Video

Tết, Tết là gì?

Tết, Tết là gì?

Vào mùa xuân, thế giới tự nhiên như bừng tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Cái lạnh lẽo và khắc nghiệt qua đi, nhường chỗ cho những tia nắng hồng ấm áp ló dạng, đánh thức những nhành cây trơ trụi, làm chớm hé nơi đó những nụ hoa tươi. Tiết trời có chút se lạnh, một cái lạnh không làm người ta sợ như mùa đông, nhưng một cách nhẹ nhàng, nó làm người ta giật mình vì có một cái mới gì đó đang đến. Sự sống như trở lại. Lòng người cũng theo đó mà vui hơn.

Nhắc đến Tết là nhắc đến một sự bắt đầu. Cuộc đời cứ mãi là một chuỗi những bắt đầu. Nhưng sự bắt đầu của năm nay không giống như sự bắt đầu của năm trước. Năm trước là cái đã qua đi; nó đã thuộc về miền ký ức, đã chết đi cùng dòng thời gian. Cái bắt đầu của năm nay là cái mới, tuy nó cũng không hoàn toàn biệt lập hay tách ra khỏi lịch sử. Tia nắng đầu tiên của ngày Tết là cái nguyên đán, cái tinh tuyền, tinh khôi. Nó đưa người ta vào một khung trời khởi động mới. Nó mời gọi người ta hướng đến một chặng đường phía trước với tất cả niềm hy vọng và hân hoan.

Tết là thời khắc của niềm vui. Niềm vui của sự sum vầy. Các thành viên trong gia đình quây quần bên nhau, trao cho nhau tình nồng quý mến. Bạn bè cũng cố gắng gặp gỡ nhau, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, chia sẻ cho nhau những dự tính sắp tới. Người ta dành cho nhau nhưng câu chúc tốt đẹp. Người ta tha hồ mơ mộng đến những viễn tượng đầy màu sắc của năm nay. Người ta cố sửa soạn để biến mình trở nên đẹp nhất có thể, vì cái đẹp là biểu tượng của niềm hạnh phúc, của sự may mắn, của điều tuyệt vời.

Nhưng ít bao giờ người ta để ý: Tết cũng là nỗi buồn của biết bao nhiêu người.

Đó là nỗi niềm của người già vì chẳng biết mình còn được Tạo Hoá cho hít thở không khí dưới gầm trời này bao lâu nữa. Mỗi cái Tết qua là sự sống trong mình như ngắn lại. Niềm vui của người trẻ đã cướp đi tuổi thanh xuân của người già. Thêm một tuổi, thấy cũng chẳng là gì. Nhưng cái “một tuổi” ấy cứ cộng lại từng năm, ta dường như đã quên đi mất: từ bao giờ mình đã không còn hứng thú với cái Tết nữa. Chỉ biết vui cùng niềm vui của lũ trẻ; chứ mình, còn gì để mà vui!

Đó cũng là giọt nước mắt của người xa quê vì cảm thấy một khoảng trống kinh khủng trong tâm hồn mình. Mùa Tết là mùa sum vầy, còn mình thì cô đơn nơi góc phòng quạnh vắng, vọng ký ức về miền xa xăm, cố níu kéo một niềm vui cũ kỹ nào đấy của quá khứ. Thèm được cái ôm, cái hôn. Thèm được nghe câu chúc. Thèm được cùng chúng bạn cất cao bài hát xuân. Để rồi, trong cái mông lung của nỗi nhớ, dòng lệ buồn cứ cuồn cuộn xé nát con tim.

Đó là nỗi lắng lo của những người đang lâm vào cảnh thiếu thốn vì chẳng biết mình sẽ đón Tết bằng cái gì đây. Người ta có quần áo đẹp, có nhà cao cửa rộng, có bánh mứt hạt dưa, chậu hoa tươi tắn… hăm hở chờ ngày đón Xuân. Còn mình, Tết hệt như một ông khổng lồ đè nặng trên vai. Miếng ăn hàng ngày còn không có, lấy đâu ra những thứ xa xỉ như người ta. Mình khổ đã đành, con cái mình cũng mất đi tuổi thơ hồn nhiên, chỉ bởi vì mình quá nghèo. Cái nghèo cứ đeo bám mình chẳng chịu tha từ năm này qua tháng khác.

Đó cũng có thể là một khoảng trời đen của những người đang mất đi định hướng vì không biết mình sẽ phải đối diện với cuộc sống phía trước như thế nào đây. Tết là khởi đầu, nhưng mình đã quá sợ những cái được gọi là khởi đầu lắm rồi. Cả một năm dài phía trước, với biết bao bế tắt và khốn đốn đang chờ. Ta chỉ muốn dừng lại để trốn tránh, mà thời gian cứ kéo ta đi. Ta sợ khi phải tiến về phía trước, vì chẳng biết, liệu có một hố sâu đen đủi nào ở đó chực chờ nuốt chẳng ta chăng!

Tết, Tết là gì?

Là tất cả những nỗi niềm nhân gian: vui, buồn, hân hoan, sợ hãi… Là cái làm cho người ta hạnh phúc. Là cái làm cho người ta hốt hoảng. Là cái khiến ta phải hoang mang khi đặt mình trước dòng thời gian đang lặng lẽ trôi vô hình, cứ vô tình cuốn đi tất cả những gì tay ta đang nắm.

Nhưng ta vẫn phải vui Tết, dù muốn dù không, vẫn phải sống cuộc sống của mình. Giữa tất cả những thăng trầm biến động, ta chọn cái làm mình vui, lạc quan và hạnh phúc, vì ta biết, ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, cớ gì phải buồn làm chi. Chọn lựa này đích thực là ý nghĩa của chữ “Tết”.

Tết cho ta biết: cái quý nhất trên đời là tình người và cái duy nhất có thể sưởi ấm nhân gian là sự yêu thương san sẻ. Tết nhắc nhở ta rằng mình cứ phải luôn bắt đầu, chẳng khi nào ngừng nghỉ. Tết vẽ ra trước mắt ta một khung cảnh tràn trề hy vọng, nơi mà cuộc sống hứa hẹn sẽ dành tặng cho ta một khung trời mới để tiếp tục thăng hoa và một cơ hội khác để làm lại cuộc đời. Ta vui Tết bằng một niềm vui ngập tràn sức sống: ai thật sự vui Tết, người đó không bao giờ già đi, người đó chỉ thấy mình mỗi ngày được bồi đắp nhiều hơn bằng sự khôn ngoan, bình an và ân sủng.

Đối với tôi, Tết là thế!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Chia sẽ bài viết này trên:

Nhạc cảnh Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu Kitô 2019

Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu

Lạy Chúa, lưỡi đòng nào đâm thấu con tim, đinh nhọn nào còn loang máu đào, sỉ nhục nào con vương trên mắt. Lạy Chúa, những bước nào gục ngã đau thương, bao roi đòn hẳn vết thê lương, đường tình đó Ngài danh cho con.

**Mời Cả nhà cùng xem “Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu”
do nhóm “Những Người Bạn nhỏ của Chúa Giêsu” thực hiện.
– GX An Phú : 19/04/19

Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu

Cuộc Thương Khó Của Chúa GiêsuLạy Chúa, lưỡi đòng nào đâm thấu con tim, đinh nhọn nào còn loang máu đào, sỉ nhục nào con vương trên mắt. Lạy Chúa, những bước nào gục ngã đau thương, bao roi đòn hẳn vết thê lương, đường tình đó Ngài danh cho con.**Mời Cả nhà cùng xem "Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu"do nhóm "Những Người Bạn nhỏ của Chúa Giêsu" thực hiện.- GX An Phú : 19/04/19https://youtu.be/hfgtTcDQG7E

Người đăng: Giáo Xứ An Phú – Hạt Tân Định – TGP Sài Gòn vào Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Cậu bé thiên tài 12 tuổi muốn chứng minh “Thiên Chúa thật sự tồn tại”

Cậu bé thiên tài 12 tuổi muốn chứng minh “Thiên Chúa thật sự tồn tại”

6 tháng tuổi, bắt đầu nhận dạng được chính xác các con số.
7 tháng tuổi, nói được những câu hoàn chỉnh.
21 tháng tuổi, biết làm tính cộng.
2 tuổi biết làm tính nhân, đọc được sách dành cho trẻ em, và viết được một cuốn sách 9 trang của chính mình, nhan đề “Chú mèo hạnh phúc”.

Đến năm 3 tuổi, William biết bảng chữ cái bằng ba thứ tiếng
4 tuổi, học đại số, ngôn ngữ ký hiệu, đọc tiếng Hy Lạp. “Nó luôn luôn có mối quan tâm đặc biệt đến các con số”, ông Peter nói.
5 tuổi, đọc toàn bộ một cuốn sách giáo khoa hình học dày 209 trang chỉ trong một đêm và lúc thức dậy vào sáng hôm sau đã giải những bài toán về chu vi, bộc lộ thiên hướng toán học rõ rệt.
Lúc 7 tuổi, là một chuyên gia về lượng giác…

 

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Mẹ Lộ Đức và thánh nữ Bernadette

Đức Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous, ngày 11 tháng 02 năm 1858 và những ngày kế tiếp, tất cả là 18 lần


Lộ Đức là trung tâm hành hương quốc tế. Tôi được diễm phúc hành hương đến Đức Mẹ Lộ Đức. Từ Rôma qua hướng Tây Ban Nha, vượt đỉnh Pyrênê đến miền Nam nước Pháp. Lộ Đức nằm ở một vị trí khá hẻo lánh, thuộc một tỉnh nhỏ. Nơi đây, từng giờ từng phút, khách thập phương tấp nập đổ về để dâng lễ, cầu nguyện và xin ơn với Đức Mẹ.

Khi bước vào Vương Cung Thánh Đường Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi thấy bên phải, có phiến đá cẩm thạch ghi lời tuyên bố long trọng của Đức Giám Mục Laurence về những lần hiện ra của Đức Mẹ: “Chúng tôi tuyên bố rằng Đức Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã thực sự hiện ra với Bernadette Soubirous, ngày 11 tháng 02 năm 1858 và những ngày kế tiếp, tất cả là 18 lần, trong hang động Massabielle, gần thành Lộ Đức; rằng sự hiện ra này mang tất cả những tính cách của sự thật, và các giáo hữu đều đã tin là chắc chắn. Chúng tôi xin dâng cách khiêm nhượng sự phán đoán của chúng tôi cho Sự Phán Đóan của Đức Giáo Hoàng, Vị được giao trọng trách guồng lái Giáo Hội hoàn vũ “.

Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần tại Hang đá Lộ Đức, từ ngày 11 tháng 02 đến ngày 16 tháng 07 năm 1858.

Ngày 28 tháng 07 năm 1858, Đức Giám Mục địa phận Lộ Đức đã thiết lập Ủy Ban Điều Tra về những lần Đức Trinh Nữ Maria hiện ra tại hang đá Massabielle. Công việc điều tra kéo dài trong 4 năm.

Trang web: lourdes-france.com, cho biết công việc nghiên cứu điều tra tỉ mỉ và sự phân định sáng suốt, trong lời kinh nguyện. Sau 4 năm, ngày 18 tháng 01 năm 1862, Đức Giám Mục, nhân danh Giáo Hội, nhìn nhận những lần hiện ra là đích thực. Giáo Hội nhìn nhận chính thức những lần Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, dựa trên chứng từ xác quyết của cô Bernadette Soubirous.

Đức Thánh Cha Lêô XIII chấp thuận mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Thánh Cha Piô X cho phép toàn thể Giáo hội mừng lễ này vào ngày 11.2 hàng năm.

Chúng tôi dâng lễ tại Hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra. Cạnh bàn thờ dâng lễ là mạch nước chảy không ngừng từ trong Hang Đá. Ngày nay, mạch suối này được dẫn xuôi theo Nhà thờ tới chân tháp để khách hành hương tới lấy nước và uống nước suối này. Tôi uống liền mấy ly và đem về 5 lít nước để tặng cho bà con giáo dân.

Hành hương về Lộ Đức, tôi được hiểu biết thêm nhiều về lịch sử và sứ điệp Đức Mẹ nhắn gửi qua thánh nữ Bernadette.

Bernadette là một cô bé 14 tuổi, không biết đọc, không biết viết, con một gia đình nghèo ở Lộ Đức. Gia đình cô tạm trú tại một nơi trước kia dùng làm nhà giam. Nơi tồi tàn này, cả gia đình gồm ông bà thân sinh và bốn chị em Bernadette làm nơi nương thân. Đức Mẹ muốn chọn một cô bé nơi nghèo hèn để làm sứ giả của Mẹ.

Theo lời kể của Bernadette. Hôm đó là ngày thứ năm, 11.02.1858, được nghỉ học, Bernadette xin phép mẹ đi nhặt củi. Bình thường theo dọc bờ sông Gave, có rất nhiều cành cây khô. Nhưng suốt buổi sáng đó, dường như chị em của Bernadette không nhặt được bao nhiêu. Bernadette mới tiến đến một hang động gần đó mà dân làng quen gọi là Massabielle. Cô đang loay hoay nhặt củi, từ trong hang đá, một thiếu nữ diễm lệ xuất hiện và đứng trên một tảng đá, ánh sáng bao trùm cả hang Massabielle. Theo lời mô tả của cô, thì người thiếu nữ chỉ trạc độ 16, 17 tuổi. Bernadette tưởng mình như đang mơ. Cô bước thêm bước nữa. Người thiếu nữ diễm lệ chỉ mỉm cười. Trong cơn xúc động, Bernadette lấy tràng chuỗi từ trong túi áo ra và bắt đầu đọc kinh Kính Mừng. Khi Bernadette vừa lần xong chuỗi mân côi, người thiếu nữ làm hiệu cho cô tiến lại gần hơn. Bernadette say sưa ngắm nhìn và tiếp tục đọc kinh cho đến khi ánh sáng bao trùm người thiếu nữ nhạt dần và tắt hẳn.

Cô về nhà kể lại biến cố ấy, nhưng chẳng ai tin cô. Chính cha mẹ cô cũng không muốn cho cô trở lại hang đá nữa. Nhưng như có một sức hấp dẫn lạ kỳ nào đó khiến cô vẫn trở lại hang đá ấy.

Sau lần này, cô còn được trông thấy “người thiếu nữ diễm lệ” hiện ra 17 lần nữa. 

Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 18.02.1958, người thiếu nữ ấy mới bắt đầu nói với cô: “Con có vui lòng đến đây liên tiếp 15 ngày nữa không? Ta không hứa sẽ làm cho con được sung sướng ở đời này, nhưng là ở đời sau.”.

Trong 15 ngày tiếp đó, người thiếu nữ đã nhắn nhủ và truyền cho Bernadette nhiều điều. Cô kể : “Bà dặn tôi nhiều lần rằng: Hãy sám hối, hãy nói với các linh mục xây một nhà nguyện ở đây, hãy đến uống và rửa ở suối này, phải cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn hối cải. Trong vòng 15 ngày ấy, Bà còn nói với tôi 3 điều và dặn tôi không được nói với ai. Tôi vẫn trung thành giữ kín. Sau ngày thứ 15, tôi hỏi Bà 3 lần liên tiếp: Bà là ai? Nhưng Bà chỉ mỉm cười. Tôi đánh bạo hỏi thêm lần thứ tư. Lúc ấy, Bà mới buông tay xuống, ngước mắt nhìn lên trời rồi vừa nói vừa chắp tay trước ngực: ‘QUE SOY ERA IMMACULADA COUNCEPTIOU’”. Đó là thổ âm của vùng Lộ Đức lúc bấy giờ, được dịch ra tiếng pháp là: ‘Je suis l’Immaculée Conception’, và dịch sang tiếng Việt Nam là: ‘Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội’

Các bậc khôn ngoan chống đối, dân chúng xúc động, cảnh sát thẩm vấn Bernadette nhiều lần. Cô bình thản trả lời và không hề nao núng trước những lời đe dọa. May mắn là cô không bị vướng mắc vào những tiểu xảo của người thẩm vấn. Các nữ tu dạy học cũng tỏ ra bất bình, còn Bernadette vẫn luôn giữ được thái đô khiêm tốn lịch sự.

Ngày 25.2.1858,một đoàn người cảm kích theo cô sau khi cầu nguyện, Bernadette đứng dậy, ngập ngừng tiến tới gần hang đá rồi quì xuống. Theo lệnh của “người thiếu nữ diễm lệ”, cô cúi xuống lấy tay cào đất. Một dòng nước vọt lên. Dòng nước đó đến nay cứ chảy mãi, cứ 24 tiếng đồng hồ là có khoảng 120.000 lít nước chảy ra.

Ông biện lý cho gọi Bernadette tới. Ông chế giễu, tranh luận và đe dọa cô nữa. Cuối cùng ông kết luận :

 – Cô hứa với tôi là sẽ không tới hang đá nữa chứ ?

Nhưng Bernadette bình tĩnh trả lời cách rõ ràng.

 – Thưa ông, cháu không hứa như vậy.

Cha sở tỏ ra nghi ngại, ngài cấm các linh mục không được tới hang. Khi Bernadette tới gặp ngài và thuật lại ““người thiếu nữ diễm lệ” nói : Ta muốn mọi người tổ chức rước kiệu tại đây”.

Cha sở liền quở trách và gằn từng tiếng :

– Con hãy nói với bà ấy rằng, đối với cha sở Lộ Đức, phải nói cho rõ rệt. Bà muốn những buổi rước kiệu và một nhà nguyện à ? Trước hết Bà phải cho biết Bà tên là gì và làm một phép lạ đã chứ.

Dòng nước vẫn chảy thành suối. Dân chúng vẫn lũ lượt kéo nhau tới, những kẻ hoài nghi phải chùn bước. 

Đã có những phép lạ nhãn tiền : 

– Một người thợ đẽo đá mù lòa đã thấy được ánh sáng.

– Một phụ nữ bại tay sáu năm nay bình phục.

– Một em bé hai tuổi bệnh hoạn đang hấp hối trước những cặp mắt thất vọng của cha mẹ. Họ nghèo lắm, bà hàng xóm đã dọn sẵn cho một một cái quách. Người cha thở dài : – Nó chết rồi.

Người mẹ chỗi dậy. Không nói một lời nào, bà ôm đứa trẻ chạy thẳng ra hang đá, dìm nó vào trong dòng nước giá lạnh. Dân chúng cho rằng bà khổ quá hóa điên. Sau khi tắm cho bé khoảng 15 phút, bà ẵm con về nhà. Sáng hôm sau, bé hết bệnh. Ba bác sĩ đã chứng thực chuyện lạ này.

Báo chí công kích dữ dội và cho rằng đó chỉ là ảo tưởng. Bernadette vẫn giản dị vui tươi tự nhiên. Hàng ngày cô trở lại hang đá.

Ngày 25.3, cô quì cầu nguyện và khuôn mặt bỗng trở nên rạng rỡ. Rồi cô quay lại nói với vài người có mặt : – Bà nói : Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội.

Vài phút sau, lời Đức Trinh Nữ được truyền từ miệng người này sang người khác. Đám đông cất cao lời cầu khẩn:

– Lạy Đức Mẹ Maria chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Đức Mẹ.

Ngày 8.12.1854, Ðức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trong Hiến Chế Ineffabilis Deus. Hơn ba năm sau, trong lần hiện ra ngày 25.3.1858, Đức Mẹ tự xưng là: “Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.“.

Vào năm 1866, Bernadette được gửi vào dòng Nữ Tu Ðức Bà ở Nevers. Ở đây, sơ trở nên một phần tử của cộng đoàn, và bị sơ giám đốc đệ tử đối xử rất tệ hại. Sự bất nhẫn ấy chỉ chấm dứt khi họ khám phá rằng sơ Bernadette đang chịu đau khổ vì một căn bệnh bất trị. Sơ từ trần ở Nevers vào ngày 15.4.1879, khi mới 35 tuổi. Sơ Bernadette được phong chân phước năm 1925, và được Ðức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1933. Lễ kính thánh nữ vào ngày 16.4 hàng năm.

Lộ Ðức đã trở nên trung tâm hành hương và chữa lành, nhất là đức tin. Ðối với những người có đức tin thì không có gì ngạc nhiên. Ðó là sứ vụ chữa lành của Chúa Giêsu được tiếp tục thể hiện qua sự can thiệp của mẹ Người.

Nhiều người đến Lộ Ðức và trở về với một đức tin được đổi mới, sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa trong các nhu cầu của tha nhân. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người nghi ngờ việc hiện ra ở Lộ Ðức. Ðể nói với họ, có lẽ tốt hơn là dùng những lời mở đầu của cuốn phim “Song of Bernadette”: “Với những ai tin vào Chúa thì không cần giải thích. Với những người không tin, thì chẳng sự giải thích nào đầy đủ.“. (x.nguoitinhuu.com).

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

VỊ VUA THỨ TƯ

Ngày lễ Ba Vua , Phúc âm chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư.

Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài.

Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế những dọc đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết.

Người thứ nhất mà ông đã gặp là một cụ già rét run vì lạnh. Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất.

Ði thêm một đoạn đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng để chuộc lại cô gái.

Cuối cùng khi tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát các hài nhi trong một ngôi làng lân cận.

Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác.

Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình.

Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người cần giúp đỡ.

Lạy Chúa Hài Đồng, quà tặng mà Chúa yêu thích nhất chính là lòng quảng đại của chúng con dành cho tha nhân.

Xin Chúa dạy con luôn mở rộng tâm hồn để cảm thông, mở rộng trái tim để yêu thương, và mở rộng đôi tay để ban phát.

Xin cho con luôn ý thức rằng, nếu con càng quảng đại với anh em thì con càng trở nên giống Chúa nhiều hơn. Amen!

Sưu tầm

Chia sẽ bài viết này trên:

DIỄN NGUYỆN GIÁNG SINH 2018

“Người Đã Viếng Thăm Nhà Chúng Ta”
20g00 thứ Bảy ngày 22 tháng 12 năm 2018


1. Hát Ascoutic “Liên khúc Giáng Sinh: Silent night- Feliz navidad” – Các em Ngành Nghĩa Sĩ, Đoàn TNTT.
2. Ca đoàn Fanxico: “Đêm nay Noel về” – S.tác: Châu Linh
3. Ca đoàn Manigficat: “Noel, Noel” – Sáng Tác: Lm. Thành Tâm
4. Ca đoàn Thiếu Nhi: “Mong chờ Giêsu”
5. Hát + Nhảy “Liên khúc Giáng Sinh (Oh little town of bethlehem + Trời hân hoan (hát) + Extraodinary Merry Christmas – Các em Ngành Thiếu Nhi, Đoàn TNTT.
6. Múa “Tiếng hát thiên thần” – Các em Ngành Ấu Nhi, Đoàn TNTT.
7. Ca đoàn Hiền Mẫu: “Khúc ca Giáng Sinh” – S.tác: Minh Tâm
8. Ca đoàn Thiếu Nhi – Múa : “Đồng dao Noel” – S.tác: Lê Quốc Thắng
9. Tốp ca Hiệp Nhất: “Belem Yude” – S.tác: Lm. Thành Tâm
10. Ca đoàn Giuse: “Quê Hương Thượng Đế” – Nhạc: Lm. Thành Tâm, Thơ: Trần Sỹ Tín & Vũ Khởi Phụng.
11. Ca sĩ Xara: “Huyền diệu đêm thánh” – S.tác Lê Anh Đông
12. Ca đoàn Chúa Chiên Lành: “Mừng Chúa Giáng Sinh” – S.tác: J.F.Wade, Hòa âm: C.F.Gounod
13. Ca đoàn Chúa Chiên Lành: “Chúa Ra Đời” – S.tác: Charles Adam Adolphe, Lời Việt: Anh Linh
14. Ca đoàn Chúa Chiên Lành: “Hát Mừng Chúa Giáng Sinh” – S.tác: Boney M, Lời Việt và Hòa âm: Tiến Linh.
15. Nhóm Sv Nhạc viện Thành phố: Liên khúc “Đêm Thánh Vô Cùng” – S.tác: Franz Gruber, Lời Việt: Hùng Lân, Hòa âm: Hồ Ngọc Linh (Tất cả cùng solo)
16. “Alleluia” – S.tác: Douglas Brenchley
17. “Joy To The World” – S.tác: G.F.Handel

Xin chân thành cám ơn anh Hoàng Xuân Lành đã thực hiện Video này.
https://youtu.be/TCw4iFHFBic
https://www.facebook.com/GXANPHU.NET/videos/296413621012323/
Chia sẽ bài viết này trên:

Bảo tồn gia đình Công Giáo

Trong những ngày áp lễ Giáng Sinh này, tôi có cơ hội nhìn ngắm cách người ta đón ngày lễ trọng đại này. Tại những thành phố lớn, người ta đổ xô đến những khu mua sắm sầm uất. Người ta nô nức đến những khu phố có trưng đèn hoa, cây thông để chụp hình, đăng facebook. Trong những khu phố Công Giáo, người ta thấy những hang đá được dựng lên hoành tráng và công phu. Ở một đoạn phố khác, nhiều đoàn người lướt qua chiêm ngưỡng và râm ran bình phẩm cách bố trí bày biện hang đá. Để cho sôi động, người ta tổ chức múa nhảy với màn biểu diễn của những DJ nóng bỏng ngay trên đường khiến những người đi đường cũng nóng nảy không kém. Ở một khu phố khác lặng lẽ hơn, người ta cũng thấy những hang đá với Thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Giê-su nhưng im ắng và sâu lắng. Nhìn những gam màu cuộc sống khác nhau, nghe những âm thanh của cuộc đời như thế, tôi tự hỏi thực ra người ta làm hang đá để làm gì? Để trang trí vì nó là biểu tượng của Giáng Sinh, hay bởi người ta muốn bảo tồn tính Ki-tô Giáo nơi gia đình mình? Chiêm ngắm gia đình Ki-tô giáo đầu tiên, ta nhận thấy những điều đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trong gia đình Công Giáo ngày nay.

Trước một thế giới tôn thờ vật chất, gia đình Công Giáo hẳn không cầu cho mình giàu có. Người mong giàu có hẳn sẽ chẳng thờ phượng một Hài Nhi sinh ra và sống trong cảnh nghèo hèn như thế. Chẳng thế mà chàng thanh niên giàu có kia đã chán ngán bỏ Chúa mà đi. Người ta đã giàu thì muốn giàu hơn, đã có danh thì muốn thăng tiến hơn. Rốt cuộc, người ta có được cuộc sống thoải mái, nhưng lại chẳng đảm bảo cho mình có đời sống hạnh phúc và viên mãn. Dần dà, người giàu cũng phần nào trở thành một ông thần trong xã hội này. Nhiều người đến với họ nhưng thật khó để biết người ta đến vì quý mến chân thành hay chỉ vì lợi dụng nhau.

Phần Chúa Giêsu, Người dạy các môn đệ hãy xin cho mình có lương thực đủ dùng hàng ngày. Biết đủ, nghèo cũng là giàu; không biết đủ, thừa thãi mà vẫn thấy nghèo. Có lẽ, một khi tôn kính Gia Đình Thánh Gia – một gia đình nghèo, gia đình Kitô Giáo đầu tiên – trong gia đình mình, người ta không sợ mình nghèo. Người ta chỉ sợ mình vì cái nghèo mà không còn sống ngay chính và yêu thương mà thôi.

Trước một thế giới thích bình phẩm công kích, gia đình Công Giáo cũng dễ đánh mất đi sự thinh lặng thánh thiêng. Thánh Giuse là người trải qua những điều khó nói và chẳng biết chia sẻ cùng ai. Ngài đã định tâm bỏ đi trước vị hôn thê đang cưu mang một hài nhi không phải của mình. Còn Đức Maria, người cũng mang nơi mình một sứ vụ cao cả trong công việc Nhà Chúa. Người không biết phải giải thích thế nào để thánh Giuse hiểu. Đúng là phụ nữ nhiều khi sống chịu đựng và chỉ biết thinh lặng. Nhưng nơi thánh Giuse, người ta sẽ thấy, người nam chịu đựng không phải ít. Nếu bảo người nam có quyền quát tháo nói lớn trong nhà, thì nơi thánh Giuse, chúng ta thấy một người chồng sống thầm lặng và vâng phục những điều Chúa gửi tới đến lạ. Nếu nói người nam thích ra lệnh, chỉ tay năm ngón, bắt người khác phục vụ, thì thánh Giuse sống trách nhiệm, bảo vệ và chăm sóc gia đình.

Trong bối cảnh ngày nay, hai chữ “trách nhiệm” đang bị liệt vào sách đỏ, dễ có nguy cơ bị tuyệt chủng, nhường chỗ lại để hai chữ “vứt bỏ” lên ngôi. Người ta sẵn sàng giết chết một sự sống khi con trẻ chưa được chào đời. Người ta sẵn sàng vì lợi ích của mình, vì những điều không mấy dễ chịu trong đời sống vợ chồng mà vứt bỏ luôn cái gọi là “tổ ấm” của những đứa con.

Tôn kính thánh Giuse và Mẹ Maria, hẳn gia đình Công Giáo đang xin cho mình được can đảm đón nhận những biến cố xảy đến trong cuộc đời với thái độ thinh lặng và khiêm tốn. Thinh lặng để nhìn nhận vấn đề cho thấu đáo, khiêm tốn để xin sức mạnh vượt qua điều ấy. Đau khổ và những khó khăn ở đời này dễ làm cho người ta quay quắt, nổi nóng và làm người khác tổn thương. Can đảm đón nhận, thinh lặng nhìn nhận và sống có trách nhiệm không phải là điều dễ dàng!

Rước Gia Đình Thánh vào trong gia đình mình, người ta xin cho mình sống “tình yêu” và “hy sinh”. Chữ “hy sinh” này đang sắp bị tuyệt chủng, còn đáng báo động hơn cả hai chữ “trách nhiệm”. Sự hy sinh đòi hỏi một sự tế nhị và âm thầm. Ngày nay, dễ gì có chuyện mình sẵn sàng hy sinh, nhường nhịn một chút để gia đình êm ấm, thuận hoà. Dễ gì có chuyện vợ chồng hy sinh những thói xấu của nhau để nên một. Dễ gì bỏ được thói quen hút thuốc, say xỉn chỉ vì vợ con. Dễ gì bỏ được thói nói hành, nói xấu, chọc bị gậy, đâm bị thóc. Nhưng ngay cả khi người ta không có sức mạnh để thắng mình đi nữa, thì vì tình yêu, người ta có thể làm tất cả. Hy sinh quảng đại chính là để tình yêu được thắm   nồng. Nhưng yêu thương lại là một ơn. Mà là một ơn, thì người ta chỉ còn biết nài xin và đón nhận. Đau khổ và vui mừng sẽ chẳng biến mất trên cõi đời này, nhưng ước gì khi làm một hang đá trong gia đình, xứ đạo mình, gia đình Công Giáo cũng bảo tồn được sự thinh lặng suy gẫm Lời Chúa, sống sự hy sinh tế nhị, và gia đình được sống trong yêu thương, bình an.

Nhiều đoàn du khách từ khắp nơi đến thăm hang đá làm bằng cát ở quảng trường Thánh Phê-rô. Đâu đó có một bà mẹ đang kể cho đứa con nhỏ nghe câu chuyện về Hài Nhi năm xưa. Và hai mẹ con chắp tay cầu nguyện.

Nguồn : Dòng Tên

Chia sẽ bài viết này trên: