Month: Tháng Mười Hai 2018

VÌ SAO TA KHÔNG NÊN NHÌN VÀO KHUYẾT ĐIỂM CỦA NGƯỜI KHÁC…!!!

– Một ngày nọ, sau khi người cha nghe xong con trai oán trách và kể khổ về cuộc hôn nhân của mình, ông hỏi: “Con trai, vợ con có ưu điểm gì?”

Người con trai phàn nàn nói: “Trước khi kết hôn thì cô ấy có nhiều ưu điểm, hiện tại thì không có ạ !”.

Ông bố hỏi lại: Trong suy nghĩ của vợ con, con có điểm mạnh nào không?

Người con trai ngập ngừng nói: Hình như là trước đây con có, giờ thì đã không còn.

Người cha nói: Vậy con còn giỏi hơn cha, trước khi cha lấy mẹ con, cha còn không biết mẹ có ưu điểm gì nữa.

Người con ngẩng đầu lên nhìn cha, định nói điều gì đó, nhưng rồi lại thôi. Người cha đi ra ngoài, cầm lên một viên ngói và một nắm bông rồi mang vào hỏi con: Con xem, cái nào cứng hơn?

Người con trai không biết cha muốn làm gì, nhưng vẫn trả lời: “Cái này mà cha còn phải hỏi, tất nhiên là ngói cứng hơn”.

Người cha không nói gì, ông cầm viên ngói và nắm bông lên cao rồi thả tay ra, viên ngói rơi xuống vỡ tan, chia năm xẻ bảy, còn nắm bông thì không vấn đề gì cả. Người cha hỏi con: 

“Tại sao cứng thì nát còn mềm mại thì lại không bị sao?”

Người con suy nghĩ nói: “Chắc vì bông mềm mại nên nhẹ, do đó không bị làm sao”. 

Người cha vỗ vai con trai, nhẹ nhàng nói: “Con trai ! Con cần phải như bông mà khiêm tốn lại, không làm tổn thương người khác cũng là không làm tổn thương mình. Như viên ngói kia, có cạnh có góc, nhưng gặp cứng thì vỡ. Làm tổn thương người khác, cũng làm tổn thương chính mình đấy con à”.

“Cha sống bao nhiêu năm rồi, cả đời cha chỉ hiểu một đạo lý đó là, nhìn vào ưu điểm của người khác sẽ khiến con tim mình ấm áp, còn nhìn thẳng vào khuyết điểm của người khác, thì cũng là làm tổn thương chính tâm hồn của mình.

Con nên học tập bông, bông vì người khác mà ngăn lại gió lạnh, nó giống như ánh mặt trời có thể sưởi ấm cho cuộc đời này. Khi đã kết hôn thì ai chẳng mong hạnh phúc, để làm được điều ấy chúng ta phải vun đắp hàng ngày.

Con trai, lời khen là một bảo bối, một lời khen của con có thể là động lực cho vợ con, còn một câu nói ích kỷ, cay nghiệt có thể khiến vợ con mang hận cả đời, từ đó mà kéo cuộc hôn nhân của con vào nơi bế tắc. Chẳng lẽ con cũng muốn cha đối xử với mẹ con giống như con đang đối xử với vợ hay sao?”

Người con trai nghe xong, im lặng ngẫm nghĩ thật lâu…

Sưu tầm

Chia sẽ bài viết này trên:

Những thánh gia Nagiarét thời đại mới.

Có họ đạo nghèo ở vùng duyên hải miền Trung có tên gọi là Thánh Gia. Sở dĩ đặt tên như vậy là vì họ đạo nầy chọn Thánh Gia Nagiarét làm bổn mạng.

Phía bên hông nhà thờ họ đạo có một hang đá khá lớn, có bộ tượng hang đá bằng thạch cao to bằng tầm vóc người trưởng thành.

Hằng năm vào dịp lễ Thánh Gia, bổn mạng của giáo xứ, theo một truyền thống đã có từ lâu đời, sau khi lễ tan, các gia đình trong giáo xứ tập trung đông đảo chung quanh hang đá cầu nguyện với thánh gia thất và mỗi gia đình cử ra một vị đại diện tuần tự tiến lên theo hàng đôi đến trước bộ tượng hang đá, dâng lên Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse những bông hoa thắm tươi và thơm ngát để tỏ lòng tôn kính mến yêu của mình.

Thế rồi một biến cố đau lòng xảy ra trong dịp trước giáng sinh năm ấy, một nhóm trẻ tinh nghịch từ làng bên vì có thù hận với nhóm trẻ trong xóm đạo, đã kéo đến vào ban đêm đập phá bộ tượng hang đá vỡ ra nhiều mảnh.

Sự việc nầy khiến cho nhiều người hoang mang và bối rối!

Biết làm sao bây giờ, khi ngày lễ thánh gia đã gần kề? Tìm đâu ra bộ tượng ba Đấng mới thế vào bộ tượng đã bị phá tan? Nghi lễ dâng hoa cho ba Đấng vào mỗi dịp lễ Thánh Gia là một nghi lễ truyền thống đã được thực hiện xuyên suốt từ hơn trăm năm qua, không có năm nào bỏ qua, lẽ nào năm nay không tổ chức được?

Vì giáo dân trong xứ quá nghèo, Cha xứ và hội đồng mục vụ không thể huy động đủ tiền để đặt làm bộ tượng mới và dù có huy động đủ tiền cũng không thể đặt một bộ mới trong khi thời gian đã cận kề.

Trước tình thế đó, Cha Xứ có một sáng kiến táo bạo: Ngài cho mời đôi vợ chồng mới sinh đứa con trai đầu lòng được chừng tháng tuổi và mới được rửa tội mấy ngày trước, mặc y phục truyền thống thật chỉnh tề, đóng vai Đức Mẹ, thánh Giuse và Chúa Giêsu thay cho bộ tượng hang đá bằng thạch cao đã bị hư hại. Ngài sắp xếp cho cặp vợ chồng quỳ bên trong hang đá, chầu hai bên đứa con thơ ở giữa họ và kêu mời đại diện các gia đình trong giáo xứ tiến lên theo hàng đôi dâng hoa cho ba vị nầy.

Sáng kiến nầy đã làm cho một số người trong họ đạo cảm thấy bị sốc. Họ cho rằng làm như vậy là quá đề cao gia đình người tín hữu và xúc phạm đến ba Đấng thánh.

Cha Sở cố gắng diễn giảng cho họ như sau:

Khi đề nghị gia đình anh chị Năm đóng vai Giuse, Mẹ Maria và Chúa Giêsu thế chỗ cho bộ tượng ba Đấng bằng thạch cao bị hư, chúng ta không làm gì xúc phạm đến ba Đấng thánh, nhưng chúng ta xem gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh rất trung thực và cao quý về Thánh Gia của Chúa Giêsu.

Lâu nay, chúng ta quen nhìn hình tượng ba Đấng bằng thạch cao, bằng xi măng hay bằng nhựa dẻo, và chưa quen nhìn hình tượng ba Đấng bằng xương bằng thịt có sự sống, có linh hồn, có lương tri, có trí tuệ như anh chị Năm đây, nên chúng ta cảm thấy bị sốc.

Nhưng xin quý ông bà hiểu điều nầy:

Thứ nhất: mỗi một người tín hữu đều có phẩm giá rất cao và được gọi là thánh.Thánh Phaolô gọi các tín hữu thuộc các giáo đoàn (nay gọi là giáo xứ) là thánh. Họ được hiến thánh nhờ bí tích thánh tẩy. Nhờ bí tích nầy họ trở thành chi thể, thành thân mình Chúa Giêsu.

Thánh Phaolô nói: “Nào Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao?” (1Cr 6, 15)

Ngoài ra, các tín hữu còn được Chúa Giêsu cho trở nên cùng một xương thịt với Người, được thông dự vào sự sống của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa nhờ đón nhận bí tích Thánh Thể.

Như vậy, không có một sản phẩm nào do tay người phàm làm ra dù bằng thạch cao, bằng gỗ, bằng đá hay bằng kim loại quý như bạc như vàng. . . xứng đáng được chọn làm hình ảnh của Chúa Giêsu, của Mẹ Maria, của thánh Giuse cho bằng chính mỗi người Kitô hữu chúng ta.

Thứ hai: Hội Thánh công giáo xưa nay vẫn nhìn nhận gia đình của Kitô hữu là gia đình thánh nên Giáo Hội quen gọi đó là những hội thánh tại gia.

Chúa Giêsu còn lập bí tích hôn nhân để thánh hiến đời sống vợ chồng. Thế nên không gì thích hợp cho bằng chọn gia đình Kitô hữu làm biểu tượng cho thánh gia Nagiarét.

Sau khi hiểu được những điều cha xứ giải thích, mọi người vui vẻ dâng những đoá hoa thật đẹp thật tươi cho anh chị Năm được cử đóng vai thánh gia Nagiarét.

Rồi qua những năm sau, nhiều người trong giáo xứ đều thấy thật là thích hợp và đầy ý nghĩa khi chọn một gia đình công giáo trong họ đạo đóng vai thánh gia Nagiarét thay vì dùng bộ tượng thạch cao, nên cộng đồng giáo xứ thoả thuận với nhau rằng: đôi vợ chồng nào mới sinh con và được rửa tội sớm nhất trong tháng 12 dương lịch thì sẽ được chọn đóng vai thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu để cho giáo dân kính viếng. Và cũng từ lúc đó, thay vì dâng hoa cho ba Đấng như trước đây, người ta dâng cho em bé trong vai Giêsu những hộp sữa; dâng cho người mẹ trong vai Maria những cuộn chỉ, những chiếc kim, chiếc kéo; dâng cho người cha trong vai Giuse những dụng cụ làm việc nho nhỏ như những chiếc kìm, chiếc búa, cái đục, cái bào. . .

Từ sự kiện nầy, các gia đình tín hữu trong xứ đạo đều ý thức mình là những thánh gia Nagiarét thời mới. Các đôi vợ chồng trong các gia đình luôn trân trọng và yêu quý nhau như tương quan giữa Mẹ Maria và thánh Giuse. Cha mẹ biết chăm lo giáo dục con cái như Mẹ Maria và thánh Giuse đã thực hiện với Chúa Giêsu năm xưa. Con cái luôn vâng phục và thảo hiếu với mẹ cha như Chúa Giêsu đã làm đối với thánh Giuse và Đức Mẹ. Niềm vui, hạnh phúc và đời sống thánh thiện chan hoà trong các gia đình.

Ngoài ra, tương quan giữa các gia đình trong giáo xứ được cải thiện đáng kể vì ai nấy đều biết tôn trọng những gia đình khác vì xác tín rằng đó thực sự là những thánh gia.

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Ignatiô Trần Ngà)

Chia sẽ bài viết này trên:

Ơn cứu độ cho muôn dân (29.12.2018 – Thứ Bảy tuần Bát Nhật Giáng Sinh)

Lời Chúa: Lc 2, 22-35

Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa”, và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. Và này đây, tại Giêrusalem, có một người tên là Simêon. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ítraen, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Ðấng Kitô của Ðức Chúa. Ðược Thần Khí run rủi, ông lên Ðền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

Muôn lạy Chúa, giờ đây

theo lời Ngài đã hứa,

xin để tôi tớ này được an bình ra đi.

Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ

Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:

Ðó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,

là vinh quang của Ítraen Dân Ngài.

Cha mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simêon vừa nói về Người. Ông Simêon chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen phải vấp ngã hay được trỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng. Còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra.”

Suy niệm:

Luật lệ thường làm người ta cảm thấy gò bó, mất tự do.

Người Do Thái phải giữ Luật Chúa đã ban cho Môsê.

Con trai thì phải được cắt bì và đặt tên tám ngày sau khi sinh (Lc 2,21).

Con trai đầu lòng thuộc quyền sở hữu của Thiên Chúa (Xh 13,1-2),

nên cha mẹ phải nộp năm sê-ken bạc cho tư tế

để chuộc lại con cho mình (Ds 3,47-48).

Người phụ nữ sau khi sinh con, bị coi là nhơ uế (Lv 12, 2-8),

phải ở nhà, không được đụng đến vật thánh hay vào Đền thờ.

Bốn mươi ngày sau khi sinh con trai, bà cần làm lễ thanh tẩy.

Bà phải dâng cho Đền thờ một con chiên một tuổi làm lễ toàn thiêu,

và một con chim gáy hay bồ câu để làm lễ tạ tội.

Nếu nghèo, bà chỉ cần dâng một cặp bồ câu non hay chim gáy là đủ.

Giuse và Maria đã vui vẻ giữ những luật này,

dù ngày nay đối với chúng ta, chúng thật là khó hiểu và khó chấp nhận.

Hãy nhìn ngắm đôi vợ chồng nghèo lên Giêrusalem.

Họ đã vượt một quãng đường xa, với đứa con mới hơn tháng tuổi.

Maria chịu thanh tẩy, dù bà biết mình đã cưu mang Đấng Thánh.

Bà đã dâng lễ vật đơn sơ của một người nghèo (c. 24).

Dù Luật không buộc, ông bà cũng đem Con lên Đền thờ để dâng.

Họ muốn con mình thuộc trọn về Thiên Chúa (x. 1 Sm 1, 22).

Ông bà đã không đòi hỏi một đặc ân hay miễn trừ nào.

Giữ Luật là cách họ thể hiện tình yêu đối với Chúa.

Có ai nhận ra đôi vợ chồng với đứa con nhỏ này là ai không?

Có, một người công chính và sùng đạo tên là Simêon.

Thánh Thần hằng ngự trên ông (c. 25),

và nói cho ông biết ông sẽ thấy Đức Kitô trước khi lìa đời (c. 26).

Chính Thánh Thần thúc đẩy ông lên Đền thờ vào lúc này (c. 27).

Bỗng nhiên ông thấy mầu nhiệm lớn lao đang tỏa sáng,

nơi Hài Nhi bé nhỏ, con của đôi vợ chồng nghèo.

Mọi mong chờ lâu nay của ông được đền đáp.

Các mục đồng đã nhận ra Đức Kitô nơi bé thơ quấn tã, nằm máng cỏ,

còn Simêon nhận ra Ngài nơi em bé được bồng ẵm bởi đôi vợ chồng.

Ông đã bồng Hài Nhi trong vòng tay, ngất ngây vì hạnh phúc.

Môi ông bật lên lời chúc tụng của người sẵn sàng nhắm mắt ra đi.

Ơn cứu độ cho muôn dân đã đến đây rồi (cc. 30-31).

Hài Nhi bé nhỏ này là Ánh sáng cho muôn dân,

là Vinh quang cho Dân Ítraen của Đức Chúa (c. 32).

Để nhận ra Chúa trong cuộc sống buồn tẻ hay sôi động hàng ngày,

cần có sự gần gũi thân thiết với Thánh Thần như ông Simêon.

Thánh Thần như trò chuyện, mách bảo, thôi thúc ông từ bên trong.

Thánh Thần soi sáng để ông nhận ra điều lớn lao mắt phàm không thấy.

Nhưng để nghe được sự mách bảo thầm kín của Thánh Thần,

chúng ta cũng phải có sự thánh thiện và lòng khát khao như ông Simêon.

Chẳng còn mơ ước gì ngoài việc được gặp mặt Đức Kitô qua cuộc sống.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

xin cho con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa

ở bên con dưới muôn ngàn dáng vẻ.

Chúa hiện diện lặng lẽ

như tấm bánh nơi nhà Tạm,

nhưng Chúa cũng ở nơi những ai nghèo khổ,

những người sống không ra người.

Chúa hiện diện sống động nơi vị linh mục,

nhưng Chúa cũng có mặt ở nơi hai, ba người

gặp gỡ nhau để chia sẻ Lời Chúa.

Chúa hiện diện nơi Giáo Hội

gồm những con người yếu đuối, bất toàn,

và Chúa cũng ở rất sâu

trong lòng từng kitô hữu.

Lạy Chúa Giêsu,

xin cho con thấy Chúa

đang tạo dựng cả vu trụ

và đang đưa dòng lịch sử này về với Chúa.

Xin cho con gặp Chúa nơi bất cứ ai là người

vì họ có cùng khuôn mặt với Chúa.

Xin cho con khám phá ra

Chúa đang hẹn gặp con

nơi mọi biến cố buồn vui của đời thường.

Ước gì con thấy Chúa ở khắp nơi,

thấy đâu đâu cũng là nhà của Chúa.

Và ước gì con đừng bỏ lỡ bao cơ hội gặp Chúa

trên bước đường đời của con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Chia sẽ bài viết này trên:

DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO?

 Đọc đi đọc lại đi mọi người ơi, biết đâu đây có thể trở thành câu trả lời cho những ai đang muốn bắt bẻ và lên án đạo công giáo!

“Chỉ những người ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào đạo”. Nghe xong câu kết luận đó, cả lớp học im phăng phắc, còn lòng tôi thì bực tức mà không nói nên lời. Sự bực tức này có lẽ một phần vì nội dung mà vị giáo sư giảng dạy không chỉ đang đụng đến đức tin của người Công giáo như tôi mà còn xúc phạm đến người có đạo. Phần nữa, tôi đau vì không đủ khả năng để đứng lên bảo vệ Đạo của mình. Sau khi nghe xong phần trình bày của vị giáo sư đại học mà tôi nghĩ là ông không có thiện cảm gì với người Công giáo, tôi về nhà cố đi tìm câu trả lời cho riêng mình. Và khi đã tìm hiểu xong, tôi quyết định tìm gặp và đối thoại với vị giáo sư này.

Câu hỏi đầu tiên mà tôi đặt ra cho ông đó là “Thưa Thầy, thầy có thể cho biết, đất nước nào hiện nay văn minh, tiến bộ nhất thế giới”. Vị giáo sư trả lời ngay “ Nước Mỹ”.Tôi nói liền “ Vậy, thầy có thể cho em biết hiện nay nước Mỹ có bao nhiều người tin vào Thiên Chúa?” Vị Giáo sư nhìn tôi và hỏi “Em hỏi vậy là có mục đích gì?”. Tôi đáp “Vì Thầy nói “Chỉ những ai ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào Thiên Chúa” nên em mới hỏi thầy câu này. Ông chần chừ một lúc rồi nói “ Nước Mỹ là nước có số người tin vào Thiên Chúa khá đông”. “ Đúng vậy. Em được biết tại nước Mỹ có tới 86% tin vào Thiên Chúa, còn 14% nhận mình là vô thần mà. Chẳng lẽ 86% này cũng là những người mê muội, ít học phải không thầy?”

Hơn nữa, em còn thấy những bác học lừng danh như Bacon, Isaac Newton, Albert Einstein, Louis Pasteur, 31-Georges Lemaître (1894-1966) Linh mục Công Giáo, người khai phá ra thuyết Big Bang. Max Planck (1858-1947) Đoạt giải Nobel về vật lý và là cha đẻ của thuyết Quantum mechanics. Blaise Pascal (1623–1662) Thần đồng toán học, vật lý, và Lý Thuyết. René Descartes (1596–1650) Nhà bác học về Hình học và Những con số bất biến. Người hướng dẫn cuộc Cách Mạng Khoa học của phương Tây. Roger Bacon (c.1214–1294), người áp dụng phương pháp thực nghiệm và các phương pháp khoa học tân tiến. Viết về Luật Thiên Nhiên, cơ khí, địa lý và quang học. Johannes Kepler (1571–1630) Nhà vũ trụ học, tính toán sự di chuyển của các thiên hà. -Isaac Newton (1643–1727) Nhà khoa học và toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại và biết bao nhiêu nhà bác học khác đều là những ki tô hữu tốt lành. Chẳng nhẽ, những nhà bác học này cũng là những người dốt nát và mê tín sao thầy? Em thấy tiền đề thầy đưa ra xem ra không ổn tí nào.

Vị giáo sư như chùng xuống một lúc rồi nói “ Tôi cũng chỉ nói những gì mà sách vở và bổn phận tôi phải nói. Vì đó là nghề của tôi”. Tôi đáp lại “ Vâng nếu thầy nói vậy thì em hiểu rồi. Có điều em cảm thấy thầy không có tự do khi truyền giảng cho sinh viên những kiến thức thực sự của thầy. Nhưng còn một điều nữa khiến em cũng đang thắc mắc”. Ông nhìn tôi và hỏi “ Em còn muốn hỏi điều gì”. “ Vâng, cũng chỉ liên quan đến điều thầy nói ở lớp thôi. Em muốn hỏi thầy có cái gì giả dối, mê muội nó tồn tại được lâu không thầy”. Tôi đáp lại. Người thầy của tôi lúc này thong thả nói “ Người ta vẫn nói sự thật trước sau gì cũng là sự thật, sự giả dối có lừa được một số người, một số lần rồi sẽ có ngày lộ diện em ạ”. “Cám ơn thầy. Thầy nói chí phải. Sự thật mà thật không đổi thầy nhỉ. Nếu Đạo Công Giáo mà giả dối sao nó lại tồn tại lâu quá vậy. Nó không chỉ tồn tại mà còn phát triển khắp cả thế giới và đứng vững một cách chắc chắn phải không thầy!”. Người thầy gật đầu và nói với tôi “ Thầy cảm phục tinh thần của em. Em là người có chứng kiến và dám sống cho chứng kiến của mình. Thầy tin rằng em sẽ làm được những điều tốt lành cho đất nước cho xã hội. Chỉ tiếc những người có chứng kiến và bản lãnh như em nơi sinh viên không có nhiều lắm. Chúc em thành công”.

Tạm biệt người thầy mà tôi đã làm phiền quấy rầy. Tuy thời gian gặp gỡ không dài những tôi hiểu được phần nào nỗi đau của nhiều người, nhất là những giáo sư, thầy giáo, dẫu biết được sự thật mà không dám nói sự thật . Ước mong sao nơi giảng trường đại học sẽ có những cánh cửa của tự do để tri thức thật được lên tiếng.

Nguồn Fb : Đừng Sợ
“IN GOD WE TRUST” – Chúng tôi tin vào Chúa. Dòng chữ này hiện diện trên bất kỳ tờ tiền nào của Mỹ!!

Chia sẽ bài viết này trên:

DIỄN NGUYỆN GIÁNG SINH 2018

“Người Đã Viếng Thăm Nhà Chúng Ta”
20g00 thứ Bảy ngày 22 tháng 12 năm 2018


1. Hát Ascoutic “Liên khúc Giáng Sinh: Silent night- Feliz navidad” – Các em Ngành Nghĩa Sĩ, Đoàn TNTT.
2. Ca đoàn Fanxico: “Đêm nay Noel về” – S.tác: Châu Linh
3. Ca đoàn Manigficat: “Noel, Noel” – Sáng Tác: Lm. Thành Tâm
4. Ca đoàn Thiếu Nhi: “Mong chờ Giêsu”
5. Hát + Nhảy “Liên khúc Giáng Sinh (Oh little town of bethlehem + Trời hân hoan (hát) + Extraodinary Merry Christmas – Các em Ngành Thiếu Nhi, Đoàn TNTT.
6. Múa “Tiếng hát thiên thần” – Các em Ngành Ấu Nhi, Đoàn TNTT.
7. Ca đoàn Hiền Mẫu: “Khúc ca Giáng Sinh” – S.tác: Minh Tâm
8. Ca đoàn Thiếu Nhi – Múa : “Đồng dao Noel” – S.tác: Lê Quốc Thắng
9. Tốp ca Hiệp Nhất: “Belem Yude” – S.tác: Lm. Thành Tâm
10. Ca đoàn Giuse: “Quê Hương Thượng Đế” – Nhạc: Lm. Thành Tâm, Thơ: Trần Sỹ Tín & Vũ Khởi Phụng.
11. Ca sĩ Xara: “Huyền diệu đêm thánh” – S.tác Lê Anh Đông
12. Ca đoàn Chúa Chiên Lành: “Mừng Chúa Giáng Sinh” – S.tác: J.F.Wade, Hòa âm: C.F.Gounod
13. Ca đoàn Chúa Chiên Lành: “Chúa Ra Đời” – S.tác: Charles Adam Adolphe, Lời Việt: Anh Linh
14. Ca đoàn Chúa Chiên Lành: “Hát Mừng Chúa Giáng Sinh” – S.tác: Boney M, Lời Việt và Hòa âm: Tiến Linh.
15. Nhóm Sv Nhạc viện Thành phố: Liên khúc “Đêm Thánh Vô Cùng” – S.tác: Franz Gruber, Lời Việt: Hùng Lân, Hòa âm: Hồ Ngọc Linh (Tất cả cùng solo)
16. “Alleluia” – S.tác: Douglas Brenchley
17. “Joy To The World” – S.tác: G.F.Handel

Xin chân thành cám ơn anh Hoàng Xuân Lành đã thực hiện Video này.
https://youtu.be/TCw4iFHFBic
https://www.facebook.com/GXANPHU.NET/videos/296413621012323/
Chia sẽ bài viết này trên:

“Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù” – Lễ Các Thánh Anh Hài (28.12.2018)

I. LỜI CHÚA: 1Sm 1, 20-22.24-28; 1Ga 3, 1-2.21-24; Mt 2, 13-18

13 Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy! “

14 Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập.15Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.

16 Bấy giờ vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.17 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a:18 “Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

1. Sự Dữ

Dưới ánh sáng của bài Tin Mừng theo thánh Mát-thêu trong ngày lễ kính các Thánh Anh Hài, điều đầu tiên chúng ta được mời gọi ghi nhận và để cho mình được đánh động, đó là sự kiện Hài Nhi Giê-su vừa mới sinh ra, nhưng đã có người tìm giết, nghĩa là đã có loại trừ, đã có bạo lực, và sâu xa hơn Sự Dữ đã tác hại:

Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy! (c. 13)

Và vì không làm hại ngay được Hài Nhi Giê-su, vua Hê-rô-đê đã “đùng đùng nổi giận”, và sai người giết hại nhiều em bé khác; điều này có nghĩa là bạo lực sinh ra bạo lực:

(vua Hê-rô-đê) sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh. (c. 16)

Hình ảnh đám lính vừa đông, vừa được trang bị khí giới và vừa say máu bách hại trẻ em vô tội, nhỏ bé và yếu ớt, diễn tả thật rõ ràng bản chất của Sự Dữ: đó là thú tính và giết hại vô cớ (Ga 15, 25; Tv 35, 19; 69, 5), được bày tỏ khắp nơi trong lịch sử cứu độ, trong cuộc đời của Chúa Giê-su và trong kinh nghiệm sống của chúng ta.

Và sự kiện mà bài Tin Mừng của ngày lễ Các Thánh Anh Hài thuật, lại phải đánh động chúng ta, bởi vì sự kiện này cưu mang một mặc khải rất thích hợp cho thế giới và xã hội chúng ta đang sống, liên quan đến thái độ của con người đối với sự sống và tất cả những gì liên quan đến sự sống: đó là vô cảm, gây hấn, ghen tị, giết hại, đầu độc, bạo lực, lừa dối, ham muốn, vô ơn, thiếu tôn trọng, thành tích, tôn vinh bản thân…

Và một cách đặc biệt, Lời Chúa đụng chạm đến cung cách ứng xử của loài người và của từng người chúng ta đối với các trẻ em và các thai nhi. Thật vậy, hiện nay những đe dọa của thế giới và xã hội chúng ta đang sống đối với con trẻ và rộng hơn là đối với giới trẻ cũng “nguy hại” không kém so với những thời bách hại, đặc biệt trong một cách sống và trong một nền giáo dục không tìm cách xây dựng lòng biết ơn, những điều cao quí và và lòng thương người.

*  *  *

Xin cho chúng ta biết noi gương Thánh Gia Thất và nhất là Thánh Cả Giuse. Bởi lẽ, trong những thử thách lớn lao này và chắc chắn trong cuộc sống và trong mọi thử thách khác của Thánh Gia, thánh nhân không làm điều khác hơn là lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Xin cho chúng ta cũng biết như thánh Giuse, gắn bó, yêu mến và quảng đại ưng thuận trọn vẹn đối với Lời Thiên Chúa.

 2. Sự Thiện

Tuy nhiên, trong cùng một biến cố bi đát nói về bạo lực và sự dữ, Lời Chúa cũng mặc khải cho chúng ta điều ngược lại, đó là bản chất đích thật của Hài Nhi, Ngôi Lời Thiên Chúa, là không dùng bạo lực chống lại bạo lực, nhưng là sự HIỀN LÀNH THẦN LINH, diễn tả Sự Thiện đích thật.

Chúng ta hãy hướng về hang đá, cụ thể là các hang đá được tái hiện cách phong phú và sáng tạo khắp nơi trong khuôn viên của Giáo Xứ, khu phố và gia đình, để chiêm ngắm “Hài Nhi bọc tã năm trong máng cỏ” và nhận ra cảm nếm được sự âm thầm, khiêm tốn và hiền lành của chính Thiên Chúa, ngược hẳn với những gì loài người chúng ta tưởng tượng và chờ mong đối với biến cố Emmanuen, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Âm thầm, khiêm tốn và hiền lành, nhưng đó lại là sức mạnh, khôn ngoan và khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, có khả năng chiến thắng sự ồn ào (để kết án), ngạo mạn và bạo lực của Sự Dữ, như lời Thánh Vịnh loan báo:

Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ
cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù,
khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan. 
(Tv 8, 3)

Trong mầu nhiệm Giáng Sinh hướng tới và được hoàn tất bởi mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh, Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở nên như em bé và sẽ sống như em bé đến cùng, trước khi mời gọi các môn đệ và mỗi người chúng ta hôm nay trở nên như em bé: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18, 3; và Mc 10, 13-16; Mt 18, 13-15; Lc 18, 15-17).

Xin cho chúng ta đừng bị mê hoặc và sống theo vẻ bề ngoài, để có thể nhận ra sự hiện diệnâm thầm, khiêm tốn và hiền lành của Ngôi Lời Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, trong thế giới chúng ta đang sống và trong cuộc đời chúng ta, và để sống căn tính đích thật và cũng là ơn gọi của chúng ta, là trở nên “em bé”, trong tương quan với bản thân, với Chúa và với nhau.

 3. Lòng Thương Xót

Kẻ thù tìm giết một hài nhi, rồi tàn sát các hài nhi khác. Điều này thật khủng khiếp. Nhưng ngày nay có một điều còn khủng khiếp hơn, người thân yêu nhất của hài nhi hay thai nhi, hay những người có sứ mạng chăm sóc hài nhi hay thai nhi, tự biến mình thành “kẻ thù” của bé thơ.

Trước thực tại đau lòng này, chúng ta dựa vào đâu để có sức mạnh chịu đựng và dựa vào đâu để vẫn có thể hi vọng, nếu không phải là nơi tình yêu và LÒNG THƯƠNG XÓT nhưng không của Thiên Chúa, bày tỏ cho chúng ta nơi mầu nhiệm Giáng Sinh và nhất là nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh (Rm 8, 37-39)? Giáo Hội của chúng ta đã nhận ra tình yêu nhưng không này của Thiên Chúa, khi tôn phong các hài nhi bị giết hại, gọi các vị là các Thánh Anh Hài, và dành một ngày đặc biệt để tôn kính, là ngày lễ hôm nay.

Trong bài Tin Mừng, một cách cụ thể, LÒNG THƯƠNG XÓT của Thiên Chúa được bày tỏ qua sự kiện Lời Kinh Thánh vẫn cứ được ứng nghiệm:

Để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ:
Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập. 
(c. 15)

Và trong bài đọc 2 của Thánh Lễ hôm nay, Thánh Gioan Tông Đồ nói: “Chính Đức Giê-su Ki-tô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa.” (1Ga 2, 2)

Điều này có nghĩa là Sự Dữ không những không thể ngăn cản, mà còn bị Thiên Chúa dùng, để làm cho kế hoạch cứu độ đi đến cùng.

*  *  *

Xin tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, là ánh sáng và chỉ là ánh sáng (x. 1Ga 1, 5), được tỏ bày cho loài người tội lỗi chúng ta nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh, cũng được ban cho các em bé và thai nhi chịu ngược đãi và giết hại trong thời đại của chúng ta, như đã được ban cho các Thánh Anh Hài.

Xin cho chúng ta được quảng đại hơn nữa trong sứ mạng bảo vệ và phục vụ cho sự sống, bởi vì Thiên Chúa là nguồn sự sống và là sự sống viên mãn mà chúng ta hướng về.

Và xin cho Gia Đình, Cộng Đoàn và Giáo Xứ thân yêu của chúng ta, với ân sủng và tình yêu của Chúa, trở thành dấu chúng sống động của LÒNG XÓT ngang qua những sứ vụ giới hạn và nhỏ bé phục vụ cho sự sống của mình.

Mùa Giáng Sinh 2018
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

TẤM LÒNG LƯƠNG THIỆN

Một công ty nọ có truyền thống tổ chức tiệc và rút thăm trúng thưởng vào Giáng Sinh mỗi năm. Theo quy định rút thăm trúng thưởng, mỗi thành viên tham gia đều phải đóng góp 10 USD làm lệ phí. Toàn công ty có 300 người, và phần thưởng chính là tổng số tiền của 300 người gộp lại: 3.000 USD. Ai may mắn sẽ được mang toàn bộ số tiền đó về nhà.

Vào ngày tổ chức lễ bốc thăm, không khí náo nhiệt tưng bừng hơn bao giờ hết, ai nấy cũng mong đợi tới giờ vàng để thử vận may của mình. Mỗi người đều được phát một mẩu giấy để ghi tên mình trước khi bỏ vào thùng bốc thăm trúng thưởng. Và trong lúc chuẩn bị ghi tên, một cậu nhân viên trẻ chợt phân vân suy nghĩ:

“Cô lao công Sarah là người có gia cảnh khó khăn nhất, con cái lại mắc nhiều bệnh tật, mà cô thì không có tiền để phẫu thuật cho con. Giá như cô có được số tiền này thì tốt biết mấy, nhưng cô lấy đâu ra 10 USD để tham gia cơ chứ?”

Nghĩ rồi cậu không cần đắn đo mà quyết định sẽ ghi tên cô Sarah thay vì ghi tên mình lên đó. Mặc dù vẫn biết cơ hội quá mong manh, chỉ có 1/300 cơ hội, nhưng cậu vẫn cầu mong vận may mỉm cười với cô.

Tới lúc chuẩn bị rút thăm, không khí hồi hộp không kém phần căng thẳng. Mọi người cùng nhìn lên khán đài khi giám đốc công ty chọn ra tấm phiếu may mắn. Ở bên dưới, cậu thanh niên trẻ không ngừng cầu Chúa, cầu Chúa hãy giúp đỡ cô Sarah…

Vị giám đốc từ từ mở mẩu giấy ra… Tích tắc, tích tắc, mọi người đều nín thở chờ đợi đến mức tiếng kim đồng hồ cũng có thể nghe thấy. Khi nhìn vào cái tên trên tấm phiếu may mắn ấy, giám đốc bất giác mỉm cười… rồi ông đọc to lên. Và… kỳ tích thật sự đã xuất hiện!

Khi cái tên Sarah được xướng lên, những tràng vỗ tay chúc mừng vang lên không ngớt tràn ngập cả hội trường. Cô Sarah vừa vui mừng vừa bất ngờ vì không biết mình được tham gia. Khi bước lên bục nhận phần thưởng, cô rối rít cảm ơn: “Tôi thật may mắn, có số tiền này con tôi được cứu rồi, cảm ơn mọi người, cảm ơn mọi người!”

Buổi tiệc diễn ra trong những tiếng nói cười và tiếng nâng ly chúc tụng. Chàng nhân viên trẻ miên man suy nghĩ về cái kết có hậu của đêm Giáng Sinh năm ấy, bởi mọi thứ xảy ra như một kỳ tích. Cậu vừa bước dạo xung quanh vừa chúc tụng mọi người một Giáng sinh vui vẻ. Vô tình đi qua thùng phiếu, thuận tay cậu rút lấy một tờ ra xem, và… lạ chưa kìa, trên mảnh giấy đó có tên cô Sarah. Cậu không dám tin vào mắt mình nên vội vàng rút ra thêm một mẩu giấy, và một mẩu giấy nữa, tất đều có tên cô Sarah trên đó.

Một nỗi xúc động dâng trào trong lòng cậu, giống như những cơn sóng thuỷ triều dâng lên mãnh liệt. Hai mắt cậu đỏ lên, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng tuôn rơi. Cậu nhận ra một điều, thế giới này thực sự tồn tại “kỳ tích đêm Giáng Sinh”, chỉ có điều kỳ tích đó không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó được tạo ra bởi những con người có tấm lòng lương thiện quanh ta.

Và thế giới này sẽ trở thành thiên đường mà không cần bạn phải là vĩ nhân. Đôi khi bạn sẽ thấy những gì mình cho đi quá nhỏ nhoi, đến độ bạn thấy dù có làm nó hay không thì cũng không có gì đáng kể. Tuy nhiên “Đừng thấy việc Thiện nhỏ mà không làm”. Chỉ cần bạn bắt đầu bằng một ngọn cỏ, thế giới sẽ trở thành cánh đồng hoa rực rỡ. 

KHUYẾT DANH

Chia sẽ bài viết này trên:

Ông đã thấy và đã tin (27.12.2018 – Ngày 3 trong Tuần Bát nhật Giáng sinh – Thánh Gioan tông đồ, tác giả sách Tin Mừng)

Lời Chúa: Ga 20, 2-8

2Khi ấy, bà Maria Macđala liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ.4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước.5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào.6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó,7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.

Suy niệm:

Gioan, ông là ai ?
Tôi là một ngư phủ ở hồ Galilê, con ông Dêbêđê, người vùng Bếtsaiđa.
Tôi được Thầy Giêsu gọi khi đang vá lưới với cha trong thuyền (Mc 1, 20).
Tôi là người khá nóng tính, nên có lần đã bực bội và phản ứng mạnh mẽ
khi có người ngoài nhóm trừ quỷ nhân danh Thầy Giêsu (Mc 9, 38).
Cũng có lần tôi định xin lửa bởi trời xuống đốt cháy một làng Samaria
chỉ vì họ không đón tiếp Thầy trò chúng tôi (Lc 9, 54).
Thầy Giêsu gọi hai anh em tôi là con của thiên lôi cũng đúng (Mc 3, 17).
Ngoài ra chúng tôi cũng có nhiều tham vọng khi theo Thầy Giêsu.
Có lần chúng tôi xin Thầy cho hai anh em ngồi hai bên tả hữu (Mc 10, 37).
Tôi biết mình nhiều lần làm cho Thầy buồn, 
nhưng Thầy vẫn chịu đựng và yêu mến tôi cách đặc biệt.
Thầy cho tôi được vào số các môn đệ thân tín (Mc 5, 37; 9, 2; 14, 33).

Gioan, ông là ai ?
Nếu bạn muốn thì tôi xin tự nhận 
tôi là người môn đệ được Thầy Giêsu mến thương.
Dĩ nhiên Thầy thương mọi môn đệ, 
nhưng tôi vẫn cảm được tình thương đặc biệt Thầy dành cho tôi.
Trong bữa ăn tối, khi Thầy rửa chân cho môn đệ, tôi dám tự hào,
có ai được diễm phúc nằm gần ngực Thầy như tôi (Ga 13, 23. 25; 21, 20).
Tôi đã sống trọn vẹn với Thầy trong những giờ phút vượt qua.
Tôi đã cùng Phêrô vào dinh thượng tế (Ga 18, 15),
và đứng gần bên thập giá của Thầy để đón lời trăng trối (19, 26-27).
Tôi đã nhìn thấy tận mắt mũi giáo đâm cạnh sườn Thầy
khiến máu và nước chảy ra (19, 35).
Tôi cũng là người hốt hoảng chạy đến mộ lúc sáng sớm
khi nghe Maria Mácđala báo tin mất xác Thầy (20, 2).
Nhưng khi đi vào trong mộ, thấy các băng vải quấn xác Thầy còn để đó,
và khăn che đầu được cuốn lại và xếp gọn một bên (20, 7),
tôi được ơn soi sáng để hiểu ngay Thầy đã sống lại (20, 8), 
bởi vì tôi chợt nhớ lúc Ladarô được hoàn sinh ra khỏi mồ,
anh còn bị lúng túng trong mớ khăn và băng vải (Ga 11, 44).
Tôi đã thấy và đã tin Thầy của tôi được Thiên Chúa phục sinh, 
giải thoát Thầy khỏi phiến đá che mộ và đồ liệm xác vướng víu.
Tôi đã tin dù lần ấy tôi chưa gặp Thầy.
Sau này có lần tôi gặp lại thầy ở Biển Hồ quen thuộc (Ga 21, 2. 7).
Qua một đêm trắng tay, chúng tôi đánh được một mẻ cá lớn bất ngờ,
tôi cũng được ơn nhận ra Thầy trước tiên, và nói với Phêrô: Chúa đó!
Thật ra, tôi cũng chẳng hơn gì anh Phêrô,
nhưng vì Chúa thương tôi, nên đôi khi tôi bén nhậy hơn anh ấy.

Gioan, ông là ai ?
Tôi là một ngư phủ vùng Galilê, ít học, ít suy nghĩ chuyện cao siêu.
Nhưng tôi biết mình được một ơn mà nhiều người thèm muốn.
Đó là ơn được sống cận kề với Thầy Giêsu.
Thầy là một mầu nhiệm mà tôi nào có hiểu ngay từ đầu khi ở bên Thầy.
Nhờ được sống lâu, nhờ suy niệm dưới ánh sáng của Thánh Thần,
tôi thấy mình dần dần được đưa vào mầu nhiệm sâu hun hút và lôi cuốn.
Từ từ tôi nhận ra Thầy là ai: Thầy quá lớn lao nhưng lại rất gần gũi.
Tôi tin Thầy là Con Một Thiên Chúa, là Ngôi Lời, mang thần tính như Cha,
nhưng Ngôi Lời ấy đã mang xác thịt yếu đuối như tôi (Ga 1, 14).
Ngài đã ở bên chúng tôi như một người thầy, một người bạn.
Không ai đã thấy Thiên Chúa vinh quang bao giờ,
nhưng chúng tôi đã có thể thấy tận mắt và chiêm ngưỡng (1 Ga 1,1), 
và tay chúng tôi có thể chạm đến một Thiên Chúa bằng xương bằng thịt.
Hạnh phúc khôn tả này, tôi không thể giữ riêng cho mình.
Tôi muốn loan báo cho anh em để hiệp thông và chung vui (1 Ga 1, 3-4).
Tôi muốn làm chứng về mầu nhiệm và muốn viết ra thành sách (Ga 21, 24).
Xin mọi người biết cho rằng mọi điều được viết là xác thực.

Tôi đã không làm chứng bằng cái chết như anh Phêrô,
nhưng tôi làm chứng bằng lời tôi viết.
Dù ai có nói gì về tôi, có ca ngợi về sự biến đổi kỳ diệu nơi tôi,
từ một kẻ nóng tính, háo danh, thô thiển,
đến một người đắm chìm trong chiêm niệm về một tình yêu quá lớn,
tôi cũng chỉ xin mình được mãi mãi nhìn nhận 
như người được Thầy Giêsu mến thương.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu, con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con,
Nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc
Mà con người lại yếu đuối mong manh.
Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt,
Và giữa ánh sáng,
Cũng có những bóng mờ đe dọa.
Lạy Chúa Giêsu,
Nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến,
Xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu
Chúa đã buồn muốn chết được.
Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây,
Xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá
Chúa đã thốt lên: Sao Cha bỏ con?
Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.
Xin đồng hành với con, để con không cô đơn.
Xin cho con yêu đời luôn
Dù đời chẳng luôn đáng yêu.
Xin cho con can đảm
Đối diện với những thách đố
Vì biết rằng cuối cùng
Chiến thắng thuộc về người
Có niềm hy vọng lớn hơn. Amen

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Chia sẽ bài viết này trên:

Xin nhận lấy hồn con (26.12.2018 – Ngày II trong Tuần Bát nhật Giáng sinh – Thánh Stêphanô, tử đạo tiên khởi)

Lời Chúa: Cv 6, 8-10; 7, 54-60

Ông Stêphanô được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân. Có những người thuộc hội đường gọi là hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, gốc Kyrênê và Alêxanria, cùng với một số người gốc Kilikia và Tiểu Á, đứng lên tranh luận với ông Stêphanô. Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông.

Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Stêphanô.

Ðược đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông nói: “Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.” Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông và lôi ra ngoài thành mà ném đá. Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Saolô. Họ ném đá ông Stêphanô, đang lúc ông cầu xin rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con.” Rồi ông quỳ xuống, kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” Nói thế rồi, ông an nghỉ.

Suy niệm:

Giáo Hội mừng kính lễ thánh Stêphanô vào ngay sau lễ Giáng Sinh. 
Ngài đã chết như chứng nhân đầu tiên cho Chúa Giêsu. 
Người làm chứng đã trở thành người tử đạo. 
Stêphanô là một phó tế đầy đức tin và Thánh Thần (Cv 6, 5), 
đầy ân sủng và quyền năng, làm được những điềm thiêng dấu lạ (c. 8). 
Ông gặp sự chống đối từ một số người Do Thái gốc Hy Lạp (c. 9). 
Nhưng họ không địch nổi sự khôn ngoan và Thần Khí nơi ông. 
Ông đã bị bắt, bị đem ra xử trước Thượng Hội Đồng (c. 12). 
Stêphanô đã giảng một bài dài về dòng lịch sử cứu độ (Cv 7). 
Chính bài giảng này đã khiến họ tức điên lên chống lại ông.

Khi đứng trước Thượng Hội Đồng Do Thái giáo, 
khuôn mặt của Stêphanô giống như thiên thần (Lc 6, 15). 
Ông nhìn lên trời, thấy trời mở ra và thấy vinh quang Thiên Chúa. 
Nhưng hình tượng quan trọng ông thấy là Đức Giêsu. 
Ngài đang đứng ở bên hữu Thiên Chúa, ở vị trí danh dự (c.56). 
Ông đã tuyên xưng trước mặt mọi người điều mình vừa thấy. 
“Tôi thấy Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.” 
Stêphanô gọi Đức Giêsu là Con Người, 
một lối nói Đức Giêsu vẫn hay dùng để nói về bản thân. 
Tuyên xưng của ông bị coi là xúc phạm đến Thiên Chúa. 
Những người nghe đã xông vào, lôi ông đi và ném đá ông ở ngoài thành. 
Stêphanô bị ném đá vì tội nói phạm thượng (cc. 57-58). 
Thật ra ông đã chỉ làm chứng về Đấng Công Chính là Đức Giêsu (c. 52).

Cái chết tử đạo của Stêphanô được thánh Luca kể lại 
với những nét giống với cái chết trước đó của Đức Giêsu. 
Cái chết của ông là cái chết an hòa và bao dung. 
Như Đức Giêsu trên thập giá, ông chết khi ông đang cầu nguyện. 
Đức Giêsu đã kêu lên Thiên Chúa, Đấng mà Ngài âu yếm gọi là Cha: 
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46). 
Khi cận kề với cái chết, Stêphanô cũng cầu xin với Đấng ông vừa thấy: 
“Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con” (c. 59). 
Ông gọi Đức Giêsu phục sinh là Chúa và ông trao đời ông cho Ngài, 
như Ngài đã trao đời Ngài vào tay Cha. 
Như Đức Giêsu, Stêphanô đã kêu một tiếng lớn trước khi chết, 
Ông chết trong tư thế quỳ, đống đá đè trên người ông và vùi lấp ông. 
Ông chết trong tư thế cầu nguyện cho kẻ giết mình. 
“Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” (c. 60).

Bầu khí xử án Stêphanô là bầu khí của Ba Ngôi. 
Có sự hiện diện của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu và Thánh Thần. 
Thánh Thần giúp chúng ta làm chứng về Chúa Giêsu cho thế giới. 
Ơn gọi Kitô hữu bao giờ cũng đòi chúng ta lội ngược dòng. 
Ngược dòng với thế gian, với những cám dỗ đến từ chính lòng mình. 
Không chỉ trao linh hồn ta vào tay Chúa lúc ta gần chết, 
chúng ta phải trao đời ta vào mỗi buổi sáng và trong suốt hôm nay.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
nhiều bạn trẻ đã không ngần ngại
chọn những cầu thủ bóng đá,
những tài tử điện ảnh
làm thần tượng cho đời mình.

Hôm nay
Chúa cũng muốn biết chúng con chọn ai,
và chúng con thật sự đắn đo
trước khi chọn Chúa.

Bởi chúng con biết rằng
chọn Chúa là lội ngược dòng,
theo Chúa là bước vào con đường hẹp :
con đường nghèo khó và khiêm nhu,
con đường từ bỏ và phục vụ.

Hôm nay, chúng con chọn Chúa
không phải vì Chúa giàu có, tài năng hay nổi tiếng,
nhưng vì Chúa là Thiên Chúa làm người.
Chẳng ai đáng chúng con yêu mến bằng Chúa.
Chẳng ai hoàn hảo như Chúa.

Ước gì chúng con can đảm chọn Chúa
nhiều lần trong ngày,
qua những chọn lựa nhỏ bé,
để Chúa chiếm lấy toàn bộ cuộc sống chúng con,
và để chúng con
thông hiệp vào toàn bộ cuộc sống của Chúa. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Chia sẽ bài viết này trên:

PHÉP LẠ ĐÊM GIÁNG SINH

Chuyện xảy ra vào Đêm Giáng Sinh nơi xứ đạo nhỏ bên nước Ba Lan. Cha sở lui cui rút giây điện, vì nước trong ấm đã sôi. Chỉ còn 4 tiếng đồng hồ nữa là đúng nửa đêm, cha sẽ cử hành thánh lễ Giáng Sinh cho các tín hữu. Nhưng trước đó, cha sẽ ngồi tòa giải tội cho họ.

Trời Đêm Giáng Sinh lạnh buốt. Bên ngoài tuyết rơi và gió thổi mạnh. Cha sở mặc đến mấy lớp áo mà vẫn run lập cập. Cha lấy trà ra pha để uống cho ấm bụng và tỉnh táo. Vừa loay hoay, cha vừa lẩm bẩm một mình. Thật ra cha sở vẫn có thói quen nói một mình. Bà bếp giải thích với các cụ bà trong giáo xứ, -vốn tò mò muốn biết cha sở nói chuyện với ai-, rằng:
– “Ngài nói chuyện với Thiên Thần Bản Mệnh của ngài ấy mà!”.

Từ khi lời đó tung ra, bỗng trở thành sự thật nơi cha sở .. Đêm nay cũng thế, một mình trong nhà xứ vắng tanh và lạnh lẽo, chống cự với đôi mi nặng trĩu, cha sở thưa chuyện với Thánh Thiên Thần Bản Mệnh:

– “Nếu đúng như lời bà bếp nói, thì xin Thánh Thiên Thần pha trà cho con đi!. Phần con, mệt đến ngất ngư! Mà chút nữa đây, con phải đủ sức để giải tội và dâng thánh lễ cho các tín hữu!” ..
Cha sở đứng bật dậy, vươn vai cho giãn xương cốt và nói tiếp một mình:
– “Can đảm lên nào! Con không biết là người ta đang đợi con sao? Rồi biết đâu sẽ vồ được con mồi lớn, vì, Đêm Nay không giống bất cứ đêm nào khác!”.

Bỗng một tiếng nói hung dữ và đe dọa, phát ra từ sau lưng cha sở:
– “Ông nói chuyện với ai thế?. Ai đang ở trong nhà với ông đây?”. Cha sở giật mình đánh thót một cái! Thì ra có kẻ lẻn vào nhà xứ mà không báo hiệu trước ..

Cha lấy lại bình tĩnh và nhã nhặn trả lời:
– “Tôi nói chuyện với Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của tôi đó, chứ không có ai khác đâu! Ông muốn tôi làm gì nào?”.

Công an dằn mạnh từng tiếng:
-“Thôi ông ơi, đừng có đùa cợt. Tôi cho ông thời giờ dọn va-li, trong khi đó tôi sẽ làm một vòng kiểm soát cặn kẽ nhà xứ”.

Nhìn gương mặt hầm hầm sát khí, cha sở nhận chân tất cả thảm trạng đang xảy ra. Cha không lo cho bản thân, cho bằng nghĩ đến số phận của chính đoàn chiên, vào một đêm trọng đại như đêm nay, Đêm Chúa Cứu Thế sinh ra!.

Cha sở tìm lối, thoát khỏi hiểm nguy. Cha cất tiếng mời:

– “Anh có muốn một tách trà nóng không?”. Người công an trẻ tuổi tỏ dấu do dự, vì kỷ luật đảng nghiêm cấm nhận lời dùng bất cứ thức gì nơi nhà thường dân ..

Nhưng đêm nay trời thật lạnh, vã lại, chàng lẩm nhẩm:

– “Đêm Nay không giống bất cứ đêm nào khác!”. Nghĩ thế, nên chàng đáp cộc lốc:
– “Muốn!”.

Nhanh như chớp, cha sở đút lại giây điện. Vừa dọn tách, đường và bánh ngọt, cha vừa kín đáo theo dõi. Đôi mắt chàng đang đảo quanh một vòng và ngừng lại thật lâu nơi giỏ đựng bánh mì không men. Đây là loại bánh các tín hữu Công Giáo Ba Lan có thói quen chia sẻ với nhau vào buổi chiều Vọng Lễ Giáng Sinh, như dấu chỉ cầu chúc An Bình và Tình Huynh Đệ. Chàng công an như chìm vào một dĩ vãng xa xôi của ngày thơ trẻ, khi còn là một tín hữu Công Giáo ngoan đạo ..

Cha sở cất tiếng kéo chàng ra khỏi giấc mộng:
– “Anh muốn chia sẻ với tôi mẩu bánh mì không men không?”. Chàng giật mình như bị đi guốc trong bụng. Chàng lúng túng trả lời:

– “Chắc hẳn ông cũng như mọi người đều coi tôi như quái vật?”. Cha sở hiền từ đáp:

– “Quái vật ư? Không! Đúng ra là người đáng thương vì nghĩ rằng không ai thương mình!”.

Chàng cay cú:
– “Như vậy ông muốn thuyết phục tôi nghĩ rằng mình là người dễ thương, phải không?”. Cha sở đáp:

– ”Đúng thế và còn hơn thế nữa. Tôi có thể cả quyết rằng: Thiên Chúa yêu thương anh. Ngài yêu thương anh cách đặc biệt!”.

Người công an tức giận nhảy chồm lên:
– “Ông chế nhạo tôi phải không?”. Cha sở chậm rãi nói như rót mật vào tai:

– “Không. Chính vì những hạng người xấu như anh và tôi mà có một ĐÊM GIÁNG SINH. Chúa Giêsu xuống trần để gánh lấy tội lỗi của chúng ta. Nếu chúng ta bằng lòng trao tội lỗi của chúng ta cho Người, thì có nghĩa là GIÁNG SINH: Chúa sinh ra trong lòng chúng ta và sinh ra trên thế giới. Đây chính là HÒA BÌNH cho người thiện tâm, là mầu nhiệm Con Thiên Chúa giáng trần! Điều quan trọng là phải chấp nhận Món Quà Giáng Sinh của Chúa Hài Đồng”.

Người công an trẻ tuổi lặng lẽ nghe cha sở nói. Như hồi tỉnh khỏi một cơn ác mộng, chàng nhỏ nhẹ hỏi:

-“Nếu bằng lòng chấp nhận, con phải làm gì?”. Cha sở vui mừng đáp ngay:

– “Chúa ơi, thì anh phải xưng tội tức khắc!”.

Và phép lạ Đêm Giáng Sinh đã xảy ra. Chàng công an thật lòng thống hối, dọn mình xưng tội.

Sau đó chàng theo cha sở ra nhà thờ xưng tội và tham dự thánh lễ Đêm Giáng Sinh với các tín hữu Công Giáo đạo đức .. 

(Maria Winowska ”Les Voleurs de Dieu”, Editions Saint Paul, 1989, trang 11-18.)
Jean Berchmans Minh Nguyệt

Chia sẽ bài viết này trên:

Bảo tồn gia đình Công Giáo

Trong những ngày áp lễ Giáng Sinh này, tôi có cơ hội nhìn ngắm cách người ta đón ngày lễ trọng đại này. Tại những thành phố lớn, người ta đổ xô đến những khu mua sắm sầm uất. Người ta nô nức đến những khu phố có trưng đèn hoa, cây thông để chụp hình, đăng facebook. Trong những khu phố Công Giáo, người ta thấy những hang đá được dựng lên hoành tráng và công phu. Ở một đoạn phố khác, nhiều đoàn người lướt qua chiêm ngưỡng và râm ran bình phẩm cách bố trí bày biện hang đá. Để cho sôi động, người ta tổ chức múa nhảy với màn biểu diễn của những DJ nóng bỏng ngay trên đường khiến những người đi đường cũng nóng nảy không kém. Ở một khu phố khác lặng lẽ hơn, người ta cũng thấy những hang đá với Thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Giê-su nhưng im ắng và sâu lắng. Nhìn những gam màu cuộc sống khác nhau, nghe những âm thanh của cuộc đời như thế, tôi tự hỏi thực ra người ta làm hang đá để làm gì? Để trang trí vì nó là biểu tượng của Giáng Sinh, hay bởi người ta muốn bảo tồn tính Ki-tô Giáo nơi gia đình mình? Chiêm ngắm gia đình Ki-tô giáo đầu tiên, ta nhận thấy những điều đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trong gia đình Công Giáo ngày nay.

Trước một thế giới tôn thờ vật chất, gia đình Công Giáo hẳn không cầu cho mình giàu có. Người mong giàu có hẳn sẽ chẳng thờ phượng một Hài Nhi sinh ra và sống trong cảnh nghèo hèn như thế. Chẳng thế mà chàng thanh niên giàu có kia đã chán ngán bỏ Chúa mà đi. Người ta đã giàu thì muốn giàu hơn, đã có danh thì muốn thăng tiến hơn. Rốt cuộc, người ta có được cuộc sống thoải mái, nhưng lại chẳng đảm bảo cho mình có đời sống hạnh phúc và viên mãn. Dần dà, người giàu cũng phần nào trở thành một ông thần trong xã hội này. Nhiều người đến với họ nhưng thật khó để biết người ta đến vì quý mến chân thành hay chỉ vì lợi dụng nhau.

Phần Chúa Giêsu, Người dạy các môn đệ hãy xin cho mình có lương thực đủ dùng hàng ngày. Biết đủ, nghèo cũng là giàu; không biết đủ, thừa thãi mà vẫn thấy nghèo. Có lẽ, một khi tôn kính Gia Đình Thánh Gia – một gia đình nghèo, gia đình Kitô Giáo đầu tiên – trong gia đình mình, người ta không sợ mình nghèo. Người ta chỉ sợ mình vì cái nghèo mà không còn sống ngay chính và yêu thương mà thôi.

Trước một thế giới thích bình phẩm công kích, gia đình Công Giáo cũng dễ đánh mất đi sự thinh lặng thánh thiêng. Thánh Giuse là người trải qua những điều khó nói và chẳng biết chia sẻ cùng ai. Ngài đã định tâm bỏ đi trước vị hôn thê đang cưu mang một hài nhi không phải của mình. Còn Đức Maria, người cũng mang nơi mình một sứ vụ cao cả trong công việc Nhà Chúa. Người không biết phải giải thích thế nào để thánh Giuse hiểu. Đúng là phụ nữ nhiều khi sống chịu đựng và chỉ biết thinh lặng. Nhưng nơi thánh Giuse, người ta sẽ thấy, người nam chịu đựng không phải ít. Nếu bảo người nam có quyền quát tháo nói lớn trong nhà, thì nơi thánh Giuse, chúng ta thấy một người chồng sống thầm lặng và vâng phục những điều Chúa gửi tới đến lạ. Nếu nói người nam thích ra lệnh, chỉ tay năm ngón, bắt người khác phục vụ, thì thánh Giuse sống trách nhiệm, bảo vệ và chăm sóc gia đình.

Trong bối cảnh ngày nay, hai chữ “trách nhiệm” đang bị liệt vào sách đỏ, dễ có nguy cơ bị tuyệt chủng, nhường chỗ lại để hai chữ “vứt bỏ” lên ngôi. Người ta sẵn sàng giết chết một sự sống khi con trẻ chưa được chào đời. Người ta sẵn sàng vì lợi ích của mình, vì những điều không mấy dễ chịu trong đời sống vợ chồng mà vứt bỏ luôn cái gọi là “tổ ấm” của những đứa con.

Tôn kính thánh Giuse và Mẹ Maria, hẳn gia đình Công Giáo đang xin cho mình được can đảm đón nhận những biến cố xảy đến trong cuộc đời với thái độ thinh lặng và khiêm tốn. Thinh lặng để nhìn nhận vấn đề cho thấu đáo, khiêm tốn để xin sức mạnh vượt qua điều ấy. Đau khổ và những khó khăn ở đời này dễ làm cho người ta quay quắt, nổi nóng và làm người khác tổn thương. Can đảm đón nhận, thinh lặng nhìn nhận và sống có trách nhiệm không phải là điều dễ dàng!

Rước Gia Đình Thánh vào trong gia đình mình, người ta xin cho mình sống “tình yêu” và “hy sinh”. Chữ “hy sinh” này đang sắp bị tuyệt chủng, còn đáng báo động hơn cả hai chữ “trách nhiệm”. Sự hy sinh đòi hỏi một sự tế nhị và âm thầm. Ngày nay, dễ gì có chuyện mình sẵn sàng hy sinh, nhường nhịn một chút để gia đình êm ấm, thuận hoà. Dễ gì có chuyện vợ chồng hy sinh những thói xấu của nhau để nên một. Dễ gì bỏ được thói quen hút thuốc, say xỉn chỉ vì vợ con. Dễ gì bỏ được thói nói hành, nói xấu, chọc bị gậy, đâm bị thóc. Nhưng ngay cả khi người ta không có sức mạnh để thắng mình đi nữa, thì vì tình yêu, người ta có thể làm tất cả. Hy sinh quảng đại chính là để tình yêu được thắm   nồng. Nhưng yêu thương lại là một ơn. Mà là một ơn, thì người ta chỉ còn biết nài xin và đón nhận. Đau khổ và vui mừng sẽ chẳng biến mất trên cõi đời này, nhưng ước gì khi làm một hang đá trong gia đình, xứ đạo mình, gia đình Công Giáo cũng bảo tồn được sự thinh lặng suy gẫm Lời Chúa, sống sự hy sinh tế nhị, và gia đình được sống trong yêu thương, bình an.

Nhiều đoàn du khách từ khắp nơi đến thăm hang đá làm bằng cát ở quảng trường Thánh Phê-rô. Đâu đó có một bà mẹ đang kể cho đứa con nhỏ nghe câu chuyện về Hài Nhi năm xưa. Và hai mẹ con chắp tay cầu nguyện.

Nguồn : Dòng Tên

Chia sẽ bài viết này trên:

“Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”

(LỄ GIÁNG SINH Thánh Lễ Ban Đêm và Rạng Đông)

(Lc 2, 1-20)

1 Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.2 Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri.3 Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.4 Bởi thế, ông Giu-se từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít tức là Bê-lem, miền Giu-đê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đa-vít.5 Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai.6 Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.7 Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

8 Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.9 Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.10 Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.”13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:

14 “Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”

15 Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết.”16 Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Luca, được công bố trong Thánh Lễ Ban Đêm và Thánh Lễ Rạng Đông Giáng Sinh, mời gọi chúng ta hướng đôi mắt và tâm hồn về hình ảnh “Hài Nhi Giê-su bọc tã nằm trong máng cỏ”:

Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con,
rồi đặt nằm trong máng cỏ

(c. 7)

Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã,
nằm trong máng cỏ

(c. 12)

Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se,
cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ

(c. 16)

Ba lần Dấu Chỉ “Hài Nhi bọc tã nằm trong máng cỏ” được nhấn mạnh, đánh dấu ba phần rất rõ rệt của trình thuật kể về mầu nhiệm Giáng Sinh:

  • Mầu nhiệm Giáng Sinh và “Một Trẻ Sơ Sinh” (c. 1-7)
  • Mầu nhiệm Giáng Sinh và cuộc kiểm tra dân số (c. 8-14)
  • Mầu nhiệm Giáng Sinh và “Tin Mừng Trọng Đại” (c. 15-20)
  1. Mầu nhiệm Giáng Sinh và “Một Trẻ Sơ Sinh”

Vì thế, trong Đêm Canh Thức Giáng Sinh, chúng ta được mời gọi dành nhiều thời gian để chiêm ngắm hình ảnh: “Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” như thánh sử Luca kể lại cho chúng ta, để với ơn Chúa, chúng ta cảm nếm được sự âm thầm, khiêm tốn và hiền lành của chính Thiên Chúa, ngược hẳn với những gì loài người chúng ta tưởng tượng và chờ mong đối với biến cố Emmanuen, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Âm thầm, khiêm tốn và hiền lành, nhưng đó lại là sức mạnh, khôn ngoan và khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, có khả năng chiến thắng sự ồn ào (để kết án), ngạo mạn và bạo lực của Sự Dữ, như lời Thánh Vịnh loan báo (Tv 8, 3):

Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ
cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù,
khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan.

Thật vậy, ngay trước khi Ngài đi vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su sẽ trích dẫn lời Thánh Vịnh này và làm cho lời này được hoàn tất nơi thân thể của Người trên Thập Giá:

Nhưng còn lời này, các ông chưa bao giờ đọc sao:
Ta sẽ cho miệng con thơ trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen?

(Mt 21, 16)

Như thế, Đức Giê-su, Ngôi Lời Thiên Chúa đã trở nên như em bé và sẽ sống như em bé đến cùng, trước khi mời gọi các môn đệ và chúng ta hôm nay trở nên như em bé (x. Mc 10, 13-16; Mt 18, 3 và 10, 13-15; Lc 18, 15-17).

Xin cho chúng ta đừng bị mê hoặc và sống theo vẻ bề ngoài, để có thể nhận ra sự hiện diện âm thầm, khiêm tốn và hiền lành của Ngôi Lời Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, trong thế giới chúng ta đang sống và trong cuộc đời chúng ta, và để sống căn tính đích thật và cũng là ơn gọi của chúng ta, là trở nên “em bé”, trong tương quan với bản thân, với Chúa và với nhau.

  1. “Mầu nhiệm Giáng Sinh” và cuộc kiểm tra dân số

Biến cố “Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” là hệ quả của một sự kiện lịch sử có tầm mức toàn thiên hạ và của một của chuỗi những diễn biến xẩy sau đó, như trình thuật Tin Mừng kể lại:

  • Hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ truyền kiểm tra dân số trong khắp thiên hạ.
  • Thánh Giuse, thuộc dòng tộc Đa-vít, cùng với Đức Maria, phải về nguyên quán.
  • Đức Maria đang có thai và đã đến lúc sinh con.
  • Và hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

Dưới ánh sáng của mầu nhiệm Giáng Sinh, chúng ta nhận ra rằng, cách Thiên Chúa đến với thế giới loài người của chúng ta hoàn toàn không có gì là ngoại thường, và nếu có, thì hoàn toàn ẩn dấu, như biến cố sinh ra của Thánh Gioan Tiền Hô, các biến cố truyền tin cho Đức Maria và cho Thánh Giuse, cách loan báo Tin Mừng Trọng Đại cho các mục đồng; và cả trong cách thánh sử kể lại mầu nhiệm Giáng Sinh nữa, hoàn toàn không có gì “lạ lùng” xẩy ra, nếu xét mầu nhiệm một các riêng biệt. Như thế, Thiên Chúa hoàn toàn khuôn theo dòng chảy của lịch sử và hơn nữa theo ý muốn và hành động của con người. Và đó cũng đã và sẽ là cách Người đi đến, hiện diện và dẫn dắt lịch sử cứu độ và lịch sử loài người, thế giới và cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Hơn nữa, Người hoàn toàn đón nhận “chỗ” mà loài người chúng ta dành cho Người, “vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ”. Và trong hành trình Nhập Thể và mặc lấy thân phận Con Người, Người cũng sẽ đón nhận trong âm thầm, khiêm tốn và hiền lành, chỗ mà con người dành cho Người trên Thập Giá ở Đồi Sọ. Nhưng Người lại dùng vị trí, thậm chí điều dữ con người dành cho Người, để bày tỏ Dung Nhan rạng ngời, là “tình yêu đến cùng” của Người, cho loài người chúng ta (x. St 50, 20).

Thiên Chúa đến với loài người chúng ta như một em bé trong mầu nhiệm Giáng Sinh và cũng sẽ ra đi như một “em bé”, ngang qua Thập Giá, nhưng đó lại là cách tuyệt vời nhất và cũng nhiệm mầu nhất Thiên Chúa bày tỏ sức mạnh và khôn ngoan thần linh của Ngài (x. 1Cr 1, 24). Phải chăng, đó cũng là như thế đối với những giới hạn, yếu đuối và tội lỗi, dù là tội gì đi nữa, của chúng ta? Xin Chúa ban cho chúng ta sự bình an thẳm sâu, khi nhìn ngắm Người là “Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” trong mầu nhiệm Giáng Sinh.

  1. Mầu nhiệm Giáng Sinh và “Tin Mừng Trọng Đại”

“Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, nhưng lại được loan báo như “Tin Mừng Trọng Đại”, được công bố là Đấng Cứu Độ, là Đấng Ki-tô Đức Chúa:

Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.

(c. 10-11)

“Tin Mừng Trọng Đại” đã được sứ thần loan báo cho Đức Maria: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 31-33); và cho Thánh Giuse: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1, 20-21)

Tuy nhiên, lời mặc khải của Thiên Chúa thuộc về ý nghĩa của biến cố, chứ không thay đổi biến cố, bởi lẽ sứ thần mời gọi người nghe đi tìm cùng một biến cố như đã diễn ra trong lịch sử: “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (c. 12). Và trong trình thuật Tin Mừng, ý nghĩa thần linh này được minh họa bởi sự xuất hiện của sứ thần với vinh quang Thiên Chúa và nhất là bởi khung cảnh và âm thanh thần linh thật bừng sáng, bởi vì muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa:

Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.

Điều này làm chúng ta nhớ đến những trang hoàng với lòng mến của chúng ta khắp nơi và nhất là chung quanh hang đá thô sơ : ánh nến và ánh đèn đủ màu đủ kiểu, ngôi sao các loại, thiên thần bay lượn, âm nhạc réo rắt… Ước gì những trang hoàng bừng sáng này chính là để diễn tả lòng tin của chúng ta nơi sự hiển hiện thần linh của Thiên Chúa khởi đi từ những gì âm thầm nhất, khiêm tốn nhất và hiền lành nhất.

*  *  *

Tin Mừng trọng đại, nhưng lại được loan báo cho những người bé nhỏ, “những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật”; ở đây, một cách rất cụ thể, đó là những người Chúa thương. Điều này làm chúng ta nhớ tới biến cố sứ thần truyền tin cho Đức Maria, “Nữ Tì Hèn Mọn” của Đức Chúa. Bởi lẽ, ai có thể đón nhận một lời loan báo lớn lao như thế khởi đi từ dấu chỉ “Em Bé sơ sinh nằm trong máng cỏ”, nếu không phải là những người “giống” như Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể nhất, nghĩa là cũng âm thầm, khiêm tốn và hiền lành? Và quả thực, Thiên Chúa đã không lầm, bởi vì những người chăn chiên đã mở lòng ra cách vô điều kiện để lắng nghe sứ điệp, lên đường, tín thác và ca tụng Thiên Chúa. Vậy, trong Đêm Giáng Sinh, chúng ta có ước ao và sẵn lòng trở nên “những người chăn chiên không”?

*  *  *

“Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, nhưng Ngài không thể tự mình sinh ra và cũng không thể ở và sống một mình. Chung quanh ngài, có hơi ấm yêu thương của mẹ hiền và có sự hiện diện âm thầm nhưng quảng đại của người cha, ngang qua lời “xin vâng”, được sống mỗi ngày và suốt đời của các ngài. Vì thế, các hang đá của chúng ta nên có sự hiện diện đầy đủ của cả bố và mẹ Hài Nhi. Và khi nhìn ngắm Chúa Hài Đồng, chúng ta đừng quên cảm phục Đức Maria và Thánh Giuse đã đón nhận hài nhi Giê-su vào mái ấm của mình, và qua mái ấm của mình, đón nhận Ngài vào dân tộc của mình và vào gia đình nhân loại. Các ngài đã đón nhận Ngôi Lời Nhập Thể một cách vô điều kiện, đón nhận mà không lường hết được con đường dài đầy thử thách ở phía trước, và đón nhận cả khi không hiểu được hết mọi sự, như bài Tin Mừng kể lại:

Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.
Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.

(c. 18-19)

Ngôi Lời Thiên Chúa vẫn tiếp tục « nhập thể » hôm nay và Ngài cần đến chúng ta biết bao, những “Giu-se và Maria” khác, sẵn sàng thưa “xin vâng” với tâm tình tạ ơn và ca tụng, khởi đi kinh nghiệm sâu đậm về Tình Yêu nhưng không mình nhận được, hi sinh cả một đời cho Ngôi Lời sinh ra, hiện diện và lớn lên trong lòng và trong cuộc đời mình, ở giữa mọi người và trong thế giới hôm nay. Đó chính là

NIỀM VUI TIN MỪMG
được lan tỏa từ
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA

*  *  *

Kính chúc Quí Cha, Quí Thầy, Quí Sœur và Quí Anh Chị Em

Lễ Giáng Sinh tràn đầy niềm vui

Một Năm Mới thật nhiều ơn lành

của « Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta
 »

(Ga 1, 1-18)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

Thánh Phêrô VŨ TRUẬT, Phêrô TRƯƠNG VĂN ĐƯỜNG, Phaolô NGUYỄN VĂN MỸ

Ngày 18 tháng 12 – Thánh Phêrô Vũ Truật, Thày giảng (1817-1838) – Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN ĐƯỜNG, Thày giảng (1808-1838) – Phaolô NGUYỄN VĂN MỸ, Thày giảng (1798-1838)

Ba thày giảng cùng bị bắt  một ngày, cùng bị giam một nơi, cùng tử đạo một giờ và cùng được phong Chân Phước một lượt là các thày: Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, 40 tuổi; Phêrô Trương Văn Đường, 30 tuổi và Phêrô Vũ Truật, 21 tuổi.

Thày Phêrô Vũ Truật, 21 tuổi, đáng lưu danh muôn thuở cho câu nói bất hủ,
 trả  lời lại những viên quan chê dại dột lãng phí tuổi thanh xuân: “Chưa chắc là tôi dại. Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời”.

Phêrô Vũ Truật sinh năm 1817 ở làng Hà Thạch, họ Kẻ Thiếc, huyện Sơn Vy, trấn Sơn Tây. Gia đình anh rất nghèo, cha chết sớm, vốn liếng lại chẳng có, mẹ anh phải đầu tắt mặt tối suốt ngày,để nuôi ba con dại, nên Phêrô Truật không được đi học và gầy yếu xanh xao. Tuy nhiên, anh Truật có lòng đạo đức, thường lui tới nhà thờ kinh lễ, nên được cha Tân chánh xứ Bầu Nọ chọn vào phục vụ những việc nhẹ trong xứ và tạo điều kiện cho ăn học. Dầu thế mặc lòng, anh Truật cũng chẳng bằng ai, phần trí khôn hơi chậm, phần hay bị đau ốm luôn, anh chỉ có thể biết đọc biết viết sơ sơ. Bù lại, anh rất thuộc kinh, nên đặc trách việc dạy kinh truyền khẩu cho các thiếu nhi nhỏ tuổi.

Mãi đến khi bị bắt giam trong ngục tù rồi, Đức cha Havard Du mới chứng nhận anh là thày giảng, vừa để lòng tin làm chứng cho đức tin. Thày Truật tuy không còn cơ hội để giảng bằng lời nói, nhưng thái độ kiên tín của thày chính là lời giảng có sức thuyết phục hơn nhiều.

“Nhất định chúng tôi không đạp lên ảnh chuộc tội, vì như vậy là chọn cái chết đời đời cả linh hồn lẫn xác”.
 Lời nói trên cho ta thấy tâm tình của thánh Phêrô Đường, vị thày giảng đã hơn 20 năm dâng mình cho Chúa, để tìm kiếm hạnh phúc đích thực cho chính mình và ta nhân. Sinh năm 1808 ở làng Kẻ Sở, xã Ninh Phú, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Gia đình Phêrô Đường tuy nghèo nhưng nổi tiếng thánh thiện. Được cậu là linh mục Trương Văn Thi phụ trách xứ Sông Chảy đỡ đầu, nên ngay khi chú Đường mới 9 tuổi, cha Phương xứ Yên Tập đã nhận khai tâm cho chú vào đời sống tu trì. 15 tuổi, anh Phêrô Đường đã được gủi đến giúp xứ Bầu Nọ dưới quyền thừa sai Marette. Với sự khích lệ của cha, anh chuyên tâm học chữ Hán và Latinh để chuẩn bị cho tương lai. Khả năng và nhân cách của anh Phêrô đường được xác nhận ngay năm sau. Anh được Đức cha Havard Du nhận vào bậc thày giảng dù mới 16 tuổi, thày giảng trẻ tuổi nhất. Thày tiếp tục giúp xứ Bầu Nọ thời cha Cornay Tân, cho đến ngày bị bắt. Tính tình vui tươi, hiền lành, thày được mọi người trong xứ mến chuộng.

Là người lớn tuổi nhất, thày Phaolô Mỹ như người anh cả, và là chỗ dựa cho hai thày giảng cùng bị giam chung.
 Trong một lá thư gửi cho thừa sai Marette, thày Đường viết: “ Từ ngày được diễm phúc chịu khó vì đức  tin, thày Mỹ thay chúng con vẫn viết thư cho cha. Vì chúng con coi thày như thay mặt cha ở giữa chúng con”

Phaolô Nguyễn Văn Mỹ chào đời năm 1798 ở làng Kẻ Non, còn gọi là Sơn Nga, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Tên thật của cậu là Nguyễn Văn Hữu. Năm 13 tuổi, được phép cha mẹ, cậu Mỹ theo giúp việc Đức cha Giacôbê Longer Gia rồi sau giúp cha Luật xứ Kẻ Đầm bốn năm. Đến năm 19 tuổi, cậu theo học tại chủng viện Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị). Khi làm thày giảng thực thụ, thày Mỹ được gửi đến giúp thừa sai Marette. Ít lâu sau, Đức cha Harvard Du giám quản giáo phận Tây Đàng Ngoài, đã chọn thày phụ giúp linh mục Cornay Tân, xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây. Nhiều kinh nghiệm và khả năng, thày Mỹ đã hỗ trợ đắc lực cho vị thừa sai trẻ tuổi nhiệt thành, nhưng thường đau ốm nặng nề này. thày Mỹ luôn hoàn thành công tác mục  vụ một cách chu đáo: Từ giảng lý tân tòng và trẻ em, đến khuyên bảo tội nhân hối cải. Khi tình hình cấm đạo lên cao độ, thày là vị tông đồ nhiệt thành và hữu hiệu, đi thăm từng gia đình để khích lệ các tín hữu sống đức tin, và còn hơn thế, được nhiều người ngoại giáo về đón nhận niềm tin Kitô giáo. 
Một bức cổ họa ghi lại :  Thánh Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, thầy giảng, sinh năm 1798 tại Hà Nam;

Thánh Phêrô Vũ Văn Truật, thầy giảng, sinh năm 1816 ở Hà Nam; 
Thánh Phêrô Trương Văn Đường, thầy giảng, sinh năm 1808 tại Hà Nam,
bị xử giảo ngày 18-12-1838 tại Sơn Tây. 

  Ba tấm lòng vàng Ở Bầu Nọ có người ngoại giáo  tên Đức cầm đầu một băng cướp đã bị bắt. Để nhẹ tội, y nói với vợ là Yến vu oan cho cha Cornay Tân tội tổ chức phản loạn. Chị ta liền giả vờ đến xin học đạo để dò xét những nơi cha thường trú ẩn. Khi biết được, chị ta liền giấu vũ khí trong vườn nhà cha, rồi đi mật báo cho các quan tỉnh Sơn Tây. Ngày 20-6-1837, quan Sơn Tây phái 1500 quân lính đến làng Bầu Nọ, bắt linh mục Tân. Hai thày Mỹ và Đường cũng như anh Truật ngồi lẫn vào đám đông dân chúng bị tập trung nơi đình làng. Lính lục soát từ sáng tới trưa vẫn không thấy cha Tân đâu cả. Bà Yến liền bày cho họ bắt anh Truật và hai thày Mỹ, Đường, là những người thân thiết với cha xứ để tra hỏi. Chiều hôm đó, lính phát hiện được cha đang ẩn trong bụi rậm. Nhưng để có thêm nhân chứng ghép tội cha, ba vị phụ tá này cũng bị áp giải với ngài hơn sáu dặm đường, về nhà lao tỉnh Sơn Tây. Tại công đường, ba vị đã khéo léo minh chứng cha xứ không theo giặc nổi loạn, và giải thích những lời đồn đại sai về đạo. Thí dụ quan hỏi: “Sao các ông móc mắt người chết để luyện bùa phép ?” Thày Mỹ trả lời: “Không lẽ quan tin những lời đồn đãi vô lý đó sao ? Bởi nếu chúng tôi làm như thế, cha mẹ vợ con họ đâu để cho chúng tôi yên. Vậy mà chúng tôi vẫn ra vào nhà họ, gặp gỡ thân ái và vui vẻ” Các cuộc thẩm vấn thường đi liền với những tra tấn dã man. Đây là chứng thư của thày Mỹ: “Lính lột áo chúng tôi ra, bắt chúng tôi nằm xuống lấy dây thừng cột tay chân, rồi kéo căng cột vào bốn góc, nguyên sự căng nọc cũng làm chúng tôi đau đớn vô cùng, thế rồi họ bắt đầu đánh đòn. Cuối cùng họ không đánh bằng một chiếc roi nữa mà là cả bó. Mỗi lần đánh hằng trăm đầu roi mây in lằn trên da thịt chúng tôi, tạo nên nhiều vết thương đẫm máu” Riêng thày Truật vì ốm yếu nên được đeo gông nhẹ hơn và bị ít đòn hơn. Nhưng sau mỗi kỳ tra tấn cả ba người đều bị kiệt sức, phải khiêng về ngục thất. Ngày 20-9, lính canh tù loan tin cha Tân đã bị trảm quyết, và khuyên các thày bỏ đạo cả ba vị cùng nói: “Chúng tôi mừng vì thày chúng tôi được tử đạo, chúng tôi nguyện theo gương Ngài.” Giai đoạn này thày Mỹ ghi lại một lá thư: “Suốt bốn tháng liền chúng tôi bị gông cùm xiềng xích, chịu lính canh ngược đãi, phòng giam ẩm thấp hôi hám, ruồi muỗi tự do hoành hành, trên người thì đầy những vết thương bị tra tấn.” Tháng 10 bản án tỉnh Sơn Tây tâu vua Minh Mạng được chuẩn phê và gởi về. Nhưng thay vì giết ngay bản án quyết định “giam hậu” nghĩa là khoan xử chờ quyết định mới, bề ngoài có vẻ nhân đạo, nhưng thật ra bên trong rất thâm độc. Với thời gian nhiệt tình ban đầu có nguy cơ phai nhạt, vì tử tội luôn bị ám ảnh đến chuyện phải ngồi tù không biết đến bao giờ. Đàng khác sự chịu đựng con người có hạn, quá khổ đau, quá mòn mỏi, quá thất vọng, con người dễ bị lung lạc và dễ bị thay đổi  ý định. Thực tế ba thày giảng phải chờ thêm 14 tháng, vị chi tất cả là một năm rưỡi bị giam cầm. Nhưng suốt thời gian bị giam cầm  thử thách lâu dài đó, ba thày vẫn gắn bó với nhau trong nhẫn nại, can đảm và giữ mãi phúc tử đạo, mỗi sáng cũng như mỗi tối, các thày lớn tiếng đọc kinh Mân Côi chung, cầu nguyện chung, các đồ ăn thức uống, thuốc men nhận được ba vị chia sẻ cho lính canh, ai đến thăm đều được khuyên nhủ: “Anh em hãy sống hòa thuận với mọi người  trong gia đình, làng nước, hãy là giáo hữu nhiệt thành, vì đời sống trần gian chẳng là bao. Chúng tôi đã vâng theo ý Chúa định đoạt, hy vọng mai này chúng ta sẽ đoàn tụ trên Nước trời” Cha Triệu giả làm thường dân mang Mình Thánh Chúa cho các thày, đó quả là hồng phúc lớn lao. Ta thử đọc tâm sự của thày Đường gởi cho cha Marette trong thư: “Hôm nay là ngày trọng đại chúng con được rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn Chúa đã viếng thăm và làm vơi nhẹ những xiềng xích của chúng con. cửa Thiên Đàng đã gần kề, nghĩ đến hạnh phúc đang chờ đợi, chúng con chẳng còn ước ao sự gì khác nữa.” Cùng Chiến Thắng Vinh Quang Năm 1838, triều đình duyệt lại bản án và chỉ thị cho quan tỉnh Sơn Tây thi hành. Ngày 18-12 ba chứng nhân anh dũng bị điệu ra pháp trường ở Gò Vôi làng Mông Phụ, tỉnh Sơn Tây. Mỗi người mang trên ngực tấm thẻ ghi tên họ, nguyên quán, tội theo đạo Giatô, đã thú nhận, truyền xử trảm. Trên đường đến nơi hành quyết, như đã hẹn trước ba thày cùng làm dấu khi thấy cha Triệu đứng giữa dân chúng ban phép lành tha tội. Một người lính cho các Ngài uống rượu, ba vị cám ơn, uống nước trà và nói: “Thày giảng chúng tôi kiêng rượu như kiêng sắc dục và kiêng phản bội.” Đến nơi xử, ba thày nằm dài trên chiếu, quân lính quây thành một vòng tròn lớn, để ngăn cản dân chúng. Từng vị một bị trói chân vào cột và trói chéo tay ra sau lưng. Dây thừng tròng sẵn vào cổ. Giữa tiếng chiêng trống vang rền, theo lệnh quan mỗi tên lính nắm chặt đầu dây xiết thật căng, chờ tới khi tất cả tắt thở, máu ứa ra miệng. Sau đó lấy lửa đốt  gan bàn chân để xác nhận các tử tội đã chết thật rồi. Cha Marette và giáo dân đưa thi hài ba thày về họ Kẻ Măng gần đấy tẩm liệm. Ngài dâng lễ cầu hồn tạ ơn Chúa đã cho các bậc tôi trung thắng trận khải hoàn.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII suy tôn ba thày Phaolô Nguyễn Văn Mỹ, Phêrô Trương Văn Đường và Phêrô Vũ Truật  lên bậc chân phước ngày 27-05-1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.


Lm. Đào Trung Hiệu, OP

Chia sẽ bài viết này trên:

Gia Phả Tốt Xấu của Chúa Giê-su

Thứ 2, 17-12-2018 (Mt 1, 11-17)

Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:

Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron; Khét-xơ-ron sinh A-ram; A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son; Nác-son sinh Xan-môn; Xan-môn lấy Ra-kháp sinh Bô-át; Bô-át lấy Rút sinh Ô-vết; Ô-vết sinh Gie-sê; ông Gie-sê sinh Đa-vít.

Vua Đa-vít lấy vợ ông U-ri-gia sinh Sa-lô-môn; Sa-lô-môn sinh Rơ-kháp-am; Rơ-kháp-am sinh A-vi-gia; A-vi-gia sinh A-xa; A-xa sinh Giơ-hô-sa-phát; Giơ-hô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Út-di-gia; Út-di-gia sinh Gio-tham; Gio-tham sinh A-khát; A-khát sinh Khít-ki-gia; Khít-ki-gia sinh Mơ-na-se ; Mơ-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-gia; Giô-si-gia sinh Giơ-khon-gia và các anh em vua này; kế đó là thời lưu đày ở Ba-by-lon.

Sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, Giơ-khon-gia sinh San-ti-ên ; San-ti-ên sinh Dơ-rúp-ba-ven; Dơ-rúp-ba-ven sinh A-vi-hút; A-vi-hút sinh En-gia-kim; En-gia-kim sinh A-do; A-do sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-khin; A-khin sinh Ê-li-hút; Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

Như thế, tính chung lại thì: từ tổ phụ Áp-ra-ham đến vua Đa-vít, là mười bốn đời; từ vua Đa-vít đến thời lưu đày ở Ba-by-lon, là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Ba-by-lon đến Đức Ki-tô, cũng là mười bốn đời.

SUY NIỆM

Có lẽ bài Tin Mừng hôm nay là bài Tin Mừng khô khan nhất trong năm, chỉ là một danh sách dài các tên mà nhiều trong số đó hầu hết các Ki-tô hữu hiếm khi biết tới. Nhưng lại tỏ vang một thông điệp rằng: Chúa Giê-su hoàn toàn làm người với đầy đủ các đức tính tốt, xấu của một xác phàm.

Một trong những mục đích chính của Tin Mừng Mát-thêu là để chỉ ra nguồn gốc, thân thế của Chúa Giê-su, Ngài không xuất thân từ điểm khởi đầu nhưng nằm trong sự tiếp nối của lịch sử và truyền thống Ít-ra-en. Ngài là kết quả phát triển tự nhiên từ mối tương quan giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Không những thế, Ngài còn là đỉnh cao của sự mong đợi, Đấng Mê-si-a, Đấng Ki-tô, Vua dân Do Thái.

Đoạn Tin Mừng này là phần mở đầu trong Tin Mừng Mát-thêu, được viết như sau “Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.” Đây là hai tên tuổi nổi bật nhất trong gia phả. Đức Giê-su sẽ làm vua trong gia phả vua Đa-vít, và Ngài là hậu duệ từ Áp-ra-ham, người mà được Thiên Chúa đã hứa cùng ông: “Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta.” (St 22,18)

Gia phả nhà Đức Giê-su được chia thành 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn gồm 14 đời. Chia như vậy có lẽ là do trong tiếng Do Thái, tên Đa-vít có 14 chữ cái. Giai đoạn thứ 3 thực chất chỉ có 13 thế hệ. Có lẽ Mát-thêu có ý thêm Giê-su là thế hệ thứ 14 trong danh sách. Sau cùng, gia phả Chúa Giê-su vẫn tiếp tục từ trước Ngài, tới Ngài và sau Ngài.

Giai đoạn đầu là từ Áp-ra-ham tới Vua Đa-vít, giai đoạn thứ hai từ Đa-vít tới thời lưu đày ở Babylon, và gian đoạn cuối từ thời lưu đày tới thời Thánh Giu-se và Mẹ Maria.

Tất nhiên đây không phải là gia phả hoàn chỉnh, nhưng tất cả các tên được nêu trên đều xuất hiện cách này hay cách khác trong Cựu Ước Do Thái. Có bốn người phụ nữ được nêu tên gồm Ta-ma, Ra-ha, Rút và Maria. Mỗi người họ đều có những đặc tính tốt theo cách riêng. Nhưng cũng có rất nhiều trong gia phả là những kẻ vô lại, thậm chí gồm cả vua Đa-vít, một trong những người tôi tớ xuất chúng của Thiên Chúa, đã từng là một kẻ ngoại tình và giết người (không tính những người ông giết trong chiến tranh).

Khi con Thiên Chúa xuống thế làm người, Ngài thực sự chỉ là một xác phàm như mỗi chúng ta. Sách Tin Mừng không hề cố gắng “tẩy trắng” cội nguồn hay các trực hệ trong gia phả của Ngài. Cả xấu lẫn tốt, gia phả của chúa Giê-su chẳng hề thiếu. Tác giả Tin Mừng Gio-an đã viết: “Ngôi Lời trở nên người phàm và ở giữa chúng ta”, Ngài đã chẳng nói sai sự thật.

Và nếu Chúa Giê-su đã hoàn toàn hóa thân làm người trong thế gian để rao giảng thông điệp tình yêu Thiên Chúa tới thế gian và dành cho thế gian, thì chúng ta cũng phải hóa thân hoàn toàn như Ngài. Nếu chúng ta nghĩ rằng: để nên giống Chúa Giê-su, chúng ta phải tách mình ra khỏi thế giới vật chất, tội lỗi thì là chúng ta vẫn chưa sống đúng lời mời gọi của Chúa Giê-su. Bởi lẽ, chúng ta không thể thành “muối mặn” cho đời nếu chúng ta không ở giữa đời. Chỉ khi chúng ta nhận định đầy đủ các giá trị và mối quan tâm tới nước Thiên Chúa, chúng ta mới có thể trở nên muối mặn. Bằng không, chúng ta chỉ là “muối” mà chẳng có vị gì.

——

Nhóm Bạn Đường Linh Thao

Nguồn: https://livingspace.sacredspace.ie/a1217g/

Chia sẽ bài viết này trên:

Giáng Sinh, một câu hỏi?

Các Kitô hữu thời đầu đã cử hành lễ Giáng Sinh thế nào? Chúng ta không biết gì cả. Dấu vết cổ xưa nhất, đó là việc mừng lễ Giáng Sinh hồi thế kỷ thứ tư. Thời đầu, các Kitô hữu chỉ đơn sơ tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa và ăn mừng Chúa Phục Sinh. Việc cử hành này có liên kết mật thiết với lễ Vượt Qua của người Do Thái. Ngày Chúa sống lại, là sau ngày thứ bảy, tức là ngày Chủ nhật, Chúa nhật, ngày của Chúa.

Mãi về sau này, người ta mới phát triển thành các ngày lễ khác nhau trong suốt cả năm, và từ đó có lễ Giáng Sinh. Dần dần lễ Giáng Sinh mở rộng khắp nơi. Thánh Phanxicô thành Asissi cùng với việc làm hang đá Giáng Sinh, đã đánh dấu bước một phát triển quan trọng cho việc mừng lễ. Tuy nhiên, lễ Giáng Sinh, ngày mừng Chúa Giêsu thành Nazaret chào đời, đã được viết ngay từ những bản văn cổ xưa thế kỷ thứ nhất, tức là trong các sách Tin Mừng.

Các thánh sử không kể chi tiết về việc Chúa Giáng Sinh, chỉ đơn sơ nói về cuộc hành trình trở về thành Belem. Rồi một hài nhi được sinh ra, đặt nằm trong máng cỏ, nơi vốn dành cho các loài vật. Chi tiết này được thánh Luca nhắc đi nhắc lại tới 3 lần: “trẻ sơ sinh đặt nằm trong máng cỏ”. Điều này giúp chúng ta thấy đây là yếu tố then chốt để hiểu toàn bộ câu chuyện.

Trẻ thơ ấy, khi được sinh ra, cũng giống như bao người khác. Điều ngoại thường ở chỗ, điều kiện mà trẻ thơ được sinh ra, là không thể chấp nhận được ngay cả với các mục đồng nghèo, vì dù sao, ít nhất các mục đồng cũng có cái lều của riêng họ. Đằng này thì… Điều ấy đánh động bất cứ ai đứng trước hoàn cảnh ấy, và cảm thấy được mời gọi lắng nghe một tiếng nói khác từ trên cao.

Với mỗi người, ngay cả những ai không tin, đều thấy thương cảm cho một gia đình trẻ không có mái nhà, không nơi nương tựa. Điều ấy như lời mời gọi mở rộng tấm lòng.

Với những ai có lòng tin, thì “hài nhi đặt nằm trong máng cỏ” là dấu chỉ không thể nào quên, là dấu chỉ vô giá, là dấu chỉ không thể dò thấu về ánh mắt của Thiên Chúa.

Dấu chỉ của lễ Giáng Sinh đầu tiên ấy đánh động tất cả chúng ta. Ngày nay, ở giữa chúng ta, còn biết bao người lang thang vất vưởng, đầu đường xó chợ, các bạn trẻ thất nghiệp, những người không chốn dung thân. Có biết bao người sống trong mái nhà, nhưng không phải là nhà, vì tình người nơi đó đã héo tàn, thậm chí là đã chết. Ngày nay, có biết bao người giữa chúng ta, dù tuyên xưng là tin vào Chúa, dù công bố rằng Hài Nhi trong máng cỏ là Chúa của mình, nhưng kỳ thực lại trì hoãn hoặc chẳng thực thi tí nào các giá trị của Đấng ngự nơi máng cỏ.

Ánh sáng của Giáng Sinh, mạnh hơn bất cứ loại ánh sáng loại màu sắc của chủ nghĩa tiêu thụ. Ánh sáng của Giáng Sinh là đây: ý nghĩa của sự sống, của cuộc đời, ý nghĩa của con người, của phận người, của sự đơn sơ giản dị. Ánh sáng ấy chân thật và thuần khiết.

Nếu ai biết nhìn bằng con tim, nếu ai biết nhìn trong đức tin, thì sẽ khám phá thấy hạt mầm của Đấng Hiện Hữu, Đấng đang thôi thúc gọi mời dẫn đưa con người đến với sự thật toàn vẹn nơi chính Người.

Lược dịch: Tứ Quyết SJ

Bài giảng “Natale, La vera questione morale” của Đức Hồng Y Carlo Maria Martini, trong Lễ Giáng Sinh 1982 tại thành phố Milano nước Italia, trích từ cuốn sách: Il Natale “Pur nella tristezza dei tempi”, (Morcelliana, 1996).

Chia sẽ bài viết này trên: