Giới Trẻ

Tháng 10. Nhiều vị thánh dành cho người trẻ

Tháng 10. Nhiều vị thánh dành cho người trẻ

Nếu mở lịch công giáo trong tháng 10, chúng ta dễ bắt gặp nhiều vị thánh trẻ nổi tiếng. Gọi là trẻ vì có người trạc tuổi như chúng ta, có vị tâm hồn luôn hướng về tuổi trẻ. Trong tâm thế đó, người trẻ được mời gọi và gợi hứng để bước vào đời với nhiều hy vọng lớn lao.

1. Tuổi còn trẻ

– Ngày 1: Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Chắc bạn cũng đoán ra vị thánh được mừng ngày đầu tháng. Đó là thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Ngài sinh năm 1873, qua đời năm 1897. Trải qua vỏn vẹn 24 năm sống trên trần gian, lúc nào tâm hồn ngài cũng hướng về trời cao. Thực vậy, nhớ lại thuở ngài hạnh phúc sống với cha mẹ và các chị, họ đã hướng dẫn ngài biết cách yêu mến Chúa Giêsu. Là công chúa út, ngài hay nhõng nhẽo, nhưng cha mẹ ngài luôn biết cách dạy bảo ngài trong trìu mến, yêu thương. Lúc nào cha mẹ cũng mong các con nên người con ngoan của Chúa. Một hôm ngài tinh nghịch đến bên mẹ và chúc mẹ mau chết! “Mẹ chết để về Thiên đàng!” – ngài giải thích! Rồi khi nào yêu cha quá, ngài cũng chúc cha chết như thế.  Rồi từng ngày tuổi thơ của ngài được cha mẹ uốn nắn trong lối về Thiên Đàng.

Ngay từ nhỏ, thánh nhân có khao khát dâng mình cho Thiên Chúa. Năm 1887, cùng với cha, ngài can đảm xin Đức Giáo Hoàng cho phép mình được vào dòng kín ở tuổi 14. Năm sau ngài mới được thỏa lòng ước mong ở trong Dòng kín Carmel, thành Lisieux nước Pháp.

Với 9 năm sống trong tu viện, sơ Têrêsa Hài Đồng Giêsu để lại cho hậu thế biết bao gương lành thánh thiện và  “con đường nhỏ” để nên thánh. Những điều ấy chúng ta dễ dàng tìm thấy trong những trang sách được cả thế giới yêu chuộng: “Truyện Một Tâm Hồn”[1].

Trước khi qua đời, ngài hứa từ Trời Cao, ngài sẽ làm mưa hoa hồng rơi xuống trần gian! Từ đó ngài trở nên vị thánh nổi tiếng gắn liền với những cơn mưa hoa hồng. Đó là những ân sủng của Thiên Chúa mà ngài nài xin để gửi xuống trần gian.

– Ngày 2: Lễ Kính Các Thiên Thần Hộ Thủ

Các ngài được biết đến với những Thiên thần với đôi cánh tung bay. Các ngài không có tuổi, không có tiểu sử. Do tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa, các ngài được cử đến để đồng hành với chúng ta[2]. Có thể người trẻ ít để ý đến các ngài; tuy nhiên, nếu không có các thiên thần bảo vệ ta, cuộc sống của ta sẽ nhiều phưu lưu nguy hiểm.

– Ngày 5: Thánh Faustina

Đây là vị thánh nổi tiếng với phong trào lòng Chúa Thương xót. Thánh nữ chào đời năm 1905, mất ở độ tuổi 33 (1938). Trước khi là nữ tu, thánh nhân đã có nhiều thị kiến về Thiên Chúa. Nhất là khi vào Dòng, Quyển Nhật Ký về các lần thị kiến của thánh nữ Faustina mỗi lúc một dày hơn. Trong đó thực sự là một bản tường thuật sâu sắc về những thị kiến và cả những thử thách của một tâm hồn. Trên hết, đó là bằng chứng về một niềm tín thác trọn vẹn vào Lòng Thương Xót vô cùng của Thiên Chúa. Thánh nhân còn có lòng mộ mến thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

Ngày nay tại Balan có một trung tâm hành hương mang tên thánh nhân (Tp. Krakow). Không chỉ nơi đó, nhưng trên toàn thế giới, những điều Thiên Chúa mạc khải cho chị luôn được nhiều người cầu nguyện. Đó là phong trào Lòng Chúa Thương xót vốn quen thuộc với chúng ta.

– Ngày 15: Thánh Têrêsa Avila

Thánh Têrêsa Avila sinh năm 1515, mất ngày 4 tháng 10 năm 1582. Đây là thời gian Giáo Hội Công Giáo gặp nhiều khủng hoảng từ phía phong trào cải cách Tin Lành. Xuất thân từ gia đình quý tộc, nhưng thánh nhân lúc nào cũng hướng đề Chúa. Năm 14 tuổi thánh nhân đã là một nữ tu. Từ đó, thánh nhân phải chịu biết bao cơn bạo bệnh. Có lần bác sĩ đã xác định nữ tu ấy đã chết. Gia đình đã lo hậu sự. Nhưng trong tang lễ thánh nhân đã sống lại.

Có thể trong những lần kết hợp với Thiên Chúa, thánh nhân đón nhận được những mặc khải sâu xa. Cứ đọc vài tác phẩm của Têrêsa sẽ thấy: Con đường đi đến toàn thiện, Lâu đài nội tâm, Quyển sách của những nền tảng. Đó là những tư tưởng quan trọng của phong trào thăng tiến dòng tu và Giáo Hội thời bấy giờ.

– Ngày 22: Thánh giáo hoàng Gioan Phao lô II

Gioan Phaolô Đệ Nhị sinh năm 1920, mất 2 tháng 4 năm 2005. Đây là vị thánh gần thời đại chúng ta nhất. Ngài làm giáo hoàng trước Đức Bênêdictô XVI. Ngài thực sự là một vị thánh ngay từ thuở nhỏ. Dưới nhiều biến động của chính trị tại Balan, ngài đã cùng với các thanh niên cố gắng thấy dấu chỉ của thời đại[3].

Trong khi tại vị, ngài đã không quảng ngại tông du khắp thế giới. Ngài không mệt mỏi lên tiếng phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình, phản đối chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, chế độ độc tài, chủ nghĩa duy vật, các phương pháp phá thai, thuyết tương đối, chủ nghĩa tư bản và cách thức chết êm dịu. Ngài cũng được coi là một trong những nguồn lực dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan và Đông Âu.

Năm 1985, chính thánh nhân đã công bố lập Ngày Giới Trẻ Thế Giới (World Youth Day) 3 năm 1 lần. Từ đó, ngày hội này quy tụ hàng triệu người trẻ trên toàn thế giới ở mỗi nước luôn phiên. Chẳng hạn diễn từ năm 1993, Ngài nói với người trẻ:

“Hỡi những người trẻ,

Chúa Kitô cần tới các con để thắp sáng địa cầu, để chỉ cho nhân loại ‘nẻo đường đi tìm sự sống’. Thách thức mới là các con cần phải thể hiện sự có mặt của Giáo hội Chúa bằng chính cuộc đời và lối sống cụ thể của các con. Các con hãy sắp sẵn trí khôn, tài năng, lòng nhiệt thành và tình thương của các con để đối diện với đời sống và phục vụ đời sống.”

Chính Đức Gioan Phaolô II đẩy nhanh phong trào Lòng Thương Xót Chúa của thánh Faustina. Nhiều lần ngài lên tiếng: “Quả thật, Tôi tha thiết kêu gọi anh chị em hãy trở nên những tông đồ của Lòng Thương Xót Chúa, như Faustina Kowalska, trong đời sống thường nhật và tại những nơi làm việc của anh chị em.” Đức Gioan Phaolô II đã ấn định Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh là Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa trong toàn Giáo Hội.

Với biết bao đóng góp quan trọng của thánh nhân, với lòng tin yêu tuyệt đối vào Thiên Chúa, ngài được Giáo hoàng Phanxicô phong thánh ngày 27 tháng 4 năm 2014.

2. Tâm hồn yêu mến Chúa

Chúng ta không dám mơ làm những thánh vĩ đại như các ngài! Tuy nhiên, chúng ta có thể học tập từ mẫu gương các ngài trong đời sống yêu mến Chúa. Đó là ơn huệ của Thiên Chúa, nhưng cũng là nỗ lực của các ngài. Đừng quên chính thánhTêrêsa Hài Đồng Giêsu hay Têrêsa Avila đã phải chịu rất nhiều đau khổ như Chúa Giêsu trên thập giá. Các ngài có lần cũng muốn bỏ cuộc. Vì lòng yêu mến Chúa quá nồng nàn, mọi bệnh tật, thử thách các ngài đã vượt qua.

Trong thời đại hôm nay, hẳn là người trẻ ngại nên thánh. Giữa xã hội muôn màu, thời thượng lên ngôi, đời sống tâm linh dường như quá xa vời. Không ít bạn đọc những dòng tiểu sử trên đây, tưởng như đọc tiểu thuyết hoặc những chuyện thiêng liêng ảo tưởng. Không! Đó là những con người rất trẻ như chúng ta. Các ngài cũng có những thách đố như chúng ta. Điều khác là các ngài đã dám để Chúa dẫn đưa. Họ cho Chúa một cơ hội để thánh hóa bản thân. Ước sao người trẻ chúng ta cũng thế.

Để cảm nhận rõ hơn về lòng yêu mến Chúa của các ngài, chúng ta thấy nơi những dòng lưu bút các ngài để lại:

–  “Đừng để điều gì làm bạn xao xuyến, đừng để điều gì làm bạn sợ hãi. Mọi sự qua đi, Chúa không bao giờ thay đổi. Kiên nhẫn đạt được tất cả. Ai có Chúa thì không còn thíếu gì nữa. Mình Chúa là đầy đủ rồi.” (Thánh Têrêsa Avila)

– “Tôi không chết, tôi đi vào sự sống.” (Thánh Têrêsa Hài Đồng).

– “Chúa Giêsu nói với tôi: Con hãy cho vẽ lại bức ảnh như con xem thấy Cha, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” (Thánh Faustina).

– “Tôi xin các bạn với tất cả sự khiêm tốn và tin tưởng: Hãy để Chúa Kitô nói với nhân loại. Chỉ mình Ngài mới có lời ban sự sống đời đời. Các bạn đừng sợ hãi! Nhưng hãy mở cửa cho Đức Kitô.” (Lời mở đầu triều đại Giáo Hoàng của thánh Gioan Phaolô II).

3. Tạm kết

Tháng 10 cũng được gọi là tháng mân côi kính Đức Mẹ Maria. Chúng ta xin với Mẹ cho mỗi người trẻ dám nên thánh giữa đời. Những mẫu gương của các vị thánh có thể khai mở những lối nẻo nên thánh rất riêng cho người trẻ.

Điều thú vị là các ngài cũng rủ ta nên thánh. Chúng ta cũng ước sao cùng nhau nên thánh. “Ta phải trở nên thánh chung với nhau. Ta phải đến với Thiên Chúa chung với nhau, trình diện trước Thiên Chúa chung với nhau. Ta không được gặp Thiên Chúa tốt lành người này sau người kia. Thiên Chúa có thể nói tốt lành sao được nếu ta lại ra đi người này không có người kia?”[4]

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

……………..

[1] Đọc thêm: Một Tâm Hồn (Trinh nữ Têrêsa viết – Kim Thiếu dịch). Đây là quyển sách một thời là sách “gối đầu giường” của những người đạo đức!

[2] Bởi đó các thiên thần bản mệnh còn gọi là “đặc phái viên” của Thiên Chúa (God’s emissaries).

[3] “Trong những năm tôi làm linh mục, tôi đã đề cao giới trẻ và tuổi trẻ. Về sau, lý tưởng này đã không bao giờ rời khỏi tôi và chính nó đã khiến tôi gặp giới trẻ bất cứ nơi nào tôi đi.” (x. Jean Offredo, Đức Gioan Phaolô II: Giấc mơ về Giêrusalem, 236).

[4] Charles Péguy (1873–1914, thi sĩ Pháp).

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Giê-su Ki-tô ĐƯỜNG THINH LẶNG

Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022
Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (9)

Đức Giê-su Ki-tô
ĐƯỜNG THINH LẶNG
(Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 9 năm 2020)

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Tám vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thánh Thiện. Tháng Chín này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thinh Lặng. Hành trình dương thế của Đức Giê-su cho chúng ta nhận thức rằng Người vừa là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, vừa là Lời Thiên Chúa và là Đường Thinh Lặng của Thiên Chúa giữa dòng đời. Sự thinh lặng mà chúng ta đề cập trong bài viết này chủ yếu không phải là sự thinh lặng môi miệng, mà là sự thinh lặng tâm hồn, đặc biệt, tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, tác giả Thánh Vịnh thốt lên: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,2). Quả thật, thế giới thụ tạo và mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng thinh lặng là một cách nói của Thiên Chúa hay ngôn ngữ của Người là ngôn ngữ thinh lặng. Từ buổi ban đầu Thiên Chúa sáng tạo cho đến hôm nay và tới thời cánh chung, Thiên Chúa nói bằng lời quá ít so với Thiên Chúa nói bằng sự thinh lặng. Như thế, sự thinh lặng của Thiên Chúa cũng có giá trị như Thiên Chúa nói bằng lời vậy. Do đó, con người không chỉ quan tâm đến cách truyền thông của Thiên Chúa qua những gì Thiên Chúa nói và làm trong dòng lịch sử, mà còn qua sự thinh lặng của Người nữa.

Nhiều lúc, con người cảm thấy Thiên Chúa thinh lặng như thể ‘ngoảnh mặt làm ngơ’ trước những thảm họa thiên nhiên, đặc biệt, trước đau khổ, bất công, bạo lực, chết chóc của con người. Thực ra, Thiên Chúa không thinh lặng như con người lầm tưởng. Người luôn tỉnh thức, bởi vì, Người ‘không bao giờ ngủ’, “Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành” (Tv 121,4). Người thinh lặng không có nghĩa Người không hiện diện, không hoạt động. Người luôn hiện diện, luôn hoạt động theo ‘thì’ của Người chứ không theo ‘thì’ của chúng ta. Con người thường mong muốn đường lối của Thiên Chúa giống đường lối của mình. Tuy nhiên, để hòa nhịp được với chương trình Thiên Chúa, đúng hơn, con người cần uốn nắn đường lối của mình theo đường lối của Thiên Chúa.

Hình ảnh Dân Do-thái rong ruổi bốn mươi năm trong sa mạc là bài học lớn cho chúng ta về sự thinh lặng, hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Đối với sự hiểu biết của con người, sa mạc là nơi không ai muốn đến, bởi vì, sa mạc thiếu nguồn nước, bóng cây, sức sống. Thế nhưng, từ sa mạc, Thiên Chúa đã biểu dương quyền năng và tình yêu đối với Dân Người. Sa mạc là nơi cằn cỗi, chết chóc, lại là nơi Thiên Chúa hiện diện và hoạt động cách mãnh liệt nhất. Điều đó cho chúng ta nhận thức rằng nơi con người bị yếu thế nhất, bất lực nhất, khổ đau nhất lại là nơi Thiên Chúa biểu dương tình yêu và quyền năng của Người. Nơi con người cho rằng ‘vắng bóng Thiên Chúa’ lại là nơi Thiên Chúa hiện diện để cứu giúp họ.

Nhờ tin tưởng vào Thiên Chúa và trung thành với sứ mệnh Người giao phó, trong cơn hoạn nạn, ngôn sứ Ê-li-a phải chạy trốn vua A-kháp và những người của vua. Ê-li-a đi bốn mươi đêm ngày lên núi Khô-rếp, núi của Thiên Chúa và nghỉ lại trong một cái hang. Nhiều biến cố ồn ào xảy ra trên núi, chẳng hạn như gió to, bão lớn, động đất, lửa cháy, nhưng Thiên Chúa không xuất hiện trong các biến cố đó. Tuy nhiên, khi có ‘tiếng gió hiu hiu’ hay ‘tiếng thì thào êm nhẹ’, Ê-li-a đã được ‘diện kiến’ Thiên Chúa và được trao sứ mệnh tiếp tục chương trình của Người. Điều này ngược với nhãn quan chung của các dân tộc Trung Đông thời đó cho rằng thần thánh hiện diện trong những biến cố ồn ào, náo động. Qua sự gặp gỡ với Thiên Chúa, Ê-li-a nhận ra rằng sứ mệnh của mình còn gặp nhiều bất trắc, đau khổ, nhưng luôn được sự nâng đỡ, phù trì của Người.

Trong Cựu Ước, tác giả sách Khôn Ngoan viết: “Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu, ví tựa người chiến sĩ can trường xông vào giữa miền đất bị tru diệt, mang theo bản án không thể hủy của Ngài như lưỡi gươm sắc bén” (Kn 18,14-15). Thiên Chúa thinh lặng, trong môi trường vĩnh cửu, Thiên Chúa chỉ có một Lời thôi, Lời đó chính là Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ Người và trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tạo dựng muôn vật muôn loài và khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã ‘nói Lời đó’ trong môi trường thế giới thụ tạo. Lời đã làm người và ở giữa chúng ta (Is 7,14; Ga 1,1-18).

Giáng Sinh là biến cố thinh lặng. Ngôi Lời đến thế gian trong đêm tối, trong thinh lặng. Người đã không xuất hiện ‘ồn ào’ ở Giê-ru-sa-lem hay nơi phố phường đông đúc, nhộn nhịp, vội vã nào đó của đất nước Do-thái, nhưng đã xuất hiện ‘kín tiếng’ ở Bê-lem quê mùa. Lời bài hát nổi tiếng nhất trong dịp Giáng Sinh diễn tả rất đúng về Biến Cố này: Đêm thinh lặng, đêm thánh thiện, tất cả an bình (silent night, holy night, all is calm). Sự thinh lặng của Biến Cố Giáng Sinh là sự thinh lặng linh thiêng, sự thinh lặng nhiệm mầu, sự thinh lặng ban ơn cứu độ. Sự thinh lặng này giúp cho những ai thao thức tìm Người có thể nghe được lời chỉ dẫn để đến gặp Người.

Chúng ta nhận thức rằng đặc tính chung của mọi người trong Gia Đình Na-da-rét là thinh lặng. Thánh Giu-se thinh lặng, Đức Ma-ri-a thinh lặng, Đức Giê-su thinh lặng. Sự thinh lặng của Thánh Gia diễn tả sự thinh lặng của Gia Đình Thiên Chúa. Kinh Thánh Tân Ước chỉ có ‘7 lời’ của Đức Ma-ri-a (Lc 1,34; Lc 1,38; Lc 1,40; Lc 1,46-55; Lc 2,48; Ga 2,3; Ga 2,5). Còn thánh Giu-se thì các tác giả Kinh Thánh Tân Ước không ghi lại lời nói trực tiếp nào của ngài. Đặc tính duy nhất diễn tả thánh Giu-se là ‘công chính’. Trong bối cảnh Kinh Thánh, người công chính cũng chính là người thánh thiện, người thinh lặng, người luôn kết hợp với Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người.

Đức Ma-ri-a không chỉ thinh lặng, mà còn ‘ghi nhớ những điều đó và suy đi nghĩ lại trong lòng’, nghĩa là trong môi trường thinh lặng (Lc 2,19.51). Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a chính là ‘sự thinh lặng cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa’. Đức Ma-ri-a đã học được ngôn ngữ Thiên Chúa và nói chuyện với Người bằng ngôn ngữ này. Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a là sự thinh lặng thánh thiện, bởi vì sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a đồng nghĩa với việc suy niệm Lời Chúa, yêu mến Thiên Chúa, phụng thờ Thiên Chúa, tin tưởng vào Thiên Chúa, hy vọng vào Thiên Chúa, phó thác đường đời cho Thiên Chúa và ngạc nhiên trước mặc khải của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.

Thánh Giu-se là người có đời sống thinh lặng đặc biệt. Khi được tin Đức Ma-ri-a, bạn đời của mình mang thai và chắc chắn rằng đó không phải là con ruột của mình, ngài có ý định lìa bỏ Đức Ma-ri-a cách kín đáo, cách thinh lặng. Tuy nhiên, trong giấc mơ, sứ thần truyền tin cho thánh Giu-se và trao ban sứ mệnh đón Đức Ma-ri-a về nhà mình. Không như những trường hợp khác, chẳng hạn, việc truyền tin cho Đức Ma-ri-a hay truyền tin cho Da-ca-ri-a đều diễn ra khi các ngài thức tỉnh, còn thánh Giu-se thì được truyền tin trong giấc mơ, trong thinh lặng. Tuy nhiên, thánh nhân đã trung tín thực thi thánh ý Thiên Chúa. Đức Giê-su được sinh ra và lớn lên với sự chăm sóc âm thầm và cần mẫn của thánh Giu-se. Như Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se luôn ở lại với Thiên Chúa, lắng nghe Lời Thiên Chúa, tin tưởng vào Lời Thiên Chúa, hiệp thông với Lời Thiên Chúa và thực thi Lời Thiên Chúa cách trung tín nhất. Đặc biệt, thánh nhân đắm chìm trong mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người và giữ vai trò quan trọng trong chương trình kỳ diệu này.

Người ta thường nói rằng ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’. Đức Giê-su là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, tuy nhiên, trong thân phận con người, Đức Giê-su cũng học hỏi được đời sống thinh lặng từ Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Cuộc đời trần thế của Đức Giê-su là cuộc đời thinh lặng. Ngoại trừ Biến Cố Giáng Sinh và sự việc xảy ra lúc Người mười hai tuổi ở Giê-ru-sa-lem, chúng ta không biết gì nữa về thời thơ ấu của Người cho đến khi Người bắt đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Trước các biến cố lớn trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su luôn dành thời gian thinh lặng và cầu nguyện. Người đã vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện và chịu ma quỉ cám dỗ bốn mươi đêm ngày. Sự kiện này gợi lên cho chúng ta biến cố Dân Do-thái rong ruổi trong sa mạc bốn mươi năm. Thay vì thinh lặng để đón nhận và thực thi thánh ý Thiên Chúa, họ đã nhiều lần to tiếng, than trách và phản nghịch chương trình Thiên Chúa. Trong khi đó, Đức Giê-su thinh lặng để gặp gỡ Thiên Chúa Cha, thinh lặng để nhận ra sứ mệnh của mình, thinh lặng để đón nhận sức mạnh chống trả ma quỉ, thinh lặng để cảm nhận sự đau khổ của thân phận con người, thinh lặng để nhận ra những bất cập gây nên bởi ‘sự ô nhiễm tiếng ồn’ trong xã hội loài người do tội lỗi gây nên.

Không nơi nào trong Tin Mừng cho thấy rằng Đức Giê-su dùng ‘quá nhiều lời’ khi giảng dạy dân chúng. Người dùng lời vừa đủ cho người nghe. Có những điều Người không giải thích dài dòng, nhưng dùng dụ ngôn để có thể giảm thiểu lời nói. Thánh Mác-cô trình thuật: “Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tùy theo mức họ có thể nghe. Người không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn” (Mc 4,33-34). Có những lúc sau khi giải thích, Đức Giê-su nói với những người lắng nghe: “Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12). Rõ ràng, trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su đề cao việc thinh lặng, lắng nghe và phân định của thính giả.

Khi Đức Giê-su chữa người vừa điếc vừa ngọng ở miền Thập Tỉnh, Người truyền cho những người chứng kiến không được kể lại chuyện đó (Mc 7,31-36). Tương tự như vậy, sau khi biến hình trên núi Ta-bo, từ trên núi xuống, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17,1-8). Câu hỏi đặt ra là tại sao Đức Giê-su lại nói với các môn đệ như vậy? Thưa, tại vì Đức Giê-su muốn con người hiểu đúng hơn về sứ mệnh của Người giữa lòng nhân thế. Người muốn tất cả đều thinh lặng cho đến khi toàn bộ sự thật về chương trình dương thế của Người được biểu lộ cách trọn vẹn trong khổ nạn, chịu chết và phục sinh của Người. Người cũng muốn các môn đệ hiểu rằng một lời nói mà không hiểu được ý nghĩa, một lời tuyên xưng đức tin mà không đi kèm hành động và lối sống phù hợp, thì đó chỉ là những tiếng kêu trống rỗng, không chuyển tải sự thật.

Thánh Mát-thêu trình thuật rằng khi Đức Giê-su đi về miền dân ngoại (địa hạt Tia và Xi-đôn, ngày nay ở phía Nam đất nước Li-băng), một người phụ nữ Ca-na-an xuất hiện và xin Đức Giê-su trừ quỉ cho con gái của bà. Tuy nhiên, ban đầu, Đức Giê-su thinh lặng, không trả lời sự khẩn cầu của người phụ nữ. Sau đó là cuộc đối thoại ngắn và Đức Giê-su đã tán dương bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15,28)Niềm tin và sự kiên nhẫn của bà đã được đền đáp bằng việc con bà được chữa khỏi. Như vậy, sự thinh lặng của Đức Giê-su đã đem lại hiệu quả lớn lao, đó là lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ và niềm tín thác của người phụ nữ được củng cố. Đọc Tân Ước, chúng ta có được nhận thức chung rằng, sau sự thinh lặng, Đức Giê-su thường mặc khải những điều lớn lao, kỳ diệu để cứu giúp mọi người.

Câu chuyện Đức Giê-su cho La-da-rô hồi sinh đáng để chúng ta quan tâm. Khi nghe tin La-da-rô, người được Đức Giê-su thương mến bị đau nặng, Người đã không trực tiếp đến thăm viếng ngay. Người đã thinh lặng trước cái chết của La-da-rô, còn La-da-rô thì thinh lặng trong mộ. Khi Người tới thì La-da-rô đã được chôn trong mộ bốn ngày, đã ‘nặng mùi’ rồi. Tuy nhiên, Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô hồi sinh trước sự ngỡ ngàng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a cũng như những người thân thuộc. Sự thinh lặng, sự chậm trễ của Đức Giê-su được xem như chuẩn bị cho mặc khải lớn lao là hồi sinh kẻ chết. Trong biến cố này có bốn điểm quan trọng đáng để chúng ta quan tâm: (1) tình yêu của Đức Giê-su, (2) quyền năng của Đức Giê-su, (3) căn tính của Đức Giê-su là ‘sự sống lại và là sự sống’ (Ga 11,25), và (4) niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu của mọi người được diễn tả và củng cố.

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, chúng ta thấy hai cảnh thinh lặng: (1) Đức Giê-su và (2) các môn đệ. Đức Giê-su ‘thinh lặng cầu nguyện’, còn các môn đệ thì ‘thinh lặng ngủ nghỉ’. Chúng ta có thể gọi hai hình thức thinh lặng này là ‘thinh lặng siêu nhiên’ (Đức Giê-su) và ‘thinh lặng tự nhiên’ (các môn đệ). Cũng trong vườn Ghết-sê-ma-ni, thinh lặng siêu nhiên đưa đến sự tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa Cha và kết hợp với Người. Đức Giê-su đã thưa lên với Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22,42). Quả thật, trong thân phận con người, Đức Giê-su cảm nhận được sự cô đơn, đau khổ tột bậc. Nhưng Người luôn tin tưởng và vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha và đã trở nên căn nguyên cứu độ tất cả mọi người.

Thánh Lu-ca trình thuật rằng trong cuộc khổ nạn, khi Đức Giê-su bị bắt, “một người tớ gái nhìn Phê-rô chòng chọc và nói: Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy! Ông liền chối: Tôi có biết ông ấy đâu, chị!” (Lc 22,56-57). Sau đó, một người khác nữa cũng quả quyết rằng Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô chối phăng. Khi người thứ ba khẳng định Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô vừa chối xong thì gà gáy. Đó là hệ quả của sự ‘thinh lặng tự nhiên’ từ phía các môn đệ trong vườn Ghết-sê-ma-ni. Sau đó, Đức Giê-su quay lại nhìn Phê-rô và Phê-rô nhớ lại lời Đức Giê-su: “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (Lc 22,61). Phê-rô đã ăn năn hối cải. Thánh Lu-ca không cho chúng ta biết ánh mắt của hai người sau có nhìn Phê-rô ‘chòng chọc’ như người tớ gái đầu tiên hay không, nhưng ánh mắt của những người đó đã làm cho trái tim của Phê-rô loạn nhịp và Phê-rô đã chối Thầy mình. Tuy nhiên, khi ánh mắt thinh lặng, ánh mắt nhân từ, ánh mắt tha thứ, ánh mắt trái tim của Đức Giê-su hướng về Phê-rô, vị tông đồ đã ăn năn hối cải. Từ đây, Phê-rô đã trung thành với ơn gọi và sứ mệnh của mình cho đến lúc bị treo ngược trên thập giá và tử đạo tại Rô-ma. Đây là hệ quả của sự ‘thinh lặng siêu nhiên’ xuất phát từ sự kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su.

Tam Nhật Vượt Qua luôn là thời gian đặc biệt, thời gian quan trọng nhất, thời gian đỉnh điểm, thời gian trung tâm diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Trước cái chết, Đức Giê-su cảm nhận được sự thinh lặng nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đức Giê-su đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,43). Với cái chết, Đức Giê-su đã xuống vực thẳm thinh lặng rùng rợn nhất của thân phận con người. Đức Giê-su đã tham dự vào sự thinh lặng đau thương của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Người thông phần với sự thinh lặng này để ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Như vậy, sự thinh lặng kỳ diệu nhất của Đức Giê-su trong hành trình nhân thế là sự thinh lặng trong nấm mộ. ‘Vị Thiên Chúa chết’, đó là sự kiện không những không thể tưởng tượng nổi đối với những người Hy-lạp hay Do-thái, mà còn không thể tưởng tượng nổi đối với tất cả mọi người trong các nền văn hóa từ cổ chí kim. Hôm nay, ‘Vị Thiên Chúa chết’ vẫn còn là nỗi ám ảnh cho biết bao người. Quả thực, nếu cuộc đời Đức Giê-su chỉ tới đó thì không còn gì để nói nữa. Tuy nhiên, Người đã tiêu diệt sự chết, Người đã sống lại. Sự chết mạnh, nhưng sự thinh lặng của Đức Giê-su trong sự chết còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng sự sống lại của Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tiếng nói cuối cùng của con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo không phải là tiếng nói của sự chết, nhưng là tiếng nói của Đấng Phục Sinh, Đấng Thinh Lặng, Đấng Hằng Sống.

Những gì Đức Giê-su nói và làm trong hành trình dương thế minh chứng rằng Người từ Thiên Chúa mà đến, Người là Thiên Chúa. Tuy nhiên, con người thường quan tâm đến nhân tính của Đức Giê-su hơn là thần tính của Người. Thần tính của Người hầu như ‘thinh lặng’, ẩn dấu, bởi vì trong mọi sự, Đức Giê-su đều qui hướng về Thiên Chúa Cha, chứ không phải bản thân mình. Giáo Hội sơ khai cần đến gần năm thế kỷ để có được định tín cách đầy đủ hơn về Đức Giê-su, Thiên Chúa thật và con người thật với Công Đồng Can-xê-đô-ni-a (Chalcedon, 451). Những khai triển và học hỏi về Đức Giê-su vẫn tiếp tục trong khi Đức Giê-su vẫn thinh lặng.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta ngạc nhiên trước những gì mắt chúng ta thấy được, tai chúng ta nghe được và lòng chúng ta cảm nghiệm được. Chúng ta ngạc nhiên trước những khám phá của con người về những qui luật trong vũ trụ. Chúng ta ngạc nhiên trước những gì mà thế giới tự nhiên ban tặng để con người sống xứng đáng với phẩm giá của mình. Tuy nhiên, những gì mắt chúng ta không thấy, trí và tâm chúng ta không thể đụng chạm hay cảm nghiệm được lại còn kỳ diệu hơn. Chẳng hạn, có những hình thức tồn tại khác trong thế giới thụ tạo này mà con người không thể nào vươn tới hay giải thích được trong điều kiện hiện tại, chẳng hạn như năng lượng tối (dark energy) hay vật chất tối (dark matter). Bản chất đích thực của ‘năng lượng tối là gì?’ hay ‘vật chất tối là gì?’, chưa ai có thể biết và diễn tả cách đầy đủ được. Điều mà con người biết được là: Nếu không có năng lượng tối và vật chất tối thì vũ trụ khả giác, vũ trụ vật chất, vũ trụ cấu tạo bằng những ‘viên gạch nguyên tử’ không thể tồn tại được. Quả thật, những gì ‘vô hình trong thế giới thụ tạo’ luôn dồi dào và kỳ diệu hơn những gì hữu hình mà con người có thể cân đong đo đếm hay giải thích. Nói cách khác, ‘những gì thinh lặng’ thì kỳ diệu hơn, mạnh mẽ hơn, siêu việt hơn ‘những gì ồn ào’. Trong thế giới thụ tạo, con người có thể cảm nghiệm được rằng ‘thinh lặng là đỉnh cao của âm thanh’. Trong thinh lặng của tâm hồn và không gian, con người có thể nghe được tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của vũ hoàn và tiếng nói của Đấng Sáng Tạo.

Trong lĩnh vực khoa học, nhiều trường hợp cho thấy những khám phá về các quy luật thiên nhiên, hoặc các phát minh kỳ diệu, lại là hệ quả của tiến trình thinh lặng. Câu chuyện Isaac Newton thấy trái táo rơi và đã khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là câu chuyện giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của thinh lặng. Chắc rằng Newton đã thinh lặng, đã tìm hiểu, đã ưu tư nhiều về sự thinh lặng của muôn vật muôn loài trong vũ trụ. Việc Newton khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là hiệu quả, là hoa trái của tiến trình lâu dài, chứ không chỉ là sản phẩm của ngạc nhiên, may rủi. Nếu Newton không thinh lặng, không chú tâm đủ thì không bao giờ có được hoa trái mỹ mãn như vậy. Nhìn chung, những khám phá, sáng chế từ các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau đều đến từ những người có khả năng đi vào thế giới thinh lặng. Như vậy, những người biết thinh lặng, biết chuẩn bị mới có thể đọc được những gì xảy đến cách bất ngờ.

Chúng ta không chỉ được mời gọi lắng nghe tiếng nói của người này, người kia mà còn được mời gọi lắng nghe ‘tiếng nói của thinh lặng’. Đặc điểm của các thánh trong lịch sử Giáo Hội là thực thi đời sống thinh lặng. Nói cách khác: Những người thánh thiện cũng là những người thinh lặng [sự thinh lặng của tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa] và ngược lại. Nhờ thinh lặng, các ngài có được kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa và diễn tả kinh nghiệm gặp gỡ đó bằng lời nói và hành động thánh thiện của mình. Đọc hạnh các thánh tử đạo, ai cũng ngạc nhiên về sự thinh lặng, sự bình an của các ngài khi phải đối diện với cái chết. Chúng ta cần ý thức rằng để có được sự thinh lặng, sự bình an như vậy, các ngài đã thực thi đời sống thinh lặng, đời sống bình an. Nói cách khác, các ngài đã chuẩn bị cho sự thinh lặng, sự bình an trước cái chết bằng cuộc đời thinh lặng, cuộc đời bình an gắn kết mật thiết với Đức Giê-su, Đường Thinh Lặng, Đường Bình An, được Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại.

Theo gương Đức Giê-su, các nhà thần bí (mystics) là những người có kinh nghiệm đặc biệt về môi trường thinh lặng. Họ nhận ra rằng đời sống thinh lặng là đời sống lý tưởng để họ gặp gỡ Thiên Chúa và thỉnh vấn ý Người. Các ngài đã trở nên mẫu gương sống động cho chúng ta về sự hoán cải và qui hướng về Thiên Chúa, chẳng hạn như thánh Gio-an Tẩy Giả, Tê-rê-xa A-vi-la, Gio-an Thánh Giá. Họ là những nhân chứng mạnh mẽ nhất cho sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, cũng như tình yêu của Người. Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta nói: “Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện, hoa trái của cầu nguyện là niềm tin, hoa trái của niềm tin là tình yêu, hoa trái của tình yêu là phục vụ, hoa trái của phục vụ là bình an.” Như vậy, thinh lặng là khởi đầu cho những hiệu quả tốt lành: Cầu nguyện, đức tin, tình yêu, phục vụ, bình an. Thực ra, theo một nghĩa nào đó thì ‘bình an’ cũng có nghĩa là ‘thinh lặng’ hay nói cách khác, môi trường bình an cũng là môi trường thinh lặng và ngược lại. Như vậy, ‘thinh lặng’ vừa là khởi đầu, vừa là kết thúc, vừa là khởi đầu mới.

Thinh lặng là điều kiện cần thiết để chúng ta nhận ra Thiên Chúa, nhận ra bản thân mình. Trong tác phẩm Tự Thuật, thánh Au-gút-ti-nô viết: ‘Thiên Chúa thân mật với tôi hơn tôi với chính mình’ (Deus est intimior intimo meo) hay ‘Thiên Chúa sâu thẳm trong tôi hơn tôi với chính mình và cao cả trong tôi hơn tôi với chính mình’ (Deus est interior intimo meo et superior summo meo). Chắc chắn rằng, nhờ thinh lặng, thánh nhân đã có được kinh nghiệm quí giá đó và ngài đã truyền lại cho tất cả mọi người. Sứ điệp mà ngài muốn gửi đến là: Khi con người càng gần Thiên Chúa bao nhiêu, thì càng gần chính mình bấy nhiêu và ngược lại.

Người ta kể lại rằng trong đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), quân lính Đức lùng bắt tất cả những người Do-thái và tống vào các trại tập trung. Ở đây, họ phải chịu nhiều hình thức cực hình cho đến chết. Có một cô gái trẻ Do-thái thoát được và trốn trong một cái hang. Khi người ta tìm thấy xác cô, họ cũng phát hiện trên bức tường của hang đó cô gái viết mấy câu: “Tôi tin có mặt trời, ngay cả khi nó không chiếu sáng. Tôi tin vào tình yêu, ngay cả khi tôi đơn độc. Tôi tin vào Thiên Chúa, ngay cả khi Người thinh lặng.” Với cô gái Do-thái này, khi con người không thấy mặt trời, không có nghĩa là mặt trời không hoạt động. Khi con người đơn độc, không có nghĩa là tình yêu không hiện hữu. Tương tự như thế, khi Thiên Chúa thinh lặng không có nghĩa là Người không hành động.

Thinh lặng, lời nói và hành động được xem là ba cột trụ căn bản trong đời sống con người. Trong đó, thinh lặng đóng vai trò quan trọng nhất. Thinh lặng chính là căn nguyên, là nền tảng và là môi trường khởi xuất lời nói và hành động. Nếu con người không có được sự thinh lặng đúng nghĩa, con người cũng không thể nói năng và hành động đúng được. Như vậy, vấn đề chính yếu mà chúng ta cần quan tâm là luôn tạo sự hòa hợp giữa thinh lặng, lời nói và hành động. Trong trường hợp không thể, ưu tiên phải là thinh lặng. Tuy nhiên, khi sự lên tiếng hay hành động của chúng ta đem lại bình an, sự thật, sự lành thì chúng ta cần phải thực thi. Còn người nào chỉ có nói mà không hành động tốt, thì họ không phải là người môn đệ thực thụ của Đức Giê-su (Mt 7,21-27). Thánh Phao-lô viết: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4,2).

Người Ni-giê-ri-a có câu ngạn ngữ: “Hãy lắng nghe và bạn sẽ nghe được bước chân của những con kiến.” Chúng ta học hành và luyện tập nhiều thứ để chuẩn bị cho cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta ít luyện tập cho mình khả năng thinh lặng. Ai không có khả năng thinh lặng, người đó cũng không có khả năng lắng nghe tiếng lòng mình, và cũng không thể lắng nghe tiếng Thiên Chúa, bởi vì tiếng Thiên Chúa đến với những tâm hồn thinh lặng. Hơn nữa, thinh lặng là điều kiện cần thiết giúp chúng ta phân biệt đâu là tiếng Thiên Chúa và đâu là tiếng của ác thần. Tiếng Thiên Chúa thường là tiếng mời gọi sống bác ái, hoán cải, hướng tới sự lành. Tiếng ma quỉ thường là tiếng xui khiến, rủ rê, chia rẽ, tạo nghi ngờ lẫn nhau, đặc biệt, nghi ngờ về tình yêu Thiên Chúa hay sự hiện diện và hoạt động của Người.

Năng lực thinh lặng diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của chúng ta không phải tự nhiên mà có, trái lại, chúng ta cần không ngừng vun đắp mỗi ngày. Chúng ta cần tạo cho mình khả năng thinh lặng hơn là khả năng ồn ào, khả năng lắng nghe hơn là khả năng gào thét, khả năng thông cảm hơn là khả năng chỉ trích, khả năng nhìn nhận những điều tốt nơi người khác hơn là khả năng ‘vạch lá tìm sâu’ nơi họ, khả năng giúp người khác biến đổi hơn là khả năng trù dập, khả năng cởi mở hơn là khả năng đóng kín, khả năng trút bỏ hơn là khả năng sở hữu. Để có được những khả năng đó, chúng ta không có con đường nào khác ngoài Đường Thinh Lặng của Đức Giê-su.

Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng họ ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian (Ga 15,18-19). Câu hỏi đặt ra là làm sao các môn đệ có thể không thuộc về thế gian được? Câu trả lời là các môn đệ ở giữa thế gian với muôn vàn tiếng động, tuy nhiên, các ngài có được sự thinh lặng hay sự bình an của Đức Giê-su, bình an mà thế gian không thể ban tặng (Ga 14,27). Tâm hồn các ngài được liên kết mật thiết với Đức Giê-su. Nhờ đó, các ngài vững tâm giữa muôn vàn bấp bênh, khốn khó và đau khổ của cuộc đời. Đồng thời, các ngài trở nên khí cụ hữu hiệu trong việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại.

Đường của Đức Giê-su là Đường Thinh Lặng, Đường giúp chúng ta gặp gỡ chính mình, gặp gỡ anh chị em chúng ta, gặp gỡ muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, đặc biệt, gặp gỡ Thiên Chúa. Để đi Đường đó, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong máng cỏ, chiêm ngắm Đức Giê-su trong lúc trốn sang Ai-cập, chiêm ngắm Đức Giê-su trong Gia Đình Na-da-rét. Chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong sa mạc bốn mươi đêm ngày, chiêm ngắm Đức Giê-su cúi xuống với những người bệnh tật, bị quỉ ám và muôn hình thức đau khổ khác, chiêm ngắm Đức Giê-su trên núi Ta-bo. Chúng ta được mời gọi để chiêm ngắm Đức Giê-su trên thập giá, chiêm ngắm Đức Giê-su chịu chết và chịu mai táng trong mộ, chiêm ngắm Đức Giê-su phục sinh vinh hiển. Đặc biệt, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su Thánh Thể, chiêm ngắm Đức Giê-su khi chia sẻ Lời Chúa, chiêm ngắm Đức Giê-su trong anh chị em mình.

Qua những gì được trình bày trên đây, chúng ta có thể xác quyết rằng Thiên Chúa là Đấng Thinh Lặng và Đức Giê-su đã đi Đường Thinh Lặng để đến với gia đình nhân loại. Cuộc đời Người trong hành trình trần thế đặt nền tảng trên sự thinh lặng. Là Thiên Chúa trong thân phận con người, Đức Giê-su trở nên mẫu gương cho chúng ta về đời sống thinh lặng, cầu nguyện, vâng phục, tin tưởng, lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Trong Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su luôn hiện diện với tất cả chúng ta. Giữa cảnh ồn ào, náo động của thế sự, Người luôn mời gọi tất cả chúng ta hãy đi Đường Thinh Lặng của Người để chúng ta có thể đạt được sự hòa hợp giữa các yếu tố trong đời sống cá nhân, hòa hợp với anh chị em, hòa hợp với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, và đặc biệt, hòa hợp với Thiên Chúa.

Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên
WHĐ (1.9.2020)

Chia sẽ bài viết này trên:

NGƯỜI TRẺ DẤN THÂN TRONG THẾ GIỚI KỸ THUẬT SỐ: NHỮNG THÁCH ĐỐ VÀ CƠ HỘI

NGƯỜI TRẺ DẤN THÂN TRONG THẾ GIỚI KỸ THUẬT SỐ:
NHỮNG THÁCH ĐỐ VÀ CƠ HỘI

WHĐ (3.9.2020) – Khi còn trẻ, bố tôi là một thủy thủ. Bố gặp mẹ nơi bến cảng của thành phố Roxas và họ đã cùng nhau xây dựng tình yêu và gia đình bên bờ biển. Không có cơ hội sống gần nhà, bố đã phải đưa ra một quyết định hết sức khó khăn khi thử vận may ở nước ngoài, như một công nhân hợp tác lao động xa gia đình. Vào những năm 1980, khi chưa có internet, laptop và điện thoại cầm tay, gia đình chúng tôi liên lạc với bố cách chậm chạp qua đường bưu điện. Có lần bố đã bảo tôi viết thư thường xuyên hơn vì cuộc sống xa nhà đầy cô đơn và khó khăn. Dù vậy, phải mất mấy tháng thư mới đến được tay bố.

Ngày nay, việc liên lạc trở nên dễ dàng hơn. Cảm ơn những thành quả của khoa học và công nghệ. Mọi lúc và mọi nơi, gia đình những công nhân hợp tác lao động đều có thể liên lạc với người thân, và nhờ đó làm vơi bớt nỗi cô đơn luôn đeo bám những người công nhân hợp tác lao động khi phải sống xa nhà để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người thân yêu.

I. Thế giới như ngôi làng kỹ thuật số toàn cầu

Nhờ khoa học và công nghệ, thế giới đã có những thay đổi lớn và đang từng bước chuyển mình với tốc độ chúng ta khó lòng đuổi kịp. Thế giới đã trở nên ngôi làng toàn cầu, được miêu tả bởi sự mở rộng và thu hẹp của không gian và thời gian. Theo Franz-Josef Eilers, trước đây người ta phải thu xếp thời gian để du lịch sang những quốc gia và lục địa khác, nhưng ngày nay việc du lịch chỉ còn là vài giờ, vì mỗi người đều có thể “hô biến” và thế giới bị thu hẹp lại nhờ du lịch qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Một người sống ở vùng quê, trong một thế giới bé nhỏ, vẫn cảm nghiệm được sự bao la của thế giới và có thể chạm đến những nơi xa xôi (mở rộng) trong vài phút. Họ trở thành công dân toàn cầu, những người cảm thấy thế giới trở nên nhỏ bé hơn (thu hẹp), vì có thể vượt qua các đường biên và ranh giới, mà không phải dời bước ra khỏi nơi cư trú.

Sự mở rộng và thu hẹp được miêu tả trong thế giới như ngôi làng toàn cầu đã có lần hiện lên trong tôi tại một giáo xứ vùng xa của Giáo phận Antique, nơi tôi được bổ nhiệm năm 2010. Trong lúc tôi đang lái xe về nhà xứ thì thấy một cậu bé đang ngồi thong thả trên lưng trâu từ ngoài đồng về. Hình ảnh bước đi chậm chạp của con trâu và cậu bé ngồi trên lưng biểu trưng cho cuộc sống vùng quê. Sự di chuyển chậm chạp trong một ngôi làng nhỏ như tách ra khỏi thế giới được bao bọc bởi không gian và thời gian. Tuy nhiên, cậu bé đang cầm trong tay chiếc điện thoại di động. Ngồi thư thái trên lưng trâu đang di chuyển chậm chạp, cậu bé du lịch tốc hành xuyên biên giới qua đường truyền tốc độ cao được phương tiện truyền thông kỹ thuật số cung cấp. Đứa trẻ trong khu làng nhỏ vùng quê đã có thể trải nghiệm sự bao la của thế giới, trở nên một con người vĩ đại đang du lịch và giao tiếp nhanh trong một thế giới vốn rộng lớn nhưng lại được thu hẹp trong ngôi làng toàn cầu, nơi có cư dân vừa gần vừa xa. Cậu bé đã trở thành công dân thời hậu hiện đại, của thế giới hậu hiện đại đã được số hóa.

Một kinh nghiệm cá nhân rõ ràng và thuyết phục khác mà tôi gặp thấy là thế giới đang dần được biến đổi bởi truyền thông kỹ thuật số đã xuất hiện nơi tôi trong chuyến thăm nhà ngắn gần đây. Tôi có đứa cháu tên là Trenz. Cháu bé được sinh ngày 23 tháng 3 năm 2016. Năm nay cậu bé được 3 tuổi và đã sống sót sau chứng bệnh ung thư. Lúc mới 8 tháng tuổi, cháu đã chiến đấu với căn bệnh ung thư và đã trải qua 12 liệu trình xạ trị. Cháu không biết chuyện gì đang xảy ra khi cứ phải đi thăm bệnh viện, được bác sĩ chẩn đoán, lấy máu và những thủ tục y tế khác. Cha mẹ cháu và toàn thể gia đình cháu đều hướng về Trenz, khi cháu trải qua những năm tháng bất ổn do bệnh tật và chữa trị.

Bây giờ Trenz được 3 tuổi và đã sống sót qua giai đoạn khó khăn nhất chống lại ung thư. Cuộc chiến đó vẫn còn tiếp diễn. Chúng tôi cầu nguyện hằng ngày để cháu được chữa lành, hoàn toàn thoát khỏi căn bệnh ung thư và sống hạnh phúc trong những năm sắp tới. Hiện tại, cháu là đứa bé năng động, tràn trề sức sống và là nguồn vui của gia đình.

Tuy nhiên, Trenz có một chuyện khác còn đáng nói hơn cuộc chiến chống ung thư. Cháu là đại diện còn rất trẻ cho một hiện tượng mới và một văn hóa mới đang rộ lên trong thế giới ngày nay. Khi thức dậy vào mỗi buổi sáng, điều cháu tìm đầu tiên không phải là mẹ, nhưng là chiếc điện thoại di động của mẹ, hay những chương trình TV, những bộ phim được yêu thích. Cháu thích phim Vua Sư Tử, cứ xem đi xem lại hàng trăm lần và nhớ hầu hết các cảnh trong phim. Cháu biết Simba, Mufasa, Scar, Timon, Pumba… Dù chưa nói rõ ràng nhưng cháu biết những đoạn hội thoại trong phim, cũng như hoạt động của các nhân vật. Cháu cũng biết Tom và Jerry. Chúng tôi có thể để Trenz ở nhà một mình mà không phải lo sợ gì cả, miễn là cháu có những người bạn được yêu thích, các nhân vật trong phim hoạt hình, những người bạn đáng tin cậy của cháu trong thế giới ảo do truyền thông kỹ thuật số đem lại.

Đồ chơi điện tử kỹ thuật số có lẽ là đồng minh tốt, giúp giảm áp lực trông nom trẻ con, để người lớn tự do làm việc nhà hay việc bổn phận khác. Thế nhưng, đồ chơi cũng âm thầm biến đổi tính cách của trẻ con và người trẻ. Trenz không phải là trường hợp duy nhất được chơi những đồ chơi do truyền thông kỹ thuật số mang lại. Truyền thông kỹ thuật số đã trở thành ngôi trường lưu động, cung cấp vô vàn dụng cụ giáo dục cho các bậc cha mẹ, em gái tôi là một thí dụ điển hình. Dù chưa chính thức đến trường nhưng Trenz đã học cách đọc, viết và làm toán. Tuy nhiên, Trenz không chỉ được trợ giúp giáo dục nhờ vào truyền thông kỹ thuật số, mà thái độ và tính tình của cháu cũng từng bước được định hình và thay đổi bởi những điều được thấm nhập từ truyền thông kỹ thuật số. Khi chơi, Trenz thể hiện tính cách của những người bạn ảo. Cháu bắt chước theo những người bạn trong phim hoạt hình. Cháu gầm lên giống như lúc Mufasa đang chiến đấu chống lại Scar trong phim Vua Sư Tử.

Trenz chỉ là một trong những ví dụ không thể đếm xuể của những cách thức mà truyền thông kỹ thuật số đang tạo nên và tái tạo những yếu tố nền tảng cho việc hình thành và biến đổi tính cách con người, đặc biệt là trẻ em và người trẻ thời nay. Bede Ukwuije nói rằng “cuộc cách mạng công nghệ mới đã làm biến đổi những cách thế hiện hữu. Một số nhà khoa học còn cho rằng chúng đang sáng tạo lại con người”. Trong khi cung cấp những cơ hội bình đẳng và vô hạn cho sự phát triển vượt bậc và tiến bộ của con người, truyền thông kỹ thuật số cũng đặt ra những đe dọa tiềm tàng không thể tưởng tượng trên cuộc sống con người. Trong khi nói về những thách đố do truyền thông kỹ thuật số đặt ra cho công tác đào tạo ứng viên linh mục và tu sĩ, Ukwuije cho rằng “trong khi những công nghệ mới như Internet, Facebook, Twitter, điện thoại thông minh, ipad… tạo ra những cơ hội giao tiếp tuyệt vời và liên kết con người hết sức có thể trong bối cảnh hậu hiện đại, chúng cũng đặt ra những thách đố chưa từng có cho công tác đào tạo linh mục, tu sĩ và công tác truyền giáo”.

Nếu đây là thách đố cho việc đào tạo người trẻ, thì thách đố này cũng được đặt ra cho những người được gọi là “công dân kỹ thuật số”.[1]

Theo Desmond Upton Patton, Robert Eschmann và Dirk Butker, giới giang hồ dùng cả súng và tài khoản Twitter. Truyền thông kỹ thuật số tạo không gian cho sự gia tăng đối tượng cực đoan và những trang mạng kích động hận thù. Người trẻ là một trong những mục tiêu chính của những nhóm thông thạo truyền thông kỹ thuật số, nhưng lại tán thành những ý thức hệ trái ngược với giá trị của Tin Mừng. Từ đó, người trẻ sử dụng truyền thông kỹ thuật số dễ bị tiêm nhiễm những thái độ tai hại từ các băng nhóm cổ vũ cho cực đoan và bạo lực.

II. Đáp lại những thách đố của truyền thông kỹ thuật số nơi người trẻ

Văn hóa là một dòng chảy liên tục. Nếu bạn không biết điều gì đang xảy ra thì bạn đứng ngoài dòng chảy đó. Nhận xét về khẳng định này, Daniella Zsusan-Jerome nói “những biến động, phấn khích và áp lực của văn hóa kỹ thuật số khiến cho nhiều giáo dân và mục tử cảm thấy bối rối và lo lắng. Truyền thông kỹ thuật số đang biến đổi thế giới và văn hóa đương đại. Hiện tượng này không còn có thể quay lại được. Những người trẻ hiện nay đều là công dân kỹ thuật số. Vì người trẻ thuộc về một gia đình, một cộng đoàn, giáo xứ và xã hội nên những cộng đoàn này cũng chia sẻ với thế giới của những công dân kỹ thuật số. Thách đố và cơ hội do truyền thông kỹ thuật số mang lại cho những công dân kỹ thuật số cũng tác động đến các cộng đoàn này. Cách chúng ta tiếp cận và đối diện với những thách đố và cơ hội đó đóng vai trò quyết định trong việc biến thách đố thành cơ hội, để đạt được những giá trị tích cực cho sự phát triển công nghệ và giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực trong cuộc sống của người trẻ và cộng đoàn nơi họ đang sống.

Hãy trở lại với câu chuyện về Trenz, cũng như những gì tôi đã khám phá nơi cậu bé kỹ thuật số này về những cách thức cuốn hút người trẻ vào thế giới kỹ thuật số mà chúng ta đang cùng đối diện với họ.

Em gái tôi sinh Trenz khi bước vào tuổi 40. Em trai và một người em gái khác của tôi đã có gia đình và ra ở riêng nên Trenz là đứa trẻ duy nhất trong nhà. Từ khi Trenz bình phục trở lại sau cơn bệnh, cháu ít khi có điều kiện chơi chung với các bạn khác. Truyền thông kỹ thuật số mang đến cho Trenz những người bạn qua chiếc điện thoại di động, ipad và tivi. Simba, Mafasa, Tom và Jerry, và những nhân vật khác trong phim hoạt hình trở thành những người bạn ảo của Trenz. Tuy nhiên, những gì cậu bé học được từ những người bạn ảo này thật đáng báo động cho tất cả chúng ta. Trenz bị tiêm nhiễm bởi những người bạn ảo như tôi đã đề cập trên đây. Chúng tôi phải lôi kéo Trenz lại thế nào, để những công nghệ đó không gây hại, nhưng giúp cậu bé phát triển nhân cách?

Mẹ tôi đã tập cho Trenz dần dần tránh xa tivi một ít ngày trong tuần. Thế nhưng, điện thoại di động và ipad vẫn là chướng ngại, vì người lớn xung quanh Trenz cũng là công dân kỹ thuật số. Trò chơi điện tử kỹ thuật số đã là một phần thiết yếu trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, chứ không chỉ có người trẻ. Thực ra, người lớn mới là thế hệ đầu tiên nghiện truyền thông kỹ thuật số và mạng xã hội.

Dù vậy, chuyến thăm nhà ngắn hạn đã dạy cho tôi bài học quan trọng về tình trạng cuốn hút trẻ em và người trẻ vào thế giới kỹ thuật số.

Thứ nhất, mối tương quan cá nhân chân thành là điều không thể thay thế được. Tình thương ấm áp của những người yêu thương trẻ em và người trẻ vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống của người trẻ. Điều này đúng cho tất cả mọi người, kể cả người lớn. Việc hiện diện với trẻ con và người trẻ khi các em bị cuốn vào truyền thông kỹ thuật số là điều thiết yếu. Sự hiện diện này không đơn thuần chỉ là có mặt, nhưng còn hiện diện với tình thương chân thành và chăm sóc họ. Yêu thương và chăm sóc chân thành nghĩa là chúng ta đi vào thế giới của các em, quan tâm đến những gì các em quan tâm khi các em khám phá mê cung vô tận của không gian ảo. Điều này có thể là một thách đố thực sự cho người lớn và những người bảo mẫu, vì nó đòi phải dành thời gian, sự can đảm, đào tạo và kỹ năng… Tuy nhiên, những kết quả tích cực sẽ càng có giá trị trước gánh nặng này.

Thứ hai, việc tạo không gian và thời gian cho trẻ con và người trẻ để xây dựng các mối tương quan với người khác cũng là điều thiết yếu. Khi chơi với những đứa trẻ khác, Trenz quên đi chiếc điện thoại di động và ipad. Cậu ấy thích có những người bạn thực. Cậu ấy tràn trề năng lượng khi dành thời gian và không gian cho những đứa trẻ khác. Cậu ấy chạy, nhảy, la hét, ôm ấp, chia thức ăn và đồ chơi với những đứa trẻ khác, chia sẻ cả điện thoại di động và những đoạn phim về Vua Sư Tử… Bằng chứng từ tâm trạng thoải mái này – như là món quà đơn sơ của sự sống hay trải nghiệm những giây phút có giá trị – cho thấy truyền thông kỹ thuật số có thể được đưa vào chương trình phát triển sức khỏe thể lý và tâm lý nơi trẻ em và người trẻ.

Thứ ba, chúng ta cần phải vượt lên trên những quảng cáo để sở hữu đồ chơi điện tử mà mọi người đang gặp phải. Chúng ta cần đi sâu hơn vào thực trạng hiện tại của thế giới, một thế giới đang bị cuốn vào nền văn hóa mới được tạo ra bởi ảnh hưởng của truyền thông kỹ thuật số. Chúng ta cần quan sát ảnh hưởng của truyền thông kỹ thuật số trong thế giới hiện tại dưới lăng kính đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, những món đồ chơi điện tử này có ý nghĩa gì? Thiên Chúa đang mặc khải điều gì cho chúng ta về chính Ngài, về kế hoạch cho thế giới và cho chúng ta, về công trình tạo dựng của Chúa nơi những tiến bộ do truyền thông kỹ thuật số mang lại? Cách nhìn vào thực tại như thế là hành vi phân định và suy ngẫm. Karl Rahner đã nói từ nhiều thập kỷ trước rằng “người Kitô hữu của tương lai sẽ là một nhà thần bí hoặc sẽ không hiện hữu nữa”. Tương lai mà Karl Rahner nói đến là thế giới hiện tại của chúng ta. Chúng ta cần quan sát và đi vào thực tại ngày nay bằng đôi mắt được mở ra với ân sủng của Thánh Thần. Theo McColman, thần bí là một linh đạo sống động, một cảm xúc thân mật của tâm hồn với Thiên Chúa, tập trung vào sự tận hưởng đầy huyền diệu và hân hoan về khả năng chữa lành và biến đổi đời sống của Chúa Thánh Thần.

Richard Rohr dùng từ thần bí theo nghĩa như sau:

“Hiểu biết bằng kinh nghiệm chứ không chỉ là qua sách vở hay điều luật… nhà thần bí làm mọi sự trong tính toàn thể, các mối tương quan, cấu trúc phổ quát và thần linh chứ không chỉ từng thành phần riêng biệt. Các nhà thần bí nhìn mọi sự trong tính toàn thể, do đó vượt lên những cách nhìn rời rạc của chúng ta trong từng thời điểm. Vì thế, các nhà thần bí gần gũi với thi nhân và nghệ sĩ hơn là những nhà tư tưởng suy nghĩ theo một đường thẳng”.

Lời mời gọi đến với thần bí – nghĩa là học cách nhìn thực tại cách chiêm nghiệm, là yêu cầu khẩn thiết cho người Kitô hữu ngày nay, khi chúng ta sống trong một thế giới được biến đổi bởi truyền thông kỹ thuật số. Người trẻ, những công dân kỹ thuật số, cần có đôi mắt chiêm ngắm của các nhà thần bí, hầu dẫn họ đi xuyên qua mê cung của không gian ảo và truyền thông kỹ thuật số.

III. Nhìn vào truyền thông kỹ thuật số và công dân kỹ thuật số dưới lăng kính đức tin

Nhìn từ lăng kính đức tin, bối cảnh của người trẻ (công dân kỹ thuật số) trong thế giới kỹ thuật số trở thành bối cảnh truyền giáo. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã mạnh dạn mời gọi các Kitô hữu trở nên công dân của thế giới kỹ thuật số. Ngài đề nghị rằng phương thức truyền giáo mới nên tham gia vào đại lộ kỹ thuật số, để đối thoại với con người thời nay và giúp họ gặp gỡ Đức Kitô. Tương tự, Isabelle Jonveaux lý luận rằng mục tiêu của việc truyền giáo là người trẻ, thế nên việc truyền giáo nên hội nhập với lối giao tiếp của người trẻ, nói bằng ngôn ngữ của người trẻ và sử dụng cách thức giao tiếp của họ. Thách đố và cơ hội được đặt ra bởi truyền thông kỹ thuật số cũng là thách đố và cơ hội truyền giáo.

Daniella Zsupan-Jerome cho rằng việc hòa quyện của văn hóa với truyền thông kỹ thuật số “ngày càng cần thiết cho mọi bối cảnh truyền thông thời nay, kể cả với Giáo Hội trong mọi cách thể hiện của mình”. Thuyết phục không thua gì Đức Giáo hoàng Phanxicô, [Zsupan-Jerome còn nói thêm] tính cách phù hợp này trở thành mệnh lệnh truyền giáo, thu hút người trẻ và công dân kỹ thuật số vào một bối cảnh mới, được tạo ra bởi truyền thông kỹ thuật số. Tuy nhiên, Zsupan-Jerome cũng quan sát thấy rằng mệnh lệnh khẩn thiết này không chỉ hấp dẫn, nhưng cũng có thể gây bối rối và lo lắng, vì cho rằng chúng ta đang ở trong sự biến đổi văn hóa đầy đau đớn, mà không chắc là mình đang phục vụ triều đại Thiên Chúa cách hữu hiệu. Chúng ta phải bắt đầu từ đâu? Làm thế nào để có thể đón nhận thách đố của truyền thông kỹ thuật số như một bối cảnh truyền giáo mới?

Tiếp theo những suy tư của Zsupan-Jerome, cô ấy gợi ý nhẹ nhàng rằng mặc dù có vẻ như đây là thách đố đầy lấn át và đe dọa của truyền thông kỹ thuật số, nhất là khi khẳng định rằng “những gì phù hợp với văn hóa cũng là điều hợp thời nhất”, truyền thông – giá trị cốt lõi của kỹ thuật số, “là một thực tại văn hóa xuất hiện xưa như chính tương giao con người”. Cô nói tiếp:

Xét từ quan điểm thần học, đây là khái niệm mời gọi chúng ta đi vào chính mầu nhiệm của Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, trong sự hiệp thông hỗ tương và trao ban, và là Đấng giao tiếp với nhân loại qua tiến trình mặc khải trong lịch sử. Mặc khải này đạt đến đỉnh điểm nơi Ngôi Lời nhập thể, Đấng loan truyền ơn cứu độ qua cuộc sống, cái chết và phục sinh của Người. Sau Chúa Giêsu, việc loan truyền Tin Mừng của Người được thực hiện nhờ vai trò dẫn dắt của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Sứ vụ truyền giáo này đặt nơi trái tim của Giáo Hội. Từ quan điểm này, truyền thông kỹ thuật số không gì khác hơn là chương cuối cùng trong câu chuyện dài về cách Giáo Hội đi ra để biểu lộ căn tính và loan truyền sứ vụ này.

Đoạn trích dẫn dài trên đây của Zsupan-Jerome có thể mang lại tầm nhìn có ý nghĩa về việc phải bắt đầu từ đâu và bằng cách nào để khám phá về những thách đố được đặt ra cho truyền thông kỹ thuật số. Cách chung, con người, kể cả người trẻ, sử dụng truyền thông kỹ thuật số để giao tiếp, để nối kết với người khác, để được biết đến, được đón nhận, được yêu thích, và cũng để tiếp cận và biết những gì đang xảy ra nơi cuộc sống của người khác. Nhìn thoáng qua, truyền thông kỹ thuật số có thể làm phát sinh chủ nghĩa cá nhân, khi người ta loại bỏ các mối tương quan cá nhân xung quanh công dân kỹ thuật số, giống như khi người trẻ đóng lại với thế giới xung quanh và dán mắt vào đồ chơi điện tử trong tay, những người trẻ này đói khát tương quan và sự liên kết với người khác. Khao khát được liên đới là yếu tố bẩm sinh nơi con người. Xét về khía cạnh thần học, chúng ta được sinh ra là để tương quan. Chúng ta là tương quan, được Thiên Chúa sáng tạo, Đấng là tương quan đích thực. Cái khó là nhìn nhận khát vọng vô hình này nơi sâu thẳm của tâm hồn nhưng được bày tỏ bằng những trao đổi nối kết của công dân kỹ thuật số, đang tiếp xúc với nhau trên đại lộ cao tốc kỹ thuật số.

IV. Kết luận

Như đã đề cập từ đầu, bài viết này không phải là một nghiên cứu thực nghiệm mang tính học thuật về những vấn nạn xoay quanh truyền thông kỹ thuật số và ảnh hưởng của nó, tốt hơn hoặc xấu hơn, trong đời sống của người trẻ, những công dân kỹ thuật số. Nói đúng hơn, đây là những suy nghĩ tản mạn của tác giả, được góp nhặt từ kinh nghiệm thực tế về cách thức truyền thông kỹ thuật số chạm đến cá nhân người trẻ, cũng như người lớn, bao gồm cả tác giả, những hiệu ứng và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của họ, cả tích cực lẫn tiêu cực. Đây chỉ là bàn luận sơ lược trên bề mặt của đại dương bao la, tương tự như những thách đố mà truyền thông kỹ thuật số tác động đến mọi người và từng người. Nếu có một cách gọi rõ ràng tập trung vào các vấn đề, đặc biệt là Giáo Hội, vốn được ủy thác để tiếp tục rao giảng Tin Mừng đã được Chúa Giêsu rao giảng và thi hành, thì chúng ta hãy chuẩn bị và thiết lập đội ngũ các thừa tác viên – giáo dân và có chức thánh – để đối diện với những thách đố trong việc đồng hành với người trẻ, khi họ đang du ngoạn trên đại lộ cao tốc của thế giới kỹ thuật số.

Tôi muốn kết thúc bài viết bằng cách tóm lược những đề nghị của Bede Ukwuije về những cách thức đào tạo, nhằm đáp lại những thách đố này. Ukwuije đưa ra cho chúng ta 5 đề nghị:

  1. Suy tư về việc sử dụng có đạo đức hệ thống truyền thông hiện đại

Không thể dừng lại việc sở hữu và sử dụng các phương tiện giao tiếp hiện đại. Vấn đề nan giải là làm thế nào để kiểm soát việc sử dụng các hệ thống truyền thông hiện đại. Kiểm soát cách sử dụng chỉ vì sợ hãi thì không ích lợi gì. Tốt hơn là nên suy nghĩ về việc sử dụng hợp lý các phương tiện đó, về những hậu quả của tự do, của việc đào tạo và trưởng thành nhân cách.

  1. Đào tạo chiều kích nội tâm

Trong bối cảnh hiện tại, việc đào tạo nên tập trung vào tầm quan trọng của nội tâm. Đức Giáo hoàng Phanxicô kêu gọi công cuộc Phúc-Âm-hóa đầy Thần Khí. Điều cần thiết là khả năng trau dồi không gian nội tâm, yếu tố có thể mang lại ý nghĩa Kitô giáo cho những cam kết và hoạt động. Nội tâm là không gian gặp gỡ với chính mình, với người khác và với môi trường. Căng thẳng quá mức do việc nghiện công nghệ mới có thể gây cản trở cho việc tự nhận thức này.

  1. Đức tin như là việc từ bỏ mình

Trong bối cảnh hậu hiện đại, nơi mà mỗi người đều ý thức rõ về sự tự do và tự trị cá nhân, công tác đào tạo nên đặt mục tiêu nơi việc từ bỏ mình. Hiện hữu của chúng ta là ân sủng, được Chúa ban cách nhưng không. Chúng ta chỉ có thể khám phá ra bản thể thực sự của mình khi từ bỏ ảo tưởng muốn tự tạo ra hiện tại và tương lai cho riêng mình. Khi người ta tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa, Đấng có thể làm được mọi sự, thì họ có thể làm được những việc lớn lao hơn những gì họ nghĩ dựa vào khả năng của mình.

  1. Đạo đức học về sự mỏng manh và dễ tổn thương

Trong bối cảnh hậu hiện đại, nơi mà con người bị cám dỗ bởi khuynh hướng tự làm chủ, việc đào tạo nên nhắm đến đạo đức học về sự mỏng manh và dễ bị tổn thương. Nhà truyền giáo chân chính nên nhận ra thân phận mỏng manh của mình. Khám phá về sự mỏng manh của chúng ta gắn liền với khám phá về ân sủng của Thiên Chúa nơi chúng ta. Lòng thương xót của Chúa đi trước ơn gọi của chúng ta.

  1. Đào tạo cộng đoàn chứng tá

Trong bối cảnh hậu hiện đại, nơi mà mỗi cá nhân tìm chỗ đứng cho bản thân, việc đào tạo nên nhắm đến cộng đoàn chứng tá. Đây là tiếng gọi của Thánh Thần để làm chứng cho sự liên đới nơi con người trong thế giới toàn cầu hóa, nơi chân lý được loan báo và được sống, nơi không có sự thống trị và nô dịch, nơi mà sự khác biệt được nhìn nhận và khẳng định mà không cần phải thỏa hiệp.

Tác giả: Serge C. Maniba
Nguồn: “Engaging the Youth in the Digital World: Challenges and Opportunities”; Institute for Consecrated Life in Asia, Quezon City, Philippines.
Chuyển ngữ: Lm. Gioan Phan Văn Định

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 118 (Tháng 5 & 6 năm 2020)

[1] Cụm từ “công dân kỹ thuật số” nói đến thế hệ những người trẻ được sinh ra và lớn lên trong thời đại phát triển kỹ thuật số.

Chia sẽ bài viết này trên:

Sự thay đổi nhã nhặn

Sự thay đổi nhã nhặn

“Nước Trời phải chịu sự mạnh bạo, và những người tàn bạo đã dùng bạo lực mà giành lấy Nước Trời” (Mt 11, 12).

Thử so sánh vẻ đẹp đơn sơ và thanh thoát của một đoá hoa hồng đang nở với những căng thẳng và bất an trong cuộc đời bạn. Cánh hoa ấy có một điều mà bạn không có, là hoàn toàn bằng lòng với chính mình. Đoá hoa không bị cài đặt chương trình từ ban đầu như bạn đã bị – chương trình bất mãn với chính mình. Vì thế, đoá hoa không mảy may bị thúc bách phải trở nên một cái gì đó hơn sự thật của mình.

Đó là lí do giải thích tại sao đoá hoa có được một vẻ đẹp không giả tạo, không có những dằng co nội tâm mà trong nhân loại chúng ta chỉ thấy nơi các trẻ nhỏ và các nhà thần bí.

Hãy xem tình trạng buồn bã của bạn. Lúc nào bạn cũng bất mãn với chính mình, muốn thay đổi chính mình. Vì thế, người bạn lúc nào cũng đầy bạo lực và không chịu được mình, mà điều này chỉ thấy xuất hiện mỗi khi bạn cố gắng thay đổi chính mình. Nếu vậy, bất cứ sự thay đổi nào bạn thực hiện cũng có kèm theo sự dằng co nội tâm.

Bạn đau khổ khi thấy người khác làm được điều mà mình không làm được, hay trở thành cái mà mình chưa trở thành.

Bạn có cảm thấy ghen tương và tức tối hay không, nếu như bạn biết bằng lòng với chính mình và không bao giờ khao khát cái mà mình không phải là? Tiếc rằng bạn bị thôi thúc trở thành một người khác, có kiến thức nhiều hơn, có vóc dáng đẹp hơn, nổi tiếng và thành công hơn. Bạn muốn trở thành người có nhiều nhân đức hơn, yêu nhiều hơn, trầm tư hơn; bạn muốn tìm được Chúa, ngày càng xích lại gần hơn với lí tưởng của mình.

Hãy nhớ lại lịch sử đáng buồn của mình khi ra sức hoàn thiện bản thân; lịch sử ấy đã kết thúc, nếu không tan tành mây khói thì cũng chỉ thành công với biết bao đau khổ và chiến đấu.

Bây giờ hãy thử hình dung bạn buộc phải thôi không còn cố gắng thay đổi bản thân mình và bất mãn với bản thân mình nữa, lúc ấy bạn có sẵn sàng đi ngủ, miễn cưỡng chấp nhận mọi sự nơi mình và chung quanh mình không?

Nhưng còn một cách khác, không cần cù đẩy mình tiến lên mà cũng không miễn cưỡng chấp nhận bỏ cuộc. Đó là tự hiểu lấy bản thân mình. Đây là một điều không dễ dàng vì muốn hiểu sự thật của mình, bạn cần phải tự do hoàn toàn khỏi mọi ham muốn thay đổi sự thật của mình để trở thành một điều gì khác.

Bạn sẽ hiểu điều này rõ hơn, khi so sánh thái độ của nhà khoa học nghiên cứu các thói quen của loài kiến nhưng không hề mảy may muốn thay đổi các thói quen ấy với thái độ của một người huấn luyện chó tìm hiểu các thói quen của chó để bắt chúng học một điều gì đó.

Nếu điều bạn đang cố gắng làm không phải là tìm cách thay đổi bản thân mình, mà chỉ là quan sát bản thân mình, nghiên cứu từng phản ứng của mình đối với con người và sự vật, không phê phán hay kết án mà cũng chẳng muốn cải tạo bản thân, sự quan sát của bạn lúc ấy sẽ không trở nên thành kiến hay thiên vị mà là bao trùm lên tất cả, sẽ không cứng ngắc với những kết luận chắc nịch mà là cởi mở và luôn luôn mới mẻ.

Sau đó, bạn sẽ thấy có một điều hết sức kì diệu xảy ra nơi mình: bạn sẽ trở nên hết sức tỉnh táo, trong suốt và hoàn toàn thay đổi.

Lúc ấy, sự thay đổi sẽ xảy ra chăng? Phải. Nơi con người bạn và trong môi trường chung quanh bạn.

Nhưng sự thay đổi ấy có không phải là do sự khéo léo và ngược xuôi vất vả của bạn, lúc nào cũng tranh giành, cũng so sánh, cũng ép uổng, cũng lên lớp, cũng lèo lái một cách bất bao dung và đầy tham vọng, sinh ra bao căng thẳng, xung đột và đối kháng giữa bạn và thiên nhiên – một quá trình sẽ làm bạn kiệt sức và thất bại như khi người ta chạy xe mà cứ đạp thắng mãi.

Nhờ sự tỉnh ngộ sáng suốt và có sức biến đổi ấy, người ta dẹp sang một bên cái tôi lúc nào cũng đòi hoạch định, lúc nào cũng tìm mình, để trao cho thiên nhiên toàn quyền tạo ra sự thay đổi như thiên nhiên đã từng làm cho đoá hoa hồng: không gượng gạo, duyên dáng, quên mình, khoẻ khoắn, không vướng một sự xung đột nội tâm nào. Nếu thay đổi nào cũng bạo tàn thì đoá hoa hồng ấy cũng sẽ bạo tàn. Nhưng phẩm chất tuyệt vời của thiên nhiên không phát sinh từ sự bất bao dung và thù ghét bản thân mình.

Chính vì thế trong cơn mưa bão quét đi tất cả mọi sự không hề có sự giận dữ, cũng không hề có loài cá nào ăn con mình để tuân thủ các định luật môi trường lạ lùng, cũng không hề có các tế bào trong thân thể con người phá huỷ nhau vì một lợi ích nào đó cao hơn.

Nếu thiên nhiên có huỷ hoại điều gì thì đó không phải là do thiên nhiên tham vọng, tham lam hay đòi bành trướng bản thân mình, mà chỉ là vì tuân thủ một định luật huyền bí nào đó nhằm lợi ích cho toàn vũ trụ hơn là chỉ lo cho sự sống còn và lành mạnh của các thành phần riêng lẻ.

Đây là thứ mạnh bạo mà chúng ta gặp thấy nơi các nhà huyền bí: mạnh bạo là vì chống lại các ý kiến và cơ chế đã ăn sâu vào xã hội và văn hoá chúng ta và nhờ đó nhìn ra những tệ đoan mà các người cùng thời với các ngài có thể mù quáng không thấy.

Cũng chính sự mạnh bạo này đã khiến cho đoá hoa hồng vươn thẳng và đương đầu với các sức mạnh thù nghịch. Đó cũng là sự mạnh bạo mà đoá hoa hồng bắt chước nhà thần bí kia: là nhẹ nhàng hưởng ứng, sau khi đã mở hết các cánh hoa ra đón lấy ánh nắng mặt trời, và sống một cách thanh thoát, thật đáng yêu, không cần phải lo lắng tìm cách làm cho tuổi đời đã được an bài cho mình kéo dài thêm một phút. Đoá hoa ấy đã sống trong hạnh phúc và duyên dáng như các cánh chim trên trời và các đoá hoa ngoài đồng nội, không chút bất an và bất mãn, ghen tị và lo âu, tranh đua và giành giật, không như thế giới hôm nay, lúc nào cũng tìm cách nắm lấy phần kiểm soát và cưỡng ép, thay vì bằng lòng với sự tỉnh ngộ ấy, trao hết mọi gánh nặng cho Thiên Chúa bày tỏ quyền năng trong thiên nhiên.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách:Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên:

Bạn trẻ với Chúa Giêsu

Bạn trẻ với Chúa Giêsu

Dẫn nhập

Đã là người, ai cũng mong muốn cuộc đời mình hạnh phúc, nhưng để đạt được hạnh phúc đích thật điều đó không dễ dàng chút nào. Với niềm khao khát được hạnh phúc con người đã dành cả đời để học tập, tìm kiếm, chọn lựa cho đời mình. Mặt khác hạnh phúc đó cũng tùy thuộc vào Thiên định tức là ý Trời phú ban. Hạnh phúc đích thực thì khó đạt đến nhưng không phải là không thể. Mỗi người đều có khả năng để sống hạnh phúc với hoàn cảnh thực tại của riêng mình. Hạnh phúc tùy thuộc vào cách suy nghĩ, hành xử và sự lựa chọn của mỗi người.

Với niềm tin Công giáo, người Kitô hữu được mời gọi sống hạnh phúc bên Chúa và chỉ có hạnh phúc đích thực khi cuộc đời của họ luôn có Chúa song hành. Vậy, Chúa Giêsu có ý nghĩa gì đối với bạn trẻ hôm nay ? Đâu là ý nghĩa cứu cánh cuộc đời của các bạn ? Đâu là những câu hỏi được đặt ra cho bạn trẻ Công giáo để họ tự chất vấn và cảm nếm sâu lắng nơi cuộc đời của họ trong con người thật của Chúa Cứu Thế.

Trước hết, Chính Chúa Giêsu đã nhập thế và nhập thể; Ngài đã trải qua những vui buồn sướng khổ, những thiệt thòi, những hy sinh của phận người. Và đỉnh cao của con người nơi Chúa Giêsu chính là con đường khổ giá, nơi đó Ngài đã gánh lấy tất cả tội lỗi trần gian. Sau tất cả những đau khổ của kiếp người mà Ngài đã oằn vai gánh lấy, Ngài đã sống lại từ cõi chết để minh chứng rằng: Ngài là Vua tình yêu; Vua trên các vua. Ngài sống lại để lôi kéo con người đến với Chúa Cha và để hưởng dung nhan rạng ngời của Ngài. Đức Giêsu chính là con đường, là sự thật và là nguồn hy vọng tuyệt đối của nhân loại (x. Ga 14,6). Hôm nay, Ngài vẫn sống và luôn sống mãi trong lòng Hội Thánh và nơi mỗi người chúng ta (x. Mt 28,20). Ngài đang hướng dẫn và dõi bước trên hành trình của từng người. Như thế, bạn trẻ cảm nếm tình Chúa yêu thương dường nào ? Các bạn đáp lại tình yêu vô bờ bến ấy ra sao ? Các bạn làm gì để Thiên Chúa có thể nhìn thấy được tấm lòng yêu thương và quảng đại của mình đối với tha nhân, gia đình, Giáo Hội và xã hội.

Chúa Giêsu là ánh sáng cho cuộc đời bạn

“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường cho con đi” (Tv. 118,105). Thánh vịnh nói với cuộc đời bạn và tỏ cho thấy rằng: Bạn đang phải bước đi trong tăm tối mịt mù ư, hãy đến với Giêsu là nguồn ánh sáng của bạn. Bạn đang thất vọng ư, hãy đến với Giêsu là nguồn hy vọng của bạn. Bạn muốn hạnh phúc ư, hãy đến với Giêsu, là nguồn hạnh phúc đích thực của bạn. Vì thế, nếu bạn là Kitô hữu, bạn chỉ thực sự hạnh phúc khi có Chúa song hành cùng bạn.

Nếu bạn xác tín rằng Chúa là gia nghiệp của đời bạn, thì khi bạn gặp phải biến cố đau thương như thế nào, bạn cũng có thể chấp nhận và vượt qua được nó. Vì chính Chúa Giêsu đã phán: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Nếu bạn chọn Chúa Giêsu như điểm tựa cho cuộc sống thì sự hiện diện của Ngài ắt sẽ trở nên rõ ràng và sâu xa hơn bạn hiểu. Nếu cuộc đời của bạn đặt dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, chắc chắn bạn sẽ cảm nếm được sự ngọt ngào yêu thương hơn bạn hiểu và bạn nghĩ đến. Nếu đường đời của bạn có bóng tối bao phủ, Chúa Giêsu sẽ ra tay rẽ lối để bạn bước đi trong ánh sáng của Ngài.

Chính Ngài là ánh sáng chiếu soi cho mỗi bước đường bạn đi; giúp bạn hiểu ra ý nghĩa của cuộc đời này, ngay cả khi bạn đang cảm thấy đau khổ và tuyệt vọng. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu mến Thầy … thì Thầy sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14,21). Vì thế, con người luôn hướng về Thiên Chúa để được sống trong tình yêu và sự thánh thiện của Ngài. Thiên Chúa muốn tất cả chúng ta nên thánh trong bổn phận hằng ngày: “Bởi chưng đã viết rằng: Các ngươi hãy là thánh vì Ta là Thánh” (1Pr 1, 16).

Chúa Giêsu là Lời Hằng Sống cho cuộc đời bạn

Bài hát “Xin cho con biết lắng nghe” của linh mục nhạc sĩ: Nguyễn Duy đã giúp cho mỗi người chúng ta hiểu được phần nào về giá trị của LỜI. Có LỜI trong cuộc đời, bạn sẽ biến từ lẻ loi, cô đơn, buốt giá, và đêm tối ngờ vực, nguy nan trở nên ánh sáng dõi đường, trở nên tình yêu hy vọng và trở nên hạnh phúc cho trần ai. Hiểu được giá trị của LỜI, ắt bạn sẽ cảm thấy không gì hạnh phúc vui sướng cho bằng khi có LỜI hướng dẫn trên mọi nẻo đường cuộc sống: “Lời Ngài là sức sống của con, Lời Ngài là ánh sáng đời con, Lời Ngài làm chứa chan hy vọng và là đường để con hằng dõi bước” (Bài hát: Xin cho con biết lắng nghe).

Chỉ khi bạn tin rằng, Chúa Giêsu là điểm tựa và là cứu cánh của cuộc đời bạn, lúc ấy việc làm của bạn sẽ thật sự có ý nghĩa và sự phục vụ của bạn sẽ làm phong phú đời sống cho chính bạn, cho Giáo hội và cho tha nhân.

Trong Tin Mừng Matthêu kể về dụ ngôn: “Người khôn xây nhà trên đá”, ý nói đến sự bền vững của Lời Chúa trong cuộc đời người Kitô hữu; nó được ví như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập tới, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá (x. Mt 7,25). Với bạn trẻ khi nghe và thực hành Lời Chúa cũng sẽ giống như người khôn xây tòa nhà đức tin trên nền đá vững chắc. Còn những kẻ chỉ nghe Lời mà không thực hành, sẽ giống như người ngu dại xây tòa nhà trên cát. Khi gặp mưa sa bão táp, nhà ấy sẽ bị lún và sụp đổ tan tành (x. Mt 7,26-27).

Chỉ khi bạn cảm nếm được tình thương vô bờ của Chúa một cách sâu lắng thì việc thực hành Lời Chúa mới có giá trị. Vì LỜI của tình yêu, LỜI của chân lý, LỜI của ân phúc, LỜI của lẽ sống và LỜI của sự biến đổi. Chỉ khi đụng chạm đến LỜI, thì LỜI sẽ thể biến đổi cuộc đời bạn và đánh thức được thế giới. Thế giới chỉ thay đổi, khi bạn đổi thay. Biến đổi cuộc đời không gì khác là tỉnh thức trước lối sống phù vân nơi cõi trần gian này; tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa và đáp lại lời mời gọi trước những biến cố đang xảy đến với mình và thế giới.

Chúa Giêsu là Bánh Trường Sinh cho cuộc đời bạn

“Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”(Ga 6,35). Chúa Giêsu là Tấm Bánh Trường Sinh được bẻ ra và phân phát cho muôn người. Ngài đã trở nên Tấm Bánh cuộc đời cho mỗi người chúng ta. Cuộc đời thanh thiếu niên của Ngài thật bình dị đến lạ thường. Nhưng lại trở nên Tấm Bánh Tình Yêu đi vào cuộc đời nhân thế. Đỉnh cao của Tấm Bánh Hằng Sống được bẻ ra là lúc Ngài chịu chết trên thập giá để con người được thông phần vào sự sống vĩnh hằng. Chúa Giêsu đã trở nên Tấm Bánh Trường Sinh và được bẻ ra trao cho muôn dân, thì hôm nay Ngài cũng mời gọi bạn và tôi hãy trở nên tấm bánh và bẻ đời mình ra cho tha nhân.

Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta là mẫu gương tuyệt vời về tấm bánh đời mình với lòng quảng đại và tình thương hải hà mà Thiên Chúa đã gửi đến cho nhân loại. Những bước chân không biết mệt mỏi của Mẹ đã chữa lành cơn khát yêu thương của biết bao người đang quằn quại đau khổ vì bệnh tật và nghèo đói.

Một trong những câu nói ý nghĩa của Mẹ Thánh Têrêsa: “vấn đề không phải chúng ta cho đi bao nhiêu, mà chúng ta đặt tình thương vào việc cho đi như thế nào”. Đó chẳng phải là ý muốn mà Thiên Chúa đòi hỏi bạn phải trao ban cả lòng mến của mình sao ? Lòng mến ấy được thể hiện nơi đồng tiền nhỏ của bà góa nghèo trong Tin Mừng (x. Mc 12,38-44). Bà đã cho đi tất cả cái mình có, cho đi với lòng mến vô bờ bến. Giá trị của việc cho đi không chỉ nằm ở những món quà sang trọng đắt tiền, mà còn ở tấm lòng quảng của người trao ban.

Phép lạ hóa bánh ra nhiều (x. Mt 15, 29-37) để nuôi sống đám đông dân chúng ngày xưa là hình ảnh những tấm bánh của đời mình cho tha nhân hôm nay. ‘Năm chiếc bánh và hai con cá’ đó là hình ảnh tuyệt đẹp cho đời mình khi nghĩ đến tha nhân: Một nụ cười cảm thông và ánh mắt yêu thương cũng đủ làm cho người khác ấm lòng khi họ phải lìa cõi đời này. ‘Năm chiếc bánh và hai con cá’ của bạn cũng là sự cho đi; một chút chịu đựng quên mình hay bỏ đi sự kiêu căng tự phụ và sự tha thứ cho kẻ thù là sự cho đi ý nghĩa. Bạn cũng có thể cho đi thời gian, sức khỏe và tiền bạc đến những người đang cần sự giúp đỡ quảng đại của bạn. ‘Năm chiếc bánh và hai con cá’ của bạn, cũng đủ làm cho bạn biết từ bỏ ý riêng và những đòi hỏi quá đáng nơi Chúa. Qua biến cố nào đó, bạn có thể đọc ra được thánh ý Chúa để biết từ bỏ ý riêng mà sống hạnh phúc với thực tại đang đến. Đó là điều Chúa muốn dạy bảo.

Tấm bánh đời bạn có nhỏ bé đến đâu, thì Thiên Chúa vẫn luôn cần đến. Tấm bánh đời mình cần có được mùi vị thơm ngon thì mới có thể cho người khác ưa thích. Thứ mùi vị ấy là lòng yêu mến, quảng đại và sự hy sinh cho người khác. Bạn có thể tìm được Đấng Tuyệt Đối trong cuộc sống thiếu thốn và bất toàn nơi những con người nghèo khổ và bất hạnh. (x. Mt 25, 35-46). Chúa Giêsu mời gọi bạn, hãy chia sẻ cái mà bạn đang có cho người nghèo khổ, người bất hạnh. Chính lòng quảng đại, vui vẻ và sự chân thành của bạn sẽ làm cho người khác được hạnh phúc hơn.

Hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang làm phép lạ trên cuộc đời của bạn. Phép lạ ấy được thể hiện trong Bí tích Thánh Thể mỗi ngày, như Lời Ngài đã phán: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).

Lời kết

Nhân loại nói chung và người Kitô hữu nói riêng đang đứng trước những thách đố của thời đại; làm chao đảo và khủng hoảng niềm tin Kitô giáo, nhất là nơi Bạn trẻ Công giáo. Cuộc sống xã hội chung quanh chúng ta là cả một hãng thông tấn xảy ra những tin buồn: Tin buồn của dối trá lường gạt, của tranh giành địa vị, của quyền lực ác thần, của đòi hỏi bất công, của đạo hiếu bất trung, của phản bội xâu xé, của buông xuôi bỏ cuộc, của thất vọng chán chường, của mê dâm phóng đãng, của nghèo đói chết chóc.

Nhân loại đang đối mặt với đại dịch bệnh coronavirus (Covid 19). Nó đang hoành hành dường như tất cả các quốc gia. Một đại dịch khủng khiếp, gây ra hàng trăm ngàn người phải chết. Nó làm cho hàng trăm triệu gia đình đang phải đau khổ. Vì nó, mà nhân loại đang đối diện với các vấn đề nhân sinh: Giáo dục, kinh tế, thương mại, chính trị, tôn giáo… và những nạn đói đang bao trùm khắp nơi. Đứng trước đại dịch này, đứng trước con virut nhỏ bé này con người đang phải bó tay. Các bạn trẻ lại càng bó tay hơn cho dù họ có tài ‘dời non lấp biển’. Thế giới chỉ mong sao, ai đó cho nhân loại một phép màu, phép màu ấy vượt trên tất cả những gì con người suy tưởng. Phép mầu này không ai khác là chính Chúa Giêsu, Vị Cứu Tinh của nhân loại và là Thiên Chúa của người sống và kẻ chết.

Cuối cùng, Chúa Giêsu chỉ muốn bạn nên giống Ngài: “Các người hãy Thánh, vì Ta là Thánh” (Lv 19,2). Công Ðồng Vatican II cũng luôn nhấn mạnh: ơn gọi của mọi người Kitô hữu là nên thánh. Vậy, bạn hãy can đảm dấn thân trong việc bác ái với tha nhân và biết từ chối trước những lời ngọt ngào giả tạo của thế gian; nhất là quyết tâm sống theo Tin Mừng của Chúa Giêsu ngang qua Tám Mối Phúc để bạn có thể được hưởng sự sống vĩnh hằng: “Sự sống đời đời là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô” (Ga 17,3).

Lm. Phêrô Nguyễn Trọng Đường, SVD

Chia sẽ bài viết này trên:

LÒNG KHOAN DUNG: MÓN QUÀ QUÝ NHẤT CỦA HÔN NHÂN KI-TÔ HỮU

LÒNG KHOAN DUNG: MÓN QUÀ QUÝ NHẤT CỦA HÔN NHÂN KI-TÔ HỮU

Nữ văn sĩ tài năng Helen Keller đã nói: “Khoan dung là món quà lớn nhất của tâm hồn”. Quả vậy, lòng khoan dung là một nguồn sức mạnh tiềm ẩn bên trong, là một trong những công cụ tuyệt vời nhất trong cuộc sống.

Trong cuộc sống, nếu không có sự khoan dung tha thứ, thì con người sẽ luôn sống trong hận thù. Tinh thần khoan dung là đức tính vĩ đại nhất của con người. Càng là người biết nhìn xa trông rộng, càng có tấm lòng rộng mở. Người không biết khoan dung, thì sẽ chẳng được ai khoan dung. Chỉ có khoan dung, cuộc sống của chúng ta mới được vui vẻ và hạnh phúc. [1]

Đó là nhận định về lòng khoan dung trong cuộc sống nói chung. Riêng trong đời sống hôn nhân gia đình thì sao?

Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng hôn nhân là một cam kết sống chung đến hết đời và là một cuộc đồng hành dài hơi, nên những khó khăn, phức tạp, va chạm là điều chắc chắn sẽ xảy ra. Đúng như một danh nhân đã nói: “Hôn nhân là bãi chiến trường chứ không phải là luống hồng”. Những cuộc cãi vã, hờn dỗi do mâu thuẫn, bất đồng, bất hòa từ những chuyện vụn vặt thường ngày giữa hai vợ chồng có thể kéo dài từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, và cuối cùng có thể dẫn đến sự đổ vỡ không thể hàn gắn được.

Tuy nhiên, chúng ta tin rằng tình yêu sẽ chiến thắng tất cả và sự khoan dung có sức mạnh hóa giải mọi khác biệt, mọi bất đồng, mọi mâu thuẫn. Tục ngữ VN có câu: “Thương nhau chín bỏ làm mười”. Điều đó có nghĩa là khi yêu nhau thực tình, đôi bạn sẽ vượt qua mọi phiền toái, khó khăn trong cuộc sống chung, để cùng xây dựng một mái ấm hạnh phúc, bình an.

Trên thực tế, hai bạn phải biết học cách nhượng bộ nhau, học im lặng để lắng nghe bạn đời mình, học chia sẻ để chứng tỏ sự quan tâm của mình, học tha thứ để hàn gắn những rạn nứt trong mối quan hệ, học quảng đại để biết cho đi nhiều hơn là nhận lại. Nói tóm là phải đối xử với nhau bằng lòng khoan dung tuyệt vời nhất.

Trong quyển sách “9 dạng người bạn cần phải khoan dung trong cuộc đời“, tác giả người Trung Quốc Hồng Hoa đã nhấn mạnh, người bạn đời chính là một trong 9 dạng người bạn cần phải khoan dung. Bởi khoan dung là “cách cư xử tốt đẹp nhất trong hôn nhân. Yêu là một nghệ thuật, sự khoan dung chính là tinh túy của nghệ thuật đó”. Rất nhiều khi trong thực tế, chúng ta dễ dàng bỏ qua lỗi lầm của người khác dù họ làm ta buồn, ta thất vọng, nhưng lại khó lòng bỏ qua những lỗi lầm mà bạn đời của mình gây ra. Khoan dung với bạn đời, vì vậy cũng là một kỹ năng. [2]

Thực vậy, chỉ có lòng khoan dung mới giúp cho đôi bạn giữ được tình yêu nồng ấm, duy trì được sự trung thành lâu dài, gia tăng được sự tin tưởng cần thiết, nhờ đó dù gặp nhiều sóng gió và thử thách trên đời, đôi bạn vẫn song hành với nhau cho đến cuối đời.

Khoan dung để chấp nhận sự khác biệt của nhau

Chúng ta biết rằng, một trong những thử thách lớn nhất của hôn nhân, đó là trong cuộc sống lứa đôi, hai bạn nam nữ phải chấp nhận sự khác biệt của nhau. Vì thực tế, hai người nam-nữ vốn dĩ rất khác biệt nhau, về giới tính, tính cách, sở thích, văn hóa hấp thu, giáo dục gia đình, tôn giáo, tài năng, kiến thức, nếp sống, thói quen vv.

Khi về sống chung một nhà, hai người phải vượt qua cái rào cản khác biệt ấy để sống hòa hợp, hòa đồng, hòa thuận, hòa bình với nhau. Như người ta thường nói, “Ta với mình tuy hai mà một/ Ta với mình tuy một mà hai”. Điều đó có nghĩa là hai bạn phải tập thích nghi với nhau, vì anh là anh, chị là chị, hai người là hai cá thể đặc thù riêng biệt. Họ phải sống làm sao để từ nay, hai người không còn là hai mà là một xương một thịt (x.Mt 19, 6).

Có muôn vàn chi tiết khác biệt giữa nam nữ, nhưng họ được ơn gọi để kết hợp thành đôi-vợ-chồng, để sống với nhau suốt đời. Tình yêu và sự khoan dung  là sức mạnh quan trọng hàng đầu giúp cho đôi bạn chấp nhận nhau, nương tựa nhau, khích lệ nhau. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc là cuộc hôn nhân trong đó hai người nam nữ, thay vì loại trừ nhau do những khác biệt này nọ, thì lại bổ sung cho nhau. Họ chấp nhận “tương khắc” chứ không “xung khắc”. Ca dao VN có câu: “Yêu nhau vạn sự chẳng nề, / Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.

 Đó cũng là ý nghĩa của việc nên-một-với-nhau mà vẫn tôn trọng sự khác biệt giữa các ngôi vị trong cộng đồng gia đình. Chính nhờ sự khoan dung của hai bạn mà cuộc hôn nhân được êm đẹp và bền vững.

Khoan dung để biết lắng nghe nhau

Trong đời sống hôn nhân, biết lắng nghe là một nghệ thuật giao tiếp ứng xử rất quan trọng nhờ đó ta hiểu được người bạn đời và thông cảm với họ trong mọi tâm trạng và hoàn cảnh trong cuộc sống.

Các nhà tâm lý học hôn nhân gia đình đều quả quyết rằng nghệ thuật giao tiếp ứng xử quyết định phần lớn cuộc hôn nhân hạnh phúc. Vợ chồng dù bận rộn trăm công nghìn việc, nhưng cũng nên tìm mọi cơ hội để gặp nhau, nói chuyện với nhau, lắng nghe nhau, kể cho nhau nghe “chuyện đời chuyện người”, trao tâm sự cùng nhau, thậm chí có thể cùng nhau xem một chương trình giải trí trên truyền hình hay cùng nhau hát một bài hát vv. Đây có thể được coi như một “chìa khóa vàng” đảm bảo hôn nhân bền vững.

Do đó, để có được sự khoan dung trong cuộc sống gia đình, trước hết chúng ta cần phải học cách lắng nghe và tâm sự với nhau. Nếu ngay khi người bạn đời mắc sai lầm, bạn lập tức nổi giận, dùng những lời không hay để trách cứ, nhiếc móc thì quả là thất bại. Hãy tôn trọng để cho người ấy cơ hội trình bày và hãy tỉnh táo để lắng nghe. Càng không nên kết tội một cách vội vã. “Anh/em lại sai rồi”, hoặc “Chắc chắn đây là lỗi của anh/em” là những câu nói làm bạn đời mất tinh thần nhất. Họ sẽ thấy mình là người kém cỏi, một kẻ không ra gì và luôn luôn làm người khác thất vọng. Hoặc sẽ ngay lập tức “xù lông nhím” để bảo vệ cái tôi của mình. Bạn đời, người mà ta đã hết lòng yêu thương, đã tìm hiểu, đã cùng nhau vượt qua bao sóng gió để thành vợ thành chồng, vì thế xứng đáng để được lắng nghe, được cho một cơ hội. [2]

Khoan dung để tha thứ lỗi lầm của nhau

Một danh nhân đã nói: “Con người không ai toàn mỹ. Chuyện vợ chồng cũng thế. Biết phục thiện và tha thứ cho nhau thì gia đình ngày càng đầm ấm. Ngược lại, càng ngoan cố bao nhiêu, gia đình càng dễ dàng tan vỡ bấy nhiêu” (G. Lombroero). Lỗi lầm thì ai cũng có, vì “Nhân vô thập toàn”. Vì thế, mỗi người đều cần được thông cảm và tha thứ.

Thánh Phao-lô đã khuyên bảo tín hữu như sau: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).

Trong Tông huấn “Niềm Vui Yêu Thương”, ĐTC Phan-xi-cô đã dựa vào “Bài ca đức mến” của thánh Phao-lô trong thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô để đưa ra một vài lời khuyên nhằm củng cố hôn nhân với năm tháng được xây dựng trên một tình yêu chân thật. Ngài đưa ra mười ba lời khuyên cho một hôn nhân vững bền, trong đó có đoạn ngài nhấn mạnh đến tình yêu không hận thù:

Đừng để những tình cảm xấu thâm nhập vào trong lòng, nhưng phải trau dồi đức tính tha thứ, tha thứ xây dựng một thái độ tích cực, tìm cách hiểu sự yếu đuối của người khác, tìm lý do để biện minh cho người khác. Chỉ có một tinh thần hy sinh cao cả mới cứu và hoàn thiện được sự giao tiếp trong gia đình. Nó đòi hỏi một tấm lòng rộng lượng và nhanh chóng thấu hiểu, bao dung, tha thứ, giải hòa…Tình yêu không để hận thù, khinh ghét, muốn làm điều xấu, muốn trả thù chế ngự. Lý tưởng trong tinh thần Kitô và đặc biệt trong gia đình, tình yêu bất chấp tất cả”. [3]

Khoan dung để bù đắp những thiếu sót của nhau

Một trong những lợi ích của hôn nhân, đó là đôi bạn có cơ hội bù đắp những thiếu sót của nhau. Kẻ mạnh nâng đỡ kẻ yếu. Người giỏi bồi đắp cho người dở. Người lanh lợi bù đắp cho kẻ chậm chạp. Nói chung, hai bạn sẽ bổ túc, bù trừ cho nhau để tiến tới một sự hoàn thiện chung.

Tuy nhiên trên thực tế, có nhiều đôi không làm được việc này, vì tự ái, vị kỷ, nông cạn. Họ không muốn người khác bù đắp cho mình mà cũng không quan tâm bồi đắp cho người khác. Điều này chứng tỏ cả hai đều thiếu khoan dung.

Theo D. Wahrheit, tác giả cuốn “Cẩm nang Hạnh phúc Gia đình Ki-tô” thì chúng ta cần nhìn nhận điều này là: “Sự đổ vỡ trong hôn nhân thường xảy đến khi hai người phối ngẫu không chấp nhận vai trò của nhau. Và từ đó không đạt được sự hòa hợp trong đời sống vợ chồng. Vì hòa hợp và bổ túc cho nhau, đó là nguyên tắc sống nền tảng trong đời sống hôn nhân…”. Và “Bổ túc cho nhau trên hết có nghĩa là mình có những gì mà người kia không có, điều mình có ít thì người kia lại có nhiều. Sức mạnh, vẻ đẹp, sự dịu dàng của tình yêu nằm trong sự bổ túc ấy…

Khi mới kết hôn, đôi bạn thường cho rằng họ yêu nhau nên hiểu nhau, họ hiểu nhau nên cuộc sống vợ chồng sẽ thật êm ả, dễ chịu. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn chung sống, họ bắt đầu vỡ mộng. Bởi vì cuộc sống chung quả là khó khăn, phức tạp. Một trong những điều khiến họ dễ rơi vào khủng hoảng nhất, đó là sự khác biệt, chênh lệch nào đó giữa hai vợ chồng. Đó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự mất hòa hợp vợ chồng.

Thực ra, khi kết hợp với nhau thành vợ chồng, đôi bạn sẽ có điều kiện bổ túc, chia sẻ, hỗ trợ nhau về mọi mặt. Kẻ mạnh nâng đỡ người yếu. Người giỏi giang khuyến khích kẻ kém cỏi. Kẻ lanh lợi hỗ trợ người chậm chạp vv… Luật bù trừ trong hôn nhân là như vậy. Chẳng hạn, nếu chàng là người nói ít và trầm tĩnh thì hãy chấp nhận nàng nói nhiều và hay than vãn. Nếu chàng là người có đầu óc thực tế, quyết định nhanh chóng, dứt khoát thì cũng thông cảm bạn đời mình hay mơ mộng, ướt át tình cảm. Nếu chàng thích ra tay nghĩa hiệp bảo vệ người khác thì cũng nên chấp nhận nàng yếu đuối, thích được bảo vệ, thích nhờ vả giúp đỡ vv.

Khi cộng tác với nhau lo cho gia đình, các bạn phải hiểu nhau, cảm thông và nhất là giúp nhau phát huy điểm mạnh, đồng thời sửa chữa khiếm khuyết và bỏ qua những sai sót của nhau. Hãy luôn là bạn đồng hành với lòng khoan dung, chúng ta sẽ an toàn.

Khoan dung để quên đi quá khứ của nhau

Người có lòng khoan dung sẽ không bao giờ nghĩ đến việc bới móc chuyện quá khứ của nhau. Thông thường trước kết hôn với nhau, ai mà chẳng có tình sử của riêng mình. Đối với người này cuộc tình cũ có thể chỉ là thoáng qua, nhạt nhòa, nhưng với người kia có thể đã mặn nồng, thắm thiết. Nhưng bây giờ một khi bạn đã quyết tâm đến với nhau trọn đời thì buộc phải quên đi quá khứ của nhau.

Trên thực tế đã có nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ chỉ vì một trong hai người cố tình bới móc chuyện quá khứ của người kia như để thách thức lòng chung thủy của bạn mình. Đó là một sai lầm lớn. Vậy nếu muốn xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc, đôi bạn hãy tự nguyện chôn vùi quá khứ của mình và của bạn đời, không phải với tâm trạng cay đắng mà là bằng một sự quyết tâm có định hướng: “Cưới được người con gái mình yêu đã là hạnh phúc, nhưng yêu được người con gái mình cưới còn hạnh phúc hơn” (Danh ngôn).

Khoan dung để chấp nhận đồng hành với nhau suốt đời

Văn hào pháp Antoine de St Exupéry nói: “Yêu nhau không là ngồi đó nhìn nhau, mà cùng nhau hướng về một lý tưởng”. Cũng có một danh nhân khác nói rằng, “Hôn nhân là một công trình mà hai người phải giúp nhau kiến tạo suốt đời” (André Maurois). Cũng câu nói: “Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung với nhau là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm “ (James Thurber).

Vợ chồng phải ngồi lại với nhau, cùng nhau xây dựng một mục tiêu chung cho cuộc sống hôn nhân và cho gia đình mình. Một gia đình mà trong đó “Ông nói gà, bà nói vịt”, hay “Trống đánh xuôi kèn thổi ngược” thì đó là biểu hiện của sự phân hóa, chia rẽ, bất đồng.

Hai người phải dành thời gian để thảo luận, có thể là tranh luận, về những mục tiêu phải theo đuổi. Trong gia đình dường như lúc nào cũng có nhiều vấn đề phải giải quyết và đối phó, nếu hai bạn cùng hiệp lực, đồng tâm nhất trí nắm tay nhau thực hiện thì việc gì cũng xong. “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn” hay “Một cây làm chẳng nên non / ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.

Khi đồng hành với nhau trong suốt cuộc đời vợ chồng, đôi bạn phải hy sinh nhiều lắm. Trước hết là từ bỏ ý riêng của mình để hợp tác với bạn đời lo việc gia đình. Sau nữa là phải thích nghi với những suy nghĩ, hành động khác biệt của bạn đời. Kế đến là phải chấp nhận những biến chuyển của thời thế và hoàn cảnh để không rơi vào tình trạng bi quan, chán nản dẫn đến bỏ cuộc.

Nếu chúng ta có đủ kiên nhẫn và lòng khoan dung chấp nhận đồng hành với bạn đời cách tích cực và nghiêm túc thì cuộc hôn nhân của chúng ta sẽ bền vững và hạnh phúc lâu dài ./.

Aug. Trần Cao Khải
Nguồn: 
Truyền thông HĐGMVN

_____________

[1] LM Giuse Đỗ Văn Thụy, MSV – Tân Phúc Âm hóa lòng tha thứ – NXB TG 2015, trang 123

[2] dep.com.vn

[3] ubmvgiadinh.org

Chia sẽ bài viết này trên:

Tình yêu – Điều Kiện Cần và Đủ

Tình yêu – Điều Kiện Cần và Đủ

Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không ai có tình thương cao cả hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu”(Ga 15, 12 – 13).

Ngắm nhìn Chúa đang chịu treo đau đớn trên thập giá, họa lại hành trình Chúa Giêsu vác cây thập giá nặng nề sau khi chịu trận đòn tàn nhẫn của quân lính, chắc có lẽ không ai trong chúng ta không khỏi rùng mình kinh hãi. Nhiều người cho đến bây giờ vẫn thắc mắc: “Đạo chi mà tôn thờ sự đau khổ đến thế là cùng, cúi mình thờ lạy cái ông phải chịu đóng đinh trên cây thập giá…”. Thắc mắc như vậy cũng là phải, vì quả thật nếu chỉ có vậy thôi thì có gì ngớ ngẩn bằng những người được gọi là Kitô hữu cả đời đi tôn thờ sự đau khổ, thậm chí còn ngớ ngẩn hơn nữa khi có những người cả nam lẫn nữ tình nguyện bỏ lại sau lưng tất cả để bước theo con người đau khổ đó. Tôi nhớ khi còn là một cô bé tóc bím ngang lưng, ngày tôi quyết định cắt phăng nó để bước vào ơn gọi Thánh hiến anh rể tôi đã tỏ vẻ khó chịu:

  • Nói ra e rằng em sẽ bảo anh phân biệt đạo này, đạo kia nhưng anh vẫn muốn nói lên quan điểm của mình: không biết lý tưởng của em theo Chúa Giêsu nào đó lớn lao đến đâu nhưng trước mắt anh thấy em bất hiếu với bố mẹ rồi đấy. Bố mẹ sinh ra nuôi em bỏng tay bỏng chân, cho em ăn học khôn lớn ngần ấy năm vậy mà em không nghĩ đến chuyện báo hiếu, em lại muốn bỏ đi như vậy.

Chị dâu họ của tôi (một bổn đạo mới) cũng vội vàng chen vào:

  • Em có làm sao không mà có cái quyết định ngược đời như vậy? Đang ở nhà sung sướng lại bước chân vào nơi khó khăn, chị chỉ học giáo lý theo đạo để được lấy anh ấy thôi mà chị đã thấy khó khăn quá rồi, huống hồ….Với lại nhìn em đâu đến nỗi nào, sao lại muốn chôn vùi tuổi thanh xuân, chôn vùi tình yêu của tuổi đôi mươi đẹp đẽ để bước vào bốn bức tường kín?

Lúc đó quả thật tôi chưa hiểu hết ý nghĩa của con đường dâng hiến tôi đang muốn bước vào, cũng chưa sống thử trong cuộc sống tu trì một giây phút nào để có được lời lẽ thuyết phục anh chị, tôi chỉ có thể mỉm cười:

  • Mỗi người có một lý tưởng và một con đường riêng để tìm niềm hạnh phúc cùng đích của cuộc đời mình. Em không nghĩ rằng mình chọn con đường này là bỏ bố mẹ, là bất hiếu, hay chôn vùi tuổi thanh xuân, chôn vùi tình yêu. Em vẫn bên bố mẹ và các anh chị trong lời cầu nguyện, và sẽ được về thăm bố mẹ khi có dịp. Thay vì chỉ yêu một người, dành tặng trái tim em cho một người, để lại tuổi thanh xuân ở một nơi thì khi bước vào ơn gọi thánh hiến em có thể nhẹ nhàng đem tình yêu đến với mọi người và đem tuổi thanh xuân của em đến mọi nơi mà em được đến chứ.

Chỉ như vậy thôi, tôi nhẹ nhàng bỏ lại sau lưng tất cả bước chân ra đi theo tiếng gọi tình yêu từ trong sâu thẳm. Một năm, hai năm, ba năm….rồi bỗng một ngày trong lần về quê ăn tết với mẹ, tôi chợt thấy chị đang quỳ bên thập giá Chúa Giêsu. Tôi nhẹ nhàng đến quỳ bên chị gật đầu chào, chị hớn hở vỗ vai tôi:

  • Bây giờ, trải qua biết bao sóng gió của cuộc sống chị đã thấy quyết định ngày nào của em thật đúng đắn. Chị đã hồ đồ khi nghĩ rằng bước theo con người bị treo trên thập giá kia thì chỉ có sự đau khổ. Chị đã không biết rằng chỉ vì yêu mà Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha xuống trần gian này để chịu đau khổ, chịu chết thay cho tội lỗi của chị, em, và tất cả mọi người.

Tôi hạnh phúc thêm vào:

  • Nhưng Ngài đã phục sinh, chính tình yêu cao cả của Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.

Quả vậy, nếu chỉ nhìn cây thập giá với con người chịu chết đau đớn, máu me đầm đìa thì ai cũng sợ hãi, vì bản chất của chúng ta sợ đau khổ mà. Nhưng không phải vậy, chúng ta tôn thờ Chúa Giêsu trên cây thập giá, vì qua đó chúng ta được đón nhận tình yêu đến cùng của Thiên Chúa. Có lẽ không ít lần chúng ta được nghe báo đài đăng những câu chuyện cảm động như: Người mẹ bất chấp xông vào ngôi nhà đang cháy hừng hực để bế đứa con mình đang mắc kẹt trong đó, hay câu chuyện của một người phụ nữ Nhật Bản đã lấy thân mình che chở cho đứa con đang ngủ khi bị động đất với lời nhắn trong điện thoại chị để lại: “Nếu còn sống hãy biết rằng mẹ yêu con rất nhiều”….và có biết bao nhiêu câu chuyện cảm động khác về tình yêu mà chắc chắn ai trong chúng ta đã đã một lần trong đời được trải nghiệm. Vâng, tình yêu, chỉ có tình yêu chúng ta mới vượt lên được tất cả, chỉ có tình yêu chúng ta mới trở nên vĩ đại. Chỉ có tình yêu, Chúa Giêsu với thân hình đẫm máu chịu treo trên cây thập giá mới có thể hấp dẫn biết bao tâm hồn muốn sống, dâng hiến, và cho đi như Ngài.

Sr. Maria Bùi An (HVTVK)

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Giêsu Kitô – ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Chương trình mục vụ giới trẻ 2020-2022
Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô

Đức Giêsu Kitô – ĐƯỜNG TÌNH YÊU
Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 4 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Chúng ta đang sống trong những ngày cuối cùng của Mùa Chay Thánh, đặc biệt là chuẩn bị bước vào Tam Nhật Vượt Qua, tưởng niệm việc Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể, sự đau khổ, sự chết và Phục Sinh của Người, đỉnh cao của Năm Phụng Vụ. Trong tháng Ba vừa qua, cùng nhau chúng ta suy niệm chủ đề ‘Đức Giê-su – Đường Thập Giá’. Tháng Tư này, chúng ta suy niệm chủ đề ‘Đức Giê-su – Đường Tình Yêu’. Người đã đi Đường Tình Yêu để đến với con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, hầu thông phần, biến đổi và dẫn đưa tất cả về với Thiên Chúa.

Tình yêu Thiên Chúa là khởi nguyên, là đỉnh cao và là trung tâm của đời sống con người. Trong thông điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người (Redemptor Hominis, 1979), thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nhấn mạnh: “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người vẫn là hữu thể mà chính mình không thể hiểu được, cuộc sống con người vô nghĩa, nếu tình yêu không được biểu lộ, nếu con người không gặp gỡ tình yêu, nếu con người không kinh nghiệm tình yêu và làm cho tình yêu ở lại nơi mình, nếu con người không tham dự vào tình yêu cách mật thiết” (Redemptor Hominis 10). Tình yêu chính là mối dây liên kết con người với Thiên Chúa và với nhau. Do đó, giới răn cao cả nhất của Thiên Chúa là ‘giới răn tình yêu’, yêu Chúa và yêu người.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã chọn Dân Do Thái làm Dân Riêng và đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập (Đnl 7,6-11), nên hằng ngày họ lặp đi lặp lại Lời Thiên Chúa: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4-5). Người cũng nói với họ: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18). Điều này có nghĩa rằng ai yêu Chúa, thì cũng yêu người và ngược lại. Để có thể thực thi giới răn tình yêu, Thiên Chúa luôn mời gọi Dân Do-thái hãy đi theo đường lối của Người. Do đó, lịch sử tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Do-thái cũng là lịch sử của việc Thiên Chúa mời gọi họ đi theo đường lối của Người. Trong sách Đệ Nhị Luật, Mô-sê nói với Dân Do-thái: “Anh em hãy lo thực hành như Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em, không đi trệch bên phải bên trái. Anh em hãy đi đúng con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em” (Đnl 5,32-33). Tác giả Thánh Vịnh 27 cầu cùng Thiên Chúa: “Xin dạy con đường nẻo Ngài, lạy Chúa, dẫn con đi trên lối phẳng phiu” (Tv 27,11).

Dưới nhãn quan Kinh Thánh Cựu Ước, Thiên Chúa không chỉ là Chủ của muôn vật muôn loài, mà còn là người Cha hằng quan tâm con cái mình: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3). Hơn thế nữa, chúng ta cũng gặp được hình ảnh Thiên Chúa như Người mẹ tận tình chăm sóc những đứa con thơ: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15). Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu vô điều kiện. Chúng ta có thể nhận ra ‘bóng dáng tình yêu vô điều’ kiện trong gia đình nhân loại. Chẳng hạn, tình yêu của cha mẹ dành cho con cái: Cho dù con cái mình ngoan ngoãn hay ngỗ nghịch, lành lặn hay khiếm khuyết, giỏi giang hay kém cỏi, trung thành hay bất tín… cha mẹ luôn yêu thương. Tuy nhiên, tình yêu của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại còn lớn lao hơn thế nữa, lớn đến mức không ai có thể cảm nghiệm hết được.

Theo quan điểm thần học của Trường Phái Tư Tế, Thiên Chúa của Cựu Ước là Thiên Chúa vô hình, Người ‘tiếp cận’ Dân Do-thái qua ‘cột mây’, ‘cột lửa’, hay qua trung gian các ngôn sứ và những vị lãnh đạo của Dân. Người cũng không cho họ biết Tên của Người. Sách Xuất Hành tường thuật: “Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa: Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao? Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: Ta là Đấng Hiện Hữu” [có nghĩa rằng Ta là Ta] (Xh 3,13-14). Trong Tân Ước, “Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,2). Người là Đức Giê-su Ki-tô. Trong Bữa Tiệc Ly, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, thánh Tô-ma hỏi Đức Giê-su “thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?“. Đức Giê-su trả lời: ‘Thầy là Đường’ (Ga 14,6). Đức Giê-su là Thiên Chúa. Tuy nhiên, Người không trả lời như trong Cựu Ước ‘Thầy là Thầy’, mà là ‘Thầy là Đường’. Trong hành trình trần thế, Đức Giê-su minh chứng rằng Người là Đường, và Đường đó chính là Đường Tình Yêu.

Mặc khải Kinh Thánh Tân Ước cho chúng ta biết rằng từ đời đời, Đức Giê-su là Thiên Chúa, nên một với Thiên Chúa và là Con Thiên Chúa (Ga 1,1). Trong môi trường không gian, thời gian, Đức Giê-su chính là tình yêu Thiên Chúa nhập thể. Nhờ Người, tình yêu Thiên Chúa không còn là điều gì trừu tượng nữa, mà ‘có hình’, ‘có dạng’, mang thân xác loài người và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Nhờ Người, ‘Thiên Chúa vô thủy vô chung, phép tắc vô cùng, thông minh vô cùng, trọn tốt trọn lành, ở khắp mọi nơi’ trở thành Đấng mà con người có thể gặp gỡ, đụng chạm và đi vào mối tương giao thân mật (1 Ga 1,1). Nhờ Người, tình yêu cứu độ được thực hiện, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Nhờ Người, tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ cách rõ nét và viên mãn.

Lịch sử nhân loại cho chúng ta biết không ai, không vị sáng lập tôn giáo hay tư tưởng gia lỗi lạc nào khẳng định mình là đường cho tất cả mọi người. Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm nhờ người khác chỉ đường để tới chỗ này chỗ kia. Không những thế, có những người còn nhiệt tình dẫn chúng ta tới nơi chúng ta muốn đến nữa. Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa người chỉ đường hay người dẫn đường với chính con đường. Còn Đức Giê-su, Người không những là người chỉ đường hay người dẫn đường, mà Người là Đường. Như vậy, Đường là một Nhân Vị, là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa làm người ở giữa gia đình nhân loại.

Đường Tình Yêu của Đức Giê-su in dấu trên mặt địa cầu, nơi mảnh đất Pa-lét-tin và những vùng phụ cận. Trong hành trình dương thế, Đức Giê-su đã đến với tất cả mọi người, chứ không chỉ những người Do-thái. Tuổi thơ ấu, Người đã đến Ai Cập vì sự truy lùng của vua Hê-rô-đê (Mt 2,13-14). Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Người đã gặp gỡ những người thuộc dân ngoại, chẳng hạn như Người gặp gỡ những người ở Sa-ma-ri, những người ở thành Tia và thành Xi-đon hay miền Thập Tỉnh. Các dấu lạ Người thực hiện, như chữa bệnh, trừ quỉ không chỉ dành riêng cho người Do-thái thuộc dân tộc, máu mủ của Người, mà cho tất cả mọi người. Trong khi đó, sự quan tâm của những người lãnh đạo tôn giáo hay dân sự Do-thái chỉ dành riêng cho người cùng chủng tộc mà thôi. Điều đó nói lên rằng chương trình của Đức Giê-su là chương trình hoàn vũ.

Chúng ta có thể nhận thức rằng Đức Giê-su, Đường Tình Yêu, là Đường của Thiên Chúa, Đường của con người, và là Đường nối kết giữa Thiên Chúa và con người. Nhờ Đường Tình Yêu cùng với Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tạo dựng con người và muôn vật muôn loài. Nhờ Đường Tình Yêu cùng với Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa cứu độ con người và muôn vật muôn loài. Nhờ Đường Tình Yêu cùng với Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa thánh hóa con người và muôn vật muôn loài. Như vậy, Đường Tình Yêu của Đức Giê-su là Đường nối kết giữa Đấng Sáng Tạo với thế giới thụ tạo, giữa Đấng thánh thiện và con người tội lỗi, giữa Đấng toàn năng và con người yếu đuối, giữa Đấng hằng sống và con người hay chết.

Toàn bộ Cựu Ước quy về giới răn yêu thương, với rất nhiều chi tiết quy định để hành động. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Đức Giê-su gọi đây là ‘giới răn mới’. Điểm đặc biệt của ‘giới răn mới’ không phải là ‘yêu’ theo nghĩa của Cựu Ước, không chú trọng đến những gì phải làm theo quy định của Lề Luật (what) mà chú tâm đến cách thế yêu (how), đó là ‘yêu như Đức Giê-su đã yêu’. Cũng trong bối cảnh đó, Đức Giê-su giải thích thêm, “không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy” (Ga 15,13-14). Đức Giê-su yêu các môn đệ như thế đó, yêu đến nỗi gọi các môn đệ là bạn và chết vì họ. Ở đây, chúng ta thấy được khoảng cách lớn lao giữa ‘yêu người khác như chính mình’ của Cựu Ước và ‘yêu như Đức Giê-su đã yêu’ của Tân Ước (Lv 19,18; Ga 15,13-14).

Đường Tình Yêu của Đức Giê-su được diễn tả cách đặc biệt trong Biến Cố Vượt Qua (Passio/Passion), tức là sự đau khổ, sự chết và sự sống lại của Người. Chúng ta có thể khẳng định rằng Biến Cố Vượt Qua chính là biến cố trong đó Đường Tình Yêu của Đức Giê-su đạt đỉnh điểm. Khi đau khổ của Người đến tận cùng, cũng là khi tình yêu của Người trở nên trọn vẹn. Nhờ tình yêu đó, Đức Giê-su đã giải thoát tất cả mọi người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Do đó, Biến Cố Vượt Qua mãi mãi là Biến Cố cao trọng nhất trong mặc khải của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại, từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế.

Tình yêu Đức Giê-su (cũng là tình yêu Thiên Chúa) rất mạnh, mạnh đến nỗi thế giới thụ tạo được dựng nên. Tình yêu Đức Giê-su rất mạnh, mạnh đến nỗi tha thứ mọi tội lỗi cho con người. Tình yêu Đức Giê-su rất mạnh, mạnh đến nỗi con người được thánh hóa và trở thành con Thiên Chúa. Tuy nhiên, vì tham dự thân phận con người, Đức Giê-su trở nên yếu đuối. Người trở nên yếu đuối đến nỗi ai cũng có thể từ chối Người. Người trở nên yếu đuối đến nỗi ai cũng có thể nhạo báng, nhục mạ Người. Người trở nên yếu đuối đến nỗi bị các môn đệ, kẻ thì từ chối Người, kẻ thì bán Người, kẻ khác thì bỏ chạy khi Người lâm nguy. Người trở nên yếu đuối đến nỗi chịu chết, chết trên cây thập tự. Đường Tình Yêu của Đức Giê-su thật là Đường nghịch l‎ý (1 Cr 1,22-25). Nhờ Đường nghịch l‎ý đó, bản tính yếu đuối của con người được biến đổi, tội lỗi của con người được xóa bỏ và sự chết của con người bị tiêu diệt. Như vậy, Đường nghịch l‎ý nhất lại trở thành Đường hữu l‎ý nhất, bởi vì, nhờ Đường này, con người và muôn vật muôn loài được biến đổi và kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa Tình Yêu.

Là Ki-tô hữu, chúng ta được mời gọi theo Đức Giê-su, Đường Tình Yêu. Chúng ta được mời gọi theo các dấu chân Người trong hành trình trần thế. Người xuống sông Gio-đan để chịu Phép Rửa bởi Gio-an Tẩy Giả. Người tới sa mạc vùng Giu-đê-a để chịu cám dỗ 40 đêm ngày. Người rảo bước khắp miền Pa-lét-tin và các vùng phụ cận để loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Người đến với những người nghèo khó để an ủi họ. Người tới nhiều vùng đất thuộc dân ngoại để thông truyền chân l‎ý của Thiên Chúa. Sau cùng, Người vác thập giá tới đồi Can-vê, và từ đây người không thể tiến bước nữa, vì Người đã bị đóng đinh vào thập giá. Tuy nhiên, sau khi sống lại và trong Chúa Thánh Thần, Đường Tình Yêu của Đức Giê-su vươn rộng đến tận cùng trái đất nhờ sự cộng tác trung tín của các môn đệ Người.

Trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su dùng nhiều dụ ngôn để diễn tả Đường Tình Yêu của Người. Chẳng hạn, dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành cho chúng ta biết ai là người đi Đường Tình Yêu, ai là người đi ‘đường duy truyền thống’, ‘đường duy tập quán’, ‘đường lãnh đạm’ (Lc 10,29-37). Trớ trêu thay, người Sa-ma-ri, người ngoại giáo lại đi Đường Tình Yêu, còn thầy tư tế, thầy Lê-vi là những người có ‘Đạo’, những người ở trong ‘truyền thống tình yêu Thiên Chúa’ lại không đi Đường Tình Yêu; những người ‘nhân danh Luật Tình Yêu’ và giữ rất ngặt các quy định về luật ô uế của Đền Thờ lại bỏ qua việc thể hiện tình yêu đối với tha nhân sắp chết nằm bên vệ đường. Điều đó cho chúng ta nhận thức rằng, những ai đi Đường Tình Yêu không cần quan tâm lắm đến tước hiệu, tên gọi hay bất cứ hình thức phân chia nào mang tính văn hóa, truyền thống, xã hội. Điều quan trọng đối với những người đi Đường Tình Yêu là nồng độ tình yêu mình diễn tả qua các tương quan trong cuộc sống hằng ngày.

Hôm nay, Đức Giê-su vẫn đang nói với mỗi người chúng ta: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?” (Lc 9,23-25). Trong tương quan với những người khác, Đức Giê-su mời gọi chúng ta: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,43-44). Còn thánh Gio-an, người môn đệ Chúa yêu, thì khẳng định: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20).

Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta nhận thức rằng con người ham sống sợ chết, ham khen sợ chê, ham khỏe sợ mệt, ham sướng sợ khổ, ham giàu sợ nghèo, ham vui sợ buồn. Đức Giê-su đã đi ngược đường của ‘con cháu A-đam và E-và’. Đường Tình Yêu của Đức Giê-su là Đường hẹp. Người nói: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14). Trái lại, ma quỉ, thế gian, xác thịt luôn mời gọi chúng ta đi đường rộng và thưởng thức những gì dễ dãi, đỡ tốn công, không vất vả. Đức Giê-su luôn mời gọi chúng ta hãy đi đường chật và qua cửa hẹp trong hành trình trần thế. Người môn đệ Đức Giê-su là người biết hy sinh, biết quên mình, biết từ bỏ. Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy rằng những gì chúng ta có được nhờ hy sinh, quên mình, từ bỏ, thì quí giá và đáng trân trọng hơn những gì chúng ta có được mà không cần phải nỗ lực, không cần cố gắng, không đổ mồ hôi.

Đức Giê-su mời gọi chúng ta đi Đường Tình Yêu của Người. Tuy nhiên, chúng ta thường thay Đường Tình Yêu của Đức Giê-su bằng đường của chúng ta. Đây không phải là câu chuyện cá biệt, mà là câu chuyện phổ biến trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Chẳng hạn, trong cuộc Xuất Hành về Đất Hứa, có lúc Dân Do-thái không còn thờ phượng Thiên Chúa, Đấng dẫn họ ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, lại thờ bò vàng do mình làm nên (Xh 32,1-6). Trong Tân Ước, khi Đức Giê-su loan báo Người lên Giê-ru-sa-lem chịu đau khổ và chịu chết thì Phê-rô đã can ngăn Người (Mt 16,21-23). Hôm nay cũng vậy, chúng ta thường cầu nguyện cho ý chúng ta được thể hiện hơn là ý Thiên Chúa được thể hiện. Chúng ta than trách A-đam và E-và, chúng ta than trách Dân Do-thái trong Cựu Ước, chúng ta than trách những người Pha-ri-sêu, kinh sư, luật sĩ Do-thái khi đối xử bất công với Đức Giê-su. Thế nhưng, nhiều người trong chúng ta cũng đang đi theo đường của mình với các hình thức khác tinh vi hơn.

Chúng ta không thể đi Đường Tình Yêu, nếu chúng ta không thành tâm học hỏi, suy niệm giáo huấn Đức Giê-su và cộng tác với Thiên Chúa trong việc biến đổi bản thân mình. Các môn đệ Đức Giê-su, trong hành trình theo Người, đã chứng kiến nhiều điềm thiêng, dấu lạ Đức Giê-su thực hiện, nhưng họ cũng luôn tối tăm, yếu đuối và lầm lạc như bao người khác. Họ theo Đức Giê-su với hy vọng Người sẽ nâng cấp thân phận mình so với những người khác trong xã hội Do-thái, cũng như làm cho dân tộc mình được nở mặt nở mày so với các dân tộc khác trên trần gian này. Tuy nhiên, với Biến Cố Vượt Qua của Đức Giê-su, họ hoàn toàn biến đổi, họ hiểu được bản chất của Đường Tình Yêu và trung thành đi Đường Tình Yêu cho đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta cần học Đường Tình Yêu suốt đời, với hy vọng rằng nhờ ơn Thiên Chúa trợ lực, chúng ta mới có thể theo Đường Tình Yêu đến cùng.

Đức Giê-su không bắt buộc ai cũng phải đi Đường của Người. Tuy nhiên, Người luôn mời gọi tất cả mọi người ‘hãy đến mà xem’ (Ga 1,39). Thánh Mát-thêu trình thuật: “Ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? Đức Giê-su trả lời: Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,2-5). Người luôn kiên nhẫn chờ đợi mọi người đến gặp gỡ, để có thể hoán cải và biến đổi cuộc sống mình. Những dụ ngôn trong Tân Ước cho phép chúng ta hiểu điều đó, chẳng hạn như dụ ngôn lúa và cỏ lùng, cả hai cùng tồn tại cho đến mùa gặt (Mt 13,24-30) hay khi thánh Gio-an nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta. Đức Giê-su bảo: Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,38-40). Điều này dẫn chúng ta tới nhận thức rằng Đường Tình Yêu của Đức Giê-su không phải là ‘Đường loại trừ’ (the exclusive Way), mà là ‘Đường bao gồm’ (the inclusive Way), bao gồm tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.

Với bản tính và khả năng mình, không ai trong gia đình nhân loại có thể đến với Thiên Chúa. Đó là l‎ý do giải thích tại sao Thiên Chúa đã gửi Con Yêu Dấu của Người là Đức Giê-su đến trần gian để con người ‘tập làm quen với Người’ và đi Đường Tình Yêu của Người mà đến với anh chị em mình, đến với thế giới thụ tạo và đến với Thiên Chúa. Đức Giê-su cho chúng ta biết Người là Đường Duy Nhất: “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Các môn đệ của Đức Giê-su, qua thời gian được ở với Người, được thấm nhập những tư tưởng và hành vi của Người, nhờ đó các ngài đã nhận ra Người là Đường Tình Yêu, Đường Sự Thật và là Đường Duy Nhất. Các ngài đã trở nên những mẫu gương xán lạn cho tất cả chúng ta. Thánh Phao-lô cũng đã nhận ra những sai lầm của mình trong giai đoạn trước khi gặp Đức Giê-su Phục Sinh tại Đa-mát. Từ đó, thánh nhân đã hy sinh tất cả để theo Người: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người” (Pl 3,7-9). Hơn thế nữa, thánh nhân đã trở nên khí cụ hữu hiệu của Đức Giê-su, trong hành trình trần thế và minh chứng cho Người bằng cái chết của mình.

Chúng ta tin tưởng rằng khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi bóng tối ma quỉ, thế gian, xác thịt sẽ bị đẩy lui. Khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi hận thù không có chỗ đứng, chiến tranh không còn leo thang, hòa bình, công l‎ý được thiết lập. Khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi không có vực thẳm nào mà con người không thể bắc cầu, không có núi cao nào mà con người không thể san bằng, không có khoảng cách nào mà con người không thể vượt qua. Khi tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cùng đi Đường Tình Yêu, cũng là khi mọi người được bình an và ngày càng sống xứng đáng hơn với phẩm giá của mình là con cái của Thiên Chúa Tình Yêu Vĩnh Cửu.

Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

Chia sẽ bài viết này trên:

Bản xét mình xưng tội cho giới trẻ

Bản xét mình xưng tội cho giới trẻ

I. Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì?

Một hôm có một thanh niên giàu có đến gần Chúa Giêsu (x. Mc 10,17-22; Mt 19,16-22; Lời Chúa 18,18-23). Anh ta hỏi Chúa Giêsu: “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?” Chúa Giêsu trả lời: “Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa. Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ”. Người ấy thưa: “Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ”. Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: “Ngươi chỉ thiếu một điều, là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”. Nhưng người ấy nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. (Mc 10,17-22).

Chàng thanh niên ấy hỏi một câu hỏi rất hay. Tất cả các bạn trẻ đều hỏi những câu hỏi giống nhau về ý nghĩa cuộc đời: “Làm thế nào để tôi có thể hạnh phúc?”. Người trẻ luôn đặt những câu hỏi tìm hiểu về cuộc sống, cuộc sống trên trái đất này và cuối cùng là sự sống vĩnh cửu, dù họ có nhận thức được hay không. Chỉ trong Chúa Giêsu, Thầy nhân lành, người trẻ mới tìm được câu trả lời thỏa đáng. Những chàng trai và cô gái phải học được bài học đầu tiên này. Chỉ có Thiên Chúa mới thật sự cao trọng trong cuộc đời chúng ta. Nếu chúng ta có tất cả mọi thứ trên đời mà chúng ta không biết Chúa Giêsu và Cha của Người thì chúng ta chẳng còn gì có giá trị vĩnh cửu.

Tình cảm mà Chúa Giêsu dành cho chàng thanh niên trong đoạn Phúc Âm thật cảm động: “Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương” (Mc 10,21). Thật sự, Chúa âu yếm nhìn từng người trẻ, không loại trừ một ai. Bằng chứng của tình yêu ấy là Thập giá, vì từ Thập giá, ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa chiếu đến một chiều sâu mới. Đây là điều Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II hy vọng cho giới trẻ: “Ước chi bạn cảm nghiệm được ánh nhìn như thế! Ước chi bạn cảm nghiệm được sự thật này là Chúa Giêsu Kitô nhìn bạn với tình yêu, tình yêu Giêsu. Ước chi từng người trong các bạn khám phá được ánh nhìn này của Chúa Kitô và cảm nghiệm được tình yêu ấy ở mức độ thẳm sâu nhất. Con người cần đến ánh mắt yêu thương này. Họ cần biết rằng họ được yêu, được yêu muôn thuở và đã được chọn từ muôn đời” (Thư gửi Người Trẻ, số 7). Chúa Giêsu nói với chàng thanh niên “Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương” (Mc 10,21).

Chúa Kitô cũng mời gọi người trẻ ngày nay như thế. Không có tiếng gọi nào lớn lao hơn và vinh dự hơn. Là môn đệ của Chúa Giêsu, là người Kitô hữu là đặc quyền lớn lao nhất và là việc dấn bước cao quý nhất.

II. Anh ta có nhiều của cải

Thật đáng buồn, chàng thanh niên vẫn bỏ đi mặc cho Chúa Giêsu yêu thương mời gọi. Có bao nhiêu bạn trẻ ngày nay đang tính bỏ Chúa Giêsu mà đi? Bao nhiêu bạn trẻ đã ra đi? Xã hội chúng ta đầy dẫy những khuôn mặt buồn bã, bối rối và đầy đau khổ. Đó là khuôn mặt của những người không biết đến ánh mắt đầy yêu thương của Chúa Giêsu. Tại sao thế? Vấn đề nằm sâu trong bản tính con người sa ngã. Vì các bạn trẻ cũng mang trong mình bản tính sa ngã ấy nên năng lực và sức mạnh đang phát triển vốn là đặc tính của tuổi trẻ lại tạo thành xung lực biểu lộ mình dưới những hình thức mới mang tính phá hoại. Nhóm từ “có quá nhiều của cải” có thể có nhiều mức độ ngữ nghĩa khác nhau. Ý nghĩa rõ ràng nhất là có tài sản vật chất kếch xù. Trong nền văn hóa Tây phương, trẻ con được học từ rất sớm rằng tiền bạc rất cần thiết cho hạnh phúc và niềm vui trong cuộc sống này. Khi trẻ lớn lên, niềm đam mê này tăng dần lên khi những thú vui trần tục khác như xe hơi đắt tiền, nhà đẹp, những kỳ nghỉ xa hoa và quần áo lộng lẫy được bày ra đầy quyến rũ trước mặt họ. Đối với nhiều bạn trẻ, “cuộc sống tốt đẹp” là giấc mơ duy nhất có tính thực tế.

Tuổi trẻ tự nó là một kho tàng vô giá, là “tài sản lớn lao”. Các bạn trẻ tinh tế trong lối sống và say mê những gì cuộc sống mang đến cho họ. Tuy nhiên họ có thể đánh giá sai tuổi trẻ của họ. Người trẻ có thể xem tuổi trẻ như thời kỳ để thỏa mãn những đam mê và khát vọng của họ. Thường thì họ bị thôi thúc sử dụng sự tự do, tiềm năng và sức mạnh mới có được theo những cách có hại cho đời sống thiêng liêng. Chẳng hạn họ sử dụng tình dục sai lạc, lạm dụng ma túy, rượu chè hay các hình thức giải trí khác. Thái độ của họ chẳng khác gì thái độ của đứa con hoang đàng phung phí hết của cải mà người cha đã chia cho anh vì tham vọng và đam mê của tuổi trẻ (x. Lc 15,11-13).

Một “tài sản lớn lao” khác lôi cuốn giới trẻ xa cách Chúa Giêsu là tương lai của họ. Nhiều bạn trẻ nghĩ rằng thời gian là tài sản dồi dào nhất của họ. Họ có một quãng đời dài trước mặt. Cái chết chỉ là một cái gì mơ hồ xa xăm trong tương lai dường như bất tận. Chính vì thế mà người trẻ có khuynh hướng bảo vệ tương lai của họ một cách ích kỷ. Họ không xem tương lai là cơ hội để sống Tin Mừng, nhưng là theo đuổi sự nghiệp và tìm thành công về vật chất. Hoặc có thể họ cảm thấy thôi thúc muốn tìm và cưới một người bạn đời thích hợp. Họ chạy theo tương lai và đánh giá các chọn lựa của mình chỉ qua viễn cảnh thế tục mà thôi.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhắc nhở các bạn trẻ: “Kitô giáo dạy chúng ta hiểu biết về cuộc sống ở đời tạm này từ viễn tượng của vương quốc Thiên Chúa. Nếu không có sự sống vĩnh cửu thì cuộc sống ở đời này dù có phong phú hay phát triển cao về mọi phương diện thì cuối cùng cũng chẳng đem đến cho chúng ta điều gì ngoài cái chết mà thôi” (Thư gửi các bạn trẻ, số 5)

III. Đến với Bí tích Hòa giải

Khi các bạn trẻ đến với Bí tích Hòa giải, họ đến đối diện với mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa. Bí tích này giúp họ cảm nghiệm được sự tha thứ của Thiên Chúa trước tiên. Và đầy niềm hy vọng, họ sẽ đi đến chỗ cảm nghiệm được “cái nhìn đầy yêu thương” của Chúa Giêsu. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ như thế nào?

  1. Các bạn trẻ cảm nghiệm được sự tự do phát sinh từ việc đặt tội lỗi của mình trong ánh sáng Chúa Kitô (x. Ga 3,20-21).Mọi thứ bên trong người trẻ có thể la lên: “Tôi không muốn đi xưng tội!”. Sự xung đột nội tâm như thế không phải chỉ người trẻ mới có. Bất cứ ai đem tội lỗi mình ra ánh sáng cũng có xung đột tương tự. Nói tội lỗi của mình ra làm cho bản tính sa ngã của chúng ta thấy khó chịu. Tuy nhiên, Bí tích Hòa Giải thúc đẩy tất cả chúng ta (kể cả các bạn tuổi mới lớn) đi vào trong ánh sáng chân lý của Chúa Kitô để cảm nghiệm được sự tha thứ của Người. Đối với người trẻ thì đây là cơ hội cảm nghiệm được sự tự do, thoát khỏi sự quấy nhiễu và rối trí do tội gây ra. Chắc chắn họ được chúc phúc nhờ được Chúa Thánh Thần tẩy sạch tội lỗi, nhờ đó tâm hồn được bình an. Lòng đầy niềm hy vọng, họ cảm nghiệm được thực tại mà Thánh Gioan mô tả:“Máu thánh của Chúa Giêsu con Thiên Chúa tẩy sạch tội lỗi chúng ta… Nếu chúng ta xưng thú tội lỗi thì Người là Đấng trung tín và công chính sẽ tha thứ tội lỗi chúng ta và thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính” (1Ga 1,7-9)
  2. Bí tích Hòa Giải giúp các bạn trẻ hiểu rõ rằng họ chịu trách nhiệm về cuộc sống của họ, về cách họ suy nghĩ và hành động.Họ phải xét mình để xem những lời nói và hành động của họ đã làm tổn thương và xúc phạm đến người khác như thế nào. Họ phải xét xem đời sống của họ có phản ánh lề luật Thiên Chúa hay không. Bí tích Hòa Giải thúc ép họ nhìn nhận rằng họ không phải là những cá nhân tách biệt riêng lẻ, nhưng là những chi thể của Nhiệm thể Chúa Kitô và là thành phần của gia đình nhân loại. Tội lỗi của họ làm tổn thương Nhiệm thể ấy và làm ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của những người khác. Bí tích Hòa Giải nhấn mạnh khía cạnh xã hội của tội lỗi và việc giao hòa.
  3. Qua Bí tích Hòa Giải, Chúa Giêsu đổ tràn Chúa Thánh Thần xuống để ban sức mạnh cho người trẻ sống đời sống thánh thiện.Những lời Thánh Gioan nói với người trẻ có thể thành hiện thực. Ngài kêu gọi:“Hỡi các bạn trẻ, tôi viết cho anh em vì anh em đã thắng ác thần. Hỡi các bạn trẻ, tôi đã viết cho anh em vì anh em là những người mạnh mẽ, Lời Thiên Chúa ở lại trong anh em và anh em đã thắng ác thần” (1 Ga 2,13-14).

Qua những hành động của Chúa Giêsu, nhờ quyền năng Thánh Thần của Người, các bạn trẻ nam cũng như nữ có thể chiến thắng tội lỗi trong cuộc đời mình. Chúa Giêsu bẻ gãy xiềng xích mà Satan đã đặt lên người trẻ qua sự dục vọng của đôi mắt và sự cậy mình trong cuộc sống của họ (1 Ga 2,16). Chúng ta đừng coi thường hiệu quả thiêng liêng trong cuộc sống người trẻ nhờ việc họ năng lãnh nhận bí tích Giao Hòa.

  1. Bằng việc lãnh nhận Bí Tích Giao Hòa, người trẻ mặc nhiên, nếu không phải là rõ ràng, tái cam kết gắn bó cuộc đời mình với Tin Mừng.Người trẻ nói:“Tôi muốn xa lánh tội lỗi. Tôi muốn cố gắng hết mình một lần nữa đề sống theo giới luật của Thiên Chúa. Tôi muốn sống dưới uy quyền của Ngài. Tôi khát khao quyền năng và sự sống của Thần Khí Chúa Giêsu hoạt động trong cuộc đời tôi”. Hiển nhiên là người trẻ, cũng như tất cả chúng ta, có thể sa ngã phạm tội nữa. Tuy nhiên, việc ăn năn hối cải luôn cần thiết cho đời sống thiêng liêng ngày càng tăng trưởng. Chúa Giêsu sẽ vui lòng khi chúng ta quay về, cam kết gắn bó đời mình với Người và với Tin Mừng của Người.

IV. Bản xét mình dành cho giới trẻ

  1. Bổn phận đối với Thiên Chúa

Tôi có đi Lễ Chúa Nhật hay tôi chống đối, bướng bỉnh về việc tham dự Thánh Lễ?

Tôi có tích cực tham dự Thánh Lễ hay ngồi đó mơ màng?

Tôi có cầu nguyện hàng ngày không?

Tôi có đọc Kinh Thánh không?

Tôi có chống đối Thiên Chúa và các mệnh lệnh của Chúa không?

Tôi có dùng Danh Chúa mà thề thốt hay nguyền rủa không?

Tôi có thưa với Đức Chúa Cha rằng tôi yêu Ngài vì Ngài đã tạo nên tôi và cho tôi được làm con của Ngài không?

Tôi có cám ơn Chúa Giêsu vì Người đã làm người, chịu chết để chuộc tội cho tôi và đã phục sinh để ban cho tôi sự sống vĩnh cửu không?

Tôi có cầu xin Đức Chúa Thánh Thần giúp tôi chiến thắng tội lỗi và cám dỗ, giúp tôi vâng theo các lệnh truyền của Thiên Chúa không?

  1. Bổn phận đối với người khác và với chính bản thân tôi:

Tôi có nổi loạn, không vâng lời hoặc không kính trọng cha mẹ, thầy giáo và những người có quyền trên tôi?

Tôi có nói dối hay đánh lừa cha mẹ và những người khác không?

Tôi có kiêu ngạo hay cứng đầu không?

Tôi có cãi lời cha mẹ và những người có quyền trên tôi không?

Tôi có giận dữ hay giữ trong lòng sự ác cảm hay giận ghét không? Tôi có từ chối tha thứ cho người khác không? Tôi có giữ lòng thù ghét không?

Tôi có những ý nghĩ dâm ô không? Tôi có nhìn người khác với lòng dâm ô không?

Tôi có đọc sách, truyện dâm ô hay xem phim ảnh dâm ô không?

Tôi có thủ dâm không?

Tôi có hôn ai một cách dâm ô hoặc sờ mó đụng chạm người khác với ý tà dâm không? Tôi có quan hệ tình dục không?

Tôi có phạm tội phá thai hay khuyến khích người khác phá thai không?

Tôi có nói hành nói xấu người khác không? Tôi có vu khống cho ai không? Tôi có nói dối về người khác không? Tôi có chế nhạo hoặc chọc ghẹo người khác không?

Tôi có nói dối hay lừa lọc không? Tôi có ăn cắp cái gì không? Tôi đã trả lại chưa?

Tôi có ích kỷ hoặc hằn học với người khác không? Tôi có ganh tỵ không?

Tôi có uống bia rượu say hay sử dụng ma túy không?

Tôi có tham gia vào những việc dị đoan như cầu cơ, bói toán, lên đồng, tử vi không?

Tôi có kiên nhẫn, hiền lành và tự chủ không?

Khi lương tâm tôi thúc đẩy tôi làm điều tốt, tôi đã làm hay tôi bỏ qua, không thực hiện?

Linh mục Thomas Weinandy
Gioan Lê Quang Vinh chuyển ngữ từ usccb.org

Chia sẽ bài viết này trên:

Khát Khao Thiên Chúa

Khát Khao Thiên Chúa

Tôi đã ra ngoài chạy bộ vào một buổi sáng mùa hè nóng nực ở Arizona.

Chạy được một dặm, tôi đã nhận ra tôi đã quên chai nước của mình. “Không có vấn đề gì”, tôi nghĩ thầm. Tôi đã thực hiện việc chạy này cả trăm lần. Tôi sẽ ổn thôi”. Buồn thay, bộ não kiêu hãnh của tôi đã quên thông báo cho cơ thể thiếu nước của tôi. Khi tôi rẽ sang góc ở dặm số ba, chân tôi bắt đầu như cứng lại. Tôi trở nên choáng váng, chóng mặt và muốn nôn, lúc đó tại một thời điểm, tôi chắc chắn rằng người thợ gặt dữ dằn đang chạy bên cạnh tôi. Ngay cả thiên thần hộ mệnh của tôi cũng đang xin uống nước!

Tôi đã phạm sai lầm khi nghĩ rằng tôi có thể sống sót tự thân mình. Tôi đã không cần bất cứ thứ gì hay bất cứ ai khác. Tôi đã sai lầm. Câu châm ngôn quả đã đúng: “Kiêu căng (thực sự), đưa đến sụp đổ” (xem Châm ngôn 16:18). Và tôi đã phạm sai lầm tương tự trong hành trình Kitô hữu của tôi. Chìa khóa để không bị mất nước về thể chất hoặc tinh thần của bạn là phải và phải uống nước trước khi bạn thực sự khát.

Bạn đang sung túc hay chỉ đang sống sót?

Chúng ta biết cơ thể của chúng ta đã được tạo dựng với những nhu cầu. Và linh hồn của chúng ta cũng thế. Sự sáng tạo được thiết kế để không chỉ cần sự sáng tạo mà còn cần Đấng Tạo hóa. Đấng là Người thổi sự sống vào chúng ta cũng yêu chúng ta đủ để thiết kế chúng ta với những nhu cầu về tâm linh. Chúng ta không chỉ khao khát sự sống của trái đất (thức ăn và nước) mà còn về huyết mạch của thiên đàng trong lời cầu nguyện và bí tích. Câu hỏi là đây: chúng ta muốn chỉ sống sót hay thực sự sống?

Trong cuộc gặp gỡ nổi tiếng giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari tại bờ giếng (Ga 4,4-42), người phụ nữ có thể đang đi kiếm nước, nhưng đó là Nước Hằng Sống – Chúa Giêsu Kitô, người đã đến gần (chị) để xin nước uống. Người phụ nữ ấy, giống như nhiều người trong chúng ta, đã ở trong tình trạng sống sót: thiếu nước về tinh thần và quen với nó. Phải mãi cho đến khi gặp Chúa, chị mới bắt đầu hiểu được sự khác biệt giữa sự sống sót và sự sung túc (tiến triển). Như Giáo lý Giáo hội Công giáo nhắc nhở chúng ta,

Chúa Giêsu khát; lời xin của Người xuất phát từ cõi sâu thẳm của Thiên Chúa, Đấng khát mong chúng ta. Cầu nguyện, dù chúng ta có biết điều này hay không, là cuộc gặp gỡ sự khao khát của Thiên Chúa với sự khao khát của chúng ta. Thiên Chúa khát khao chúng ta  khao khát Người (2560).

Sự thực là ngay cả khi chúng ta cầu nguyện, ngay cả khi chúng ta nỗ lực, thì thực sự Thiên Chúa vẫn đang theo đuổi chúng ta. Cầu nguyện là nơi đất và trời gặp nhau. Cầu nguyện là nơi cơn khát tạm thời của chúng ta được thỏa mãn bởi một nguồn suối trên trời. Đó là trong lời cầu nguyện, ánh sáng chiếu vào những khoảnh khắc của bóng tối, niềm hy vọng chiến thắng nỗi sợ hãi, hòa bình làm tiêu tan nỗi lo lắng và sự chữa lành hàn gắn mọi vết thương. Cầu nguyện không loại bỏ những thập giá của chúng ta, nhưng nó mang lại cho chúng ta một viễn tượng mới về thập giá. Cầu nguyện là nơi thập giá trở nên nhẹ nhàng.

Sức Mạnh của Lời Cầu Nguyện Chủ Động

Chúng ta càng cầu nguyện, chúng ta sẽ càng khao khát cầu nguyện. Chúng ta càng sớm nhận ra sức mạnh của lời cầu nguyện chủ động trong cuộc sống hàng ngày, thay vì lời cầu nguyện phản ứng trong những lúc tuyệt vọng, chúng ta sẽ càng tin tưởng vào tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta sẽ sớm bắt đầu thấy rằng lời cầu nguyện không “giúp ích” gì cho mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa; cầu nguyện là mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.

Tuy nhiên, bất cứ mối tương quan nào, đều cần thời gian và việc làm; một mối tương quan với Thiên Chúa cũng thế, không có gì khác. Thiên Chúa sẵn sàng thực hiện phần kết thúc của Người. Chúa mời chúng ta xin, tìm kiếm và gõ (Mt 7,7). Hãy lưu ý rằng cả ba hành động đó đều cần nỗ lực của chúng ta. Điều đó đang được nói, Người hứa với chúng ta rằng “khi các ngươi … cầu nguyện với Ta, Ta sẽ nhận lời các ngươi” (Gr 29,12), và chúng ta được nhắc nhở: “Hãy đến gần Thiên Chúa, Người sẽ đến gần anh em” (Gc 4,8). Thiên Chúa không chỉ nhìn bạn với tình yêu vĩ đại, như bạn là, nhưng Người còn muốn bạn biết Người như một người bạn đáng tin cậy và trung thành.

Thánh Augustinô nói tất cả chúng ta đều là những kẻ ăn mày trước mặt Thiên Chúa. Như thế, sự khiêm nhường thực sự là nền tảng của mọi lời cầu nguyện (CCC, 2559). Chúa Thánh Thần muốn ban thưởng cho hành động cởi mở của bạn. Thiên Chúa sẽ không chịu thua kém lòng quảng đại. Vì thế, trước khi bạn dấn thân vào cuộc gặp gỡ không được biết đến mà Thiên Chúa dành cho bạn, hãy dâng một lời cầu nguyện thật nhanh. Hãy để Chúa nói chuyện với bạn theo một cách mới. Hãy cầu xin Chúa đến ngự trong bạn theo những cách thức mới mẻ. Hãy cầu xin Chúa chiếu soi tâm trí bạn. Hãy mời Chúa chiếm lấy trái tim của bạn. Hãy mời Chúa làm chủ trong tâm hồn bạn… theo thời gian và theo kế hoạch hoàn hảo của Người.

Hãy cầu nguyện: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến”. Hãy lặp lại câu đó nhiều lần. Chúa đang chờ đợi bạn. Người là Nước Hằng Sống, sẵn sàng thỏa mãn cơn khát sâu thẳm nhất của bạn.

Đây là một tuyển lựa từ Nhận được Nhiều hơn từ Cầu Nguyện (Get More Out of Prayer), được chỉnh sửa bởi Mark Hart (The Word Among Us Press, 2018). Có sẵn từ wau.org/books

Theo The Word Among Us [wau.org]
Prayer Resources
Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Chia sẽ bài viết này trên:

Các kiểu người kiêu ngạo

[Radio Người Trẻ]: Các kiểu người kiêu ngạo

Chắc chắn là chẳng ai trong chúng ta thích người kiêu ngạo. Người kiêu ngạo thường có những lời nói, thái độ, cách hành xử làm cho chúng ta thấy khó chịu, muốn xa lánh, chẳng thích tiếp xúc. Có đôi khi, ta chẳng muốn nói chuyện hay có tương quan với họ, vì sợ mình “chịu không nổi” cái thói ngông nghênh của người đó, rồi sinh chuyện không hay. Người kiêu ngạo là loại người cho rằng mình là đỉnh cao của vũ trụ, là trung tâm của muôn loài, đứng trên người khác. Có lẽ chẳng cần phải nói quá nhiều về kiêu ngạo, vì chúng ta ít nhiều đã có kinh nghiệm về nó, nơi người khác cũng như nơi bản thân mình. Có điều, kiêu ngạo cũng có nhiều kiểu: đôi khi ta nhận thấy nó rất rõ ràng, nhưng cũng có lúc, nó ẩn sâu bên trong, đội lốt một dáng vẻ rất thánh thiện và khiêm nhu, tưởng là tốt, nhưng hoá ra lại rất đáng sợ.

Thường thì người ta kiêu ngạo vì trong tay mình đang sở hữu nhiều thứ, đặc biệt là tiền tài và danh vọng. Càng có nhiều tiền, người ta thường có xu hướng cho rằng mình cao hơn người khác, cái gì cũng phải khác người một chút:  áo quần đắt tiền, nhà cửa sang trọng với những thú chơi, bộ sưu tập quý giá… Danh tiếng là một cám dỗ cực kỳ lớn đối với bất cứ ai, vì tự sâu thẳm trong lòng, người nào cũng thích mình được nổi tiếng, được người khác biết đến, nể trọng. Đối với nhiều người, mất tiền mất bạc thì còn có thể chấp nhận được, chứ mất đi danh dự là mất tất cả… Cũng dễ hiểu thôi khi người ta ở vị trí cao như thế này, nhìn đến những người khác với một con mắt bâng quơ, không để ý. Những người giàu và có tiếng tăm thường tự xếp mình vào một đẳng cấp khác, một thế giới khác, chỉ có họ mới có thể làm bạn với nhau. Đi cùng với một người nghèo hơn có thể sẽ là một nỗi sỉ nhục với họ. Cái kiêu ngạo này dễ thấy, nhưng không làm người khác quá khó chịu nếu không ảnh hưởng gì đến họ.

Có một kiểu kiêu ngạo khác nằm trên bình diện tư tưởng. Đó là loại người luôn cho mình là đúng. Dù có khi biết rõ mình sai, họ vẫn cố tìm lý do để biện hộ cho mình. Họ tự đồng hoá mình với chân lý, và bắt người khác phải đồng thuận với mình. Người nào có ý kiến trái ngược với mình là sai. Có đôi khi họ trở nên ngang ngược đến độ bất chấp tất cả, tự phong cho mình là người phán xử mọi sự đúng sai trong trời đất. Họ cho rằng mình có học thức, đọc nhiều sách thánh hiền, đã từng đặt chân đến nhiều vùng đất khác nhau, nói được nhiều ngôn ngữ, trải qua nhiều kinh nghiệm máu xương. Đây cũng giống như một kiểu quá tự hào về bản thân mình, về quá khứ hào hùng của mình, cho rằng mình quá hoàn hảo, không ai bằng mình. Cái kiểu kiêu ngạo này thể hiện qua cách họ ăn nói, dạy đời, chê bai người khác, bắt bẻ người nọ, tâng bốc bản thân và lấy mình làm mẫu gương cho tất cả mọi người. Kiểu người này thường ít có bạn bè, vì chẳng ai muốn nói chuyện với người “chẳng biết thông thái bao nhiêu mà cứ thích khuyên răn dạy dỗ”.

Loại kiêu ngạo thứ ba là loại tôi sợ nhất, vì nó không toát ra bên ngoài dáng vẻ gì của sự khó ưa khó chịu cả. Trái lại, xem ra, nó có vẻ rất tốt đẹp nữa. Loại kiêu ngạo này thường không ảnh hưởng nhiều đến người khác, mà chỉ tồn tại trong lãnh vực nội tâm mà thôi. Đó là loại người cho rằng mình là người tội lỗi nhất thế gian, không ai trên trái đất này xấu xa hơn mình và chẳng thể nào mình trở thành người tốt được. Con người nào cũng đã từng phạm những lỗi lầm gì đó, dù ít dù nhiều, dù nặng dù nhẹ. Biết mình có tội là một sự ý thức đúng đắn, và cũng là khởi đầu cho một hành trình biến đổi bản thân. Nhưng tự đặt mình ở vị trí “nhất” thì đã trở thành kiêu ngạo rồi: giống hệt như một kiểu “tự hào về tội lỗi” của mình vậy. Dĩ nhiên, ta phải chịu trách nhiệm về những gì xấu xa đã gây ra. Nhưng có chắc tội bạn phạm là nặng nhất thế gian không? Sao bạn biết? Bạn nghĩ những gì bạn phạm ghê gớm đến thế à? …

Tôi gọi đó là kiêu ngạo vì nó bam hàm một thái độ chống lại Tạo Hoá. Nếu để ý, ta sẽ thấy trong kiểu kiêu ngạo này một thái độ tự ti đến độ đánh mất đi cả hy vọng và cho rằng sự xấu mà ta phạm lớn hơn tình yêu mà Tạo Hoá dành cho ta. Tạo Hoá là nguồn của sự sống, nơi Ngài luôn làm phát sinh sự sống, sự lớn lên, sự tái tạo, bắt đầu. Cho rằng mình xấu xa đến độ không thể trở nên tốt hơn cũng đồng nghĩa với việc nói rằng sự sống của Tạo Hoá chẳng còn tác dụng gì với mình, mình đã đến tận cùng của cái xấu rồi và ngay cả Tạo Hoá cũng không thể làm gì hơn để giúp mình. Đó chẳng phải là kiêu ngạo sao? Những gì đã qua là đã qua. Ta nhìn về quá khứ để rút kinh nghiệm và bắt đầu lại, chứ không phải bị giam mình trong những cái của ngày xưa ấy.

Người kiêu ngạo thường là người luôn mất bình an. Trong đầu họ có rất nhiều lo sợ: sợ sẽ mất những gì mình có. Loại người thứ nhất sợ mất tiền mất danh. Loại người thứ hai sợ có lúc nào đó mình mắc sai lầm và hình tượng của mình bị sụp đổ. Loại người thứ ba thì sợ khi có ai đó nhắc đến một tương lai tốt đẹp, hệt như tên tù nhân tự giam mình trong ngục tối, tự dày vò làm khổ bản thân, trong khi chẳng ai ở ngoài kia để ý đến. Kỳ thật thì, mặt trời vẫn mọc mỗi ngày, mọi cái vẫn cứ chuyển vần theo chu trình của nó. Thế gian này rộng lớn lắm, hàng tỷ con người cư ngụ trong đó cũng có biết bao nhiêu việc phải làm. Cũng chẳng có mấy ai rảnh rỗi đến độ bỏ cả một đời để tôn sùng mình vì mình có tiền có danh. Cũng chẳng ai bỏ công sức để nghe những bài dạy đời của ta. Và cũng chẳng có mấy người bận tâm đến câu chuyện quá khứ của ta làm gì, nó xấu đẹp thế nào, có nặng nhất thế gian hay không. Người ta biết đó, có thể có một vài đàm tiếu, rồi cũng để đó cho nó chìm vào quên lãng thôi.

Từ đây, tôi tự đặt câu hỏi: vậy khiêm nhường nghĩa là gì? Là một thái độ biết rằng những gì mình có là lãnh nhận; biết rằng mình có thể sai và cần phải học hỏi thêm; và biết rằng dù mình có tội lỗi đến đâu, phía trước vẫn luôn có một con đường để tiếp tục tiến bước.

Nguồn Dòng Tên

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Chia sẽ bài viết này trên:

Con đường nhỏ

Con đường nhỏ

 Hầu hết trong chúng ta, ai cũng đã từng nghe nói về Thánh Têrêxa Hài Đồng, nhà thần nghiệm người Pháp qua đời năm 1897 ở tuổi 24 và có lẽ đây là vị thánh nổi tiếng nhất trong hai thế kỷ qua. Thánh Têrêxa nổi tiếng vì nhiều chuyện, nhất là về con đường tâm linh được gọi là “con đường nhỏ” của ngài. “Con đường nhỏ” là gì ?

Suy nghĩ chung thường nhìn Thánh Têrêxa và “con đường nhỏ” của ngài là lòng mộ đạo đơn sơ không phải là công lý so với chiều sâu con người hay tâm linh của ngài. Thường thường “con đường nhỏ” được đơn giản hiểu là, vì danh Chúa Giêsu, chúng ta làm những việc bác ái nhỏ bé, ẩn giấu, khiêm nhường cho người khác mà không mong đợi được đáp trả lại. Trong cách giải thích phổ biến này, chúng ta đã gọt rửa, tẩy sạch các vết nhơ và tươi cười với những người khó chịu để làm vui lòng Chúa. Chắc chắn ở một vài khía cạnh, điều này là đúng; nhưng “con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa cần được hiểu sâu rộng hơn.

Đúng, “con đường nhỏ” khuyên chúng ta nên làm những việc nhỏ, dễ thương với nhau nhân danh Chúa Giêsu, nhưng con đường này có những chiều kích sâu đậm hơn. “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa dẫn đến sự thánh thiện dựa trên ba chuyện: nhỏ bé, ẩn danh và có động lực riêng.

Nhỏ bé: Đối với Thánh Têrêxa, “nhỏ bé” trước hết không phải là nhỏ bé trong các hành động chúng ta làm, rửa chén, gọt khoai hay tươi cười với người khó chịu. Nhỏ bé trước hết là nói đến tình trạng thấp hèn của chính mình, tình trạng khó nghèo tận cùng của mình trước mặt Chúa. Đứng trước Thiên Chúa, chúng ta nhỏ bé. Chấp nhận mình nhỏ bé, hành động trong tinh thần nhỏ bé là khiêm nhường. Chúng ta đến với người khác, đến với Chúa trên “con đường nhỏ” khi chúng ta làm các việc bác ái nhỏ cho người khác, chứ không bằng sức mạnh và đức tính mà chúng ta cảm nhận lúc đó, nhưng đúng hơn là qua cảm nhận mình khó nghèo, mình bất lực, mình trống rỗng để ân sủng Chúa làm việc qua chúng ta, để những gì chúng ta đang làm sẽ lôi kéo người khác đến với Chúa chứ không phải đến với mình.

Hơn nữa sự thấp bé của chúng ta làm cho chúng ta nghĩ, đa số chúng ta, chúng ta không làm chuyện gì lớn để thay đổi lịch sử nhân loại. Nhưng chúng ta có thể thay đổi thế giới qua các việc thấp bé của mình, chúng ta gieo đây đó hạt mầm ẩn giấu, như một loại kháng sinh tiềm ẩn cho sức khỏe tâm hồn, phân chia nguyên tử tình yêu trong chính con người mình. Và như thế, “con đường nhỏ” là làm những chuyện khiêm tốn, ẩn giấu.

Ẩn danh: “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa là con đường ẩn giấu, để những gì Cha thấy trong ẩn giấu sẽ được đền đáp trong ẩn giấu. Và những gì ẩn giấu không phải là việc làm bác ái của chúng ta, nhưng là chính chúng ta, những người đang làm việc này. Trong “con đường nhỏ”, các hành động bác ái nhỏ của chúng ta đa phần không được chú ý, dường như không có một tác động nào thực sự trên lịch sử nhân loại và nó cũng không mang lại cho chúng ta một lòng biết ơn nào. Nó vẫn ẩn giấu, không ai biết nhưng bên trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, những gì ẩn giấu, không vụ lợi, không ai biết, những gì bị xóa mờ, những gì không đáng kể, không quan trọng chính là chiếc xe quan trọng nhất của tất cả để ân sủng ở một mức độ sâu đậm nhất. Giống như Chúa Giêsu, Chúa không cứu chúng ta bằng các phép lạ giật gân và các hành động đáng kể, nhưng Ngài cứu chúng ta qua sự vâng phục không điều kiện với Chúa Cha và qua sự tử đạo thầm lặng, các việc làm của chúng ta cũng vẫn là những việc làm không ai biết, để cái chết và tinh thần chúng ta để lại mới làm cho chúng ta thực sự nên ơn ích.

Cuối cùng, “con đường nhỏ” dựa trên một động lực đặc biệt. Chúng ta được mời gọi để hành động khởi đi từ sự thấp bé và ẩn danh của mình, làm các hành động yêu thương nhỏ, phục vụ người khác vì một lý do đặc biệt, theo nghĩa bóng, đó là lau gương mặt đang đau khổ của Chúa Kitô. Bằng cách nào ?

Thánh Têrêxa Lisiơ là người cực kỳ được ân phúc và có biệt tài. Dù từ đầu đời, ngài đã trải qua nhiều đau khổ, nhưng như ngài công nhận và theo chứng từ của nhiều người, Thánh Têrêxa được yêu thương một cách thuần khiết, sâu đậm và tuyệt vời đến nỗi làm cho nhiều người phải ao ước. Ngài cũng là em bé rất dễ thương, được bao quanh bởi yêu thương và an toàn của một đại gia đình mà mỗi nụ cười, mỗi giọt nước mắt đều được chú ý, đều được yêu mến (và thường được chụp hình). Nhưng khi ngài lớn lên, ngài nhanh chóng nhận ra, những gì có thật trong đời sống của mình không phải ai cũng có. Nụ cười và nước mắt của họ không ai chú ý và cũng không được ai yêu mến. Như thế “con đường nhỏ” của ngài xây dựng trên một động lực đặc biệt. Và đây là lời của Thánh Têrêxa:

“Một ngày chúa nhật nọ, khi nhìn hình Chúa Giêsu trên thập giá, hình ảnh máu chảy ra từ bàn tay cực thánh của Ngài đã làm cho tôi xúc động mãnh liệt. Tôi cảm thấy đau đớn tột cùng khi nghĩ, giọt máu này rơi xuống đặt mà không ai vội đến thấm. Tôi quyết tâm giữ tinh thần mình luôn ở dưới chân thập giá và nhận sương rơi của Ngài… Ôi, tôi không muốn giọt máu này bị mất. Tôi sẽ dành cả đời để lau thấm nó vì lợi ích cho các linh hồn. Sống cho tình yêu, đó là lau khô khuôn mặt của bạn”.

Sống “con đường nhỏ” là để ý và yêu mến các giọt nước mắt không ai chú ý rơi từ khuôn mặt của những người đau khổ.

Lm. Ronald Rolheiser, O.M.I.
Nguồn: ronrolheiser.com

Chia sẽ bài viết này trên:

Buôn chuyện với bạn đời của mình có tội không?

Buôn chuyện với bạn đời của mình có tội không?

 Có phải là buôn chuyện không khi bạn nói về ai đó với người bạn đời của mình? ‘Tiến sĩ thiên thần’ có lời khuyên hữu ích để nói về người khác mà không rơi vào tội nói xấu… 

leanor Roosevelt, cựu đệ nhất phu nhân của Hoa Kỳ, nói: “Những bộ óc vĩ đại sẽ thảo luận về các tư tưởng; những bộ óc bình thường thì thảo luận về các sự kiện; còn những bộ óc nhỏ hẹp thì thảo luận về người khác.”

Câu này có vẻ khó nghe đối với những người thích buôn chuyện, nhưng nó là một sự đánh giá công bằng; việc buôn chuyện sẽ nhanh chóng dẫn đến những chê bai hoặc chỉ trích người khác.

Nhưng nếu chỉ là nói chuyện riêng tư giữa vợ chồng thì sao? Thảo luận giữa hai vợ chồng về người khác là buôn chuyện hay chỉ là sự chia sẻ? Đầu tiên bạn có thể nghĩ rằng một cuộc trò chuyện riêng tư giữa hai vợ chồng về người khác với niềm thương xót và không xét đoán chắc chắn là tốt. Nhưng hóa ra câu trả lời lại không đơn giản như vậy. Thánh Tôma Aquinô, trong tác phẩm Tổng luận Thần học của mình, đã đưa ra một số tiêu chí nhằm phân định liệu có chính đáng không khi nói về người khác.

Với lương tâm ngay lành, đôi khi chúng ta nói về người khác, về những khó khăn hoặc khiếm khuyết của họ, bởi vì họ đã làm tổn thương chúng ta hoặc có tác động tiêu cực đến chúng ta. Chúng ta tìm thấy ở nơi người phối ngẫu của mình một đôi tai biết lắng nghe những cảm xúc đang dâng trào này. Đó có phải là buôn chuyện không?

Tương tự như vậy, có phải là phản bội một người bạn không khi chúng ta đưa những bí mật của họ ra để tâm sự với người phối ngẫu của mình? Làm thế nào chúng ta có thể phân biệt giữa thông tin và chuyện phiếm có hại?

Buôn chuyện, hay tội gièm pha, theo lời của Thánh Tôma Aquinô, bao gồm việc làm suy giảm danh thơm tiếng tốt của ai đó: “Gièm pha là bôi nhọ danh tiếng của người khác bằng lời nói.” Việc này có thể xảy ra bằng bốn cách: “Trước tiên, khi bạn đặt điều nói xấu về ai đó; thứ hai, khi bạn gia tăng mức độ tội lỗi của ai đó khi kể về nó; thứ ba, khi bạn tiết lộ một bí mật; và thứ tư, khi bạn nói rằng một hành động tốt đã được thực hiện với một ý hướng xấu.” Trong những trường hợp ấy, bạn chắc chắn đang vướng vào tội ngồi lê đôi mách, ngay cả khi bạn đang nói chuyên với người bạn đời rộng lượng và ân cần.

Vấn đề ý hướng 

Theo Thánh Tôma, tội về lời nói được đánh giá chủ yếu theo ý hướng của người nói. Đây là điều chúng ta phải cân nhắc trước khi nói. Ý hướng thực sự khi chúng ta nói về ai đó là gì? Có thể có một động cơ khác ngoài việc làm giảm danh thơm tiếng tốt của ai đó: “Tuy nhiên, đôi khi có những lời được nói ra làm giảm danh tiếng của một người mặc dù người nói không cố tình như vậy.” Trong trường hợp này, thánh Tôma nhận định, “đó không phải là sự gièm pha có chủ đích mà chỉ là do vô ý”.

Thánh Tôma nói thêm: “Nếu những lời nói ra làm giảm danh tiếng của người khác vì mục đích tốt hay vì lý do cần thiết, xem xét tất cả các tình huống, thấy là không có tội và không thể nói rằng đó là một sự gièm pha.” Vậy đâu là những tình huống giảm nhẹ như thế – cho phép người ta nói ra như thế mà không phạm tội? Đầu tiên, đó là tiết lộ bí mật cho không nhiều người hơn mức cần thiết; thứ hai là việc tiết lộ phải tạo ra một hiệu quả tốt; thứ ba là nó được thực hiện với một ý hướng ngay lành; thứ tư là tiết lộ để tạo ra một điều tốt hoặc để tránh một điều xấu đáng kể.

Trách nhiệm của người nghe 

Thánh Giêrônimô nói: “Cẩn thận đừng làm ô uế lưỡi hoặc tai của bạn; điều đó có nghĩa là, đừng nói xấu người khác hay nghe những lời nói xấu”. Thánh Tôma nói thêm: “Bất cứ ai nghe lời một kẻ gièm pha mà đáng lẽ ra có thể ngăn lại, và bất cứ ai vui thích khi nghe những lời đó thì đều phạm tội giống như kẻ đó.” Do đó, việc ngăn chặn buôn chuyện trở thành sứ mệnh của hai vợ chồng, một con đường dẫn đến sự nên thánh: Cả hai vợ chồng đều có vai trò trong việc biết cách phân biệt điều gì đó tốt hay không, hữu ích hay không để có nên nói về nó hay không.

Sẽ giúp ích cho bạn khi lắng nghe lời khuyên rất cụ thể này của Đức Giáo Hoàng Phanxicô – là người cực lực phản đối việc buôn chuyện: “Một người Kitô hữu, thay vì buôn chuyện thì nên im lặng.”

Mathilde De Robien (Aleteia) / Thảo Uyên chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG

Chia sẽ bài viết này trên:

Khi yêu, người ta nhìn nhau hay nhìn về một hướng?

Khi yêu, người ta nhìn nhau hay nhìn về một hướng?

Chúng ta vẫn thường nghe nói: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Thế sao hai người yêu nhau không dùng mắt để nhìn và quan sát những góc đẹp trong tâm hồn nhau mà lại nhìn về một hướng như lời khẳng định của tác giả Antoine de Saint-Exupéry rằng Yêu không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng. Đây có thể là một điều khá thú vị dành cho những người đã từng yêu nhau có cơ hội suy nghĩ và chọn lựa hầu đưa ra một quyết định cho riêng mình.

Trước đây, người viết đã từng nghe qua nhạc phẩm Con gái của nhạc sĩ Ngọc Lễ. Lời bài hát như con gái nói có là không, con gái nói không là có…con gái nói một là hai, con gái nói hai là một…lần đầu nghe, bản thân cảm nhận một nỗi trống vắng vì ca từ quá ư trẻ trâu và có phần châm biếm, nếu không muốn nói là nhạt nhẽo và vô vị. Thiển nghĩ, đây có thể là lời tỏ tình của hai kẻ đang say nắng, nói chuyện vu vơ khi ở bên nhau không biết tỏ tình vì lúng túng và bẽn lẽn trong mối tình đầu. Thế nhưng, khi nghe đoạn nhạc sau, tôi lại cảm nhận một sắc thái khá mạnh mẽ, chúng diễn tả sự chững chạc của hai người yêu nhau: Hãy nhìn vào đôi mắt em đây, anh sẽ hiểu tận trái tim này. Hóa ra, những lời nói vu vơ tưởng chừng như vớ vẩn lại là cách để lôi kéo người yêu đi sâu vào trong tận tâm hồn mình qua ánh mắt. Một khi, lời nói trở nên lạc lõng giữa một biển ngôn tình, thì ánh mắt lại diễn tả cả một cơn sóng cuồn cuộn trào dâng. Nó có thể cuốn phăng đi những nghi kỵ thấp hèn, những đua đòi vị kỷ, những dối trá điêu ngoa, và chỉ còn đọng lại những giọt nước mắt tinh khôi của những tâm hồn thiện chí. Và khi ấy, tôi mới chấp nhận lời khuyên của những nhà tư vấn tâm lý: càng nhìn nhau, họ càng yêu nhau.

Nhưng nhìn nhau ở điểm nào để có thể tiếp tục yêu nhau và đi đến trọn đời ? Đó là bản lĩnh của những tâm hồn tế nhị.
Yêu nhau quả ấu cũng tròn ư ? Dường như nó chỉ phù hợp với cảnh giới của hai tâm hồn mới bước vào đường tình yêu. Sự mù quáng ấy thật dễ hiểu ! Tuy nhiên, khi đã lấy nhau rồi, trắng đen đã phân ranh rõ rệt, người ta lại thường nhìn vào những góc khuất của nhau nhưng thay vì để chia sẻ và cảm thông, họ lại dùng nó như bằng chứng cho cuộc chia ly vĩnh viễn. Đó là thái độ sống của những người tiêu cực, bi quan yếm thế, không thể khám phá ra những nét đẹp mới lạ trong tình yêu. Đó không phải là góc nhìn của người có năng lực tích cực.

Trái lại, có một ánh nhìn khiến hai người thuộc trọn về nhau khi bỗng nhiên, họ thốt lên cùng lúc: “Wow” và cùng phá lên cười, chúng làm nổ tung cả một bầu trời nghi ngại. Có thể nói, đó là những khoảnh khắc ra khỏi mình để có thể thuộc trọn về nhau.
Có lúc nàng đang ngồi xem trên truyền hình một cảnh phim về một cô gái bị hiểu lầm đang bị tổn thương lại chịu áp lực về việc người chồng muốn ly dị. Nàng xúc động và đồng cảm với nhân vật, chàng nhận thấy sự kiện, liền hỏi: “Sao em khóc ?”. Nàng trả lời trong nước mắt: “Em sợ mất anh”. Thế là chàng đã ôm nàng vào lòng và bảo: “Làm gì có chuyện đó”. Thật ra, nàng đã trả lời hơi vội và chưa chi tiết, rằng: anh đang làm em tổn thương vì những câu nói vu vơ…Nhưng dù sao, cái ôm chặt ấy cũng đã đủ mạnh để chữa lành nỗi đau. Bởi đó, cần nhìn nhau để nhận ra những mong cầu khá tế nhị của người yêu.

Có nàng đã chia sẻ với một chuyên gia tâm lý rằng em đau bệnh chẳng bao giờ thấy anh ấy ngó ngàng đến dù chỉ một viên thuốc. Hỏi ra mới rõ, chính nàng bao năm chẳng hề biết chồng đau bệnh hay khỏe khoắn thế nào. Bởi thế, sự quan sát và quan tâm cần được đáp ứng từ hai phía. Ngoài ra, việc nhìn nhau và quan tâm nhau cần đi vào những góc khuất của tâm hồn để có thể vực dậy, chữa lành nhau để mọi thành viên trong gia đình luôn cảm nhận thực sự rằng gia đình là nơi an toàn nhất giúp tôi sống thật với chính mình. Khi đó, ta sẽ hiểu thấu phần nào câu nói: Có một nơi để về đó là nhà, có những người để yêu thương đó là gia đình, có được cả hai đó là hạnh phúc.

Thế nhưng, chúng ta không dừng lại ở việc tình yêu được vun đắp nơi ánh nhìn của nhau mà còn mở ra cho các tương quan khác. Theo các nhà tư vấn tâm lý, dấu hiệu của một tình yêu lành mạnh là mở ra và mở rộng với các đối tượng khác, đó là một trong những mối quan tâm mà tác giả muốn gửi gắm qua câu nói: Yêu không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng. Hướng ấy có thể hiểu là lý tưởng hay giá trị cuộc sống, những đứa con và hơn nữa, là một Ai đó.
Trong thời điểm hai người mới gặp và yêu nhau, người ta có thể thề trăng hứa sao, hẹn non hò biển, nhưng trước khi quyết định tiến tới hôn nhân, họ cần phải nghiêm túc đặt ra những vấn đề mang tính sống còn, một trong những điều chúng ta muốn bàn đến ở đây là bậc thang giá trị. Nếu hai người không có một hướng nhìn chung này hay ít ra, hiểu biết và chấp nhận quan điểm và lập trường sống của người yêu thì sẽ dễ dẫn đến tan vỡ nay mai, vì căn nhà có vững chắc là nhờ cái nền chất lượng và vững chãi, cũng vậy, đời sống hôn nhân gia đình không thể lâu bền nếu không được đặt trên những thang giá trị chuẩn mực và thiết thực. Bởi đó, ngày nay người ta thống kê một phần lý do dẫn đến những cuộc ly dị là thiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt giai đoạn trước hôn nhân. Nghĩa là họ chưa được tiếp cận những hướng dẫn cụ thể cho đời sống chung của những chuyên gia tâm lý hôn nhân gia đình hoặc tham gia tích cực các lớp giáo lý hôn nhân để bản thân chuẩn bị những tâm thức và tâm thế sẵn sàng khi đối diện với những khó khăn trong tương lai.

Hẳn nhiên, ai cũng hiểu biết và ý thức những giá trị đang ước ao của đời sống này cả trước khi bước vào hôn nhân, nhưng thực tế, khi đối diện với thực tại vốn muôn màu muôn vẻ, người ta dễ bị cuốn theo những xu hướng xã hội đương thời đề cao mà bỏ qua những truyền thống cổ xưa đã không ngừng giúp các bậc phu huynh của họ kiên vững trong đời sống gia đình. Một minh họa cụ thể cho những gì chúng ta đang bàn đến, xét ưu tiên cho giá trị gia đình. Do hoàn cảnh khó khăn, một số gia đình phải sống cảnh tha phương cầu thực, vợ ở quê nhà còn chồng làm phương xa hoặc ngược lại. Mặc dù, họ vẫn tiếp xúc với nhau mỗi ngày qua các điện thoại thông minh, họ có thể nhìn mặt nhau và nói chuyện trực tiếp nhờ phương tiện hiện đại, nhưng đó chỉ là cách quan tâm về mặt tâm lý. Song, có một phần khác mà chúng ta chưa chú trọng đủ mà đôi khi, chúng lại mang tính quyết định, đó là nhu cầu thể lý. Bởi đó, mới có trường hợp, chồng hy sinh rời xa tổ ấm để ky cóp tiền bạc về xây dựng gia đình, nhưng có ai ngờ, ở nhà, vợ mình qua lại với tên chạy xe ôm, vì ông này vẫn chở nàng đi chợ và lo cho nàng mọi thứ chỉ trừ tiền bạc. Hóa ra, giá trị của gia đình bị lãng quên, người ta nhân danh một thứ hạnh phúc nào đó được xây dựng bằng tiền tài để sẵn sàng hy sinh việc xa rời tổ ấm mà bương chải với đời, đến khi có một chút vật liệu để xây căn nhà thì không có người để ở; nhà không có, tổ ấm cũng chẳng còn !

Hay có những người vì quá mê chuyện làm ăn và đối tác để rồi bỏ bê bữa cơm tối gia đình: một lần, hai lần rồi quen dần thích ăn cơm tiệm hay nhậu với bạn bè hơn là chung bữa cơm với vợ con, với lý do biện minh rằng vì tương lai hạnh phúc gia đình…Đúng là hầu như các ông chồng đều có ý hướng tốt lành đó, nhưng không thể xem chúng như là cách để thường xuyên vắng mặt trong bữa cơm gia đình và những buổi gặp gỡ khác trong sự gần gũi thân tình giữa vợ chồng – con cái. Họ nhủ lòng rằng cố tạo tương giao tốt với sếp và đồng nghiệp (ăn nhậu) thì dễ thăng chức, thăng chức thì sẽ có lương cao, có lương cao sẽ xây một căn nhà đẹp, có căn nhà đẹp thì gia đình sẽ hạnh phúc…Lầm to ! Họ quên một sự thật quan trọng rằng không thể xây dựng hạnh phúc gia đình trong tương lai mà không đặt nền móng vững chắc từ bây giờ trong hiện tại. Làm sao có một gia đình hạnh phúc mà mỗi thành viên không thường xuyên gặp gỡ để vun đắp mái ấm của mình ? Làm sao có một tình thân đích thực khi cảnh chồng về muộn mà vợ con đã ngủ sớm, rồi sáng ra, vợ đi chợ, con đi học mà chồng vẫn ngủ li bì, đến khi dậy đi làm thì tinh thần uể oải lại cũng chẳng gặp được mặt vợ con…cứ như thế, ngày này qua tháng nọ, đó gọi là gia đình ?
Và trong phạm vị ưu tiên cho sự chọn lựa về gia đình, ở đây, chúng ta được mời gọi nhìn về một hướng là những đứa con trong gia đình.

Trước tiên, chúng ta nghe lời khẳng định từ Giáo hội: Hôn phối và tình yêu trong hôn nhân, tự bản chất, được hướng về việc sinh sản và nuôi dưỡng con cái. Trên thực tế, con cái là ân huệ tối thượng của hôn nhân và mưu ích rất nhiều cho chính cha mẹ chúng. (x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Vui Mừng Và Hy Vọng – Gaudium et Spes, số 50). Điều này hầu hết mọi Kitô đều xác tín như thế nhưng trong thực tế, đôi khi chúng bị lãng quên và đưa đến những lạm dụng đáng tiếc. Chẳng hạn, một khi hai vợ chồng chỉ chăm chú vào bản thân và tập chú vào cuộc hôn nhân đang gặp khủng hoảng mà sẵn sàng chia tay mặc cho những đứa con – là những kẻ đáng thương nhất – phải chịu cảnh cha mẹ ly tán. Trái lại, cũng có những bậc cha mẹ vì nhìn đến những hậu quả ảnh hưởng sâu đậm đến con cái do việc ly tán mang lại mà đã chấp nhận tình trạng hiện thời mặc dù không ngủ chung một giường, chẳng ăn chung một mâm. Cho đến một ngày, hai người xích lại gần nhau sau những biến động không thể nào tránh khỏi, đã vượt qua ngoạn mục nhờ thiện chí của hai người. Khi đó, đứa con đã trở thành sợi dây vô hình nối kết mọi khoảng cách tưởng chừng như vô vọng trong đời sống gia đình.

Tưởng cũng cần nhắc lại về tình trạng khủng hoảng trong đời sống nói chung và trong hôn nhân gia đình nói riêng. Có thể nói, khủng hoảng là thành phần tất yếu cho mọi đời sống mà hôn nhân cũng không là một ngoại lệ. Đôi khi, người ta tránh né thuật ngữ này mà dùng một từ khác, nhưng dù sao, nó cũng nói lên một sự biến động nào đó mà sau cuộc giông bão, mỗi người sớm vượt qua và lớn lên. Bởi đó, để vượt qua và lớn lên, mỗi người trong gia đình đều trải qua những cuộc khủng hoảng cách nào đó. Tuy nhiên, tùy cách mỗi người tiếp cận và giải quyết thực tại này mà sẽ có nhiều hệ quả khác nhau. Có những người đã tìm đến giải pháp ly dị, nhưng thật ra, đây chỉ là cách tránh né thực tại đời sống vì thực tế, có những người trải qua nhiều cuộc tình mà không thể sống hài hòa với ai. Một trong những hướng tích cực mà chúng ta đang bàn đến: tất cả vì đàn con thân yêu.

Cuối cùng, hướng nhìn mà hai người yêu nhau nhắm đến là chính Thiên Chúa. Quả thật, Ngài là tác giả phối hợp và tác thành họ nên một qua niềm xác tín vào Bí tích Hôn nhân: Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly. Thế nên, Ngài đồng chịu trách nhiệm cho đôi bạn. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu thuật ngữ “đồng trách nhiệm” này thế nào ? Nghĩa là chính Ngài đã ban đủ ơn giúp họ sống trọn vẹn và bền vững trong cuộc hôn nhân này. Nhưng thực tế, con người vẫn quyết định ly dị là tùy tự do của mỗi người. Có thể nói, phần lớn những điều đáng tiếc này xảy ra là do họ không nhận thức đúng về thực tại thánh thiêng này. Thật vậy, họ cho rằng một đời sống hạnh phúc không thể chấp nhận sự có mặt của những khó khăn, thử thách và cả những khủng hoảng nữa ! Hạnh phúc không phải là một thứ cảm xúc phấn chấn hay cảm giác thỏa mãn nào đó mà chúng hệ tại sự chúc phúc của Thiên Chúa. Quả thật, chính Ngài mới thực sự đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Khuynh hướng chung của vợ chồng khi gặp khó khăn, thử thách nào đó là họ thường đổ lỗi cho nhau mà không tìm hướng giải pháp tốt nhất đến từ giáo huấn của Giáo hội, được hiểu như ý muốn của chính Thiên Chúa trong giai đoạn đen tối này. Chính khi quá tự tin vào khả năng tự giải quyết của chính mình, quá nhìn vào bản thân mà quên đi sự thật: khi yêu, họ nhìn về một hướng là chính Thiên Chúa.

Từ những gì vừa trình bày, chúng ta đã thấy được phần nào giá trị tích cực từ câu nói của tác giả Antoine de Saint-Exupéry, đồng thời, bổ sung cho thông điệp này bằng cách đề nghị hai người yêu nhau cũng cần nhìn vào nhau để nhận ra những tâm tư, tình cảm đôi khi chỉ đọc được qua ánh mắt. Cho dù, các bạn đang nhìn nhau hay nhìn về một hướng, hãy luôn tâm niệm Thiên Chúa luôn ở với các bạn, Ngài muốn chia sẻ phận người với các bạn, đồng trách nhiệm với các bạn và chúc phúc cho gia đình các bạn.

EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.

 

Chia sẽ bài viết này trên: