Sống Đạo

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Từ thuở hồng hoang, Tin Mừng đã đến: Lời Ngài tạo tác đất trời (Tv 32). Người đi gieo Tin Mừng đầu tiên chính là Thiên Chúa Tạo Thành Vũ Trụ.

Bỗng, một tin buồn bao trùm cả vũ trụ: tin buồn từ bản án đầu tiên trong nhân loại- con người phải đau khổ và phải chết ngàn thu.

Tin buồn ấy, khởi đi từ việc tình thương của Thiên Chúa bị chính tạo-vật-được-ơn-tự-do phủ nhận cách công khai qua việc bất tuân đối với chính Đấng Sinh Thành.

Con người lầm lũi vào cuộc đời đầy bất hạnh. Khi chưa kịp bất hạnh vì sự chết, thì con người đã bất hạnh vì thiếu tình thương và giàu lòng kiêu ngạo hơn người, nảy sinh tính ích kỷ ganh tỵ

Thấy Abêlê được lòng Thiên Chúa, Cain bỗng ganh tỵ đến tột cùng và không ngần ngại giết chết em mình cách thê thảm

Triệu triệu năm trần gian đã qua đi, mà lòng kiêu ngạo của thưở ban đầu vẫn còn nguyên vẹn trong cái bản tính, cái cốt cách, cái văn phong của con người. Người người vẫn đang muốn làm Cain đòi hơn kẻ khác trong mọi việc, người người đang muốn tự phong tặng cho mình vào chỗ nhất mà không cần biết chỗ nhất ấy có đẹp lòng Thiên Chúa hay không, vì họ đã gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài đời sống.

Thật khủng khiếp cho cái hậu quả kiêu căng của tội tổ tông truyền: hận thù, ganh tỵ và mất bình an.

Trước toàn cảnh buồn thảm, bi đát ấy, Thiên Chúa gieo vào trần gian một Hạt Giống Tin Mừng. Hạt giống ấy là Chúa Giêsu Kitô, Người Tuyệt Đối Khiêm Nhường của Thiên Chúa, đến để mang lại cho trần gian niềm vui đích thực: niềm vui của lòng yêu thương, và yêu thương khiêm hạ đến quên mình để người khác được sống và sống bình an.

Hạt Giống Tin Mừng

Tiên tri Isaia đã nói trước về Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa: “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (Is 55, 10-11)

Hạt giống ấy được gieo âm thầm vào trần gian. Hạt giống của trời cao, bị đất thấp từ chối. Hạt giống của tin mừng bình an, bị tin buồn bất an trấn áp. Hạt giống chân lý bị bất công loại trừ. Hạt giống yêu thương bị oán thù tẩy chay ngạo mạn….

Thân phận Chúa Giêsu, thân phận hạt giống của Thiên Chúa, bị trầm đọa như thế, tưởng như là một thất bại ê chề của Thiên Chúa, nhưng không, đó lại là kế hoạch cứu rỗi của Chúa vì Hạt Giống đang “thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, và làm tròn sứ mạng Thiên Chúa ủy thác”: hư thối đi để nẩy mầm.

Chúa Giêsu, Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa, vốn dĩ là hạt giống khiêm nhường tự hạ, đã bằng lòng thối đi trong lòng đất để đâm chồi cây tin mừng và trổ sinh hoa trái bình an. Nhưng, điều quan trọng là lòng đất có bằng lòng đón nhận hạt giống tin mừng ấy không.

Đón nhận Hạt Giống Tin Mừng

Hãy khát khao đón nhận lời Chúa, như Thánh Phaolô nói: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. (Rm 8, 19)

Vì Chúa Giêsu tha thiết ước muốn chúng ta đón nhận Lời Ngài, là chính Ngài, cho Ngài được nẩy mầm và lớn lên trong chúng ta, để chúng ta được hoa trái vui mừng và bình an.

Thế nhưng, vì bản tính kiêu căng, và lòng nặng hướng về tội lỗi, nên thái độ đón nhận Tin Mừng cũng hờ hững như vệ đường, kiêu căng như sỏi đá, mối bận tâm thế gian và lòng ganh tỵ như gai góc um tùm đã làm cho Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa không thể mọc lên được. Chỉ có tâm hồn thành tâm khiêm nhượng mới là mảnh đất tốt cho Lời Chúa mọc lên và sinh hoa kết quả.

Như Chúa Giêsu giải thích: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận, nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 19-23)

Đáng tiếc thay cho tâm hồn còn đầy gai góc của lòng ganh tỵ, còn đầy sỏi đá của lòng kiêu căng, còn mãi dững dưng với ơn lộc Thiên Chúa, còn giữ nguyên căn cội của tội nguyên tổ đã bóp chết Hạt Giống Tin Mừng.

Hãy để cho lòng mến ngập tràn tâm hồn ta, lòng mến đơn sơ khiêm nhượng, lòng mến thật thà dũng cảm, lòng mến biết nhẫn nhịn thứ tha, lòng mến lịch sự tôn trọng nhau trong điều thiện hảo đẹp lòng Chúa, lòng mến biết khích lệ nhau ca tụng Chúa…. Lòng mến khiêm nhượng hãy tràn ắp tâm hồn, để Hạt Giống Lời Chúa nẩy mầm, sinh hoa kết quả.

Người đi gieo Hạt Giống Tin Mừng hôm nay.

Đã đến lúc mà mỗi tín hữu cần ý thức vai trò đi gieo trong cuộc sống đức tin của mình. Không chỉ là việc của các linh mục, tu sĩ, mà còn là việc khẩn thiết của giáo dân, những con người lăn lộn trong ruộng đời của Thiên Chúa. Họ không chỉ nghe Lời Chúa, mà còn phải đem ra thực hành, và cuộc sống đầy hoa trái bình an của họ, biến họ trở thành người đi gieo bình an Nước Chúa.

Vì thế, người đi gieo tin mừng phải là người sống Tin Mừng trước tiên. Chính cuộc sống Tin Mừng là lời giảng hùng hồn nhất, có sức biến đổi thế giới nầy thành một thế giới tràn ngập niềm vui.

Bởi vậy, thiết tưởng cũng nên đặt lại vấn đề rao giảng Lời Chúa mà mình đã sống, hơn là rao giảng Lời Chúa mà mình đã học, vì không có gì đáng trách cho bằng việc “nói một đường, làm một nẻo”!

Ước mong cho bạn, cho tôi, cho người đi gieo tin mừng hôm nay mặc lấy tấm lòng của người đi gieo tin mừng đầy khiêm nhượng, để Lời Chúa biến đổi cuộc đời nên lời chứng cho niềm vui và bình an nước Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho lòng con khiêm nhượng đón nhận Lời Ngài là ánh sáng, là sức sống là niềm vui bình an cho chúng con, để cuộc sống mỗi chúng con trở thành lời chứng hùng hồn cho niềm vui và bình an của Nước Thiên Chúa. Amen.

Suy niệm của PM. Cao Huy Hoàng

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Cách ly đang gây hoảng sợ. Văn hoá của chúng ta vốn đã quen với những lối giải trí tức thời không ngưng nghỉ thì viễn cảnh mỗi người phải tự cách ly lại càng gây thêm hoang mang. Chúng ta phải đương đầu làm sao?

 Tôi gặp lại chính mình khi nghĩ đến Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận. Tôi đã từng gặp ngài khi ngài còn ở Roma trong những ngày vàng son. Ngài nhận chức Giám mục Nha Trang, Việt Nam, năm 1967 và được bổ nhiệm làm Giám mục Phó Sài Gòn năm 1975 ngay trước những ngày Sài Gòn rơi vào tay quân đội Bắc Việt. Tháng tám năm đó, dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời, ngài bị bắt và trải qua mười ba năm sau đó trong tù. Vào ngày được thả, ngài vẫn bị quản thúc tại nhà cho đến ngày bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1991. Có đến chín năm trong thời gian mười ba năm tù đày, ngài bị biệt giam. Chúng ta học được gì nơi ngài?

 Rời Việt Nam, Hồng Y Thuận đến Roma. Năm 1998, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặt ngài làm Chủ Tịch Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình và vào năm 2000, Đức Thánh Cha mời ngài hướng dẫn tuần linh thao cho giáo triều Roma vốn được tổ chức mỗi năm vào đầu Mùa Chay. Đức Gioan Phaolô II yêu cầu ngài trình bày những trải nghiệm riêng tư của những năm biệt giam. Những bài nói chuyện của ngài sau đó được phổ biến như những Chứng Từ của Niềm Hy Vọng.

 Đức Hồng Y đã mô tả những hoàn cảnh bị giam giữ. Ngài ở trong một xà lim không có cửa sổ và trong nhiều ngày nhiều đêm đèn điện không bao giờ tắt; và sau đó, nhiều đêm nhiều ngày ngài lại bị vùi chôn vào bóng tối hoàn toàn. Ngài cảm nhận như thể “đang ngạt thở vì cái nóng và độ ẩm đến phát điên”. Ngài cảm thấy khủng hoảng vì không thể chu toàn sứ vụ linh mục của mình.

 Và rồi, vào một đêm, từ sâu thẳm lòng mình, ngài nghe một tiếng nói, “Tại sao con phải dằn vặt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và công việc của Người”. Ngài chợt nhận ra rằng, sứ vụ của ngài là tốt nhưng sứ vụ của ngài đã không là Thiên Chúa mà là công việc của Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa có thể làm điều này điều kia tốt hơn ngài làm rất nhiều, vì thế, ngài phải chọn Thiên Chúa, không phải công việc của Người và chỉ chọn một mình Người.

 Trải nghiệm của Hồng Y Phanxicô Xavier, dẫu quá khắc nghiệt như hoàn cảnh của nó, có thể giúp chúng ta suy nghĩ về các ưu tiên của mình trong thời gian dịch bệnh Corona. Đây cũng là một khủng hoảng cá nhân đối với nhiều người trong chúng ta cũng như đối với tình trạng khẩn cấp về sức khoẻ và các biến động xã hội cũng như chính trị. Một bài học nhớ mãi đối với Hồng Y Phanxicô Xavier là ngài ý thức sâu sắc về giá trị của giây phút hiện tại. Ngài viết, “Đây là thời khắc duy nhất chúng ta đang có trong tay, quá khứ đã qua và chúng ta không biết liệu có một tương lai hay không. Giây phút hiện tại là kho tàng lớn lao của mỗi người”. Khi chúng ta chấp nhận cuộc sống giãn cách xã hội liệu chúng ta có quá để tâm đến quá khứ hoặc quá bứt rứt về tương lai? Hoặc là chúng ta có khả năng nhìn thời gian hiện tại, dẫu có thể đang khó khăn, như một quà tặng?

 Việc sống giây phút hiện tại, trong thinh lặng và giãn cách xã hội không làm cho mọi sự nên dễ dàng. Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier giải thích, “Thời gian trôi chậm trong nhà tù, đó là điều đáng nói nhất của việc cách ly. Hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng và nhiều hơn nữa… trong thinh lặng”. Chúng dài một cách kinh khủng và khi đã trở thành nhiều năm, chúng là vô tận”. Dẫu chúng ta không nghĩ một điều gì đó khốc liệt hơn sẽ xảy ra nhưng những tuần sau đó, những tháng sau đó vẫn rất nghiệt ngã. Hồng Y Phanxicô Xavier thừa nhận rằng, trong cuộc đời ngài, có những giai đoạn mà ngài cảm thấy hết sức đau khổ khi thấy mình không thể cầu nguyện, “Tôi trải nghiệm sâu sắc sự yếu hèn thể xác và tinh thần của mình”. Nhiều lần ngài viết, ngài đã kêu lên như Chúa Giêsu đã kêu lên trên thập giá, “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con”. Mỗi lần như thế, ngài thêm, “Vậy mà, con biết Chúa không bỏ con”. Dẫu thế, những thời khắc này có thể vẫn rất khó khăn cho chúng ta và một đôi khi cũng thật khó để xác tín rằng, đức tin bảo đảm cho chúng ta, chúng ta không bao giờ bị bỏ rơi.

 Trong khi hoạ lại trải nghiệm của mình về sự cách ly, Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ để mình bị cuốn hút vào đó. Đơn giản, cách ly không bao giờ là tất cả đối với ngài. Trên hết, Ngài giữ cho tinh thần mình phấn chấn bằng một cảm thức mình là thành viên của Hội Thánh mà ngài thể hiện theo một cách thức khiến người khác ngạc nhiên. Ngài kể, khi còn bị cách ly ở Hà Nội, một nữ công an mang đến cho ngài một con cá để làm thức ăn, con cá được gói với hai trang nhật báo Vatican, L’Osservatore Romano, vốn theo sự thường là bị tịch thu. Ngài giấu nỗi vui khi nhìn thấy nó; sau đó, một mình, ngài rửa sạch, hong khô tờ báo và cất lấy nó, ngài coi nó như một vật thánh. Ngài giải thích, “Với tôi, trong một chế độ cách ly ngặt nghèo không khoan nhượng đó, những trang này là một dấu chỉ của sự hiệp thông với Roma, với thánh Phêrô, với Giáo Hội và một cái ôm hôn từ toà thánh”. Ngài thêm, “Hẳn tôi đã không thể sống sót nếu không nhận thức mình là một thành phần của Hội Thánh”.

 Thế nhưng, cảm thức về cộng đoàn của Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ chỉ hẹp hòi trong phạm vi Giáo Hội. Giới răn yêu thương là nền tảng cho cuộc sống của ngài. Không ai bị loại ra ngoài; cách riêng, không phải là những người canh gác ngài. Các nhà chức trách thường xuyên thay đổi những người canh gác ngài vì sợ rằng, đặt họ ở đó, họ sẽ bị “lây nhiễm” bởi ngài. Sau đó họ ngưng đổi người, vì sợ ngài sẽ làm lây nhiễm tất cả. Ngày kia, một trong những người canh gác ngài hỏi, “Ông có yêu thương chúng tôi không?”, ngài trả lời, “Có, tôi yêu các ông”. Người ấy không tin, “Nhưng chúng tôi bỏ tù ông nhiều năm, không một phiên toà, không một bản án và ông vẫn yêu thương chúng tôi? Không thể có điều đó”. Hồng Y Phanxicô Xavier nói với người canh gác mình rằng, “Tôi ở với các ông đã nhiều năm, ông thấy đó là sự thật”. Người ấy nói với ngài, “Khi ông được tự do, ông không phái giáo dân tới đốt nhà chúng tôi và giết gia đình chúng tôi chứ?”; “Không! Ngay cả nếu các ông muốn giết tôi, tôi vẫn yêu thương các ông”; “Nhưng tại sao?”; “Bởi vì Chúa Giêsu dạy tôi yêu thương mọi người, yêu thương ngay cả những kẻ thù của tôi. Nếu tôi không yêu thương, tôi không đáng được gọi là người công giáo”. Đó là một chuyện kể phi thường nhắc cho chúng ta rằng, giới răn yêu thương tha nhân của Chúa Giêsu một đôi khi lên tiếng mạnh mẽ nhất vào những thời điểm khi người ta cần đến nó nhất. Một nét đặc trưng cho hoàn cảnh của chúng ta là chăm sóc, cách ly hay không cách ly, chúng ta cũng phải chăm sóc nhau.

 Chuyện kể cuối cùng là khi Hồng Y Phanxicô Xavier còn là sinh viên ở Roma, ngài viếng Lộ Đức. Tại hang đá, ngài suy nghĩ về lời Đức Mẹ nói với Bernadette, “Mẹ không hứa cho con niềm vui và những ủi an trên cuộc đời này, nhưng là thử thách và khổ đau”. Ngài tự hỏi với thoáng chút sợ hãi rằng, liệu những lời này cũng nói với mình chăng. Nhiều năm êm ả dần trôi, từ một Giáo sư chủng viện đến Giám đốc, rồi Tổng đại diện và Giám mục sau đó, thì ngài nghĩ rằng, những lời đó chẳng dính dáng chút nào đến mình. Thế nhưng, đến năm 1975 và với năm đó, “Tôi bị bắt vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời với tù đày, cách ly; bấy giờ tôi mới hiểu, Đức Mẹ đã chuẩn bị cho tôi điều này từ năm 1957”.

 Trải nghiệm của chúng ta vào những tuần những tháng sắp tới vốn sẽ không khắc nghiệt như trải nghiệm của Đức Hồng Y Phanxicô Xavier, chúng ta tin như thế; nhưng nó cũng trao tặng chúng ta một cơ hội. Đức Hồng Y nói, “Khi tôi trải qua những giờ phút đau khổ cùng cực về thể xác và tinh thần, tôi nghĩ đến Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Với con mắt thế gian, cuộc đời của Ngài là một thất đoạt, thất vọng và thất bại…; vậy mà với cái nhìn của Thiên Chúa, đó là một thời khắc quan trọng nhất trong cuộc đời của Ngài, bởi đó cũng chính là lúc Ngài đổ máu ra cho ơn cứu độ toàn thể nhân loại”.

Chúng ta đã sống những ngày đầu tiên của cuộc khủng hoảng này. Khắt nghiệt là điều có thể có nhưng phải chăng trong cái nhìn quan phòng thì một điều gì đó xảy ra đã rất trùng hợp với Mùa Chay năm nay? Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận tại Lộ Đức, chúng ta có cảnh tỉnh trước những bài học vốn có thể dạy cho mình một điều gì đó?

Rev. Fr. RODERICK STRANGE
—————————————————-

 Cha Roderick Strange là một giáo sư thần học của đại học St. Mary, Twickenham; ngài cũng là Viện Trưởng của Mater Ecclesiae College, một học viện giáo hoàng thuộc đại học St. Mary. Cuốn sách mới nhất của ngài là Newman: The Heart of Holiness, do Hodder & Stoughton xuất bản.

 Nguồn: https://www.thetablet.co.uk/features/2/17772/living-in-the-present-moment

 Người dịch: Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Sứ đồ Phaolô

Sứ đồ Phaolô

Phaolô thành Tarsus (còn gọi là Saolô theo chữ Saul, Paulus, Thánh Phaolô Tông đồ, Thánh Phaolồ hoặc Sứ đồ Phaolô, Thánh Bảo-lộc hay Sao-lộc theo lối cũ (tiếng Hebrew: שאול התרסי‎ Šaʾul HaTarsi, nghĩa là “Saul thành Tarsus”, tiếng Hy Lạp cổ đại: Σαούλ Saul và Σαῦλος Saulos và Παῦλος Paulos[2]), là “Sứ đồ của dân ngoại.” [3] Cùng các sứ đồ Phêrô, Gioan, và Giacôbê, ông được xem một trong những cột trụ của Hội Thánh Kitô giáo tiên khởi, và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Kitô giáo thời kỳ sơ khai.[4] (sinh 3–14 TCN; mất 62–69 CN).

Không giống Mười hai Sứ đồ, không có chỉ dấu nào cho thấy Phaolô từng gặp Giêsu trước khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá.[5] Theo ký thuật của Tân Ước, Phaolô là người Do Thái chịu ảnh hưởng văn minh Hy Lạp, và là công dân của Đế quốc La Mã, đến từ thành Tarsus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Phaolô là người kiên trì săn đuổi những Kitô hữu ban đầu (hầu hết là người Do Thái) để bách hại họ, cho đến khi chính ông trải qua kinh nghiệm lạ lùng trên đường đến thành Damascus. Trong một khải tượng, ông gặp Chúa Giêsu và mắt ông bị mù trong một thời gian ngắn. Trải nghiệm này đã đem ông đến với đức tin Kitô giáo, chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa.[6] Phaolô khẳng định rằng ông nhận lãnh Phúc âm không phải từ con người, nhưng từ chính “sự mặc khải của Chúa Giêsu.”[7]

Sau khi chịu lễ Thanh Tẩy, Phaolô đến ngụ cư ở xứ Arabia (có lẽ là Nabataea) cho đến khi ông gia nhập cộng đồng Kitô hữu còn non trẻ ở Jerusalem, và ở lại với Phêrô (hoặc Phi-e-rơ) trong mười lăm ngày.[8] Qua những thư tín gởi các cộng đồng Kitô giáo, Phaolô trình bày mạch lạc quan điểm của ông về mối quan hệ giữa tín hữu Kitô giáo người Do Thái với tín hữu Kitô giáo không phải người Do Thái, và giữa Luật pháp Moses (Mô-sê hoặc Môi-se) với giáo huấn của Chúa Giêsu.

Phaolô được sùng kính như một vị Thánh bởi các nhóm khác nhau như Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo, và một số người thuộc Giáo hội Luther. Ông được xem là thánh quan thầy của Malta và Thành Luân Đôn, một vài thành phố khác được đặt tên để vinh danh ông như São Paulo, Brasil và Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ. Đạo Mormon xem ông là nhà tiên tri.

Các thư tín của Phaolô hình thành phần nền tảng của Tân Ước (được xem là nguồn quan trọng cho nền thần học của Hội Thánh ban đầu) cùng những nỗ lực của ông nhằm truyền bá Kitô giáo trong vòng các dân tộc, là mục tiêu của nhiều khuynh hướng luận giải khác nhau. Kitô giáo truyền thống xem các thư tín của Phaolô là một phần của kinh điển Tân Ước và xác định rõ ràng rằng tư tưởng của Phaolô là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Giêsu và các sứ đồ khác.

Những người ủng hộ thần học giao ước tin rằng Hội Thánh đã thay thế dân tộc Do Thái trong vị trí Tuyển dân của Thiên Chúa, khơi mở những tranh luận hiện vẫn tiếp diễn xem xác định rõ ràng này có phải bắt nguồn từ ý tưởng của Phaolô khi ông giải thích Jeremiah 31: 31[9] và Ezekiel 36: 27[10], sau đó xác định rõ ràng này được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Kitô giáo.

