sinh vinh hiển của Chúa Kitô.

Tính bất thụ khổ của Thân Xác Phục Sinh

Đặc tính đầu tiên của thân xác phục sinh là tính bất thụ khổ. Bất thụ khổ nghĩa là thân xác phục sinh sẽ không còn chịu đau đớn thể lý nữa. Nói cách khác, nhờ đặc tính này, thân xác hiển vinh sẽ không phải chịu bất kỳ loại đau đớn hay đau khổ nào. Trong cuộc khổ nạn của mình, Chúa Giêsu đã phải chịu đựng những cực hình khủng khiếp khiến Ngài đau đớn tột cùng. Sau khi Ngài sống lại từ cõi chết, không gì có thể làm tổn thương hay làm đau Ngài nữa. Cũng vậy, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ không biết đau đớn. Sẽ không có đau đớn, bệnh tật, đau khổ, hoặc cái chết trong trạng thái của thân xác phục sinh. Không có gì có thể làm tổn thương hoặc làm đau chúng ta nữa. McCann lập luận:

Tất cả các khiếm khuyết được loại trừ khỏi thân xác hiển vinh. Sự hư nát và hay thay đổi không còn sức mạnh trên chúng ta nữa. Tất cả các hoạt động phát sinh và duy trì sự sống hoặc bất cứ điều gì khác liên quan đến bản chất của một thân xác phàm trần và thụ động đều được loại trừ khỏi thân xác phục sinh. Thân xác đó được đồng hóa với bản chất của linh hồn và chia sẻ sự bất hoại của nó (10).

Thân xác phục sinh sẽ không phải chịu cái chết, hư nát, hoặc thay đổi. Những khiếm khuyết nơi xác phàm sẽ được sửa chữa nơi thân xác phục sinh vinh hiển. Sẽ có một niềm vui bất tận – thiêng liêng nhưng cũng có cảm giác và biến hóa. Thánh Phaolô dạy chúng ta: “[Thân xác] gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt” (11). Thân xác phàm thì thay đổi và hư nát. Thân xác phục sinh thì bất biến và không hư hoại. “Sự không hư hoại này,” theo lời của McCann, “là sự không hư hoại vượt thắng sự hư nát liên tục” (12). Trong cuộc sống hiện tại, cơ thể chúng ta theo lẽ thường sẽ trải qua mệt mỏi sau quá trình lao động nặng hoặc vui chơi. Cơ thể phục sinh sẽ không biết mệt mỏi, sẽ không cần nghỉ ngơi, cũng sẽ không lệ thuộc vào các đam mê thể lý.

Ngoài ra, tính bất thụ khổ (vốn dĩ con người đã từng sở hữu trong trạng thái nguyên thủy) cho ta biết linh hồn sẽ hoàn toàn điều khiển thân xác. Thánh Tôma lập luận rằng thông qua việc khôi phục lại trật tự đúng đắn, Thiên Chúa sẽ điều hành linh hồn, và linh hồn sẽ điều hành thân xác. Ngài viết:

Thân xác hiển vinh của con người và tất cả những gì của nó sẽ hoàn toàn chịu sự chi phối của linh hồn, giống như cách khi linh hồn hoàn toàn chịu sự chi phối của Thiên Chúa. Vì vậy, thân xác hiển vinh sẽ không chịu bất kỳ thay đổi nào trái với vận mệnh của nó và sẽ được hoàn thiện bởi linh hồn. Do đó, thân xác phục sinh sẽ không còn đau đớn (13).

Trong trạng thái vinh hiển, trật tự này sẽ được hoàn thiện. Việc linh hồn điều hành thân xác nghĩa là thân xác sẽ không còn phải chịu chi phối bởi những đam mê xấu hay sự hư nát thể lý, mặc dù thân xác sẽ vẫn còn cảm giác. McCann cho rằng: “Thân xác được đồng hóa với bản chất của linh hồn và chia sẻ tính bất thụ khổ của linh hồn” (14). Thật vậy, Thánh Tôma tin rằng tất cả các giác quan sẽ nên hoàn hảo, phù hợp với vinh quang của linh hồn. Trong đời sống vĩnh hằng, các biểu hiện thể lý của nhân đức vẫn đẹp tươi như các dấu chỉ của sự chiến thắng thiêng liêng. Nhưng các biểu hiện đó sẽ không bao giờ còn bị hư nát hay thối rữa nữa.

Tính bất thụ khổ bao gồm cảm giác thật của thân xác vinh hiển. Nói cách khác, thân xác vinh hiển sẽ sở hữu những cơ quan cảm giác thật và bất thụ khổ. Thánh Tôma cho rằng:

Các giác quan nơi thân xác phục sinh là kết quả của việc tiếp nhận các ngoại vật bên ngoài linh hồn. Tuy nhiên, cần lưu ý là các cơ quan giác quan được biến đổi bởi ngoại vật bên ngoài linh hồn theo hai phương thức. Một là bởi một sự biến đổi tự nhiên. Biến đổi tự nhiên xảy ra khi một cơ quan giác quan nào phát sinh cảm giác khi ngoại vật bên ngoài linh hồn tác động lên cơ quan đó… Hai là bởi một sự biến đổi tinh thần. Biến đổi tinh thần xảy ra khi các cảm giác được tiếp nhận bởi một công cụ theo phương thức thiêng liêng của một người. Cảm giác đó có thể là một ý hướng hay một hình thái, nhưng không phải là chính nó (15).

Cảm giác thật này miêu tả vai trò năng động của thân xác hiển vinh, vốn dĩ được phân biệt với linh hồn. Cảm giác đã biến đổi này không phát xuất từ linh hồn mà đến từ một thứ gì đó bên ngoài linh hồn. Biến đổi tự nhiên và biến đổi tinh thần là hai động lực bên ngoài siêu thăng và biến đổi thân xác hiển vinh thành “một trạng thái trong đó vật chất [thân xác hiển vinh] và tinh thần [linh hồn] sẽ mãi thuộc về nhau theo một thể thức mới” (16). Trong thể thức này, cả thân xác hiển vinh và linh hồn sẽ được siêu việt hóa. Fletcher lập luận:

Thân xác phục sinh sẽ là một dạng vật chất thật, và vật chất đó sẽ không đến từ một vật chất mới dành cho sự phục sinh mà sẽ là một với vật chất của thân xác đã từng sống ở thế gian. Theo cách này, tính liên tục được bảo tồn trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần, vì cả vật chất và tinh thần sẽ được chữa lành và tôn vinh vào thời cánh chung (17).

Vì vật chất tính của nó, thân xác hiển vinh sẽ hoạt động tương tự như cách thân xác trần gian hoạt động. Tuy nhiên, thân xác hiển vinh sẽ không còn đau đớn trong khi thân xác trần gian thì có, điều đó có nghĩa là thân xác hiển vinh sẽ không có cùng cảm giác với thân xác trần gian.

Tính quang diệu của Thân Xác Phục Sinh

Phẩm chất thứ hai của thân xác phục sinh là tính quang diệu. Tính quang diệu của thân xác hiển vinh ám chỉ vẻ đẹp tươi, vinh quang và sáng láng của nó theo mức độ ân sủng. Tính quang diệu hay sáng láng sẽ là vinh quang của linh hồn người lành tràn ngập từ đầu tới toàn bộ thân thể. Thánh Phaolô dạy: “Ánh mặt trời thì khác, ánh mặt trăng thì khác, ánh tinh tú thì khác, bởi vì ánh sáng tinh tú này khác với ánh sáng tinh tú kia. Việc kẻ chết sống lại cũng vậy” (18). Chính Chúa Giêsu mạc khải: “Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ” (19). Truyền thống Kitô giáo tin rằng, thân xác hiển vinh sẽ có những vầng quang. Những vầng quang này sẽ là dấu hiệu quang vinh trên thiên đàng của chúng ta cùng với Chúa Kitô. Chúa Giêsu đã cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về những vầng quang này qua biến cố biến hình của Ngài (20).

Thật vậy, chúng ta sẽ sở hữu ánh sáng quang vinh của Thiên Chúa mà qua đó chúng ta sẽ nhìn thấy Người trong vinh quang của Người điều mà thông thường không thể làm được. Bất kể ngoại hình một người có trên trái đất như thế nào, thân xác hiển vinh của người đó trên thiên đàng sẽ đẹp tuyệt vời vượt ngoài sức tưởng tượng, vượt xa vẻ đẹp và sự tráng lệ của ngay cả những người đẹp nhất trên trái đất. Sự thánh thiện sẽ là vẻ đẹp đích thực và trường cửu. McCann khẳng định: “Linh hồn yêu mến phúc kiến và phúc kiến soi sáng và biến đổi linh hồn” (21). Như thánh Phaolô đã nói: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (22).

Giống như pha lê, vinh quang thiên đàng của thân xác chúng ta là một vinh quang toàn thể. Nói cách khác, mọi bộ phận của thân xác phục sinh sẽ rõ rành rành. Giống như màu sắc của một vật thể trong một vật chứa pha lê được nhìn thấy, vinh quang của linh hồn sẽ tỏa sáng qua thân xác phục sinh. Thánh Tôma viết:

Sự sáng láng này là kết quả do vinh quang của linh hồn tràn ngập thân xác. Vì một vật được tiếp nhận bởi một vật khác thì được tiếp nhận không theo dạng thức của vật đó mà theo dạng thức của vật tiếp nhận. Chính vì thế, sự sáng láng thiêng liêng của linh hồn sẽ được chuyển qua thân xác theo cách thức thể lý. Và tùy theo mức độ sáng láng của linh hồn theo cấp độ ân sủng, thì thân xác phục sinh sẽ thừa hưởng những mức độ sáng láng khác nhau (23).

Vinh quang được sở hữu bởi linh hồn trong phúc kiến tràn ngập và biến đổi thân xác phục sinh. Do đó, thân xác phục sinh thừa hưởng những gì thuộc về linh hồn và kết hiệp hoàn hảo với linh hồn. Levering tin rằng: “Khi thân xác được đoàn tụ với linh hồn và chia sẻ sự vinh quang của nó, ‘Sự sáng láng của linh hồn, vốn dĩ thiêng liêng, sẽ được truyền qua cho thân xác một cách thể lý’” (24). Sự sáng láng này sẽ không giải phóng màu sắc tự nhiên của thân xác nhưng sẽ làm cho thân xác chói lọi tương xứng với mức độ đức mến của linh hồn. Giống như thân xác biến hình của Chúa Giêsu, thân xác hiển vinh của chúng ta sẽ rực rỡ hơn mặt trời, nhưng không hề chói lóa.

Tính thần thấu của Thân Xác Phục Sinh

Đặc tính thứ ba của thân xác phục sinh là tính thần thấu. Tính thần thấu có nghĩa là thân xác, khi vẫn còn là thân xác thật và chưa bị đồng hóa với linh hồn, hoàn toàn tùng phục linh hồn. Thánh Phaolô dạy chúng ta: “Gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (26). Thân xác của chúng ta ở đời này được gọi là “tự nhiên”, vì nó bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên như bao loài vật khác, chẳng hạn như sinh sản, tăng trưởng và những thứ tương tự. Tuy nhiên, sau khi được phục sinh và vào thời cánh chung, chúng ta sẽ không còn cần các chức năng sinh học này nữa. Thân xác hiển vinh thì thiêng liêng và hoàn toàn tùng phục những mong muốn và nhu cầu của linh hồn hiển vinh. Điều này không có nghĩa là thân xác phục sinh sẽ không còn là vật chất, vì cả vật chất và tinh thần sẽ được chữa lành và tôn vinh vào thời cánh chung. Nhưng thân xác phục sinh sẽ được giải phóng khỏi những yếu tố và chức năng sinh học. McCann giải thích: thân xác hiển vinh giống như thần khí, và tính thần thấu này là một đặc tính đặc biệt của thần khí. Nhưng nhớ rằng, trên thực tế, thân xác của chúng ta không và không thể biến thành thần khí, mà chỉ phảng phất thần khí mà thôi. Quan điểm này được thánh Tôma xác thực: “Thân xác không thể biến đổi thành thần khí, vì chúng không có cùng một nhóm vật chất” (29). Nói cách khác, thân xác hiển vinh phảng phất sự toàn thiện của nó trong liên hệ với fifth, hay bản chất thiên đàng. Bản chất này sẽ là nguyên lý hoạt động nền tảng của thân xác phục sinh (30).

Hơn nữa, tính thần thấu không có nghĩa là phi vật thể. Sở dĩ như vậy là vì thân xác của chúng ta sẽ không phải tuân theo bất kỳ định luật vật chất nào. Đúng hơn, như Levering giải thích, “đó là khả năng xuyên thấu của thân xác” (31). Nói cách khác, thân xác phục sinh, “vượt thắng trọng lượng” và “siêu thăng sự giới hạn của không gian” (32). Thân xác sẽ vẫn là thân xác, nhưng “khả năng xuyên thấu của các thân xác hiển vinh cho phép họ di chuyển cùng nhau một cách hài hòa, mà không gây xáo trộn hoặc ma sát. Bởi vì, thân xác phục sinh sẽ hoàn toàn chịu sự chi phối của mô thể của nó hay linh hồn” (33). Thánh Gioan cho chúng ta biết một ví dụ điển hình nhất về sự thần thấu khi Chúa Giêsu phục sinh đi xuyên qua các bức tường của một căn phòng bị khóa (34). Nhờ đặc tính thần thấu, Chúa Giêsu đã có thể đi xuyên qua tường của căn phòng, thì, có lẽ, theo một cách thế tương tự, trước đó cùng ngày, Ngài đã đi xuyên qua ngôi mộ đóng kín với thân xác phục sinh và vinh hiển của Ngài. Như Cornelis lập luận: “Thân xác phục sinh của Chúa Giêsu ở một trạng thái mới, có khả năng di chuyển như ý muốn của Ngài, không bị ràng buộc bởi áp suất, trọng lượng, hay các định luật tự nhiên khác” (35). Tương tự như vậy, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ có thể “thắng trọng lực và siêu việt” (36). Nói cách khác thân xác phục sinh của chúng ta cũng sẽ không bị ràng buộc bởi áp suất, trọng lượng, hay các định luật tự nhiên khác. Chúng ta cũng sẽ có thể đi xuyên qua các bức tường như Chúa Giêsu đã làm.

Ngoài ra, tính thần thấu là sự viên mãn của tính nội tại tương liên thụ tạo (phân biệt với nội tại tương liên tạo hóa) (perichoresis hay circumincession – chỉ Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần – Ba Ngôi bình lập bình tồn dùng phương thức rất giống nhau trong nội tại tương liên để trở nên một Thiên Chúa) của thân xác phục sinh. Cụ thể, đó là khả năng của chúng ta cư ngụ và được cư ngụ bởi Chúa và người khác. Theo McCann, “thân xác phục sinh sẽ thật như thân xác Chúa Giêsu” (37). Trong sự hiệp thông và kết hiệp thiêng liêng của Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu hiện diện trong Chúa Cha bởi chính Ngài và qua Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu dạy: “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng, Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (38). Nội tại năng động của Chúa Giêsu và Chúa Cha qua Chúa Thánh Thần mạc khải một chân lý, đó là chúng ta sẽ được dự phần vào đời sống vĩnh hằng của Chúa Giêsu và Ba Ngôi vào thời cánh chung. Perichoresis cũng cho thấy sự đồng nhất, sự nên một của thân xác phục sinh và linh hồn vào thời cánh chung. Ratzinger giúp ta hiểu rõ hơn về điểm này:

Thật vậy, nhu cầu hiệp nhất của vật chất chỉ được thành toàn bởi phi vật chất, bởi tinh thần. Tinh thần không chia nhỏ hiệp nhất thành nhị nguyên. Mà tinh thần là một năng lượng tốt mới của sự thống nhất, vốn dĩ tuyệt đối cần thiết cho những gì bị tan rã nếu nó muốn là một (39).

Sự hiệp nhất của vật chất thể lý chỉ được thành toàn bởi tinh thần phi vật chất. Sự hiệp nhất đó không bao giờ bị mất vào thời cánh chung. Nói đúng hơn, sự hiệp nhất sẽ ngày càng sống động và tích cực ngõ hầu tình trạng hiển vinh của linh hồn và thân xác sẽ là một.

Tính tinh nhanh của Thân Xác Phục Sinh

Đặc tính thứ tư của thân xác phục sinh là tính tinh nhanh. Tính tinh nhanh “giúp thân xác trở thành một công cụ cho linh hồn vinh hiển” (40). Theo thánh Phaolô: “[Thân xác] gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang” (41). Từ sự yếu đuối của một đứa trẻ sơ sinh không thể di chuyển, dễ bị tổn thương và yếu ớt, chúng ta được nuôi dưỡng bởi sức mạnh thiêng liêng. Với sức mạnh to lớn đó, thân xác vinh hiển của chúng ta có thể tồn tại mà không cần thức ăn và di chuyển từ nơi này sang nơi khác với tốc độ suy nghĩ. Chúa Giêsu mạc khải đặc tính này khi Ngài, sau khi phục sinh ở Giêrusalem, gần như ngay lập tức xuất hiện gần làng Em-mau cùng hai môn đệ đang đi về đó (42). McCann tin rằng thân xác hiển vinh: “có thể đi từ nơi này sang nơi khác cực kỳ nhanh, theo ý chí của linh hồn, và di chuyển cùng các thân xác phục sinh khác với vận tốc tương tự” (43). Nói cách khác, nhờ tính tinh nhanh, thân xác phục sinh: “sẽ được giải thoát khỏi sự nặng nề vật lý của nó và sẽ có khả năng di chuyển tới bất cứ nơi nào linh hồn muốn với sự dễ dàng và nhanh nhẹn nhất” (44).

Ngoài ra, thân xác vinh hiển sẽ hợp nhất và tuân phục linh hồn đến nỗi thân xác sẽ làm bất cứ điều gì chúng ta nghĩ. Điều đó có nghĩa là, “thân xác phục sinh sẽ phản ánh một cách hoàn hảo sự di chuyển thiêng liêng của linh hồn” (45). Nói cách khác, thân xác phục sinh “trở thành một công cụ hoàn hảo, luôn sẵn sàng và linh hoạt để tùng phục linh hồn trong mọi hoạt động trong đời sống viên mãn sau này” (46). Ngoài ra, thân xác phục sinh sẽ được giải phóng khỏi bất cứ thứ gì gây trở ngại cho linh hồn. Như thánh Tôma lập luận: “Sức mạnh của linh hồn vinh hiển quá đỗi lớn lao vượt thắng các sức mạnh tầm thường” (47) đến độ “bất cứ lúc nào linh hồn muốn ở đâu, thì ngay lúc đó thân xác sẽ hiện diện ở đó” (48). Do đó, khi chúng ta di chuyển từ nơi này sang nơi khác, “thời gian di chuyển sẽ không thể cảm nhận được” (49) (Nói cách khác, khái niệm thời gian di chuyển sẽ không còn vì thân xác phục sinh di chuyển bằng tốc độ của suy nghĩ). Vì vậy, vào thời cánh chung, khi Thiên Chúa biến đổi mọi sự, nếu chúng ta, trong thân xác vinh hiển, muốn về lại nhà mình mặc dù đang ở bất cứ nơi nào khác ở trên thế giới, tại thời điểm chúng ta mong muốn, chúng ta sẽ ở nhà ngay lập tức (Đây chỉ là một minh họa giúp người đọc dễ hình dung hơn về tính tinh nhanh của thân xác phục sinh. Vì, có lẽ, trong thế giới mới, chưa chắc nhà chúng ta còn tồn tại).

Thánh Tôma cho rằng người lành trên thiên đàng sẽ không ở yên một chỗ mà di chuyển linh hoạt. Ngài nói:

Linh hồn hợp nhất với thể xác không chỉ là mô thể của xác, mà còn là động lực của xác; và trong cả hai cách thế đó, thân xác hiển vinh tùng phục linh hồn hiển vinh một cách hoàn hảo… Nhờ tính tinh nhanh, thân xác tuân phục linh hồn như là động lực của nó, do đó, thân xác sẽ rất linh hoạt và sẵn sàng tuân phục linh hồn trong tất cả các chuyển động và hoạt động (50).

Sự di chuyển của người lành trên thiên đàng là sự di chuyển của cả linh hồn và thể xác vinh hiển, trong đó thân xác tuân phục linh hồn và hoàn thành các yêu cầu của linh hồn một cách tức thì. Theo Levering, “sự di chuyển của người lành, việc biểu lộ năng lực hòa hợp giữa linh hồn và thân xác vinh hiển tôn vinh Thiên Chúa” và “gia tăng sự hoàn hảo của phúc kiến” (51). Cũng nhờ di chuyển, người lành ngày càng thánh thiện và mật thiết với Thiên Chúa. Di chuyển cũng cho phép người lành nhìn thấy toàn cảnh công trình sáng tạo lộng lẫy và huy hoàng của Thiên Chúa bằng chính đôi mắt của họ.

Tạm kết

Ở một mức độ nào đó, thân xác phục sinh sẽ được ban cho những phẩm chất siêu nhiên để nó có thể trở thành một công cụ hoàn hảo của linh hồn. Thân xác vinh hiển sẽ bất thụ khổ, quang diệu, thần thấu, và tinh nhanh. Với những đặc tính siêu việt này, chúng ta sẽ thông dự vào đời sống thánh thiêng trong sự hiệp thông muôn đời với Ba Ngôi Thiên Chúa. Những phẩm chất đặc biệt này của thân xác phục sinh cho chúng ta hy vọng về một cuộc sống vĩnh cửu trong sự hiệp thông hoàn hảo với Thiên Chúa Ba Ngôi. Như McCann lập luận: “Nếu trong cuộc sống trần gian, đó là một thân xác phàm hèn giống như các loài vật khác, chịu chi phối bởi các điều kiện tự nhiên và có các nhu cầu thể lý, thì bấy giờ đó sẽ là một thân xác hiển vinh, hoàn toàn tuân phục linh hồn và thực hiện các yêu cầu của linh hồn một cách hoàn hảo” (53). Chính vì thế, tác dụng của sự phục sinh, phú bẩm cho chúng ta nhờ Chúa Giêsu, “là để phục hồi sự toàn vẹn của bản tính con người và làm cho thân xác phục sinh trở thành công cụ hoàn hảo của linh hồn” (54). Walter Kasper tin rằng: “Sự phục sinh không phải là sự nối tiếp cuộc sống cũ, mà là sự khởi đầu của một sáng tạo mới” (55). Mặc dù, dẫu biết rằng là trên đây chỉ vẫn là những suy đoán thần học. Nói cách khác, chúng ta không thể khẳng định chắc chắn một trăm phần trăm về những điều vừa thảo luận ở trên. Tuy nhiên, thân xác vinh hiển với tất cả vinh quang, đẹp đẽ và huy hoàng sẽ là phần thưởng cho tất cả người lành, những người được chúc phúc, không dành cho kẻ dữ. Nên hay không nên giành lấy cuộc sống đó, có lẽ, là câu hỏi thật dễ để trả lời.

Phaolô Phạm Lợi
(Chủng viện St. Meinrad, Mùa Phục Sinh 2020)

Tài liệu tham khảo

  1. Benedict XVI, Homily: Easter Vigil, (15 April 2006), The Holy See, accessed on April 16, 2018, http://w2.vatican.va/content/benedict-xvi/en/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20060415_veglia-pasquale.html.
    2. Joseph Ratzinger, Eschatology: Death and Eternal Life (Washington D.C.: The Catholic University of America Press, 1988), 194.
    3. See Joseph Ratzinger, Introduction to Christianity (San Francisco: Ignatius Press, 2004), 357.
    4. Ibid.
    5. Ibid.
    6. Keith Lemna, Lecture on God and Human Person (St. Meinrad, IN: St Meinrad Seminary, recorded April 17 2018).
    7. Matthew Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple: Salvation according to Thomas Aquinas (Notre Dame, IN: University of Notre Dame Press, 2002), 133.
    8. Phil 3: 21.
    9. Michael Gorman, Apostle of the Crucified Lord: A Theological Introduction to Paul & His Letters (Grand Rapids, MI: William B. Eerdmans Publishing Company, 2017), 334.
    10. D.J. McCann, The Resurrection of the Body (New York: The Macmillan Company, 1928), 87.
    11. 1 Cor 15: 42.
    12. McCann, The Resurrection of the Body, 85.
    13. Thomas Aquinas, Summa Theologiae III, q. 82, a. 1, in Summa Theologica: First Complete American Edition in Three Volumes, vol. 3, trans. Fathers of the English Dominican Province (New York: Benziger Brothers, 1948), 2906.
    14. McCann, The Resurrection of the Body, 87.
    15. Summa Theologiae (ST) III, q. 82, a. 3, trans. English Dominican Province, 2908.
    16. Ratzinger, Eschatology: Death and Eternal Life, 194.
    17. Patrick Fletcher, Resurrection Realism: Ratzinger the Augustian (Eugene, OR: Cascade Books, 2014), 200.
    18. 1 Cor 15: 41- 42.
    19. Mt 13: 43.
    20. See Mt 17:1-8
    21. McCann, The Resurrection of the Body, 89.
    22. 1 Cor 2:9.
    23. ST III, q. 85, a. 1, trans. English Dominican Province, 2925.
    24. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 134.
    25. McCann, The Resurrection of the Body, 90.
    26. 1 Cor 15: 44.
    27. Fletcher, Resurrection Realism: Ratzinger the Augustian, 200.
    28. McCann, The Resurrection of the Body, 90.
    29. ST III, q. 83, a. 1, trans. English Dominican Province, 2911.
    30. See ST III, q. 83, a. 1, trans. English Dominican Province, 2912.
    31. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 133
    32. Lemna, Lecture on God and Human Person, recorded April 20, 2018.
    33. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 133.
    34. See John 20: 19.
    35. H. Cornelis, et al., The Resurrection of the Body, trans. M. Joselyn (Notre Dame, IN: Fides Publishers, 1964), 114.
    36. Lemna, Lecture on God and Human Person, recorded April 20, 2018.
    37. McCann, The Resurrection of the Body, 90.
    38. John 14: 20.
    39. Ratzinger, Eschatology: Death and Eternal Life, 191.
    40. McCann, The Resurrection of the Body, 91.
    41. 1 Cor 15:43.
    42. See Luke 24
    43. McCann, The Resurrection of the Body, 91.
    44. Catechism of Council of Trent, trans. Theodore Alois Buckley (London: George Routledge, 1852), 126. PDF Ebook.
    45. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 133.
    46. McCann, The Resurrection of the Body, 91.
    47. ST III, q. 84, a. 3, trans. English Dominican Province, 2921.
    48. ST III, q. 84, a. 1, trans. English Dominican Province, 2919.
    49. ST III, q. 84, a. 3, trans. English Dominican Province, 2921
    50. ST III, q. 84, a. 1, trans. English Dominican Province, 2919.
    51. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 134.
    52. See Ibid., 134.
    53. Levering, Christ’s Fulfillment of Torah and Temple, 134.
    54. McCann, The Resurrection of the Body, 92.
    55. Walter Kasper, Jesus The Christ (New York: Paulist Press, 1976), 144.

Nguồn: giaophanhatinh.org

Ủy ban Phụng Tự giải thích về rước Mình Thánh Chúa trong hoàn cảnh hiện nay

Ủy ban Phụng Tự giải thích về rước Mình Thánh Chúa trong hoàn cảnh hiện nay

Trong thời gian đại dịch hiện nay, Giáo hội tại Việt Nam và rất nhiều nơi trên thế giới phải tạm dừng các cử hành cộng đồng và hạn chế tập trung. Ở hoàn cảnh này, các tín hữu phải tham dự trực tuyến các cử hành phụng vụ và không thể rước Mình Thánh Chúa như khi tham dự Thánh lễ chung cùng cộng đoàn như trước đây. Với những câu hỏi và ưu tư về cử hành và nhận lãnh Bí tích Thánh Thể trong hoàn cảnh hiện nay, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam giải thích như sau:

1. Thực hành “rước lễ thiêng liêng” là gì?

Rước lễ thiêng liêng là một thực hành đạo đức của người Kitô hữu đã có từ lâu đời (thế kỷ XII) và trải qua hàng thế kỷ cho đến nay, trong đó, theo mô tả của thánh Tôma Aquinô, họ “ước ao cháy bỏng lãnh nhận Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và trìu mến ôm lấy Người” vào lúc và trong hoàn cảnh không thể hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích được (rước lễ/ hiệp lễ Bí tích). Rước lễ thiêng liêng còn được gọi là rước lễ nội tâm, rước lễ trong lòng, rước lễ thần bí hay rước lễ vô hình vì không có dấu chỉ nào rõ rệt và hữu hình (có thể nhìn thấy) như trong hiệp lễ Bí tích.

Thực hành rước lễ thiêng liêng được sử dụng chủ yếu trong hai trường hợp: [i] Chuẩn bị cho việc tiến đến bàn thánh mà lãnh nhận Thánh Thể trong tương lai (Trent, Sess. 13, c. 8); [ii] Không thể rước lễ Bí tích được do những ngăn trở về thể lý (già yếu, đau bệnh), luân lý (tội trọng, mắc vạ tuyệt thông, mắc một hình phạt giáo luật, không giữ chay Thánh Thể) hay hoàn cảnh (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại).

Không những cho phép các tín hữu rước lễ thiêng liêng khi tham dự Thánh lễ trực tuyến, mà Hội Thánh còn mong muốn cho các tín hữu có lòng ao ước rước lễ thiêng liêng, bất cứ lúc nào trong ngày khi không thể rước lễ thực thụ, với những lời cầu nguyện riêng của mình hay với các lời kinh truyền thống trong Hội Thánh, dẫu rằng hình thức này không thể sánh ví được với hành động đón nhận chính Chúa Giêsu Thánh Thể vào tâm hồn mình cũng như ít toàn hảo theo cách Bí tích hơn là rước lễ Bí tích.

Đối với các Bí tích nói chung và Bí tích Thánh Thể nói riêng, tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận và sẽ nhận lãnh khi có cơ hội (Summa Theologica III, q.80, a.11,c.). Đó là lý do ngay từ thời cổ đại, Giáo hội đã công nhận những người tử đạo dù chưa được Rửa tội nhưng cũng đã trở thành Kitô hữu rồi. Mặc dù thân xác họ chưa lãnh nhận nước Rửa tội, nhưng họ đã lãnh Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát. Ngoài ra, mỗi khi thực hiện hành vi rước lễ thiêng liêng, tín hữu sẽ nhận được ơn xá từng phần (x. Enchiridion Indulgentiarum (1999), “Concessiones” 8, §2, 1°). Đối với nhiều vị thánh, các ngài không thỏa mãn ngay cả khi đã lãnh nhận Thánh Thể mỗi ngày trong Thánh lễ. Vì thế, việc rước lễ thiêng liêng trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của họ vì giúp lôi kéo họ thường xuyên đến gần sát với Chúa hơn.

Liên quan đến thực hành này, xin nhắc lại ở đây lời của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/04/2003):

Bí tích Thánh Thể được xem như chóp đỉnh của tất cả các Bí tích, vì Bí tích Thánh Thể luôn thể hiện một cách hoàn hảo nhất sự hiệp thông với Thiên Chúa Cha, nhờ sự đồng hình dạng với Chúa Con duy nhất bởi tác động của Chúa Thánh Thần. Với một niềm tin sâu sắc, một trong những tác giả thời danh của truyền thống Byzantin, đã diễn tả chân lý này khi bàn đến Bí tích Thánh Thể: “Như thế mầu nhiệm này thật hoàn hảo, khác với mọi nghi thức khác, và nó dẫn thẳng đến chóp đỉnh của mọi ơn ích, vì đó cũng là cứu cánh tuyệt đỉnh của mọi cố gắng con người. Bởi vì chúng ta gặp chính Thiên Chúa trong mầu nhiệm ấy, và chính Thiên Chúa kết hợp với chúng ta bằng một mối liên kết hoàn hảo nhất.”. Chính vì thế mà vun trồng trong các tâm hồn niềm ao ước Bí tích Thánh Thể triền miên là điều rất thích hợp. Cũng chính vì thế đã khai sinh một cách thức “rước lễ thiêng liêng”, được phổ biến tốt đẹp từ nhiều thế kỷ trong Giáo Hội và rất được các bậc thầy thánh thiện về đời sống thiêng liêng khuyến khích. Thánh Têrêsa Giêsu đã viết: “Khi bạn không thể rước lễ trong Thánh lễ được thì bạn hãy rước lễ thiêng liêng vậy, vì đó là một cách thức mang lại nhiều lợi ích […]; bằng cách đó bạn ghi khắc trong lòng tình yêu sâu xa với Chúa chúng ta” (số 34).

2. Khi hiện diện trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh Chúa, có được rước Mình Thánh đang lưu giữ nơi Nhà tạm lúc tham dự Thánh lễ trực tuyến không?

Không được. Lý do là vì có sự khác biệt rõ rệt về cả giá trị lẫn thực tại giữa hành vi tham dự Thánh lễ thực sự và tham dự Thánh lễ trực tuyến:

[1] Tham dự Thánh lễ trực tuyến chỉ là phương thế để kết hợp với Chúa Kitô, là sự thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng qua phương tiện truyền thông [truyền thanh và truyền hình] vốn được khuyến khích cho những trường hợp vì một lý do nào đó (già yếu, đau bệnh) hay trong một hoàn cảnh nào đó (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại) mà không thể hiện diện cách thể lý tại nơi cử hành Thánh lễ (nhà thờ/ nhà nguyện), tức là tín hữu không thể đến nhà thờ/ nhà nguyện để tham dự vào cử hành Thánh Thể cùng với cộng đoàn Giáo hội sống động ở đó (GLCG, số 1322). Đây là lý do mà ĐGH Bênêđictô XVI viết rằng: “Về giá trị của việc tham dự Thánh lễ bằng phương tiện truyền thông, những người nghe truyền thanh hay xem truyền hình nên biết rằng, theo những hoàn cảnh bình thường, họ không chu toàn luật buộc tham dự Thánh lễ. Những hình ảnh sống động có thể cho thấy đúng sự kiện, nhưng không thật sự tái diễn sự kiện ấy. Trong khi việc những người cao tuổi và bệnh nhân tham dự Thánh lễ qua truyền thanh và truyền hình là một điều rất đáng khen, không thể nói như vậy đối với những người nghĩ rằng các phương tiện truyền thông miễn cho họ khỏi đến nhà thờ và thông phần với cộng đoàn Thánh Thể giữa lòng Hội Thánh sống động” (Tông huấn Sacramentum Caritatis, số 57). Trả lời cho một câu hỏi tương tự như vấn nạn trên, cha Edward MacNamara cho rằng: “Trong tình trạng cách ly như hiện nay, tham dự Thánh lễ trực tuyến là rất tốt […]. Đó là một thời khắc cùng với vị chủ tế cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, và thực hiện một hành động dâng hiến thiêng liêng và rước lễ thiêng liêng với hy tế Thánh Thể. Tuy nhiên, như thế không phải là tham gia Thánh lễ thật sự, vốn đòi buộc phải có sự hiện diện hữu thể, và như vậy, không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn khi cho rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến” (Edward MacNamara, “Distribution of Communion During a TV Mass”, từ Zenit.org [07/04/2020]).

[2] Tham dự Thánh lễ trực tuyến là một thực hành đạo đức chứ không phải là cử hành phụng vụ. Một việc đạo đức thì không bao giờ gắn với hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích. Trong khi đó, Giáo hội cho phép và khuyến khích các tín hữu rước Chúa Kitô “hiện diện cách đích thực, chân thực, và theo bản thể trong Bí tích Thánh Thể” khi tham dự thực sự vào cử hành phụng vụ Thánh lễ như một sự tham dự Thánh lễ cách toàn hảo hơn vào Hy tế Thánh Thể để họ có thể tiếp nhận một cách dồi dào hơn hoa trái của Hy lễ Cực Thánh” (x. Mediator Dei, 118; Indulgentiarum Doctrina, 18-19; Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 55; GL 918; Qui chế tổng quát Sách Lễ Rôma, Lời mở đầu, số 13). Còn bên ngoài phụng vụ Thánh lễ, trong những hoàn cảnh đặc biệt, tín hữu có thể rước lễ Bí tích trong 2 trường hợp cử hành phụng vụ sau: [i] Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ; và [ii] Nghi thức thăm viếng và đưa Mình Thánh bệnh nhân (x. GL 918; Nghi thức Hiệp lễ và Tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ, 16-50; Nghi thức Xức dầu Bệnh nhân và việc Săn sóc họ theo Mục vụ, 46-47).

Như vậy, thánh Tôma Aquinô giải thích (St. Thomas Aquinas, Summa theologica III, Q. 80, a.), nếu như trong Hội Thánh có hai cách rước lễ là rước lễ thực thụ (in re) và rước lễ thiêng liêng [bằng lòng ước ao] (in voto), thì ứng với việc tham dự vào Hy tế Thánh Thể, tín hữu sẽ lãnh nhận Mình [và Máu Thánh] trong chính Thánh lễ họ tham dự nhằm làm nổi bật sự liên kết giữa việc rước lễ với Hy lễ; còn ứng với việc tham dự Thánh lễ trực tuyến, tức thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng, thì tín hữu chỉ rước lễ thiêng liêng mà thôi, cho dù trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh. Do đó, như cha Edward McNamara đã giải thích, rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn.

Nếu muốn rước lễ Bí tích thì có thể thực hiện ngay sau khi Thánh lễ [trực tuyến] kết thúc, hoặc vào một thời điểm thích hợp khác, và luôn tuân theo các nghi lễ đã được Giáo hội phê chuẩn liên quan đến thực hành cho rước lễ ngoài Thánh lễ. Giáo hội có hai hình thức tương tự nhưng khác nhau của nghi lễ này: “Nghi lễ cho bệnh nhân rước lễ”, và “Nghi lễ cho rước lễ ngoài Thánh lễ với việc cử hành Lời Chúa”. Trong bối cảnh của một cộng đoàn tu sĩ có Mình Thánh được lưu giữ trong nhà nguyện, nghi lễ thứ hai phải được sử dụng (x. Edward MacNamara).

3. Thừa tác viên có thể đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh không?

Việc thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà để cho rước lễ thuộc về thực hành trao Mình Thánh ngoài Thánh lễ. Thực hành này được quy định như sau:

[1] Bộ Giáo Luật (1983):

“Hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ trong chính Thánh Lễ. Tuy nhiên, nếu có người xin với lý do chính đáng, thì có thể cho rước lễ ngoài Thánh Lễ, miễn là giữ các nghi thức phụng vụ”. ( Số 918); “(1) Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử, dù vì bất cứ lý do nào, cần được bổ dưỡng bằng việc rước lễ như của ăn đàng; (2) Cho dù ngày ấy họ đã rước lễ rồi, cũng rất nên cho họ rước lễ lần nữa nếu mạng sống của họ bị lâm nguy; (3) Bao lâu cơn nguy tử kéo dài, nên cho họ rước lễ nhiều lần, vào những ngày khác nhau” (Số 921); “Không được khoan giãn việc đem của ăn đàng cho bệnh nhân. Các chủ chăn phải cẩn thận canh chừng để các bệnh nhân được bổ dưỡng khi còn tỉnh trí” (Số 922).

[2] Huấn Thị Rước Lễ và Tôn Thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ (1973):

Các tín hữu được rước lễ trong Thánh Lễ đang được cử hành, “tuy nhiên, các linh mục không được từ chối cho một tín hữu rước lễ, khi người này vì một lý do hợp pháp xin được rước lễ ngoài Thánh lễ” (số 14); “Có thể cho rước lễ vào bất cứ giờ hay ngày nào. […] Tuy nhiên: a) vào thứ Năm thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong Thánh lễ; có thể cho người bệnh rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; b) vào thứ Sáu thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong cử hành tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa, có thể cho người bệnh mà không thể tham dự vào cử hành phụng vụ được rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; c) vào ngày thứ Bảy Tuần Thánh chỉ đưa Của Ăn đàng cho người hấp hối” (số 16).

[3] Nghi Thức Xức Dầu Bệnh Nhân và việc Săn Sóc Họ theo Mục Vụ (1972):

“Các vị coi sóc linh hồn phải lo sao cho những người đau yếu và những người già lão, mặc dầu không đau yếu nặng và không đến nỗi nguy tử, được năng rước lễ, hơn nữa được rước lễ hàng ngày khi có thể được, nhất là trong mùa Phục sinh; việc trao Mình Thánh Chúa có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào. […] Những người giúp đỡ bệnh nhân và người già cả cũng có thể rước lễ cùng với người mà họ chăm sóc trong cùng một nghi lễ phụng vụ.” (số 46)

Từ những tài liệu đã được trích dẫn, chúng ta nhận ra rằng, theo ý muốn của Hội Thánh, việc trao Mình Thánh Chúa bên ngoài Thánh lễ đòi hỏi phải có lý do chính đáng/ lý do hợp pháp và đòi hỏi này phải được tuân giữ một cách nghiêm ngặt. Lý do chính đáng để cho/ được rước lễ bên ngoài Thánh lễ, các chuyên viên Giáo Luật giải thích: đó là những người không thể tham dự cử hành Thánh Thể do đau bệnh, già yếu hoặc do không có linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn (x. John B. Beal, et al.(eds.), New Commentary on the Code of Canon Law (2000), 1112-13).

Như thế, đối với những người đau bệnh, già yếu, hay đang trong cơn nguy tử, thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà/ bệnh viện để cho họ rước lễ ngoài Thánh lễ là thực hành bình thường. Nhưng đối với những người mạnh khỏe, Hội Thánh khuyên bảo một cách mạnh mẽ (maxime commendatur) rằng các tín hữu hãy rước lễ trong chính Thánh lễ. Họ chỉ có thể rước lễ ngoài Thánh lễ trong hai trường hợp: [i] khi làm công việc chăm sóc bệnh nhân/ người già yếu và tham dự vào nghi thức trao Mình Thánh Chúa cho những người này; [ii] khi không có linh mục đến dâng lễ, chẳng hạn tại những vùng xa xôi hẻo lánh và đặc biệt vào ngày Chúa nhật, họ quy tụ thành cộng đoàn phụng vụ tại một nơi xứng hợp (nhà thờ/ nhà nguyện) để cùng nhau “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ” dưới sự chủ tọa của một thừa tác viên hợp pháp do thánh chức hay do được Bản quyền cho phép.

Vì thế, hoàn cảnh đại dịch (Covid-19) hiện nay không phù hợp cho việc đi đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa. Cụ thể, trong hoàn cảnh này:

1. Về kỷ luật Hội Thánh: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên rước Mình Thánh Chúa đi từ nhà này sang nhà khác để trao cho tất cả các tín hữu (cả người đau bệnh và già yếu lẫn những người khỏe mạnh nhưng ngăn trở vì cấm cách do nguy cơ lây nhiễm) không phù hợp “ngôn ngữ phụng vụ” đối với nhu cầu mục vụ bệnh nhân, không xứng hợp với hoàn cảnh đòi buộc để “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ”, cũng không đáp ứng lý do chính đáng vì thiếu linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn. Thực hành này có vẻ mang lại tiện ích cho nhu cầu tạm thời nhưng có nguy cơ đánh mất tính thánh thiêng nền tảng của cử hành bí tích.

2. Về yếu tố xã hội: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà có thể cản trở qui định cách ly xã hội để phòng tránh lây nhiễm cộng đồng. Thực hành này có vẻ đáp ứng giãn cách xã hội khi không tập trung đông người nhưng có nguy cơ lây nhiễm cộng đồng, gây hoang mang đối với những cộng đồng dân cư chung quanh.

3. Về nguyên tắc luân lý: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà trong giai đoạn tạm dừng các cử hành cộng đồng/ tập trung tại giáo xứ vì nguy cơ lây nhiễm không đáp ứng nguyên tắc “ad impossibilia nemo tenetur” (nghĩa là không ai bị bó buộc làm điều bất khả). Sáng kiến tổ chức cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa tại nhà có thể dẫn đến tình trạng lây nhiễm cho chính thừa tác viên. Hơn nữa, xét về đức ái, thực hành này có thể không phải là chọn lựa tốt hơn so với việc khích lệ các tín hữu tham dự Thánh lễ trực tuyến và rước lễ thiêng liêng vì chúng ta biết rằng tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự (in re) họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận (in voto). Khao khát Chúa Kitô cũng chính là hiệp thông với Ngài.


Nguồn: Văn phòng HĐGMVN

Tại sao Chúa Giêsu gấp tấm vải liệm che mặt của Ngài trong mộ?

Tại sao Chúa Giêsu gấp tấm vải liệm che mặt của Ngài trong mộ?

Một truyền thống của người Do Thái thời đó tiết lộ cho chúng ta một thông điệp quan trọng này.

Tin mừng theo Thánh Gioan, chương 20, kể lại cho chúng ta về tấm khăn liệm che mặt Chúa Giêsu khi Chúa được an táng trong mộ vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Sau Phục sinh, các môn đệ chạy đến mộ, các ông thấy ngôi mộ trống rỗng, tấm khăn không nằm trên đất giống như tấm khăn đã cuộn xác Chúa Giêsu. Tin mừng dành trọn một câu để kể cho chúng ta biết tấm khăn liệm không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.

Tại sao Chúa Giêsu cuốn tấm vải liệm che đầu trong mộ sau khi đã phục sinh?

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (Ga 20,1-7).

Điều đó có quan trọng không?. Chắc chắn là quan trọng.

Nó có ý nghĩa gì không? Có.

Tại sao?

Để hiểu được ý nghĩa của tấm vải liệm được cuốn lại, chúng ta cần biết một chút về truyền thống Do Thái thời đó.

Tấm vải liệm được cuốn lại có liên quan đến sự năng động hằng ngày giữa ông chủ và người đầy tớ – năng động mà mỗi đưa trẻ Do thái đều biết rõ. Người đầy tớ khi chuẩn bị bàn ăn cho chủ, đã thực sự cố gắng thực hiện việc này cách chính xác theo cách mà ông chủ muốn.

Sau khi bàn ăn đã chuẩn bị xong, người đầy tớ đứng đợi bên ngoài, khuất tầm nhìn của ông chủ cho đến khi ông ta ăn xong. Sau đó ông chủ đứng dậy, lau tay, miệng và râu, vo tròn chiếc khăn và bỏ nó lại trên bàn. Chiếc khăn ăn bị vo tròn muốn nói rằng : “Tôi đã ăn xong”.

Nếu ông chủ đứng dậy và để chiếc khăn gấp lại bên cạnh đĩa,  người đầy tớ sẽ không dám chạm vào bàn, bởi vì khi để lại chiếc khăn được gấp lại có nghĩa là: “Tôi sẽ trở lại!”.

Chuyển ngữ từ cuốn sách Histórias e parábolas para a família , của Cha Chrystian Shankar

Chrystian Shankar /Aleteia
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ

Tại sao quan tâm Chúa Phục Sinh?

Tại sao quan tâm Chúa Phục Sinh?

Hằng ngày, càng ngày càng có nhiều người lưu tâm con người lịch sử là Giêsu Nadaret. Với một người bị người ta ghét cay ghét đắng đến nỗi giết chết mà tại sao ngày nay người ta vẫn quan tâm tới cuộc đời và các giáo huấn của Ngài như vậy?

ĐIỀU PHÁT HIỆN

Mọi điều về Ngài đều xảy ra chính xác: Các lời tiên tri về việc Ngài đến, sinh ra, cuộc sống, giáo huấn, phép lạ, sự chết, và nhất là sự sống lại của Ngài. Đó là các sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại.

Hiệu quả chính xác về chính Ngài đối với sự Phục Sinh – dù Ngài đã sống lại từ cõi chết hay vẫn còn trong mộ đá. Nhiều người đa nghi nói rằng tin vào Đức Kitô phục sinh không gì hơn chỉ là bước nhảy mù quáng của niềm tin vô căn cứ.

Tuy nhiên, khi đối diện với các sự kiện này, những người chân thật một cách thông minh đã phải chân nhận rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện lịch sử dựa trên các chứng cớ không thể bác bỏ.

Trên hành trình tâm linh từ không biết gì tới lúc tin vào Đức Kitô, người ta có vấn đề về sự phục sinh. Nhưng xét kỹ thì chúng ta thấy sức thuyết phục rằng sự sống lại về thể lý là lời giải thích duy nhất về ngôi mộ trống, nơi đã mai táng thi hài Đức Kitô.

Đây là vài chứng cớ lịch sử khiến tâm phục khẩu phục:

CHỨNG CỚ PHỤC SINH

  • Đức Kitô đã báo trước việc Ngài phục sinh. Kinh thánh nói: “Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.” (Mt 16:21) Mặc dù những người theo Ngài không hiểu Ngài nói gì với họ lúc đó, nhưng họ vẫn ghi nhớ lời Ngài.
  • Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với những người theo Ngài. Ngài an ủi những người than khóc bên ngoài mộ vào sáng Chúa Nhật. Trên đường đi Emmaus, Ngài đã giải thích những điều nói về chính Ngài từ Cựu Ước. Sau đó, Ngài ăn uống trước mặt họ và mời họ chạm vào Ngài. Kinh thánh nói rằng Chúa Giêsu được hơn 500 người thấy một lúc. Một số người có thể cho rằng chỉ có một số ít người đồng ý với sự dối trá đó, nhưng làm sao người ta có thể giải thích về sự cộng tác của 500 người đó?
  • Đức tin kiên cường của các Tông đồ đủ thuyết phục chúng ta về việc Chúa Giêsu phục sinh. Các Tông đồ này đã từng sợ hãi mà bỏ trốn và chối bỏ Thầy, nhưng nay họ can đảm công bố tin vui này, rao truyền mà không sợ chết. Hành động kiên cường và can đảm của họ sẽ vô nghĩa nếu họ không biết với sự chắc chắn tuyệt đối rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết.
  • Sự phát triển của Kitô giáo đủ xác minh Chúa Giêsu phục sinh. Bài giảng đầu tiên của ông Phêrô, nói về sự phục sinh của Chúa Giêsu, đã khiến người ta tin nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Độ hằng sống của họ. Thánh Luca cho biết một con số kỷ lục: “Hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo.” (Cv 2:41) Cho tới nay, số người tin đó càng ngày càng tăng thêm trên khắp thế giới. Ngày nay, có hàng tỷ người tin.
  • Chứng cớ của hàng tỷ người đã thay đổi đời sống qua các thế kỷ qua cho thấy sức mạnh của Đức Kitô phục sinh. Nhiều người đã bỏ được các chứng nghiện. Những người nghèo khổ và những người thất vọng đã tìm được niềm hy vọng. Những cuộc hôn nhân đổ vỡ đã được hàn gắn. Chứng cớ thuyết phục nhất về sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô là ngày nay Ngài vẫn đang sống giữa những người tin vào sự sống lại và sức mạnh hoán cải.

Sự Phục Sinh làm cho Kitô giáo trở nên đặc biệt. Chưa có một vị lãnh đạo tôn giáo nào đập tan sức mạnh của Tử thần và chiến thắng tội lỗi.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHỤC SINH

Sự Phục Sinh xác nhận rằng Chúa Giêsu là Đấng mà chính Ngài đã tuyên bố. Chúng ta hãy cân nhắc tầm quan trọng của sự kiện này:

  • Sự Phục Sinh chứng tỏ rằng Đức Kitô là Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu chết trên Thập Giá không chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa. Chúa Giêsu chứng tỏ thần tính của Ngài bằng việc hoàn tất các lời tiên tri về cái chết của Ngài và bằng việc Ngài trỗi dậy từ trong mộ. Kinh thánh tuyên bó: “Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng.” (Rm 1:4)
  • Sự Phục Sinh chứng tỏ quyền năng của Đức Kitô trong việc tha tội. Kinh thánh quả quyết: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em.” (1 Cr 15:17) Qua việc sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu chứng tỏ quyền năng và quyền lực phá vỡ mối ràng buộc của tội lỗi, bảo đảm ơn tha thứ và sự sống đời đời cho những ai tin vào Ơn Cứu Độ của Ngài.
  • Sự Phục Sinh mặc khải quyền lực của Đức Kitô đối với sự chết. Kinh thánh cho biết: “Một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người.” (Rm 6:9) Sự Phục Sinh bảo đảm chúng ta cũng chiến thắng sự chết: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời” (Ep 2:6).
  • Sự Phục Sinh đánh bại kẻ thù của Thiên Chúa. Từ cuộc nổi loạn đầu tiên cho đến Thập Giá, ma quỷ đã nham hiểm đấu tranh và xảo quyệt muốn lật đổ Thiên Quốc. Satan phải biết rằng nó đã bị một đòn chí tử trong cuộc chiến xưa kia. Nhưng cuộc chiến này là sự tính toán sai lầm của ma quỷ. Thập Giá là chiến thắng của Nước Trời. Khi Đức Kitô sống lại, quyền lực của tội lỗi và Tử thần đã bị đập tan vĩnh viễn. Nhờ sự Phục Sinh của Đức Kitô, các Kitô hữu không còn sợ Satan hoặc Tử thần nữa!

HOÀN TẤT ƠN CỨU ĐỘ

40 ngày sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại, Ngài đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ. Có lần Ngài quy tụ 11 môn đệ (không còn Giuđa) trên núi tại Galilê và trao cho họ sứ vụ quan trọng. Ngài nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:18-20)

Rồi sau đó, sách Công Vụ cho biết: “Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là: ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần. Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt,8 nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:4-5, 7-8)

Ngay sau đó, Ngài lên trời và biến vào trong đám mây, để các môn đệ ngơ ngẩn nhìn theo, mắt chữ O mà miệng chữ A. Chúa Giêsu lên trời là hành động cuối cùng trong công cuộc cứu độ. Sứ vụ của Ngài hoàn tất, Đức Giêsu Kitô được tán dương và vinh quang. Sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô là sự kiện cách mạng nhất trong lịch sử nhân loại.

Người ta không thể từ chối rằng Ngài đã làm rung động thế giới khi Ngài làm người trên thế gian. Nhưng cuộc đời Ngài đã hình thành lịch sử cả trong thời đại chúng ta. Sự Phục Sinh là minh chứng cuối cùng rằng ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG MÀ CHÍNH NGÀI ĐÃ TUYÊN BỐ.

Nhân chứng sống của chàng trai trẻ Gioan, người luôn kề cận Chúa Giêsu và chứng kiến từ đầu tới cuối, ngay cả khi đứng dưới chân Thập Giá, đã viết: “Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. Còn có nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21:24-25)

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CCCI.ORG)

(Đăng báo ĐMHCG số 404, tháng 04-2020, DCCT xuất bản tại Hoa Kỳ)

CÁI CHẾT VÔ CÙNG KINH KHỦNG CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN THẬP GIÁ (Theo khoa học)

CÁI CHẾT VÔ CÙNG KINH KHỦNG CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN THẬP GIÁ (Theo khoa học)

Năm 33 tuổi, Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

Vào thời đó, đóng đinh là cái chết “tệ” nhất. Chỉ có những người phạm tội nặng nhất, mới bị kết án đóng đinh.

Ðối với Chúa Giêsu thì án này còn dễ sợ hơn, vì không như những tử tội bị xử án đóng đinh khác, Chúa Giêsu bị đóng đinh tay và chân vào thánh giá.

Mỗi cái đinh dài từ 6 cho tới 8 inches.

Ðinh được đóng vào cổ tay Chúa. Không phải nơi bàn tay như thường được minh họa. Ở cổ tay, có gân vươn tới vai.

Lính La Mã biết điều đó khi những chiếc đinh được đóng vào cổ tay, gân bị xé ra và đứt, khiến Chúa phải dùng bắp thịt ở lưng để nâng mình dậy, như thế, Ngài mới có thể thở.

Cả hai bàn chân được đóng đinh dính vào nhau. Như thế, Ngài buộc phải chống đỡ mình trên chiếc đinh xuyên qua hai bàn chân và Thánh Giá. Chúa Giêsu không thể chống đỡ với hai chân vì đau đớn, như thế, Ngài buộc phải luân phiên uốn cong lưng và dùng hai chân để tiếp tục thở.

Hãy tưởng tượng đến sự vật lộn, đau đớn, thống khổ, cam đảm của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu đã chịu đựng trong hơn 3 tiếng đồng hồ. Phải, trong hơn 3 tiếng đồng hồ! Bạn có thể tưởng tượng được sự đau đớn này không?

Vài phút trước khi chết, Chúa Giêsu bị ngưng chảy máu. Ngài chỉ chảy nước từ những vết thương.

Trong những hình ảnh, chúng ta thường thấy những vết thương trên bàn tay và chân và vết thương ở cạnh sườn do lưỡi đòng…nhưng chúng ta có nhận thức được rằng những vết thương đó thật đã được làm nơi thân thể của Chúa Giêsu không?

Một cái búa đóng những chiếc đinh dài xuyên qua cổ tay, và chiếc đinh lớn xuyên qua hai bàn chân chồng lên nhau và qua miếng gỗ chêm, rồi người lính canh đâm cạnh sườn Ngài với ngọn giáo.

Trước khi bị đóng đinh và bị ngọn giáo đâm, Chúa Giêsu đã bị quất bằng roi và bị đánh. Cú đánh bằng roi khủng khiếp đến nỗi xé thịt từ thân thể Ngài ra. Cú đánh ghê rợn đến nỗi mặt Ngài bị đứt và râu bị xé toạc trên mặt Ngài.

Mão gai đâm vào tận xương sọ của Chúa Giêsu.

Hầu như con người của Chúa Giêsu không thể sống sót được với cuộc tra tấn này!

Chúa Giêsu không còn máu để đổ ra nữa, chỉ có nước tuôn ra ở những vết thương. Cơ thể con người chứa chừng 3,5 lít máu (ít hơn một gallon). Chúa đã đổ hết 3,5 lít máu.

Ba chiếc đinh xuyên qua tứ chi; một mão gai trên đầu, và bên cạnh đó, người lính La Mã đâm ngọn giáo vào ngực. Tất cả những điều này, không kể đến sự nhạo cười Chúa Giêsu đã trải qua khi vác thập giá trên đoạn đường dài 2 cây số, trong lúc đó, đám đông vả vào mặt Ngài và ném đá.

Thập giá nặng cỡ 30 ký, chỉ có thanh ngang.

+++

Chúa Giêsu đã chịu đựng tất cả để cho Bạn được tự do đến với Chúa, để tội lỗi của Bạn được tẩy sạch. Tất cả tội lỗi, không trừ tội nào! …

CHÚA GIÊSU ÐÃ CHẾT CHO BẠN!…

Ðừng nghĩ rằng Ngài chết cho ai khác… Ngài chết cho Bạn! …

Chúa có chương trình cho Bạn.

Bạn hãy tỏ cho tất cả bạn bè của mình biết kinh nghiệm của Chúa Giêsu để cứu Bạn…

Xin Chúa Giêsu chúc bình an cho Bạn!

Linh mục Phạm Văn Dũng

Tìm hiểu Ơn Toàn Xá trong mùa đại dịch Covid -19

Tìm hiểu Ơn Toàn Xá trong mùa đại dịch Covid -19

 Nhằm giúp các tín hữu chưa hiểu rõ hoặc chưa để ý đến ân xá và việc lãnh nhận ơn toàn xá trong mùa đại dịch Covid-19, cũng như mong ước các tín hữu mạnh mẽ thể hiện tình thương đối với chính mình và tha nhân bằng lời cầu nguyện và thi hành các việc đạo đức bác ái để lãnh nhận các ân xá, chúng tôi xin mạn phép giải thích thêm ở đây nội dung của  “Sắc Lệnh ban ân xá đặc biệt cho các tín hữu chịu đau khổ vì dịch Covid-19, cũng như cho những nhân viên y tế, gia đình bệnh nhân và tất cả những ai đang giúp đỡ các bệnh nhân” được ban hành mới đây (ngày 19 tháng 3 năm 2020) từ Tòa Ân Giải (Paenitentiaria Apostolica).

Lý do ra đời của Sắc Lệnh này là vì: [1] Toàn thể nhân loại chúng ta đang ở trong thời kỳ “bị đe dọa bởi một căn bệnh vô hình và ác hiểm” do nhiễm virus corona, cho nên theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu, Hội Thánh muốn luôn mở lòng chăm sóc các bệnh nhân; [2] Để tất cả những ai đau khổ vì nạn dịch Covid-19 có thể tái khám phá ra “sự đau khổ mang tính cứu chuộc của Chúa Kitô”; [3] Noi theo ĐGH Phanxicô trong việc bày tỏ sự gần gũi của ngài đối với các bệnh nhân như một người cha và không ngừng mời gọi cầu nguyện cho những người bị nhiễm virus corona.

Để lãnh nhận ơn toàn xá theo đúng tinh thần siêu nhiên phải có, chúng ta nên hiểu một vài khái niệm về ân xá, nhưng quan trọng hơn, hội đủ các điều kiện cần thiết và thi hành những điều Hội Thánh qui định.

  1. ÂN XÁ LÀ GÌ?

Ân xá là việc tha trước mặt Thiên Chúa hình phạt tạm thời phải chịu do các tội gây nên, dù tội đã được tha thứ [qua Bí tích Giải tội]. Nhờ Bí tích Hòa giải, hối nhân được tha thứ tội lỗi và tái lập hiệp thông với Thiên Chúa, cũng như được tha các hình phạt đời đời do tội. Nhưng những hình phạt tạm vẫn còn. Kitô hữu nào đã được chuẩn bị đầy đủ và đã thực hiện một số điều kiện đã được ấn định, thì được hưởng ơn tha thứ hình phạt tạm nhờ sự trợ giúp của Giáo Hội (GL 992; GLCG 1471, 1473; Enchiridion Indulgentiarum [EI] (1999), “Normae de Indulgentiis”, N. 1).

Ân xá gồm có ơn xá từng phần hoặc ơn toàn xá. Tên gọi “ơn xá từng phần” và “ơn toàn xá” được sử dụng nhiều hơn là tên gọi “tiểu xá” và “đại xá” (GL 993; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 2). Bất cứ tín hữu nào cũng có thể hưởng ơn xá từng phần hoặc ơn toàn xá, hoặc cho chính mình, hoặc cho những người đã qua đời (GL 994; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 3). Mỗi ngày một tín hữu chỉ nhận hưởng được ơn toàn xá một lần mà thôi, ngoại trừ trường hợp nguy tử (EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 18).

  1. ƠN XÁ TỪNG PHẦN LÀ GÌ?

Ân xá được gọi là gọi là ơn xá từng phần (indulgentia partialis), nghĩa là ân xá chỉ tha một phần hình phạt tạm thời phải chịu vì tội (GL 993; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 2).

III. ƠN TOÀN XÁ LÀ GÌ?

Ân xá được gọi là ơn toàn xá (indulgentia plenria), nghĩa là ân xá tha hoàn toàn hình phạt tạm thời phải chịu vì tội (GL 993; GLCG 1471; EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 2).

  1. CÓ THỂ LÃNH NHẬN ƠN TOÀN XÁ MỖI NGÀY KHÔNG?

Mỗi ngày, tín hữu có thể nhận được một ơn toàn xá khi làm những việc đạo đức sau: [1] Viếng Mình Thánh Chúa ít nhất nửa tiếng đồng hồ (Enchiridion Indulgentiarum [EI] (1999), “Concessiones” 7 § 1, 1°); [2] Đọc 50 kinh Mân côi trong nhà thờ, nhà nguyện, gia đình, tu viện hay cùng với hội đoàn (EI, “Concessiones” 17 § 1, 1° et conc. 23 § 1); [3] Đọc Kinh Thánh liên tục trong nửa tiếng đồng hồ với ý thức là đang đọc Lời Chúa (EI, “Concessiones” 30); [4] Đi Đàng Thánh giá (EI,  “Concessiones” 13, 2°). Ngoài ra, trong khá nhiều dịp đặc biệt như được ấn định trong Sổ bộ các Ân xá: Quy chế và Ân ban [1999] (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones), tín hữu cũng được lãnh nhận ơn toàn xá. Chẳng hạn dịp lãnh nhận phép lành “Urbi et Orbi” của ĐGH; dịp tham dự tuần cấm phòng (tĩnh tâm) ba ngày liên tiếp; dịp rước lễ lần đầu; dịp tham dự Thánh lễ mở tay (Thánh lễ Tạ ơn) của tân linh mục…

  1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐỂ LÃNH NHẬN ÂN XÁ LÀ GÌ?

Đó là những điều kiện sau:

[1] Có ý định muốn lãnh nhận ân xá (có ý chung chung cũng đủ, hoặc ý thường kỳ tỏ ra một lần mà không rút lại);

[2] Thi hành những công việc như đã ấn định: xưng tội, rước lễ, và cầu nguyện theo ý ĐGH. Việc xưng tội có thể thực hiện trước mấy ngày hoặc sau mấy ngày làm việc có ân xá (nếu trong lòng không mắc hoặc vương vấn tội lỗi) và xưng tội một lần thì đủ điều kiện để hưởng ơn toàn xá nhiều lần. Việc rước lễ thì nên làm mỗi ngày (chính ngày) khi lãnh nhận ân xá. Tuy nhiên, Bản quyền địa phương có thể miễn chuẩn việc rước lễ cho những người không thể tuân giữ được (ví dụ như người bệnh, người ở xa nhà thờ). Việc cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng cũng vậy, nên làm trong chính ngày muốn lãnh nhận ân xá, được diễn tả bằng việc đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Kính Mừng là đủ, nhưng vì lòng đạo đức mà đọc thêm những kinh khác cũng là điều tốt. Mỗi lần rước lễ và cầu nguyện theo ý ĐGH thì chỉ được hưởng một ơn toàn xá (EI, “Normae de Indulgentiis”, N. 20).

[3] Dứt lòng quyến luyến tội lỗi, dù là tội nhẹ

  1. LÃNH NHẬN ƠN TOÀN XÁ TRONG MÙA ĐẠI DỊCH COVID-19

Sắc Lệnh của Tòa Ân Giải về việc ban Ân Xá Đặc Biệt cho các tín hữu trong đại dịch hiện nay chia ra 4 nhóm đối tượng lãnh nhận cũng như quy định các thực hành đạo đức tương ứng với mỗi nhóm và ý hướng kèm theo những thực hành đạo đức này để được hưởng ơn toàn xá:

1/ Bệnh nhân nhiễm virus Corona, người phải cách ly tại bệnh viện hay tại nhà do thẩm quyền y tế

  • Điều kiện:[1] Tinh thần dứt bỏ tội lỗi; [2] Ít là thực hành một trong các việc sau: a/ Tham dự trực tuyến Thánh lễ; b/ Đọc kinh Mân côi; c/ Đi Đàng Thánh Giá; d/ Các việc đạo đức khác; d/ Tối thiểu chỉ cần đọc kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính, kinh Kính Mừng và một lời khẩn cầu với Đức Trinh Nữ Maria; [3] Sớm hết sức có thể, sẽ xưng tội, rước Thánh Thể, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng. Điều kiện có ý định muốn lãnh nhận ân xá coi như được hiểu ngầm.
  • Ý hướng: Dâng đau khổ trong tinh thần đức tin hướng về Chúa và đức ái hướng đến anh chị em tha nhân.

2/ Nhân viên y tế, người nhà của bệnh nhân và thiện nguyện viên đang chăm sóc bệnh nhân nhiễm virus Corona

  •  Điều kiện: tương tự như nhóm đối tượng trên.
  • Ý hướng: Phục vụ theo lời Chúa dạy: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu” (Ga 15, 13).

3/ Các tín hữu nói chung

  • Điều kiện:[1] Tinh thần dứt bỏ tội lỗi; [2] Ít là thực hành một trong các việc sau: a/ Viếng Thánh Thể, hoặc chầu Thánh Thể ít là nửa tiếng đồng hồ; b/ Đọc Thánh Kinh ít là trong 30 phút; c/ Đọc kinh Mân côi; d/ Đi Đàng Thánh Giá; d/ Lần chuỗi kính Lòng Chúa Thương Xót; [3] Sớm hết sức có thể, sẽ xưng tội, rước Thánh Thể, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng. Điều kiện có ý định muốn lãnh nhận ân xá coi như được hiểu ngầm.
  • Ý hướng: để khẩn cầu Thiên Chúa Toàn năng chấm dứt đại dịch này, nâng đỡ những người nhiễm bệnh và ban ơn cứu rỗi muôn đời cho những kẻ đã được Chúa gọi về bên Chúa.

4/ Tín hữu nguy tử, không thể lãnh nhận Bí tích Xức dầu và Của ăn dàng

Điều kiện: [1] Đã chuẩn bị tâm hồn cách thích đáng và đã đọc một ít kinh nguyện khi còn sống (trong trường hợp này Hội Thánh sẽ bù đắp cho ba điều kiện thông thường để lãnh nhận ân xá); [2] Có tượng Chúa chịu đóng đinh hoặc Thánh giá.

VII. CÁC TÍN HỮU THAM DỰ THÁNH LỄ TRỰC TUYẾN CÓ ĐƯỢC LÃNH ƠN TOÀN XÁ KHÔNG?

Như phần trên đã nói, điều kiện căn bản là để lãnh nhận ân xá là: [1] Có ý định muốn lãnh nhận ân xá; [2] Thi hành những công việc như đã ấn định (ngày, nơi, dịp lãnh nhận ân xá và xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý ĐGH); [3] Dứt lòng quyến luyến tội lỗi, dù là tội nhẹ.

Dựa vào Sắc Lệnh ban ơn Toàn Xá của Tòa Ân Giải trong tình trạng dịch bệnh lan tràn hiện nay (19/03/2020), các tín hữu thuộc về Nhóm đối tượng 1/ (bao gồm: Bệnh nhân nhiễm virút Corona, người phải cách ly tại bệnh viện hay tại nhà do thẩm quyền y tế) và Nhóm đối tượng 2/ (bao gồm: Nhân viên y tế, người nhà của bệnh nhân và thiện nguyện viên đang chăm sóc bệnh nhân nhiễm virus Corona) đều có thể lãnh nhận ơn toàn xá nếu họ tham dự Thánh lễ trực tuyến và đáp ứng điều kiện là từ bỏ tội lỗi và sớm hết sức có thể, sẽ xưng tội, rước Thánh Thể, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng.

Còn đối với các tín hữu nói chung (Nhóm đối tượng 3/), Sắc Lệnh chỉ nhắc đến việc thi hành một số công việc đã ấn định với ý hướng cầu nguyện cho đại dịch chấm dứt, cho bệnh nhân được chữa lành và cho những người qua đời được an nghỉ ngàn thu, thì được ban ơn toàn xá. Như vậy, trong trường hợp này, nguyên việc tham dự Thánh lễ trực tuyến thì không được lãnh ơn toàn xá mà là do họ đáp ứng những điều kiện và có ý hướng như được chỉ ra trong Sắc Lệnh (coi phần trên).

THAY LỜI KẾT

Ân xá không đến từ việc hoàn tất cho xong công kia việc nọ, nhưng là kết quả từ lòng đạo đức chân thành trong đó chúng ta nhận ra nhu cầu hoán cải tâm hồn và đáp lại bằng một tình yêu đích thực trước những hoa trái thiêng liêng cao quý mà Thiên Chúa tuôn đổ một cách dạt dào trên chúng ta. Vậy chúng ta đừng lãng phí cơ hội quý báu để lãnh nhận ơn toàn xá trong thời gian này với lòng tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa, Đấng đã thiết lập Hội Thánh và đón nhận chúng ta vào Hội Thánh mà “với tư cách là thừa tác viên ơn cứu chuộc, Hội Thánh dùng quyền mình để phân phát và áp dụng kho tàng đền tội của Đức Kitô và các Thánh.”

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

Tại sao có Sự Dữ và Đau Khổ trong đời sống?

Tại sao có Sự Dữ và Đau Khổ trong đời sống?

I. Giới Thiệu

Nạn đại dịch covid-19, bắt nguồn từ Vũ Hán, Trung Quốc, đã lan tràn ra khắp thế giới, và đe dọa mạng sống con người khiến cuộc sống thường ngày của hầu hết mọi người bị đảo lộn. Riêng với người Công Giáo, Tuần Thánh năm nay có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử mà giáo dân phải tham dự thánh lễ “từ xa” qua hệ thống kỹ thuật truyền thông hiện đại. Trong bối cảnh đối diện với đai dịch, và người Kitô hữu đồng hành với Đức Giêsu Kitô trong tuần thánh để cảm nghiệm Cuộc Thương Khó, Sự Chết và Sự Sống Lại của Ngài, tôi muốn dùng cơ hội này để ôn lại giáo lý Công Giáo dạy gì về những sự dữ và đau khổ xảy ra trong đời sống con người, và làm thế nào để qua những hiểu biết này, chúng ta tăng thêm đức tin vào Thiên Chúa toàn năng và nhân từ.

Câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa để có đại dịch covid-19 khiến hơn 1.2 triệu người nhiễm, và hơn 67 ngàn người tử vong? [1] Tại sao ông A bị ung thư? Tại sao bà B bị chết khi đang đi hành hương hay đang cầu nguyện? Tại sao anh C đang làm việc cho cộng đoàn lại bị xe tông và thành bất toại? Hay trên bình diện lớn hơn: Tại sao có chiến tranh gây thiệt mạng hàng triệu người? Khi Hitler giết sáu triệu người Do thái trong các lò hơi ngạt, Thiên Chúa ở đâu? Và hằng ngày, những người bị tù tội oan ức, Thiên Chúa ở đâu? Công bằng ở đâu?

Giáo Lý Công Giáo số 309 dạy “Nếu Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Ðấng Sáng Tạo nên thế giới có trật tự và tốt lành, chăm sóc hết mọi thụ tạo, tại sao có sự dữ?… Không thể có một câu trả lời ngắn gọn mà đầy đủ được.”

Sự hiện diện của sự dữ trong cuộc sống đã quá rõ ràng. Vì thế, đối diện với đau khổ là vấn nạn căn bản và cũng là mầu nhiệm phức tạp đầu tiên con người tiếp cận khi tìm hiểu đức tin họ đặt vào Thiên Chúa.

Những bất công, bệnh tật, chết chóc, đau khổ v.v… là một phần hiện thực của sự dữ (sự ác) được triết học và thần học quan tâm và tìm cách giải thích cho hợp lý. Câu hỏi ‘tại sao và làm cách nào sự dữ xâm nhập vào thế giới được Thiên Chúa tạo dựng’ vẫn chứa đựng bí ẩn thắc mắc nhiều hơn là câu trả lời.

Với đức tin Công Giáo, chúng ta hiểu gì mầu nhiệm này? Trước khi tìm hiểu thêm sâu rộng thêm về đề tài này, chúng ta cần phân biệt hai hình thức sự dữ được nói đến: một là sự dữ luân lý, hai là sự dữ tự nhiên. Sự dữ luân lý thường là hệ quả của việc con người sử dụng tự do (ví dụ như trộm cắp, giết người, cướp của, hãm hại nhau…). Sự dữ tự nhiên (như động đất, lụt lội, núi lửa, bệnh tật…) không là lựa chọn của con người nhưng họ lãnh hậu quả.

Dĩ nhiên không phải mọi kết quả sự dữ đều dễ nhận dạng theo hai hình thức trên, vì tính phức tạp của thực tế. Ví dụ như sập chiếc cầu Cần Thơ năm 2007 làm chết hơn 50 người, liệu đây là do sự dữ tự nhiên (cầu sập đè chết người) hay sự dữ luân lý khi con người làm lỗi (vì thiết kế cẩu thả, ăn cắp vật liệu, gian dối trong thi công…) gây sập cầu. Dịch Covid-19 là do sự dữ tự nhiên (con người vô tình lây lan từ một virus đang có trong động vật???…) hay sự dữ luân lý (vì con người muốn chế tạo để hại nhau, nhưng sai lầm trong kiềm chế kiểm soát khiến virus bị lọt ra ngoài??). Ngay cả với yếu tố sự dữ tự nhiên, việc lây lan nhanh chóng và quá rộng rãi trên thế giới có thể một phần do sự dữ luân lý khi con người che giấu sự thật về tình trạng nguy hiểm của virus này không?

Điều quan trọng là cho dù sự dữ luân lý hay tự nhiên, chúng ta cũng không dễ dàng tìm ra câu trả lời tại sao lại xảy ra như vậy.

Và tất cả những gì tôi chia sẻ dưới đây là tập hợp của những lý thuyết trong lịch sử tìm cách giải đáp thắc mắc này, nhưng không một giải đáp nào thỏa mãn được mọi thắc mắc của chúng ta. Dù sao, những tổng hợp vắn tắt này cho chúng ta một cái nhìn khái quát phức tạp về vấn nạn sự dữ và đau khổ trong cuộc sống, và giúp chúng ta cẩn thận hơn khi giảng dạy, thay vì cung cấp những câu trả lời đơn giản nhưng chứa đựng nhiều sai lầm.

II. Lịch sử tranh luận về sự dữ

Triết lý và thần học có cùng một câu hỏi, nhưng cách giải thích có nhiều khác nhau. Với triết lý, lý luận logic là nguyên tắc chính. Với thần học Kitô giáo, làm sao để bảo vệ được Một Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện mà không thể bỏ qua sự hiện diện của sự dữ trong đời.

Thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, triết gia Epicurus (341-270 BC) đã đặt câu hỏi tương quan giữa Triết học và Thần học khi ông hỏi về nguyên nhân của sự dữ, và được David Hume (1711-1776) lặp lại trong một lý luận ngắn gọn: “Có phải Thiên Chúa muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng Ngài không có thể? Vậy, Ngài không Toàn Năng. Nếu Ngài có thể, nhưng Ngài không ước muốn ngăn ngừa? Vậy Ngài không Toàn Thiện. Nếu Ngài vừa có khả năng và vừa ước muốn làm việc đó, vậy tại sao sự dữ lại có mặt trong đời sống?”

1. Triết lý và các thuyết giải thích

Triết lý tìm cách giải thích sự hiện diện của sự dữ mà không nhất thiết phải tin là có Một Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng vũ trụ. Vì thế, một vài lý luận được ghi lại như sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa Nhị Nguyên Thuyết (dualism) cắt nghĩa đơn giản rằng trong vũ trụ tồn tại hai thần lực, Tốt và Xấu. Sự đấu tranh này có thể là tạm thời (nghĩa là đến một lúc nào đó, một trong hai Thần sẽ thắng đối tượng kia), hay có tính cách vĩnh viễn (nghĩa là hai thế lực Tốt-Xấu này tồn tại muôn đời). Như thế, sự dữ trong thế gian là điều tất yếu, vì đó là một phần của thụ tạo trong vũ trụ. [2]

Thứ hai, không hề có hiện thực Tốt hay Xấu mà chỉ là những danh từ con người đặt tên cho những sự kiện xảy ra trong đời. Nói cách khác, “hên” hay “xui” không tùy thuộc vào sự kiện cho bằng tùy thuộc vào người đón nhận. Vì thế, không thể coi sự dữ như là một thực thể, mà tốt hơn là coi nó như một tình trạng tâm lý, hay một tình huống được con người diễn dịch theo ý mình. [3]

Thứ ba, thuyết Bất Khả Tri Luận (agnosticism) cho rằng khả năng con người không thể biết được. Thuyết Bất Khả Tri Luận được nhiều người chấp nhận vì mọi lý lẽ giải thích bí nhiệm sự dữ không thoả mãn được óc tò mò của con người, ngay cả vô thần như Voltaire, trong tác phẩm Candide,Ou L’Optimisme, cũng ủng hộ thuyết này. [4]

Thứ tư, thuyết Nhân Quả cho rằng “gieo gió thì gặp bão.” [5] Xuất phát từ tính dễ hiểu, triết thuyết này rất phổ biến trong đời sống con người, và là nền tảng niềm tin Ấn Độ giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Nho giáo…. Điều khó cắt nghĩa được kể lại trong Tin Mừng Gioan 9:1-12 là tại sao người mù từ khi mới sinh? Tội của anh ta hay của cha mẹ anh ta? Vì mù từ khi mới sinh nên chắc chắn anh ta chưa làm gì nên tội; còn nếu là tội cha mẹ anh thì câu hỏi: tại sao một người làm mà người khác phải chịu? Bên cạnh đó, ta lại còn chứng kiến nhiều người ác sống thảnh thơi trong khi người lành thánh gặp nhiều hoạn nạn. Thuyết Nhân Quả bị sách ông Gióp loại bỏ và cũng bị Chúa Giêsu lên án (John 9:2-3)

2. Triết lý và lý luận logic

Giáo lý Kitô giáo dạy chỉ có Một Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện. Vậy sự có mặt của sự dữ không thể dung hoà với những yếu tố trên của đức tin. Lý luận này được tóm gọn như sau:

a. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, Ngài phải tiêu diệt hết mọi sự dữ.
b. Nếu Thiên Chúa Toàn Năng, Ngài có thể tiêu diệt hết mọi sự dữ.
c. Vì thế, sự dữ trên thế gian chứng tỏ không có một Thiên Chúa vừa Toàn Năng – Toàn Thiện như Kitô giáo dạy.

Trước khi đi sâu vào tư tưởng thần học của lý luận này, chúng ta cùng nhau nhìn lại lý luận này theo phương thức logic của triết lý. Khi thách đố trên dựa vào lý luận để kết luận là không có Một Thiên Chúa như đức tin Kitô giáo dạy, thì chìa khóa giải đáp cũng dựa vào lý luận mà thôi.

Khi ta nói: “Thiên Chúa là Đấng toàn năng, làm được mọi sự” , câu này có nghĩa là gì? Có phải Ngài làm gì cũng được hay sao? Thưa không, vì có nhiều điều Thiên Chúa không làm được. Kinh thánh nói “với Thiên Chúa mọi sự đều có thể” (Mt. 19:26), nhưng Kinh thánh cũng dạy là có nhiều điều Thiên Chúa không làm được, như Ngài không thể lừa dối (Titus. 1:2), không thể phạm tội, hay cám dỗ người khác phạm tội (James 1:13). Nghĩa là Thiên Chúa không thể làm điều nghịch lại bản tính Ngài. Và cũng không thể làm điều gì ngoài định luật Ngài đã đặt ra, như không thể tạo ra một hình tam giác có bốn góc, hay làm sai thành đúng, hay người cao lại “ngắn” hơn người lùn…[6] Với con người, Thiên Chúa không thể cho họ vừa tự do, vừa mất tự do.

Vì thế, lý luận logic trên không thật sự cho chúng ta một thực thể nhưng cho ta một logic lập luận về từ ngữ mà thôi.

Nên trong thần học, chúng ta vẫn tuyên xưng Thiên Chúa Toàn Năng và Toàn Thiện, và dĩ nhiên Ngài có khả năng loại bỏ sự dữ, nhưng Ngài không thể làm mà không huỷ hoại tự do con người.

Còn với sự dữ tự nhiên (như động đất, lụt, bệnh tật…) thì sao? Lý luận trên cũng giúp ta hiểu rằng chúng ta không thể sống theo ý định Thiên Chúa muốn ta sống, nếu ta không có môi trường như ta đang có hiện tại. Nói cách khác, điều kiện sống hiện tại, dù có nhiều sự dữ, nhưng bảo đảm cho ta được tự do, và là điều kiện tốt nhất Thiên Chúa dành cho con người.

3. Sự dữ trong thần học truyền thống

Trong truyền thống thần học Kitô giáo, có vài hình thức giải thích được xem là phổ biến.

Trước hếtlà không thể hiểu được. Chúng ta không hiểu tại sao có sự dữ trên thế gian, nhưng chúng ta vẫn tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng đời mình, và con người cần kiên nhẫn trong đời sống đức tin. Cách hiểu này được kể lại trong sách ông Gióp khi cắt nghĩa rằng con người không thể hiếu được chương trình bí nhiệm của Thiên Chúa Toàn Năng (xem Job 38-41). Nên nhớ rằng chỉ vì ta không hiểu được lý do nào Thiên Chúa để cho sự dữ xảy ra, không có nghĩa là Thiên Chúa không có lý do để làm chuyện đó. Một em bé không luôn luôn hiểu hết những lý do đằng sau những việc bố mẹ làm cho mình, nhưng không phải vì thế mà bố mẹ không có lý do để cấm đoán hay khuyến khích em làm những gì bố mẹ muốn cho em. Vì thế, là con người mà đòi hỏi hiểu hết mọi mầu nhiệm của Thiên Chúa là điều không thể được, vì ngay cả biết bao điều chung quanh chúng ta mà ta còn chưa hiểu như sức ly tâm, sức hút trái đất, nguyên tử v.v…

Thứ hai là thanh luyện. Cách giải thích này là Thiên Chúa dùng đau khổ, sự dữ để thanh luyện con người ngày càng lớn mạnh hơn.[7] Tư tưởng này khá phổ biến trong thần học các giáo phụ, và ta có thể tìm thấy trong thần học thánh Phaolô, như trong thư gửi tín hữu Roma: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.” (Rom 8:18). Dĩ nhiên tư tưởng thánh Phaolô nhắc ở đây là những đau khổ con người chịu vì danh Đức Giêsu Kitô, chứ không là những đau khổ đến từ những điều kiện mà con người có thể loại bỏ hay thay đổi. Nghĩa là, đừng hiểu lầm rằng thánh Phaolô muốn con người sống thụ động trước đau khổ, nhưng Ngài muốn dạy rằng Thiên Chúa sẽ không để những đau khổ con người chịu đựng vì danh Ngài trở nên vô ích. Với những người chống lại lối giải thích này, họ hỏi rằng: liệu Thiên Chúa còn phải tôi luyện con người đến mức nào? Bao nhiêu thử thách đau khổ xảy ra mới đủ?

Thánh Irenaeus (thế kỷ 2) cho rằng sự dữ đơn giản là một phần của thụ tạo được dựng nên, và là điều kiện cần thiết để con người có thể sử dụng tự do chọn điều Tốt. Chỉ khi có sự dữ như một lựa chọn, con người mới thật sự hiểu tự do là gì khi chọn điều tốt – xấu cho mình. Và khi chọn điều tốt để làm và loại bỏ điều xấu, con người trưởng thành. Như vậy, sự dữ là điều kiện cần thiết để con người được tôi luyện và trưởng thành.[8]

Thứ ba là phó thác theo ý Chúa. Lối giải thích này cho rằng không việc gì xảy ra mà không theo ý Thiên Chúa, nghĩa là, mọi việc xảy ra dù Thiên Chúa cho phép xảy ra hay Thiên Chúa muốn nó xảy ra đều do Thiên Chúa định đoạt. Lối giải thích này cũng không quên nhấn mạnh rằng ý định cuối cùng của Thiên Chúa luôn luôn muốn sự tốt đẹp cho con người, vì những gì không tốt đẹp đều không hợp với bản tính tốt lành, yêu thương và khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa chắc chắn phải có lý do chính đáng khi để những sự dữ xảy ra. Nói cách khác, Thiên Chúa sẽ đem về những kết quả tốt đẹp đến từ đau khổ, và dùng sự dữ như phương tiện để thực hiện mục đích Ngài. Vậy, Thiên Chúa muốn có sự dữ, vì nếu Ngài không muốn thì nó không thể hiện hữu được. Điều đáng chú ý (về thần học) là liệu ước muốn có sự dữ trên thế gian có thuộc về bản tính Thiên Chúa không? Vì theo giáo lý Công Giáo, Thiên Chúa luôn luôn ước muốn điều thiện hảo? Tóm lại, lối giải thích này từ chối công nhận rằng sự dữ là một vấn nạn, và khuyên Kitô hữu chỉ cần phó thác theo ý Thiên Chúa là đủ.

Thứ tư là vũ trụ đang tiến hóa. Một quan điểm khác cho là những sự dữ trong đời như bệnh tật, già nua, thất bại… là một phần của tiến trình tiến hoá trong vũ trụ (như đau khi mọc răng là một phần của sự lớn mạnh của con người). Tựu trung, vũ trụ đang tiến hoá. Và bão tố, động đất… là một phần của tiến trình này. Cha Pierre Teilhard de Chardin, thần học gia người Pháp, là người cổ võ cho tư tưởng này. Hiểu cách này, tất cả những gì xảy ra trên thế giới được coi là chức năng của đời sống vũ trụ. Đây là nghĩa sâu nhất của danh từ “tiến hoá”. Thuyết này có ưu điểm là giải thích những sự dữ tự nhiên (động đất, lụt lội, núi lửa…) là bản năng tiến hoá. Vì thế, sự dữ không là một sản phẩm có mặt ngay từ khi tạo dựng vũ trụ, và vì thế, không là một sản phẩm Thiên Chúa dựng nên. Do dó, sự dữ trong thuyết này không có từ đầu, và sau này cũng biến mất khi vũ trụ hoàn hảo, hết tiến hoá.[9]

4. Thánh Augustine và sự dữ

Thánh Augustine (354-430) được coi là thần học gia tiên phong có những giải đáp khá thỏa đáng liên quan đến câu hỏi này.[10] Lời giải thích của thánh nhân dựa trên đức tin căn bản: Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng (Ngài làm được mọi sự) và Toàn Thiện (Ngài luôn yêu điều thiện, không làm điều ác).[11] Lối giải thích của Ngài thực tế, đáng tin, giải đáp được những hi vọng của Kitô hữu, và giúp những gì ta đang làm có ý nghĩa.

Trước hết, Thiên Chúa tạo dựng nên mọi sự từ hư không, và mọi sự đều tốt đẹp. Vì thế, sự dữ không thể là một sản phẩm (thụ tạo) của Thiên Chúa toàn thiện được, vì Ngài không dựng nên sự dữ.[12] Vậy nếu không là một thụ tạo, sự dữ từ đâu đến? Thánh Augustine giải thích rằng sự dữ tự nó không hiện hữu được, vì Thiên Chúa không dựng nên nó, nhưng sự dữ là do vắng bóng sự thiện mà thôi.[13] Thánh Augustine cũng giải thích thêm rằng vì sự dữ tự nó không tồn tại như một thụ tạo, vì thế con người không chọn sự dữ như một đối tượng (vì không có thực để con người chọn). Nhưng khi con người từ chối và quay mặt lại với sự thiện, hay khi chọn lựa cái kém hơn sự thiện, con người đến với sự dữ. Và thánh Augustine kết luận rằng nguồn gốc của sự dữ nằm ở tự do của con người khi họ lựa chọn điều kém hơn sự thiện.[14]

5. Thần học hiện đại và cái nhìn mới về sự dữ

Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, với hơn sáu triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết chỉ vì họ là người Do Thái, thần học nhìn về sự dữ thay đổi rất nhiều. Nhiều thần học gia phê bình lối giải thích của thánh Augustine hay lối hiểu trong thần học cũ vì tính không thực tế, xa vời, và không giải thích được vai trò Thiên Chúa trong đời sống con người. Họ đề nghị cần phải có một cái nhìn mới trong vấn đề này. Lối giải thích của những thần học mới này cũng mang theo những yếu tố sau:

Thứ nhất là chất vấn tính toàn thiện của Thiên Chúa. Sự dữ ngày càng nhiều trên thế gian khiến con người mất tin tưởng vào Một Thiên Chúa Là Tình Yêu, như Thánh Kinh dạy. Như vậy không có nghĩa là họ từ chối Thiên Chúa toàn thiện, nhưng họ đặt câu hỏi để “xét xử” Thiên Chúa hơn là luôn bênh vực Thiên Chúa như trong thần học truyền thống.

Thứ hai là quy trách nhiệm gián tiếp cho Thiên Chúa khi để sự dữ hiện diện trong thế gian. Vì Thiên Chúa cho con người tự do, và họ đã làm điều xấu (cướp của, giết người…) mà Thiên Chúa không ngăn cản được, nên Thiên Chúa chịu trách nhiệm gián tiếp cho hành động con người gây ra sự dữ. Dù Thiên Chúa luôn ước mong những gì tốt đẹp nhất cho con người, và không muốn họ đau khổ, nhưng Ngài phải chịu một phần trách nhiệm trong thế giới Tốt-Xấu lẫn lộn này.

Thứ ba là con người trưởng thành và hoàn hảo qua chính những lựa chọn của mình. Lối giải thích này cho rằng mỗi con người sinh ra đều có một mục đích mong đạt được. Không như Augustine cho rằng sự dữ là kết quả của tội lỗi, hay như thánh Irenaeus cho rằng sự dữ tôi luyện đời sống đức tin, John Hick (người đại diện cho lối hiểu này) cho rằng chính sự dữ giúp con người có kinh nghiệm khi có những quyết định đúng đắn để xây dựng tư cách của mình. Chính những quyết định đúng đắn hằng ngày giúp ta sống trọn vẹn, đúng nghĩa Thiên Chúa đã ước định cho ta.

Cuối cùng là thần học giải phóng nhắm đến giải thoát con người khỏi những bất công hiện tại. Chính bất công gây ra nghèo đói, tội ác… và những đàn áp, bóc lột là hiện thân của sự dữ. Lối giải thích này không cắt nghĩa nguyên nhân sự dữ, nhưng mời gọi con người thông phần với Đức Kitô là nạn nhân của xã hội bất công, và luôn nhớ rằng Sự Sống Lại là chiến thắng của Thiên Chúa trên sự dữ.

III. Giáo lý Công Giáo và thần học về sự dữ

Trong sách giáo lý Công Giáo, Giáo Hội luôn khẳng định rằng sự dữ (kết quả dẫn đến đau khổ) trong đời sống con người luôn luôn là một mầu nhiệm. Vì thế, Giáo Hội không cho ta một câu trả lời rõ ràng, rành mạch theo lý luận bình thường cho câu hỏi “Tại sao Một Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện lại để cho sự dữ hoành hành trong đời sống con người” . Dù công nhận là một mầu nhiệm, Giáo Hội cũng đưa ra nhiều giải thích để chúng ta có thể hiểu và sống có ý nghĩa khi đương đầu với sự dữ. Một vài tư tưởng hiện tại:

Trước hếtvũ trụ và con người đang trong qúa trình tiến hoá. Giáo lý số 310 dạy: “Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện?” Giáo hội trả lời là cho dù Thiên Chúa quyền năng vô biên có thể làm được việc này, nhưng Ngài đã không làm, mà tạo dựng một thế giới “trong tình trạng lên đường” hướng về sự hoàn hảo sau cùng. Nghĩa là cả vũ trụ đang tiến triển, lớn mạnh để đi đến hoàn hảo. Vì thế, sự lớn mạnh khi “cái này xuất hiện, cái kia biến đi” (như núi lửa xuất hiện tạo nên núi mới trong khi núi già biến đi) là quá trình tiến hoá của mọi loài. Giáo hội kết luận: “Vì vậy bao lâu mà công trình tạo dựng chưa đạt được mức trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý.” Nói cách khác, lớn mạnh để đi đến hoàn hảo đòi hỏi thay đổi, thay đổi đòi hỏi nhiều đau khổ mà ta gọi là sự dữ[15].

Thứ haitự do là nguyên nhân gây sự dữ. Và dù Thiên Chúa không tạo dựng sự dữ, Ngài cho phép sự dữ xâm nhập thế gian. Giáo lý số 311: “Thiên thần và con người có tự do…trong thực tế, họ đã phạm tội… Tuy nhiên, vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.” [16] Giáo hội khẳng định “Thiên Chúa không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, trực tiếp hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý.” Nhưng trong và qua sự dữ, Thiên Chúa biến nó thành những gì lợi ích cho con người. Giáo lý 313 dạy: “Mọi sự đều sinh lợi ích cho ai yêu mến Thiên Chúa” (Rm 8, 28). Và giáo lý 312 khẳng định: “Thiên Chúa dẫn đưa ta tới điều thiện hảo từ những hậu quả của sự dữ.”

Thứ baThiên Chúa sẽ toàn thắng. Sách giáo lý số 314 dạy rằng hiện tại chúng ta không hiểu được mầu nhiệm đau khổ, nhưng ta tin rằng Thiên Chúa sẽ toàn thắng mọi sự trong ngày sau hết. Trong ngày “mặt đối mặt” đó (1 Cor 13:12), chúng ta hiểu trọn vẹn đường lối Thiên Chúa dẫn con người qua những thảm kịch của sự dữ và tội lỗi. Nói cách khác, cuối cùng ta sẽ hiểu trọn vẹn. Vì thế hãy cứ vững lòng tin.

IV. Kết Luận

Đau khổ mà thế giới đang gánh chịu vì nạn đại dịch Covid-19 khiến mọi người đặt câu hỏi về sự hiện diện của sự dữ, và câu hỏi này chắc chắn vẫn còn là vấn nạn ngàn đời cho mọi người. Là những Kitô hữu, dù chúng ta không biết tại sao mình bị đau khổ hay tại sao sự dữ khống chế cuộc sống, nhưng chúng ta tin những đau khổ mình chịu không vô nghĩa, vì chính Đức Giêsu Kitô đã chịu đau khổ cách bất công. Điều chúng ta TIN chắc chắn là Thiên Chúa luôn yêu thương con người, và Ngài đã tạo dựng một thế giới tốt nhất có thể được, để con người sinh hoạt.

Tôi mượn lời dạy của giáo lý Công Giáo số 324 để tóm kết: “Việc Thiên Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ luân lý là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa làm sáng tỏ nhờ Con của Ngài là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã chết và sống lại để chiến thắng sự dữ. Ðức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa đã không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó, bằng những đường lối mà chúng ta chỉ biết được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu.”

LM Mathêu Nguyễn Khắc Hy PSS
Nguồn Vietcatholic
——————-

Chú thích:
[1] Con số tính đến ngày 5-4-2020.
[2] Nhiều Kitô hữu nhầm lẫn cho rằng Nhị Nguyên Thuyết đến từ Kinh thánh, nhưng thực ra thuyết này đến từ Gnosticism (Vô Ngộ Thuyết) và Manichaeism (Thuyết Mani). Thuyết Nhị Nguyên được tìm thấy sớm nhất được tìm thấy trong lời dạy của Zarathustra (thể kỷ 6 trước công nguyên) và được Mani (chết 276) khai thác thêm. Thuyết này chủ trương vũ trụ tồn tại có Bóng Tối – Ánh Sáng, Trắng-Đen, Nóng-Lạnh…
[3] Lý luận này được triết gia Baruch Spinoza (1632-1677) cổ động và được gọi là Duy Danh Luận Chủ Nghĩa (nominalisticism).
[4] Triết gia Gottfried W. Leibnitz lý luận rằng thế giới hiện tại là chọn lựa tốt nhất mà Thiên Chúa đã dựng nên cho dù có sự hiện diện của Sự Dữ. Lý luận này nhằm đáp lại logic của triết lý mà nhiều người nói là câu trả lời của Leibnitz cho Descartes. Nhưng Voltaire, trong tác phẩm Candide,Ou L’Optimisme, đã bắt đầu với lời lẽ ủng hộ quan niệm của Leibniz về cách giải thích hiện hữu của sự dữ cho rằng vũ trụ này là chọn lựa tốt nhất mà Thiên Chúa có thể làm ra. Nhưng cuối tác phẩm, ông kết thúc bằng lời lẽ cổ võ cho thuyết Bất Khả Tri Luận, cho rằng bí nhiệm này vượt trên khả năng con người.
[5] Thuyết Nhân Qủa được người Do Thái chấp nhận vì tính dễ hiểu của nó. Gioan 9:1-2 kể chuyện khi gặp người mù từ khi mới sinh, một số môn đệ Chúa Giêsu cho là do tội của anh ta hay của cha mẹ anh ta. Chúa Giêsu dùng cơ hội này để sửa sai niềm tin của họ. Kitô giáo chưa bao giờ chính thức dùng thuyết Nhân Qủa để cắt nghĩa nguồn gốc sự dữ, nhưng nhiều người hiểu lầm lời dạy cho rằng sự trừng phạt Thiên Chúa áp đặt trên Adam và Eva vì bất tuân là hình thức Nhân Quả (xem Gen 3:16-18). Dù giáo lý Giáo Hội dạy rằng đau khổ là kết quả của tội lỗi, nhưng luôn nhắc nhở đây là một mầu nhiệm hơn là một sự kiện được cắt nghĩa cách đơn giản theo thuyết Nhân Quả.
[6] Đừng lầm tưởng lý luận “toàn năng” này với phép lạ. Dĩ nhiên Thiên Chúa có thể làm cho đá nổi trên mặt nước, hay cho trâu bò bay nhanh hơn chim, nhưng khi đã là phép lạ, thì thực chất của hiện vật thay đổi, nghĩa là, đá được phép “nhẹ” hơn nước, hay trâu bò được phép “bay” nhanh hơn chim. Điều Thiên Chúa không thể làm được là khi tốc độ bay 50 km/giờ lại nhanh hơn 100 km/giờ, hay 10 kg lại nhẹ hơn 5 kg. Tất cả những định luật tự nhiên này được chính Thiên Chúa định đoạt.
[7] Giáo phụ Origen, thế kỷ 3, giải thích rằng những thử thách là để ta được tôi luyện và lớn lên (xem De principiis, sách I, V,1). Thể xác con người như phương tiện qua đó ta được “huấn luyện và hướng dẫn” để được ơn cứu chuộc (xem De principiis, sách I, V,3). Sự Dữ bài học Thiên Chúa dạy con người.
[8] John Hick, một học giả nổi tiếng hiện đại của thế kỷ 20, khai thác tư tưởng này của thánh Ireneaus trong cuốn Evil and the God of Love (San Francisco: Harper San Francisco, 1978).
[9] Xem Pierre Teilhard de Chardin, The Future of Man, New York: Harper & Row Publisher, 1964, p. 261.
[10] Cho đến cuối đời thánh Augustine vẫn còn tranh luận vấn đề này với Julian. Xem John M. Rist, Augustine (New York: Cambridge University press, 1994) p. 261.
[11] Khi còn trẻ, Augustine theo nhóm Manichean chủ trương Nhị Nguyên Thuyết, cho là vũ trụ có Tốt-Xấu cùng tồn tại. Sau khi đã trở nên Kitô hữu, Augustine chống lại lạc thuyết này trong những bài viết của Ngài.
[12] Xem De Civitate Dei, ch. xII.
[13] Xem Augustine, De Civitate Dei, XI, CHAP. 9, và Confessiones, VII: [XII] 18. Thánh Augustine sửa đổi một phần tư tưởng của Hậu Plato (Neo-Platonism) khi trường phái này nhấn mạnh rằng sự dữ không là hữu thể tự hữu nhưng là vắng bóng của Sự Thiện.
[14] Xem Augustine, De Civitate Dei, XII, CHAP. 6, và Confessiones, VII: [III] 5.
[15] Giáo lý Công Giáo 310 – Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện? Xét theo quyền năng vô biên Thiên Chúa vẫn có thể tạo dựng được điều tốt hơn (x. T. Tôma Aquinô tổng luận 1, 25, 6). Nhưng trong sự khôn ngoan và nhân hậu vô biên của Ngừơi, Thiên Chúa đã tự ý sáng tạo một thế giới trong “tiến trình” hướng về sự trọn hảo tối hậu. Theo ý định của Thiên Chúa, sự tiến hóa này gồm có việc vật này xuất hiện và vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Vì vậy bao lâu mà cuộc sáng tạo chưa đạt được sự trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý (x. T. Tôma Aquinô, s. gent 3. 71).
[16] Giáo lý Công Giáo 311 – Thiên thần và con người là những thụ tạo thông minh và tự do, nên phải tiến về cùng đích bằng một sự lựa chọn tự do và yêu chọn cái tốt hơn. Do đó họ có thể lầm lạc. Trong thực tế, họ đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý, đã xâm nhập vào thế giới. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ luân lý, cho dù trực tiếp hay gián tiếp (x. T. Âu-tinh, lib 1, 1, 1; Th. Tôma Aqu, s. th, 1-2, 79, 1). Tuy nhiên, vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.

TÍNH HIỆN SINH TRONG VỤ ‘BÁN CHÚA’ CỦA GIU-ĐA?

TÍNH HIỆN SINH TRONG VỤ ‘BÁN CHÚA’ CỦA GIU-ĐA?
(Theo Tin mừng Mát-thêu)

Tiền bạc là cơn cám dỗ xưa như trái đất và cũng mới như thời dịch Covid-19 hôm nay. Tiền là tiên là phật cơ mà. Tiền bạc là nô lệ tốt nhưng lại là ông rất tồi. Đó chính là tính hai mặt của đồng tiền. Vì thế, Thánh vịnh cũng khuyến cáo: Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở, lòng chẳng nên gắn bó làm chi (Tv 61,11).

Phải thú nhận một điều: Cơm áo gạo tiền là mối bận tâm khôn nguôi và là điều con người nghĩ tới mỗi sớm mai thức. Mà không phải chỉ những người giật gấu vá vai mới có phản ứng ấy. Mọi người, không trừ ai, kể cả bậc vua chúa và bậc tu hành cũng khó thoát khỏi vòng cương tỏa này. Trong ý tứ này, ta cùng suy tư đôi điều về tính hiện sinh trong vụ ‘bán Chúa’ của Giu-đa qua lăng kính của Tin mừng theo thánh Mát-thêu.

  1. Ơn gọi và những điều nên biết về Giu-đa.Trước hết,Giu-đa chỉ được nhắc tới một lần trong danh sách Nhóm Mười Hai (Mt 10,4). Nghĩa là Giu-đa cũng được Chúa Giê-su được tuyển chọn, huấn luyện và rảo bước trên hành trình sứ vụ với Chúa Giê-su như các tông đồ khác. Nhưng có lẽ, Thầy Giê-su đọc ra tố chất làm quản lý, kiếm tiền, thủ kho của Giu-đa nên ông đã được trao trọng trách theo ngôn ngữ của Tin mừng ấy là ‘giữ túi tiền’. Trong cương vị này, thoạt tiên ông đã làm rất tốt; Chúa và anh em cũng hài lòng khi được Giu-đa chăm sóc chu đáo. Một cánh tay phải quan trọng không thể thiếu trong mỗi cơ cấu tổ chức… Có thể Giu-đa đã rất thiện chí trong tư cách và bổn phận của mình trong thời gian đầu. Nhưng không biết ngọn nguồn từ đâu và từ bao giờ, Giu-đa đã nổi loạn như thế?

Nếu đọc kỹ hơn Tin mừng Mát-thêu, ta ngộ điều này. Thực ra Giu-đa không có ý định bán Chúa từ trước. Vì nếu dịch sát theo tiếng Hip-ri thì Giu-đa hỏi các thượng tế rằng: “Quý vị muốn trả cho tôi điều gì?” chứ không hề dễ ngả giá theo kiểu trắng trợn: “Tôi sẽ nộp ông ấy cho quý vị, vậy quý vị muốn trả cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26,14-16). Phải chăng, đằng trước của cuộc ngả giá ‘30 đồng bạc’ đã trải qua một cuộc chiến nội tâm dai dẳng không hề nhỏ?

  1. Cuộc chiến người ‘giữ túi tiền’ dẫn tới cơ hội ‘bán Chúa’.Với tư cách là quản lý, Giu-đa cũng bận tâm trong việc xoay xở, giao lưu để có vốn liếng, trăm thứ phải lo cho các sinh hoạt thường nhật của Thầy Trò, đặc biệt trong mỗi dịp lễ. Như người ta thường nói:Tiền là nô lệ tốt và là ông chủ tồiCó lẽ trong tư cách của mình, thay vì chọn Chúa thì ông đã biến thái lao đầu chọn việc của Chúa lúc nào không hay. Vì gánh nặng tài chính cơm áo gạo tiền đè lên vai, nhiều lần ông đã tính khôn khi bỏ nhóm, rồi ‘ngang dọc chén chú chén anh’ tranh thủ sự đồng tình ủng hộ để có thật nhiều tiền, mà đỡ tốn công nhọc sức, để ‘chi chế khơ khớ’ cho đời sống nhóm 12, như Thầy đã trao phó.

Nhưng chẳng bao lâu, cái biến thái của mục đích tốt biện minh cho phương tiện xấu dần lòi ra. Trong những lần giao lưu gặp gỡ như thế, những chân tay của nhóm thượng tế, biệt phái chen vào và thủ mưu chính trị manh nha. Vô tình khi hòa nhập Giu-đa lại bị hòa tan trong cơn lốc, đánh mất tư cách môn đệ của mình, bị tiêm nhiễm đưa vào tròng với những ý đồ đen tối của ‘con cái thế gian’ mà không hay. Không thiếu những lần Giu-đa cũng ngất ngây ‘chém gió-nổ’ về chính mình và nhóm 12, theo kiểu Hê-rô-đê thề thốt: “Con xin gì trẫm cũng ban, dù nửa nước cũng được.” (Mc 6,23), chứ cộng tác để nộp Thầy có đáng là gì?

  1. Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa (Ga 13,2).Ma quỷ gieo theo chiến lược ‘mật ngọt chết ruồi, ‘đội lốt chiên’, đi guốc trong bụng Giu-đa. Giờ của ma quỷ đã đến, chúng tha hồ vẽ đường cho hươu (Giu-đa) tẩm ngẩm chạy theo ‘linh đạo tinh khôn’ ấy. Bắt đầu từ cao trào với những vụ ‘ném đá’, Giu-đa nhận thấy sắp ‘toang thật rồi’. Sự đối kháng giữa Đức Giê-su với nhà cầm quyền Do-thái ngày càng ban căng, ‘tức nước ắt sẽ vỡ bờ’… Thầy mình sẽ phải chết là cái chắc. Trong khi hắn quẩn quanh với chiều hướng điêu tàn như thế, thì lại được bồi thêm những phân tích hết sức hợp tình hợp lý của nhóm ‘đang rình mò khai thác’: Đàng nào mà toán quân chẳng đến bắt ông ấy, khi ấy anh chỉ cần ra hiệu ‘nháy mắt-hôn thầy’ thế là xong. Anh không cộng tác thì ông ấy cũng chết như Sách nói về còn gì? Nhưng cái đáng trách ở đây là: ‘Đã hẳn Con Người ra đi như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn’(26,24).
  2. Thái độ hối hận muộn màng.Cuộc chơi “bán Chúa’ trong những lần chém gió trước kia, nay Giu-đa đã phải trả giá đắt. Như chính Thầy bảo: đã hẳn Con Người ra đi mà… Nghĩa là không có mình can thiệp thì Thầy vẫn bị bắt như chơi đấy thôi. Lúc đó, ông thấy bình chân như vại, điếc hết. Có đáng là gì mà Thầy lại chửi ‘khốn’ thế cơ chứ? Lại còn nguyền: thà nó đừng sinh ra thì hơn, liệu có độc miệng đời quá không?… Rồi phải mãi đến sáng hôm sau, khi thấy các thượng tế và kỳ mục bàn kế xử tử, trói và giải Người đi (27,1-2); lúc đó Giu-đa mới tỉnh cơn say ‘lâm sàn’, chợt nhận ra quả đúng như Thầy nói, đã hẳn, nhưng khốn thật, vì mình lại tiếp tay, nối giáo cho giặc, để rồi kết tội danh ‘nộp Thầy’. Còn gì đau hơn cái đau, nỗi đau của ‘Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con(Tv 41,10). Càng yêu, càng thân, càng gần đến độ hai đã trở nên một, mà phản bội, mà giơ góp đạp nhau thì đau biết chừng nào? Có lẽ trước đó Giu-đa chỉ nghĩ mình mang Thầy ‘đổi chác’ như thế để Thầy bừng tỉnh phản đòn và kiếm chác tí thôi. Ai dè, lại ra nông nỗi thế. “Thấy Người bị kết án thì hối hận” (27,3). Tiếc thay, thái độ sám hối là quá muộn màng, cho một chuyến đi về.
  3. Tính hiện sinh ‘Giu-đa’ thời đại dịch Covid-19?Ngày nay, có lẽ nhiều người trong chúng ta vẫn còn đang miên man muốn trả lời cho câu hỏi:Nếu Giu-đa không bán Chúa, liệu Chúa có phải chết không? Thưa, Chúa vẫn chết như thường, vì cái chết nằm trong ý định yêu thương của Ngài. Giống như cơn khốn cùng hoảng loạn của đại dịch Covid-19. Chúa có thừa khả năng đẩy lui bệnh dịch chỉ trong ý nghĩ, nháy mắt. Cũng như Ngài có nhiều cách thế để bảo toàn sự sống trước sự tấn công như vũ bão của toán quân dù có đông hơn nhiều cùng vũ khí hiện đại tối tân đến cỡ nào. Nhưng Chúa của chúng ta đã không cưỡng lại, cũng chẳng tháo luiNgài biết giờ của Ngài đã đến.. Giờ mà tất cả các sự việc xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh (26,47-56).

Nếu không có Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, thì vẫn còn đó Giu đa Ít-ca-ri-bạn và Ít-ca-ri-bạn, Ít-ca-ri của những người chối bỏ tình thương của Thiên Chúa, của những người đã đóng đinh và giết chết Ngài bằng tội lỗi và sự kiêu căng; của những lần lạc mất trong sự khủng hoảng của Đức Tin, những khi tâm hồn chúng ta khô khan, nguội lạnh, tưởng chừng như muốn bỏ cuộc, như muốn trao thân gửi phận cho ác thù Sa-tan hoành hành, đó chính là những thỏa hiệp trong vụ ‘bán Chúa’ chẳng khác gì Giu-đa năm xưa. Một Giu-đa đã bị nhúng vào cơn lốc ‘túi tiền’, dù đã thức tỉnh sám hối, nhưng là quá muộn cho cuộc trở về. Câu chuyện Giu-đa và ‘túi tiền’ vẫn còn khá hiện sinh trong thời hiện đại Covid hôm nay.

Hy vọng nó sẽ là bài học nên khôn cho chúng ta trên hành trình Đức tin và trong thực trạng của đời sống hôn nhân gia đình? Đừng để tiền bạc lên ngôi đến độ trở thành ông chủ của chính mình. Bởi vì: ‘Một khi vật chất được lên ngôi, thì mọi thứ đều được đem ra trao đổi, ngay cả tình yêu và những giá trị tinh thần cao quý nhất cũng được đánh giá qua nhãn quan vật chất rẻ tiền: “Muốn biết rõ về ai nên nhúng người ấy nhiều lần vào tiền, cái dung dịch siêu thượng này làm trôi đi tất cả những màu mè bọc ngoài. Đạo mạo trở nên hau háu lỗ mãng. Dịu dàng trở nên chua ngoa cướp giật (x. Cơ hội của Chúa, tác giả Việt Hà). Xin cho chúng ta thấy được tính chất hiện sinh trong việc ‘bán Chúa-nộp Thầy’ của Giu-đa. Cuộc chiến đấu giằng co nội tâm giữa chọn Chúa hay chọn việc của Chúa và đi đến thái độ hối hận quá ư là muộn màng của Giu-đa liệu có là bài học đắt giá thức tỉnh lý trí và con tim của tôi?

 Giuse Phạm Văn Quang
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

Dịch corona trong mầu nhiệm Vượt Qua

Dịch corona trong mầu nhiệm Vượt Qua

Trước tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp trên toàn thế giới trong khi tuần thánh đã đến. Có nhiều trăn trở rằng liệu Giáo Hội sẽ sống mầu nhiệm vượt qua như thế nào giữa dịch bệnh Corona. Suy ngắm những gì đang diễn ra, tôi nhận thấy rằng lúc này Giáo Hội không chỉ cử hành mà là đang sống mầu nhiệm vượt qua cùng với Chúa Giêsu. Thật vậy nếu như trong cuộc thương khó khổ nạn của Chúa Giêsu có biết bao điều xảy đến thì những điều tương tự đang diễn ra giữa đại dịch Corona lúc này.

Nhân loại bắt gặp một Thiên Chúa thing lặng trong hai biến cố này. Thật thế, Phúc Âm cho thấy hình ảnh một Thầy Giêsu năng động đi từ làng này sang làng khác, nhìn với ánh mắt yêu thương, nghe với cảm thông, chạnh lòng thương với những ai bơ vơ lạc lõng, giảng dạy khôn ngoan và hành động đầy uy quyền chữa lành tật bệnh và xua trừ ma quỷ. Thế nhưng, bước vào cuộc thương khó là một Giêsu hoàn toàn khác: âm thầm đón nhận tất cả phản bội, chối từ, cáo gian, nhạo báng, đánh đập và cuối cùng chết tất tưởi trên thập giá giữa hai tên trộm cướp. Giêsu đó là Con Thiên Chúa tốt lành hay chỉ là tên gian phi bịp bợm? Ngài là Đấng toàn năng hằng hữu hay là kẻ bất lực trước bất công và sự dữ đang hoành hành?

Những câu hỏi tương tự đang dấy lên giữa bao cõi lòng. Có Thiên Chúa hay chăng mà tại sao lại có sự dữ xảy ra? Thiên Chúa có tốt lành và quyền năng không mà để dịch Corona hoành hành cướp đi bao nhiêu sinh linh, gây khốn cùng cho bao nhiêu con người? Giữa bao chất vấn ấy là hình ảnh một Thiên Chúa im lặng. Ngài im lặng bước vào cuộc khổ nạn cùng nhân loại giữa đại dịch.

Trong cuộc-khổ-nạn-đại-dịch Covid này, có những PHẢN BỘI lại niềm mong chờ việc dùng khoa học để bảo vệ và thăng tiến sự sống thay vì là công cụ hại người, dùng chính trị để bảo vệ an toàn và yên bình cho cộng đồng xã hội thay vì gây bất ổn chiến tranh; có những CHỐI TỪ hợp tác với những tấm lòng thiện ý để kịp thời tiếp cứu, chối từ chữa trị cho người già yếu; có những CÁO GIAN nơi việc đem mọi hậu quả của sai lỗi cá nhân đổ lên đầu người khác, sai lỗi của con người đổ lên đầu Thiên Chúa; có những NHẠO BÁNG BÁCH HẠI khi người nghèo đói bị coi thường rẻ rúng nhân phẩm và tính mạng, người lên tiếng cảnh báo sự thật về đại dịch bị quản thúc, bức bách và cả khử trừ.

Trong cuôc-khổ-nạn-đại-dịch Covid này, có những kẻ âm mưu tính toán vì lợi ích và ý đồ riêng khiến đại dịch bùng nổ, như Giuđa phản bội Chúa để theo tính toán của riêng mình. Có những kẻ không sử dụng quyền thế được trao cách đúng đắn để ngăn ngừa đại dịch xảy ra, như Herode, Philato và Thượng tế Caipha làm ngơ, tiếp tay và kết án oan Chúa. Có những kẻ thừa nước đục thả câu, tranh thủ thời cơ chuộc lợi qua thu tích và buôn bán vật dụng y tế, hàng hóa, thực phẩm với giá tăng mấy lần, như Giuđa tranh thủ bán thầy Giêsu kiếm ít tiền bỏ túi. Có bao người hoảng loạn tìm cách bảo đảm an toàn cho bản thân không hề quan tâm đến an nguy của người xung, giống như các môn đệ hoảng loạn bỏ chạy thoát thân khi thầy Giêsu bị bắt trong vườn Cây Dầu.

Bên cạnh những vô tâm ấy là bao tấm lòng. Nhiều người đau buồn và thương khóc cho bao nhiêu người đang phải khốn khổ vì dịch bệnh, giống như các phụ nữ thành Giêrusalem thương khóc cho Chúa Giêsu. Nhiều người bất chấp nguy hiểm đe dọa, sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ vật chất, tinh thần, chuyên môn hầu mong bao người bệnh và thế giới có thể qua cơn nguy kịch, khống chế được dịch bệnh, giống hình ảnh bà Veronica lau mặt Chúa và ông Simon phụ Chúa vác thập giá. Một số khác băn khoăn trăn trở nhưng chẳng biết nên làm thế nào thôi đành dò dẫm tình hình để hành động như Phêrô và Gioan bám theo Thầy xa xa , nhưng chẳng biết phải làm sao, chỉ cố dò dẫm lần mò. Một số khác đau khổ trước cảnh bao người chết chóc tang thương, chẳng hiểu là sao nhưng vẫn kiên định sẻ chia và đồng hành cùng nạn nhân trong dịch bệnh với tinh thần  nhận định và cầu nguyện, với lòng cậy trông hy vọng, như Mẹ Maria dõi bước theo Chúa suốt cuộc thương khó cho đến giờ phút cuối.

Thiên Chúa vẫn âm thầm thổn thức trước cảnh dịch bệnh đang hoành hành. Ngài âm thầm ghi nhận tất cả thiện tâm và nỗ lực. Ngài cũng âm thầm đón nhận tất cả phản bội, chối từ, cáo gian, nhạo báng, đánh đập và cuối cùng cái chết tất tưởi trong ý thức và lòng tin của bao người. Ngài đang chết, đang trút những hơi thở cuối trong họ.

Khi Thầy Giêsu chết tất tưởi trên thập giá và được mai táng trong mồ thì các môn đệ hoang mang và sợ hãi, không hiểu tại sao và chẳng biết làm thế nào. Họ chỉ còn biết tụ họp với nhau để tìm an ủi đỡ nâng, cùng nhau hồi niệm và đợi chờ trong hy vọng, hy vọng đến tuyệt vọng. Ba năm dong duổi theo thầy Giêsu, ấp ủ trong lòng niềm tin yêu hy vọng nơi vị Thầy vốn tràn đầy ân sủng và quyền năng cả trong lời nói lẫn việc làm. Ấy vậy mà Thầy lại chấp nhận bị bắt, cáo gian, kết án tử hình treo thân trần trụi trên thập giá giữa hai tên gian phi. Không một lời phản kháng, không một hành động tỏ lộ quyền năng. Tại sao? Tại sao Thầy lại im lặng? Tại sao Thầy không tỏ lộ quyền năng? Tại sao lại làm thế trước bất công và bạo quyền, trước sự dữ và khổ đau?

Cũng thế, Thiên Chúa đang trong cuôc-khổ-nạn-đại-dịch Covid và Giáo Hội đang trong cảnh thương khó cùng với Ngài. Một màn u ám bao trùm lấy nhân loại và Giáo Hội. Trước màn đêm của đau khổ bệnh tật chết chóc tràn lan khắp nơi, biết bao câu hỏi TẠI SAO không khỏi dấy lên trong muôn cõi lòng và giữa lòng Giáo Hội. Tại sao? Lạy Chúa, tại sao Ngài im lặng?

Thiên Chúa vẫn đang im lặng. Ngài im lặng bước vào cuộc khổ nạn cùng nhân loại giữa đại dịch. Ngài âm thầm thổn thức trước cảnh dịch bệnh; âm thầm đón nhận tất cả tình yêu, niềm tin, cảm thông, sẻ chia; âm thầm đón nhận cả những phản bội, chối từ, cáo gian, nhạo báng, đánh đập. Ngài đang thầm lặng đón nhận tất cả, yêu thương tất cả, tha thứ tất cả và tín thác trọn vẹn cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trong mỗi con người, chết tất tưởi trong ý thức và lòng tin của bao người.

Như Mẹ Maria và các môn đệ tụ họp trong phòng và đóng kín cửa không hiểu mọi sự đang diễn ra là thế nào, Giáo Hội dẫu hoang mang, vân đang chờ đợi trong hy vọng nơi Thánh Ý Yêu Thương của Thiên Chúa. Giáo Hội vẫn cậy trông và tín thác nơi Lời Hứa của Chúa phá tan màn đêm thê lương chết chóc của đại dịch và mang đến ánh sáng niềm vui và hy vọng của mầu nhiệm Phục Sinh. Giáo Hội đang thực sự sống Mầu Nhiệm Vượt Qua giữa đại dịch Corona này.

Đối với nhiều người thương khó là điên rồ là sỉ nhục, là bất lực; đối với đại đa số là không thể hiểu nổi. Nhưng đối với những ai đặt tình yêu, niềm tin và hy vọng nơi Thiên Chúa thì đau buồn của thương khó với Chúa Giêsu là đường đến với hạnh phúc của việc được phục sinh cùng Ngài.

Lạy Chúa, xin cho con được luôn Tin tưởng Cậy trông và Hy vọng để chọn lựa thái độ và lối sống thích hợp, hầu có thể bước theo Chúa trong u buồn của cuộc thương khó giữa đại dịch này, hầu mong chờ ngày giờ được phục sinh tươi vui cùng Ngài, với Ngài và trong Ngài.

Vinh Sơn Phạm Văn Đoàn SJ

CẦU NGUYỆN ĐỂ LÀM GÌ?

CẦU NGUYỆN ĐỂ LÀM GÌ?

Vấn nạn:

“Thiên Chúa biết điều chúng ta cần trước cả khi chúng ta cầu nguyện. Ngài còn là Cha yêu thương và quyền năng hằng muốn ban điều tốt lành cho chúng ta. Vậy chúng ta cầu nguyện để làm gì?”

Trả lời:

  1. Lý do thứ nhất, chúng ta cần cầu nguyện vì Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta.Thiên Chúa không đối xử với chúng ta như một con robot, để Ngài ban ơn, sắp đặt, lập trình sẵn, rồi chúng ta cứ vậy mà làm theo, không được chọn lựa. Không, Thiên Chúa không đối xử với chúng ta như vậy. Thiên Chúa đối xử với chúng ta như một con người trưởng thành, có tự do, có sự chọn lựa. Về phần Thiên Chúa, Ngài biết chúng ta cần điều gì, và Ngài cũng sẵn sàng ban điều tốt lành đó cho chúng ta. Về phần mình, chúng ta cũng phải cầu nguyện để thể hiện thái độ ưng thuận, muốn nhận điều tốt lành từ Thiên Chúa.
  2. Lý do thứ hai, chúng ta phải cầu nguyện với Thiên Chúa là vì lời cầu nguyện không có tác động nhiều lên Chúa cho bằng tác động nhiều lên chúng ta.Lời cầu nguyện không phải là những câu “thần chú” mà con người sử dụng đối với Thiên Chúa. Đọc đúng những câu thần chú đó bao nhiêu lần thì Thiên Chúa sẽ ban ơn. Không, không phải như vậy! Hành vi cầu nguyện không phụ thuộc vào việc kể lể dài dòng hoặc phát minh ra một vài công thức phép thuật cho phép con người có thể điều khiển Thiên Chúa theo ý của mình. Chúa Giêsu đã dạy rất rõ về điểm này: “Khi cầu nguyện anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời”(Mt 6, 7). Xin nhắc lại: Lời cầu nguyện không tác động nhiều trên Thiên Chúa, nhưng nó lại tác động nhiều lên chúng ta.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu, và các Thánh Tông đồ kêu gọi chúng ta “cầu nguyện luôn” (1Tx 5, 17). Phải cầu nguyện luôn để chúng ta luôn quay về với Thiên Chúa, mở lòng hướng về sự hiện diện của Chúa, để lắng nghe điều Chúa nói với chúng ta, để đặt Chúa vào trong cuộc sống chúng ta và anh chị em chúng ta; nhất là để kết hiệp chúng ta với Thánh ý Chúa. Khi đó, nhờ cầu nguyện liên lỉ, chính chúng ta sẽ được biến đổi trở nên tốt lành hơn, và khi chúng ta được biến đổi trở nên tốt lành hơn, thì mọi việc cũng sẽ được biến đổi trở nên tốt đẹp hơn.

Khi cầu nguyện, ơn Thiên Chúa ban cho mỗi người không theo dạng “mì ăn liền”, nhưng là một tiến trình, cần sự cộng tác của mỗi người chúng ta. Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng:

“Một ngày nọ, có một lỗ thủng nhỏ xuất hiện trên một chiếc kén. Một người đàn ông ngồi quan sát hàng giờ cảnh một chú bướm đang cố vật lộn để ép mình chui qua lỗ nhỏ đó. Rồi dường như chú bướm đã bị mắc kẹt lại, không tiến triển được thêm gì nữa. Có vẻ như con bướm đã cố hết sức và không thể nào chui ra xa hơn nữa.

Và thế là người đàn ông quyết định giúp đỡ chú bướm. Ông ta lấy một cái kéo và cắt tổ kén ra. Chú bướm thoát ra ngoài một cách dễ dàng. Nhưng nó có một cơ thể sưng phồng, đôi cánh nhỏ bé và cong queo. Người đàn ông tiếp tục quan sát vì ông ta hy vọng rằng, đến một lúc nào đó, đôi cánh cong queo ấy sẽ mở ra và dang rộng để có thể nâng đỡ thân chú bướm và bay lên.

Nhưng chuyện đó đã không xảy ra! Thực tế là chú bướm phải sống quãng đời còn lại bằng cách bò loanh quanh với một cơ thể sưng phồng và đôi cánh cong queo. Nó sẽ chẳng bao giờ bay lên được!

Điều mà người đàn ông làm với tất cả lòng nhân hậu và thiện chí của mình đã không giúp được gì cho chú bướm, mà còn làm hại chú bướm. Ông đã không hiểu được rằng: Chiếc kén chắc chắn và cuộc vật lộn mà chú bướm phải trải qua để chui ra ngoài lỗ hổng nhỏ của chiếc kén, chính là cách mà Tạo Hóa đã làm ra để buộc chất lỏng trong mình chú bướm tràn ra đôi cánh, nhờ đó nó có thể bay bổng tận hưởng sự tự do khi thoát ra ngoài”.

Đôi khi, những hy sinh vất vả trong cuộc sống, những cuộc chiến đấu chống lại các cơn cám dỗ, những cuộc vật lộn vượt qua gian khó thử thách, chính là cái mà chúng ta cần có trong cuộc đời. Nếu Thiên Chúa cho phép chúng ta sống một cuộc đời mà không gặp trở ngại nào, điều đó sẽ làm chúng ta què quặt. Chúng ta không thể trở nên mạnh mẽ như chúng ta cần phải có, và sẽ không bao giờ có thể bay lên.

Nếu ta khẩn cầu sức mạnh… thì Thiên Chúa sẽ trao những khó khăn để ta mạnh lên.

Nếu ta khẩn cầu trí thông minh… thì Thiên Chúa trao những điều rắc rối cho ta giải quyết.

Nếu ta khẩn cầu sự giàu có… thì Thiên Chúa cho ta sức mạnh của cơ bắp và trí tuệ để làm việc.

Nếu ta cần tính dũng cảm… thì Thiên Chúa trao cho ta những trở ngại để vượt qua.

Nếu ta khẩn cầu tình yêu… thì Thiên Chúa cho ta có những người trong cơn hoạn nạn, đau khổ để chúng ta giúp đỡ.

Ta chẳng nhận được những gì ta muốn… Nhưng ta sẽ có tất cả những cái ta cần, khi biết cộng tác với Thiên Chúa trong các cố gắng, chiến đấu và vươn lên hằng ngày.

Để lời cầu nguyện thành hiện thực, chúng ta không chỉ dùng lời, mà còn dùng chính cuộc sống của mình.

  1. Lý do thứ ba, chúng ta cần cầu nguyện để chúng ta xứng đáng nhận ơn Chúa và sử dụng ơn Chúa cho nên.Ơn của Chúa không chỉ là sức khỏe, tiền bạc, danh dự, chức tước, mà còn là những điều trọng đại cao quý thiêng liêng như Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến ; hay như ơn Khôn Ngoan, Thông Hiểu, Lo Liệu, Sức Mạnh, Suy Biết, Đạo Đức và Kính Sợ Chúa… đây là những ơn thường trái với suy nghĩ của con người, nhưng những ơn này thực sự giúp chúng ta sống hạnh phúc không chỉ ở đời này mà còn hạnh phúc vĩnh cửu ở đời sau. Không phải dễ dàng mà lãnh nhận được những ơn này. Chúng ta cần cầu nguyện để mình được biến đổi, hầu xứng đáng lãnh nhận ơn Chúa, vì như lời Chúa nói:“Của thánh, đừng quăng cho chó; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé” (Mt 7,6).

Hơn nữa, chúng ta cũng cần cầu nguyện để biết sử dụng những ơn Chúa cho nên. Ví dụ như một người cha, người mẹ muốn trao cho con cái mình một phương tiện nào đó, chiếc xe chẳng hạn, nhưng trước khi trao xe cho con, cha mẹ cũng phải dạy con mình sử dụng chiếc xe đó rồi mới trao, nếu trao mà không hướng dẫn kỹ, khi sử dụng, đứa con không biết lái thì không những làm hại chính mình mà còn hại cả người khác.

Ơn của Chúa là những điều cao quý thiêng liêng, không phải ai nhận cũng được, ai dùng cũng được. Chúng ta cần cầu nguyện để biến đổi mình hầu xứng đáng nhận ơn Chúa và sử dụng ơn Chúa cho nên, kẻo khi lãnh nhận ơn Chúa rồi, chúng ta không sử dụng ơn Chúa cho nên, chúng ta vừa làm hại chính mình, vừa làm hại người khác.

  1. Để minh họa cho ba lý do cầu nguyện này, chúng ta có rất nhiều mẫu gương trong Kinh Thánh. Kinh Thánh thật sự là quyển sách dạy cầu nguyện tuyệt vời, vì nơi đó chúng ta thấy được cách rõ ràng nhất tương quan của con người với Thiên Chúa. Đức Nguyên Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ XVI đã có loạt bài giáo lý nói về các mẫu gương cầu nguyện trong Kinh Thánh trong các buổi tiếp kiến chung của Ngài. Trong bối cảnh của đại dịch covid-19 hiện nay, xin được trình bày lại một vài mẫu gương cầu nguyện đáng để chúng ta noi theo.
  • Mẫu gương Thứ nhất là Tiên tri Êlia, vị tiên tri cầu nguyện để xin Chúa thực hiện điều Chúa muốn.

Một cuộc thi đấu cầu nguyện nổi tiếng nhất được ghi trong Kinh Thánh, đó là cuộc thi đấu giữa tiên tri Êlia và 400 thầy tư tế của Baal trên núi Carmelo (x. 1 V 18). Hai bên sẽ chuẩn bị một lễ vật sát tế và cầu nguyện. Vị Thiên Chúa thật sẽ tỏ hiện bằng cách lấy lửa từ trời thiêu đốt của lễ. Đây không chỉ là cuộc chiến giữa Thiên Chúa của dân Israel là Thiên Chúa cứu độ và hằng sống, với thần Baal của dân Canaan là ngẫu tượng câm lặng và không vững bền (x. Gr 10, 5), mà còn là cuộc chiến giữa hai lối cầu nguyện khác nhau.

Các ngôn sứ của thần Baal kêu van, lắc mình, nhảy khập khiễng, rơi vào trạng thái kích động đến mức cào xước cả người “bằng gươm giáo đến chảy máu” (1 V 18, 28). Họ dùng thân mình mà kêu nài thần linh, tin mình có khả năng khiến vị thần linh ấy đáp lời. Việc này cho thấy tính chất lừa mị của ngẫu tượng: ngẫu tượng do con người nghĩ ra, là sản phẩm do con người xếp đặt và dùng sức riêng mình mà cai quản, ngẫu tượng phát xuất từ chính con người thì con người có thể dùng nội lực của mình mà điều khiển. Chính vì thế, các ngôn sứ của Baal lao vào hành động gây hại cho bản thân, làm thương tổn thân xác bằng cử chỉ nực cười đến thảm hại: mong thần linh đáp lời để chứng tỏ thần minh của mình sống động, họ đã phải để máu mình chảy ra, mà máu chảy ra là biểu tượng của sự chết. Đây là một lối cầu nguyện sai lầm.

Trái với lối cầu nguyện đó, Êlia cầu nguyện không phải xin Chúa làm theo ý mình mà xin Chúa thực hiện điều Chúa muốn. Dân Israel lúc đó đang lầm lạc chạy theo ngẫu thần. Êlia xin Chúa tỏ uy quyền để cho dân Chúa nhận biết Thiên Chúa là Thiên Chúa thật và phải tìm lại căn tính mình là dân của Chúa. Những lời cầu khẩn của Êlia dồi dào ý nghĩa và chứa đầy sự tin tưởng: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Israel! Ước chi hôm nay người ta biết rằng trong Israel, Chúa là Thiên Chúa và con là tôi tớ của Chúa. Cũng vì lời Chúa phán mà con đã làm tất cả các việc này. Xin đáp lời con, lạy Chúa, xin đáp lời con, để dân này nhận biết Chúa là Chúa, là Thiên Chúa thật, và Chúa đã làm cho trái tim họ được hoán cải” (1V 18, 36-37; x. St 32, 36-37). Lời cầu xin của Êlia là lời cầu xin cho dân nhận biết ai đích thực là Thiên Chúa của họ, và cũng xin cho họ biết chọn lựa dứt khoát mà trở về với Chúa. Qua lời cầu xin của mình, Êlia xin với Thiên Chúa điều mà chính Thiên Chúa muốn thực hiện. Và Chúa đã thực hiện, Kinh Thánh thuật lại, sau lời cầu nguyện của Êlia thì “bấy giờ lửa của Chúa ập xuống, thiêu rụi của lễ toàn thiêu, củi, đá và bụi, cả nước trong mương cũng hút cạn luôn. Toàn dân thấy vậy, liền phủ phục sát đất và nói: ‘Chúa quả thật là Thiên Chúa! Chúa quả thật là Thiên Chúa!” (1V 18, 38-39). [1]

  • Mẫu gương thứ hai là mẫu gương cầu nguyện của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai. Trong cơn thử thách khó khăn, cộng đoàn Kitô hữu sơ khai không cầu nguyện cho mình thoát khỏi thử thách khó khăn, mà cầu nguyện cho mình có đủ sức để làm chứng cho Chúa trong thử thách khó khăn.

Sách Công vụ Tông đồ thuật lại, sự việc hai tông đồ Phêrô và Gioan bị bắt (Cv 4, 1) bởi các ngài đã rao giảng cho toàn thể dân chúng về Chúa Giêsu đã sống lại (x. Cv 3, 11-26). Lúc đó, không chỉ có Phêrô và Gioan đang lâm cảnh hiểm nguy mới cầu nguyện, mà tất cả cộng đoàn cùng cầu nguyện, bởi những gì đang xảy ra cho hai tông đồ cũng liên quan đến toàn thể Hội Thánh. Chịu bách hại vì rao giảng Đức Giêsu, cộng đoàn Kitô hữu không những không sợ hãi hoặc chia rẽ, mà lại càng hiệp nhất sâu đậm với nhau trong cầu nguyện, muôn người như một, họ cùng nài xin Chúa. (Cv 4, 24). Nhờ cầu nguyện chuyên chăm, sự hiệp nhất của các tín hữu ngày càng bền chặt, không chút suy giảm. Giáo Hội Công Giáo không hề sợ những cuộc bách hại đã từng phải chịu đựng trong suốt dòng lịch sử. Như Đức Giêsu tại vườn Ghếtsêmani, Giáo Hội vẫn luôn vững tin rằng Thiên Chúa luôn ở cùng, ban ơn trợ giúp và thêm sức cho Giáo Hội.

Ở đây, chúng ta thấy một điểm tuyệt vời trong lời cầu nguyện của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai. Khi gặp thử thách đau khổ, cộng đoàn Kitô hữu đã không xin Chúa cho mạng sống họ được an toàn, cũng không xin Chúa báo thù những kẻ đã giam giữ Phêrô và Gioan, mà chỉ xin được “mạnh dạn loan báo Lời Chúa” (Cv 4, 29), nghĩa là xin cho mình đừng để mất lòng can đảm sống theo niềm tin và can đảm tuyên xưng đức Tin vào Chúa trong cơn thử thách.  [2]

  • Mẫu gương thứ ba là mẫu gương của Chúa Giêsu, Đấng cầu nguyện để lắng nghe lời Chúa Cha nói trong im lặng.

Thiên Chúa Cha cũng nói trong sự im lặng của Người. Sự im lặng này là giai đoạn quyết định trong hành trình dương thế của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Bị treo trên cây thập giá, Chúa Giêsu than vãn về sự đau khổ do sự im lặng của Chúa Cha tạo ra: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” (Mc 15,34; Mt 27,46).

Cảm nghiệm trên của Chúa Giêsu phản ảnh hoàn cảnh của tất cả mọi người cầu nguyện phải giáp mặt, đó là sự im lặng của Thiên Chúa. Đó vốn là cảm nghiệm của muôn vàn thánh nhân, các nhà huyền bí và cả con người ngày nay nữa. Sự thinh lặng của Thiên Chúa là một phần trong hành trình cầu nguyện của Kitô hữu. Bằng sự vâng lời phó thác cho đến những hơi thở cuối cùng, và trong cõi âm u của sự chết, Chúa Giêsu đã nghe được ý của Chúa Cha nói trong im lặng, và phó mình cho Chúa Cha: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Đây là thời khắc của sự vượt qua, đi từ cái chết đến chiến thắng phục sinh.

Nếu không có ngày thứ Sáu đau thương thì cũng sẽ không có ngày Chúa Nhật phục sinh vinh quang. Chúa Giêsu – “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8). “Và vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2,18). Và thánh Phaolô bảo đảm với chúng ta rằng: “Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta sau này” (Rm 8,18). “Một khi cùng chịu đau khổ với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang phục sinh với Người” (Rm 8,17). [3]

Kính chúc mọi người, trong Mùa Chay rất đặc biệt này, nhận ra mục đích của việc cầu nguyện để cầu nguyện sao cho hợp ý Chúa, hầu trở nên chứng tá của Chúa trong lúc khó khăn do đại dịch covid-19 gây ra hiện nay.

Linh mục Phêrô Huỳnh Thế Vinh
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN 

­­­­­­­­­­­­­­­__________________

[1] Bài giảng Giáo lý của Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ngày 15-06-2011, Bản tin Hiệp thông số 66

[2] Bài giảng Giáo lý của Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ngày 18-04-2012, Bản tin Hiệp thông số 71

[3] Bài giảng Giáo lý của Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ngày 07-03-2012, Bản tin Hiệp Thông số 70

LÒNG KHOAN DUNG: MÓN QUÀ QUÝ NHẤT CỦA HÔN NHÂN KI-TÔ HỮU

LÒNG KHOAN DUNG: MÓN QUÀ QUÝ NHẤT CỦA HÔN NHÂN KI-TÔ HỮU

Nữ văn sĩ tài năng Helen Keller đã nói: “Khoan dung là món quà lớn nhất của tâm hồn”. Quả vậy, lòng khoan dung là một nguồn sức mạnh tiềm ẩn bên trong, là một trong những công cụ tuyệt vời nhất trong cuộc sống.

Trong cuộc sống, nếu không có sự khoan dung tha thứ, thì con người sẽ luôn sống trong hận thù. Tinh thần khoan dung là đức tính vĩ đại nhất của con người. Càng là người biết nhìn xa trông rộng, càng có tấm lòng rộng mở. Người không biết khoan dung, thì sẽ chẳng được ai khoan dung. Chỉ có khoan dung, cuộc sống của chúng ta mới được vui vẻ và hạnh phúc. [1]

Đó là nhận định về lòng khoan dung trong cuộc sống nói chung. Riêng trong đời sống hôn nhân gia đình thì sao?

Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng hôn nhân là một cam kết sống chung đến hết đời và là một cuộc đồng hành dài hơi, nên những khó khăn, phức tạp, va chạm là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Đúng như một danh nhân đã nói: “Hôn nhân là bãi chiến trường chứ không phải là luống hồng”. Những cuộc cãi vã, hờn dỗi do mâu thuẫn, bất đồng, bất hòa từ những chuyện vụn vặt thường ngày giữa hai vợ chồng có thể kéo dài từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, và cuối cùng có thể dẫn đến sự đổ vỡ không thể hàn gắn được.

Tuy nhiên, chúng ta tin rằng tình yêu sẽ chiến thắng tất cả và sự khoan dung có sức mạnh hóa giải mọi khác biệt, mọi bất đồng, mọi mâu thuẫn. Tục ngữ VN có câu: “Thương nhau chín bỏ làm mười”. Điều đó có nghĩa là khi yêu nhau thực tình, đôi bạn sẽ vượt qua mọi phiền toái, khó khăn trong cuộc sống chung, để cùng xây dựng một mái ấm hạnh phúc, bình an.

Trên thực tế, hai bạn phải biết học cách nhượng bộ nhau, học im lặng để lắng nghe bạn đời mình, học chia sẻ để chứng tỏ sự quan tâm của mình, học tha thứ để hàn gắn những rạn nứt trong mối quan hệ, học quảng đại để biết cho đi nhiều hơn là nhận lại. Nói tóm là phải đối xử với nhau bằng lòng khoan dung tuyệt vời nhất.

Trong quyển sách “9 dạng người bạn cần phải khoan dung trong cuộc đời“, tác giả người Trung Quốc Hồng Hoa đã nhấn mạnh, người bạn đời chính là một trong 9 dạng người bạn cần phải khoan dung. Bởi khoan dung là “cách cư xử tốt đẹp nhất trong hôn nhân. Yêu là một nghệ thuật, sự khoan dung chính là tinh túy của nghệ thuật đó”. Rất nhiều khi trong thực tế, chúng ta dễ dàng bỏ qua lỗi lầm của người khác dù họ làm ta buồn, ta thất vọng, nhưng lại khó lòng bỏ qua những lỗi lầm mà bạn đời của mình gây ra. Khoan dung với bạn đời, vì vậy cũng là một kỹ năng. [2]

Thực vậy, chỉ có lòng khoan dung mới giúp cho đôi bạn giữ được tình yêu nồng ấm, duy trì được sự trung thành lâu dài, gia tăng được sự tin tưởng cần thiết, nhờ đó dù gặp nhiều sóng gió và thử thách trên đời, đôi bạn vẫn song hành với nhau cho đến cuối đời.

Khoan dung để chấp nhận sự khác biệt của nhau

Chúng ta biết rằng, một trong những thử thách lớn nhất của hôn nhân, đó là trong cuộc sống lứa đôi, hai bạn nam nữ phải chấp nhận sự khác biệt của nhau. Vì thực tế, hai người nam-nữ vốn dĩ rất khác biệt nhau, về giới tính, tính cách, sở thích, văn hóa hấp thu, giáo dục gia đình, tôn giáo, tài năng, kiến thức, nếp sống, thói quen vv.

Khi về sống chung một nhà, hai người phải vượt qua cái rào cản khác biệt ấy để sống hòa hợp, hòa đồng, hòa thuận, hòa bình với nhau. Như người ta thường nói, “Ta với mình tuy hai mà một/ Ta với mình tuy một mà hai”. Điều đó có nghĩa là hai bạn phải tập thích nghi với nhau, vì anh là anh, chị là chị, hai người là hai cá thể đặc thù riêng biệt. Họ phải sống làm sao để từ nay, hai người không còn là hai mà là một xương một thịt (x.Mt 19, 6).

Có muôn vàn chi tiết khác biệt giữa nam nữ, nhưng họ được ơn gọi để kết hợp thành đôi-vợ-chồng, để sống với nhau suốt đời. Tình yêu và sự khoan dung  là sức mạnh quan trọng hàng đầu giúp cho đôi bạn chấp nhận nhau, nương tựa nhau, khích lệ nhau. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc là cuộc hôn nhân trong đó hai người nam nữ, thay vì loại trừ nhau do những khác biệt này nọ, thì lại bổ sung cho nhau. Họ chấp nhận “tương khắc” chứ không “xung khắc”. Ca dao VN có câu: “Yêu nhau vạn sự chẳng nề, / Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.

 Đó cũng là ý nghĩa của việc nên-một-với-nhau mà vẫn tôn trọng sự khác biệt giữa các ngôi vị trong cộng đồng gia đình. Chính nhờ sự khoan dung của hai bạn mà cuộc hôn nhân được êm đẹp và bền vững.

Khoan dung để biết lắng nghe nhau

Trong đời sống hôn nhân, biết lắng nghe là một nghệ thuật giao tiếp ứng xử rất quan trọng nhờ đó ta hiểu được người bạn đời và thông cảm với họ trong mọi tâm trạng và hoàn cảnh trong cuộc sống.

Các nhà tâm lý học hôn nhân gia đình đều quả quyết rằng nghệ thuật giao tiếp ứng xử quyết định phần lớn cuộc hôn nhân hạnh phúc. Vợ chồng dù bận rộn trăm công nghìn việc, nhưng cũng nên tìm mọi cơ hội để gặp nhau, nói chuyện với nhau, lắng nghe nhau, kể cho nhau nghe “chuyện đời chuyện người”, trao tâm sự cùng nhau, thậm chí có thể cùng nhau xem một chương trình giải trí trên truyền hình hay cùng nhau hát một bài hát vv. Đây có thể được coi như một “chìa khóa vàng” đảm bảo hôn nhân bền vững.

Do đó, để có được sự khoan dung trong cuộc sống gia đình, trước hết chúng ta cần phải học cách lắng nghe và tâm sự với nhau. Nếu ngay khi người bạn đời mắc sai lầm, bạn lập tức nổi giận, dùng những lời không hay để trách cứ, nhiếc móc thì quả là thất bại. Hãy tôn trọng để cho người ấy cơ hội trình bày và hãy tỉnh táo để lắng nghe. Càng không nên kết tội một cách vội vã. “Anh/em lại sai rồi”, hoặc “Chắc chắn đây là lỗi của anh/em” là những câu nói làm bạn đời mất tinh thần nhất. Họ sẽ thấy mình là người kém cỏi, một kẻ không ra gì và luôn luôn làm người khác thất vọng. Hoặc sẽ ngay lập tức “xù lông nhím” để bảo vệ cái tôi của mình. Bạn đời, người mà ta đã hết lòng yêu thương, đã tìm hiểu, đã cùng nhau vượt qua bao sóng gió để thành vợ thành chồng, vì thế xứng đáng để được lắng nghe, được cho một cơ hội. [2]

Khoan dung để tha thứ lỗi lầm của nhau

Một danh nhân đã nói: “Con người không ai toàn mỹ. Chuyện vợ chồng cũng thế. Biết phục thiện và tha thứ cho nhau thì gia đình ngày càng đầm ấm. Ngược lại, càng ngoan cố bao nhiêu, gia đình càng dễ dàng tan vỡ bấy nhiêu” (G. Lombroero). Lỗi lầm thì ai cũng có, vì “Nhân vô thập toàn”. Vì thế, mỗi người đều cần được thông cảm và tha thứ.

Thánh Phao-lô đã khuyên bảo tín hữu như sau: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).

Trong Tông huấn “Niềm Vui Yêu Thương”, ĐTC Phan-xi-cô đã dựa vào “Bài ca đức mến” của thánh Phao-lô trong thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô để đưa ra một vài lời khuyên nhằm củng cố hôn nhân với năm tháng được xây dựng trên một tình yêu chân thật. Ngài đưa ra mười ba lời khuyên cho một hôn nhân vững bền, trong đó có đoạn ngài nhấn mạnh đến tình yêu không hận thù:

Đừng để những tình cảm xấu thâm nhập vào trong lòng, nhưng phải trau dồi đức tính tha thứ, tha thứ xây dựng một thái độ tích cực, tìm cách hiểu sự yếu đuối của người khác, tìm lý do để biện minh cho người khác. Chỉ có một tinh thần hy sinh cao cả mới cứu và hoàn thiện được sự giao tiếp trong gia đình. Nó đòi hỏi một tấm lòng rộng lượng và nhanh chóng thấu hiểu, bao dung, tha thứ, giải hòa…Tình yêu không để hận thù, khinh ghét, muốn làm điều xấu, muốn trả thù chế ngự. Lý tưởng trong tinh thần Kitô và đặc biệt trong gia đình, tình yêu bất chấp tất cả”. [3]

Khoan dung để bù đắp những thiếu sót của nhau

Một trong những lợi ích của hôn nhân, đó là đôi bạn có cơ hội bù đắp những thiếu sót của nhau. Kẻ mạnh nâng đỡ kẻ yếu. Người giỏi bồi đắp cho người dở. Người lanh lợi bù đắp cho kẻ chậm chạp. Nói chung, hai bạn sẽ bổ túc, bù trừ cho nhau để tiến tới một sự hoàn thiện chung.

Tuy nhiên trên thực tế, có nhiều đôi không làm được việc này, vì tự ái, vị kỷ, nông cạn. Họ không muốn người khác bù đắp cho mình mà cũng không quan tâm bồi đắp cho người khác. Điều này chứng tỏ cả hai đều thiếu khoan dung.

Theo D. Wahrheit, tác giả cuốn “Cẩm nang Hạnh phúc Gia đình Ki-tô” thì chúng ta cần nhìn nhận điều này là: “Sự đổ vỡ trong hôn nhân thường xảy đến khi hai người phối ngẫu không chấp nhận vai trò của nhau. Và từ đó không đạt được sự hòa hợp trong đời sống vợ chồng. Vì hòa hợp và bổ túc cho nhau, đó là nguyên tắc sống nền tảng trong đời sống hôn nhân…”. Và “Bổ túc cho nhau trên hết có nghĩa là mình có những gì mà người kia không có, điều mình có ít thì người kia lại có nhiều. Sức mạnh, vẻ đẹp, sự dịu dàng của tình yêu nằm trong sự bổ túc ấy…

Khi mới kết hôn, đôi bạn thường cho rằng họ yêu nhau nên hiểu nhau, họ hiểu nhau nên cuộc sống vợ chồng sẽ thật êm ả, dễ chịu. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn chung sống, họ bắt đầu vỡ mộng. Bởi vì cuộc sống chung quả là khó khăn, phức tạp. Một trong những điều khiến họ dễ rơi vào khủng hoảng nhất, đó là sự khác biệt, chênh lệch nào đó giữa hai vợ chồng. Đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự mất hòa hợp vợ chồng.

Thực ra, khi kết hợp với nhau thành vợ chồng, đôi bạn sẽ có điều kiện bổ túc, chia sẻ, hỗ trợ nhau về mọi mặt. Kẻ mạnh nâng đỡ người yếu. Người giỏi giang khuyến khích kẻ kém cỏi. Kẻ lanh lợi hỗ trợ người chậm chạp vv… Luật bù trừ trong hôn nhân là như vậy. Chẳng hạn, nếu chàng là người nói ít và trầm tĩnh thì hãy chấp nhận nàng nói nhiều và hay than vãn. Nếu chàng là người có đầu óc thực tế, quyết định nhanh chóng, dứt khoát thì cũng thông cảm bạn đời mình hay mơ mộng, ướt át tình cảm. Nếu chàng thích ra tay nghĩa hiệp bảo vệ người khác thì cũng nên chấp nhận nàng yếu đuối, thích được bảo vệ, thích nhờ vả giúp đỡ vv.

Khi cộng tác với nhau lo cho gia đình, các bạn phải hiểu nhau, cảm thông và nhất là giúp nhau phát huy điểm mạnh, đồng thời sửa chữa khiếm khuyết và bỏ qua những sai sót của nhau. Hãy luôn là bạn đồng hành với lòng khoan dung, chúng ta sẽ an toàn.

Khoan dung để quên đi quá khứ của nhau

Người có lòng khoan dung sẽ không bao giờ nghĩ đến việc bới móc chuyện quá khứ của nhau. Thông thường trước kết hôn với nhau, ai mà chẳng có tình sử của riêng mình. Đối với người này cuộc tình cũ có thể chỉ là thoáng qua, nhạt nhòa, nhưng với người kia có thể đã mặn nồng, thắm thiết. Nhưng bây giờ một khi bạn đã quyết tâm đến với nhau trọn đời thì buộc phải quên đi quá khứ của nhau.

Trên thực tế đã có nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ chỉ vì một trong hai người cố tình bới móc chuyện quá khứ của người kia như để thách thức lòng chung thủy của bạn mình. Đó là một sai lầm lớn. Vậy nếu muốn xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc, đôi bạn hãy tự nguyện chôn vùi quá khứ của mình và của bạn đời, không phải với tâm trạng cay đắng mà là bằng một sự quyết tâm có định hướng: “Cưới được người con gái mình yêu đã là hạnh phúc, nhưng yêu được người con gái mình cưới còn hạnh phúc hơn” (Danh ngôn).

Khoan dung để chấp nhận đồng hành với nhau suốt đời

Văn hào pháp Antoine de St Exupéry nói: “Yêu nhau không là ngồi đó nhìn nhau, mà cùng nhau hướng về một lý tưởng”. Cũng có một danh nhân khác nói rằng, “Hôn nhân là một công trình mà hai người phải giúp nhau kiến tạo suốt đời” (André Maurois). Cũng câu nói: “Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung với nhau là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm “ (James Thurber).

Vợ chồng phải ngồi lại với nhau, cùng nhau xây dựng một mục tiêu chung cho cuộc sống hôn nhân và cho gia đình mình. Một gia đình mà trong đó “Ông nói gà, bà nói vịt”, hay “Trống đánh xuôi kèn thổi ngược” thì đó là biểu hiện của sự phân hóa, chia rẽ, bất đồng.

Hai người phải dành thời gian để thảo luận, có thể là tranh luận, về những mục tiêu phải theo đuổi. Trong gia đình dường như lúc nào cũng có nhiều vấn đề phải giải quyết và đối phó, nếu hai bạn cùng hiệp lực, đồng tâm nhất trí nắm tay nhau thực hiện thì việc gì cũng xong. “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn” hay “Một cây làm chẳng nên non / ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.

Khi đồng hành với nhau trong suốt cuộc đời vợ chồng, đôi bạn phải hy sinh nhiều lắm. Trước hết là từ bỏ ý riêng của mình để hợp tác với bạn đời lo việc gia đình. Sau nữa là phải thích nghi với những suy nghĩ, hành động khác biệt của bạn đời. Kế đến là phải chấp nhận những biến chuyển của thời thế và hoàn cảnh để không rơi vào tình trạng bi quan, chán nản dẫn đến bỏ cuộc.

Nếu chúng ta có đủ kiên nhẫn và lòng khoan dung chấp nhận đồng hành với bạn đời cách tích cực và nghiêm túc thì cuộc hôn nhân của chúng ta sẽ bền vững và hạnh phúc lâu dài ./.

Aug. Trần Cao Khải
Nguồn: 
Truyền thông HĐGMVN

_____________

[1] LM Giuse Đỗ Văn Thụy, MSV – Tân Phúc Âm hóa lòng tha thứ – NXB TG 2015, trang 123

[2] dep.com.vn

[3] ubmvgiadinh.org

Rước lễ thiêng liêng theo gương một vài vị thánh

Rước lễ thiêng liêng theo gương một vài vị thánh

Trong những ngày cả thế giới phải cách ly ở nhà, người Công giáo không được tham dự Thánh lễ mà chỉ có thể theo dõi Thánh lễ trực tuyến và rước lễ thiêng liêng. Vậy, người tín hữu nên dọn mình rước lễ thiêng liêng như thế nào?

Sau đây là kinh nghiệm, lời cầu nguyện của một số vị thánh cũng như lãnh đạo của Giáo hội mà người viết lược dịch từ bài Thánh Anphongsô dạy chúng ta rước lễ thiêng liêng trên Interris.it.

Thánh Anphongsô Maria Liguori: Một vị thánh dấn thân

Thánh Anphongsô Maria Liguori là một vị thánh gần gũi với chúng ta. Ngài là Giám mục và tiến sĩ Hội thánh sống ở thế kỷ XVIII, đồng thời là tác giả bài hát mừng Giáng Sinh nổi tiếng “Ngài xuống từ muôn sao”. Là người của Thiên Chúa, Ngài từng phải đối diện với những hoàn cảnh khẩn cấp và luôn sẵn sàng hiến thân cho những người nghèo nhất. Trong nạn đói năm 1764, dẫn đến cái chết của 300 nghìn người ở vương quốc Napoli (nước Ý), Thánh Anphonsô đã chạy đi cứu giúp người đau khổ, khơi dậy tinh thần tương thân tương ái để “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Người ta kể rằng Ngài nhịn ăn vì thương người nghèo và Ngài đã bán hai chiếc nhẫn quý giá, cây thánh giá Giám mục và các đồ vàng bạc để cho người nghèo mua thức ăn.

Cách đặc biệt, thánh nhân từng để lại một lời kinh rước lễ thiêng liêng mà rất nhiều người Việt Nam đã biết. Vì thế, để rước lễ thiêng liêng, các tín hữu có thể đọc lời kinh này của Ngài:

“Lạy Đức Chúa Giêsu, con tin thật Chúa ngự trong Bí Tích Mình Thánh. Con yêu mến Chúa trên hết mọi sự, cùng ước ao rước Chúa vào linh hồn con. Nhưng, bởi vì bây giờ con không thể rước Chúa được, thì xin Chúa ngự vào linh hồn con cách thiêng liêng, chẳng khác gì như con được rước Chúa thật. Con xin đón rước Chúa, cùng kết hợp làm một với Chúa cho trọn. Xin Chúa đừng để con lìa bỏ Chúa bao giờ. Amen”

Rước Lễ thiêng liêng

Thường thì Ngài rước lễ thiêng liêng, giống như nhiều vị thánh khác như Tôma Aquinô, Phanxicô de Sales, Catherine thành Siena, Josemaría Escrivá và Margherita Maria Alacoque. Theo chính Thánh Tôma, thực hành này được Công đồng Trento xác nhận, hệ tại ở lòng khao khát thiết tha được rước Chúa Giêsu Thánh Thể và trong một vòng tay yêu thương như thể đã nhận được.

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu viết: “Con không thể rước lễ thường xuyên như con muốn nhưng, Chúa ơi, Ngài không phải là Đấng toàn năng sao? Xin hãy ở trong con, như trong Nhà Tạm, đừng bao giờ rời xa của lễ hiến tế nhỏ bé của Ngài.”

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Thông Điệp “Giáo hội Sống nhờ Thánh Thể-Ecclesia De Eucharistia”, đề cập đến tầm quan trọng “nuôi dưỡng lòng khao khát Thánh Thể trong tâm hồn” mà “may mắn thay đã được phổ biến qua nhiều thế kỷ trong Hội Thánh và được khuyến khích bởi các thánh nhân là những bậc thầy về đời sống thiêng liêng” (Số 34). Ngài tiếp tục nhắc lại lời thánh Têrêsa viết trên “Đường hoàn thiện” của mình: “Khi bạn không được rước Mình Thánh Chúa và không tham dự Thánh Lễ, bạn có thể rước lễ thiêng liêng, thực hành này cũng đem lại nhiều ơn ích; như thế, trong lòng bạn càng thêm khao khát Chúa tình yêu của chúng ta”.

Bậc đáng kính Marthe Robin

Năm 1928, tình trạng tê liệt đường tiêu hóa ngày càng tăng khiến nhà thần bí người Pháp Marthe Robin không thể nuốt bất kỳ loại thức ăn hay đồ uống nào như khi còn trẻ. Nhưng người phụ nữ trở thành bậc đáng kính của Giáo hội vào năm 2014 này, vẫn tiếp tục sống thêm 50 năm nữa và hơn nữa là chị chỉ rước lễ mỗi tuần một lần. Chị kể: “Mỗi ngày khi tôi không có niềm vui được lãnh nhận Bí tích Thánh Thể và nhiều lần trong ngày, tôi thực hành rước lễ thiêng liêng, hiệp thông tinh thần và trong lòng mình”.

Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi tái khám phá giá trị của hiệp thông

Giữa đại dịch virus corona, ngay cả Đức Giáo hoàng Phanxicô, tại buổi Kinh Truyền Tin ngày 15 tháng 3 vừa qua, từ Thư viện của Điện Tông tòa đã mời gọi các tín hữu “tái khám phá và làm sâu sắc thêm giá trị của sự hiệp thông liên kết tất cả các thành phần của Giáo hội. Hợp nhất với Chúa Kitô, chúng ta không bao giờ đơn độc, nhưng chúng ta tạo thành một Thân thể duy nhất, trong đó Ngài là Đầu. Đó là một sự kết hiệp được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện, cũng như bằng việc Rước Lễ thiêng liêng, một thực hành rất được khuyến khích khi không thể lãnh nhận Bí tích. Tôi nói điều này cho tất cả mọi người, đặc biệt là cho những người sống một mình”.

Và trong bài giảng tại Nhà thánh Marta ngày 19 tháng 3, Đức Giáo hoàng đã đề nghị một lời kinh nguyện cho những người theo dõi Thánh lễ trực tuyến và mong muốn được kết hiệp với Bí tích Thánh Thể:

“Ôi lạy Chúa Giêsu, con sấp mình dưới chân Chúa và dâng lên Chúa lòng ăn năn thống hối khi tự dìm mình xuống hư không và trong sự hiện diện của Chúa. Con thờ lạy Chúa trong Bí Tích Tình Yêu. Con ao ước được rước Chúa ngự vào nơi nghèo nàn là tấm lòng con dâng Chúa. Trong khi đợi chờ niềm hạnh phúc được chịu lễ thật, con muốn chiếm lấy Ngài cách thiêng liêng. Ôi lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến với con để con được đến với Ngài. Xin tình yêu Chúa đốt cháy tất cả con người con cho cuộc đời và cho đến chết. Con tin vào Chúa, con hy vọng vào Chúa, con yêu Chúa. Chớ gì được như vậy. Amen”

Nguồn: phatdiem

Rước lễ thiêng liêng: tính thần học và niềm an ủi từ Chúa Kitô

Rước lễ thiêng liêng: tính thần học và niềm an ủi từ Chúa Kitô

Giáo hội đã trải qua nhiều giông bão trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Chiến tranh, dịch bệnh, đói khổ, bách hại – tất cả đã in sâu trong ký ức của Mẹ Giáo Hội, tạo nên sự khôn ngoan lâu đời và khơi lên những quan tâm mục vụ.

Một trong những ý niệm tài tình, hình thành từ những thử thách, chính là việc rước lễ thiêng liêng.

Thần học của việc rước lễ thiêng liêng cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc về chính bản chất của Bí tích Thánh Thể.

Thánh lễ (còn gọi là Bí tích Thánh Thể) là cội nguồn và đỉnh cao của đời sống Giáo hội. Và như thế, đó cũng là trung tâm của chính Kitô giáo. Trước hết và chủ yếu, Thánh lễ là hành vi hiến tế của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha.

Nói cách khác, Bí tích Thánh Thể trước tiên là một hy tế. Từ “hy tế” bắt nguồn từ hai chữ Latinh: “sacra” có nghĩa là “thánh”, và “facere” nghĩa là “làm nên”. Do đó, Thánh lễ là việc Chúa Kitô “thánh hóa” thân thể mầu nhiệm của Ngài là Giáo hội. Chính Chúa Giêsu, qua bàn tay của các linh mục, hòa giải thế gian với Chúa Cha. Thánh Phaolô đã nói rất đẹp về điều này: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình.” (Cl 1:19-20).

Đây là lý do tại sao thời điểm quan trọng nhất của Thánh lễ không phải là lúc rước lễ, mà là lúc dâng lên lời ca tụng: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần, đến muôn đời. Amen!” Trong những lời này, chúng ta nghe được lý do cử hành Thánh lễ, là để ta chứng kiến và tham gia vào hoạt động cứu độ của Chúa Kitô, Đấng nối kết chúng ta với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cho chúng nên một, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha” (Ga 17:21).

Ở đây, chúng ta thấy mục đích đầu tiên của việc rước lễ thiêng liêng, đó là kết hợp trái tim và linh hồn của ta với hy tế của Chúa Kitô được các linh mục cử hành trong Thánh lễ. Mặc dù chúng ta không thể đích thân tham dự thánh lễ vì những tình huống đặc biệt, các giám mục và linh mục vẫn cử hành Bí tích Thánh Thể cách riêng tư.

Như thế, chúng ta được mời gọi hợp nhất trái tim của chúng ta với trái tim của những vị chủ chăn – những người đã thay ta trò chuyện với Chúa và thực thi mệnh lệnh của Chúa Kitô: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22:19). Bất cứ nơi nào linh mục trung thành cử hành thánh lễ, ở đó có Giáo hội! Linh hồn của những người có mặt và vắng mặt được hòa nhập vào một bản giao hưởng tình yêu duy nhất mà dâng lên Chúa Cha. Mặc dù hôm nay, chúng ta phải xa cách nhau vì sự an toàn và ngăn ngừa, chúng ta vẫn có thể hợp nhất với nhau thông qua lời cầu nguyện và chiêm niệm.

Việc rước lễ thiêng liêng theo truyền thống cũng dạy chúng ta rằng: Khao khát Chúa Kitô cũng chính là hiệp thông với Ngài. Vì thế, Giáo hội ngay từ thời cổ đại đã công nhận những người tử đạo mà chưa lãnh Bí tích Rửa tội thì cũng đã thành Kitô hữu rồi. Mặc dù thân xác họ chưa lãnh nhận nước Rửa tội , nhưng họ đã lãnh Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát.

Trường hợp Rửa tội đầu tiên bằng niềm khao khát chính là tên trộm lành trên thập giá, được Chúa Giêsu đưa vào thiên đàng mặc dù hắn chưa được rửa tội.

Một ví dụ xúc động khác là những lời trong bài điếu văn của Thánh Ambrôsiô dành cho hoàng đế La Mã Valentinian II khi nhà vua qua đời:

“Bạn có đau buồn vì nhà vua chưa được rửa tội không? Hãy nói cho tôi biết: Bạn còn có quyền lực nào khác ngoài niềm khao khát và sự kêu cầu không? . . . Vậy đức vua có nhận được ân sủng mà ngài hằng mong muốn hay không? Đức vua có nhận được ân sủng mà ngài hằng kêu cầu hay không? Và bởi vì đức vua đã cầu xin, nên đã nhận được.”

Niềm khao khát được ở với Chúa Kitô của hoàng đế Valentinian đã cho phép nhà vua đón nhận được các ơn ích của Bí tích, mặc dù hoàn cảnh đặc biệt không cho phép nhà vua nhận bí tích cách hữu hình. Thánh Tôma Aquinô tái khẳng định giáo huấn này trong cuốn Tổng luận Thần học của mình:

Người ta có thể lãnh nhận Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát; chẳng hạn, khi một người muốn được rửa tội nhưng do một căn bệnh hiểm nghèo nào đó, họ đã chết trước khi nhận phép rửa tội. Một người như thế có thể được cứu rỗi dù không thực sự được rửa tội, nhờ niềm ước ao được rửa tội; niềm ước ao đó là kết quả của đức tin được tạo ra từ đức ái, nhờ đó, Thiên Chúa – với quyền năng không chỉ gói gọn nơi các bí tích hữu hình – đã thánh hóa người đó ngay từ bên trong. (Summa, 3.68.2)

Cũng tương tự như thế khi nói về Bí tích Thánh Thể.

Đã có một số lần trong lịch sử, Giáo hội phải tạm dừng việc cử hành các nghi thức phụng vụ cộng đồng. Quyết định này chưa bao giờ là nhẹ nhàng. Kết quả là, các tín hữu được mời thể hiện niềm khao khát Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, tin tưởng rằng Chúa sẽ kết hiệp với linh hồn của mình. Điều này được gọi là rước lễ thiêng liêng. Thánh Tôma Aquinô định nghĩa rước lễ thiêng liêng là “niềm khao khát mãnh liệt được đón nhận Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và trìu mến ôm lấy Ngài vì đã được đón rước Chúa rồi”.

Trong những tuần sắp tới, vào giờ bạn thường đi dự lễ, hãy cùng nhau xem Thánh lễ trực tuyến và đọc Kinh Rước lễ thiêng liêng, do trang web cung cấp trên màn hình máy tính.

Bạn cũng có thể mời gọi cả gia đình cùng nhau tham dự Phụng vụ Lời Chúa, đọc Kinh thánh trong ngày theo quy định. Sau các bài đọc ấy, hãy quỳ xuống hoặc đứng cùng nhau trước thánh giá và cầu xin Chúa Giêsu lấp đầy trái tim bạn bằng tình yêu và ân sủng của Người. Hãy cho Người biết rằng bạn khao khát đi dự lễ biết bao nhưng không thể được. Kế đến, hãy xin Người kết hợp trái tim của bạn với Thánh Tâm của Người đang hiện diện nơi Nhà Tạm gần nhất với bạn tại thời điểm đó.

Có nhiều người lo lắng bối rối trước nhu cầu phải đình chỉ các nghi thức phụng vụ cộng đồng do dịch bệnh covid-19. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Nhưng chúng ta không thể cho phép nó đánh cắp sự bình yên và niềm vui của chúng ta – là những người con của Chúa.

Chúa Giêsu hiểu con tim, ý muốn và niềm khao khát của bạn. Hãy cho phép tất cả trở thành lời cầu nguyện dâng lên Chúa trong thời gian khủng hoảng này, để những tuần lễ sắp tới sẽ không là nguyên nhân gây ra căng thẳng, mà là cơ hội để sống thánh thiện.

Lm Blake Britton (WordonFire) / Thu Phượng chuyển ngữ

Các Thánh thời đại dịch

Các Thánh thời đại dịch

Trong những thời khắc khốc liệt của lịch sử, đã xuất hiện các vị thánh được ơn chữa lành và ơn an ủi các nạn nhân như dấu chỉ của lòng thương xót Chúa vẫn dành cho nhân loại.

Âu châu thời Trung Cổ chìm đắm trong những cơn đại dịch kéo dài hàng mấy thế kỷ, lúc dữ dội lúc tạm lắng nhưng luôn bao trùm bầu tử khí khắp nơi.

Cơn đại dịch Cái Chết Đen bắt đầu vào thế kỷ XIV và bùng phát từ năm 1346-1351, sát hại khoảng một nửa dân số Âu châu lúc bấy giờ (25-50 triệu người).

Thế kỷ XVII, tại Ý lại bùng lên cơn dịch hạch kéo dài từ 1629-1631 bắt đầu từ thành phố Milanô rồi lan sang các nơi khác như Verona, Venezia, Firenze… cướp đi mạng sống của gần 300.000 người, trong đó có đến một nửa dân Verona và 1/3 dân thành Venezia.

Đại dịch Luân Đôn hoành hành nhiều lần thành phố này và kéo dài từ thế kỷ XVI sang thế kỷ XVII, nhất là giữa những năm 1665-1666 mà có lúc 8.000 người chết trong một tuần. Cơn dịch đã cướp đi sinh mạng của khoảng 75.000-100.000 người.

Cơn đại dịch Marseille, Pháp, khởi phát vào năm 1720 tại thành phố hải cảng này. Người ta chết như rạ khắp nơi. Khi cơn dịch qua đi vào năm 1722, ước tính khoảng 100.000 người đã chết.

Trong những thời khắc khốc liệt ấy, đã xuất hiện các vị thánh được ơn chữa lành và ơn an ủi các nạn nhân như dấu chỉ của lòng thương xót Chúa vẫn dành cho nhân loại. Có vị đã phải đánh đổi bằng chính mạng sống mình khi phục vụ các nạn nhân. Xin được giới thiệu dưới đây những vị thánh tiêu biểu trong thời đại dịch.

Thánh Rôcô (1295-1327)

Theo truyền thống, thánh Rôcô sinh khoảng năm 1295 tại Montpellier, nước Pháp. Lớn lên, Rôcô theo học ngành y. Sau khi cha mẹ qua đời, thánh nhân bán hết tài sản thừa kế, đem phân phát cho người nghèo, gia nhập Dòng Ba Phan Sinh rồi lên đường hành hương Rôma đang lúc Cái Chết Đen khởi phát ở Âu châu. Trên đường đến Rôma, thánh Rôcô đã cứu giúp nhiều bệnh nhân bằng các phép lạ chữa lành nhờ lời cầu nguyện, dấu thánh giá và việc người đặt tay trên họ. Nhưng rồi chính thánh nhân cũng nhiễm bệnh. Người rút vào một cái hang ở ngoại ô thành Piacenza nước Ý. Lúc bệnh nặng hầu chết, bỗng có một chú chó mang thức ăn đến mà nhờ đó người đã được cứu sống. Hình thánh Rôcô thường có một con chó và cây gậy. Đó là cây gậy hành hương và chú chó ân nhân của người. Thánh Rôcô qua đời ngày 16 tháng 8 năm 1327 khi mới hơn 30 tuổi.

Vậy chúng con xin nhờ lời ông thánh Rôcô chuyển cầu cho chúng con, dám xin Chúa vì công nghiệp Người, khẩn cứu chúng con hồn xác đều khỏi ôn dịch hiểm nghèo. (Kinh Ông Thánh Rôcô)

Thánh Catarina Siêna (1347-1380)

Catarina sinh ngày 25 tháng 3 năm 1347, đúng lúc Cơn Dịch Đen đạt đỉnh điểm sự tàn phá của nó cướp đi cả một nửa dân số Âu châu. Catarina là con út trong một gia đình 25 người con. Cô bé đã may mắn sống sót và lớn lên trong thời đại dịch. Catarina đã không ngần ngại làm việc phục vụ các bệnh nhân vì chị thấy họ rất cần được quan tâm chăm sóc. Bấy giờ có một linh mục tuyên úy bệnh viện nhiễm bệnh nặng và đang nằm chờ chết. Chị Catarina đã đi thẳng vào phòng ngài mà gọi: “Dậy thôi cha ơi! Cha cần phải ăn lấy sức vì có nhiều việc phải làm, không có thì giờ để nằm liệt đâu, thưa cha”. Vị linh mục ngỡ ngàng, ngài ngồi dậy và thấy mình hết bệnh ngay lúc đó.

Cũng có những lúc, chị cảm thấy mình bị Thiên Chúa bỏ rơi, chị nói: “Lạy Chúa, Ngài đang ở đâu khi mà trái tim con bấn loạn vì những cám dỗ điên dại và đáng ghét ?”. Sau một thời gian, Chúa lại hiện đến với chị, Người nói: “Hỡi con, Ta ở trong trái tim con và nâng đỡ con bằng ân sủng”. Catarina được những lời này an ủi và soi sáng, chị tiếp tục thực thi tình thương và lòng trắc ẩn sâu xa đối với các bệnh nhân trong cơn đại dịch.

Thánh Catarina qua đời ngày 29 tháng 4 năm 1380 khi mới 33 tuổi.

Lạy Chúa là Đấng đã ban cho bà thánh Catarina nên vinh hiển về ơn riêng đức đồng trinh và đức nhịn nhục, mà thắng trận các quỉ dữ cùng giữ lòng kính mến Tên Chúa cách vững vàng, thì xin Chúa ban cho chúng con bắt chước Người, để khi đã giày đạp sự trái thế gian cùng vượt khỏi các mưu kế giặc thù thì được đến nơi cả sáng Chúa bằng an. Vì Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen. (Kinh Bà Thánh Catarina)

Thánh Vinh Sơn Phêriô (1350-1419)

Thánh Vinh Sơn được Thiên Chúa ban cho đặc sủng làm phép lạ đến nỗi người ta nói rằng “Thánh Vinh Sơn không làm phép lạ mới là lạ”.

Thánh nhân sinh tại Valencia, Tây Ban Nha, ngày 23 tháng Giêng năm 1350. Chuyện kể rằng ngay từ trong lòng mẹ, Vinh Sơn đã làm phép lạ: Một hôm, thân mẫu người, khi đang mang thai, đã đến thăm một phụ nữ mù lòa. Người phụ nữ này nghiêng đầu trên bụng thai phụ để nghe xem thai nhi động tĩnh thế nào và lập tức bà được sáng mắt!

Lúc Vinh Sơn chào đời cũng là lúc cơn đại dịch Cái Chết Đen đang hoành hành dữ dội nhất (1348-1350). Chỉ trong hơn 2 năm, nó đã cướp đi sinh mạng dân chúng Âu châu ước tính từ 75-200 triệu người, làm sụt giảm khoảng một nửa dân số. Cơn dịch này còn nhiều lần trở lại cho mãi đến thế kỷ XVIII mới chấm dứt.

Là linh mục Dòng Đa Minh được đặc sủng giảng thuyết và làm phép lạ, thánh nhân đã đi khắp Âu châu mà rao giảng kêu gọi người ta hoán cải, quay về với Thiên Chúa hầu sớm thoát khỏi tai ương. Người đã làm rất nhiều phép lạ để cứu chữa các bệnh nhân trong thời kỳ này. Mỗi ngày hai lần, các bệnh nhân được đưa đến với người và người chữa lành hết thảy. Người ta tính rằng mỗi ngày thánh nhân thực hiện cả trăm phép lạ. Vì thế trong Kinh Ông Thánh Vinh Sơn có lời rằng: “Chúng con lại xin Người phù hộ chúng con phần xác, cho khỏi những sự bệnh nạn, giữ ruộng vườn chúng con cho khỏi những mưa đá bão táp, cùng trừ cất mọi sự gian nguy kẻo làm hại chúng con nữa” và lời khác rằng: “Kẻ mù kẻ què, kẻ đã chết cùng kẻ ốm yếu tật nguyền chạy đến cùng Người; sự chết cùng những sự nguy hiểm cheo leo vâng lời Người. Khí trời cùng đám mây, ôn dịch cùng lửa nóng, biển sông cùng sóng gió, ma quỉ cùng thế gian; cả thay thảy phải thua Người”.

Thánh nhân qua đời ngày 5 tháng 4 năm 1419 tại Vannes, nước Pháp.

Thánh Carôlô Bôrômêô (1538-1584)

Thánh Carôlô Bôrômêô sinh tại Milanô, nước Ý, ngày 2 tháng 10 năm 1538, thuộc gia đình quý tộc và đạo đức. Năm 1559, Carôlô nhận hai bằng tiến sĩ luật lúc mới 21 tuổi. Năm sau, người được triệu về Rôma và được phong hồng y kiêm tổng giám mục Milanô. Người phụ giúp Đức Piô IV trong cuộc bế mạc Công đồng Trentô vào năm 1563.

Vì lòng nhiệt thành, người đã không quản ngại hy sinh vất vả đến kiệt sức để phục vụ Giáo Hội và đoàn chiên. Khi cơn dịch tả và nạn đói xảy ra tại Milanô vào năm 1576-1577, thánh nhân đã dấn thân hết mình khi chính quyền và giới quý tộc đã bỏ chạy vì cuộc khủng hoảng nhân đạo ngày càng trầm trọng. Thị trấn Locarnô dưới chân núi Alpơ, với dân số 4.800 người mà chỉ còn 700. Trước tình cảnh ấy, thánh Carôlô đã ban bố các chỉ dẫn để kiểm soát sự bùng phát dịch bệnh, thiết lập các bệnh viện dã chiến, tổ chức các thiện nguyện viên và các nhân viên y tế tại các bệnh viện, bán tất cả đồ đạc trong tòa giám mục để lấy tiền cứu trợ các nạn nhân. Người miệt mài lo cho dân chúng, thăm viếng và giúp đỡ các bệnh nhân. Cuối cùng người kiệt sức và ngã bệnh mà chết vào ngày 3 tháng 11 năm 1584 khi mới 46 tuổi.

Lạy thánh Carôlô, xin cầu cho chúng con. Amen.

Thánh Camillô Lellis (1550-1614)

Camillô sinh ngày 25 tháng 5 năm 1550 tại miền Napôli, nước Ý, trong một gia đình quý tộc và đạo hạnh. Camillô có một tuổi thơ nghịch ngợm và thời niên thiếu lêu lổng. Nhưng năm 1575, Camillô được ơn hoán cải và quyết tâm dâng mình cho Chúa trong ơn gọi phục vụ các bệnh nhân. Năm 1582, thánh nhân thiết lập Dòng Tá viên phục vụ bệnh nhân (M.I.), quen gọi là Dòng Camillô.

Thời Đức giáo hoàng Grêgôriô XIV (1591), dịch bệnh hoành hành khắp thành Rôma, cướp đi 60.000 sinh mạng. Cha Camillô và các tu sĩ của dòng hiến thân phục vụ các nạn nhân của Cái Chết Đen. Các tu sĩ giúp bệnh nhân ăn uống tắm giặt, thuốc thang. Các vị cũng luôn cận kề bên những người lâm chung để an ủi động viên và cầu nguyện cho họ. Nhờ nỗ lực hết mình của các tu sĩ và nhờ ơn chữa lành của cha Camillô mà dân thành Rôma tin rằng cơn đại dịch đã bị dập tắt đến nỗi lúc bấy giờ người ta gọi cha Camillô là “Vị thánh thành Rôma”.

Thánh nhân qua đời ngày 14 tháng 7 năm 1614 tại Rôma và được Đức Thánh Cha Biển Đức XIV tôn phong hiển thánh vào năm 1746.

Thánh Luy Gonzaga (1568-1591)

Luy Gonzaga sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, nhưng đời sống lại như một thiên thần. Thánh nhân chào đời ngày 9 tháng 3 năm 1568 tại Castiglione, miền bắc nước Ý.

Năm 17 tuổi, Luy gia nhập Dòng Tên và khấn dòng năm 1587 lúc 19 tuổi. Năm 1591, nước Ý lâm cảnh đói kém và bệnh dịch hạch lan tràn. Trước cảnh khốn cùng của dân chúng, thánh Luy đã quyên góp quần áo, thực phẩm và thuốc men để giúp đỡ các nạn nhân. Thánh nhân đưa những người đang hấp hối trên đường phố đến bệnh viện, tận tình chăm sóc, tắm rửa và giúp họ lãnh nhận các bí tích sau cùng. Chính vì lòng bác ái đối với những người đau khổ mà thánh nhân cũng bị nhiễm bệnh. Trên giường bệnh, người đã viết thư cho thân mẫu với tất cả niềm tri ân và tin tưởng vào Chúa: “Thưa mẹ, con thú thật với mẹ rằng: mỗi khi con suy nghĩ về lòng tốt của Chúa, giống như biển không đáy không bờ, linh hồn con như rơi xuống vực sâu ấy, chìm trong cảnh bao la bát ngát, lạc lõng và không biết đáp lại làm sao, vì sau một thời gian làm việc vắn vỏi và sơ sài như thế mà con đã được Chúa ban cho nghỉ ngơi muôn đời”.

Sau ba tháng lâm bệnh, thánh Luy đã ra đi bình an ngày 21 tháng 06 năm 1591, khi mới 23 tuổi. Ngày 31 tháng 12 năm 1726, Đức Giáo hoàng Biển Đức XIII đã nâng người lên bậc hiển thánh.

Lạy Chúa, nhờ lời thánh Luy Gonzaga chuyển cầu, xin ban cho chúng con biết giữ mình khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, sống yêu thương và quảng đại phục vụ mọi người. Amen.

Thánh Vinh Sơn Phaolô (1581-1660)

Thánh nhân sinh ngày 24 tháng 4 năm 1581 tại Pouy, Gascony, nước Pháp. Ngay từ nhỏ, cậu Vinh Sơn có lòng bái ái cao cả đối với người nghèo khổ. Năm 1600, thầy Vinh Sơn chịu chức linh mục. Người nhận ra nhu cầu tâm linh của dân chúng miền quê nghèo khó và đó là khởi đầu cho việc thiết lập các tổ chức từ thiện bác ái, và cùng với thánh nữ Louise de Marillac sáng lập tu hội Nữ Tử Bác Ái với phương châm “tu viện là nhà thương, nguyện đường là nhà thờ xứ, phòng riêng là quán trọ, nội vi là đường phố hay khuôn viên bệnh viện”.

Thánh nhân dấn thân cho việc thiết lập các trại trẻ mồ côi, nhà thương, cứu trợ dân tị nạn, chăm sóc thương bệnh binh cũng như cứu giúp các bệnh nhân của trận dịch hạch thời bấy giờ. Trong thời dịch bệnh bùng phát từ năm 1624-1640, thánh nhân đẩy mạnh các hoạt động xã hội và nhân đạo, khuyến khích việc thiết lập các hội đoàn dấn thân cho việc chôn cất các nạn nhân, dọn dẹp và tẩy rửa những nơi có nguy cơ làm dịch bệnh lây lan.

Thánh nhân qua đời ngày 27 tháng 9 năm 1660 tại Paris và được phong hiển thánh ngày 16 tháng 6 năm 1737.

Phải ưu tiên phục vụ người nghèo không được trì hoãn. Khi chị em bỏ đọc kinh cầu nguyện để giúp đỡ người nghèo thì hãy nhớ rằng chị em đang phục vụ Thiên Chúa”. (Bút ký của thánh Vinh Sơn Phaolô)

Lạy thánh Vinh Sơn Phaolô, xin cho chúng con biết nghe lời ngài dạy và bắt chước việc ngài làm mà xả thân vì bác ái. Amen.

Trong cơn đại dịch, chúng ta hãy chạy đến cùng các thánh mà kêu xin các ngài cứu giúp nhân loại ngày nay như xưa các ngài đã thương cứu giúp:

Thánh Rôcô, cầu cho chúng con.
Thánh Catarina Siêna, cầu cho chúng con.
Thánh Vinh Sơn Phêriô, cầu cho chúng con.
Thánh Carôlô Borrômêô, cầu cho chúng con.
Thánh Camillô Lellis, cầu cho chúng con.
Thánh Luy Gonzaga, cầu cho chúng con.
Thánh Vinh Sơn Phaolô, cầu cho chúng con.

Vinh Hưng, O.P. – Nguồn: Đài Chân Lý Á Châu

10 điều bạn nên làm khi Thánh lễ bị đình chỉ

10 điều bạn nên làm khi Thánh lễ bị đình chỉ

WGPSG / NCREGISTER — Hãy nghỉ ngơi trong Trái tim Chúa Kitô và đừng để cho cơn đói Bánh Hằng Sống của bạn tan biến trong thời điểm lịch sử khó khăn này. 

Chỉ cần chớp mắt thôi, thế giới đã thay đổi rồi. Cũng có một thời những chế độ áp bức đã ra tay hủy bỏ các Thánh lễ Công giáo, nhưng đại dịch coronavirus (COVID-19) còn làm cho Thánh lễ phải ngưng lại trên toàn thế giới. Khi tôi đang viết bài này thì danh sách những nơi tạm ngưng Thánh lễ đã tăng lên bao gồm hầu hết các giáo phận ở Hoa Kỳ.

Bất kể chúng ta có nghĩ rằng Thánh Lễ sẽ bị tạm ngưng hay không, thì nó vẫn cứ là như thế rồi. Tuy nhiên, điều chúng ta có thể quên không xem xét đó là mối nguy trôi dạt tâm linh của giáo dân khi Thánh lễ bị đình chỉ.

Thời gian dự lễ rót vào linh hồn ta ân sủng của bí tích Thánh Thể trong khi cộng đoàn thờ lạy Chúa – Đấng đã chết để ta có sự sống vĩnh cửu.

Giáo hội mô tả Thánh lễ như là “cội nguồn và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu”. Trong Thánh lễ, linh mục thánh hóa bánh và rượu để trở thành Mình và Máu, linh hồn và thần tính của Chúa Kitô như là hy lễ trên Núi Sọ, một lần nữa thực sự hiện diện trên bàn thờ cho chúng ta đón nhận.

Thánh lễ thì không thể thay thế. Chắc chắn có nhiều người cảm thấy mất mát sâu sắc khi không thể tham dự Thánh lễ, tuy nhiên, có bao nhiêu người sẽ dành một khoảng thời gian tương đương như vậy để thay thế bằng các việc thiêng liêng khác? Tạm ngưng bổn phận tham dự Thánh lễ Chúa nhật không xóa bỏ nghĩa vụ ‘Giữ ngày Chúa nhật’.

Chúa Giêsu đã tự nguyện chịu đau khổ và chịu chết cho chúng ta để chúng ta có được sự sống vĩnh cửu. Bất kỳ thời gian nào chúng ta dành cho Chúa cũng chính là thời gian chúng ta được nhận lãnh, mặc dù chỉ có vài lần chúng ta cảm nếm được món quà của Chúa, trong khi những lần khác, chúng ta đành hài lòng với việc chỉ biết là có nó mà thôi. Nhưng bất kể là như thế nào, chúng ta vẫn luôn cần dành thời gian để ở với Chúa Giêsu.

Việc không tham dự Thánh lễ cho thấy nguy cơ tuột dốc về mặt thiêng liêng.

Đối với những người vẫn thường xuyên bỏ lễ, thì dù Thánh lễ có bị tạm ngưng hay không – việc dự lễ cũng dễ dàng bị loại ra khỏi danh sách những việc cần làm trong ngày Chúa nhật. Nhưng ngay cả những người Công giáo sùng đạo cũng có nguy cơ mất đi nền tảng tâm linh.

Hãy cứ nhìn xem những sự gián đoạn trong đời sống thường nhật, như một kỳ nghỉ hay khi có bạn bè ghé thăm, ta đã rất dễ bỏ Chúa qua một bên.

Sức hấp dẫn của thế giới bên ngoài nhà thờ hiện nay lớn hơn và mạnh mẽ hơn bên trong nhà thờ, vì vậy chúng ta cần phải ý tứ, kẻo chúng ta sẽ để cho sự tạm ngưng Thánh lễ khiến mình không còn nghe được những tiếng thì thầm của Chúa nữa. (1V 19,11-13).

Dưới đây là một số phương cách để chú tâm. Hãy dành cho Chúa khoảng thời gian không chỉ tương đương với giờ tham dự Thánh lễ, mà còn nhiều hơn một giờ thông thường, vì biết rằng Chúa không hề chịu thua sự quảng đại của ta.

1. Xem hoặc nghe Thánh lễ. 

Thánh lễ trực tuyến hằng ngày lúc 8 giờ sáng giờ miền Đông nước Mỹ. Bạn có thể xem trên TV hoặc trực tuyến. (Là người Việt Nam, bạn có thể click vào đây để xem Thánh lễ online vào lúc 5g30 sáng, lúc 17g30, và xem lại bất kỳ lúc nào trong ngày.)

2. Đọc và suy niệm những bài đọc thánh lễ mỗi ngày. Các bài đọc có thể tìm thấy ở đây

3. Đọc kinh Magnificat.

4. Lần hạt Mân Côi và Lần chuỗi Lòng Chúa Thương Xót.

5. Rước lễ thiêng liêng với lời nguyện tự phát, hoặc sử dụng lời cầu nguyện do Thánh Alphonsô Liguori soạn dưới đây: 

“Lạy Chúa Giêsu, con tin thật Chúa ngự trong Bí tích Mình Thánh. Con yêu mến Chúa trên hết mọi sự, cùng ước ao rước Chúa vào linh hồn con. Nhưng, bởi vì bây giờ con không thể rước Chúa được, thì xin Chúa ngự vào linh hồn con cách thiêng liêng, chẳng khác gì như con được rước Chúa thật. Con xin đón rước Chúa, cùng kết hợp làm một với Chúa cho trọn. Xin Chúa đừng để con lìa bỏ Chúa bao giờ.”

6. Đi chầu Thánh Thể và làm Một Giờ Thánh nếu nhà thờ giáo xứ bạn vẫn mở. Nếu không, hãy truy cập “Chầu Thánh Thể trực tuyến không ngừng” để tham dự giờ Chầu Thánh Thể trong danh sách 13 nhà nguyện phát sóng Chầu Thánh Thể 24/7.

7. Cầu nguyện với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho tất cả những người đã nhiễm coronavirus cùng những người sẽ mắc bệnh trong tương lai và làm Tuần chín ngày cầu xin Đức Mẹ Monte Berico bảo vệ chúng ta thoát khỏi dịch bệnh.

8. Khơi dậy lòng sùng kính nơi người hấp hối để dẫn đưa họ an toàn đi vào vòng tay của Chúa Giêsu. Chính do nguy cơ có thể tử vong đã dẫn đến việc Thánh lễ bị đình chỉ. Nữ tu đáng kính Mary Potter (1847-1913) đã đề cao việc khơi dậy lòng sùng kính nơi những người sắp chết trong cuốn sách “Niềm sùng kính nơi người hấp hối: Mẹ Maria nhắn nhủ con cái yêu dấu của Mẹ”. Chị đã viết rằng chúng ta phải cầu nguyện cho những tội nhân sắp chết được ơn cứu rỗi và những ân sủng đó sẽ được ban lại cho những người thân yêu của chúng ta khi họ hấp hối:

“Niềm sùng kính này sẽ tạo nên niềm vui tuyệt vời biết bao cho Chúa chúng ta – là Tình yêu nhập thể, và cho Đức Mẹ – là Hôn thê của Chúa Thánh Thần! Các thánh nói với chúng ta rằng không có việc từ thiện nào lớn hơn là cầu nguyện và hy sinh cho những người đang hấp hối. Họ đang ở ngưỡng cửa của cõi vĩnh hằng; tình trạng khi họ chết sẽ quyết định sự vĩnh cửu của họ; vì “cây ngả bên nào rồi thì sẽ nằm luôn bên đó.” (Gv 11, 3)

9. Xem video “The Veil Removed – Bức màn được gỡ xuống” để đào sâu niềm yêu mến Thánh lễ. Đoạn video dài 5 phút này sẽ gỡ bỏ bức màn của thế giới này để tỏ lộ việc cử hành siêu phàm của Bí tích Thánh Thể được mô tả trong sách Khải Huyền và được Chúa Giêsu ban cho chúng ta trong Bữa Tiệc Ly.

10. Mở Kinh thánh ra mà đọc. 

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà hầu hết chúng ta có lẽ không bao giờ tưởng tượng được một điều có thể thực sự xảy ra – không chỉ là đại dịch, mà là các Thánh lễ bị đình chỉ trên khắp thế giới. Tuy nhiên, Thiên Chúa có thể làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài (Rm 8, 28). Chúng ta hãy sử dụng lúc này như một thời gian để gần gũi hơn với Chúa và sinh hoa trái nhờ gia tăng cầu nguyện và hy sinh vì thiện ích của chính chúng ta và của thế giới.

Patti Armstrong (ncregister) / Phêrô Quốc Vũ chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG