Đền thờ là Nhà Cha Ta – CN III MC B

Đền thờ là Nhà Cha Ta – CN III MC B

Đền thờ có mục đích quy tụ mọi người thành cộng đồng tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Tôn thờ Thiên Chúa trong chân lý là nhận biết những điều chân thật để kính mến và tuyệt đối vâng lời Thiên Chúa. Những điều chân thật đó là: Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và cứu độ, là Chúa và Chủ tể duy nhất hằng hữu, là tình yêu vô biên và hằng thương xót: “Ngươi phải thờ lạy Thiên Chúa là Chúa ngươi và chỉ một mình Ngài” (Mt. 4, 10). Tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần là ngợi khen, cảm tạ, cầu nguyện với tinh thần đức tin, đức cậy, đức mến sâu sắc như Đức Maria đã thể hiện trong lời kinh “Magnificat – Linh hồn tôi ngợi khen Chúa …” (Giáo lý c. 6. 1992, số 2096-2097).

So sánh với trường học là nơi đào tạo học sinh thâu thái những kiến thức khoa học và những luật lệ xã hội để trở thành công dân hữu ích, mục đích tốt của trường học đạt tới thành nhân. Đền thờ đào tạo tín hữu thành thánh nhân, thành công dân nước trời bây giờ và vĩnh viễn muôn đời. So sánh với gia đình, nơi con người được sống trong tình thương ấm cúng, được nuôi dưỡng, săn sóc tới khôn lớn, được chia vui sẻ buồn, an ủi khuyến khích lẫn nhau, che chở, đùm bọc, hy sinh cho nhau. Đền thờ nơi tín hữu sống trong tình thương bao la của Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng của ăn thịt máu Con Thiên Chúa, được ấp ủ soi sáng bằng ân sủng Thánh Thần, được chia sẻ lời hằng sống. Và cùng cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa những hy sinh đau khổ, hiệp thông Thánh giá cứu độ của Đức Kitô, cùng với các thánh chung hưởng vinh phúc bất tận của Đấng Cứu Thế phục sinh.

Đền thờ đối với dân Do thái là lẽ sống của dân tộc. Đền thờ còn thì dân tộc còn. Đền thờ tan thì đất nước mất. Đền thờ bị xúc phạm thì toàn dân bị ô nhục. Thời vua Sêđêkia, đền thờ bị quân Babylon thiêu hủy, dân bị lưu đầy. Đền thờ được xây dựng lại, dân được trở về nước (2Ks. 36, 17). Thời Đức Giêsu khi toàn quyền Philatô treo ảnh hoàng đế Caesar (Sêda) ở khuôn viên đền thờ, lập tức dân nổi dậy mạnh mẽ chống đối quân La mã, dù phải chết, phải chịu đóng đinh vào thập giá.

Công vụ Tông đồ cũng kể trường hợp thánh Phaolô dẫn bốn người dân ngoại đã được tẩy uế trước khi dẫn vào đền thờ, thế mà Phaolô vẫn bị người Do thái xách động đám đông bắt ông và đang tìm cách giết Phaolô. May nhờ binh sĩ Rôma đã đến kịp thời, xiềng còng ông lại dẫn về đồn (Cvtd. 21, 26-32).

Đền thờ được tôn trọng như thế, nhưng chính họ lại biến đền thờ thành chợ búa, như hang trộm cướp, không còn là nhà Thiên Chúa, nhà Cha chung để cầu nguyện, tôn thờ Thiên Chúa, nơi quy tụ mọi người trong tình thương mến anh em nữa.

Phải chăng, chỉ còn một mình Đức Giêsu “vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà sẵn sàng thiệt thân, sẵn sàng bị giết đi, sẵn sàng chịu phá hủy, nhưng Người sẽ xây lại đền thờ chỉ trong ba ngày”. Để cứu nguy dân tộc, giải thoát muôn dân, một đền thờ mới sống động bất diệt là “chính mình Người” (Ga. 2, 17. 19-21).

Chính mình Người mới đích thực là đền thờ, là nhà cầu nguyện: “Toàn thể được xây dựng trên tảng đá góc tường là chính Đức Giêsu Kitô để thành ngôi đền thờ. Trong Người cả anh em nữa, cùng với những người khác cũng được xây thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí (Eph. 2, 20-22).

Trong đền thánh cực trọng này, Người dâng lên Chúa Cha tâm tình trìu mến con thảo: “Này con xin đến, để làm theo thánh ý Cha”. Trong đền thánh này, Người cầu nguyện: “Lạy Cha, giờ đã đến! xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha … Lạy Cha, tất cả những gì Cha ban cho Con đều do bởi Cha. Con đã ban lời Cha cho họ … Lời Cha là sự thật, xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ … Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho tất cả những ai nhờ họ mà tin vào Con …” (Ga. 17, 1. 7-8. 17-20).

Trong đền thánh này, Đức Giêsu còn dâng lên Cha bao nhiêu những người đói nghèo, bệnh hoạn, tật nguyền mà Người cứu chữa hàng ngày; bao nhiêu những lao công vất vả gồng gánh nặng nề mà Người đến bổ sức cho họ; bao nhiêu những tội nhân, quỷ ám, mà Người xin Cha cho họ vì họ lầm chẳng biết; bao nhiêu những người bị đả thương nửa sống nửa chết, bao nhiêu những người đau khổ, nhục nhã oan khiên, tù đày, tử đạo thập giá như Người.

Trong đền thờ này, “chính Người là thượng tế đến muôn đời … Một vị thượng tế thánh thiện vẹn toàn, vô tội … cao cả vượt các tầng trời … Người dâng chính mình, và chỉ dâng một lần là đủ … và chỉ mình Đức Kitô dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại” (Pt. 7, 11.26. 28 và 10, 12).

Mỗi người chúng ta đang được dự phần vào đền thờ Đức Giêsu muôn thuở. Mỗi người là một viên gạch nhỏ, một đền thờ nhỏ trong một đền thờ vĩ đại bao trùm cả trời đất. Nhưng mỗi người chúng ta tự hỏi mình là đền thơ, là “nhà Cha Ta”, là “nhà cầu nguyện” hay đã tự biến thành chợ búa, hang trộm cướp.

Thực ra, mỗi người chúng ta đã được là đền thờ Ba Ngôi Thiên Chúa ngay khi chúng ta được rửa bằng nước và Thánh Thần. Thánh Thần đã xức dầu thánh hiến chúng ta thành đền thờ Chúa. Muốn cho đền thờ chúng ta mãi mãi là nhà Cha Ta, là nhà cầu nguyện, chúng ta không được treo một tà thần nào, một thần tượng nào của vùng trời, vùng đất, vùng biển trong đền thờ mình, dù là tiên giáng trần, hay thần tài, thần quyền, chỉ được treo hình ảnh Thiên Chúa mà thôi, vì “Ta là Đức Chúa, Chúa của ngươi … Những ai yêu mến Ta và giữ giới răn của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa với họ đến ngàn đời”. (Xh. 20, 1-17).

Lạy Cha, trong mùa Chay thánh này, xin cho chúng con biết khuyến khích nhau kéo nhau: “nào ta lên đền thánh Cha” để cầu nguyện, dâng lời cảm tạ Cha với tấm lòng sám hối, tan nát, khiêm cung và dâng lên Cha những của lễ hy sinh bác ái, cùng với của lễ duy nhất là Mình Máu thánh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)