Ảnh hưởng của Phaolô trong tư tưởng Kitô giáo được xem là quan trọng hơn bất cứ tác giả Tân Ước nào, xuyên suốt hệ tư tưởng Kitô giáo cho đến ngày nay: từ Augustine thành Hippo đến những bất đồng giữa Gottschalk và Hincmar thành Reims; giữa tư tưởng Thomas Aquinas và học thuyết của Molina; giữa Martin Luther, John Calvin và Arminius; giữa học thuyết của Jansen và các nhà thần học Dòng Tên, đến các tác phẩm của nhà thần học Karl Barth, đặc biệt là luận giải của Barth về một trong những thư tín của Phaolô,Thư gởi tín hữu ở Rôma, đã tạo ra những dấu ấn về chính trị và thần học trên giáo hội Đức thế kỷ 21.

Phaolô trên đường đến Damascus,

Có thể sử dụng hai nguồn chính để tái tạo những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Phaolô: các thư tín của ông và những ký thuật trong sách Công vụ các Sứ đồ.[11] Có một vài khó khăn khi dựa vào hai nguồn thông tin này: những thư tín của Phaolô được viết trong quãng thời gian tương đối ngắn (có lẽ khoảng từ năm 50 – 58), và có những nghi vấn về một số sự kiện trong sách Công vụ.[12][13] Riêng về Thứ kinh Công vụ của Phaolô và Thecla, các học giả thường không công nhận sách này, cho đó chỉ là một tác phẩm văn học được sáng tác trong thế kỷ thứ 2, do các sự kiện được chép trong đó không phù hợp với những ký thuật của sách Công vụ các Sứ đồ và các thư tín của Phaolô.

Tuổi trẻ

Theo Công vụ các Sứ đồ, Phaolô sinh tại thành Tarsus, xứ Cilicia, thuộc Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) với tên Saul.[14] Ông là người Israel thuộc chi phái Benjamin, được cắt bì vào ngày thứ tám, là một người Pharisee,[15] và “là người sốt sắng quá đỗi về cựu truyền của tổ phụ”[16] Theo sách Công vụ, Phaolô có quốc tịch La Mã – một đặc quyền mà ông đã dùng đến vài lần để tự bảo vệ mình [17]

Quan điểm được chấp nhận rộng rãi cho rằng Phaolô chưa hề kết hôn. Chính Phaolô đã viết;”Vậy, tôi nói với người những kẻ chưa cưới gả, và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn”.[18] Không có chứng cớ lịch sử nào đề cập đến việc Phaolô đã lập gia đình. Tuy nhiên, một số người lập luận rằng tập quán xã hội thời ấy đòi hỏi người Pharisee và thành viên Toà Công luận (Sanhedrin) phải lập gia đình. Nếu Phaolô là người Pharisee và có thể là thành viên Toà Công luận, thì có lẽ ông đã kết hôn vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

Theo Công vụ 22: 3,[19] Phaolô ở Jerusalem, theo học Gamaliel, một học giả tiếng tăm thời ấy. Khi đi nhiều nơi để rao giảng Phúc âm, Phaolô thường tự lo sinh kế cho mình[20] như được chép trong Công vụ 18: 3,[21] Phaolô từng sống với nghề may trại. Theo La Mã 16:2, Pheobe là người có những đóng góp tài chính hỗ trợ ông trong sứ mạng rao giảng phúc âm.

Tiếp nhận Đức tin Kitô giáo

Bài chi tiết: Sự cải đạo của Phaolô

Theo lời tự thuật của Phaolô, ông tìm mọi cách để săn đuổi và bức hại các tín hữu Kitô giáo cho đến chết,[22] theo ký thuật của sách Công vụ, ông có mặt trong số những người chứng kiến cái chết của Stephen, người tử đạo đầu tiên của Kitô giáo,[23] nhưng về sau Phaolô đã chấp nhận đức tin Kitô giáo:

“Bấy giờ, Saul chỉ hằng ngăm đe và chém giết môn đồ của Chúa không thôi, đến cùng thầy cả thượng phẩm, xin người những bức thư đề gởi cho các nhà hội thành Damascus, hầu cho hễ gặp người nào thuộc về đạo, bất kỳ đàn ông đàn bà, thì trói giải về thành Jerusalem. Nhưng Saul đang đi đường gần đến thành Damascus, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Saul, Saul, sao ngươi bắt bớ ta? Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Giêsu mà ngươi bắt bớ; nhưng hãy đứng dây, vào trong thành, người ta sẽ cho ngươi mọi điều phải làm. Những kẻ đi cùng với người đều đứng lại sững sờ, nghe tiếng nói mà chẳng thấy ai hết. Saul chờ dậy khỏi đất, mắt dẫu mở, nhưng không thấy chi cả; người ta bèn cầm lấy tay dắt người đến thành Damascus; người ở đó ba ngày, chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống.” (Công vụ 9. 1-9; xem thêm lời giải trần của Phaolô trước Vua Agrippa ở Công vụ 26, và Galatians 1. 13-16).

Cổng Kisan, nơi Phaolô trốn khỏi thành Damascus

Sau trải nghiệm tiếp nhận Kitô giáo, Phaolô lưu lại vài ngày ở Damascus rồi đến sống ở vương quốc Nabatea mà ông gọi là “Arabia”, rồi trở lại Damascus, khi ấy đang ở dưới sự cai trị của người Nabatea. Ba năm sau khi qui đạo, Phaolô bị buộc phải rời khỏi thành phố qua cổng Kisan trong ban đêm do phản ứng của giới cầm quyền Do Thái đối với lời giảng của ông. Về sau Phaolô đến Jerusalem, gặp James Người công chính (Giacôbe hoặc Gia-cơ) và Peter, ông ở với Peter trong 15 ngày.

Sau chuyến viếng thăm Jerusalem, Phaolô đến thành Antioch, từ đó ông bắt đầu cuộc hành trình qua Cộng hòa Síp và miền nam vùng Tiểu Á để rao giảng Phúc âm của Giêsu – được biết đến với tên “Hành trình Truyền giáo Thứ nhất của Phaolô”.[24] Tại Derbe, Phaolô và Barnabas bị ngộ nhận là “thần linh… trong hình dạng loài người”.[25] Những thư tín của Phaolô nhắc đến việc ông giảng dạy tại Syria và Cilicia,[26] sách Công vụ ký thuật rằng Phaolô “trải qua xứ Syria và Cilicia, làm cho các hội Thánh được bền vững”.[27]

Trong các cuộc hành trình truyền giáo, Phaolô thường chọn một hoặc hai người cùng đi với ông, đó là Barnabas, Silas, Titus, Timothy, John còn gọi là Mark, Aquila, Priscilla và thầy thuốc Luca. Ông nếm trải nhiều điều khổ ải dưới các hình thức khác nhau như bị giam cầm ở Philippi, bị roi vọt và ném đá, chịu đói khát, và suýt thiệt mạng vì một âm mưu sát hại ông.[28]

Thành lập các Giáo đoàn

Trong những năm kế tiếp, Phaolô đi khắp phía tây của vùng Tiểu Á, lần này ông tiến vào xứ Macedonia và thành lập cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên tại thành Philippi, tại đây ông phải đối diện với nhiều khó khăn. Phaolô thuật lại kinh nghiệm của mình:”Sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Philippi, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Thiên Chúa, cứ rao truyền Phúc âm của Thiên Chúa cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến”.[29] Sách Công vụ, từ góc nhìn của một nhân chứng, thuật lại việc Phaolô đuổi quỷ khỏi một phụ nữ nô lệ, làm người ấy mất khả năng bói toán và vì vậy làm giảm trị giá của người nô lệ; do đó, chủ nô cho ông là “kẻ cắp”, và nộp ông cho quan quyền.[30] Sau khi được trả tự do vì không có chứng cứ buộc tội,[31] Phaolô đi đến thành Thessalonica, lưu lại ở đây một thời gian trước khi vào Hy Lạp. Trước tiên ông đến Athens, nơi ông có bài thuyết giảng đã trở thành huyền thoại trên đồi Areopagus khi ông soi dẫn cho những người có mặt ở đây biết ai là “Chúa Không biết” mà họ vẫn thờ phụng.[32] Kế đó, Phaolô đến thành Corinth, lưu trú ở đó ba năm và viết thư nhất gởi tín hữu ở Thessalonica.

Một lần nữa, Phaolô lại vướng vào vòng lao lý ở thành Corinth khi một nhóm người Do Thái cáo buộc Phaolô “xúi giục dân chúng thờ Thiên Chúa cách trái nghịch với luật pháp”. Phaolô bị kéo đến trước quan trấn thủ Gallio, nhưng ông này cho đây là việc không đáng quan tâm và bác bỏ cáo trạng.[33] Một di chỉ ở Delpphi có nhắc đến tên Gallio, giúp xác định sự kiện này xảy ra trong năm 52, góp phần tái tạo bảng niên đại về cuộc đời của Phaolô.

Phaolô tiếp tục công cuộc rao giảng Phúc âm, thường được gọi là “Hành trình Truyền giáo Thứ ba”,[34] trải qua khắp vùng Tiểu Á và Macedonia, đến Antioch rồi quay trở lại. Nỗ lực thuyết giáo của Phaolô gặp phải những phản ứng giận dữ tại một hí viện ở Ephesus, khi lợi tức của giới thợ bạc ở đây bị thiệt hại do ảnh hưởng từ những lời thuyết giảng của ông. Thu nhập của những người này phụ thuộc vào nghề làm tượng nữ thần Artemis được cư dân địa phương sùng bái; hệ quả là đám đông bạo động vây phủ Phaolô khiến ông và những người bạn suýt bị mất mạng.[35] Về sau, khi Phaolô trên đường đến thành Jerusalem, có đi qua thành Ephesus nhưng không lưu lại ở đó vì ông phải đến Jerusalem cho kịp Lễ Ngũ Tuần. Dù vậy, Phaolô đã triệu tập các trưởng lão của hội Thánh tại Ephesus đến gặp ông tại Miletus. Tại đây, Phaolô giãi bày với họ những trải nghiệm cá nhân cũng như khuyên bảo và khích lệ họ.[36]

Giam cầm

Khi đến Jerusalem, Phaolô đối diện với lời đồn đại cho rằng ông chống lại luật pháp Moses. Để chứng minh việc tuân giữ luật pháp, Phaolô giữ lời thề Nazarite với bốn người khác.[37] Sau bảy ngày cho kỳ lễ tinh sạch gần trọn, Phaolô bị bắt giữ và hành hung ngay bên ngoài Đền thờ bởi một đám đông cuồng loạn kêu la: “Hỡi người Israel, hãy đến giúp với! Kìa, người này giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp, và nghịch cùng chốn này nữa, đến nỗi hắn dẫn người Hy Lạp vào trong đền thờ, và làm cho nơi Thánh này bị ô uế”.[38] Khi một đội binh La Mã đến cứu Phaolô khỏi đám đông đang giận dữ, họ kéo đến cáo buộc Phao lô là kẻ mưu phản, “kẻ xách động thuộc phe Nazareth”, kẻ rao giảng sự sống lại của người chết. Phaolô cố gắng giải thích và trình bày đức tin của mình với đám đông bằng ngôn ngữ của họ, có lẽ là tiếng Aram, nhưng đám đông càng bất bình kêu to, “Hãy cất người dường ấy khỏi thế gian, nó chẳng đáng sống đâu!”[39] Phaolô viện dẫn quyền công dân La Mã để xin được xét xử tại Rôma, nhưng do sự trì trệ của tổng đốc Antonius Felix, ông bị giam giữ hai năm ở Caesarea cho đến khi quan tổng đốc mới, Porcius Festus, đến nhậm chức, nghe giải trình và cho giải Phaolô bằng đường biển đến La Mã, tại đây ông bị quản chế thêm hai năm, với điều kiện sống tốt hơn.[40]

Đến đây chúng ta bị buộc phải dựa vào các truyền thuyết nếu muốn có thêm thông tin chi tiết về những ngày cuối cùng của Phaolô. Theo một truyền thuyết, Phaolô đã đến Tây Ban Nha và Anh quốc. Có lẽ Phaolô đã có ý định ấy, nhưng vẫn không có chứng cớ ông đã thực hiện chuyến đi. Theo một truyền thuyết khác, Phaolô đã chết ở La Mã. Eusebius thành Caesarea (khoảng 275 – 339) cho rằng Phaolô đã bị xử chém đầu trong thời trị vì của Nero, Hoàng đế La Mã, có thể là năm 64, khi thành La Mã bị thiêu rụi bởi một cơn hoả hoạn, hoặc vài năm sau đó, khoảng năm 67.

Đến La Mã, những ngày sau cùng

Sách Công vụ các Sứ đồ ký thuật chi tiết hành trình chuyến đi của Phaolô từ Caesarea đến La Mã. Quản cơ Julius giải giao Phaolô và những tù nhân khác bằng thuyền, có lẽ Luca và Aristarchus cùng đi trên tàu. Vì đang mùa giông bão, cuộc hành trình vừa chậm vừa gian khổ. Họ đi dọc bờ biển Syria, Cicilia và Pampylia. Đến thành Myra trong xứ Lycia, tù nhân được chuyển sang một tàu khác để đến Ý. Phải khó nhọc lắm tàu mới cập bến Mỹ Cảng trên đảo Crete.[41] Phaolô đưa ra lời khuyên nên nghỉ đông ở đây, nhưng họ không chịu nghe theo và tiếp tục cuộc hành trình.[42] Tàu bị bão, trôi giạt trong mười bốn ngày, sau cùng bị mắc cạn trên bờ biển Malta.[43] Đoàn người phải lưu lại trên đảo suốt ba tháng, ở đó Phaolô chữa lành bệnh sốt và bệnh lỵ cho thân phụ của tù trưởng của đảo, Publius, và những người khác. Khi mùa xuân đến, đoàn người lại lên đường.[44]

Sách Công vụ ký thuật cuộc đời của Phaolô cho tới khi ông đến La Mã, lúc ấy ước chừng 61 tuổi. Cuốn sách kết thúc với những lời cáo trách của Phaolô khi nói chuyện với một nhóm người Do Thái tìm đến để tra hỏi và chế giễu ông về Phúc âm:

Hãy đến nơi dân này và nói rằng;

Các ngươi lấy tai nghe mà chẳng hiểu chi;

Lấy mắt xem mà chẳng thấy gì;

Vì lòng dân này đã nặng nề;

Họ bịt tai; Họ nhắm mắt;

E rằng mắt mình sẽ thấy,

Tai mình sẽ nghe,

Lòng mình sẽ hiểu,

Và họ sẽ trở lại,

Để ta chữa lành chăng.

Vậy, hãy biết rằng

Sự cứu rỗi này của Thiên Chúa đã sai đến cho người ngoại;

Những người đó sẽ nghe theo vậy.[45]

Tác phẩm

Phaolô viết nhiều thư tín gởi các hội Thánh và những cá nhân. Tuy vậy, có lẽ có một số đã không còn được lưu giữ. 1Cor 5: 9[46] có thể được xem như là một gợi ý về thư tín trước đó ông đã gởi các tín hữu thuộc giáo đoàn Corinth nhưng nay không còn. Những thư tín vẫn còn lưu giữ đều được đưa vào Tân Ước, theo thứ tự từ dài đến ngắn. Có một ít thư tín được viết trong khi ông bị giam giữ, thường được gọi là “thư viết trong tù”, theo truyền thuyết những lá thư này được viết ở La Mã.

Những thư tín có được sự đồng thuận về quyền tác giả của Phaolô:

Thư gửi tín hữu Rôma

Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô

Thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô

Thư gửi tín hữu Galát

Thư gửi tín hữu Philípphê*

Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica

Thư gửi ông Philêmon*

Những “thư tín giống như của Phaolô” (nhiều học giả tin rằng như thư này không phải do chính Phaolô viết, nhưng thường được cho rằng ông là tác giả)

Thư gửi tín hữu Êphêsô*

Thư gửi tín hữu Côlôsê*

Thư thứ hai gửi tín hữu Thêxalônica

Những thư tín mục vụ của Phaolô:

Thư thứ nhất gửi ông Timôthê

Thư thứ hai gửi ông Timôthê

Thư gửi ông Titô

Ghi chú: Những thư tín có dấu * thuộc nhóm những bức thư viết trong tù.

Thần học

Tư tưởng của Phaolô ảnh hưởng đậm nét trên thần học Kitô giáo trong những lãnh vực như đức tin, sự xưng công chính, cứu rỗi, mối quan hệ giữa Kitô hữu và luật pháp Moses, Kitô học (Christology), Thánh Linh học, nguyên tội, chung thời học (eschatology) và bản chất của đời sau, cũng như vị trí của Kinh Thánh Do Thái trong Kitô giáo.

Đức tin và Sự xưng công chính

Phaolô tập chú vào vị trí trọng tâm của đức tin trong sự cứu rỗi được ban cho qua sự chết chuộc tội của Chúa Giêsu, và khả năng được xưng công chính qua đức tin ấy.[47] Một trong những điều Phaolô xác định rõ ràng đã trở nên rất nổi tiếng: “Vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm theo luật pháp”,[48] luôn luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sự xưng công chính và đức tin.

Xưng công chính là một ý niệm về pháp chế.[49] Được xưng công chính nghĩa là được tuyên bố trắng án. Vì mọi người đều là tội nhân, chúng ta chỉ có thể được trắng án khi Chúa Giê-xu thế chỗ chúng ta bằng cái chết đền tội thay trên cây thập tự. Như thế, theo cách nói của Phaolô tội nhân “được xưng công chính bởi đức tin,” ấy là bằng cách hiệp nhất với Chúa Kitô, tội nhân đồng chết và đồng sống lại với ông. Tuy nhiên, cần biết rằng được xưng công chính không có nghĩa là vì chúng ta hiệp nhất với Chúa Kitô trong sự vô tội của ông, mà vì sự chết hiến tế của đấng vô tội mang lấy hình phạt của chúng ta là tội nhân xứng hiệp với sự đoán phạt thiên thượng.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của đức tin, nhờ đó mà tội nhân được xưng công chính, Phaolô nhắc đến Abraham, người đã tin tưởng lời hứa của Thiên Chúa rằng ông sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc. Phaolô giải thích rằng, “Phúc âm đã được rao truyền trước cho Abraham.”[50] Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Phaolô về sự hiện hữu từ trước vô cùng của Chúa Giêsu, nghĩa là ông là Thiên Chúa.[51]

Cùng với sự dạy dỗ của Phaolô về sự phục sinh và sự sống vĩnh hằng, cái nhìn thấu suốt của Phaolô về thần học đức tin và sự xưng công chính là chủ đề của nhiều sự luận giải, dẫn đến những tranh luận về việc xưng công chính chỉ bởi đức tin đối nghịch với sự xưng công chính bởi đức tin và công đức. Hầu hết các giáo hội Kháng Cách khẳng quyết rằng tư tưởng Phaolô đã giúp hình thành định nghĩa cho rằng sự cứu rỗi đến chỉ từ đức tin mà không bởi bất cứ nỗ lực bên ngoài nào của tín hữu (xem Năm Tín lý Duy nhất), bất đồng với quan điểm của Công giáo Rôma và Chính Thống giáo cho rằng ý tưởng của Phaolô đã bị hiểu sai và không phù hợp với lời dạy của James (Giacôbê hoặc Gia-cơ): “Nhơn đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.”[52]

Sự Cứu rỗi và Luật pháp Moses

Vấn đề có còn cần thiết phải tuân giữ Luật pháp Moses để được cứu rỗi đã được nêu lên trong thời kỳ Hội Thánh tiên khởi tại Giáo hội nghị Jerusalem, ở đó quan điểm của Phaolô đã tạo ra ảnh hưởng đáng kể. Những tác phẩm của Phaolô trình bày giáo thuyết cho rằng có được sự cứu rỗi không phải bởi nỗ lực tuân giữ luật pháp Moses nhưng do đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu. Phaolô xác định rõ ràng rằng không có sự phân biệt nào hết giữa người Do Thái và các dân tộc khác “vì mọi người đều phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Thiên Chúa.”[53] Vì vậy Phaolô được xem là nhân tố chính thúc đẩy việc chấp nhận người “ngoại bang” (không phải dân Do Thái) gia nhập Kitô giáo mà không có bất cứ yêu cầu tuân giữ nghi thức Do Thái như phép cắt bì hoặc kiêng cữ một số thức ăn.

Nguyên tội

Trong Tân Ước, giáo lý nguyên tội (tội tổ tông) được luận giải mạch lạc bởi Phaolô. Ông viết: “Bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội….”[54] Về sau giáo lý này được trình bày cặn kẽ bởi các nhà thần học Kitô giáo, nổi bật nhất là Augustine thành Hippo. (Xem Nguyên tội)

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Linh

Chúa Giêsu

Trong các thư tín của mình, Phaolô có nhắc đến các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu như bữa ăn cuối cùng của ông với các môn đồ,[55] sự chết trên thập tự giá,[56] và sự sống lại.[57] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là người Do Thái thuộc dòng dõi Vua David.[58] Ông tập chú vào bản chất của mối quan hệ giữa tín hữu Cơ Đốc với Chúa Giê-su, nhất là sự chết chuộc tội của ông. Phúc Âm Máccô chép rằng Chúa Giêsu đã “phó sự sống mình là giá chuộc cho nhiều người.”[59] Trong các thư tín của mình, nhất là trong Thư gửi tín hữu Rôma, Phaolô đã triển khai mạch lạc và cặn kẽ ý niệm về hành động cứu chuộc của Chúa Giêsu.

Theo luận giải của Phaolô, dưới luật pháp mọi người đều là tội nhân, nhưng những ai tiếp nhận Chúa Giêsu thì “nhờ ân điển ông mà được xưng công chính bởi sự cứu chuộc đã làm trọn trong Chúa Giêsu Kitô.” Họ được “cứu chuộc” vì Chúa Giê-xu đã đền tội thay cho họ; bởi sự chết của ông mà họ được phục hòa với Thiên Chúa. Như thế, sự chết của Chúa Giêsu là sự hiến tế chuộc tội cho con người nhằm làm dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Ấy là ân điển của Thiên Chúa, và chỉ bởi đức tin mà con người mới có thể nhận lãnh ân điển ấy.[60]

Phaolô luận giải xác tín của ông trong giáo lý về thần tính của Chúa Kitô. Ông viết: “Vì muôn vật đã được dựng nên trong ông (Chúa Kitô), bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi ông và vì ông mà được dựng nên cả. ông có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong ông”.[61] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là “ảnh tượng của Thiên Chúa” (“Ấy chính ông là hình ảnh của Thiên Chúa không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên.”)[62][63]

Chúa Thánh Linh

Tương tự, Phaolô cũng trình bày một học thuyết vững chắc về Chúa Thánh Linh. Phần lớn Thư gởi tín hữu ở La Mã và phần cuối Thư thứ hai gởi tín hữu ở Corinth miêu tả Chúa Thánh Linh bình đẳng với Chúa Cha và Chúa Con, giúp hình thành giáo lý Ba Ngôi. Trong thư gởi tín hữu ở Galatia, Phaolô giải thích rằng việc tín hữu nhận lãnh Chúa Thánh Linh là do lời hứa Thiên Chúa dành cho Abraham thể hiện qua sự chết cứu chuộc của Chúa Giêsu,[64] và xác chứng rằng, “Nếu anh em thuộc về Chúa Cơ Đốc, thì anh em là dòng dõi của Abraham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.”[65]

Khi xem xét đến việc thực hành các ân tứ được ban cho từ Chúa Thánh Linh, Phaolô đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong thư gởi tín hữu ở Corinth.[66] với lời cảnh báo cần cẩn trọng với khả năng nói tiếng lạ trong trạng thái xuất thần, ngược lại vị sứ đồ khuyến khích những lời khuyên bảo có thể thông hiểu và gây dựng đức tin, ông cũng đặc biệt quan tâm đến việc duy trì trật tự trong hội Thánh.[67]

Dựa trên nguyên tắc vàng “Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích và làm gương tốt”[68] ông đưa ra lời khuyên chớ nên ăn thịt hiến tế cho các thần linh. Theo tập tục thời ấy, thịt thường được hiến tế trong các đền thờ trong những ngày lễ hội tôn giáo linh đình và trác táng.[69]

Phaolô miêu tả Chúa Thánh Linh là sức mạnh hiệp nhất, dù có nhiều ân tứ khác nhau nhưng tất cả đều là sự ban cho của Chúa Thánh Linh.[70] Ông ví von hội Thánh giống như thân thể con người, có chân tay và các cơ quan khác nhau nhưng chỉ là một thân thể; mọi thành viên của hội Thánh “đều đã chịu phép báp têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.” Như thế, để gây dựng và phát triển hội Thánh, tín hữu được ban cho các ân tứ khác nhau như giảng dạy, an ủi khích lệ, chữa bệnh, nói tiên tri và làm phép lạ.[71] Phaolô cũng liệt kê các phẩm chất cần có cho mỗi Kitô hữu mà ông gọi là “Trái của Thánh Linh”: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ.[72] Song, Phaolô gọi tình yêu thương là “sự ban cho lớn hơn hết”, và ông khuyên mọi tín hữu cần ước ao ân tứ này.[73]

Mặc khác, Phaolô cũng dạy về sự sống mới trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh,[74] và sự xác tín trong lòng của tín hữu để họ có thể tin quyết vào địa vị làm con Thiên Chúa.[75]

Các Vấn đề Xã hội

Quan điểm của Phaolô về các vấn đề xã hội cũng có ảnh hưởng lớn trên nền văn hoá Kitô như những quan điểm thần học của ông.

Trong thư gởi tín hữu ở Colossae, Phaolô cho biết người theo Chúa cần phải có cuộc sống tích cực như thế nào – ấy là theo đuổi những chuẩn mực của thiên đàng, không phải của trần thế. Trong suốt nhiều thế kỷ, những chuẩn mực ấy có ảnh hưởng đáng kể trên xã hội phương Tây. Phaolô kết án những hành vi như bất khiết, dâm dục, tham lam, giận dữ, vu khống, phỉ báng, dối trá và phân biệt chủng tộc trong khi ông đề cao những đức hạnh như nhân ái, tử tế, nhẫn nại, tha thứ, yêu thương, hòa bình, và biết ơn.[76]

Phaolô kết án sự dâm dục và việc thực hành đồng tính luyến ái, ông viết “Hãy tránh xa sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình.”[77][78]

Phaolô cũng dạy về sự tự do trong Chúa Kitô,[79][80][81] sự thờ phượng đúng cách và kỷ cương trong hội Thánh,[82][83] sự hiệp nhất của các tín hữu,[84][85] và hôn nhân.[86][87] Phaolô khuyến khích tín hữu theo đuổi cuộc sống độc thân “vì cớ tai vạ hầu đến”, nhưng cảnh báo rằng cả cuộc sống hôn nhân và cuộc đời độc thân đều có thể không tốt nếu không thuận phục ý Chúa. Ông nhắc nhở, “Vậy tôi nói với những kẻ chưa cưới gả và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn. Song nếu họ chẳng thìn mình được, thì hãy cưới gả; vì thà cưới gả còn hơn để cho tình dục un đốt.”[88]

Về việc sở hữu nô lệ, Phaolô dạy rằng vì ngày Chúa Giêsu tái lâm đã gần kề, tín hữu nên chú tâm vào đời sống đức tin hơn là vào địa vị xã hội.[89] Phaolô khuyên nhủ người nô lệ nên trung tín phục vụ chủ mình và người làm chủ phải tôn trọng và đối đãi tử tế với nô lệ hoặc người làm công “vì biết rằng cả hai đều có một chủ chung trên trời, và trước mặt ông chẳng có sự tây vị ai hết.”[90] Phaolô cũng tìm cách chuộc Onesimus, một nô lệ bỏ trốn, và yêu cầu người chủ xem Onesimus “không phải là nô lệ nữa, nhưng như anh em rất yêu dấu.”[91] Nhiều người xem đây là một hành động biểu thị tinh thần chống sở hữu nô lệ của Phaolô, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thời ấy, xem việc sở hữu nô lệ là một quyền công dân.

Nguồn gpcantho

[Vui bước Tin Mừng] Sức mạnh của lời cầu nguyện

[Vui bước Tin Mừng] Sức mạnh của lời cầu nguyện

Câu chuyện được kể từ một sơ trực tiếp trên cánh đồng truyền giáo và chứng kiến những việc lạ lùng Thiên Chúa làm như những ngày đầu của Công vụ Tông đồ. Mục Vui bước Tin Mừng là kết quả sự cộng tác giữa Vatican News Tiếng Việt và Uỷ ban Loan báo Tin Mừng của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Người kể chuyện: Sr. Dominique- Rndm
Viết bài: Sr. M. Phạm Thị Tuyết Mai- Rndm
Dòng Đức Bà Truyền Giáo

Tân Thông Hội là một xã thuộc huyện Củ Chi, Sài Gòn. Vào năm 1970, sau biến cố chính trị ở Campuchia, đông đảo bà con Việt Nam sinh sống bên đất nước Campuchia hồi hương về nước. Một số đông đồng bào lương giáo được tiếp nhận và thành lập một Làng Việt kiều tại Xã Tân Thông Hội. Ấp Tân Tiến thuộc xã tân Thông Hội, lúc đó chỉ là rừng cây cao su, bà con đã khai hoang và dựng nhà để ở. Tân Thông Hội thời thập niên 1970- 1980 rất nghèo đói, dân chúng ở trong những căn nhà lá lụp sụp, chung quanh trồng trúc, họ làm đủ mọi việc để sinh sống. Các dòng tu cũng được Giáo quyền mời về đây phục vụ. Đáp lời mời, dòng Đức Bà Truyền Giáo (ĐBTG) đã đến Tân Thông Hội. Sứ mạng của các nữ tu ĐBTG trong giai đoạn này là phụ trách một Cô nhi viện, dạy nghề cho phụ nữ: may, thêu, móc, đan lát, thăm viếng, hàn gắn các gia đình có nguy cơ tan vỡ, phát lương thực, phát thuốc cho người nghèo.

Trong khu xóm nhỏ, có anh chị Thuận-Phượng là gia đình lương dân. Anh Thuận làm nghề thêu khăn bàn và các bức tranh đồng quê rất đẹp, còn vợ anh, chị Phượng, buôn bán ngoài chợ. Họ tên Thuận nhưng sống không hòa thuận chút nào. Tối ngày họ to tiếng với nhau, có lúc còn rượt nhau ra đường, hoặc khóc rấm rứt suốt đêm. Các nữ tu luôn phải khuyên giải và can ngăn…nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Thế rồi như sợi dây đàn quá căng, thì phải đứt… Họ đi đến ly hôn, dù đã có với nhau một cậu con trai 2 tuổi, tên Thắng, rất đẹp và dễ thương. Từ đó anh Thuận bỏ đi nơi khác để sống.

Trong hoàn cảnh đó, các nữ tu Đức Bà Truyền Giáo đến thăm viếng, an ủi, khuyên bảo, hỗ trợ chị Phượng. Ngày qua ngày chị Phượng xin đọc kinh với các nữ tu, nhưng vẫn không muốn theo đạo Công giáo…

Vài tháng sau, một buổi tối, tôi sang nhà chị và đưa cho chị cuốn sách Tân Ước, vì chị ao ước đọc Kinh Thánh. Ôi, thật ngạc nhiên, tôi thấy anh Thuận có mặt trong phòng. Anh bẽn lẽn chào tôi, tôi hiểu ra sự việc, tôi quay về cộng đoàn của mình… Sau đó tôi khuyên họ trở về với nhau để lo cho con.

 Sau vài năm tôi kiên trì cầu nguyện và khuyên nhủ, chị Phượng đã được ơn làm con cái Chúa, chị rất ngoan đạo, siêng năng học và thực hành Lời Chúa. Chị còn gia nhập gia đình Trợ Tá Truyền Giáo và tham gia các hoạt đồng truyền giáo rất tích cực, chị còn là thành viên của nhóm Kinh Thánh, tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa hằng tuần. Chị tâm sự với tôi:

– Con chỉ còn một mối quan tâm duy nhất là cầu xin tha thiết cho chồng con theo Chúa.

Thế rồi, một ngày kia, anh Thuận đi xe honda gặp phải một cô bé sang đường, anh không tránh kịp, nên tự té, nằm lăn quay ra, không sao chỗi dậy được, mọi người phải đỡ lên, nhưng anh không sao đi lại được nữa và anh cảm thấy quá đau đớn, toàn thân ê ẩm. Gia đình đưa anh đến bệnh viện Xuyên Á, cách nhà khoảng 7 km, sau khi chụp X quang bác sĩ cho biết: Anh bị gẫy 7 chiếc xương sườn, không bó bột được, bác sĩ cho thuốc về uống và bảo anh phải ngủ ngồi trong vòng 8 tuần lễ, và tiếp tục uống thuốc, rồi sẽ tái khám sau.

Từ đó anh không thể đi, đứng hay nằm được, suốt ngày đêm chỉ ngồi dựa lưng vào các chồng gối mà thôi. Anh cảm thấy đau đớn, mỏi mệt, chán chường và thất vọng vô cùng. Mọi người đến an ủi, một ngày, hai ngày rồi ba ngày… Thời gian coi như bất tận, miệt mài, dai dẳng… hết đêm rồi lại ngày, anh cố chợp mắt, vừa ngủ gật một cái thôi, các xương sườn gẫy của anh lên tiếng, cả thân thể anh rúng động. Ôi! cơn đau đớn không thể diễn tả được… Anh rên rỉ trong tuyệt vọng khốn cùng, và vẫn nhớ lời bác sĩ căn dặn:

– Anh phải ngồi ngủ như vậy trong 8 tuần lễ liên tục, đồng thời uống thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ mới hy vọng lành được những chiếc sương xườn đã gẫy.

Ba ngày ba đêm trôi qua, anh đau khổ vì không sao cựa quậy được, lại thêm mệt mỏi vì không thể ngả lưng xuống giường dù chỉ một giây. Anh ngồi như một bức tượng, chung quanh là những chiếc gối to nhỏ đủ kiểu chèn cho anh không bị ngả nghiêng… đến ngày thứ tư anh quá đau đớn, anh lại cảm thấy mình là gánh nặng của vợ con, anh bắt đầu nghĩ quẩn, không muốn sống nữa, anh cảm thấy chết còn sướng hơn… Anh âm thầm nói với người cháu:

– Chú không sao ngủ được, con ra tiệm thuốc tây mua cho chú thuốc an thần, nhiều nhiều vào để chú uống dần.

Ngày hôm đó, khi chị Phượng đang chăm sóc, anh rên rĩ đau đớn và nói với chị:

– Đám tang công giáo bên nhà ồn ào quá, chắc là đông người đến viếng xác, đọc kinh cầu lễ cho người quá cố phải không em?

Chị Phượng thủ thỉ:

– Anh Thuận ơi, em theo Chúa lâu rồi, chỉ còn anh chưa cùng chiến tuyến với em. Nếu anh có mệnh hệ gì, em biết làm sao đây. Bấy lâu nay, em nghĩ anh đã có lần tin Chúa. Vậy anh theo Chúa với em nhé, anh dọn lòng chịu phép thanh tẩy nghen.

Trong lúc cơn đau đang hành hạ anh từng đợt, mồ hôi tước ra nhễ nhại, anh yếu ớt gật đầu tỏ ý ưng thuận. Chị Phượng thấy sắc mặt anh nhợt nhạt, nhịp tim yếu, anh từ chối không ăn uống thứ gì. Chị Phượng lo lắng và sợ hãi nên kêu cô Châu là y tá đến truyền nước cho anh. Sau khi truyền hết một chai, cô thấy mạch cứ tụt dần, cô Châu liền nói với chị Phượng:

– Anh ấy yếu lắm rồi, phải đưa đi bệnh viện gấp thôi.

Chị Phượng nói vói chồng:

– Anh ơi, em mời Cha Sở rửa tội cho anh trước khi đi bệnh viện nhé.

Mắt anh vẫn nhắm chặt, nhưng anh gật đầu. Chị Phượng vội báo cho chị Thi, một phụ nữ đạo đức, và cũng là một Trợ Tá Truyền Giáo rất nhiệt thành trong công việc truyền giáo. Chị Thi nhanh nhẹn tìm cách liên lạc với cha sở để xin ngài đến rửa tội gấp, nhưng thật không may, chị không sao gặp được ngài…Cuối cùng chị xoay sở và tìm được cha phó Anton, cha mau mắn đi với chị đến nhà anh chị Thuận mặc dù đã rất khuya.  Bí tích thánh tẩy được cử hành ngay và chỉ có 2 giáo dân tham dự, cha Antôn làm cha đỡ đầu cho anh Thuận luôn. Sau khi rửa tội xong, anh hé mắt thì thầm lời cám ơn cha Anton xong là anh rơi vào tình trạng hôn mê ngay. Chị Phượng tìm xe để đưa anh đi bệnh viện, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, phải chờ đến sáng mới có xe để đi bệnh viện. Chị Phượng lo lắng, chị càng cầu nguyện khẩn thiết hơn, vừa cầu nguyện chị vừa sắp xếp lại những chiếc gối cho anh, đến nữa đêm chị cảm thấy mệt, nên ghé nằm bên những đống gối của anh và thiếp ngủ. Bỗng chị nghe tiếng anh gọi:

– Em ơi, anh chưa chết hả? Hình như anh đang sống? Nhưng sao anh lại nằm xuống được? Em đỡ anh ngồi dậy thử xem. Ôi, sao anh hết đau rồi, hết đau rồi…

Lúc đó chị Phượng vừa sợ vừa ngạc nhiên vì thấy khuôn mặt anh Thuận đang thảng thốt, chị không biết thật hư ra sao. Chị lắp bắp:

– Anh sao rồi? Đừng làm em sợ.

Anh Thuận thì thầm:

– Anh còn sống thật hả em? Em cho anh nắm tay em thử xem…

Sau đó anh Thuận thú nhận với vợ là anh đã uống hết 40 viên thuốc an thần một lần để tự tử vì anh quá đau đớn và thất vọng, anh nghĩ quẫn rằng anh không thể nào chịu đựng tình trạng đau đớn này và phải ngồi im không ngủ được trong 8 tuần. Mỗi lần anh chuyển mình thì những chiếc xương sườn của anh như rú lên và gào thét. Anh nghĩ rằng anh không nên làm khổ vợ con nữa và muốn tìm cái chết nhanh nhất để giải phóng cho chính mình.

Câu chuyện được chữa lành của anh thật lạ lùng. Anh kể rằng:

– Chiều hôm đó, khi uống xong 40 viên thuốc an thần, tôi bị thuốc vật, ruột gan tôi đau đớn khủng khiếp, tôi nghĩ rằng tôi sẽ chết trước khi mọi người có thể làm gì đó để cứu tôi, tôi không còn hy vọng gì cho đến khi cha phó Anton đến và ban phép Thanh Tẩy cho tôi, khi cha Anton mặc áo các phép, mắt tôi bổng như chói lòa bởi một luồng ánh sáng, sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, tôi thiếp đi luôn, tôi tự nghĩ mình đã chết, đã được giải thoát để về với Chúa. Nhưng tôi không ngờ, Chúa đã chữa lành cho tôi. Tạ ơn Chúa.

Chị Phượng vô cùng xúc động và biết ơn Chúa, chị liên tục nói lời tạ ơn Chúa và gọi báo tin cho mọi người biết anh Thuận đã được chữa lành cách kỳ diệu sau khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Mọi người xung quanh hân hoan chúc tụng quyền năng vô biên của Thiên chúa đã dành cho gia đình anh chị Thuận Phượng.

Nhờ lời cầu nguyện tha thiết và kiên trì của chị Phượng, Thiên Chúa đã ban những ân huệ đặc biệt cho gia đình: Anh Thuận được chữa lành khỏi bệnh tật thể lý và bệnh tật trong tâm hồn. Anh đã trở thành con cái của Thiên Chúa, hiệp thông trong đoàn chiên của giáo xứ Tân Thông Hội, và trở thành gia đình sống đạo gương mẫu và hạnh phúc.

Đó là câu chuyện về “Mãnh lực của lời cầu nguyện trong gia đình”, lời cầu nguyện chân thành của một người vợ trở lại đạo đã cứu lấy được gia đình mình và đem được người chồng gia nhập giáo hội Công giáo cùng với mình và trở thành con Thiên Chúa. Hiện nay anh chị có được 3 người con trai và cả 3 đã lập gia đình.

 “Tạ ơn Thiên Chúa, đã thương đoái đến phận hèn tôi tớ Ngài. Từ nay muôn đời sẽ khen tôi diễm phúc” …Đó là lời trong kinh Magnificat của Đức Maria, mà chị Phượng đã lập lại trong biến cố vô cùng trọng đại của gia đình chị.

 Nguồn VietVatican

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.

Xã hội của chúng ta ngày nay phải đối mặt sự gia tăng của chủ nghĩa thế tục và đánh mất đức tin nơi các đô thị phồn hoa. Chúng ta chợt nhận ra mình đang đối đầu với một thế giới đắm chìm trong sự bành trướng của sự dữ và chủ nghĩa khủng bố, chiến tranh và bạo lực. Chúng ta gặp nhiều rắc rối bởi những đổ vỡ trong đời sống gia đình, cùng vô số những ồn ào chia trí và cả việc thiếu vắng những nỗ lực sống thánh.

Nhưng chuỗi Mân Côi có thể giúp chúng ta. Và chúng ta cũng biết điều này, vì chính Đức Maria đã nói điều này cách đây 100 năm tại làng Fatima, Bồ Đào Nha, khi Mẹ hiện ra sáu lần với ba trẻ chăn cừu từ tháng Năm đến tháng Mười năm 1917, mỗi tháng một lần. Mẹ nhắc đi nhắc lại rằng: “Hãy lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày để có được hòa bình trên khắp thế giới và kết thúc chiến tranh.”

Chúng ta cũng biết những giá trị tuyệt vời của chuỗi Mân Côi, vì nó đã minh chứng sức mạnh của nó hết lần này đến lần khác xuyên suốt lịch sử nơi đời sống của các tín hữu nam nữ. Chắc chắn điều này có được không phải bởi vì chuỗi Mân Côi là thần chú phép thuật nhưng bởi vì chuỗi Mân Côi mang chúng ta đến với Chúa Giêsu. Theo như lời của Đức Hồng y Francis E. George – Tổng Giám mục Tổng giáo phận Chicago, vào dịp bế mạc năm Mân Côi 2013 – thì chuỗi Mân Côi “mang chúng ta đến với trái tim của Tin Mừng”.

Vượt thắng sự ồn ào

Trong lối sống hiện đại điển hình, chúng ta rất dễ bị chia trí và bị lấn át bởi tất cả mọi ồn ào xung quanh. Công nghệ đang liên tục đòi hỏi sự chú ý của chúng ta. Ngay cả khi đang ngồi trước những màn hình lớn thì chúng ta vẫn nhìn vào những màn hình điện thoại nhỏ hơn. Chúng ta bị lôi cuốn bởi những cám dỗ của các công cụ truyền thông xã hội và sử dụng tin nhắn như một hình thức giao tiếp chính yếu. Chúng ta đã hình thành một não trạng “luôn luôn bận rộn” hoặc “luôn luôn rảnh rỗi”, và ồn ào không còn biên giới đối với chúng ta. Trong một báo cáo của Nielson công bố vào tháng 6 năm 2016 cho biết trung bình người Mỹ sử dụng hơn 10 tiếng mỗi ngày để chỉ nhìn vào các loại màn hình (Tivi, máy tính, điện thoại,…). Chúng ta dễ nói với bản thân rằng mình đang làm việc chăm chỉ và việc tiêu thụ một lượng lớn thời gian cho các thiết bị công nghệ là cần thiết, nhưng thực tế thì tất cả những ồn ào đó đang hủy hoại mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.

Mặc dù vấn đề này trở nên đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, nhưng đây không phải chỉ là vấn đề của thế kỉ XXI. Năm 1973, Đức Hồng y Albino Luciani – lúc đó là Tổng Giám mục Tổng giáo phận Venice, sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I – đã có một bài giảng về “sự khủng hoảng trong cầu nguyện” trên khắp thế giới, trong đó một phần nguyên nhân là do “những ồn ào đã xâm chiếm cuộc sống của chúng ta”.

Nếu Đức Thánh Cha nghĩ rằng cuộc sống năm 1973 đầy ồn ào, vậy thì ngài sẽ nghĩ gì về cuộc sống hiện tại ?

Chúng ta cũng đối diện với vô số những ồn ào nội tâm. Chúng ta bị chia trí trong cầu nguyện bởi những cản trở bên trong, điều thường được biểu hiện dưới hình thức của kiêu ngạo và tự cho mình là trung tâm. Trong tất cả những lúc khó khăn ấy, chúng ta có thể nhờ đến chuỗi Mân Côi. Những suy ngắm tuyệt vời của lời kinh Mân Côi có thể giúp chúng ta tập trung và vượt thắng những ồn ào bên ngoài. Đồng thời, bằng việc cầu nguyện với lời kinh đơn sơ này một cách liên lỉ, tín thác và khiêm nhường, chúng ta có thể phá vỡ được những rào cản bên trong chúng ta.

Bài giảng của Đức Hồng y Luciani được viết lại trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” trình bày một sự bảo trợ tuyệt hảo và mạnh mẽ của chuỗi Mân Côi – điều mà phù hợp với hiện tại như nó đã từng phù hợp vào năm 1973.

Tận hiến sâu xa hơn cho Giáo Hội

Tổng Giám mục Fulton J. Sheen, một trong những “người khổng lồ” tri thức, tinh thần và thậm chí là truyền thông của thế kỉ XX, cũng đã tận hiến thẳm sâu chính mình cho Đức Mẹ, và ngài đã viết tặng Mẹ một cuốn sách có tựa đề “Tình yêu đầu của nhân loại, Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa”

Nhiều người trong chúng ta có lẽ giống với cha Patrick Peyton, người được biết đến như là “linh mục của chuỗi Mân Côi”. Ngài là người đã tạo ra cụm từ “gia đình cùng cầu nguyện, cùng chung sống”.

Nhưng hồi ấy, cha Peyton không chỉ tạo ra cụm từ ấy; từ lúc nhỏ, ngài được giáo dục và đào tạo bởi các giá trị to lớn của chuỗi Mân Côi.

Cha Peyton đã quá quen với việc cầu nguyện cùng gia đình bằng chuỗi Mân Côi mỗi tối, và khi cha rời xa gia đình lần đầu tiên để đi làm và sống chung với một gia đình Công Giáo khác, thì cha đã rất sốc và đau buồn khi mọi người trong nhà ấy không cầu nguyện trước khi đi ngủ.

Ngài viết rằng: “Trong khi giả vờ ngủ, tôi đã cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi của mình và tôi cảm nhận được nỗi đau khổ của người con xa nhớ quê hương, nỗi đắng cay khi sống giữa những người mà lối sống của họ khác biệt với tôi, quan niệm về các giá trị sống của họ không đúng với tất cả những rèn luyện và trải nghiệm của tôi, điều mà tôi được dạy là bình thường.”

Đây rõ ràng là một trải nghiệm quan trọng của cha Peyton – cha nhận ra rằng cha không thể xem thường đức tin đã được lãnh nhận nơi gia đình. Đó cũng là lý do tại sao khi bi kịch gieo xuống cuộc đời mình, đang lúc chuẩn bị lãnh nhận chức thánh, cha Peyton vẫn có thể hướng về Đức Maria. Nhờ vào việc tận hiến cho Mẹ, cha Peyton đã được chữa lành một cách thần kỳ khỏi chứng bệnh suy nhược. Và đáp trả lại, cha đã cống hiến đời mình để lan truyền việc tận hiến cho Đức Maria. Ngài đã nói rằng: “Công trạng và vinh quang của mỗi việc làm mà tôi thực hiện đều sẽ thuộc về Mẹ và chỉ mình Mẹ”.

Cha Peyton tiếp tục thành lập phong trào Gia đình Mân Côi, sử dụng phát thanh vô tuyến, phim ảnh, các biển hiệu bên ngoài và hơn 260 nhóm họp trên khắp 6 châu lục để khuyến khích hàng triệu người cầu nguyện cùng gia đình Mân Côi.

Đoạn trích mô tả giai đoạn này trong cuộc đời của cha Peyton, trong cuốn “tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?”, được trích từ tiểu sử và ký sự của cha Peyton khi ngài bị bệnh tật đe dọa và hồi phục cách phi thường – cũng như sự tận hiến cho Đức Maria và chuỗi Mân Côi, điều mà không bao giờ bỏ rơi ngài.

Phát triển mối tương quan môn đệ Chúa Kitô

Tôi nghĩ thật đúng khi nói rằng mỗi người trong chúng ta, dù ở đâu đó trên đường đời, thì cũng đã từng tình cờ cảm nhận được lời nguyện cầu hay đức tin của ai đó mà chúng ta cực kì ngưỡng mộ và thậm chí có thể là đố kỵ. Dường như việc chứng kiến này là một món quà, và nó nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng chúng ta cũng được mời gọi để xây dựng mối tương quan mật thiết và thân tình với Chúa Giêsu.

Để làm điều đó, chúng ta phải gặp gỡ Ngài, “gặp gỡ Chúa Kitô” – một cụm từ đã trở nên phổ biến trong triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và điều này là rất thiết yếu – nghĩa là cần phải tìm hiểu Chúa Kitô một cách sâu sắc, trọn vẹn và không nghi ngờ, cùng dọn trống tâm hồn mình để tâm hồn của chúng ta có thể được đổ tràn đầy Thánh Thần Chúa.

Có nhiều cách để gặp gỡ Đức Kitô trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta như: nhờ cầu nguyện, các bí tích và dĩ nhiên, nơi Thánh Thể. Nhưng một bước tiến nhỏ trên con đường gặp gỡ Đức Giêsu là hình thành mối thân tình với Mẹ của Ngài trước. Vì sau cùng thì Mẹ là người hiểu rõ Đức Giêsu nhất và chính Mẹ đã cưu mang Người trong lòng mình. Đức Maria đã luôn dõi theo Con của Mẹ, chăm sóc và dạy dỗ Người. Mẹ đã trân quý từng khoảnh khắc khi ở bên Chúa Giêsu và luôn suy niệm chúng trong lòng, như Tin Mừng Luca thuật lại. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đáng mến của chúng ta đã viết trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae về chuỗi Mân Côi rằng, việc tận hiến cho Đức Mẹ là một trong những phương cách cầu nguyện truyền thống của Kitô giáo, hướng tới việc chiêm ngắm dung mạo Đức Kitô. Khi chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, chúng ta suy ngắm những khoảnh khắc khác nhau trong cuộc đời Đức Giêsu thông qua cách nhìn của Thánh Mẫu Người. Việc chiêm ngắm này dẫn chúng ta đến với một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa, điều mà dẫn đưa chúng ta vào con đường của người môn đệ Chúa Kitô.

Sự thiếu vắng một cách đáng kinh ngạc mối tương quan môn đệ Chúa Kitô trong thế giới ngày nay phần lớn là do rất khó để từ bỏ chính mình mà vác thập giá mình và bước theo Chúa, dù rằng chúng ta được dạy là phải làm như vậy. Tuy nhiên, là những môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi bỏ đi cái tôi, sự ích kỷ, kiêu ngạo và thay vào đó là ưu tiên dành cho tha nhân. Đó là một lối sống khác biệt với thế gian, thế nhưng Đức Maria và chuỗi Mân Côi có thế giúp chúng ta thực hiện được điều đó.

Mang hòa bình cho thế giới

Trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê, một trong những bài Kinh Thánh yêu thích của tôi, ngài khuyên các tín hữu trong mỗi ngày sống: “Đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4,6-7)

Gần cuối năm 2014, Đức cha Doeme đã có một thị kiến, ngài trông thấy Đức Giêsu hiện ra và trao cho ngài một thanh gươm. Nhưng khi ngày cầm lấy thanh gươm ấy thì nó liền biến thành một tràng chuỗi Mân Côi. Đức cha cho biết: “Rõ ràng với chuỗi Mân Côi, chúng ta có thể loại trừ được sự dữ”. Mặc dù đây là một lời chứng đặc biệt cho sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu chống sự dữ, nhưng đó không phải là duy nhất.

Nhiều câu chuyện khác và nhiều vị thánh đã phát họa lại những sự bảo trợ mà chuỗi Mân Côi mang lại, từ trận chiến Lepanto – cứu Giáo Hội Công Giáo Tây Phương thoát khỏi sự xâm lăng của quân Ottoman, cho đến thánh Piô Năm Dấu – người gọi chuỗi Mân Côi là “vũ khí chống lại sự dữ trong thế giới ngày nay”.

Trong một tài liệu liên quan được viết vào tháng 9 năm 1951, Đấng đáng kính Giáo Hoàng Pius XII đã xem chuỗi Mân Côi là phương dược giúp cho thế giới lúc bấy giờ giải trừ những sự dữ.

Chắc chắn không ít khó khăn khi chúng ta nhận thấy mình đang ở trong những hoàn cảnh khác nhau như hiện nay, với việc chiến tranh liên miên ở Trung Đông, chủ nghĩa khủng bố ở quê hương và trên thế giới, và việc bắt bớ các Kitô hữu khắp nơi.

Những lời của Đức Giáo Hoàng Pius XII về sự dữ cách đây 70 năm nhưng lại phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, chuỗi Mân Côi tiếp tục là vũ khí giúp chúng ta chiến đấu chống sự dữ.

Chiến đấu chống chủ nghĩa thế tục

Một nghiên cứu mới đây về sứ mạng tông đồ được thực hiện bởi Trung Tâm Nghiên cứu Ứng dụng tại Đại học Georgetown, Washington D.C, chỉ ra rằng 13 là độ tuổi tiêu biểu mà vào độ tuổi đó người ta sẽ đánh mất niềm tin của mình. Khi được hỏi rằng bạn có từng xem xét việc quay trở lại Giáo Hội hay không, thì con số xấu xa đó lại tiếp tục xuất hiện, với chỉ 13% người trẻ được hỏi có câu trả lời là “có”.

Cả hai dữ liệu thống kê nói trên đang gây ra lo lắng cho chúng ta, nhưng chúng không may lại trình bày một bức tranh chính xác về vị trí của chúng ta hiện nay trong khía cạnh loan truyền niềm tin nơi xã hội của chúng ta. Chúng ta đang thất bại. Xã hội hiện tại đang phải đối mặt với sự bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa thế tục. Trong một diễn văn dành cho các Giám mục Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2012, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cảnh báo về sự ngập tràn của chủ nghĩa thế tục trong xã hội nước Mỹ, ngài nói: “Thật cấp thiết, toàn thể Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ cần nhận ra những đe dọa nghiêm trọng đối với những chứng tá đời sống đạo đức nơi Giáo Hội, đó là chủ nghĩa thế tục đang gia tăng mạnh mẽ trong các hoạt động chính trị lẫn văn hóa”

Nhưng Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI không phải là vị Giáo Hoàng đầu tiên lên tiếng chống lại chủ nghĩa thế tục. Đức Leo XIII, trị vì từ năm 1878 đến năm 1903, đã từng bị tấn công bởi các chính sách chính trị và những rắc rối của chủ nghĩa nhân văn thế tục trong suốt thời gian kế vị Thánh Phêrô. Trong một vài phần của 11 thông điệp về chuỗi Mân Côi (Đức Leo XIII được biết đến với biệt hiệu “vị Giáo Hoàng của chuỗi Mân Côi”) – một trong số đó được liệt kê trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” – Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã nói về những nguy hiểm của một thế giới thiếu vắng niềm tin. Những lời đó của ngài mạnh mẽ và phù hợp với cả hiện tại, giống như nó đã từng phù hợp lúc bấy giờ. Đức Leo XIII tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu với những rắc rối đang gia tăng – và ngài đã đúng. Cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể giúp thế giới tái khám phá niềm tin của mình.

Giúp chúng ta nên thánh

Mỗi người trong chúng ta được mời gọi nên thánh, nhưng như chúng ta biết, cuộc sống đó không hề đơn giản. Nó đòi hỏi những hy sinh, dâng hiến, đức hạnh và trên hết đó là mối tương quan thân mật với Chúa Kitô, cùng một quyết tâm nghe theo thánh ý Ngài, dù bất kể có chuyện gì. Mặc dù điều đó không dễ dàng, nhưng nên thánh là điều mà mỗi người trong chúng ta được mời gọi.

Lời mời gọi chung này được diễn tả trong Hiến chế Tín lý về Giáo Hội của Công Đồng Vaticanô II – điều mà nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta được mời gọi “hãy nên hoàn thiện như Cha của anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” Khi mong muốn thực hiện được điều đó, còn gì tốt hơn khi chiêm ngắm các thánh – những người đã làm được điều đó. “Các thánh và các chân phước trên trời nhắc nhở chúng ta, những kẻ lữ hành trần thế, rằng lời cầu nguyện, trên hết, là lương thực cho mỗi ngày sống để chúng ta không bao giờ lạc mất hướng nhìn về đời sống vĩnh hằng.” Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Đối với nhiều người, chuỗi Mân Côi […] là phương cách để họ trò chuyện với Thiên Chúa mỗi ngày. Chuỗi Mân Côi dẫn chúng ta vào một sự mật thiết sâu sắc hơn nữa với Chúa Kitô và với Đức Trinh Nữ Maria.”

Rất nhiều vị thánh đã tận hiến mình cho chuỗi Mân Côi như: thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, thánh Têrêsa Calcutta, thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, thánh Zelie Martin, chân phước John Henry Newman, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và thánh Louis de Montfort. Nhờ những mẫu gương của các ngài, chúng ta tìm thấy được cảm hứng cho chính mình trong việc cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi nhiều hơn, để tiến gần hơn tới việc nên thánh nhờ Đức Maria và Con của Mẹ.

Grentchen R.Crowe
Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com

GANH ĂN TỨC Ở MUÔN ĐỜI NÁT – Phút Cầu Nguyện, Thứ Bảy 25/04/2020

GANH ĂN TỨC Ở MUÔN ĐỜI NÁT – Phút Cầu Nguyện, Thứ Bảy 25/04/2020

Kính thưa quý vị, các bạn thân mến!

Trong bài viết “Các Kitô hữu trợ giúp nhau nên Thánh, linh mục Phan Long có kể câu chuyện như sau:

Có hai chú diều bay trên bầu trời, chúng quyết định mở cuộc tỷ thí để xem ai sẽ bay cao hơn. Cạnh chúng có hai con chim ưng cũng đang mở cuộc thi tài. Chỉ trong chớp mắt, chúng bay vút lên trời. Nhưng hai chú diều thì cứ đảo bên này đảo bên kia, và không sao bay lên cao được.

Sau này, diều hỏi chim ưng: “Chúng ta mở cuộc tỷ thí dưới cùng một bầu trời, nhưng vì sao các anh có thể bay lên cao, còn chúng tôi thì không?”

“Đó là vì nguyên tắc tỷ thí của chúng ta khác nhau!”, một chim ưng nói: “Nguyên tắc của chúng tôi là phải vượt thắng đối thủ; trong khi nguyên tắc của các anh lại là ngăn không cho đối thủ thắng mình. Theo nguyên tắc của chúng tôi, nếu đối thủ bay vượt hơn mình, thì mình phải cố gắng hết sức để có thể đuổi kịp và thắng; còn nếu mình vượt hơn, đối thủ cũng phải nỗ lực nhiều hơn để có thể bằng mình. Do đó, cả hai chúng tôi đều có thể bay vút lên giữa trời xanh. Còn theo nguyên tắc của các anh, thì nếu đối thủ bay cao hơn mình, mình phải tìm cách kéo đối thủ xuống. Nếu ta không thể bay lên được, thì mi cũng đừng hòng! Hai sợi dây của các anh cứ xoắn vào nhau như thế, làm sao bay lên cao?… Đó là cách nghĩ của các anh, và lẽ đương nhiên là cả hai đều thất bại”.

Quý vị và các bạn thân mến!

Cạnh tranh hay ganh đua là một yếu tố tích cực và cần thiết để giúp một cộng đoàn, một xã hội được phát triển mạnh mẽ. Với quyền năng của mình Đấng Tạo Hóa có thể  tạo nên những con người có những khả năng, trình độ, sức khỏe ngang bằng với nhau, nhưng nếu Ngài làm như thế thì cuộc sống con người sẽ đơn điệu và tẻ nhạt biết bao! Vì người ta không còn gì phải cố gắng, phải vươn lên vì chẳng có ai hơn mình. Trong các câu chuyện kiếm hiệp thời danh, đã có nhiều tay kiếm sau khi khổ luyện để trở thành tay kiếm siêu quần, bá chủ trong thiên hạ lại trở nên cô đơn trong ngôi vị độc tôn của mình. Họ buồn vì không còn ai xứng đáng là đối thủ. Thanh kiếm của họ trở nên cô đơn vì không còn cái đích để nó cố gắng vượt qua.

Thế nhưng, sự cạnh tranh chỉ mang lại lợi ích nếu đó là sự cạnh tranh lành mạnh. “Nếu mình vượt hơn, đối thủ cũng phải nỗ lực nhiều hơn để có thể bằng mình. Do đó, cả hai chúng tôi đều có thể bay vút lên giữa trời xanh”. Ngược lại, cạnh tranh không lành mạnh là khi “đối thủ bay cao hơn mình, mình phải tìm cách kéo đối thủ xuống” thì sẽ không mang lại hiệu quả tích cực cho cá nhân cũng như cộng đồng, xã hội.

Trong hoạt động tông đồ của người Kitô hữu chúng ta cũng thế. Nhiều khi chúng ta cũng bị cám dỗ bởi những danh phận, địa vị trong một hội đoàn, một tổ chức đạo đức và như thế, chúng ta sẽ trở nên rất khó chịu, cảm thấy như bị tổn thương danh dự khi trong cộng đoàn bỗng xuất hiện một ai đó tỏ ra xuất sắc, tài giỏi hơn chúng ta. Và do sự ganh tỵ, do lo sợ sẽ bị mất ảnh hưởng, vì uy tín năng lực của mình có thể bị lu mờ trước ngôi sao vừa xuất hiện đó, từ cõi vô thức, chúng ta bắt đầu có những suy nghĩ và hành động mang đầy tính đố kỵ. Nhân danh sự ổn định cộng đoàn, bảo vệ những bài bản chính thức của tập thể, chúng ta khéo léo tìm mọi cách để loại trừ hoặc làm cho nhiệt tình của năng lực mới giảm dần, họ trở nên chán nản và tự nguyện rời bỏ hội đoàn mà ta đang có ảnh hưởng nhất.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, việc Thiên Chúa trở nên người phàm và yêu thương con người đến nỗi bằng lòng chịu chết trên Thập Giá đã khiến ma quỷ ganh tỵ, gieo rắc hận thù và cái chết trên khắp thế giới. Xin Chúa giữ chúng con đừng sa vào chước cám dỗ của ma quỷ để sự ghen ghét, đố kị và cạnh tranh xâm nhập vào con tim mà ngược lại, hãy biết chung sống hòa bình như anh chị em với nhau. Amen.

Bình Minh

NÓNG GIẬN LÀ DO Ở TÂM MÀ RA – Phút Cầu Nguyện, Thứ Sáu 24/04/2020

NÓNG GIẬN LÀ DO Ở TÂM MÀ RA – Phút Cầu Nguyện, Thứ Sáu 24/04/2020

Có một người đàn ông thường hay nổi giận, nếu không vừa ý thì lập tức giận dữ liền. Ông ta tích trữ nguyên nhân ghen ghét cho rằng, mỗi lần giận dữ đều do người khác mà ra. Vì vậy mà ông tránh xa con người ở phố thị, rồi một mình đi vào trong núi tu thân dưỡng tính.

Một hôm ông ta vác cái lu bằng đất sét đi múc nước, vì một chút bất cẩn mà ông ta làm đổ lu nước đầy, tất cả nước đều chảy ra nên ông ta chỉ còn cách là đi múc nước lại. Nhưng khi đi được nửa đường thì lại để lu nước đổ giữa đường. Liên tục 3 lần như thế nên ông nổi giận đem lu nước đập vỡ vụn.

Ông ta nhìn những mảnh lu vỡ tự trách: “Trước đây nếu ta giận dữ đều cho rằng vì người khác, bây giờ dù chỉ ở có một mình trong núi, vậy mà ta vẫn còn giận dữ sao. Như vậy ta đã hiểu ra rồi: giận dữ là do ở trong tâm mình mà ra”

Quý vị và các bạn thân mến!

Con người chào đời bằng tiếng khóc, như một báo hiệu cho một kiếp sống trầm luân và khổ ải. Dù ở bất cứ địa vị nào, giai tầng nào thì sự hiện hữu của những góc tối, những nghịch cảnh như là điều tất yếu của con người trong cuộc đời trần thế này. Những điều đau khổ và bất hạnh của cuộc đời chẳng khác nào những hạt muối nguyên chất với vị mặn chát. Tuy nhiên, số lượng những đắng mặn mà cuộc sống của chúng ta phải nếm trải phụ thuộc vào thái độ, vào cái tâm của chúng ta đối với những thử thách, đau buồn ấy vào. Nếu nhận thức của chúng ta đối với sự việc là cái ly, chúng ta sẽ uống vào cuộc đời mình những dư vị mặn chát, nhưng nếu nhận thức của chúng ta đối với sự việc là cái hồ, mọi phiền muộn, khó khăn sẽ được hóa giải, chúng ta sẽ uống vào đời mình những ngụm nước ngọt mát, trong lành. Do vậy, khi chúng ta biết tu tâm dưỡng tính, để mở lòng ra bao la như biển hồ thì những nắm muối đầy bất ưng của cuộc đời vẫn không thể làm lòng chúng ta bừng lên những ngọn lửa của sự bực bội, giận dữ.

Thánh Ê-phê-sô 4:26 cũng nhắc nhở rằng:  “Nếu tức giận cũng đừng phạm tội”. Với bản tính mỏng giòn của con người, rất khó để chúng ta tránh được cảm xúc nóng giận. Thế nhưng nóng giận một cách có kiểm soát là điều chúng ta có thể thực hiện được. Rõ ràng, chúng ta thường dễ nổi giận với những người dưới quyền hành hay nhỏ bé hơn mình và ngược lại, với cấp trên hay với người có quyền thế, chúng ta có kiểm soát cảm xúc nóng giận rất tốt, thậm chí còn có khả năng triệt tiêu nó. Như vậy “giận dữ là do ở trong tâm mình mà ra”.

Lời dạy của Thánh Giacôbê rất chí lý rằng: “ Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” và “ mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa”. “Người hay nổi giận khơi dậy xung đột. Kẻ dễ nổi nóng vi phạm nhiều thay.” (Châm Ngôn 29:22). Thực tế cũng cho thấy biết bao tội ác tày trời mà con người có thể gây ra nếu không biết kiềm chế cơn nóng giận. Ngay cả khi lý do khiến chúng ta nổi giận là chính đáng hay được phép đi nữa thì cũng không nên kéo dài cảm xúc tiêu cực đó, vì điều đó sẽ khiến chúng ta “không được thừa hưởng Nước Đức Chúa Trời”. Ga-li-ti 5:12-21

Lạy Chúa Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh, trong cuộc Thương Khó, dù “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bằng” (1 Pr 2,23). Xin cho chúng con biết noi gương hiền lành và khiêm nhượng của Ngài và cũng xin Thần khí thánh của Ngài giúp chúng con tu dưỡng tâm tính để kiểm soát cơn giận. Amen.

Bình Minh     

Đường Ánh Sáng: Suy Ngắm 14 Chặng Đường Phục Sinh

ĐƯỜNG ÁNH SÁNG:
SUY NGẮM 14 CHẶNG ĐƯỜNG PHỤC SINH

Trong Mùa Chay, các tín hữu có thói quen suy ngắm cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu qua 14 chặng đàng thánh giá (Via Crucis). Dựa theo tục lệ ấy, một việc đạo đức khác đã được phổ biến trong những thập niên gần đây, đó là suy ngắm mầu nhiệm Phục sinh của Chúa qua 14 chặng đàng ánh sáng (Via Lucis), dựa theo châm ngôn nổi tiếng Per crucem ad lucem : “từ thập giá đến ánh sáng” (hoặc: từ thập giá đến vinh quang). Qua việc đạo đức này, các tín hữu suy ngắm biến cố trọng tâm của đức tin – cuộc sống lại của Đức Kitô – mà chúng ta được thông dự nhờ bí tích Thánh tẩy. Từ đó chúng ta nhớ đến ơn gọi của Kitô hữu là làm chứng nhân cho ánh sáng. Việc chiêm ngắm các mầu nhiệm hiển vinh của Chúa – bao gồm từ cuộc Phục sinh đến lễ Hiện xuống – sẽ dạy chúng ta hãy tiến bước như là “con cái ánh sáng”, gieo rắc niềm hy vọng vào một thế giới bị xâu xé vì hận thù tang tóc.

Cũng như trên Đường Thánh giá, người tín hữu dừng lại ở 14 “chặng” (statio trong tiếng Latinh có nghĩa là: trạm dừng) để suy niệm cuộc thương khó, thì Đường Ánh sáng cũng được chia làm 14 “chặng”, dựa theo các trình thuật của sách Tin mừng và Tông đồ công vụ. Đó là:

1/ Đức Kitô sống lại từ cõi chết (Mt 28,5-6).

2/ Các môn đệ nhận thấy mộ trống (Ga 20,8).

3/ Chúa hiện ra với bà Mađalêna (Ga 20,16).

4/ Chúa hiện ra với các môn đệ trên đường đi Emmaus (Lc 24,2-27).

5/ Chúa bẻ bánh cho các môn đệ (Lc 24,38-39).

6/  Chúa hiện ra với các tông đồ (Lc 24,38-39).

7/ Chúa ban cho các tông đồ quyền tha tội (Ga 20,22-23).

8/ Chúa củng cố đức tin cho ông Tôma (Ga 20-27-28).

9/ Chúa hiện ra cho các môn đệ trên hồ Tiberia (Ga 21,7.13).

10/ Chúa trao quyền thủ lãnh cho thánh Phêrô (Ga 21,15).

11/ Chúa sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng (Mt 28,19-20).

12/ Chúa lên trời (Cv 1,11).

13/ Các môn đệ cầu nguyện với Mẹ Maria để chuẩn bị đón Thánh Linh (Cv 1,14).

14/ Chúa Phục sinh cử Thánh Linh đến với Hội thánh (Cv 2,2-4).

Cấu trúc của “Đàng Ánh sáng” cũng tương tự như việc đi “Đàng Thánh giá”:

1/- Mở đầu: Làm Dấu Thánh giá. Lời chào

2/- Điệp ca: “Lạy Mẹ Maria, nhờ cuộc phục sinh của Đức Kitô, xin giữ gìn chúng con trong ánh sáng”. Hoặc: “Lạy Đức trinh nữ Maria, hãy vui mừng, vì Chúa đã sống lại thật, Alleluia”.

3/- Suy gẫm 14 mầu nhiệm:

a). Đọc đoạn Tin mừng

b). Chú giải (hoặc đọc bài suy niệm)

c). Một kinh Lạy Cha (hoặc: dâng ý chỉ cầu nguyện)

d). Lời nguyện

e). Điệp ca

4/- Kết thúc. Phép lành. Kinh Lạy Nữ vương thiên đàng. Giải tán.

Có nhiều cách thức suy ngắm Đàng Thánh giá. Tại Rôma, các bài suy ngắm tối thứ 6 Tuần thánh thay đổi hằng năm. Một cách tương tự như vậy, có nhiều cách thức suy ngắm Đàng Ánh Sáng. Mẫu sau đây trích từ đền Chúa Cứu Thế ở Andria (Bari, Italia).

C: Chủ tế

T: Tất cả cộng đoàn

X: Người xướng bài đọc hay kinh nguyện.

***

MỞ ĐẦU

C: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

T: Amen

C: Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em.

T: Và ở cùng cha.

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Đời là một cuộc hành trình. Trên con đường đời, chúng ta không lẻ loi. Chúa Phục Sinh đã hứa: “Thầy sẽ ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế”. Cuộc đời phải là một sự sống lại liên tục. Chúng ta sẽ khám phá sự phục sinh như nguồn của bình an và hân hoan.

X: Sau khi sống lại, Chúa Giêsu lại lên đường với chúng ta. Chúng ta hãy ôn lại những chặng đường ấy để xác định hướng đi. Cuộc đời người Kitô hữu là làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh, nghĩa là mỗi ngày một thêm vui tươi, can đảm, tích cực hơn.

Chúng ta hãy cầu nguyện

  1. Lạy Thiên Chúa là Cha, xin đổ xuống trên chúng con Thần khí ánh sáng của Cha, để chúng con hiểu biết mầu nhiệm cuộc Phục Sinh của Con Cha. Xin ban cho chúng con Thần khí của Đấng Phục sinh ngõ hầu chúng con có khả năng yêu thương, nhờ thế chúng con trở thành những chứng nhân của cuộc sống lại của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
  2. Amen.

Kinh Lạy Cha, Điệp ca

CHẶNG THỨ NHẤT:
CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI TỪ CÕI CHẾT
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Matthêu:Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên;, diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy (Mt 28,2-7).
  2. Dẫn giải. Cuộc đời chúng ta thường bị đè nặng bởi biết bao thứ đêm tối của lo lắng, sợ hãi, ức chế, bất động, thất vọng, chán chường. Nhưng lời của thiên thần đã vang lên: “Đừng sợ, Người đã trỗi dậy”. Các Kitô hữu cần trở nên những người loan báo tin mừng trọng đại ấy, để giúp cho anh chị em mình thêm can đảm và hy vọng.
  3. Chúng ta biết rằng cuộc sống mới của Đức Kitô là nguồn hy vọng cho chúng ta. Vì thế chúng ta sống trong hân hoan, và chúng ta hãy xin Người: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  4. Chúa là Đấng đã thắng tội lỗi và sự chết:  Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  5. Chúa đã không bị tan rã trong nấm mồ: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  6. Chúa đã hiện ra với các môn đệ bàng hoàng: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Kitô phục sinh. Thế giới đang cần được nghe Tin mừng của Chúa. Xin hãy gợi lên những người hăng say với cuộc Phục sinh của Chúa. Xin ban cho tất cả các Kitô hữu một con tim mới và một sức sống mới. Xin làm cho chúng con nghĩ như Chúa, yêu mến như Chúa, và biết phục vụ như chính Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca

CHẶNG THỨ HAI:
CÁC MÔN ĐỆ NHẬN THẤY MỘ TRỐNG

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan:Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. (Ga 20,3-9).
  2. Chú giải. Chúa Giêsu đã giết cái chết. Có như vậy thì niềm vui mới bộc phát được. Tình yêu chiến thắng tất cả. Nếu chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã thắng cái chết và tất cả mọi hình thức chết chóc, thì chúng ta sẽ hiên ngang tiến bước.
  3. Ngôi mộ đã không thể cầm giữ thân xác của Chúa Giêsu. Các khăn liệm không còn công dụng gì nữa. Sau cuộc thử thách đau thương, Con Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết. Chúng ta hãy tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô phục sinh: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  4. Lạy Chúa Giêsu, là Đấng được Chúa Cha sai đến để giải thoát thế giới khỏi tội lỗi, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  5. Lạy Chúa Giêsu là Đấng đã mang lại sứ điệp cứu độ vĩnh viễn, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  6. Lạy Chúa Giêsu, là Đấng đổ tràn niềm vui cho những ai tin vào Chúa, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, duy chỉ có Chúa mới mang lại niềm vui sự sống, duy chỉ có Chúa mới cho thấy ngôi mộ trống rỗng. Xin cho chúng con thầm tín rằng, nếu không có Chúa thì chúng con thúc thủ trước cái chết. Xin cho chúng con tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của tình yêu thắng vượt cái chết. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ BA:
CHÚA PHỤC SINH HIỆN RA VỚI BÀ MAĐALÊNA
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. Đức Giê-su nói với bà: “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” Đức Giê-su gọi bà: “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri: “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là `Lạy Thầy“). Đức Giê-su bảo: “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: `Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em“.” Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. (Ga 20,11-18).
  2. Chú giải. Bà Maria Mácđala mời gọi chúng ta hãy tiếp tục tìm kiếm Chúa kể cả trong lúc nghi nan, khi thiếu vắng mặt trời, khi con đường trở nên gồ ghề. Chúa Giêsu đã kêu tên của  chị. Chị cảm thấy xúc động. Tim chị tràn ngập niềm vui. Chúa Giêsu cũng ở bên cạnh bạn, và uỷ thác cho bạn một trọng trách: “Hãy loan báo rằng Chúa Kitô đang sống, và Người muốn cho tất cả chúng ta được sống”.
  3. Khi gặp nguy nan, ta cần phải bám chặt vào lời cầu nguyện, và kêu cầu Chúa Giêsu với tất cả lòng tin: Lạy Chúa, xin  chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa
  4. Khi bóng đêm của nghi nan đè nặng trên chúng con khiến chúng con không có khả năng nhìn thấy ánh sáng, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  5. Khi tội lỗi làm lu mờ tâm trí chúng ta khiến chúng con không đủ sức trỗi dậy, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin  chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  6. Khi những biến cố làm chúng con chao đảo khiến chúng con khó tin vào tình thương của Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa phục sinh, Chúa gọi chính tên của con vì Chúa yêu con. Chúa nói: “hãy đi loan báo Tin mừng cho các anh chị em”. Xin Chúa giúp con nhận ra Chúa trong mọi chuyện xảy ra hằng ngày, và giúp con đi khắp mọi nẻo đường trên thế giới, trong gia đình, trong trường học, trong xí nghiệp, trong các nơi lao động và giải trí, để chu toàn sứ mạng loan báo niềm vui của sự sống. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca

CHẶNG THỨ BỐN:
CHÚA PHỤC SINH ĐI TRÊN ĐƯỜNG VỀ EMMAUS
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca. Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy.” Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? (Lc 24,13-26).
  2. Chú giải. Câu trả lời của hai môn đệ trên đường Emmáus cho thấy nỗi chán chường vì đã mất niềm hy vọng. Thế nhưng Chúa Giêsu đã đến, đi bên cạnh những con người lạnh lùng. Dần dần, ngọn lửa đã đánh tan sự lạnh lùng, ánh sáng đã loé lên trong đêm tối. Thế giới đang cần đến ngọn lửa hăng say của các tín hữu. Chúa Phục sinh đang ở bên cạnh chúng ta, giải thích ý nghĩa của cuộc đời, nhắc nhở chúng ta rằng sự sống đã chiến thắng cái chết.
  3. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể trỏ cho chúng ta thấy con đường của sự sống. Vì thế chúng ta hãy tin tưởng van nài: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  4. Khi đám mây của những dục vọng che khuất lối đi, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  5. Khi tính thờ ơ và ngu muội làm cho nhiều người không thấy đường ngay nẻo chính, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống
  6. Khi chán nản, do dự làm tê liệt mọi hoạt động và ngăn chặn con đường về với Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin rằng Chúa đồng hành với chúng ta mặc dù chúng con không nhận ra Chúa. Xin tiếp tục ngỏ lời với chúng con, soi sáng cho chúng con và khích lệ chúng con, cách riêng khi cơn nguy nan, sợ hãi, buồn phiền bóp nghẹt trái tim chúng con, chặn đứng niềm hy vọng. Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con vì trời đã tối. Xin biến chúng con thành những chứng nhân của cuộc Phục sinh của Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.


CHẶNG THỨ NĂM:
CHÚA PHỤC SINH TỎ MÌNH KHI BẺ BÁNH
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca. Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”(Lc 24,28-32).
  2. Chú giải. Các môn đệ mời Chúa vào bàn. Và họ đã chứng kiến cảnh một chiếc bàn mộc mạc trong quán trọ nhỏ bé trở thành bàn Tiệc Ly. Cặp mắt của họ được mở ra. Họ đã tìm thấy ánh sáng và sức mạnh để trở về Giêrusalem. Mỗi khi chúng ta đón tiếp người nghèo cơm bánh, người nghèo tình thương là chúng ta chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón tiếp Chúa Kitô và rảo quanh khắp mọi nẻo đường để loan báo Tin vui mừng là Đấng chịu đóng đinh hiện đang sống.
  3. Cần có đức tin mạnh mẽ để nhận ra nơi bí tích Thánh Thể lương thực ban sự sống. Chúng ta hãy nguyện cầu: Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  4. Chúa là nguồn sự sống và tình yêu, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  5. Chúa là nguồn mọi ân sủng tuôn tràn xuống Hội thánh, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  6. Chúa là hy vọng của Nước Trời bất tận, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu, trước cuộc Tử nạn, Chúa dạy cho chúng con ý nghĩa của bí tích Thánh Thể qua việc rửa chân cho các môn đệ. Trong bữa tối ngày Phục sinh, Chúa đã cho thấy sự tiếp đón như là con đường hiệp thông với Chúa. Xin giúp chúng con sống bí tích Thánh Thể bằng việc rửa những đôi chân rã rời của những kẻ thấp hèn bằng cách đón tiếp họ vào lòng chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

T- Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ SÁU:
CHÚA PHỤC SINH TỎ MÌNH CHO CÁC MÔN ĐỆ
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca.Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em !” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói : “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi : “Ở đây anh em có gì ăn không ?” Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông. (Lc 24.36-43).
  2. Chú giải. Chúa Giêsu mời các môn đệ: “Cứ rờ xem”. Nhưng họ ngỡ ngàng vì không thể tin nổi. Chúa Giêsu lại nói tiếp và yêu cầu dùng bữa với họ. Thế rồi niềm vui bùng lên: Thật thế sao? Giấc mơ có thể thành sự thật sao? Có thể mơ rằng tình yêu thắng thù hận, sự sống thắng sự chết, kinh nghiệm thắng thách thức. Thật vậy, Đức Giêsu đang sống đây. Chúng ta có thể tin tưởng  rằng Người đã phục sinh. Để duy trì đức tin tươi trẻ, chúng ta cần phải sinh lại mỗi ngày trong Chúa Kitô, chấp nhận vượt qua sợ hãi để đến an toàn, vượt qua rụt rè để đến mạnh dạn, giống như các thánh tông đồ.
  3. Lạy Chúa Giêsu, ước chi các linh mục của Chúa nói được ngôn ngữ của Chúa. Xin cho các ngài nhắc nhở cho chúng con những lời của các tiên tri, những lời Chúa Cha đã hứa sẽ phái Đấng Cứu tinh đến, những chứng cớ mà Chúa đã ban cho các môn đệ khi sai họ đi truyền giáo. Vì thế chúng con hết lòng nài xin Chúa: Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  4. Lạy Chúa Giêsu, xin cho các gia đình đừng ngăn trở các bạn trẻ đi theo tiếng Chúa gọi:Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  5. Lạy Chúa Giêsu, xin cho những kẻ được kêu gọi hãy đáp lại cách quảng đại và mau mắn. Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  6. Lạy Chúa Giêsu, xin cho các linh mục thi hành chức vụ cách tận tâm và  tài khéo. Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con nhìn nhận Chúa là Đấng hằng sống, và dẹp tan những bóng ma làm chúng con xa cách Chúa. Xin giúp chúng con có khả năng trình bày những dấu chỉ của Chúa, ngõ hầu thế giới tin nhận Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen, Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ BẢY:
CHÚA PHỤC SINH BAN QUYỀN THA TỘI

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”(Ga 20, 19-23).
  2. Chú giảiSự sợ hãi thì khép kín, tình yêu thì cởi mở. Và tình yêu thâm nhập vào nơi cửa đóng then cài. Tình yêu của Đấng Phục sinh đã bước vào, khích lệ, trao ban. Người trao ban hơi thở của sự sống là Thánh Linh. Người trao ban một luồng khí mới, làm tươi trẻ linh hồn, phá vỡ bức tường mà tội lỗi đã dựng lên. Ngày nay, chúng ta có thể lãnh nhận hơi thở của Chúa Phục sinh qua bí tích giải tội: “con là một thụ tạo mới, hãy ra đi và mang luồng khí mới cho mọi người”.
  3.  Chỉ sau khi đã sống lại Chúa Giêsu mới thông ban cho các thánh tông đồ quyền tha tội. Trước đó, Người cần dang đôi tay trên thập giá. Thập giá là cái giá của tội lỗi; thập giá là cái chết mang lại sự sống cho chúng ta. Với lòng biết ơn sâu xa, chúng ta hãy cầu xin: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  4. Khi làn sóng của cơn cám dỗ nổi lên và đe doạ nhận chìm chúng con, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  5. Khi số tội lỗi nặng nề khiến chúng con đâm ra nghi ngờ ơn thứ tha của Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  6. Khi ý nghĩ về cuộc sống vĩnh cửu khiến chúng con lo sợ sự phán xét của Chúa, chúng con tin tưởng thưa lên: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Thánh Thần là sức sống mãnh liệt do Chúa Cha phái đến thế trần, xin thổi lên làn gió để thúc đẩy chúng con đến bờ biển công lý và an bình, xin thổi lên sự sống trên những đám xương khô cằn của chúng con, và biến chúng con thành những chứng nhân cho Chúa Kitô phục sinh. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ TÁM:
CHÚA PHỤC SINH CỦNG CỐ ĐỨC TIN CỦA THÁNH TÔMA 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”(Ga 20,24-29)
  2. Chú giải.Ông Tôma vẫn còn nghi ngờ về Chúa Phục sinh. Nhưng chính nhờ mối nghi ngờ ấy mà Chúa Phục sinh đã đến để chữa lành ông cũng như chúng ta: “Tôma, hãy đặt ngón tay vào đây … hãy đưa tay ra”. Ông đã khuất phục và đã để cho Chúa Thánh Thần giục ông thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Tin là chấp nhận mầu nhiệm: tin vào thái dương khi trời tối đen, tin vào tình yêu giữa cảnh hận thù. Tin là lao mình vào trong tay của Chúa. Cuộc đời của ta có ý nghĩa nhờ đức tin vào Thiên Chúa của sự sống, tin rằng dù khi mọi sự sụp đổ thì Ngài vẫn bền vững.
  3. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã kiên nhẫn giải thích cho các tông đồ về ý nghĩa của sự chết và sự sống. Chúng con vẫn còn cần đến Chúa. Chúng con xin lặp lại lời tuyên xưng của tông đồ Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”
  4. Chúng con cầu xin khi gặp nguy nan, khi tâm trí chúng con bị chao đảo trước những học thuyết thách đố đức tin, chúng con thưa lên rằng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  5. Chúng con cầu xin khi gặp khô khan, khi Chúa xem ra xa vắng đang khi chúng con mong cảm thấy Chúa gần gũi, cùng với tông đồ Tôma, chúng con thưa lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  6. Chúng con cầu xin khi bị lầm lẫn, khi khó nhận ra sự thật, và khi gặp nguy cơ rơi vào những kết luận sai lạc, chúng con thưa lên cùng với tông đồ Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, chúng con biết rằng đức tin đưa chúng con đến sự sống đời đời, nhưng không phải lúc nào đức tin cũng dễ dàng, Tin là phó thác cho Chúa trong những cơn thử thách. Lạy Chúa của sự sống, xin tăng thêm đức tin cho chúng con, đức tin là hoa trái của cuộc Phục sinh. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ CHÍN:
CHÚA PHỤC SINH GẶP CÁC MÔN ĐỆ Ở HỒ TIBERIA

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan.Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông : “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp : “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả. Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. Người nói với các ông : “Này các chú, không có gì ăn ư ?” Các ông trả lời : “Thưa không.” Người bảo các ông : “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô : “Chúa đó !” Vừa nghe nói “Chúa đó !”, ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước. Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giê-su bảo các ông : “Đem ít cá mới bắt được tới đây !” Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói : “Anh em đến mà ăn !” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai ?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. (Ga 21,2-13)
  2. Chú giải. Chúa Phục sinh đến gặp gỡ chúng ta giữa những hoàn cảnh sinh sống thường nhật: trong nhà, ngoài đường, trên đường phố, dọc theo bờ biển. Người xâm nhập vào những niềm vui nỗi buồn, những hy vọng và lo âu của nhân loại. Người mang lại luồng gió trẻ trung khi làm tăng thêm những điều tốt lành, tựa như những con cá, những bữa ăn. Bên bờ hồ Tibêria, Người dạy một bài học mới về sự sống: hễ càng chia sẻ thì càng tăng thêm. Chúa Giêsu vẫn còn đói nơi một nửa nhân loại trên địa cầu. Tin vào Chúa Giêsu là có khả năng làm gợi lên niềm hy vọng nơi những nấm mồ.
  3. Đấng đang xin miếng ăn là Chúa tể vạn vật. Đấng chìa tay xin chiếc bánh là chính Đấng Toàn năng. “Ta đói và các ngươi đã cho ta ăn”. Chúa Giêsu tỏ lộ sự hiện diện của mình nơi những người nghèo đang đói khổ. Với lòng tin, chúng ta hãy thưa với Người: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  4. Những người nghèo không có gì trong tay, những em bé chết vì không có gì để ăn, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  5. Những gia đình không nhà ở, những bạn trẻ không có công ăn việc làm, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  6. Những người bệnh không ai chăm sóc, những người già cả lâm cảnh neo đơn, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, Chúa không hiện ra oai phong lẫm liệt giữa sấm chớp, nhưng đã tỏ lộ như là Thiên Chúa của cuộc sống bình dị, trên bờ hồ. Chúa ngồi vào bàn những người đang thiếu thốn chứ không dư dật. Chúa ngồi vào bàn những người nghèo, thiếu niềm hy vọng. Xin biến chúng con thành những chứng nhân của Chúa Phục sinh trong cuộc sống thường ngày, và thế giới sẽ được biến đổi theo khuôn mẫu của cuộc Phục sinh của Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI:
CHÚA PHỤC SINH TRAO QUYỀN THỦ LÃNH CHO ÔNG PHÊRÔ

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : “Anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”.(Ga 21,15-17).
  2. Chú giải.Chúa Phục sinh hỏi ông Phêrô đến ba lần: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?”. Chúa Giêsu là chàng rể của nhân loại mới. Người muốn chia sẻ với cô dâu tất cả: Cha của Người, Thân mẫu, Mình và Máu của Người trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta cũng được kêu gọi đích danh giống như ông Phêrô: “con có yêu mến Thầy không?”. Và chúng ta cũng thấy lúng túng để trả lời. Tuy nhiên, cùng với ông, cùng với lòng can đảm của do Thần khí mang lại, chúng ta hãy thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết hết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Yêu là trao hiến mình, trao hiến mãi mãi.
  3. Chúa Giêsu đã đặt tình yêu làm trung tâm của sứ điệp Tin mừng, tình yêu dành cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu thì cần chứa đầy tình yêu trong trái tim. Chúng ta hãy cầu nguyện: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  4. Tình yêu chiến thắng sự chết. Chúng ta hãy thưa với Chúa: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  5. Tình yêu của Chúa đã được trút đổ xuống tâm hồn chúng ta, vì thế chúng ta hãy nguyện xin: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  6. Tình yêu thắng tất cả và chịu đựng tất cả. Vì thế chúng ta khẩn nài: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, chúng ta tạ ơn Chúa vì hồng ân Hội thánh, được thiết lập trên đức tin và lòng yêu mến của tông đồ Phêrô. Mỗi ngày, Chúa chất vấn chúng con: “Con có yêu mến Thầy hơn những người này không?”, và mời gọi chúng con góp phần vào việc xây dựng Hội thánh. Xin cho chúng con xác tín rằng chỉ nhờ tình yêu mà  chúng con mới  có thể trở thành những viên đá sống động của Hội thánh, và chỉ nhờ hy sinh thì chúng con mới có thể làm cho Hội thánh tăng trưởng trong chân lý và bình an. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI MỘT:
CHÚA PHỤC SINH UỶ THÁC CHO CÁC MÔN ĐỆ SỨ MỆNH PHỔ THẾ

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Matthêu. Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”(Mt 28,16-20).
  2. Chú giải. Thật là một vinh dự được Chúa tuyển chọn và kêu gọi. Ơn gọi kèm theo một nhiệm vụ được uỷ thác. Nhiệm vụ Chúa trao cho các môn đệ thật là nặng nề, bởi vì họ phải hành động nhân danh Người. Tuy nhiên, Người đã hứa sẽ ở lại với họ, để nâng đỡ họ. Trong Hội thánh có nhiều công tác khác nhau, nhiều chỗ đứng khác nhau, nhưng chỉ có một sứ mạng duy nhất, đó là: loan báo Tin mừng của công lý, tình yêu, hoà bình. Chúng ta hãy mang tin vui này cho hết mọi người đang mong chờ.
  3. Vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu, chúng ta hãy nguyện xin Chúa Cha: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  4. Xin cho các giám mục và linh mục không ngừng loan báo và dạy dỗ đức tin, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  5. Xin cho các nhà truyền giáo không thối chí trước những khó khăn, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  6. Xin cho tất cả các tín hữu ý thức nhiệm vụ loan báo Tin mừng khắp nơi, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã hứa với các môn đệ: “Thầy ở với các con mọi ngày”. Chúng con là những người yếu ớt, không thể gánh vác những nhiệm vụ được uỷ thác. Những lời trấn an của Chúa mang lại sức mạnh cho những kẻ yếu đuối, kiên trì cho những kẻ bấp bênh, can đảm cho những kẻ sợ sệt, hân hoan cho những kẻ sầu buồn. Xin Chúa hãy trở thành ánh sáng dẫn đường cho chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI HAI:
CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ. Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” Người đáp : “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.”Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói : “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1,6-11).
  2. Chú giải. Trời và đất gắn chặt với nhau. Nhờ mầu nhiệm Nhập thể, trời đã xuống đất. Nhờ mầu nhiệm Thăng thiên, đất được đưa lên trời. Chúng ta xây dựng thành phố của con người ở dưới đất, để được cư ngụ trong thành phố của Thiên Chúa ở trên trời. Chúng ta thường dồn hết tâm lực vào thế giới ở dưới đất này, muốn xây dựng một thế giới hạnh phúc ở đời này, nhưng chúng ta không tìm thấy hạnh phúc. Chúng ta cần tìm cách đưa thế giới này lên trời, bằng cách giúp cho những kẻ nghèo hèn, những kẻ bị gạt ra lề xã hội được ngẩng đầu lên, khôi phục lại phẩm giá của mình.
  3. Chúng ta là thành phần của Hội thánh là đoàn dân được Chúa Kitô cứu độ. Chúng ta hãy đặt niềm tin tưởng nơi Người và tha thiết nài xin: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  4. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho các con”. Trong niềm mong đợi, chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  5. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu nguyện với Chúa Cha để tất cả chúng con được đoàn tu với Chúa trên thiên quốc. Với niềm hy vọng ấy, chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  6. Lạy Chúa Giêsu, các thiên sứ đã đoan chắc rằng Chúa sẽ trở lại để kết liễu lịch sử cứu độ. Chúng con hy vọng ngày ấy sẽ là ngày hân hoan trọng đại, vì thế chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã đi trước để dọn chỗ cho chúng con. Xin cho chúng con cắm mắt nhìn về nơi hoan hỉ đích thực. Đang khi nhìn về cuộc Phục sinh viên mãn, chúng con cố gắng thực hiện lễ Phục sinh ở dưới trần gian này cho tất cả mọi người. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI BA:
HỘI THÁNH CÙNG VỚI MẸ MARIA CHỜ ĐỢI CHÚA THÁNH THẦN
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ.Bấy giờ các ông từ núi gọi là núi Ô-liu trở về Giê-ru-sa-lem. Núi này ở gần Giê-ru-sa-lem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát.  Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông : Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê, Phi-líp-phê, Tô-ma, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa con ông Gia-cô-bê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su. (Cv 1,12-14).
  2. Chú giải. Trong kinh Magnificat, Đức Mẹ đã ca tụng Thiên Chúa của sự phục sinh vì đã ban cho lịch sử một khuôn mặt con người: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm người. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng”. Giờ đây cùng với các môn đệ của Chúa, Mẹ tỉnh thức trông chờ khai nguyên của buổi bình minh mới. Các Kitô hữu cũng được mời gọi tỉnh thức cùng với Mẹ Maria. Mẹ dạy chúng ta hãy chắp tay lại để biết mở tay ra, những bàn tay dâng hiến, những bàn tay trong sạch, những bàn tay bị thương tích vì yêu thương giống như Chúa Phục sinh.
  3. Lạy Chúa Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, Chúa đã mang lại ý nghĩa cho những khát mong của nhân loại trong suốt dòng lịch sử, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện:Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  4. Lạy Thần khí khôn ngoan, Đấng gợi lên những lựa chọn thích đáng cho đời sống, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  5. Lạy Thần khí dũng mạnh, Đấng củng cố các ý chí mỏng giòn để chống đối sự dữ, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  6. Lạy Thần khí sùng mộ, Đấng gợi lên những tâm tình sốt sắng với công việc của Thiên Chúa và thuận theo ý của Ngài, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Kitô phục sinh, hằng hiện diện trong cộng đoàn Hội thánh, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin hãy đổ tràn Thánh Thần xuống trên chúng con, Thần khí sự sống, Thần khí vui tươi, Thần khí bình an, Thần khí dũng mạnh, Thần khí yêu thương. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI BỐN:
CHÚA PHỤC SINH PHÁI THÁNH THẦN ĐẾN CÁC MÔN ĐỆ 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ. Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình.(Cv 2,1-6).
  2. Chú giải. Chúa Thánh Thần đến, và Ngài biến đổi những gì mà Ngài chạm đến. Ngài chạm đến cũng lòng của một trinh nữ, và người ấy trở thành bà mẹ. Ngài chạm đến một thân xác bị vùi dập, và thân xác ấy được phục sinh. Ngài chạm đến một đám đông, thế rồi nảy sinh một đoàn các tín hữu sẵn sàng hiến mạng để làm chứng cho đức tin. Lễ Ngũ tuần là luồng gió thổi vào một thế giới tầm thường và thiếu niềm hy vọng. Lễ Ngũ tuần là lửa hăng say nhiệt thành. Mặt trời lặn xuống hôm nay thì ngày mai sẽ mọc lên huy hoàng. Thiên Chúa không đặt vào bàn tay chúng ta những giải đáp cho các vấn đề, nhưng Ngài ban cho chúng ta những bàn tay để giải quyết các vấn đề.
  3. Chúa Thánh Thần là sự sống của Hội thánh. Hội thánh do Chúa Giêsu thiết lập, bắt đầu sinh sống và bành trướng vào ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần gìn giữ ngọn lửa yêu mến luôn cháy sáng trong lòng Hội thánh. Chúng ta tin tưởng cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  4. Khi lòng hăng hái đã suy giảm và niềm phấn khởi trở nên yếu kém, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  5. Khi chân đã chùn bước , và bóng tối nghi nan không cho thấy lối đi, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  6. Khi tính uể oải muốn dừng lại hoặc lòng nhút nhát xóa bỏ mọi quyết tâm, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Thánh Thần là mối liên kết giữa Chúa Cha với Chúa Con, Chúa là Đấng kết hợp chúng con với Đức Kitô Phục sinh; Chúa là Đấng liên kết chúng con trong Hội thánh. Chúng con nài xin Chúa. Xin Chúa thở hơi trên chúng con để chúng con nghĩ đến điều thánh thiện; xin Chúa thúc đẩy chúng con để chúng con làm điều thánh thiện; xin Chúa thu hút chúng con, để chúng con yêu mến điều thánh thiện”. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
  8. Amen, Lạy Cha. Điệp ca.

***
LỜI NGUYỆN KẾT THỤC

Lạy Thiên Chúa là nguồn mạch an vui và hy vọng, chúng con đã sống những biến cố của cuộc sống lại và lên trời của Con Cha cho đến lúc Thánh Thần ngự xuống. Xin cho việc suy gẫm những mầu nhiệm này mang lại cho chúng con ân sủng tràn đầy của Cha, và giúp chúng con có khả năng làm chứng cho Tin mừng của Đức Giêsu Kitô giữa lòng thế giới. Chúng con cầu xin cho Hội thánh biết phản chiếu trung thực những bước chân của Đức Kitô trong lịch sử. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nguyện xin cho Hội thánh tỏ bày cho thế giới những kho tàng phong phú của tình yêu của Cha qua việc cử thành các bí tích, và giúp cho hết mọi người đạt đến sự phục sinh vĩnh viễn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

  1. Amen
  2. Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em.
  3. Amen
  4. Chúc anh chị em ra về bình an.
  5. Tạ ơn Chúa.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Nguồn: 
daminhvn.net

MÓN QUÀ CỦA NIỀM TIN -Phút Cầu Nguyện, Thứ Năm 23/04/2020

MÓN QUÀ CỦA NIỀM TIN – Phút Cầu Nguyện, Thứ Năm 23/04/2020

Một trận động đất xảy ra tại một trường học ở Mỹ. Khung cảnh hoang tàn của ngôi trường học sau cơn động đất làm những cha mẹ học sinh bật khóc vì tuyệt vọng.

Trong khi đội cứu hộ cố gắng cứu những em bé trong những lớp học ít bị đổ nát, một người đàn ông cứ xông vào những nơi nguy hiểm vì những bức tường có thể sập xuống bất cứ lúc nào, và luôn miệng gọi tên con. Mọi người lo sợ ông phát cuồng vì mất con và làm cản trở công việc cứu hộ nên khuyên ông ra ngoài, nhưng ông nói: “Tôi đã hứa với Paul rằng lúc nào tôi cũng ở bên con, cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra”.

Khi đội cứu hộ bắt đầu dừng tay và họ đinh ninh rằng họ đã cứu hết những người còn sống ra khỏi đống gạch vụn thì ông vẫn kiên nhẫn tìm kiếm. Bỗng ông nghe tiếng gọi thật yếu ớt ngắt quãng vọng từ đâu đó: “Bố ơi! Chúng con đây này”. Ông điên cuồng đào bới. Mọi người xung quanh thấy thế vội chạy tới hỗ trợ ông. Như một phép lạ, dưới đống đổ nát là một khoảng trống. Trong đó khoảng gần chục đứa trẻ đang nhìn ông với ánh mắt hy vọng, chờ đợi. Ông lần lượt kéo từng đứa lên và Paul, con trai ông là người lên sau cùng.

Khi đã trong vòng tay của bố, cậu bé nói trong nước mắt: “Con biết bố không bao giờ bỏ con mà. Các bạn không tin con và sợ lắm nên con chờ bố đến và để các bạn lên trước, vì con tin rằng bố sẽ không bao giờ bỏ con đâu”.

Quý vị và các bạn thân mến!

Niềm tin có lẽ là một trong những món quà quý giá nhất mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người trong cuộc sống này. Bởi nhờ có niềm tin giúp chúng ta vượt qua những trở ngại của cuộc sống, biến cái không thể thành có thể. Tuy nhiên, sống niềm tin không phải là điều dàng, bởi cuộc sống của chúng ta luôn được xây dựng trên những dữ liệu cụ thể, những lập trình có thể tiên liệu được. Chúng ta không thể phó thác cuộc sống tương lai của mình vào những gì mà mình không thể nhìn thấy trong hiện tại.

Nhưng Chúa lại nói với chúng ta rằng: “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Và đúng là nếu chúng ta sống được bằng niềm tin thì đó quả là mối phúc cho mỗi chúng ta. Cậu bé đã vượt qua nỗi sợ hãi và giúp những đứa bạn của mình giữ bình tĩnh đợi người tới cứu, vì cậu tin vào lời hứa của người bố rằng lúc nào ông cũng ở bên cậu, cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra. Và quả thật cậu và các bạn đã được cứu sống nhờ vào niềm tin đó.Vì thế,  khi chúng ta hoàn toàn bất lực trước những bế tắc của cuộc đời mà vẫn có được niềm tin vững vàng rằng chắc chắn Chúa không bỏ chúng ta thì niềm tin ấy là sự giải thoát tuyệt vời.

Thời gian qua, nhân loại đang oằn mình trong cơn đại dịch. Hằng ngày, tràn ngập trên các phương tiện truyền thông là những tin tức nói về sự bùng phát của dịch bệnh ở khắp nơi. Số người chết càng lúc càng gia tăng. Hoảng loạn, bế tắc, lo âu là tâm trạng của con người trong cơn đại dịch. Thế nhưng, là tín hữu Kitô giáo, hơn lúc nào hết, chúng ta cần được mời gọi để nhìn lại niềm tin của mình vào Thiên Chúa lớn như thế nào và vững vàng ra sao? Đây là lúc chúng ta thấy được cái phúc khi sống bằng niềm tin cho dù những gì đang xảy đến với chúng ta là tốt hay xấu. Niềm tin sẽ giúp chúng ta nhìn thấy được những thông điệp Chúa muốn gửi gắm qua những gì mà virus Corona đang làm với chúng ta. Và, khi sống bằng niềm tin, ta sẽ có được sự bình an tuyệt đối, vì biết rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh! Trong khi chịu nạn, Ngài cũng từng thốt lên rằng: “Ôi Chúa ôi, ôi Thiên Chúa, sao Chúa đành bỏ con?”, thế nhưng chính niềm tin vào Thiên Chúa Cha đã giúp Ngài chiến thắng đau khổ và cái chết để hoàn thành sứ mạng Cứu Độ loài người mà Chúa Cha đã giao phó. Trong khi đối diện với thử thách đầy khắc nghiệt của cơn đại dịch chết người, xin cho chúng con vững lòng trông cậy, luôn “ngước trông về Chúa phù trì cứu giúp. Xin Chúa đừng đứng xa mặc kiếp thân này.” Amen.

Bình Minh

Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời

“Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời”

Sống trong đại dịch này, mọi người đều đụng tới phận người monh manh, mỏng dòn, dễ vỡ và rất nghèo nàn của mình, đến nỗi không ai có thể mạnh miệng nói tôi giàu có, tôi quyền lực, tôi mạnh mẽ và tôi rất đạo đức, đến nỗi chú virus nhỏ bé kia đừng hòng đụng đến tôi được.

Giữa lòng của đại dịch Coronavirus, tất cả chúng ta đều nghèo như nhau, tất cả chúng ta đều mang trên mình một thân xác, một phận người nghèo và bất cứ lúc nào cũng có thể bị đe doạ và bị lây nhiễm virus.

Càng ý thức về sự mỏng dòn này, càng ý thức về phận nghèo đích thực của mình tước tôn nhan Thiên Chúa, chúng ta lại càng được chúc phúc. Đó là nghịch lý của Thánh Kinh, của Đức Tin.

Vâng, kẻ bần cùng, người khiêm cung, những tấm lòng tan vỡ được Thánh Vịnh tuyên bố là những người hạnh phúc, trong khi kẻ giàu sang phải bần cùng đói khổ.

Hình ảnh người nghèo trong Thánh Kinh luôn được nhắc tới với tình thương đặc biệt của Thiên Chúa dành cho họ.

Chúa Giê-su nhắc đến mối Phúc cho kẻ nghèo vì Nước Trời là của họ.

Với tâm tình hướng về người nghèo, người bé mọn, Chúa Giê-su cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10,21).

Hơn hết, Chúa Giê-su còn mặc lấy thân phận nghèo hèn của kiếp người. Từ biến cố Giáng Sinh của Chúa trong nghèo nàn, cho đến cái chết thê lương trên Thánh Giá dành cho các tội nhân.

Thánh Phao-lô còn diễn tả Chúa Giê-su mặc lấy thân nô lệ, một thân phận không ai trên trần gian muốn đón nhận.

Ngoài ra, thánh tông đồ dân ngoại còn cho chúng ta nhận ra một hành động tuyệt vời của Chúa Giê-su: Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cr 8,9).

Về lời của thánh Phao-lô, thánh Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã suy tư như sau: “Ôi mầu nhiệm nào đối với tôi là mầu nhiệm của sự nghèo khó. Nhưng mầu nhiệm đó sẽ được sáng tỏ, khi tôi chiêm nghắm Chúa Giê-su, Đấng là Thiên Chúa và đã từ bỏ sự giàu sang để trở nên nghèo khó cho chúng ta và với chúng ta”.

Thánh Tông đồ viết cho các Ki-tô hữu ở Cô-rin-tô để khuyến khích họ quảng đại giúp đỡ các tín hữu ở Giê-ru-sa-lem đang túng thiếu. Những lời này của thánh Phao-lô có ý nghĩa gì?

Đại dịch chúng ta đang trải nghiệm, đi từ Mùa Chay đến mùa Phục Sinh. Thời gian này đánh dấu cuộc vượt qua của Chúa Giê-su, Ngài vượt qua thứ sáu tuần thánh để đến với Chúa Nhật Phục Sinh.

Vâng, dù vẫn còn sống trong bối cảnh của dịch bệnh, nhưng chúng ta vẫn thấy sự giàu có mà con người nhận được qua Chúa Giê-su được khám phá dưới ánh sáng của biến cố vượt qua. Biến cố này vừa tỏ lộ viễn tượng về cuộc đời Đức Giê-su, vừa là tiêu chuẩn đặc thù để hiểu sự khó nghèo của Ngài. Biến cố Phục Sinh đã hiển lộ sự thật về Chúa Giê-su Na-da-rét: Ngài không chỉ là ngôn sứ, mà còn là Đấng Mê-si-a, là Con Thiên Chúa và là Chúa của mọi loài vì Chúa Cha đã trao cho Ngài mọi quyền năng trên trời dưới đất.

Thật vậy, Chúa Giê-su, vốn là Đấng giàu có, đã trở nên nghèo để làm cho nhiều người trở nên giàu có. Khi sống giữa chúng ta Ngài đã không dùng những đặc quyền vốn thuộc về mình; Ngài đã không xuất hiện như Chúa, mà như người tôi tớ, như kẻ nô lệ. Ngài đã không biểu lộ những đặc quyền vốn thuộc Thiên tính của Ngài. Hơn nữa, Ngài mặc lấy thân xác như thân xác của chúng ta (x.Rm 8,3tt), và mang lấy gánh nặng của tội và án phạt của chúng ta.  

Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ về tâm tình này như sau: “Thiên Chúa không tỏ mình nơi quyền lực và giàu sang của trần thế, nhưng nơi sự yếu đuối và nghèo nàn: ‘Người vốn giàu sang, nhưng đã trở nên nghèo vì anh chị em…’. Chúa Ki-tô, Người Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, đồng quyền năng và vinh quang với Chúa Cha, đã chọn trở nên nghèo khó; Người đã đến giữa chúng ta và trở nên gần gũi với mỗi người chúng ta; Người đã trút bỏ vinh quang và huỷ mình ra không, để trở nên giống chúng ta trong mọi sự (x.Pl 2,7; Dt 4,15). Thiên Chúa làm người là một mầu nhiệm thật cao cả! Và nguyên nhân của tất cả những điều ấy là tình yêu của Người, một tình yêu là ân sủng, lòng quảng đại, ước muốn trở nên gần gũi, một tình yêu chẳng do dự hiến thân hy sinh cho người mình yêu. Bác ái, tình yêu, có nghĩa là chia sẻ số phận của người mình yêu trong mọi sự. Tình yêu làm cho chúng ta nên giống nhau, kiến tạo sự bình đẳng, phá đổ các bức tường và loại bỏ những ngăn cách… Khi tự ý trở nên nghèo, Chúa Giê-su không tìm kiếm cái nghèo vì chính nó, nhưng như thánh Phao-lô đã nói: ‘để anh chị em trở nên giàu sang nhờ cái nghèo của Người’.

Đây không phải là một kiểu chơi chữ hay một khẩu hiệu! Nhưng là tóm tắt lô-gíc của Thiên Chúa, lô-gíc của tình yêu, lô-gíc của Nhập thể và Thánh giá. Thiên Chúa không làm cho ơn cứu độ từ trời cao rơi xuống cho chúng ta, như ai đó làm phúc bố thí từ của dư thừa, chẳng có ý nghĩa vị tha và đạo đức. Tình yêu của Chúa Ki-tô thì khác! Khi Chúa Giê-su bước xuống sông Giô-đan để cho Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa, Người làm thế không phải vì cần thống hối hay hoán cải; Người làm điều ấy để ở giữa dân chúng là những người cần ơn tha thứ, ở giữa chúng ta là những người tội lỗi, và gánh lấy tội lỗi của chúng ta. Người đã chọn con đường ấy để an ủi chúng ta, cứu rỗi chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi tình trạng khốn khổ. Thật là ấn tượng khi Thánh Tông Đồ nói rằng chúng ta được giải thoát không phải nhờ sự giàu sang của Chúa Ki-tô, nhưng nhờ cái nghèo của Ngài.

Cái nghèo của Chúa Ki-tô làm cho chúng ta nên giàu có là ở chỗ Người đã làm người, mang lấy những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta để bày tỏ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đối với chúng ta.

Hơn nữa, qua mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Phục Sinh, Chúa Giê-su đã cho chúng ta được phép trở nên giống Chúa hơn và được tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Chúa. Đó cũng là nét giàu có, và cũng là một ân sủng lớn lao mà chúng ta nhận được.

Ngoài ra, thánh sử Gioan nói rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban cho Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Ý thức thân phận mình là những người nghèo thật sự, chúng ta đọc những lời này, và chúng ta hướng nhìn lên trời cao, hướng nhìn lên Cha trên trời, Đấng yêu thương chúng ta, chúng ta có thấy mình xứng đáng được yêu thương không?

Làm sao Cha trên trời lại có thể ban cho chúng ta, những kẻ nghèo hèn, Con Một của Ngài, là Chúa Giê-su. Đó là người con yêu dấu của Ngài. Một tình yêu cao quý, một tình yêu vô điều kiện, một tình yêu lớn hơn tất cả mọi tưởng tượng của con người.

Trong thân phận nghèo hèn, đầy giới hạn và thật hư vô của mình, chúng ta chẳng xứng đáng được như thế, nhưng Cha trên trời vẫn ban tặng cho chúng ta “Món Quà” quý giá trên hết mọi món quà của trần gian.

Ôi, kẻ nghèo hèn luôn được Chúa đoái nhìn và trân trọng.

Cuối cùng chúng ta cùng cất cao lời Thánh Vịnh:

2 Tôi sẽ không ngừng chúc tụng CHÚA,
câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.
3 Linh hồn tôi hãnh diện vì CHÚA
xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên.

4 Hãy cùng tôi ngợi khen ĐỨC CHÚA,
ta đồng thanh tán tụng danh Người.
5 Tôi đã tìm kiếm CHÚA, và Người đáp lại,
giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.

6 Ai nhìn lên CHÚA sẽ vui tươi hớn hở,
không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi.
7 Kẻ nghèo này kêu lên và CHÚA đã nhận lời,
cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn.

8 Sứ thần của CHÚA đóng trại chung quanh
để giải thoát những ai kính sợ Người.
9 Hãy nghiệm xem CHÚA tốt lành biết mấy:
hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!”

(Tv 33,2-9).

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

MỖI NGƯỜI MỘT VAI TRÒ – Phút Cầu Nguyện, Thứ Tư 22/04/2020

MỖI NGƯỜI MỘT VAI TRÒ – Phút Cầu Nguyện, Thứ Tư 22/04/2020

Một nhà khoa học già và một ca sĩ trẻ gặp nhau trên cùng một chuyến bay. Khi xuống máy bay, rất nhiều người hâm mộ vây quanh chàng ca sĩ, còn nhà khoa học thì chẳng mấy ai để ý đến.

Chứng kiến điều này một người quen của nhà khoa học bất bình, nhưng khi vừa định lên tiếng thì liền bị nhà khoa học ngăn lại:

Ca sĩ thì phục vụ trước mặt công chúng, còn chúng tôi thì làm việc một cách thầm lặng. Do đó mọi người tất nhiên sẽ chào đón những ca sĩ và âm thầm kính trọng chúng tôi. Trước mặt biết bao nhiêu người, các ca sĩ có thể hát; còn chúng tôi trước mặt nhiều người làm sao có thể thí nghiệm hay nghiên cứu được? Thật sự không thể đâu …

Quý vị và các bạn thân mến!

Đức Cố Hồng Y PX Nguyễn Văn Thuận có viết: “Thiên hạ mua vé lên đỉnh nhà chọc trời Manhattan, khen ngợi kiến trúc tân kỳ, nhưng mấy ai nhớ đến từng thanh sắt, từng viên sạn, từng hạt cát nhỏ làm nền móng vững chắc cho ngôi nhà ấy”. (Câu 819-Đường Hy Vọng). Thường chúng ta chỉ quan tâm đến những lời nói, những đóng góp của những người nổi tiếng, những ngôi sao trong các lĩnh vực điện ảnh, ca nhạc, thể thao, những người có tần suất phủ sóng dày trên các phương tiện truyền thông, ngược lại chúng ta lại ít để ý đến công sức của những người làm việc âm thầm cho dù những cống hiến của họ cũng mang lại lợi ích cao cho cộng đồng hay xã hội chúng ta đang sống.

Nhưng rõ ràng, cuộc sống của mỗi người trong chúng ta được hoàn thiện là nhờ sự đóng góp của mọi người, không trừ ai. Những người làm cho cuộc sống tinh thần của con người thêm tươi đẹp với những sắc màu phong phú trong nghệ thuật cho đến những người thực hiện những công việc gian khổ mà âm thầm, sự hiện diện của tất cả mọi người đều rất cần thiết để xây dựng một xã hội an bình và hạnh phúc. Một ngày không nghe tiếng hát của các ca sĩ chắc hẳn chúng ta sẽ buồn, nhưng cuộc sống của chúng ta sẽ bất an nếu thiếu những người miệt mài trong các phòng thí nghiệm luôn tìm ra những cách thức để bảo vệ sự sống của con người.

Trong cơn đại dịch của nhân loại, hình ảnh được loan truyền nhiều trên các trang mạng xã hội chính là hình ảnh của các y, bác sĩ, những người đã rất vất vả trong công tác theo dõi, chăm sóc người bệnh, cũng như đối diện trực tiếp với nguy cơ lây nhiễm cao dịch bệnh. Tại một số bệnh viện, có y, bác sĩ phải tham gia ứng trực 24/24 giờ chống dịch xuyên đêm, nhiều ngày không thể về nhà, phải gửi các con cho người thân chăm sóc. Không ít bác sĩ đã không về nhà trong mấy tuần để nỗ lực cứu chữa bệnh nhân, thực hiện nghiêm quy trình cách ly không để lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Dù không tránh khỏi áp lực kỳ thị của một số người xung quanh, những họ vẫn âm thầm cống hiến cho nghề nghiệp. Đó là chưa nói đến các nhà khoa học, nghiên cứu sinh đang âm thầm miệt mài tìm kiếm phương thuốc chữa bệnh trong các phòng thí nghiệm.

Một nhà nghiên cứu sinh học Tây Ban Nha đã nói: “Các bạn đã trả lương cho các cầu thủ bóng đá 1 triệu Euro một tháng và các nhà nghiên cứu sinh là 1.800 Euro mỗi tháng, vậy thì bây giờ các bạn muốn tìm kiếm một phương pháp chữa trị Coronavirus, thì đi mà tìm Ronaldo hay Messi nhờ họ chữa trị đi”. Trộm nghĩ, câu nói trên không có ý phủ nhận vai trò của những người hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao nhưng là chỉ có ý nhắc nhở chúng ta nên nhận thức đúng đắn vai trò, sự đóng góp, đừng để danh lợi, tiếng tăm làm lệch chuẩn giá trị cống hiến của mỗi người trong xã hội.

Lạy Chúa Thánh Thần là nguồn sức mạnh tình yêu,

xin soi sáng các vị hữu trách và những người có khả năng,

giúp họ sớm tìm ra phương thuốc chữa trị dịch bệnh,

xin ban cho các bác sĩ và nhân viên y tế

sức mạnh của tình thương và lòng nhiệt thành quảng đại,

luôn tận tâm tận lực phục vụ các bệnh nhân. 

Chúng con xin trao vào đôi tay từ mẫu của Mẹ Maria,

những lời khẩn nguyện trong cơn đại nạn,

nhờ lời Đức Mẹ chuyển cầu,

xin Chúa nhận lời chúng con. Amen

Bình Minh

Sống Yêu Thương Thời Covid-19

Sống Yêu Thương Thời Covid-19

Đang trong những khó khăn của tình hình dịch Covid-19, dù là người có niềm tin vào Thiên Chúa hay không, chúng ta không thể phủ nhận rằng trong lòng chúng ta đầy ắp nỗi buồn và lo lắng. Chúng ta buồn vì có biết bao người thiệt mạng, buồn vì tình hình dịch bệnh càng ngày càng lây lan mạnh và rộng trên khắp thế giới, buồn vì gia đình ly tán, người còn khỏe mạnh thì có nguy cơ rơi vào đói kém và thất nghiệp…Chúng ta cũng lo lắng vì sợ bản thân, gia đình và những người mình yêu thương cũng có thể bị mắc bệnh bất cứ lúc nào, lo vì thiếu lương thực, lo vì những tệ nạn xã hội xảy ra trong thời dịch, vân vân và vân vân. Nhưng trong đó, điều làm chúng ta ấn tượng đó là tình yêu thương nổi lên trong khó khăn. Tình thương của vị cha chung Giáo hội, tình thương của các bác sĩ và nhân viên y tế, của các linh mục và tu sĩ đang phục vụ tuyến đầu, của những người hảo tâm giúp đỡ cho anh chị em thiếu thốn trong mùa dịch,…So với khó khăn và lo lắng thì tình thương đã được thể hiện không hề thua kém trong đại dịch Covid-19. Tình thương yêu của họ sưởi ấm lòng chúng ta, cho chúng ta thêm hy vọng và động lực để vượt qua khó khăn và lo lắng. Vậy chúng ta sẽ đóng góp yêu thương của chúng ta như thế nào để mang động lực đến với những người khác và làm bừng cháy yêu thương cũng như niềm hy vọng chấm dứt đại dịch với tinh thần của những con người văn minh, nhân ái và biết ơn trong xã hội của chúng ta?

Xin được mạo muội đơn cử 3 điều rất dễ thực hiện vì nó nằm trong khả năng của từng cá nhân.

Thứ nhất, yêu thương bằng cách tuân thủ quyết định cách ly. Các bạn biết không, từ khi có lệnh cách ly toàn quốc, có nhiều bạn trẻ nơi tôi đang phục vụ là vùng đất Phú An chia sẻ rằng họ chỉ thấy cây cỏ, rừng núi và những người thân trong nhà. Các bạn ấy vừa có cơ hội để sống biết giúp đỡ và sẻ chia trong gia đình, vừa thể hiện được sự cảm kích và lòng biết ơn các bác sĩ, dược sĩ, y tá, nhân viên y tế và tất cả những ai đang hi sinh cho các bạn. Họ đã cống hiến thời gian, sức khỏe, gia đình và cả mạng sống của họ cho sự an toàn của chúng ta. Chúng ta có nên không việc ở nhà, đừng du lịch, hay tụ tập vui chơi? Nếu chúng ta kiên nhẫn ở nhà thì những người đang hy sinh ở tuyến đầu ấy sẽ có cơ hội được về nhà sớm hơn để đoàn tụ với gia đình của họ. Chúng ta cũng giảm bớt lo âu cho những người có trách nhiệm trong Giáo hội và xã hội. Chúng ta có nỡ ích kỷ tận hưởng niềm vui riêng của bản thân và của gia đình mình và khinh thường hạnh phúc của người khác mặc kệ ai đang hy sinh và thậm chí mất mạng vì sự an toàn cho chúng ta không?

Thứ hai, yêu thương bằng cầu nguyện. Lời cầu nguyện chân thành của chúng ta có sức biến đổi thế giới. Nó cũng có sức biến đổi lòng người. Trên MXH đang truyền nhau video bé gái người Mỹ mời mọi người cùng cầu nguyện. Em nhớ đến tất cả mọi thành phần trong xã hội. Khi nhìn và nghe em cầu nguyện, chúng ta không khỏi xúc động và cũng thêm động lực để dâng lời cầu nguyện cho thế giới, cho Giáo hội, cho các nạn nhân và gia đình của họ. Ngay nơi tôi đang phục vụ, và có lẽ cũng như thế ở rất nhiều nơi khác, các bạn GLV và nhiều giáo dân chia sẻ là rất nhớ nhà thờ, nhớ những ngày cầu nguyện bên nhau. Hơn bao giờ hết, thế giới cần những lời cầu nguyện của chúng ta, không cần phải đến nhà thờ hay tụ họp với nhau, nhưng lời cầu nguyện chân thành và thổn thức đến từ tâm hồn trước tình hình của thế giới sẽ nối kết chúng ta và nối kết với Chúa hiệu quả hơn. Nếu yêu thương, hãy cầu nguyện như cách thể hiện tình yêu và lòng biết ơn với những gì chúng ta đang nhận được. Chúng ta có thể thinh lặng lắng đọng tâm hồn đôi chút ngay giây phút này để dâng lên Chúa lời nguyện chân thành và đang tan nát vì đau khổ của thế giới. Chúng ta cùng nhắm mắt lại và thưa với Cha yêu thương của chúng ta.

Thứ ba, yêu thương bằng đồng hành sáng tạo động lực nâng đỡ người khác. Tình yêu thương có nhiều sáng kiến. Ở nơi giáo xứ tôi đang phục vụ, chúng tôi có nhóm Facebook cho GLV và Giới trẻ. Chúng tôi chia sẻ cầu nguyện, thông tin, những hình ảnh, những video để khích lệ nhau và duy trì tình đoàn kết và yêu thương nhóm trong thời gian cách ly toàn quốc này. Các bạn à, trong bối cảnh hiện nay, đây là phương pháp hiệu quả để chúng ta có thể đồng hành với nhau. Khi nhận được những tin nhắn, những cuộc gọi hoặc những danh ngôn, châm ngôn, video khích lệ, cám ơn hoặc đơn giản chỉ để thư giãn, tôi cũng cảm thấy trong lòng mình ấm lên. Có thể tất cả chúng ta cũng cùng chung tâm tình như vậy phải không ạ? Vậy hãy để trái tim của chúng ta mách bảo những kiểu sáng tạo để chúng ta có thể trao gửi yêu thương và nâng đỡ cho nhau, nhất là trong thời gian mà chúng ta bị hạn chế về thể lý trong thời gian này nhé!

Những điều ở trên không quá khó để chúng ta thể hiện tình yêu thương và lòng biết ơn đối với những người đã trao gửi tình thương yêu cho chúng ta trong thời gian này phải không ạ? Giờ thì đến lượt chúng ta trao gửi tình yêu và sự trân quý với những ai đã cống hiến cho chúng ta bằng 3 điều rất đơn giản:

  • Yêu thương bằng cách tuân thủ quyết định cách ly
  • Yêu thương bằng cầu nguyện
  • Yêu thương bằng đồng hành sáng tạo động lực nâng đỡ người khác.

Và chúc tất cả những ngày thật vui, hạnh phúc và ý nghĩa!

Nt. Têrêsa Mai Hường, OP.

Các tín hữu Việt Nam còn xa lạ với “Đàng Ánh Sáng”

CÁC TÍN HỮU VIỆT NAM CÒN XA LẠ VỚI “ĐÀNG ÁNH SÁNG”

Trong Mùa Chay và thứ Sáu Tuần Thánh, các tín hữu thường đi Đàng Thánh Giá. Điều này thật dễ hiểu và hợp lý vì khi ngắm Đàng Thánh Giá, chúng ta dừng lại tại một trong 14 nơi (chặng) khác nhau để cầu nguyện hay suy gẫm về những biến cố trong cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, trong Mùa Phục Sinh, tốt nhất, chúng ta nên ngừng đi Đàng Thánh Giá để chuyển sang đi Đàng Ánh Sáng (còn được gọi là Đường Ánh Sáng/ Các Chặng Ánh Sáng/ Các Chặng Phục Sinh), tức suy niệm về Mầu Nhiệm Phục Sinh cùng các biến cố sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại. Thực hành này vừa phù hợp với khung cảnh và bầu khí của Mùa Phục Sinh lại vừa đáp ứng được những đòi hỏi của phụng vụ là việc đạo đức phải tùy thuộc vào phụng vụ, mô phỏng theo phụng vụ, tiếp nối phụng vụ, và bổ túc cho phụng vụ.

CÒN XA LẠ VỚI ĐÀNG ÁNH SÁNG

Tuy nhiên, tại Việt Nam, các tín hữu chỉ quen thuộc với Đàng Thánh Giá (Via crucis) hằng trăm năm qua, còn hầu như không biết đến Đàng Ánh Sáng (Via lucis). Bằng chứng là các nhà thờ và nhà nguyện đều có Các Chặng Thánh Giá hầu giúp các tín hữu dễ dàng thực hành lòng sùng kính đi Đàng Thánh Giá vốn có bề dày lịch sử lâu đời và lại rất cần thiết, nhưng hiếm thấy nơi nào có Các Chặng Ánh Sáng/ Các Chặng Phục Sinh. Nhiều giáo xứ đã có Đàng Thánh Giá trong thánh đường, vẫn làm thêm Đàng Thánh Giá chung quanh nhà thờ, lại còn xây dựng thêm Đàng Thánh Giá tại Đất Thánh nữa, nhưng không thấy Các Chặng Phục Sinh ở đâu cả. Cho đến nay, chỉ có hai tác giả của Việt Nam trình bày về Đường Ánh Sáng: đó là Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn với cuốn sách nhỏ mang tựa đề “Đường Ánh Sáng Theo Thánh Ignatio Loyola” (xem tại đây) và Lm. Phan Tấn Thành, OP với bản văn “Đường Ánh Sáng: Suy Ngắm 14 Chặng Đường Phục Sinh” (xem tại đây). Chúng ta có thói quen đi Đàng Thánh Giá suốt năm phụng vụ, đặc biệt là trong Mùa Chay và thứ Sáu Tuần Thánh, vừa như một hình thức cầu nguyện vừa như là cách huấn giáo về những khổ nạn Chúa Giêsu phải chịu, nhưng vì không biết hay không quan tâm, hiếm khi thấy ai thực hành đi Đàng Ánh Sáng, cả xứ đạo và cộng đoàn tu sĩ cũng vậy.

ĐÀNG ÁNH SÁNG LÀ GÌ?

Đàng Ánh Sáng hay còn gọi là Các Chặng Phục Sinh là một thực hành đạo đức bình dân trong đó chúng ta sẽ lần lượt chiêm ngắm và suy niệm về biến cố phục sinh của Chúa, những lần hiện ra của Ngài sau phục sinh và việc Chúa cử Chúa Thánh Thần đến với Hội Thánh như được ghi lại trong 4 Sách Tin Mừng và Sách Tông đồ Công vụ. Như vậy, Các Chặng Phục Sinh sẽ hoàn tất Các Chặng Thánh Giá.

HÌNH THÀNH NÊN ĐÀNG ÁNH SÁNG

Có những lý do sau đây góp phần hình thành nên thực hành đi Đàng Ánh Sáng ngày nay:

  • Thứ nhất, lòng sùng mộ này được truyền cảm hứng khi người ta khám phá ra những lời của thánh Phaolô trong thư gởi cho tín hữu Côrintô được khắc ghi trên các bức tường cổ xưa tại hang toại đạo thánh Callisto ở Rôma. Câu này là: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1Cr 15,3-8). Những lời trên đầy nhằm đáp lại một bản báo cáo cho biết rằng vài thành viên trong Hội Thánh đã phủ nhận mầu nhiệm Chúa Phục Sinh.
  • Thứ hai, đã có nhiều dân tộc đón nhận và thực hành việc đạo đức đi Đàng Ánh Sáng bằng cách suy niệm về những lần Chúa hiện ra và những bài học đạo đức kèm theo. Nghĩa là, thực hành chiêm ngắm và suy niệm Các Chặng Phục Sinh có thể đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử.
  • Thứ ba, các tín hữu ngày nay không thỏa mãn với chặng kết của 14 Đàng Thánh Giá khi suy niệm về Mầu nhiệm Vượt qua. Theo đó, Mầu nhiệm Vượt qua đạt tới đỉnh cao với biến cố Chúa sống lại và Mầu nhiệm này không thể không có biến cố Chúa Phục Sinh: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.” (1 Cr 15, 17–20). Nói cách khác, Mầu nhiệm Vượt qua là một thể thống nhất, trong đó bao gồm cả toàn bộ biến cố Chúa Kitô chịu nạn, chịu chết và phục sinh vinh hiển. Vì thế, trong phụng vụ chính thức của Giáo Hội hiện nay, biến cố Chúa trỗi dậy từ cõi chết không bị tách rời, nhưng được đưa vào ngay cả thứ Sáu Tuần Thánh. Và đây cũng là lý do tại sao vào Năm Thánh 1975, Đức Phaolô VI đã phê chuẩn một bộ Các Chặng Thánh Giá mới với 15 chặng dựa sát trên bản văn Tin Mừng hơn: từ Bữa Tiệc Ly cho đến kết thúc là biến cố Chúa Kitô phục sinh, chặng thứ XV mang nội dung Chúa sống lại từ cõi chết.
  • Thứ tư, trong 20 Mầu nhiệm kinh Mân côi, rõ ràng chúng ta có cả 5 mầu nhiệm mùa Thương (suy niệm về các biến cố Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu, chịu đánh đòn, chịu đội mũ gai, vác cây thánh giá, và chịu chết trên cây thánh giá) lẫn 5 mầu nhiệm mùa Mừng (suy niệm về các biến cố Chúa Giêsu sống lại, lên trời, và cử Chúa Thánh Thần xuống);
  • Thứ năm, bằng việc phát triển ý tưởng phối hợp những biến cố được khắc ghi ở hang toại đạo của thánh Callisto với các biến cố hậu phục sinh để tạo ra Các Chặng Phục Sinh, cha Sabino Palumbieri, giáo sư môn nhân chủng học tại Đại học Salêdiêng ở Rôma, được coi là người khởi xướng thực hành Đàng Ánh Sáng hiện nay. Vào mùa hè năm 1988, cha đã đề xuất việc tạo ra một hình thức thực hành đạo đức bình dân mới là đi Đàng Ánh Sáng theo mẫu của Các Chặng Thánh Giá, nhưng khác với Các Chặng Thánh Giá, các Chặng mới sẽ tập trung vào biến cố Chúa Phục Sinh và các sự kiện tiếp theo biến cố trọng đại này cho đến thời điểm Chúa Thánh Thần hiện xuống để giúp các tín hữu tham dự vào sự sống và niềm vui của Chúa Phục Sinh. Đàng Ánh Sáng như thế sẽ hướng chúng ta đến khía cạnh lạc quan tích cực và tràn đầy hy vọng trong câu chuyện cuộc đời của người Kitô hữu. Mặc dù không vắng mặt Các Chặng Thánh Giá, nghĩa là không ai tránh khỏi những đau khổ, buồn phiền và thử thách trong cuộc sống, nhưng đời người Kitô hữu không thể bị che khuất bởi sự nhấn mạnh quá đáng về đau khổ. Đúng hơn, đời sống của người Kitô hữu phải nhấn mạnh hơn đến niềm vui và ngập tràn hơn trong hy vọng, bình an và sự sống kỳ diệu của Đấng Phục Sinh

Lòng sùng mộ Đàng Ánh Sáng đã được thừa nhận bởi Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đồng thời được cử hành cách công khai và quy mô lần đầu tiên vào năm 1990, sau đó, ngày càng lan truyền rộng rãi hơn. Xuất hiện từ năm 1988, nhưng 3 năm sau, hình thức đạo đức này mới được ĐGH Gioan Phaolô II giới thiệu cho toàn thể Giáo Hội nhân dịp thứ Sáu Tuần Thánh năm 1991.

HUẤN QUYỀN CỦA HỘI THÁNH

Tài liệu của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích mang tên “Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ” nói về Đàng Ánh Sáng như sau (số 153):

Trong những năm gần đây, có một việc đạo đức, gọi là “Đàng Ánh Sáng” (Via lucis) được phổ biến ở nhiều nơi. Lấy mẫu từ Đàng Thánh Giá, trong Đàng Ánh Sáng các tín hữu được mời bước theo một hành trình lần lượt nhìn lại các lần Chúa hiện ra từ khi Người sống lại cho đến khi lên trời. Qua những lần Chúa hiện ra như thế, và trong cả viễn cảnh Chúa quang lâm sau này, Chúa đã bày tỏ vinh quang của Người cho các môn đệ, trong khi các ngài chờ đợi đón nhận Chúa Thánh Thần mà Người đã hứa ban hiện xuống (x. Ga 14,26; 16,13-15; Lc 24, 29), để củng cố đức tin của các ngài, hoàn thành các lời Người giảng dạy về Nước Trời, và sau cùng, định hình cơ cấu bí tích và phẩm trật của Giáo Hội.

Việc đạo đức đi Đàng Ánh Sáng giúp giáo dân nhớ lại biến cố trung tâm của đức tin – sự Phục Sinh của Đức Kitô – và địa vị làm môn đệ của mình, mà bí tích Rửa Tội đã đưa họ từ đêm tối của tội lỗi đến ánh sáng của ân sủng (x. Cl 1,13; Ep 5,8).

Qua nhiều thế kỷ, Đàng Thánh Giá, vốn giúp cho các tín hữu tham dự vào biến cố khởi đầu của mầu nhiệm Phục Sinh – cuộc Thương Khó – đã góp phần vào việc định hình những khía cạnh khác nhau của nội dung cuộc thương khó ấu trong cảm thức của giáo dân, Ở thời đại chúng ta, cũng tương tự như thế, Đàng Ánh Sáng cũng giúp hiện tại hóa nơi các tín hữu thời điểm thứ hai hết sức trọng yếu của cuộc Vượt Qua của Chúa, là sự Phục Sinh, với điều kiện việc đạo đức này diễn ra theo đúng với nội dung Tin Mừng.

Người ta thường nói “qua thập giá tới ánh sáng”. Đàng Ánh Sáng thật sự có thể trở nên một bài sư phạm tuyệt hảo về đức tin. Thực vậy, Đàng Ánh Sáng lấy ẩn dụ là một con đường phải đi, giúp các tín hữu hiểu rõ hơn hành trình thiêng liêng, khởi đi từ nhận thức về thực tại đau khổ, mà theo ý định của Thiên Chúa, thực tại này không phải là điểm dừng cuối cùng của cuộc đời con người, và tiến đến niềm hy vọng được đạt tới mục đích đích thực mỗi người theo đuổi: sự giải thoát, niềm vui, bình an, vốn là những giá trị chủ yếu của Phục Sinh.

Sau cùng, trong một xã hội thường được mang dấu ấn của lo âu và hư vô, tiêu biểu cho “nền văn hóa sự chết”, Đàng Ánh Sáng, ngược lại, làm nên một kích thích tố hiệu quả giúp xây dựng “nền văn hóa sự sống”, nghĩa là nền văn hóa biết đón nhận những trông đợi của hy vọng và các xác quyết của đức tin.”

DANH SÁCH CÁC CHẶNG PHỤC SINH

Kể từ năm 2007, người ta thấy danh sách Các Chặng Phục Sinh không thống nhất trên toàn cầu, cũng như không có thẩm quyền nào trong Giáo Hội tìm cách áp đặt một danh sách dứt khoát cả. Kết quả là một số nhà thờ đã xây dựng Các Chặng Phục Sinh theo sơ đồ và ý định riêng không trùng với những nơi khác. Điều này cũng tương tự như lịch sử hình thành nên danh sách Các Chặng Thánh Giá, nghĩa là Đàng Thánh Giá chỉ đạt được hình thức chính thức và thống nhất như hiện nay sau nhiều thế kỷ trước những thực hành khác nhau ở các địa phương khác nhau. Thật vậy, từ ban đầu, con số Các Chặng Thánh Giá tại Giêrusalem ít hơn 14 và thay đổi theo vùng cũng như theo thời gian, có thể là 11, 12, 19, 25, 37 hay 43 Chặng riêng rẽ; thậm chí ngay tại một nơi, con số cũng không chính xác như nhau. Truyền thống 14 Chặng có lẽ phát xuất từ Louvain (năm 1505), rồi tại Tây Ban Nha hồi đầu thế kỷ XVII, đặc biệt trong các cộng đoàn Dòng Phanxicô. Hình thức 14 Chặng Thánh Giá được chọn lựa và thiết lập một cách vững chắc và chính thức vào thế kỷ XVIII bởi Đức Clêmentê XII (năm 1731).

Về số lượng Các Chặng Ánh Sáng, nhằm nhấn mạnh đến tính bổ túc và cân đối giữa Các Chặng Thánh Giá và Các Chặng Phục Sinh, mặc dù Kinh Thánh chỉ kể ra 7-8 lần hiện ra của Đấng Phục Sinh, người ta đã đồng thuận với nhau là chia nhỏ những lần hiện ra để tạo ra phiên bản 14 Chặng Phục Sinh tương ứng với 14 Chặng Thánh Giá theo truyền thống. Dầu có thể tồn tại những phiên bản khác biệt ở cấp địa phương về danh sách Các Chặng Phục Sinh, dường như danh sách sau đây ngày càng được công nhận (có thể xem hình ảnh 14 Chặng Đàng Phục Sinh tại “Stations of the Resurrection with Pictures – Via Lucis” ):

1) Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết (Mt 28, 5b-6a)

2) Các môn đệ tìm thấy ngôi mộ trống (Ga 20,8)

3) Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với bà Maria Mácđala (Ga 20, 14b-18)

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
Nguồn: WHĐ 

CÁM ƠN VÌ ĐƯỢC THỞ MIỄN PHÍ – Phút Cầu Nguyện, Thứ Hai 20/04/2020

Một cụ già 93 tuổi bị nhiễm virus Covid 19 được đưa vào bệnh viện để điều trị. Tại đây cụ phải dùng máy thở trong nhiều ngày để duy trì sự sống. Khi được xuất viện, cầm bill của bệnh viện trên tay, cụ bật khóc. Nhân viên y tế ngạc nhiên hỏi:

“Cụ sao thế? Cụ lo lắng về số tiền phải trả trên bill à? Không sao, nếu cụ khó khăn thì chúng tôi sẽ hỗ trợ viện phí cho cụ”. Lúc bấy giờ cụ già đáp:

“Không, tôi thanh toán được số tiền bill này dù nó khá nhiều. Nhưng khi phải trả một món tiền lớn để được thở trong vài ngày, tôi chợt hiểu rằng từ hơn 90 năm nay CHÚA CHO TÔI THỞ MIỄN PHÍ mà tôi không hề biết ơn Ngài. Tôi khóc VÌ HỐI HẬN CHO SỰ VÔ ƠN CỦA MÌNH.

Quý vị và các bạn thân mến!

Vâng! Còn biết bao điều MIỄN PHÍ khác xuất phát từ một TÌNH YÊU MIỄN PHÍ mà Thiên Chúa “cho không, biếu không” cho con người. Và phàm điều gì có được quá dễ dàng, quá no thỏa thì con người không còn cảm thấy quý và nhất là không còn lòng biết ơn khi được nhận. Rõ ràng khi được hít thở tự do, chúng ta cảm thấy không cần phải cám ơn Thiên Chúa. Đến khi vào bệnh viện phải trả tiền mới được thở oxy bằng máy mới biết trân trọng thời gian mình được thở tự do. Chúa cho được thì lấy được nhưng dĩ nhiên Ngài không bao giờ làm như thế. Giờ thì đến không khí cũng phải mua thì hãy xem đó như một sự cảnh báo. Hãy biết cám ơn vì mỗi hơi thở của mình cũng như biết hối hận cho sự vô ơn của bản thân. Cũng chính sự vô ơn này mà chúng ta chỉ biết trách móc vì những điều chúng ta chưa có, nhưng không bao giờ chịu nhận ra vô số ân huệ mà Chúa ban cho chúng ta trong cuộc sống này.

Trong tương quan giữa con người với nhau cũng thế. Chúng ta cũng không cảm thấy phải biết ơn những người khác khi họ làm điều tốt cho mình vì cho rằng đó là bổn phận họ phải thực thi. Thưa không. Trên đời này ngoài cha mẹ, không ai là có bổn phận phải tốt với bạn cả. Và trong thực tế ngay cả khi cha mẹ không tốt thì bạn cũng phải chấp nhận điều ấy như một số phận. Không thiếu những bậc cha mẹ bỏ rơi, lợi dụng hay hành hạ chính con ruột của mình đó sao?

Có thể chúng ta cho rằng mình nhận được sự tử tế của người khác là do mình đã sống tốt và hoàn toàn xứng đáng để nhận sự đáp trả đó. Thưa cũng không. Thiên Chúa yêu chúng ta cách nhưng không. Chúng ta xứng đáng được Ngài yêu thương, chăm sóc sao? Với tha nhân, cũng hãy suy nghĩ như vậy vì Chúa ở trong người anh em của mình. Khi ai đó làm điều tốt cho mình, cho dù họ chỉ thực hiện theo bổn phận thì chúng ta cũng nên có lòng biết ơn. Nếu họ tử tế vì những gì tốt đẹp chúng ta đã mang lại cho họ, thì chúng ta càng nên có lòng biết ơn vì họ đã nhận ra giá trị bản thân của chúng ta.

Cố Tổng thống Mỹ Kennedy có nói: “Khi diễn tả lòng biết ơn của mình, chúng ta đừng quên rằng ý nghĩa cao nhất của lòng biết ơn không nằm ở những lời cám ơn ta thốt ra, nhưng nằm ở hành động ta sống với lòng biết ơn đó.” Hãy cám ơn Chúa và luôn trao ban cho nhau những hành vi thể hiện lòng biết ơn cách hào phóng và đúng thời điểm, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ lòng vì “kẻ tạo ơn và người biết ơn đều được nhấm nháp hương vị ngọt ngào như nhau!”

Lạy Chúa Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh, chúng con xin ca ngợi tình thương vô bờ bến của Chúa và xin giúp chúng con luôn cảm nhận được tình yêu này trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời mình. Xin cho chúng con không chỉ biết cám ơn hồng ân của Ngài ban trên môi miệng, mà còn biến nó thành hành động là sống yêu thương mọi người, luôn chu toàn bổn phận hằng ngày của mình trong tình yêu với Chúa và tha nhân. Amen.

Bình Minh

5 câu châm ngôn từ Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh có thể giúp bạn vượt qua đại dịch coronavirus

5 câu châm ngôn từ Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh có thể giúp bạn vượt qua đại dịch coronavirus

Nguyên bản tiếng Anh: These 5 Maxims from Padre Pio Will Help You Get Through Coronavirus – Laura Dittus, National Catholic Register.

5 câu châm ngôn này có thể được tóm tắt bằng câu nói được Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh lặp đi lặp lại: “Hãy cầu nguyện, hy vọng và đừng lo lắng”

Laura Dittus

Đầu năm nay, tôi đã tìm đọc một số sách tiếng Tây Ban Nha để cải thiện các kỹ năng ngôn ngữ và nghĩ rằng sẽ tốt hơn khi đọc một tiểu sử truyền cảm hứng. Tôi thực không ngờ Chúa đã quan phòng cách kỳ diệu cho tôi, để tôi chọn một cuốn sách nói về Cha Thánh Piô Năm Dấu Thánh thành Pietrelcina.

Cha Thánh Piô không chỉ là một vị thánh được mang Năm Dấu Thánh Chúa, nhưng còn đặc biệt hơn là ngài còn có khả năng xuất hiện ở cả hai nơi cùng một lúc. Ngài có các đặc sủng khi giải tội và trong nhiều trường hợp khác nữa. Tuy nhiên, có một điều không mấy khi được nhắc đến, nhưng có tính chất thời sự đối với chúng ta trong giai đoạn này, là ngài đã từng sống qua đại dịch cúm Tây Ban Nha kinh hoàng, một đại dịch tàn khốc xảy ra vào đầu thế kỷ 20. Thật là an ủi trong thời đại hiện nay khi có những vị thánh đã sống qua thời kỳ dịch bệnh này để chúng ta chạy đến nhờ các ngài cầu thay nguyện giúp, đồng thời học hỏi từ những vị thánh ấy những câu nói truyền cảm hứng và những tấm gương về một cuộc sống đạo đức. Cha Thánh Piô là một trong những vị này này.

Cha Thánh Piô là một nhân vật đầy ấn tượng rồi, nhưng ngài có một mối quan hệ đặc biệt với thời điểm đại dịch này vì chính ngài đã nhiễm virus H1N1 là con virus đã gây ra đại dịch Cúm Tây Ban Nha, kéo dài từ tháng Giêng 1918 đến tháng 12, 1920, lây nhiễm 500 triệu người, tức là 1 phần 3 dân số thế giới vào thời đó, và giết chết ít nhất 17 triệu người, có các tài liệu còn cho rằng có đến 50 triệu trường hợp tử vong. Ngài đã nhiễm virus H1N1 sau khi có Năm Dấu Thánh Chúa trên người không bao lâu. Một vài vị thánh đã nhiễm virus H1N1 và đã chết vì con virus đó như hai thánh Francisco và Jacinta Marto, là hai trong ba trẻ đã được thấy Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Cha Piô bị nhiễm virus nhưng đã hồi phục và tiếp tục sống một cuộc đời linh mục đầy hoa trái và hương thơm thánh thiện sau giai đoạn đó của cuộc đời.

Sau khi tìm hiểu một chút về cuộc sống của Cha Piô, tôi muốn tìm hiểu sâu hơn một chút về các tác phẩm của ngài. Khi đọc các bài viết của Cha Piô, tôi tình cờ gặp một số câu thật khôn ngoan, thật đáng khích lệ trong ánh sáng của những gì đang xảy ra trong thế giới của chúng ta ngày hôm nay, mặc dù tôi đã đọc những lời ấy vài tháng trước khi “social distance”, hay “khoảng cách xã hội”, trở nên một cụm từ thông dụng tại Mỹ. Một trong những trích đoạn trong những lá thư của Cha Piô mà tôi đọc lại vào tháng Hai năm nay được viết vào năm 1917 cho một trong những cô con gái tinh thần của ngài, là cô Antonietta Vona. Trong bức thư đó, ngài viết như sau:

Đừng lo sợ về bất kỳ tác hại nào trong tương lai có thể xảy ra với con trên thế giới này, bởi vì có lẽ điều đó có thể sẽ không xảy ra với con, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào nếu nó đến với con, Chúa sẽ cho con sức mạnh để chịu đựng nó… Nếu Chúa để con phải trải qua vùng nước đầy bão tố của nghịch cảnh, đừng nghi ngờ, đừng sợ hãi. Chúa luôn bên cạnh con. Hãy có can đảm và con sẽ được bình an. (Thư III, trang 833)

Đoạn văn này đưa ra cho chúng ta nhiều ủi an. Chúng ta được khuyên đừng “sợ hãi trước bất kỳ tác hại nào trong tương lai” vì nó có thể không bao giờ xảy ra. Chúng ta cũng được khuyên “hãy có can đảm”. Ở đây, ta nhớ rằng những lời mà Cha Piô viết là vào năm 1917, có thể không liên quan gì đến đại dịch sẽ xảy ra sau này ở Ý, từ 1918 đến 1919, nhưng được đưa ra trước sự kiện đó và vì thế chắc chắn đã an ủi cô con gái tinh thần của ngài khi trận dịch xảy ra.

Trong cùng một bức thư, Cha Piô cũng đưa ra cho Antonietta một số cụm từ nhất định để in sâu vào tâm hồn cô: “Đây là điều cha cảm thấy phải nói với con hôm nay trong Chúa: Để có thể sống một cuộc đời đạo đức liên tục, con hãy ghi nhớ một số câu châm ngôn xuất sắc và mạnh mẽ này trong tâm hồn con.” (Thư III, tr. 830)

Năm câu châm ngôn mà Cha Piô dành cho cô trong bức thư này là:

“Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (Rôma 8:28)

“Thiên Chúa là Cha chúng ta”

“Các con có thiếu thốn gì không?” (Luca 22:35)

“Đời đời”

“Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gal 6:14)

Những câu châm ngôn này tốt cho bất kỳ dịp nào, nhưng ta có thể thấy giá trị đặc biệt của những châm ngôn ấy khi phải sống trong tình huống đại dịch này. Sự thật rằng “Thiên Chúa là Cha chúng ta” mang lại niềm an ủi rằng chúng ta luôn ở dưới sự chăm sóc quan phòng của Ngài, được yêu thương và bảo vệ, và rằng, ngay cả nếu chúng ta phải kinh qua những tình huống khó khăn, Chúa luôn ở với chúng ta.

Tôi thấy các châm ngôn trên thật là hữu ích vào thời điểm này, thêm vào đó tôi cũng muốn nhắc đến một cụm từ thường được Cha Piô lặp đi lặp lại: “Hãy cầu nguyện, hy vọng, và đừng lo lắng.” Những lời này có thể đóng vai trò như một phương châm nổi bật cho thời gian này, và thật sự đối với bất kỳ thời điểm nào trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta luôn được kêu gọi để cầu nguyện, để tin tưởng vào Chúa, và đừng đầu hàng trước những lo lắng của chúng tôi.

Xin Cha Piô cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, và cho chúng ta nhận ra đang được sống khoảnh khắc hiện tại trong sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta có thể nghe vang vọng những lời này của ngài – “Quá khứ của con, lạy Chúa, xin dâng lên lòng thương xót Chúa; hiện tại của con, xin phó dâng cho tình yêu Chúa; và tương lai con, xin tín thác nơi sự quan phòng của Người” – và hãy lấy những lời này làm những lời cầu nguyện của chúng ta, và phó thác cho sự bảo vệ của Cha chúng ta ở trên trời, cùng với sự cầu bầu của Mẹ Thiên Chúa.

Đặng Tự Do
18/Apr/2020