Sống Đạo

CHÚNG TA THEO ĐẠO ĐỂ LÀM GÌ?

CHÚNG TA THEO ĐẠO ĐỂ LÀM GÌ?

Có một vấn nạn rất quan trọng mà Ki-tô hữu chúng ta cần thường xuyên tự hỏi, đó là “Tôi đi đạo để làm gì?”. Theo kinh bổn và những lời dạy truyền thống thì đi đạo là để được biết Thiên Chúa và yêu mến Người, được rỗi linh hồn, khi chết được hưởng hạnh phúc thiên đàng, được xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng, được sống vui vẻ muôn đời muôn kiếp vv. Đó là những cách nói bình dân để ám chỉ đến mục đích và ý nghĩa việc tín hữu tin Chúa và theo đạo.

Trên thực tế, nếu xem xét kỹ, chúng ta sẽ thấy động cơ theo đạo của nhiều người trong chúng ta nhiều khi còn lệch lạc và không đúng với ý Chúa. Chính vì vậy mà có ý kiến đã đề cập đến nhiều hình thái đạo khác thường, chẳng hạn như đạo-thực-dụng, đạo-sinh hoạt, đạo-lễ-nghi, đạo-hình-thức, đạo-phô-trương, đạo-đoàn-thể vv.

Linh mục Nguyễn Trọng Viễn O.P đã viết về Đạo-sinh-hoạt như sau:

“Nhiều người Kitô hữu và một số chức sắc ngoại quốc đã từng trầm trồ về nét sinh hoạt sầm uất của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Cho tới hiện nay, bước vào thiên niên kỷ thứ III, chúng ta vẫn tương đối an tâm khi nhìn vào các nhà thờ trong giờ lễ, khi nhìn thấy đông đảo tín hữu, nhất là giới trẻ, trong các dịp tĩnh tâm; chúng ta cũng ngạc nhiên khi thấy vẫn còn, và ra như càng ngày càng nhiều hơn, những chuỗi người xếp hàng dài chờ xưng tội…

“Tuy nhiên, trong lòng những tổ chức và sinh hoạt ấy, đời sống đức tin có tính chất cá vị hình như lại khá yếu kém. Các nhà thờ của chúng ta thường đông người trong những giờ có tổ chức sinh hoạt phụng vụ, nhưng lại vắng hoe khi không có tổ chức nào. Ta thấy rất ít những người đến với Chúa một cách hoàn toàn tự nguyện và xuất phát từ nhu cầu đức tin trong cuộc đời. Người ta chỉ đến với Chúa vì lề luật, vì sinh hoạt hoặc để xin vài ơn cụ thể nào đó.

“Tổ chức giáo xứ của chúng ta có những ban bệ khá vững chắc, nhưng lại không thể hiện được bao nhiêu cách sống thấm nhuần Tin Mừng. Nhiều giáo xứ, nhất là những giáo xứ lâu năm không có linh mục, vẫn tổ chức các sinh hoạt đạo sầm uất : làm hang đá, rước kiệu, táng xác Chúa, cờ xí, chuông trống, áo xống, ngắm nguyện…Thế nhưng, ngay trong chính những sinh hoạt đạo ấy, người ta lại có thể đấu đá nhau sát ván bằng những phương thức không có một chút men Tin Mừng nào, ngay cả bằng những phương thức xã hội đen!…

“Nhiều người sinh hoạt lâu năm trong hội đoàn, nhiều em sinh hoạt một thời gian dài trong nhóm giúp lễ, nhưng khi hết hội đoàn, rời bỏ nhóm, thì tâm hồn cũng chẳng còn một chút gì là giá trị đạo. Nhiều trường hợp các em lại còn hư hỏng thêm do ‘gần chùa gọi bụt bằng anh’, hoặc do việc kết bè kết nhóm khi sinh hoạt hội đoàn. Nguyên do cũng chỉ vì sinh hoạt trở thành ‘đạo’, thành nguyên lý; và hết sinh hoạt, thì đạo cũng hết”. [1]

Quả thực, khi chúng ta hồi tâm suy nghĩ về mục đích đi đạo, theo Chúa của mình thì sẽ thấy ngay rằng có thể mình đi theo đạo Chúa một cách vụ lợi cá nhân, giữ đạo một cách ấu trĩ và sống đạo một cách hình thức bề ngoài…Nhiều người coi đạo như một mớ lý thuyết phải biết, một số điều phải tin, một vài điều buộc phải giữ, một số sinh hoạt cần thực hành. Đạo khi đó trở thành một nếp sinh hoạt hời hợt bên ngoài, xa rời bản chất nên thường máy móc và dễ thay đổi. Nhất là đạo lại mang hơi hướng trần tục và thực dụng.

Đức cố H.Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận trong bài “Mười căn bệnh làm băng hoại người công giáo” [2] đã lưu ý chúng ta về bệnh chuẩn mực trần tục: Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người Công giáo kiểu đó thường hay trở thành Công giáo tùy thời: Thịnh thì Công giáo, suy thì chối.

Ngài cũng đề cập việc loại người Công giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn. Công giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Thêm vào đó, Đức cố H.Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê cũng đã nhắc nhở chúng ta là hãy đặt Chúa lên trên việc-của-Chúa. Bởi vì khi chúng ta quá say mê làm những việc-của-Chúa, việc-của-cộng đoàn, việc-của-đoàn thể thì sẽ dễ dàng bỏ qua đời sống nội tâm, lơ là việc kết hiệp với Chúa, khô khan ít cầu nguyện, và không quan tâm tới thực thi bác ái đối với tha nhân.

Khi đạo của chúng ta chỉ hời hợt bên ngoài với những việc làm thiên về phô trương, hoành tráng, cao ngạo, đua chen, hình thức thì lúc đó chúng ta đang sa đà vào cái thực trạng này, là chúng ta có đạo nhưng không có Chúa.

Cũng trong bài nói về “Mười căn bệnh làm băng hoại người công giáo” nêu trên, Đức cố H.Y Phan-xi cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã nhắc đến bệnh phô trương chiến thắng của người có đạo, như sau:

“Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính… Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế … Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về! Hãy từ bỏ chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

“Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự”. [2]

Rõ ràng là chúng ta phải đặt lại vấn đề, chúng ta đi theo đạo để làm gì, để nếu cần, chúng ta định hướng lại mục đích đi đạo của chúng ta, sao cho phù hợp với ý Chúa và đúng với giáo huấn của Hội thánh.

Theo ý kiến riêng của người viết, để trả lời cho câu hỏi “Đi đạo để làm gì?”, chúng ta sẽ bàn đến 3 điểm sau đây: Một là chúng ta đi đạo để được biết Thiên Chúa và thờ phượng Người; Hai là chúng ta đi đạo để được gia nhập vào hàng ngũ con cái của Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô; Ba là chúng ta đi đạo để được tham gia vào công việc loan báo Tin Mừng Nước Trời.

I.- CHÚNG TA ĐI ĐẠO ĐỂ ĐƯỢC BIẾT THIÊN CHÚA VÀ THỜ PHƯỢNG NGƯỜI

Chúng ta biết rằng, đạo chúng ta là tôn giáo độc thần, nghĩa là chỉ tin kính và thờ phượng một Đấng Tối Cao duy nhất. Như trong kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình…”.

Thánh Kinh Cựu Ước đã ghi: “Thiên Chúa phán tất cả những lời sau đây: “Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông. Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời. Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì ĐỨC CHÚA không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng”.” (Xh 20, 1-7)

Qua thời Tân Ước, chính Đức Giê-su Na-gia-rét, Con Thiên Chúa làm người, đã vén tỏ bức màn bí mật về Thiên Chúa, Cha của Ngài để những ai nhận biết Cha của Ngài thì sẽ được sống đời đời. Ngài tuyên bố: “Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.” (Ga 17, 2-3)

Đạo khai mở cho chúng ta con đường gặp gỡ Thiên Chúa để chúng ta chẳng những nhận biết Người, mà còn yêu mến và phụng thờ Người nữa. Nhận biết không chỉ là sự hiểu biết thông thường qua lý trí nhưng còn là đi vào tương quan tình yêu, thông hiệp sự sống thần linh nữa. Cái cốt lõi của đi đạo còn là giúp ta thực hành việc thờ phượng Thiên Chúa một cách hoàn hảo nhất.

Nhắc lại điều răn thứ nhất, đó là: “Thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự”. Điều răn này chú trọng tới thái độ nội tâm. Nhờ quan sát vũ trụ, nghiền ngẫm những khát vọng chính đáng trong lòng, nhất là nhờ Thánh Kinh và lời Hội thánh dạy dỗ, loài người biết mình có mặt trên trần gian này là do Thiên Chúa; biết mình được Thiên Chúa sắp đặt cho hưởng hạnh phúc mai sau với Người. Cho nên tâm tình đầu tiên của loài người là cảm tạ và yêu mến Chúa hết lòng.

Yêu mến Chúa hết lòng là nếu phải chọn giữa Thiên Chúa và tạo vật (tiền của, danh vọng, lạc thú…) thì ta phải bỏ tạo vật ấy mà chọn Chúa; khi cần, dám hy sinh mạng sống mình để chứng tỏ lòng ta gắn bó với Chúa. Một số tội phạm lỗi giới răn thứ nhất: Thờ các loài thụ tạo; mê tín dị đoan; phạm sự thánh… [3]

Linh mục Giu-se Thân Văn Tường, giáo sư Tín lý, trong bài viết có tựa “Thờ phượng”, đã chia sẻ một số ý sau:

“Thờ phượng là sự kính mến của một người đối với nguồn gốc của mình. Là tạo vật, con người bao giờ cũng cảm thấy mình bất tất, phải có nguồn gốc ngoài mình, nên tâm tình thờ phượng là xu hướng tự nhiên của họ.

“Sau khi loài người phạm tội, họ có thể thờ phượng mọi sự: Một người, một tạo vật trong thiên nhiên, một lý thuyết, một ảo tưởng…cái gì cũng có thể biến nên ngẫu tượng để họ tôn thờ. Một là người ta tôn thờ Thiên Chúa, hai là người ta tôn thờ chính bản thân mình. Khi tôn thờ Thiên Chúa, người ta không cần phải che đậy. Nhưng khi tôn thờ chính mình, người ta biết mình làm điều sai quấy, nên phải che đậy dưới đủ thứ chiêu bài, kể cả chiêu bài tôn giáo.

“Pha-ri-sêu có nghĩa là thờ mình dưới chiêu bài tôn giáo. Người Pha-ri-sêu làm mọi việc đạo đức, như hãm mình, đánh tội, bố thí, cầu kinh không phải để tôn vinh Thiên Chúa, nhưng để có lợi cho bản thân. Thay vì phụng sự Thiên Chúa, thường con người muốn Thiên Chúa phụng sự bản thân họ. Người ta hy sinh vì nhu cầu, vì dục vọng, ít ai hy sinh vì Thiên Chúa. Nhưng nhiều lúc, khi hy sinh vì nhu cầu, dục vọng, người ta cũng nghĩ mình hy sinh vì Thiên Chúa.

“Người ta quên Thiên Chúa trong nghệ thuật, chính trị, kinh tế…thì còn hiểu được, người ta quên Người ngay trong tôn giáo mới chính là điều quái gở.” [4]

Trước 8.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 1-8-2018 trong đại thính đường Phao-lô VI, ĐTC Phan-xi-cô trong bài huấn dụ với đề tài: “Ngươi sẽ không có các thần nào khác trước mặt Ta” (Xh 20,3), qua đó ngài đã giải thích tội tôn thờ thần tượng, rất thời sự ngày nay. Đặt vấn đề “Đâu là Thiên Chúa thật của tôi?”, ĐTC nói:

“Giới răn cấm làm các thần tượng hay hình ảnh của mọi loại thực tại; thật thế mọi sự có thể được dùng như thần tượng. Chúng ta đang đề cập tới một khuynh hướng của con người,  không tha cho các tín hữu cũng như người vô thần. Chẳng hạn là các Kitô hữu chúng ta có thể tự hỏi: Đâu là Thiên Chúa thật của tôi? Đó là Tình Yêu Duy Nhất và Ba Ngôi hay là hình ảnh của tôi, sự thành công cá nhân của tôi, kể cả thành công trong lòng Giáo Hội nữa? Tội tôn thờ thần tượng không chỉ liên quan tới các việc phụng tự giả dối của ngoại giáo, nó là một cám dỗ thường xuyên  của đức tin. Nó hệ tại việc thần thánh hóa điều không phải là Thiên Chúa” (GLCG, 2113).”

Người Ki-tô hữu chân chính luôn xác tín rằng họ đã được ơn biết Thiên Chúa, rồi tin Chúa và theo đạo. Họ phải dứt khoát. Không có thần tượng nào ngoài Thiên Chúa. Chúng ta phải luôn cảnh giác về thái độ tin-theo và thờ phượng Thiên Chúa của mình. Bởi nếu không, chúng ta sẽ nghe lời quở trách trong Thánh Kinh: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (I-sa-ia; Mc 7, 6).

II.- CHÚNG TA ĐI ĐẠO ĐỂ ĐƯỢC GIA NHẬP VÀO HÀNG NGŨ CON CÁI THIÊN CHÚA TRONG ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ

Chúng ta biết rằng, nhờ đức tin và bí tích Thánh tẩy, chúng ta được lãnh nhận ơn được làm con cái Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô, gọi chung là ơn làm Ki-tô hữu.

Thánh sử Gio-an đã quả quyết: “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa”. (Ga, 12-13)

Ngoài ra, trong thư 1 của ngài, thánh Gio-an cũng xác quyết: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người. Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy”. (1Ga 3, 1-2)

Quả vậy, nhờ ơn sủng của bí tích Thánh tẩy mà chúng ta trở nên một tạo vật mới, một con người mới, một Ki-tô hữu thực thụ. Từ đây, chúng ta được tái sinh làm con cái Thiên Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô, được trở nên chi thể của Hội thánh Chúa, được gọi là công dân của Nước Trời. Như thánh Gio-an đã khẳng định: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3, 5).

Bí tích Thánh tẩy là một biến cố siêu nhiên nhờ đó Thiên Chúa ban cho ta các ơn sau: [5]

– Ơn tha tội, gồm tội chung (nguyên tổ) và tội riêng (cá nhân) để chúng ta được trở nên trong sạch trước khi được tháp nhập vào Thiên Chúa là Đấng thánh.

– Ơn làm con Thiên Chúa với tên gọi là Kitô hữu, bởi lẽ chúng ta tự bản chất chỉ là loài thụ tạo chứ không do Thiên Chúa sinh ra. Thiên Chúa chỉ có một người Con là Chúa Giêsu Kitô, nên chúng ta chỉ có thể là con cái của Thiên Chúa nhờ việc trở nên giống Chúa Kitô với tên gọi của Ngài.

– Ơn gia nhập Hội thánh, nghĩa là trở thành chi thể trong thân thể nhiệm mầu của Chúa Kitô. Chính Hội thánh sinh chúng ta ra làm con Thiên Chúa, nên chúng ta cũng là con cái Hội Thánh.

– Ơn huynh kết với các Kitô hữu, nghĩa là các Kitô hữu trở nên anh chị em với nhau vì cùng là con của một Cha trên trời.

– Ơn thiêng liêng không thể tẩy xóa, nghĩa là ghi một dấu ấn đã tái sinh làm con Thiên Chúa thì mãi mãi là con Thiên Chúa, cho dù có phản bội Người thì cũng không phải chịu lại bí tích Rửa Tội lần thứ hai.

Như vậy ơn huệ được gọi và chọn làm Ki-tô hữu được coi là đỉnh điểm của mọi ơn huệ mà Thiên Chúa có thể ban cho chúng ta. Đó được coi là nền tảng cho mọi ơn siêu nhiên, bởi vì: Từ cuộc sống bình đẳng với nhau con người được nâng lên để sống bình đẳng với Thiên Chúa trong Đức Kitô: “Nếu ta cùng chết với Ngài ta sẽ cùng Ngài phục sinh, nếu ta chịu khổ với Ngài, ta sẽ cùng Ngài thống trị” (Rm 6, 8). Trong giao ước mới này mỗi người trở nên đồng hàng với Đức Kitô. Và còn hơn thế nữa, mỗi người trở nên một với Đức Kitô, đồng hình đồng dạng với Ngài, mang chung một tính cách, chung một sự sống, chung một tình yêu, để cùng tác tạo và tái tạo với Thiên Chúa trong Đức Kitô, dưới sự tác động của Thánh Thần. Sự sống của người Kitô hữu mang một chiều kích vô biên trong chính mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Xét như vậy, ta thấy rằng việc chúng ta đi đạo không phải là do công lao, tài cán gì của mình, nhưng là do ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa ban. Đó vừa là ơn huệ và vừa là ơn gọi.

Trước ơn huệ to lớn này, chúng ta phải luôn mang tâm tình vui mừng và tạ ơn. Chúng ta tạ ơn bằng đời sống Ki-tô hữu chân chính của mình.

Hội thánh luôn thúc giục chúng ta sống tâm tình tạ ơn và biến cuộc đời của mình thành lễ tế tạ ơn liên lỉ. Thực vậy, ý thức ân huệ mình đã lãnh nhận và noi gương Thầy Giê-su, các Ki-tô hữu đầu tiên đã biến cả cuộc sống mới của mình thành một lời tạ ơn. Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ các tín hữu: “Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng. Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha.” (Cl 3, 16-17)

Trong khi sống tâm tình tạ ơn Chúa, chúng ta không bỏ qua bổn phận yêu thương và giúp đỡ anh em đồng đạo và đồng loại mình. Nếu chúng ta tạ ơn Chúa vì lòng mến thì cũng phải thi ân vì tình bác ái tha nhân. Thánh Phao-lô đã nhắc bảo các tín hữu Cô-lô-xê về đời sống trong tình yêu và lời tạ ơn, như sau: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy anh em hãy hết dạ tri ân” (Cl 3, 14-15).

Trước ơn gọi cao cả này, chúng ta phải lắng nghe tiếng Chúa và sẵn sàng lên đường thực thi ơn gọi của mình. Ơn gọi loan báo Tin Mừng Cứu Rỗi của Chúa Giê-su.

III.- CHÚNG TA ĐI ĐẠO ĐỂ ĐƯỢC THAM GIA VÀO CÔNG VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG NƯỚC TRỜI

Rất nhiều người trong chúng ta quan niệm đi đạo là được đi đến nhà thờ đọc kinh, xem lễ, xưng tội, được tham gia các hội-đoàn-nhóm để sinh hoạt, hội họp vv…đồng thời đi đạo để nắm chắc được hạnh phúc, may mắn đời này và được phần rỗi hạnh phúc đời sau. Đó xem ra là một cách giữ đạo theo lối mòn truyền thống hơn là thực thi ý Chúa và thực hành giáo huấn của Hội thánh. Đó có thể là cách giữ đạo cá nhân, giữ đạo cho riêng mình, theo kiểu “hồn ai nấy giữ!”. Đó là hình thức đi đạo hoàn toàn vụ lợi và xa lạ với Tin Mừng mà Chúa Giê-su rao giảng. Đó là cách sống đạo hời hợt, hình thức, vụ luật, mang tính phô trương hơn là trở nên ánh sáng giữa muôn dân, trở nên muối men cho đời.

Linh mục Nguyễn Trọng Viễn O.P, trong bài viết tựa “Đạo thực dụng” đã chia sẻ ý kiến sau:

Trong đời sống đức tin hiện nay, chúng ta có thể thấy tinh thần so đo tính toán vụ lợi, thái độ nệ luật, lối sống vị luân lý…như là những biến hóa của thái độ thực dụng. Những lối sống này luôn là những cách thức con người tìm an toàn cho bản thân, biến sứ mệnh đời mình thành một con đường dễ dãi, con đường quay về bản thân mình chứ không phải con đường liên đới, hiệp thông và chiều ý nhau trong tình yêu thương chân chính. Chúng ta có thể thấy đường nét thực dụng ấy trong hầu hết những điểm trọng tâm trong đời sống đức tin Ki-tô giáo hiện nay. Chẳng hạn như:

– Người Ki-tô hữu giữ đạo chỉ là giữ giới răn, và giữ giới răn như là một sự chịu vậy, nghĩa là không sống được thái độ tự do của con cái Chúa, nhưng là tinh thần nô lệ;

– Người Ki-tô hữu mong lên trời để hưởng mọi sự vui sướng chứ không phải để được sống trong tình yêu Thiên Chúa;

– Người Ki-tô hữu cầu nguyện chỉ là xin ơn chứ không phải một sự trao đổi thân tình như hiến tặng cho Chúa chính tâm hồn của mình vv… [6]

Quả thực, nếu chúng ta đi đạo chỉ để tìm ích lợi cho phần rỗi của mình và để đáp ứng những nhu cầu cá nhân, thì chúng ta chưa giới thiệu cho người ngoài khuôn mặt của Đức Ki-tô và ánh sáng của Tin Mừng. Cần xác tín điều này là, chúng ta đi đạo cũng là để được tham gia vào công việc loan báo Tin Mừng Nước Trời nữa. Thánh Phao-lô đã mạnh mẽ tuyên bố: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16).

Có lẽ, trên thực tế, nhiều người trong chúng ta không hề nghĩ đến việc truyền bá Tin Mừng cũng là nghĩa vụ của chính mình. Nhiều người không hề thao thức đến công cuộc truyền giáo của Hội thánh, không hề cầu nguyện cho việc rao giảng Tin Mừng trong thời điểm hiện tại và tương lai. Có lẽ chúng ta vẫn nghĩ rằng, đó là công việc của các linh mục, tu sĩ, của các nhà truyền giáo hay của những vị chuyên trách… Trong khi đó, điều quan trọng ta cần lưu ý là “Bản chất Hội thánh là truyền giáo” (Vat II, AG 2).

Như trên đã nói, chúng ta đi đạo là thờ phượng và yêu mến Thiên Chúa, chúng ta luôn cầu xin cho “Danh Cha cả sáng”, chúng ta đi đạo để được lãnh nhận ơn huệ làm con cái Thiên Chúa, trở nên một chi thể của Nhiệm Thể Đức Ki-tô, trở nên thành phần của Hội thánh, của cộng đoàn đức tin và cứu rỗi của Chúa Ki-tô. Cùng với ơn huệ đó, chúng ta nhận lãnh ơn gọi và sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho mọi người chưa biết Chúa. Nếu chúng ta bỏ quên nhiệm vụ này thì việc đi đạo của chúng ta thật sự là vô cùng thiếu sót!

Trong “Tông huấn Niềm vui Tin Mừng”, ĐTC Phan-xi-cô đã nhấn mạnh bổn phận truyền giáo của tín hữu, như sau: [7]

Loan báo Tin Mừng là nhiệm vụ của Hội Thánh. Là tác nhân rao giảng Tin Mừng, Hội Thánh không chỉ là một tổ chức có hệ thống và phẩm trật; Hội Thánh trước hết và trên hết là một dân tộc đang trên đường lữ hành tiến về Thiên Chúa. Hội Thánh chắc chắn là một mầu nhiệm ăn rễ sâu trong Ba Ngôi, nhưng Hội Thánh tồn tại một cách cụ thể trong lịch sử như một dân tộc lữ hành và như là những người loan báo Tin Mừng, vượt lên trên mọi hình thức tổ chức, dù điều này cũng cần thiết. Tôi muốn vắn tắt bàn đến cách hiểu này về Hội Thánh mà nền tảng tối hậu là ở sáng kiến tự do và yêu thương của Thiên Chúa. (số 111)

Do phép rửa tội, mọi thành viên của Dân Chúa phải trở nên những môn đệ truyền giáo (xem Mt 28:19). Tất cả những ai đã được rửa tội, dù ở vị trí nào trong Giáo Hội hay ở mức độ đào luyện nào về đức tin, cũng đều là những nhà truyền giáo, và sẽ là bất cập nếu chỉ nghĩ đến một kế hoạch truyền giáo được thực hiện bởi những nhà truyền giáo chuyên nghiệp trong khi số các tín hữu khác chỉ là những người thụ hưởng thụ động. Tân phúc âm hoá đòi hỏi sự dấn thân thực sự của từng cá nhân tín hữu.

Mọi Kitô hữu được thách thức, ở đây và lúc này, tích cực tham gia vào việc truyền giáo; thực vậy, bất cứ ai đã thực sự trải nghiệm tình thương cứu độ của Thiên Chúa thì không cần nhiều thời gian hay một sự đào tạo lâu để đi rao giảng tình thương ấy.

Mọi Kitô hữu đều là người truyền giáo theo mức độ họ đã gặp gỡ tình thương của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô: chúng ta không còn nói mình là những “người môn đệ” và “người truyền giáo”, nhưng đúng hơn, chúng ta luôn luôn là những “người môn đệ truyền giáo”. Nếu điều này chưa thuyết phục, chúng ta hãy nhìn vào những môn đệ đầu tiên, vừa khi bắt gặp cái nhìn của Đức Giêsu, các ông vui vẻ đi loan báo về Ngài: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia!” (Ga 1:41). Người phụ nữ Samaria đã trở thành người truyền giáo ngay sau khi nói chuyện với Đức Giêsu và nhiều người Samaria đã tin Ngài “vì lời chứng của người phụ nữ” (Ga 4:39). Thánh Phaolô cũng vậy, sau khi gặp Đức Giêsu, “lập tức đi rao giảng về Đức Giêsu” (Cv 9:20; xem 22:6-21). Vậy chúng ta còn chờ gì nữa? (số 120) ./.

Aug. Trần Cao Khải

_________________

[1] simonhoadalat.com

[2] giaophanhatinh.com

[3] gpquinhon.org

[4] LM Giu-se Thân Văn Tường, cựu Giáo sư Tín lý ĐCV thánh Giu-se Sg – Bài “Thờ phượng” – Tập sách “Đối diện với Thiên Chúa” – Gp Long Xuyên – trang 35-36

[5] simonhoadalat.com

[6] LM Nguyễn Trọng Viễn O.P – Bài “Đạo thực dụng” – NS. CGvDT số 309 trang 40-41

[7] simonhoadalat.com

6 CÁCH HIỆU QUẢ ĐỂ ĐÓN NHẬN BÌNH AN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG CUỘC SỐNG

6 CÁCH HIỆU QUẢ ĐỂ ĐÓN NHẬN BÌNH AN CỦA CHÚA GIÊSU TRONG CUỘC SỐNG HÀNG NGÀY

WGPQN – Hãy khám phá cách mà các bạn có thể đón nhận bình an của Chúa Giêsu trong cuộc sống hằng ngày.

Khi Chúa Giêsu sống lại, Ngài đã hiện ra giữa các môn đệ và nói với họ: “bình an cho anh em” (Ga 20,19). Ngài đã ban bình an của Ngài cho các môn đệ và cho cả chúng ta, nhưng bình an giống như tất cả mọi ân huệ của Thiên Chúa, được ban tặng và không áp đặt. Chúng ta có biết đón nhận bình an của Chúa Giêsu không?

  1. Đừng từ bỏ bình an 

Cuộc sống của chúng ta bị mệt mỏi, quá tải, phức tạp và sự yên lặng không chịu đựng nổi những tiếng động ồn ào và hối hả. Thật vậy, nhịp sống của chúng ta không phụ thuộc vào mình, ít là không hoàn toàn, chúng ta có xu hướng phát minh ra những điều trói buộc mình và chúng ta không biết phải làm thế nào. Chúng ta quên rằng Thiên Chúa không bao giờ đòi hỏi chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta có trong tay. Và nhất là chúng ta quên rằng Thiên Chúa xem việc nghỉ ngơi là một giới luật: Ngài ban cho chúng ta sáu ngày để làm việc và ngày Chúa nhật để nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi trong ngày Chúa nhật không phải là thứ gì đó xa xỉ dành riêng cho những người hưu trí, đó là giới răn của Chúa Cha, Đấng biết rõ chúng ta hơn những gì chúng ta cần.

  1. Sống giây phút hiện tại 

Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34). Vậy tại sao lại đầu độc cuộc sống của chúng ta bằng những thứ bận tâm vô ích? “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của. Vì vậy Thầy bảo anh em: “đừng lo cho mạng sống mình, lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? (…) Ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? (…) Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6, 24-33). Sống như người sống lại có nghĩa là đặt cược mọi thứ vào Thiên Chúa; nghĩa là đặt trọn cả niềm tin của chúng ta nơi Chúa, không phải vào những cuốn sổ tiết kiệm hay hợp đồng bảo hiểm của chúng ta; nghĩa là sống như con cái của vị Vua, không lo lắng bất cứ điều gì vì Ngài là Cha của họ, vô cùng nhân hậu và Toàn năng, Ngài không ngừng chăm sóc họ.

  1. Phó thác cho lòng thương xót 

Sự hối tiếc và giày vò chi phối sự bình an. Điều mà Chúa Giêsu mong đợi ở chúng ta là tâm hồn sám hối : “một tấm lòng tan nát giày vò” (Tv 50, 19), tâm hồn của đứa con hoang đàng trở về với Cha. Hối hận và giày vò thật vô ích, nhưng sự ăn năn đặt chúng ta trong bàn tay của Thiên Chúa, cho phép chúng ta đón nhận sự tha thứ và bình an của Ngài. Chúng ta cần phải nhìn vào tội lỗi của mình để xin ơn tha thứ và sửa đổi, tránh xa bao nhiêu có thể những điều sai lỗi mà chúng ta mắc phải. Nhưng đừng “gặm nhấm” tội lỗi của mình mãi: một khi Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta, thì việc quay trở lại với nó sẽ khiến chúng ta nghi ngờ lòng thương xót của Thiên Chúa.

  1. Học cách tha thứ 

Chúng ta biết rõ rằng, không ai có thể đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa nếu không biết thứ tha cho anh chị em mình, không có gì phá rối sự bình an cho bằng sự tha thứ bị từ chối, bị từ chối vì giả tâm (và không phải do bất lực, bởi vì khi quyết định tha thứ là đã sống tha thứ, ngay cả khi bạn không cảm nhận được khả năng tha thứ ngay tức khắc), hoặc bị từ chối vì thiếu hiểu biết, vì bị lãng quên hay bị ức chế bởi những vết thương cũ. Để sống trong bình an, chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa soi sáng để biết tha thứ, điều mà chúng ta phải thi hành.

  1. Để đón nhận bình an chúng ta phải xây dựng nó

Bình an giống như tha thứ: không ai có thể đón nhận được nó chỉ để tiêu dùng nó. Để tận hưởng được sự bình an, cần phải tham gia và trở thành người kiến tạo hòa bình. Gia đình, với tư cách là cộng đoàn, nơi mà bình an luôn được xây dựng, và là một trường học tuyệt vời. Trở thành người kiến tạo hòa bình có thể sẽ phải học hằng ngày qua việc lắng nghe, chia sẻ, tha thứ, kiên nhẫn, kính trọng… bình an được chuẩn bị từ trong gia đình cũng như bắt đầu từ gia đình: một đứa trẻ càng có cơ hội lớn lên cách hài hòa và thanh thản trong gia đình thì nó càng có thể hướng đến người khác, đón nhận người khác như họ là với sự khác biệt và phong phú của họ.

  1. Lấp đầy cuộc sống của mình bằng sự yên lặng đầy yêu thương

Chúng ta giống như những cục pin: nếu không tái tạo năng lượng mỗi ngày, chúng ta sẽ mau chóng bị thải hồi. Cầu nguyện cho phép chúng ta bổ sung năng lượng: người Kitô hữu cầu nguyện nhiều bao nhiêu thì họ được bén rễ trong bình an bấy nhiêu. Thánh Bernađô đã từng nói: “Bạn chỉ cho đi khi bạn bị quá tải: các bạn hãy biến mình thành cái hồ chứa nước trước khi là con kênh”. Để trở nên người có khả năng truyền bá bình an của Chúa Giêsu sống lại cho những người xung quanh, chúng ta phải bắt đầu đón nhận Ngài vô điều kiện.

Tác giả: Christine Ponsard
Chuyển ngữ: G. Võ Tá Hoàng
Từ: aleteia.org
Nguồn: gpquinhon.org

BÍ TÍCH THÁNH TẨY VÀ ƠN GỌI KITÔ HỮU

BÍ TÍCH THÁNH TẨY VÀ ƠN GỌI KITÔ HỮU

WHĐ – Bí tích Thánh tẩy mở đầu cho cuộc sống của kitô hữu, của “người có đạo”. Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo (GLHTCG) dạy rằng: “Những hiệu quả khác nhau của bí tích Rửa tội (Thánh tẩy) được nói lên qua các yếu tố khả giác của nghi thức bí tích” (GLHTCG, 1262). Nhưng bí tích mở đầu cuộc sống này lại chỉ được ban cho mỗi người một lần trong đời, và trong các gia đình “có đạo”, thường được ban khi người này mới lọt lòng mẹ và cần phải có người thay mình đón nhận, tuyên xưng lòng tin và nói lời cam kết như bí tích đòi hỏi. Và có thể, từ ngày chịu phép Thánh tẩy cho tới nay, không ít kitô hữu mới chỉ nắm qua những điều cốt thiết trong bí tích, nhưng chưa có lần nào đích thân tham dự để có thể tận mắt chứng kiến “các yếu tố khả giác” giúp mình hiểu rõ “những hiệu quả khác nhau” của bí tích nền tảng của ơn gọi kitô hữu.

Do đó, quả là một điều ích lợi và cần thiết, từng kitô hữu nên có một lần nghiêm túc đọc lại và suy gẫm từng câu, từng cử chỉ được nói lên và được cử hành trong bí tích khơi mào cho cuộc đời kitô hữu của mỗi người. Và sẽ ích lợi hơn nữa nếu các tín hữu năng đọc và suy gẫm về bí tích Thánh tẩy, nhất là trước khi bước vào những giai đoạn phải có những quyết định mới về cuộc đời của mình, để thấy rõ ơn gọi làm chứng cho tình yêu thương của Đấng đã biến đổi cuộc đời mình, trong thời đại, trong môi trường mình đang sống, để tái xác nhận bổn phận bí tích Thánh tẩy đã trao cho mình thực hiện trong trọn cuộc đời.

Bài viết này chỉ là một gợi ý nhỏ để đọc và suy gẫm về bí tích đem lại ơn gọi kitô hữu của mỗi người chúng ta.

I. Ý NGHĨA VÀ HIỆU QUẢ CỦA BÍ TÍCH THÁNH TẨY

1. Trở thành thụ tạo mới

Đức tin Kitô giáo khẳng định: Người chịu bí tích Thánh tẩy được rửa sạch mọi tội lỗi và được tái sinh trong Chúa Thánh Thần, trở thành “thụ tạo mới” (xem 2Cr 5, 17), sống với một sự sống mới (xem Cv 2, 38; Ga 3, 5).

Sự sống của “thụ tạo mới” này là sự sống “có khả năng Tin vào Thiên Chúa, trông cậy nơi Ngài và yêu mến Ngài nhờ các nhân đức đối thần[1]; có khả năng sống và hành động theo sự tác động của Chúa Thánh Thần nhờ các hồng ân Người ban; và có khả năng tăng trưởng trong điều thiện hảo nhờ các nhân đức luân lý” (GLHTCG, 1266). Sự sống mới chính là sự sống của những người con cái của Thiên Chúa. Tin Mừng kể là sau khi chịu Thánh tẩy, Chúa Giêsu lên khỏi nước, và này trời mở ra và có tiếng từ trời phán: “Ngài là Con chí ái của Ta, kẻ Ta đã sủng mộ” (Mt 3,17).

Thánh Phaolô đã có một đoạn thư nói rất rõ và mạnh mẽ về hiệu quả này:

Tôi xin nói là: hãy bước đi theo Thần khí, và anh em sẽ không làm thỏa đam mê xác thịt. Vì xác thịt có những đam mê chống lại Thần khí; và Thần khí có những đam mê chống lại xác thịt, đôi đàng cự lại nhau, khiến anh em không thể hễ muốn gì là làm được. Nhưng nếu anh em để Thần khí dẫn đi, anh em không phải chịu quyền Lề luật. Mà đã rõ việc vàn của xác thịt, tức là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, ma thuật, hằn thù; kình địch, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè đảng, ganh tị, say sưa, chè chén và các điều khác giống như vậy. Và tôi bảo trước cho anh em hay, như tôi đã từng bảo rồi, là những kẻ làm các điều ấy sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp! Còn hoa quả của Thần khí là: mến yêu, vui mừng, bình an, rộng rãi, tốt lành, lương thiện, tín trực, hiền từ, tiết độ. Không có luật nào chống lại các điều ấy. Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh xác thịt vào thập giá, cùng với các tình dục và đam mê. Nếu sống bởi Thần khí, thì ta cũng hãy hướng theo Thần khí mà tiến bước!” (Galat 5, 16-25)

2. Sự sống mới cũng là sự sống bất tử

Vào đêm Vọng Phục Sinh, 3/4/2010, tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Đức Bênêđictô XVI ban các bí tích Thánh tẩy, Thêm sức và Thánh thể cho sáu người dự tòng đến từ các nước khác nhau. Trong bài giảng thánh lễ hôm ấy, Đức giáo hoàng kể:

Có một câu truyện cổ tích Do Thái có tên là “Cuộc đời của Adam và Evà”. Truyện kể: lần cuối cùng lâm bệnh, Adam sai người con trai tên là Set đi cùng với bà Evà vào Vườn địa đàng để lấy dầu của lòng thương xót về cho ông xức. Ông hy vọng nếu được xức thứ dầu này, ông sẽ khỏi bệnh và sẽ tiếp tục sống.

Set và bà Evà vừa đi vừa khóc lóc và xin mong tìm ra cây sự sống. Tổng lãnh thiên thần Micae hiện ra và nói với hai người là họ sẽ chẳng tìm ra dầu của cây thương xót đâu và Adam sẽ không tránh khỏi cái chết.

Người kitô hữu đọc câu truyện này đã thêm vào câu nói của Tổng lãnh thiên thần Micae một lời an ủi: 5.500 năm sau, vua Kitô, Con Thiên Chúa, sẽ đến, và sẽ dùng dầu của lòng thương xót để xức cho mọi người tin vào Người: “Dầu của lòng thương xót, của sự sống đời đời, sẽ được ban cho tất cả những kẻ sẽ phải được tái sinh từ nước và Thánh Thần. Khi ấy Con Thiên Chúa, giàu lòng yêu thương, Đức Kitô, sẽ xuống trong ngục tổ tông và sẽ đưa cha ngươi lên Thiên đàng, bên cạnh cây của lòng thương xót”.

Trong câu truyện này, vẫn theo Đức giáo hoàng, chúng ta có thể cảm nhận được tất cả nỗi đau khổ của con người trước thân phận của mình: nào bệnh tật, nào khổ đau và nhất là cái chết không ai tránh khỏi. Và cũng rõ ràng là con người không nuốt nổi cái chết nên nghĩ và tin rằng phải có, ở đâu đó, một thứ thần dược chống lại cái chết và rồi sớm muộn gì, con người cũng sẽ tìm ra. Bằng cách này hay bằng cách khác, khoa học vẫn cố gắng tìm cách nếu chưa vô hiệu hóa được cái chết thì ít ra cũng đẩy lui được các nguyên nhân dẫn đến các căn bệnh hiểm nghèo, tạo nên một cuộc sống tốt đẹp hơn, dài lâu hơn, trong khi chờ đợi thần dược của sự bất tử.

Và Đức giáo hoàng khẳng định với những người chịu phép Thánh tẩy hôm đó và với mọi người có mặt: Thứ thảo dược đem lại sự sống đời đời con người hằng mơ ước ấy quả có thật và đã được tìm thấy, nhưng lại không như người ta tưởng tượng. Sự bất tử mà thứ thuốc này tạo nên lại không phải là sự kéo dài đến vô tận sự sống con người đang sống. Thứ thảo dược này đem lại sự sống đời đời cho con người bằng cách biến đổi sự sống của con người tự bên trong, nói cách khác, tạo dựng nơi con người một sự sống mới, một sự sống được tạo dựng với tất cả mọi khả năng để có thể kéo dài vô tận. Sự sống con người sẽ được biến đổi đến độ cái chết sẽ không còn là điểm kết thúc nữa mà, trái lại, sẽ là khởi đầu cho một sự sống trong viên mãn.

Và Đức giáo hoàng giải thích: Thứ thuốc ấy được ban cho chúng ta trong bí tích Thánh tẩy. Đây quả là một tin mừng đối với những ai đang khao khát sự trường sinh bất tử: Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Trong bí tích Thánh tẩy, một sự sống mới bắt đầu nơi chúng ta, sự sống mới ấy lớn lên trong lòng tin và không bị hủy hoại bởi cái chết vốn gắn liền với sự sống cũ, trái lại, sẽ được bộc lộ một cách trọn vẹn trong ánh sáng sau cái chết này.

Dĩ nhiên, có người sẽ thắc mắc: có thực là như vậy không? Làm sao chúng ta có thể hình dung được điều chẳng hề thấy bao giờ này? Bằng cách nào sự sống cũ có thể biến đổi đến độ sự sống mới hình thành và không hề bị hủy hoại bởi cái chết?

Lại một lần nữa, chúng ta được nghe kể một câu truyện cổ của người Do Thái. Câu truyện sẽ giúp chúng ta hình dung được phần nào diễn tiến hay quy trình của sự biến đổi bắt đầu nơi chúng ta với bí tích Thánh tẩy này. Truyện kể: tổ phụ Ênoch một hôm được đưa đến trước ngai Thiên Chúa. Vị tổ phụ run sợ khi được đứng trước các thiên thần sáng láng và trong sự yếu đuối của con người, tổ phụ Ênoch chẳng dám ngước mắt chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa. “Khi ấy, Chúa phán với Micae: ‘Đem Ênoch đi và cởi bỏ y phục trần thế của ông ta, rồi xức dầu cho ông và mặc cho ông bộ y phục của vinh quang’. Và Micae đã làm như Chúa đã phán và tôi, Ênoch kể, được xức một thứ dầu dịu dàng và loại dầu này còn hơn cả một thứ ánh sáng rực rỡ, chói lọi… Sự rực rỡ của nó không khác gì tia sáng mặt trời. Khi tôi nhìn lại mình, tôi như thể là một trong những sinh linh vinh hiển”[2].

Đó chính là điều – việc được mặc chiếc áo mới Thiên Chúa ban – diễn ra trong bí tích Thánh tẩy. Dĩ nhiên, việc thay y phục là một quy trình diễn ra suốt cả cuộc đời của người kitô hữu. Điều diễn ra trong bí tích Thánh tẩy là khởi đầu của một diễn tiến bao trùm trọn cuộc đời chúng ta – đem lại cho chúng ta khả năng tiếp nhận đời đời, đến độ trong bộ y phục ánh sáng của Đức Giêsu Kitô, chúng ta có thể xuất hiện trước nhan Thiên Chúa và sống với Ngài mãi mãi”.

3. Alléluia

Kết thúc bài giảng trong thánh lễ có ban bí tích Thánh tẩy này, Đức giáo hoàng mời gọi mọi người hãy vui mừng: “Quả thực, có thứ dược thảo chống cái chết. Đức Kitô chính là cây sự sống, con người lại có thể tới với cây sự sống này. Nếu chúng ta nên giống Người, chúng ta sẽ được ở trong sự sống. Bởi vậy, trong Đêm Phục sinh này, chúng ta có thể cất tiếng hát Alléluia, bài ca của niềm vui không cần lời. Phaolô đã có thể nói với các tín hữu ở Philip: “Anh em hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn! Tôi xin lặp lại, hãy vui mừng” (Ph 4, 4). Niềm vui chẳng phải là thứ cứ ra lệnh là có được. Chúa đã sống lại đem đến cho chúng ta niềm vui: sự sống đích thực. Từ nay, chúng ta luôn được gìn giữ trong tình yêu thương của Đấng đang nắm trong tay mọi quyền năng trên trời dưới đất” (xem Mt 28, 18).

Sự sống bất tử cũng là niềm khát vọng của con người, ở mọi nơi, và trong mọi thời đại.

II. ƠN GỌI VÀ CAM KẾT CỦA BÍ TÍCH THÁNH TẨY

Người đã chịu bí tích Thánh tẩy, “được tái sinh làm con Thiên Chúa (nhờ bí tích Rửa tội), có bổn phận tuyên xưng trước mặt mọi người đức tin mà họ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa qua Hội thánh và tham dự vào hoạt động tông đồ và truyền giáo của dân Thiên Chúa” (GLHTCG, 1270)

1.  Bổn phận của mọi tín hữu

Tất cả những ai đã chịu bí tích Thánh tẩy, tức mọi kitô hữu, không trừ một ai, dù thuộc thành phần nào trong Giáo hội – Giáo sĩ – Tu sĩ và Giáo dân, – đều có bổn phận làm chứng về sự sống mới mình đã lãnh nhận này. Đặc biệt, giáo huấn của Giáo hội đã không ngừng nhắc nhở anh chị em giáo dân nghĩ tới bổn phận này. Bởi lẽ, trong thực tế, không ít anh chị em nghĩ rằng việc nên thánh, sống đời sống mới, chủ yếu, là việc của hàng giáo sĩ, của các tu sĩ nam nữ, những người, do ơn gọi nhận được, đã từ bỏ thế gian thường vẫn được hình dung là nơi đầy những cạm bẫy và tội lỗi, nơi con người phải vật lộn với đời sống vật chất, suốt ngày, suốt tuần, đầu tắt mặt tối với những công việc đời… chẳng còn thời gian để làm các việc đạo, như đọc kinh, nguyện gẫm, chiêm niệm những sự trên trời, ăn chay, hãm mình phạt xác, tạo cơ hội cho con người sống trong bầu khí thánh thiện… Nên thánh, hay làm chứng về đạo Chúa trong đời sống thường ngày, đối với những người giáo dân, do đó, chỉ có thể là những trường hợp cá biệt!

Để phá tan những suy nghĩ lệch lạc này, Giáo hội, vào những thời điểm đặc biệt, như Công đồng chung Vatican II chẳng hạn, và bằng nhiều cách, bằng Giáo lý, bằng Giáo luật, bằng giáo huấn của các mục tử,… đã không ngừng nhắc nhở anh chị em giáo dân nhớ tới bổn phận làm chứng cho cuộc sống mới mình đã lãnh nhận trong bí tích Thánh tẩy bằng cách sống làm sao để cuộc sống mới này đơm hoa kết trái.

2. Công đồng chung Vatican II

Công đồng chung Vatican II quả đã khơi dậy trở lại ý thức về vị trí, vai trò hay đúng hơn, căn tính của người giáo dân trong Giáo hội và trong xã hội. “Giáo dân đứng hàng đầu” đã từng là một trong những khẩu hiệu thường được nhắc đến một cách sôi nổi, khắp nơi trong Giáo hội công giáo, ít là vào những năm tháng Công đồng nhóm họp (1962-1965).

Khẳng định này, dĩ nhiên, không bao hàm ý tưởng về một cuộc “tranh giành” chỗ đứng giữa giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong Giáo hội mà muốn nhấn mạnh đến việc tái khám phá vai trò của giáo dân, trong thực tế, từng bị xem là thứ yếu trong một Giáo hội ít nhiều sao nhãng sứ vụ chính của mình là Tin Mừng hóa thế giới. Công đồng đã mời gọi Giáo hội khám phá lại “căn tính” của người giáo dân khi nhấn mạnh Giáo hội như mầu nhiệm hiệp thông có tính cách thừa sai trong đó bao hàm tính đa dạng về ơn gọi và tính hiệp nhất nảy sinh từ bí tích Thánh tẩy và từ sứ vụ Đức Kitô đã giao phó cho toàn thể dân Chúa: “Hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo” (Mc 16, 15).

3. Giáo lý và giáo luật

Bộ Giáo luật (Gl.) xuất bản năm 1983 đã cô đọng trong những điều khoản ngắn gọn giáo lý của Giáo hội và của Công đồng chung Vatican II về ơn gọi và sứ vụ của người giáo dân trong Giáo hội. Trước hết, Giáo luật (Gl. 204) khẳng định: Phép Rửa tội (Thánh tẩy) biến chúng ta thành “các tín hữu, được sáp nhập vào Đức Kitô, kết thành Dân của Chúa”. Và Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, được soạn thảo tiếp sau công đồng Vatican II, được ban hành năm 1992, số 872 khẳng định: “Giữa tất cả các Kitô hữu, do việc họ được tái sinh trong Đức Kitô, có sự bình đẳng thực sự về phẩm giá và hoạt động, nhờ đó, tất cả mọi người, tùy theo địa vị và nhiệm vụ riêng của mỗi người, cộng tác vào việc xây dựng Thân Thể Đức Kitô”[3].

Như vậy, sứ vụ tông đồ của Giáo hội liên quan tới tất cả mọi thành phần của Giáo hội, giáo sĩ cũng như giáo dân. Gl. 225 khẳng định: “Xét vì các giáo dân, cũng như mọi tín hữu khác, được Thiên Chúa ủy thác làm việc tông đồ do phép Thánh tẩy và phép Thêm sức, nên họ có nghĩa vụ tổng quát và có quyền lợi xét như từng cá nhân hoặc kết hiệp thành hiệp hội, phải làm sao để sứ điệp cứu rỗi của Thiên Chúa được mọi người khắp thế giới biết đến và đón nhận. Nghĩa vụ này lại càng thôi thúc hơn trong những hoàn cảnh mà chỉ có thể nhờ các giáo dân, người ta mới có thể nghe Tin Mừng và biết Đức Kitô”. Tuy nhiên, trong việc thực thi nghĩa vụ tổng quát do phép Thánh tẩy và phép Thêm sức này, mỗi thành phần đều có vai trò riêng hay một ơn gọi riêng.

4. Môi trường thực thi ơn gọi của riêng giáo dân

Ơn gọi riêng của người giáo dân được khẳng định trong GLHTCG, số 898, như sau: “Ơn gọi riêng của giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ có nhiệm vụ đặc biệt là soi sáng và xếp đặt những thực tại trần thế có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng được thực hiện và phát triển theo thánh ý Chúa Kitô, hầu ca tụng Đấng Tạo hóa và Đấng Cứu Chuộc” (xem LG 31).

Trong khi thi hành bổn phận của mình: “Các giáo dân phải lo sao cho mọi hành động của họ được thấm nhập bằng tinh thần Tin Mừng, và họ phải để ý đến đạo lý do quyền giáo huấn của Giáo hội đề ra. (Gl. 227). Và GLHTCG còn nói rõ: “Giáo dân hãy nhớ rằng trong mọi lãnh vực trần thế, lương tâm Kitô giáo phải luôn hướng dẫn họ, vì không một hoạt động của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa” (số 912; xem LG 36).

5. Cách thức thực thi ơn gọi này của giáo dân

Các vị chủ chăn đã không ngần ngại đi vào chi tiết khi nói về môi trường nên thánh, về bổn phận rao giảng Tin Mừng của người giáo dân.

Trong thông điệp gửi cho Giám mục Domenico Sigalini, tổng trợ tá của Diễn đàn quốc tế về Công giáo Tiến hành (FIAC), trong khuôn khổ của Đại hội thường kỳ lần VI của tổ chức này, được khai mạc ngày 22/8/2012, tại Rumani, về chủ đề “ đồng trách nhiệm trong Giáo hội và trong xã hội”, Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã kêu gọi phải có một sự “ thay đổi não trạng”, đặc biệt, về vai trò của giáo dân trong Giáo hội, vốn “phải được xem như những người đồng trách nhiệm thực sự, chứ không phải như các cộng sự của hàng giáo sĩ” trong sứ vụ Chúa trao cho Giáo hội và từng kitô hữu.

Thông điệp viết thêm: Giáo dân, do ơn gọi kitô hữu, có sứ vụ “vun xới các quan hệ cá nhân đích thực với mọi người”, bắt đầu từ “trong gia đình”, và “sẵn sàng tham gia, ở mọi cấp bậc của đời sống xã hội, văn hóa và chính trị” có mục tiêu “lợi ích xã hội”.

Đối với Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, cuộc đời làm chứng ấy của họ phải “trong suốt”, “được thúc đẩy bởi Tin Mừng” và “được soi sáng bởi sự gặp gỡ với Đức Kitô, Đấng mình yêu quý và không ngần ngại đi theo”.

Ngài khuyến khích họ trong chiều hướng “luôn tìm cách mài bén, với một nền đào tạo nghiêm túc và thường ngày, các khía cạnh của ơn gọi riêng của người giáo dân, được kêu gọi trở thành những chứng nhân can đảm và đáng tin cậy trong mọi môi trường của xã hội”.

Qua họ, Đức giáo hoàng tuyên bố, Tin Mừng trở thành “ánh sáng đem lại hy vọng trong những hoàn cảnh có vấn đề, trong những khó khăn, u tối” của thế giới ngày nay.

Bởi vậy, Ngài khuyến khích anh chị em giáo dân, hãy hiện diện trong lòng thế giới, như “một nơi thử nghiệm của việc toàn cầu hóa tình liên đới và bác ái”, và có “can đảm đưa ra những đề nghị có tính đòi hỏi”, để “lớn lên, với toàn thể Giáo hội, trong sự đồng trách nhiệm trong việc đề ra một tương lai đầy hy vọng cho nhân loại”[4].

Như vậy, trước khi là giáo sĩ, tu sĩ, mọi kitô hữu đã được mời gọi, ngay từ khi nhận bí tích Thánh tẩy, từ bỏ sự sống cũ; sống và làm chứng về sự sống mới bằng chính cuộc sống thường ngày của mình: và thực thi cuộc sống mới, trong từng giây, từng phút của cuộc đời, tại trường học, hay tại ruộng, vườn, tại trang trại chăn nuôi, tại chợ, nơi công xưởng, bệnh viện… Người kitô hữu luôn được đặt trước sự chọn lựa và mỗi khi chúng ta chọn thể hiện sự sống mới, chúng ta trở thành những chứng nhân, những người rao giảng Tin Mừng cho người khác, cho thế giới xung quanh chúng ta. Là kitô hữu, nhưng tiếp tục sống cuộc sống cũ, cuộc sống ấy trở thành một phản chứng.

III. THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA BÍ TÍCH THÁNH TẨY

Ngoài các nghi lễ phụng vụ, những việc đạo đức người kitô hữu họp nhau cử hành tại nhà thờ, ngoài các công việc bác ái, từ thiện như mở những lớp học, những ngôi nhà tình thương, tổ chức những nồi cháo, những bữa ăn bác ái cho người bệnh neo đơn tại các bệnh viện. người kitô hữu còn được mời sống cuộc sống mới trong những công việc thường ngày, trong các môi trường sống và làm việc của mình. Và đây chính là một bổn phận phải được chu toàn mà bí tích Thánh tẩy đòi hỏi nơi người giáo dân. Và kết quả thấy được của việc chu toàn bổn phận này phải là sự cải thiện của môi trường xung quanh.

1. Một thực tế: Xây dựng chương trình rau sạch

Linh mục H. phụ trách một giáo xứ có đông bổn đạo làm nghề trồng rau để cung cấp cho thị trường đã bày tỏ nỗi ưu tư lớn của mình: Hiện tại, các nhà trồng rau, làm nông nghiệp, không chỉ ở trong giáo xứ mà có thể trên cả nước, đang đứng trước những cám dỗ to lớn. Khoa học kỹ thuật đang cung cấp cho họ những phương tiện có hiệu năng ngoài sức tưởng tượng. Chỉ một đêm hay trong mấy tiếng đồng hồ là người ta đã có thể biến đổi gần như hoàn toàn sản phẩm của mình theo chiều hướng “đi xuống” về chất lượng nhưng lại “đi lên” về mặt hình thức: từ sần sùi biến thành láng bóng, từ xanh thành chín mùi, từ nhỏ thành lớn, tròn trịa…

Nhưng, theo các nhà chuyên môn trên thế giới cũng như trong nước, đó là những “phép lạ” được thực hiện bằng hóa chất độc hại cho sức khỏe của người tiêu dùng. Mà cũng chẳng cần phải nhờ tới các nhà chuyên môn, bản thân người nông dân cũng có thể cho thấy sản phẩm họ sản xuất ra không an toàn đến mức độ nào khi họ phải trồng riêng một luống rau để gia đình sử dụng. Trước tình trạng các loại thực phẩm không an toàn đang từng ngày hủy diệt sức khỏe, tiền của và mạng sống con người, nhiều phong trào trên thế giới và đặc biệt trong Hội Thánh ra sức bảo vệ sự sống mong manh của con người. Linh mục đặt ra cho mình một câu hỏi: Vậy tại sao những điều phải nói là đáng sợ và kinh tởm đe dọa mạng sống con người qua từng miếng ăn thức uống lại có thể ở ngoài lãnh vực mục vụ của một linh mục ni riêng và của giáo xứ nói chung?

Thực ra, trong giáo xứ do linh mục phụ trách, cũng đã có không ít anh chị em, trước tình trạng ô nhiễm phổ quát này, đã bắt đầu ý thức được bổn phận của mình, không chỉ bổn phận làm người mà còn là bổn phận làm kitô hữu, là phải trở về với chức năng đích thực của nghề trồng trọt là cung cấp những sản phẩm là thực phẩm thực sự, lành mạnh. Linh mục H. cũng có cùng ưu tư như họ và ngài đã mời họ nhớ lại công việc tạo dựng của Thiên Chúa:

Các bạn hãy đọc lại những chương đầu của sách Sáng thế để mường tượng thể nào là sản phẩm của Tình Yêu. Thiên Chúa dựng nên trời đất và mọi sự trong trời đất, trong đó có con người, trong vòng sáu ngày. Thánh Kinh kể: cứ sau mỗi ngày, Thiên Chúa lại nhìn ngắm sản phẩm do tay mình làm ra, và sau mỗi lần nhìn ngắm, Thánh Kinh đều lặp lại: “Và Thiên Chúa đã thấy thế là tốt lành” (Kn 1, 4, 10, 12, 18, 21, 25). Và cuối ngày cuối cùng, trước khi bước sang ngày thứ Bảy để nghỉ ngơi, Thánh Kinh viết: “Và Thiên Chúa đã thấy mọi sự Người đã làm ra: “và này tốt lành quá đỗi” (31).

Câu chuyện hẳn phải là một bài học, một lời khuyến khích đối với mọi kitô hữu đang hoạt động trong các môi trường khác nhau, trong đó, dĩ nhiên là có môi trường sản xuất rau.

Và vị linh mục này đã cùng với số anh chị em giáo dân trong giáo xứ của mình bắt đầu suy nghĩ, bàn bạc, truy tìm thông tin, tham khao… để tìm ra một giải pháp cho vấn đề rau sạch, rau an toàn của các nhà trồng rau trong giáo xứ.

Chẳng thể ngây ngô để nghĩ rằng đây là chuyện đơn giản. Khó khăn tiếp nối khó khăn, từ nhỏ tới lớn, từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp. Chương trình sản xuất rau an toàn, rau sạch còn liên quan đến nhiều vấn đề khác nữa.

Linh mục nhìn nhận: công việc căn bản nhất phải làm là làm sao để anh chị em giáo dân ý thức, ngày càng rõ ràng và xác tín, việc thay đổi căn bản đã diễn ra nơi mỗi người bởi bí tích Thánh tẩy mỗi người đã lãnh nhận để trở thành kitô hữu.

2. Niềm tin

Chương trình rau sạch của giáo xứ do linh mục H. phụ trách cùng với một số anh chị em giáo dân trong giáo xứ của linh mục, dĩ nhiên, vẫn được tiếp tục, với niềm tin ở kết quả tốt đẹp. Niềm tin này, linh mục cho biết, được xây dựng trên tổ chức của giáo xứ:

– Bà con giáo dân có cơ hội gặp nhau ít là hằng tuần để cử hành phụng vụ. Đây là dịp để mọi người nghe nhắc lại lời kêu gọi của Chúa, giáo huấn của Giáo hội về bổn phận sống cuộc sống mới trong môi trường xã hội.

– Giáo xứ có đầy đủ các hội đoàn dành cho mọi lứa tuổi. Đối với một số hội đoàn, đây sẽ là dịp để mọi người nhìn kỹ vào môi trường xã hội mình đang sống, nhận ra những thuận lợi và nguy cơ, tìm ra những biện pháp thích hợp để đối phó với các nguy cơ và khuếch trương các thuận lợi trong chiều hướng đẩy mạnh chương trình đề ra.

Kết thúc bài “giảng” cổ vũ cho chương trình rau sạch trong một buổi họp về chương trình này, linh mục đã nói lên niềm tin tưởng của mình: chúng ta đã có luật của Tin Mừng nhắc nhở chúng ta bổn phận làm người và làm con Chúa; chúng ta có giáo huấn xã hội của Giáo hội giúp chúng ta áp dụng luật của Tin Mừng trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống làm người kitô hữu trong xã hội, chúng ta có tổ chức giáo xứ để mọi người giúp đỡ nhau, nhắc nhở nhau, liên đới với nhau trong việc thực thi ơn gọi là người tín hữu, và còn bao nhiêu người khác cũng đang nỗ lực xây dựng một xã hội lành mạnh trên nền tảng của sự tôn trọng con người và thân thiện với thiên nhiên… Nghĩa là chúng ta không thiếu những điều kiện thuận lợi để làm đồng loại của nhau, đặc biệt, qua chương trình rau sạch, rau an toàn, và nhất là để sống, để thể hiện một cách cụ thể niềm tin của chúng ta nơi Thiên Chúa.

Lòng tin đích thực, được gọi là vững chắc, không thể mang dáng dấp của sự ỷ lại: tin và khoanh tay ngồi chờ, như thể Chúa buộc phải làm phép lạ, vì người ta đã có lòng tin vào Ngài, qua việc cử hành và tham dự các nghi lễ đạo. Thể hiện niềm tin kitô hữu chính là đem hết khả năng của trí tuệ và con tim của mình để cải thiện môi trường xã hội chúng ta đang sống, đẩy lui tội lỗi và xây dựng cuộc sống mới cho chúng ta và cho người khác.

Trong cuộc sống ngày nay, nếu không ít những phát minh, sáng kiến của đầu óc con người đã được sử dụng để tăng sức mạnh cho tội ác, tiếp tay với ma quỷ, thì cũng vẫn còn chỗ cho người tin ở Chúa, những người thiện chí sử dụng khối óc, con tim và niềm tin của mình để làm cho cuộc sống này trở nên tốt đẹp, làm cho cuộc sống của đức tin ngày càng trở nên một bài ca hoàn hảo tôn vinh bàn tay tạo dựng khéo léo của Thiên Chúa.

IV. KẾT LUẬN

Những thửa vườn rau sạch, những mớ rau an toàn có thể đang là một thách thức đối với ơn gọi làm chứng cho sự sống mới, sự sống Thiên Chúa các kitô hữu đã nhận được qua bí tích Thánh tẩy: Sản phẩm của tình yêu thương, việc làm của người muốn giữ trọn luật của Chúa là trở thành đồng loại của nhau không thể là những mớ rau, những cân thịt chứa đầy chất độc hại như chúng ta thấy hằng ngày.

Một người ngoài Công giáo, đi qua một vùng có ngôi nhà thờ, trên tháp cao của nhà thờ có cắm cây thánh giá, biểu tượng của tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người và dấu nhắc nhở những người tin ở Người rao giảng tình thương ấy cho mọi người xung quanh mình, có thể nói với nhau: chỗ này có đông người Công giáo sinh sống. Họ sống bằng nghề trồng rau. Rau họ bán ra hẳn phải là rau an toàn. Nhưng nếu những mớ rau họ mua trong vùng này cũng chứa đựng những chất có hại cho sức khỏe của người khác, những người này hẳn sẽ kết luận: họ cũng chẳng khác gì người khác. Thánh giá chúng ta có trách nhiệm rao giảng như tình thương cứu độ của Thiên Chúa trở thành một phản chứng đối với những người chúng ta có trách nhiệm làm chứng về tình thương yêu của Ngài dành cho họ.

Tác giả: Mai Tâm

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 108 (Tháng 9 & 10 năm 2018)

[1] Những nhân đức thích ứng các tài năng của con người để dự phần vào bản tính thần linh (GLHTCG, 1812).

[2] Ph. Rech, Inbild des Kosmos, II 524

[3] xem Gl. 208; Hiến chế Ánh sáng muôn dân [Lumen Gentium (LG)], số 32

[4] ROMA, thứ Năm 23/8/2012 (ZENIT.org)

Mười trích dẫn tuyệt vời giúp bạn hiểu về ý nghĩa thực sự của lễ Giáng Sinh

Mười trích dẫn tuyệt vời giúp bạn hiểu về ý nghĩa thực sự của lễ Giáng Sinh

Một kinh nghiệm là cái vũng vụ tận của những bữa tiệc, quà tặng, ãn uống, ãn uống và nhóm họp, ánh sáng rực rỡ, chè chén thâu đêm suốt sáng trên hết. Một kinh nghiệm Giáng Sinh khác, đó là nét chân và mỹ của những gì đã xảy ra vào dịp Giáng Sinh; Thiên Chúa trở nên người phàm và đã đi vào thế giới như một hài nhi bé bỏng bị bỏ rơi. Bao nhiêu công việc bận rộn đổ dồn vào ngày Lễ Giáng Sinh làm cho người ta dễ dàng quên đi những gì đang thật sự diễn ra. Chính vì thế, chúng tôi đã soạn ra những trích dẫn tuyệt diệu này để giúp bạn phản tỉnh về những gì thật sự là một Mùa Giáng Sinh thánh thiện và tuyệt mỹ.

1. “Giáng Sinh là ngày lôi cuốn toàn bộ những khoảnh khắc lại với nhau.” _ Alexander Smith

2. “Hãy vui lên với một niềm vui vĩ đại và đầy tốt lành, vì một Vị Thiên Chúa đang cư ngụ trong cung lòng Trinh Nữ đã muốn xuất hiện như một kẻ bị loại trừ, bị xem thường và nghèo hèn trong thế giới này, đến nỗi những ai đang ở trong cảnh túng quẫn và đau khổ tột cùng cần đến lương thực từ trời cao đều có thể được thoả thuê trong Người.” _ Thánh Clara Assisi

3. “Và cuối cùng… mọi sự khác hoá ra chẳng quan trọng và chẳng thiết yếu gì ngoại trừ điều này: Chúa Cha, Hài Nhi và Tình Yêu.” _ ĐTC Gioan Phaolo II

4. “Khi đối diện với những kẻ căm ghét và giận dữ thế giới, chúng ta phải mang đến sự hiền lành và nụ cười của Hài Nhi Giê-su ở Be-lem. Khi đối diện với những kẻ kiêu ngạo, chúng ta phải mang đến sự nhỏ bé và yếu đuối của một Hài Nhi mới sinh mong manh trong máng cỏ.” _ Người em bé nhỏ Magdeleine

5. “Ân sủng đã được mặc khải cho thế giới của chúng ta là chính Đức Giê-su… Ngài đã đi vào trong lịch sử của chúng ta; Ngài đã chia sẻ với ta trong cuộc lữ hành. Ngài đã đến để giải thoát chúng ta khỏi bóng đêm và ban cho chúng ta ánh sáng. Trong Ngài ân sủng, lòng thương xót và Tình yêu trìu mến của Cha đã được tỏ lộ.” _ ĐTC Phanxicô

6. “Giáng Sinh không tẩy xoá hết thế giới sự dữ… sẽ vẫn còn đau yếu, những đau khổ vô nghĩa, những vỡ mộng và những mùa lạnh lẽo cô độc khi mà Tình yêu đang rời xa dần. Giáng Sinh không hứa một thiên đàng ngay trên mặt đất này… Nó hứa cho chúng ta, ngay lúc này đây trên trái đất … có sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của chúng ta.” _ Ronald Rolheiser, O.M.I

7. “Người đã được sinh ra bởi một người mẹ mà chính Ngài đã tạo dựng nên. Người đã được cưu mang bởi đôi bàn tay mà chính Ngài đã khuôn đúc nên. Ngài đã khóc trong một máng cỏ với tuổi thơ lặng lẽ. Ngài – Ngôi Lời, không có Ngài thì tất cả mọi lời lẽ hùng hồn của nhân loại đều bị câm nín.” _ Thánh Augustinô

8. “Chỉ khi con người thay đổi thì thế giới này sẽ đổi thay; và để thay đổi, con người cần ánh sáng đến từ Thiên Chúa, thứ ánh sáng quá kinh ngạc [trong đêm Giáng Sinh] đã chiếu vào trong bóng tối của chúng ta.” _ ĐTC Benedictô XVI

9. “Chúng ta khao khát có thể tiếp đón Chúa Giê-su trong dịp Giáng Sinh, không phải trong một máng cỏ lạnh lẽo nơi trái tim của chúng ta, nhưng trong một trái tim đầy tràn Tình yêu và sự khiêm hạ, trong một trái tim tinh tuyền, trong suốt và ấm áp với Tình yêu dành cho nhau.” _ Chân Phước Teresa of Calcutta

10. “Nhân loại thật là tuyệt diệu, một gia đình rộng lượng … Điều này được tỏ cho ta thấy qua những gì ta cảm nhận trong trái tim mình vào dịp Lễ Giáng Sinh.” _ ĐTC Gioan XXIII

Tác giả: Ruth Baker catholic-link.org

Chuyển ngữ: Trương Minh Cao, S.J. (dongten.net)

Sắc lệnh ban các ơn toàn xá đặc biệt nhân dịp Năm đặc biệt về thánh Giuse

Sắc lệnh ban các ơn toàn xá đặc biệt nhân dịp
Năm đặc biệt về thánh Giuse

Ngày 8/12/2020, cùng với việc Đức Thánh Cha ban hành Tông thư “Patris corde” – Trái tim người cha, công bố Năm đặc biệt về thánh Giuse, Tòa Ân giải Tối cao đã công bố sắc lệnh ban các ơn toàn xá đặc biệt nhân dịp Năm đặc biệt này.

Sắc lệnh nói rằng với Năm đặc biệt về thánh Giuse, “tất cả các tín hữu sẽ có cơ hội dấn thân, bằng những lời cầu nguyện và những việc lành, để với sự giúp đỡ của thánh Giuse, người đứng đầu Gia đình Nazareth trên trời, được an ủi và xoa dịu khỏi những đau khổ trong xã hội và của con người, đang gây ra cho thế giới của chúng ta ngày nay ”.

Lòng sùng kính Thánh Giuse

Sắc lệnh được ký bởi Đức Hồng Y Mauro Piacenza, Chánh án Tòa Ân giải Tối cao, và Cha Krzysztof Nykiel, lưu ý rằng lòng sùng kính đối với Thánh Giuse đã phát triển rộng rãi trong suốt lịch sử của Giáo hội, “điều này không chỉ dành cho ngài sự tôn kính cao trọng chỉ sau Mẹ Thiên Chúa, nhưng còn dành cho ngài nhiều sự bảo trợ.”

Đồng thời, Huấn quyền của Giáo hội tiếp tục khám phá “điều vĩ đại cũ và mới trong kho tàng này là Thánh Giuse, giống như ông chủ trong Tin Mừng thánh Matthêu, người đã mang từ kho của mình cả cái mới và cái cũ”.

Do đó, các ơn toàn xá được ban thông qua sắc lệnh của Tòa Ân giải Tối cao, theo sự ủy quyền của Đức Thánh Cha, “sẽ có ích lợi to lớn cho việc đạt được mục đích đã định.”

Những điều kiện để nhận ơn Toàn xá

Ơn Toàn xá được ban với các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha) cho các tín hữu có lòng xa tránh mọi tội lỗi, sẽ tham dự Năm đặc biệt về thánh Giuse trong những dịp và theo cách thức được Tòa Ân giải Tối cao chỉ định:

Thứ nhất, Ơn Toàn xá được ban cho những người suy niệm ít nhất là 30 phút kinh Lạy Cha, hoặc tham dự một cuộc tĩnh tâm ít nhất là một ngày với một bài suy niệm về thánh Giuse.

Thứ hai, những người theo gương thánh Giuse, thực hiện một việc thương xót về thể lý hay thiêng liêng, cũng có thể được nhận Ơn Toàn xá.

Thứ ba, Ơn Toàn xá được ban cho những người đọc kinh Mân Côi trong gia đình và giữa những người đính hôn.

Thứ tư, Ơn Toàn xá được ban cho bất cứ ai hàng ngày phó thác công việc của mình cho sự bảo vệ của Thánh Giuse và bất kỳ tín hữu nào cầu nguyện, xin sự chuyển cầu của Người Thợ thành Nazareth, để những người đang tìm công việc có thể tìm được việc làm và để công việc của mọi người được xứng đáng hơn.

Thứ năm, Ơn Toàn xá được ban cho những tín hữu sẽ đọc kinh cầu thánh Giuse hoặc một kinh thánh Giuse khác, phù hợp với các truyền thống phụng vụ khác, để cầu nguyện cho Giáo hội bị bách hại bên trong và bên ngoài, và cho tất cả các Ki-tô hữu đang chịu mọi hình thức bách hại được cứu giúp.

Vị thánh hoàn vũ

Để khẳng định lại tính phổ quát của sự bảo trợ của thánh Giuse đối với Giáo hội, ngoài những dịp đã nói ở trên, Tòa Ân giải Tối cao ban Ơn Tòa xá cho các tín hữu sẽ đọc bất kỳ lời cầu nguyện đã được phê chuẩn hợp pháp hoặc làm một việc đạo đức để tôn vinh thánh Giuse, đặc biệt là vào các ngày 19 tháng 3 và 1 tháng 5, vào Lễ Thánh Gia Thất Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse, vào Chúa Nhật thánh Giuse (theo truyền thống Byzantine), vào ngày 19 hàng tháng và mỗi thứ Tư, ngày theo truyền thống Latinh được dành riêng kính nhớ thánh Giuse.

Đối với người già và bệnh nhân

Sắc lệnh cũng nói rằng trong hoàn cảnh khẩn cấp về sức khỏe, Ơn Toàn xá đặc biệt được ban cho những người cao niên, các bệnh nhân, những người hấp hối và cho tất cả những người vì lý do chính đáng không thể rời khỏi nhà.

Họ được nhận Ơn Toàn xá nếu có lòng xa tránh tội lội và với ý định hoàn thành, càng sớm càng tốt, ba điều kiện thông thường và thực hiện một việc đạo đức để tôn kính thánh Giuse, nguồn an ủi người bệnh và Đấng bảo trợ sự chết lành, dâng lên Thiên Chúa những đau đớn và khó chịu trong cuộc sống của họ với lòng tin tưởng.

Vai trò của các linh mục

Cuối cùng sắc lệnh yêu cầu các linh mục tạo cơ hội thuận tiện, sẵn sàng và quảng đại cử hành bí tích giải tội và trao Mình Thánh cho các bệnh nhân.

 Nguồn: vaticannews.va

CỘNG TÁC VỚI CHÚA

CỘNG TÁC VỚI CHÚA

Chuyện kể rằng một bà già bị đau răng, bà đã làm Tuần chín ngày để kính thánh Antôn, vì người ta nói: Thánh Antôn “chuyên trách” về bệnh này.

Hết Tuần chín ngày bà vẫn còn đau. Lúc đó một vị linh mục đến thăm. Bà liền hỏi:- Xin cha nói cho con biết: có phải thánh Antôn chuyên trách bệnh đau răng không?

Vị linh mục nói:- Bà hãy nghe tôi: Đây là địa chỉ của nha sĩ. Hãy đến đó và nói là tôi giới thiệu, họ sẽ làm không công cho bà.

Bà già la lên:- Trời đất ơi, một ông linh mục vô thần

Thánh Antôn ở trên trời cao tự nhủ:-  Kể ra cũng đau lòng, để nhận lời cầu nguyện của bà, chính ta đã gởi đến cho bà vị linh mục này. Thế mà!

Cộng tác với ơn Chúa là điều kiện để Chúa ban ơn. Chúng ta không thể chỉ thụ động chờ Chúa làm phép lạ, nhưng hãy sử dụng hết những phương tiện bình thường Chúa ban. Phần còn lại tùy Chúa định liệu cho ta.

Thánh Ignatio de Loyola đã cho chúng ta lời khuyên bất hủ này: “Hãy làm như thể mọi việc tùy thuộc chúng ta, và hãy cầu nguyện như thể mọi việc tùy thuộc Thiên Chúa”. McKenzie nói: “Khi ta cố gắng làm những gì có thể, Thiên Chúa sẽ làm những điều chúng ta không thể”.

Thiên Chúa ban cho chúng ta quyền tự do, Người không thúc ép, nhưng để chúng ta toàn quyền sử dụng tự do của mình. Thiên Chúa không đối xử với chúng ta như những con bù nhìn, nhưng luôn coi trọng chúng ta như những cộng tác viên của Người.

Trong các phép lạ Chúa làm, Người đều cần sự cộng tác của con người:

– Trong tiệc cưới Cana, Chúa chỉ làm phép lạ khi người ta đã “múc nước đổ đầy các chum” (Ga 2,7).

– Trong phép lạ về bánh, Người chỉ làm cho bánh hoá nhiều khi “có 5 chiếc bánh và 2 con cá (Mc 6,35-43).

– Khi chữa mắt cho người mù, Người chỉ thoa bùn vào mắt anh, còn phần anh phải đi rửa ở hồ Silôê mới được sáng mắt (Ga 9,1-40).

Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng hết các khả năng của mình, và Người sẵn sàng can thiệp khi cần. Ngạn ngữ Tây phương có câu: “Hãy tự giúp mình trước rồi Trời sẽ giúp sau”.

Lạy Chúa, Chúa yêu thương chúng con với trái tim của người cha người mẹ, Chúa để chúng con hoàn toàn tự do đáp lại tình yêu Chúa. Xin cho chúng con luôn biết sống thảo hiếu, đẹp lòng Chúa.

Xin dạy chúng con biết cộng tác với ơn Chúa, để được Chúa ban ơn trợ giúp trong những cơn gian nan khốn khó. Amen!

Thiên Phúc – Trích trong “Như Thầy Đã Yêu”

DỌN MÌNH CHẾT LÀNH: VIỆC ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC CHA DON BOSCO KHUYÊN LÀM

DỌN MÌNH CHẾT LÀNH: VIỆC ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC CHA DON BOSCO KHUYÊN LÀM

Không nghi ngờ gì, tất cả chúng ta sẽ chết vào một ngày nào đó; ngày đó sẽ không một ai biết trước. Chính Chúa Giêsu cũng lặp lại điều này nhiều lần trong Giáo huấn của Ngài, và luôn dạy các môn đệ phải tỉnh thức và sẵn sàng.

Cái chết là một phần của con người. Chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng cho cái chết không phải là trạng thái sống bi quan, nhưng là sức mạnh và vũ khí của những con người khôn ngoan thực sự.

Sự tiến bộ khoa học trong lĩnh vực y tế là cần thiết cho sức khỏe con người, nhưng rõ ràng, nó không thể làm chúng ta quên đi một điều tất yếu của cuộc sống con người: việc đối diện với cái chết. Cái chết như một bước trung gian dường như không thể thay thế cho người Kitô hữu trong hành trình trở về nhà Cha. Càng chuẩn bị kỹ lưỡng bao nhiêu, chúng ta càng có một cuộc trở về đẹp và rộn ràng tiếng cười bấy nhiêu. Thật dễ dàng để hiểu được lý do tại sao chúng ta không muốn chết một cách đột ngột hoặc không lường trước được.

Chúng ta đã từng chứng kiến ai đó nằm trên giường bệnh trong một thời gian dài. Và đó có thể là gánh nặng cho những người khác. Nhưng trong khóe nhìn tích cực, đó lại là một món quà tuyệt vời khi ai đó đang phải đối diện với những thử thách trên giường bệnh, bởi họ có thể nhìn thấy bạn bè và gia đình, suy gẫm về chặng đường đã qua, và có cơ hội hòa giải với những người khác. Quan trọng hơn hết, đây là thời gian quý báu cho việc dọn mình chết lành của họ. Và không phải ai cũng có được món quà đó.

Thực tế, chúng ta lại chứng kiến những biến cố khác. Biến cố của những bất ngờ ra đi trong một tai nạn nào đó, hoặc một số sự kiện mà không còn thời gian để chuẩn bị. Nếu chúng ta chưa sẵn sàng cho cái chết, Giáo hội vẫn nhận thấy là hợp lý để cầu xin Thiên Chúa và phó thác trong tay Ngài, ban cho chúng ta thêm một chút thời gian để chuẩn bị cho ngày đó.

Dọn mình chết lành: phương thế hữu hiệu để chuẩn bị cho cái chết

Don Bosco, một nhà giáo dục luôn có tầm nhìn trong phương pháp giáo dục người trẻ toàn diện. Ngài luôn dự liệu không chỉ cho cuộc sống đời này, mà còn hướng đến cuộc sống mai sau của tất cả học sinh. Don Bosco không ngừng gieo rắc và khơi dậy nơi học sinh của mình một thái độ sống luôn sẵn sàng đón nhận cái chết bất ngờ; đến nỗi, họ có thể tự tin để thốt ra như Đaminh Saviô:

“Nếu Chúa gọi con ngay lúc này, con vẫn cứ vui chơi thoả thích”.

Trong Bút tích của Don Bosco gửi các Salêdiêng, Don Bosco đã nhắc nhớ họ rằng: “Có thể nói phần căn bản của việc đạo đức và một cách nào đó bao hàm các việc đạo đức khác chính là việc Cấm phòng năm và Dọn mình Chết lành hằng tháng”. Điều cơ bản để chuẩn bị tốt cho phần linh hồn vẫn được thực hiện trong đời sống của những người con của Don Bosco cho đến ngày nay.

Đây không phải là phần dư thừa hay thêm vào cho phong phú trong chương trình sống hằng tháng. Đó như một lời mời gọi không thể từ chối. Do đó, “mỗi lần ai bận công việc không thể Dọn mình Chết lành chung được, sẽ làm riêng một mình. Ai bận công việc không thể dùng cả ngày cho việc  này, sẽ dành một phần trong ngày và gác các công việc không thực sự cần thiết sang một ngày khác”.

Don Bosco còn khuyên cách cụ thể hơn: “Mọi người phải xưng tội ngày đó cách kỹ lưỡng hơn thường lệ, tựa như lần xưng tội cuối cùng trong đời, rồi hiệp lễ như Của Ăn Đàng. Và đừng bao giờ quên việc thực hành Dọn mình Chết lành hàng tháng”. [1]

Cũng nói thêm rằng, đây cũng là truyền thống lâu đời trong đời sống của Giáo hội. Do đó, lời thỉnh cầu được trích từ Kinh Các Thánh trong sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo: “Lạy Chúa, xin giải cứu chúng con khỏi cái chết bất thình thình và không lường trước được”, được Giáo hội khuyên đọc cách thường xuyên mỗi ngày. Hy vọng, nếu đó là thánh ý Thiên Chúa, ngài sẽ ban cho chúng ta cái chết được chuẩn bị kỹ lưỡng và trọn vẹn.

Đồng Hành

[1] Có nhiều mẫu kinh Dọn mình Chết lành, tùy theo Hội dòng hoặc các Tổ chức Công giáo tiến hành có thể chọn lựa.

CẦU NGUYỆN

CẦU NGUYỆN

“Cầu nguyện thinh lặng…nghĩa là thường xuyên dành thời gian ở một mình với Chúa, Đấng mà chúng ta biết yêu thương chúng ta” (Thánh Tê-rê-xa Avila, Tiểu Sử Tự Thuật 8,5).

Câu chuyện minh họa:

Ở tù về, tôi được nhiều người chất vấn: “Cha sướng thật, trong tù cha đã có nhiều thời giờ để cầu nguyện!” Không phải đơn giản như các bạn nghĩ đâu! Chúa đã cho tôi có dịp hiểu rõ sự yếu đuối thể lý và tinh thần của tôi. Thời giờ trong tù trôi qua chậm rãi, đặc biệt trường hợp của những ai bị biệt giam. Bạn hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng thinh lặng … thấy lâu dài cách kinh khủng. Khi thinh lặng ấy kéo dài từng năm, thì nó trở thành đời đời … Ông bà ta thường bảo: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại, nghĩa là, một ngày trong tù dài bằng ngàn thu tự do”.

Có những lúc quá đau, quá mệt không đọc được một kinh.

Tôi nhớ lại chuyện ông già Jim. Cứ mỗi ngày lúc 12 giờ trưa ông ta vào nhà thờ không quá hai phút. Ông từ (giữ nhà thờ) rất thắc mắc theo dõi, rồi một hôm chận ông Jim lại và hỏi:

– Tại sao bác vào đây mỗi ngày?

– Tôi đến cầu nguyện.

– Không thể được! Kinh gì trong hai phút?

– Tôi vừa già, vừa dốt, đọc kinh theo kiểu của tôi.
– Ông nói gì với Chúa?

– Tôi cầu nguyện: “Giêsu, có Jim đây!” rồi tôi về.

Thời gian trôi qua. Jim già yếu, bệnh tật, phải vào bệnh viện, nơi khu vực người già. Sau đó Jim yếu liệt, chuẩn bị đi xa … Linh mục tuyên úy và nữ tu y tá đến bên giường Jim:

– Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào khu vực này, có nhiều điều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ hơn, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?

– Chả biết!… Lúc còn sức tôi đi quanh thăm mọi người, chào hỏi, chuyện trò một chốc; lúc sau liệt giường tôi gọi tên họ, thăm hỏi, làm cho họ cười. Với Jim ai cũng vui.

– Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?

– Khi nào cha và sơ được người ta đến thăm mỗi ngày có vui không?

– Vui chứ! Nhưng có thấy ai thăm Jim đâu?
– Lúc mới vào, tôi có xin hai chiếc ghế, một dành riêng cho cha và sơ, một cho khách quí của tôi, thấy không?

– Khách của ông là ai?

– Là Chúa Giêsu. Trước kia tôi đến thăm Ngài ban trưa, nay đi hết nổi, cứ 12 giờ trưa Ngài đến thăm tôi.
– Ngài nói gì với Jim?
– Ngài bảo: Jim, có Giêsu đây!…
Trước lúc Jim chết, người ta thấy Jim đưa tay chỉ chiếc ghế như thể muốn mời ai ngồi, Jim mỉm cười, nhắm mắt ra đi.

Những lúc tôi không còn sức để đọc nổi dù một kinh, tôi lặp đi lặp lại: “Giêsu, có con đây”, tôi cảm thấy như Chúa Giêsu trả lời: “Thuận ơi, có Giêsu đây!” Tôi vui vẻ và bình an.

Fx Nguyễn Văn Thuận

Thách thức cấp bách trước mắt chúng ta

Thách thức cấp bách trước mắt chúng ta

Đọc

Laudato Si’, Dẫn Nhập: “Lời kêu gọi của tôi”

Cuối phần dẫn nhập, Đức thánh cha Phanxicô đã đưa ra lời kêu gọi của ngài khi ngài mô tả “thách thức cấp bách” trước mắt chúng ta. Ngài lạc quan cho rằng con người sẽ làm điều đúng đắn khi ngài nhắc đến thách thức này “bao gồm mối bận tâm đưa toàn thể gia đình nhân loại gắn kết với nhau để tìm kiếm sự phát triển bền vững và toàn vẹn, để chúng ta biết rằng mọi vật đều có thể thay đổi.” Thêm nữa, chúng ta không đơn độc: “Đấng Tạo Hóa không bỏ rơi chúng ta; Ngài không bao giờ từ bỏ kế hoạch yêu thương của ngài hay hối tiếc vì đã dựng nên chúng ta. Nhân loại vẫn có khả năng cùng nhau làm việc để xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta.” Sau đó Đức thánh cha đánh giá cao tất cả những ai “tìm kiếm không mệt mỏi cách xử lý các hậu quả bi đát gây ra do sự tàn phá môi trường đang ảnh hưởng đến cuộc sống của những người nghèo nhất thế giới.” Sau cùng, Đức thánh cha kết thúc phần này bằng tiếng kêu của người trẻ: “Người trẻ đòi hỏi sự thay đổi. Họ tự hỏi làm thế nào con người có thể hô hào xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn mà không nghĩ đến khủng hoảng môi trường và những đau khổ của người bị loại trừ.” (13)

Phản tỉnh

Thách thức xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn không phải là một nhiệm vụ cỏn con. Căn bản mà nói, đó là việc tạo ra một thế giới nơi các nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người được đáp ứng một cách bền vững. Suy ngẫm hình ảnh trên đây, vốn là một sự minh họa tính hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Bạn sẽ làm gì để thực hiện lời kêu gọi của Đức thánh cha Phanxicô? Bạn muốn đảm đương vai trò nào?

Hành động

Vì bất cứ ai cũng có những giải pháp khác nhau, nên bạn cũng góp phần mình vào thách thức cấp bách này. Không một ai có thể cứu tất cả các loài đang gặp nguy hiểm, chữa mọi thứ bệnh tật hay cung cấp nước sạch, năng lượng sạch và thực phẩm an toàn cho tất cả mọi người khắp mọi nơi. Biết ơn thay, “xây dựng một tương lai tươi đẹp hơn” là một nhiệm vụ lớn lao và đa dạng nơi đó bất cứ ai cũng có thể đóng một vai trò nhất định.

Nêu bạn là học sinh sinh viên, hãy suy xét sử dụng thời gian đang được thụ huấn để nghĩ về mục tiêu lớn hơn của bạn, và rồi tiến từng bước nhỏ theo hướng ấy. Nếu bạn đứng tuổi hơn, có thể đang là trụ cột gia đình hay có địa vị cao trong nghề nghiệp của mình, hãy suy xét đến những khác biệt giữa việc cá nhân tự hành động so với việc phân bổ công việc cho người khác. Có thể bạn sẽ thay đổi ngay bây giờ để góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn một chút, hoặc có thể bạn sẽ đầu tư hun đúc khả năng của các thế hệ tương lai nhằm tạo nên sự khác biệt. Có thể bạn sẽ tiến hành cả hai việc. Một điểm chính yếu từ Laudato Si’ là: Mọi hành động tốt đều đáng giá, dù nó nhỏ bé thế nào đi nữa.

Tác giả: Samantha Panchèvre
Chuyển ngữ: Minh Vương
Nguồn: https://www.ncronline.org/news/earthbeat/urgent-challenge-us

Điều mà Chúa truyền dạy tha thiết lúc này

1. Tôi xin chia sẻ điều mà Chúa tha thiết truyền dạy tôi lúc này. Chúa truyền dạy không chỉ riêng tôi, mà cũng truyền dạy cho mọi người con Chúa. Chúa truyền dạy một cách tha thiết, một cách khẩn cấp, như một sứ điệp cứu rỗi.

2. Điều mà Chúa truyền dạy là: “Lúc này hơn bao giờ hết, các con hãy nhờ Đức Mẹ Maria, mà đổi mới bản thân, hầu tránh được đại họa diệt vong phần xác phần hồn”.

3. Vâng lời Chúa truyền dạy, tôi đến với Đức Mẹ, tôi ôm lấy Mẹ, tôi cảm nhận được sự an tâm, an ủi, an vui lạ lùng.

4. Tôi nhận thấy rất rõ: Tình thương Mẹ dành cho tôi là rất đậm đà đặc tính khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Mẹ là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Mẹ là đền thờ Chúa Th|nh Thần.

5. Với sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, Mẹ mong đợi hãy tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều trong tình hình hiện nay. Tình hình càng khó khăn phức tạp, thì sự làm chứng cho Chúa càng phải rất khôn ngoan.

6. Tôi hỏi Mẹ:“Thế nào là làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan?” Thì Mẹ cho tôi nhận thấy: Muốn làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan trong bất cứ tình hình nào, thì hãy để ý đến hai việc này:

7. Một là phải phục vụ con người một cách tận tình và khiêm nhường.

8. Hai là hãy coi sám hối, đổi mới bản thân là việc phải làm mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Đổi mới bản thân theo Lời Chúa, đó là điều cần xác định rõ.

Thí dụ: Lời Chúa là.
Bố thí phải kín đáo (Mt 6,1)
Cầu nguyện nơi kín đáo (Mt 6,5)
Ăn chay cách kín đáo (Mt 6,16)
Thực tế thường không được vậy, nên tôi cần s|m hối, đổi mới bản
th}n mỗi ng{y.

9. Mấy ngày nay, Đức Cha Bề trên của nhiều giáo phận đã ra thông báo khuyên các tín hữu của mình không nên tụ tập đông người, cho dù để tham dự Thánh lễ, vì lý do dịch Covid-19. Tôi cũng coi thông báo đó là khôn ngoan.
Qua sự kiện trên đây, Mẹ dạy tôi điều này: Khôn ngoan mà Chúa Thánh Thần muốn, là hãy biết linh hoạt trong cách sống đức tin. Điều gì là căn bản, thì phải giữ, điều gì là hình thức, thì có thể đổi, và cần đổi, nếu tình hình khuyến cáo. Chứ khôn ngoan không có nghĩa là luôn phải đúng thói quen.

10. Tôi được may mắn tiếp xúc với nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân sống trong các chế độ khắt khe với Công giáo. Họ cho thấy họ phải khôn ngoan thế nào, để có thể tồn tại một cách bình an, mà vẫn giữ được đức tin.

11. Riêng tôi, lúc này, nhờ có nhiều quen biết với các thành phần xã hội, thì khôn ngoan mà Mẹ dạy tôi thực hiện, là hãy chân thành nói về Chúa một cách công khai và riêng tư, tôi nói một cách tình nghĩa, và xem ra nhiều người đã gặp được Chúa: Tạ ơn Chúa.

12. Thế là tôi đã được Mẹ Maria dạy tôi về sự khôn ngoan, một đức tính rất cần cho người mục tử tại Việt Nam hôm nay.

13. Mẹ cũng đang còn dạy tôi về sự khôn ngoan, qua gương sáng của nhiều giám mục, tu sĩ và giáo dân.

14. Nhiều phong trào đạo đức mang sự khôn ngoan Phúc Âm đang hoạt động mạnh tại nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam. Thí dụ phong trào kinh Mân Côi.

15. Phần thưởng mà chúng tôi chờ, cũng chỉ là Chúa mà thôi, đó là sự khôn ngoan sau cùng.

Long Xuyên, ngày 11.8.2020
ĐGM GB. Bùi Tuần

Phục hồi sự vô tội

Phục hồi sự vô tội

“Tôi nói thật cho anh em biết, nếu không quay lại và trở thành như trẻ em, anh em sẽ không bao giờ được vào Nước Trời” (Mt 18,3).

Đặc điểm đầu tiên đánh động mọi người khi nhìn vào mắt một đứa trẻ là sự vô tội: vô tội vì thật đáng yêu khi không có khả năng nói dối hay đeo mặt nạ hoặc làm bộ là một nhân vật nào đó chứ không phải như sự thật của mình. Về điều này, trẻ em rất giống với thiên nhiên.

Chó là chó, hoa hồng là hoa hồng, ngôi sao là ngôi sao: vạn vật ra sao thì cứ như vậy.

Chỉ có người lớn mới có khả năng vừa là thế này vừa làm bộ thế khác.

1. Khi người lớn phạt trẻ con vì đã nói thật, vì đã cho biết cách thẳng thắn những gì nó nghĩ nó cảm   thấy,  người ta đã vô tình dạy trẻ con dấu diếm và thế là đã phá vỡ sự đơn sơ vô tội của nó.

Rồi chẳng bao lâu sau, nó sẽ lọt vào hàng ngũ của vô số người phải tuyệt vọng thốt lên: ‘Rốt cuộc tôi chẳng biết mình là ai cả’, vì đã che dấu sự thật của mình với người khác quá lâu, đến nỗi sau cùng chính mình cũng chẳng biết sự thật của mình.

Bạn còn giữ bao nhiêu phần trăm sự vô tội ấy của tuổi thơ? Hiện nay, có ai mà khi đứng trước mặt người ấy bạn hoàn toàn là mình, cởi mở và vô tội như một đứa trẻ?

2. Còn một cách khác tinh tế hơn sẽ làm mất sự vô tội của tuổi thơ, đó là khi đứa trẻ bị nhiễm tham vọng muốn trở thành một nhân vật nào đó.

Hãy xem hàng hàng lớp lớp những người đang ra sức trở thành một nhân vật nào đó, thay vì trở thành những gì thiên nhiên đã định cho mình như làm nhạc, nấu nướng, sửa máy, đóng bàn ghế, làm vườn, sáng chế. Người ta ra sức làm sao cho mình thành công, nổi tiếng, có quyền lực; trở thành một điều gì đó không làm cho mình được hoàn thành bản thân trong âm thầm lặng lẽ, mà trở thành một điều gì đó có thể giúp mình được vẻ vang, được bành trướng. Hãy nhìn những người đã đánh mất sự vô tội chỉ vì đã không chọn để trở thành chính mình, mà muốn mình được thăng quan tiến chức, được tỏ ra mình là một điều gì đó, dù chỉ là trong mắt nhìn.

Hãy nhìn vào đời sống thường ngày của mình. Bạn thấy có suy nghĩ nào, lời nói nào hay hành động nào của mình mà không mang dấu vết của lòng khao khát muốn trở thành một nhân vật nào đó, cho dù nhân vật ấy có thể chỉ là một nhà tu đức thành công hay một vị thánh vô danh tiểu tốt?

Trẻ em, giống như các loài vật vô tội, phó mình hoàn toàn cho tự nhiên để thiên nhiên đã định cho mình thế nào thì mình trở thành thế ấy.

Người lớn nào còn giữ được sự vô tội cũng đều buông mình cho thiên nhiên hay cho định mệnh đưa đẩy, không hề có ý định trở thành một ai đó hay gây ấn tượng trên người khác. Chỉ có điều khác là: người lớn làm như vậy không dựa vào bản năng tự nhiên, như trẻ con, mà dựa vào sự tỉnh ngộ liên tục về tất cả mọi sự đang diễn ra nơi mình và chung quanh mình. Nhờ sự tỉnh ngộ ấy họ tránh được các điều xấu và lớn lên theo như thiên nhiên đã trù định, chứ không theo kế hoạch của những cái tôi đầy tham vọng.

3. Còn một cách nữa người lớn làm mất sự vô tội của tuổi thơ: đó là dạy chúng phải bắt chước ai đó. Khi bắt một đứa trẻ trở thành bản sao của ai đó, là bạn đã dập tắt cái tia sáng độc đáo đã đi theo đứa trẻ khi nó chào đời. Khi bạn quyết định rở thành một ai đó, bất kể có vĩ đại và thánh thiện hay không, là bạn đã làm hỏng con người mình.

Thử nghĩ tới ánh lửa độc đáo trong lòng mình, đã bị chôn vùi dưới bao nhiêu lớp sợ hãi. Sợ mình sẽ bị chê cười hay bị khai trừ bởi đã dám sống trung thực với mình, không chịu máy móc khuôn theo cách ăn mặc, hành động, nghĩ suy của nhiều người. Bạn đã từng uốn mình theo người khác không chỉ trong hành vi và tư tưởng, mà cả trong những phản ứng, những cảm xúc, những thái độ và những giá trị. Bạn không dám bứt ra khỏi tình trạng hư hỏng ấy, không dám đòi lại sự vô tội nguyên thuỷ của mình. Đây chính là cái giá bạn phải trả để được xã hội và tổ chức của mình đón nhận. Nhưng như thế là bạn đã bước vào thế giới của những người luồn cúi, những người bị kiểm soát; là đã bị lưu đày ra khỏi vương quốc chỉ dành cho những ai vô tội như trẻ thơ.

4. Một cách nữa rất tinh vi có thể làm mất đi sự vô tội của bạn là ưa ganh đua và so sánh với người khác. Khi làm như thế, là bạn đã đánh đổi sự đơn sơ của mình để lấy tham vọng muốn như một ai đó hoặc hơn một ai đó.

Sở dĩ trẻ em có thể giữ được sự vô tội của mình và sống như bao thụ tạo khác trong hạnh phúc Nước Trời, ấy là vì nó không bị hút vào cái mà chúng ta gọi là thế gian – là nơi tăm tối của người lớn, trong đó người ta không dành thời gian để sống mà là để tìm lời khen và sự ngưỡng mộ, không dành thời gian để sống trung thực với mình cách vui vẻ mà là để so sánh và ganh đua tới mức điên cuồng, để chạy theo những điều trống rỗng mang tên là thành công và danh tiếng, dù đôi khi phải trả giá đắt tới mức đánh gục, làm nhục và tiêu diệt người thân cận mình.

5. Nếu cho mình nếm cảm thực sự những đau khổ của địa ngục trần gian ấy và sự trống  rỗng do địa ngục trần gian ấy mang tới, có thể bạn sẽ thấy lòng mình như muốn nổi loạn, lòng mình chán ngán tới mức bạn muốn phá tan mọi xích xiềng của lệ thuộc và lừa phỉnh đã từng quấn quanh tâm hồn bạn, để được bước vào vương quốc của sự vô tội – nơi đó có các trẻ thơ và các nhà thần bí.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách: Tiếng gọi yêu thương

Sự thay đổi nhã nhặn

Sự thay đổi nhã nhặn

“Nước Trời phải chịu sự mạnh bạo, và những người tàn bạo đã dùng bạo lực mà giành lấy Nước Trời” (Mt 11, 12).

Thử so sánh vẻ đẹp đơn sơ và thanh thoát của một đoá hoa hồng đang nở với những căng thẳng và bất an trong cuộc đời bạn. Cánh hoa ấy có một điều mà bạn không có, là hoàn toàn bằng lòng với chính mình. Đoá hoa không bị cài đặt chương trình từ ban đầu như bạn đã bị – chương trình bất mãn với chính mình. Vì thế, đoá hoa không mảy may bị thúc bách phải trở nên một cái gì đó hơn sự thật của mình.

Đó là lí do giải thích tại sao đoá hoa có được một vẻ đẹp không giả tạo, không có những dằng co nội tâm mà trong nhân loại chúng ta chỉ thấy nơi các trẻ nhỏ và các nhà thần bí.

Hãy xem tình trạng buồn bã của bạn. Lúc nào bạn cũng bất mãn với chính mình, muốn thay đổi chính mình. Vì thế, người bạn lúc nào cũng đầy bạo lực và không chịu được mình, mà điều này chỉ thấy xuất hiện mỗi khi bạn cố gắng thay đổi chính mình. Nếu vậy, bất cứ sự thay đổi nào bạn thực hiện cũng có kèm theo sự dằng co nội tâm.

Bạn đau khổ khi thấy người khác làm được điều mà mình không làm được, hay trở thành cái mà mình chưa trở thành.

Bạn có cảm thấy ghen tương và tức tối hay không, nếu như bạn biết bằng lòng với chính mình và không bao giờ khao khát cái mà mình không phải là? Tiếc rằng bạn bị thôi thúc trở thành một người khác, có kiến thức nhiều hơn, có vóc dáng đẹp hơn, nổi tiếng và thành công hơn. Bạn muốn trở thành người có nhiều nhân đức hơn, yêu nhiều hơn, trầm tư hơn; bạn muốn tìm được Chúa, ngày càng xích lại gần hơn với lí tưởng của mình.

Hãy nhớ lại lịch sử đáng buồn của mình khi ra sức hoàn thiện bản thân; lịch sử ấy đã kết thúc, nếu không tan tành mây khói thì cũng chỉ thành công với biết bao đau khổ và chiến đấu.

Bây giờ hãy thử hình dung bạn buộc phải thôi không còn cố gắng thay đổi bản thân mình và bất mãn với bản thân mình nữa, lúc ấy bạn có sẵn sàng đi ngủ, miễn cưỡng chấp nhận mọi sự nơi mình và chung quanh mình không?

Nhưng còn một cách khác, không cần cù đẩy mình tiến lên mà cũng không miễn cưỡng chấp nhận bỏ cuộc. Đó là tự hiểu lấy bản thân mình. Đây là một điều không dễ dàng vì muốn hiểu sự thật của mình, bạn cần phải tự do hoàn toàn khỏi mọi ham muốn thay đổi sự thật của mình để trở thành một điều gì khác.

Bạn sẽ hiểu điều này rõ hơn, khi so sánh thái độ của nhà khoa học nghiên cứu các thói quen của loài kiến nhưng không hề mảy may muốn thay đổi các thói quen ấy với thái độ của một người huấn luyện chó tìm hiểu các thói quen của chó để bắt chúng học một điều gì đó.

Nếu điều bạn đang cố gắng làm không phải là tìm cách thay đổi bản thân mình, mà chỉ là quan sát bản thân mình, nghiên cứu từng phản ứng của mình đối với con người và sự vật, không phê phán hay kết án mà cũng chẳng muốn cải tạo bản thân, sự quan sát của bạn lúc ấy sẽ không trở nên thành kiến hay thiên vị mà là bao trùm lên tất cả, sẽ không cứng ngắc với những kết luận chắc nịch mà là cởi mở và luôn luôn mới mẻ.

Sau đó, bạn sẽ thấy có một điều hết sức kì diệu xảy ra nơi mình: bạn sẽ trở nên hết sức tỉnh táo, trong suốt và hoàn toàn thay đổi.

Lúc ấy, sự thay đổi sẽ xảy ra chăng? Phải. Nơi con người bạn và trong môi trường chung quanh bạn.

Nhưng sự thay đổi ấy có không phải là do sự khéo léo và ngược xuôi vất vả của bạn, lúc nào cũng tranh giành, cũng so sánh, cũng ép uổng, cũng lên lớp, cũng lèo lái một cách bất bao dung và đầy tham vọng, sinh ra bao căng thẳng, xung đột và đối kháng giữa bạn và thiên nhiên – một quá trình sẽ làm bạn kiệt sức và thất bại như khi người ta chạy xe mà cứ đạp thắng mãi.

Nhờ sự tỉnh ngộ sáng suốt và có sức biến đổi ấy, người ta dẹp sang một bên cái tôi lúc nào cũng đòi hoạch định, lúc nào cũng tìm mình, để trao cho thiên nhiên toàn quyền tạo ra sự thay đổi như thiên nhiên đã từng làm cho đoá hoa hồng: không gượng gạo, duyên dáng, quên mình, khoẻ khoắn, không vướng một sự xung đột nội tâm nào. Nếu thay đổi nào cũng bạo tàn thì đoá hoa hồng ấy cũng sẽ bạo tàn. Nhưng phẩm chất tuyệt vời của thiên nhiên không phát sinh từ sự bất bao dung và thù ghét bản thân mình.

Chính vì thế trong cơn mưa bão quét đi tất cả mọi sự không hề có sự giận dữ, cũng không hề có loài cá nào ăn con mình để tuân thủ các định luật môi trường lạ lùng, cũng không hề có các tế bào trong thân thể con người phá huỷ nhau vì một lợi ích nào đó cao hơn.

Nếu thiên nhiên có huỷ hoại điều gì thì đó không phải là do thiên nhiên tham vọng, tham lam hay đòi bành trướng bản thân mình, mà chỉ là vì tuân thủ một định luật huyền bí nào đó nhằm lợi ích cho toàn vũ trụ hơn là chỉ lo cho sự sống còn và lành mạnh của các thành phần riêng lẻ.

Đây là thứ mạnh bạo mà chúng ta gặp thấy nơi các nhà huyền bí: mạnh bạo là vì chống lại các ý kiến và cơ chế đã ăn sâu vào xã hội và văn hoá chúng ta và nhờ đó nhìn ra những tệ đoan mà các người cùng thời với các ngài có thể mù quáng không thấy.

Cũng chính sự mạnh bạo này đã khiến cho đoá hoa hồng vươn thẳng và đương đầu với các sức mạnh thù nghịch. Đó cũng là sự mạnh bạo mà đoá hoa hồng bắt chước nhà thần bí kia: là nhẹ nhàng hưởng ứng, sau khi đã mở hết các cánh hoa ra đón lấy ánh nắng mặt trời, và sống một cách thanh thoát, thật đáng yêu, không cần phải lo lắng tìm cách làm cho tuổi đời đã được an bài cho mình kéo dài thêm một phút. Đoá hoa ấy đã sống trong hạnh phúc và duyên dáng như các cánh chim trên trời và các đoá hoa ngoài đồng nội, không chút bất an và bất mãn, ghen tị và lo âu, tranh đua và giành giật, không như thế giới hôm nay, lúc nào cũng tìm cách nắm lấy phần kiểm soát và cưỡng ép, thay vì bằng lòng với sự tỉnh ngộ ấy, trao hết mọi gánh nặng cho Thiên Chúa bày tỏ quyền năng trong thiên nhiên.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách:Tiếng gọi yêu thương

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa.

Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.

Có thật là việc cầu nguyện mỗi ngày hoàn toàn vô ích không? Hẳn nhiên không phải vậy, ít ra, chúng ta có thể thấy được 10 lợi ích “tức thì” của cầu nguyện, như sau:

  1. Sống giây phút hiện tại

Guồng quay của mưu sinh có khi làm người ta quên mất mình đang sống. Họ hay nghĩ về quá khứ hoặc tương lai, mà ít khi biết rằng hiện tại mới là cuộc sống. Dành ít phút lắng đọng mỗi ngày giúp người ta thưởng ngoạn sự sống của mình. Lúc đó, họ thật sự ý thức về sự sống đang tuôn chảy trong mình, cả linh hồn và thân xác được nghỉ ngơi, tách mình ra khỏi tất cả những bận tâm lo lắng. Họ đặt mình trước Đấng là Sự Sống và tiếp tục thụ hưởng sự sống nơi Ngài.

  1. Nhìn lại những gì đã qua để tạ ơn

Cuộc sống trôi qua với biết bao biến cố vui buồn nối tiếp nhau. Tất cả đều có những ý nghĩa và tác động nhất định đến cuộc sống của mình. Dưới cái nhìn đức tin, chúng đều là những hồng ân của Chúa. Một vài phút lặng đọng trong ngày để nhìn lại những chuỗi biến cố đó với tâm tình biết ơn là điều vô cùng tuyệt vời, vì nó giúp ta ngày càng chìm sâu trong tương quan thân quen với Chúa và sống sự hiện diện của Chúa trong từng phút giây của đời mình.

  1. Kiểm duyệt cuộc sống

Cũng không trách khỏi nhiều lúc chúng ta đã có những lời nói, hành vi, tư tưởng sai lạc, làm ảnh hưởng đến chính cuộc sống của mình và người khác. Với những sai sót lớn, ta dễ dàng nhận ra. Nhưng với những sai sót nhỏ, ta dễ dàng bỏ qua hoặc không để ý. Từ từ, chúng sẽ tích tụ lại và làm chúng ta sa lầy hơn. Thường xuyên nhìn lại với cái nhìn suy xét xem mình đã sống cuộc sống của mình thế nào, có gì cần chỉnh sửa lại cho tốt hơn sẽ giúp chúng ta trở nên hoàn thiện hơn và đáng yêu hơn với mọi người.

  1. Giúp hãm dẹp cơn nóng giận

Cơn nóng giận thường là nguyên cớ cho rất nhiều những lời nói và quyết định sai lầm của chúng ta. Lúc đó, ta bị cảm xúc chi phối nặng nề và không làm chủ được bản thân mình. Kinh nghiệm cho thấy, ta thường hối hận sau đó vì những gì mình đã làm. Trầm tĩnh lại là cách ta làm nguôi cơn nóng giận và khống chế nó. Khi đó cơn nóng giận sẽ từ từ tan đi. Điều này chỉ có được với một người có thói quen trở về với lòng mình mà họ thực tập hàng ngày trong những giây phút thinh lặng.

  1. Suy tính kỹ càng cho vấn đề của mình

Ai cũng có vấn đề của riêng mình và luôn nỗ lực để tìm cách giải quyết. Nhiều khi vì có quá nhiều giải pháp, người ta không biết chọn cái nào cho tốt. Cũng có khi phía trước chỉ là một màn đêm tăm tối, khiến mình chẳng biết phải làm sao. Đôi khi người ta hỏi ý kiến những bậc khôn ngoan. Nhưng bao giờ cũng cần đôi chút tĩnh lặng để suy xét. Các bậc trí giả thường cho rằng mọi giải pháp đều đã được phú bẩm trong lòng mình, chỉ cần thinh lặng là có thể lắng nghe được. Đó chẳng phải là những phút giây ta ở một mình và suy nghĩ đó sao? Những ồn ào bên ngoài sẽ làm cho chúng ta bị rối. Còn thinh lặng sẽ giúp ta sáng ra.

  1. Giúp xua tan nỗi sợ

Nỗi sợ là một trong những kẻ thù lớn nhất của con người. Nó cho thấy sự nhỏ bé, thấp hèn và bất lực của chúng ta. Mỗi khi sợ, ta thường cầu cứu sự trợ giúp của người khác. Khi nó vượt quá sức con người, ta thường chạy đến các bậc thần linh. Trong thinh lặng của cầu nguyện, ta được đưa vào đối diện với một vị Thiên Chúa vừa yêu thương ta và quyền năng vô hạn. Bỗng dưng, ta sẽ thấy mình được Ngài che chở bao bọc, hứa hẹn sẽ luôn ở bên và giúp ta vượt thắng mọi gian nguy thử thách. Người nào càng sống tinh thần cầu nguyện, người ấy càng bình tĩnh trước những giông tố của cuộc đời vì họ kín múc được sức mạnh từ Chúa.

  1. Những lời kinh giúp ý thức và loại trừ những tư tưởng xấu

Nhiều lúc chúng ta cũng muốn cầu nguyện nhưng chẳng biết cầu nguyện thế nào. Các phương pháp cầu nguyện dường như cao siêu và khó thực hành. Khi ấy, chỉ đơn giản là ta thầm thĩ những câu kinh đã được soạn sẵn. Những lời kinh tưởng chừng khô khan nhưng lại có tác dụng rất lớn. Nếu chúng ta vừa đọc vừa chú tâm đến từng lời kinh, nó sẽ trở thành những tâm tình của chúng ta dâng cho Chúa. Ngoài ra, khi chúng ta tập trung vào nó, nó sẽ giúp xua tan những tà ý đang có trong đầu mình. Nhờ đó, trái tim của chúng ta sẽ được thanh lọc và trở nên tinh tuyền hơn.

  1. Tiếp xúc với Lời Chúa, nghe Chúa nói với mình

Nếu chúng ta chọn cầu nguyện với Lời Chúa, mỗi ngày suy niệm một đoạn ngắn, ta sẽ có cơ hội chìm sâu trong những mặc khải của Chúa cho chúng ta. Những lời ấy sẽ ban cho chúng ta sức mạnh, giải thoát chúng ta khỏi mọi bận tâm lo lắng. Sâu hơn, ta sẽ nghe được điều Chúa muốn nhắn gửi riêng cho mình. Dần dần, ta sẽ hiểu biết hơn về Chúa, có mối tương quan thân thiết với Chúa, sẽ yêu Chúa hơn và được Chúa biến đổi để nên giống Đức Giêsu Kitô hơn. Lời Chúa không phải là lời bình thường. Lời ấy có sức cứu độ chúng ta và đưa chúng ta về Nước Trời.

  1. Đưa tâm hồn hướng về trời cao

Sự thinh lặng trong cầu nguyện sẽ giúp tâm trí chúng ta được giải thoát khỏi mọi thứ tầm thường của đời này. Ta sẽ dần dần được hấp dẫn bởi nét tuyệt đẹp của các nhân đức và bắt đầu kinh tởm những sự xấu xa vẫn đang vây hãm và quyến rũ chúng ta. Bản chất lương thiện trong ta sẽ trỗi dậy và ta biết mình không thuộc về chốn đời tạm này. Ta khám phá ra rằng quê thật của chúng ta là Thiên Đàng, là cõi vinh phúc đời đời, mà muốn trở về nơi ấy, ta phải dứt bỏ những thứ đang mê hoặc chúng ta ở đây, đang khiến chúng ta lầm đường lạc lối. Khi ấy, ta sẽ được nhấc bổng lên tận trời cao, đó là niềm hy vọng của chúng ta.

  1. Lãnh nhận ơn lành từ Chúa

Đây là một lợi ích thiết thực hơn bao giờ hết. Trong cầu nguyện, ta có thể xin Chúa những ơn lành cần thiết cho chính mình hay cho người khác. Cuộc sống tại thế này luôn khiến chúng ta sống trong tình trạng thiếu thốn trăm bề, nếu không phải là những thiếu thốn vật chất, thì cũng là tinh thần. Chẳng nơi đâu ta có thể “xin xỏ” một cách thoải mái như trong cầu nguyện vì ta biết rằng mình đang đối diện với một Đấng hằng yêu thương mình và luôn sẵn sàng ban ơn cho mình bất cứ lúc nào hay nơi nào, bao nhiêu cũng được.

Với 10 lợi ích như thế, tại sao chúng ta vẫn còn chần chừ, ngại ngùng, tiếc thời gian mà không dành giờ cho Chúa, phải không?

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết lời tựa cho một cuốn sách mới có tựa đề “Hiệp thông và Hy vọng”, và khuyến khích mọi người tái khám phá tình liên đới giữa những tàn phá của đại dịch virus corona, hãy để mình được “nhiễm” tình yêu thương chứ không nhiễm virus.

Trong lời tựa cuốn sách được phát hành hôm 28/07 vừa qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã suy tư về những bài học mà các Kitô hữu đã học được từ đại dịch Covid-19.

Cuốn sách “Hiệp thông và Hy vọng” được Đức Hồng Y Walter Kasper và cha George Augustin biên tập, chứa đựng những suy tư thần học từ nhiều tác giả khác nhau về “việc làm chứng cho đức tin trong thời gian đại dịch”.

Đức Thánh Cha viết: “Giống như một cơn bão bất ngờ, cơn khủng hoảng virus corona đã khiến tất cả chúng ta ngạc nhiên, khi đột ngột thay đổi, ở cấp độ toàn cầu, cuộc sống cá nhân, công cộng, gia đình và công việc của chúng ta.” Ngài đau buồn vì nhiều người đã mất người thân, cũng như công việc và sự ổn định tài chính của họ. Ở nhiều nơi, ngay cả lễ Phục sinh cũng được cử hành một cách khác thường và vắng lặng, và mọi người không thể tìm được sự an ủi nơi các Bí tích.

Tìm gốc rễ của hạnh phúc

Theo Đức Thánh Cha, tình cảnh bi thảm này cho thấy rõ bản tính dễ tổn thương của con người, bị giới hạn bởi thời gian và sự bất ngờ. Đại dịch buộc chúng ta đặt câu hỏi về gốc rễ của hạnh phúc và tái khám phá gia sản đức tin Ki-tô giáo của chúng ta. Ngài nói: “Nó nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã quên hoặc đơn giản là trì hoãn tham gia một số vấn đề chính trong cuộc sống. Nó đang khiến chúng ta đánh giá những gì thực sự quan trọng và cần thiết, và những gì có tầm quan trọng thứ yếu hay chỉ là hời hợt”.

Cơ hội sống liên đới

Đức Thánh Cha suy tư rằng thời gian thử thách này cho chúng ta cơ hội để hướng cuộc sống chúng ta trở về với Thiên Chúa; nó mời gọi chúng ta dùng cuộc sống phục vụ tha nhân, ý thức những bất công và thức tỉnh trước tiếng kêu của người nghèo và trái đất bị đau bệnh.

“Truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác

Phục Sinh tỏ cho các tín hữu thấy rằng chúng ta không bị tê liệt bởi đại dịch. Phục Sinh mang hy vọng, tin tưởng và khuyến khích, củng cố ý thức liên đới. Mối nguy bị nhiễm virus sẽ dạy chúng ta cách “truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác. Cử hành Thánh Thể ban cho chúng ta sức mạnh để giải quyết những khó khăn và thử thách. Và cuối cùng, Đức Thánh Cha hy vọng cuốn sách giúp khám phá “một ý nghĩa mới của hy vọng và liên đới.” (CSR_5506_2020)

Vatican News (29.7.2020) Hồng Thủy

Từ Sợ Hãi đến Yêu Thương

Từ Sợ Hãi đến Yêu Thương

Bức i-côn “Ba Ngôi Thiên Chúa-theo Cựu Ước”
của Andrei Rublev vẽ vào khoảng năm 1410

Khi cầu nguyện trước bức i-côn này, chúng ta cảm thấy được mời gọi tham gia vào cuộc đối thoại thân mật giữa ba Đấng Rất Thánh và đồng bàn với các Ngài. (Henri Nouwen)

Những người tích trữ vì sợ

Một số người quá quan tâm về nguồn dự trữ trên thế giới bảo nhau rằng: “Lấy gì bảo đảm là chúng ta có đủ lương thực và nguồn dự trữ cho những lúc khó khăn? Cho dù bất cứ điều gì xảy đến, chúng ta phải tìm cách để có thể tồn tại. Vậy cách tốt nhất là chúng ta hãy thu tích thật nhiều lương thực và kiến thức hầu có đủ cho chúng ta trong những lúc túng thiếu và giúp chúng ta vượt qua thời gian khủng hoảng.” Thế rồi họ bắt đầu tích trữ mọi thứ cần thiết, nhiều đến nỗi người khác phải lên tiếng phản đối: “Các anh đã thu tích quá nhiều, nhiều hơn những gì các anh cần. Trong khi chúng tôi lại không có đủ lương thực để có thể tồn tại. Hãy chia sẻ cho chúng tôi phần dư của các anh!” Nhưng những người chỉ lo tích trữ lại nói: “Không, không được đâu, chúng tôi cần phải dự trữ những thứ này phòng khi cần, nhất là trong những lúc rủi ro, nguy hiểm.” Những người kia năn nỉ: “Hiện tại chúng tôi đang chết đói, làm ơn chia sẻ cho chúng tôi ít lương thực, đồ dùng và kiến thức của các anh để chúng tôi có thể tồn tại. Chúng tôi không thể đợi thêm được nữa! Chúng tôi cần những thứ đó ngay bây giờ!” Nghe đến đây, những người chuyên lo tích trữ vì sợ thiếu lại càng sợ hơn, ngoài nỗi sợ thiếu, giờ họ lại mang thêm một nỗi sợ nữa, đó là sợ những người nghèo đói tấn công. Vì thế họ bảo nhau: “Chúng ta hãy xây tường rào chung quanh để người lạ không thể đột nhập vào lãnh địa của chúng ta.” Thế là họ bắt đầu xây những tường rào cao vừa kiên cố đến nỗi họ không thể nhìn thấy bất cứ ai ở bên ngoài, dù những người bên ngoài đó quen hay lạ! Và khi nỗi sợ gia tăng, họ nói với nhau: “Kẻ thù của chúng ta càng ngày càng nhiều và mạnh đến độ họ có thể đập phá những bức tường của chúng ta. Vì thế, nếu chúng ta chỉ xây tường thôi thì chưa đủ chắc chắn để chống lại kẻ thù, chúng ta cần đặt chất nổ và kẽm gai trên những tường rào để không còn ai dám đến gần.” Tuy nhiên, thay vì cảm thấy an toàn sau những bức tường được trang bị vũ khí chống kẻ thù, họ lại cảm thấy chính họ bị nhốt trong những nhà tù của sự sợ hãi do chính họ xây lên.

Tại sao chúng ta lại sợ hãi đến thế?

Càng biết nhiều người và càng hiểu họ thì tôi càng thoát khỏi thế lực của những sợ hãi tiêu cực. Một khi chúng ta sống trong lo sợ thì nỗi sợ càng có sức mạnh vây hãm cuộc sống của chúng ta. Sợ hãi xâm nhập vào toàn bộ cơ cấu của chúng ta, cá nhân cũng như cộng đoàn. Nhiều người đã để cho sự sợ hãi chi phối mọi động lực, suy nghĩ và hành động của họ. Chúng ta quá lo lắng cho bản thân mình và cho những người chung quanh. Chúng ta sợ điều dữ, sợ những điều không may có thể xảy ra cho mình và cho người thân.

Trong cuộc sống, hầu như lúc nào chúng ta cũng có cái gì đó để sợ: sợ những điều ở bên trong, ở chung quanh chúng ta, sợ những chuyện rất gần hoặc rất xa, sợ những điều nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được, sợ chính mình, sợ người khác và sợ cả Thiên Chúa. Trong mọi suy nghĩ, lời nói, hành động hoặc những phản ứng của chúng ta dường như luôn mang dáng dấp của sự sợ hãi. Nỗi sợ này dường như có một sức mạnh vô hình mà chúng ta không thể giũ bỏ nó được. Một khi sự sợ hãi xâm chiếm tâm hồn chúng ta cách sâu xa, nó đi vào cả trong cõi vô thức. Một cách ý thức hay không ý thức, chúng ta đã để cho nỗi sợ điều khiển tất cả mọi sự lựa chọn và quyết định của chúng ta. Sự sợ hãi nếu chưa được thuần hóa có thể trở thành một bạo chúa hung hãn hành hạ và đàn áp chúng ta phải sống như những con tin trong ngục tù của nó.

Một khi chúng ta để cho nỗi sợ hãi len lỏi vào cuộc sống của mình, chúng ta tự nhốt mình trong căn nhà của sợ hãi và nhìn mọi thứ bên ngoài qua lăng kính sợ hãi. Vì thế, những gì chúng ta thấy chỉ là bế tắc, thiếu thốn, khan hiếm và xa tránh. Ai bị chi phối bởi sức mạnh của sợ hãi, tâm trí họ luôn cảm thấy căng thẳng và muốn xa tránh người khác. Những ai làm chúng ta sợ hãi, thường sai khiến chúng ta làm những gì họ muốn. Khi sợ người nào, chúng ta thường để cho người đó điều khiển chúng ta. Sự sợ hãi là một trong những vũ khí hữu hiệu nhất trong tay những ai muốn điều khiển chúng ta. Những người đó có khi là bố mẹ, thầy cô giáo, bác sĩ, cấp trên, giám mục, cha xứ hoặc Thiên Chúa. Một khi bị sợ hãi khống chế, chúng ta suy nghĩ, nói năng và hành động như một người nô lệ.

Nhìn vào mối quan tâm của xã hội hôm nay, những chủ đề và chuyên mục trên tạp chí, trên đài phát thanh thường tập trung vào quyền lực và sự sợ hãi. Mọi người luôn lo lắng tự hỏi: Tôi sẽ phải làm gì hoặc tôi sẽ sống ra sao nếu tôi không tìm được một người bạn đời, không mua được nhà, không tìm được việc làm xứng hợp, không tìm được người bạn hay một vị ân nhân nào giúp tôi? Tôi sẽ phải làm gì nếu tôi bị đuổi việc? Nếu như tôi bị bệnh hoặc gặp tai nạn thì tôi phải làm thế nào? Làm sao tôi có thể vượt qua được nỗi đau nếu tôi mất đi người bạn thân, hoặc hôn nhân của tôi tan vỡ? Nếu chiến tranh xảy ra thì cuộc sống của tôi sẽ như thế nào? Thực ra, sự thật vô hình hàm chứa trong những câu hỏi này là: sẽ chẳng bao giờ có những câu trả lời khỏa lấp được sự sợ hãi trong tâm hồn họ vì họ luôn luôn cảm thấy sợ, hết sợ chuyện này lại đến chuyện khác. Việc này giải quyết chưa xong lại xuất hiện nỗi sợ khác. Để đi đến quyết định sinh con, chúng ta vạch ra rất nhiều thứ phải làm liên hệ đến đứa con như sự lo lắng liệu mình có đủ khả năng để trợ cấp cho con vào đại học hay không? Việc nuôi dạy con sẽ như thế nào? Và cứ thế, chúng ta cứ bị cuốn vào hết nỗi lo này đến nỗi lo khác liên quan đến nghề nghiệp, nơi mình sống, bạn bè, người thân và rất nhiều thứ khác. Nếu chúng ta cho rằng, chúng ta sẽ không hạnh phúc nếu không được bạn bè tán thành, ca tụng? Hoặc chúng ta nghĩ là sẽ bất hạnh nếu không có đủ tiền. Những ý nghĩ như thế sẽ khiến chúng ta tiếp tục ở trong tình trạng sợ hãi lo lắng và cố tìm mọi cách để thu tích, để có nhiều hơn nữa. Cứ thế, từ nỗi sợ này lại sinh ra nỗi sợ khác. Sợ hãi chẳng bao giờ nảy sinh tình yêu.

Tác động của sự sợ hãi trên cuộc đời chúng ta có thể rất tinh vi. Trong ý thức, chúng ta có thể không dám nghĩ mọi người chung quanh là kẻ thù của chúng ta, tuy nhiên, chúng ta vẫn có những thái độ và ứng xử như thể họ là kẻ thù. Ngày qua ngày, nếu điều đó cứ tiếp tục xảy ra, thì một ngày nào đó, chúng ta sẽ cảm thấy mình trở thành kẻ xa lạ với những người hàng xóm láng giềng và ngay cả với những người sống chung một nhà với chúng ta. Chúng ta cảm thấy sợ hãi, cô lập và bất lực. Thay vì tự tin và tự do, chúng ta lại cảm thấy lo âu buồn phiền và tê liệt. Thay vì sống trong niềm vui và hy vọng, chúng ta lại cảm thấy buồn phiền và trống rỗng. Thay vì sống trong căn nhà trào tràn tình thương, nơi Thiên Chúa ngự trị, chúng ta lại nhốt mình trong ngục tù của sự sợ hãi.

NGÔI NHÀ NƠI TÌNH YÊU ĐƯỢC VUN TRỒNG

Trong vài tháng được chia sẻ và quan sát đời sống của những anh chị em nghèo khổ, bị áp bức tại Châu Mỹ La Tinh, tôi dần nhận ra rằng họ là những người rất tự do, không sợ gì cả. Họ sống rất đơn sơ, chân thành và luôn thể hiện lòng biết ơn giữa một đất nước đầy những mối nguy hiểm, sợ hãi. Ở nơi đó, tôi nhìn thấy những người nghèo đói, đau đớn và khổ cực. Cũng nơi đó tôi tìm được niềm vui, sự bình an và lòng biết ơn. Tôi cũng sớm nhận ra rằng, sự áp bức và sự nghèo đói của Nam Bán cầu là những nỗi lo sợ, thống khổ và sự giam hãm của những người sống trong Bắc Bán cầu. Một cách nào đó, hai thực tại này không thể tách rời nhau. Sự đau khổ và mất tự do được tạo nên bởi nhu cầu tích trữ và sợ hãi hoang mang không tách rời khỏi những đau khổ mà anh chị em đang sống trong các vùng mà chúng ta gọi là “quốc gia đang phát triển” phải hứng chịu. Tại Bắc Mỹ, dường như chúng ta quên đi những điều dẫn chúng ta tới cuộc sống yêu thương. Chúng ta dường như đã đánh đổi niềm hy vọng ở trong ngôi nhà yêu thương của Chúa bằng những bức tường kiên cố, hệ thống an ninh trật tự và những cộng đồng kín cổng cao tường.

Thánh Gioan đã rất chí lý khi khẳng định tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi. Ở đây thánh nhân muốn ám chỉ đến một tình yêu thánh thiêng đến từ Thiên Chúa. Ngài không đưa ra một chiến lược cụ thể nhằm đạt được mục tiêu hay phát triển hệ thống an ninh. Ngài cũng không nói đến những cảm xúc của con người hay sự hòa hợp tâm lý, hấp dẫn lẫn nhau hoặc những cảm xúc sâu đậm thu hút nhau. Tất cả những điều này đều có giá trị của nó. Tuy nhiên, tình yêu hoàn hảo mà thánh Gioan muốn nói ở đây là một tình yêu phổ quát và vượt trên mọi dự định, cảm xúc, tình cảm và đam mê. Tình yêu hoàn hảo là một tình yêu linh thánh, trong đó chúng ta được mời gọi thông phần vào sự mật thiết của Thiên Chúa và học biết ở lại trong sự mật thiết với Đấng là tác giả và là cội nguồn của tình yêu. Sự mật thiết này không khởi đi từ con người nhưng phát xuất từ Thiên Chúa và do sáng kiến của Chúa – Đấng đã đến cắm lều và ở giữa chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta vào ở trong nhà của Ngài, nơi mà Ngài đã chuẩn bị phòng ốc sẵn sàng cho chúng ta.

Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU

Thánh kinh Cựu ước cũng như Tân ước rất nhiều lần đã dùng từ “nhà – home”. Các Thánh vịnh luôn diễn tả một sự khao khát được ở trong nhà của Thiên Chúa, được ẩn náu dưới cánh của Ngài và trú ẩn an toàn trong đền thánh Chúa; các Thánh vịnh ca ngợi nơi thánh của Chúa, là lều tạm lý tưởng và nơi trú ẩn an toàn vững chắc. Cụm từ “ở trong nhà Chúa” diễn tả nỗi khát mong trong những lời cầu nguyện tâm tình trên đây. Thật là ý nghĩa khi thánh Gioan mô tả Chúa Giêsu – Ngôi Lời Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Thánh Gioan không chỉ kể lại cho chúng ta về việc Chúa Giêsu đã mời gọi thánh nhân và người anh là ông Andrê đến và ở lại trong nhà của Chúa (Ga 1, 38-39) nhưng thánh Gioan còn khéo léo cho chúng ta thấy cách thức Chúa Giêsu thể hiện Ngài chính là Đền Thờ mới (Ga 2,19). Điều này được biểu lộ rõ ràng trong diễn từ ly biệt, khi Chúa Giêsu cho thấy Ngài chính là nơi cư ngụ đích thực của chúng ta: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4). Chúa Giêsu, nơi cư ngụ trọn vẹn của Thiên Chúa, đã trở thành nhà – nơi ở của chúng ta. Bằng cách chọn ở lại trong chúng ta như nhà của Chúa, Chúa Giêsu cho phép chúng ta ở lại trong Chúa như nhà của chúng ta. Bằng việc xây dựng mối tương quan thân mật với chúng ta, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tham dự vào mối tương quan thân mật giữa Ngài với Chúa Cha. Bằng việc chọn chúng ta làm nơi ở yêu thích của Ngài, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta chọn Ngài làm nơi cư ngụ yêu thích của chúng ta. Có thể chúng ta sẽ phân vân tự hỏi làm sao chúng ta có thể ở trong ngôi nhà tình yêu? Hoặc phải chăng vì chúng ta đã quen sống trong sự sợ hãi đến độ không còn khả năng nghe được lời mời gọi, “Đừng sợ!” của Chúa?”

ĐỪNG SỢ!

Đây là lời quả quyết mà không chỉ một mình chúng ta cần học để có thể nghe thấy nhưng còn phải được minh chứng bằng cuộc sống để tất cả mọi người đều có thể cảm nhận và nghe được lời này. Cụm từ “Đừng sợ!” được nhắc đến nhiều lần trong Tân ước. Khi sứ thần của Chúa xuất hiện, lời đầu tiên của các ngài, đó là “đừng sợ!” Đây cũng là lời sứ thần Gabriel đã nói với ông Giacaria khi hiện ra với ông trong đền thờ và báo cho ông biết vợ ông, bà Elizabeth sẽ sinh một con trai; cũng với lời này, sứ thần Gabriel nói với Đức Maria khi hiện ra với Mẹ trong căn nhà của Mẹ tại làng Nazareth. Sứ thần báo cho Mẹ biết là Mẹ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu.

Qua cuộc đời sứ vụ, Chúa Giêsu đã nhiều lần dạy các môn đệ đừng nhát đảm, đừng để cho sự sợ hãi thống trị. Khi các môn đệ hoảng sợ trước các đợt sóng dữ dội, Chúa Giêsu vẫn thản nhiên ngủ trên thuyền! Như các môn đệ đầu tiên, mỗi khi nỗi lo âu ập đến làm chúng ta chao đảo, chúng ta cũng muốn đánh thức Chúa và hoảng hốt thưa với Ngài: “Xin cứu chúng con, lạy Chúa, vì chúng con sắp chìm rồi!” Ngài cũng sẽ bảo với chúng ta: “Hỡi những người kém lòng tin, sao các con lại hoảng hốt đến thế?” Và Ngài ngăm đe gió và biển, biển lặng như tờ (x. Mt 8,23-27). Lời trấn an này cũng được lặp lại cho các phụ nữ khi các bà đến thăm mộ Chúa và thấy tảng đá bị lăn sang một bên: “Đừng sợ, đừng sợ, đừng sợ.”

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ trong căn phòng đóng kín vì sợ, Ngài nói với các ông: “Hãy an tâm, chính Thầy đây, đừng sợ” (Mt 28,10). “Thầy là Thiên Chúa tình yêu, Đấng mời gọi các con đến lãnh nhận món quà của niềm vui, của sự bình an và lòng biết ơn để các con trút bỏ hết mọi nỗi sợ hãi lo âu. Nhờ đó các con có thể chia sẻ cho người khác kinh nghiệm về những điều các con sợ phải buông bỏ.” Lời mời gọi của Chúa Giêsu gọi mời tất cả chúng ta hãy bước ra khỏi căn nhà của sự sợ hãi để đến ở trong mái nhà của tình yêu; ra khỏi sự giam hãm của chốn ngục tù để bước vào vùng trời tự do: “Hãy đến với Ta, hãy vào trong nhà của Ta, căn nhà của tình yêu!”

“Đừng sợ!” – lời trấn an được lặp đi lặp lại nhiều lần. Đây là lời mà chúng ta cần nghe nhất. Một lời chứa đựng những từ như “Fear not!- Đừng sợ!” đã và đang được vang lên trong suốt dòng lịch sử nơi môi miệng các sứ giả của Chúa, nơi lời của các thiên thần hoặc các thánh, nhất là lời của chính Chúa Giêsu. Đó là lời mở ra một cuộc sống hoàn toàn mới – cuộc sống trong mái ấm yêu thương, trong căn nhà của Chúa.

Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng ta dọc dài cuộc sống, Ngài dạy dỗ và chỉ lối cho chúng ta trở về với mái ấm yêu thương. Nhưng thật không dễ để hiểu được những bài học của Chúa vì chúng ta thường bị chi phối bởi rất nhiều nỗi sợ hãi hoang mang. Chúng ta cảm thấy lo lắng sợ hãi khi nhìn vào những công việc hoặc những nhiệm vụ tưởng như vượt quá sức mình, khi phải đối diện với những thách đố, những đợt sóng dữ dội, những cơn lốc và bão tố gầm thét. Chúng ta thường thốt ra những câu nói đượm vẻ hoài nghi như: “Vâng, vâng, … nhưng cứ nhìn xem, thực tế đâu có thể bảo đảm cho tôi khỏi những lo lắng.” Chúa Giêsu, một vị Thầy đầy kiên nhẫn, Ngài không ngừng dạy chúng ta phải xây đắp cho căn nhà – quê hương đích thực của mình ở đâu. Ngài dạy chúng ta nên tìm kiếm điều gì và chọn lựa lối sống nào hầu dẫn chúng ta đến tình yêu đích thực. Khi chúng ta phân vân, mất định hướng, chúng ta thường tập trung mọi chú ý của mình vào những khó khăn, nguy hiểm mà quên đi những điều chúng ta đã nghe. Những lúc đó, Chúa Giêsu tiếp tục nhắc nhở chúng ta: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong các con. Ai ở lại trong Thầy thì Thầy sẽ ở lại với người ấy và người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái…. Thầy đã nói với các con điều này để niềm vui của Thầy ở mãi trong các con, và niềm vui của các con nên trọn vẹn” (Ga 15,4 – 5.11). Quả vậy, Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta hãy ở trong ngôi nhà yêu thương của Ngài.

TỪ SỢ HÃI ĐẾN YÊU THƯƠNG

Cầu nguyện là con đường dẫn chúng ta ra khỏi ngôi nhà sợ hãi để bước vào ngôi nhà tình yêu. Cầu nguyện giúp chúng ta vượt thắng nỗi lo sợ do bị lệ thuộc vào một cá nhân nào đó, bị chi phối bởi cách họ suy nghĩ về chúng ta và cách hành xử của họ đối với chúng ta. Chúng ta lo lắng “anh hoặc chị ấy nghĩ gì về tôi? Ai thực sự là bạn của tôi? Kẻ thù của tôi là ai? Ai tán thành tôi, khen ngợi tôi hay phản đối tôi? Ai nói tốt hoặc nói xấu về tôi?” Chúng ta cứ mải lo lắng băn khoăn đi tìm ảnh hưởng, giá trị và căn tín đời mình từ người khác. Một khi chúng ta để cho người khác quyền quyết định về giá trị bản thân hay lòng tự trọng của mình tùy vào cách họ phản ứng, suy nghĩ hoặc nói về chúng ta, lúc đó, chúng ta trở thành nô lệ cho những mối tương quan. Chúng ta trở thành những người bị lệ thuộc hoặc ăn bám vào một ai đó để họ bố thí cho mình chút tình thương, giá trị và chỗ đứng của bản thân mình. Và nếu không được người ấy nhìn nhận, chúng ta sẽ cảm thấy bị hụt hẫng và mất định hướng. Chúng ta đã để cho người đó quyết định căn tính và phẩm giá của mình. Dần dần sự lệ thuộc cách mù quáng này khiến chúng ta mất định hướng và mục đích sống. Lúc đó, thay vì chọn sống cuộc sống của mình cách tự do thoải mái, chúng ta lại sống trong sự bất an, lo âu và sợ hãi.

Trong một thế giới đầy những hỗn loạn, bất an, một trong những cách cầu nguyện tốt nhất là chúng ta chọn tình yêu hơn là lo lắng băn khoăn, chọn mở rộng tâm hồn để cảm nhận sự hiện diện sống động của Đấng luôn yêu thương che chở chúng ta. Khi chúng ta đạt đến sự trưởng thành thiêng liêng và cảm nghiệm sâu xa về sự hiện diện của Chúa, đồng thời ý thức rằng cuộc sống của chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Thiên Chúa và sự thông hiệp với Ngài cho dù hoàn cảnh bên ngoài có thế nào đi nữa, chính lúc đó, chúng ta mới có thể rũ bỏ mọi nỗi sợ hãi đang đeo bám tâm trí chúng ta. Thực tế cho thấy, thật hiếm có một ngày trong đời, một ngày mà chúng ta không phải đối diện với bất kỳ một nỗi lo âu nào cả, bên trong cũng như bên ngoài. Thế nhưng, cho dù cuộc sống luôn phải đối diện với trăm nghìn mối lo, chúng ta không phải sống trong sự sợ hãi, vì tình yêu mạnh hơn sợ hãi: “Trong tình yêu không có sợ hãi; tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” (1Ga 4,18).

Thật sự tôi chưa bao giờ thấy ở đâu mô tả về ngôi nhà của tình yêu đẹp và đầy đủ ý nghĩa như nơi bức i-côn về Chúa Ba Ngôi của họa sĩ Andrei Rublev đã vẽ vào năm 1410 để tưởng nhớ thánh Sergius (1313 – 92) – vị thánh vĩ đại người Nga. Đối với tôi, bức tranh i-côn như là cánh cửa sổ hé mở cho chúng ta nhìn vào bên trong ngôi nhà tình yêu. Quả thật, câu chuyện đằng sau bức tranh gợi mở cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa.

Trước đây khá lâu, ở nước Nga, nhiều cuộc bạo động xảy ra tại một thành phố nhỏ khiến các thầy trong Đan viện cảm thấy lo lắng sợ hãi đến nỗi họ không thể cầm trí cầu nguyện được. Trước tình hình đó, Viện phụ đã mời Rublew, một họa sĩ nổi tiếng về tranh i-côn, vẽ một bức tranh hầu giúp các thầy có thể duy trì đời sống cầu nguyện ngay giữa những hỗn loạn, hiểm nguy và sợ hãi. Rublev đã vẽ một bức i-côn dựa trên câu chuyện trong sách Sáng Thế kể lại việc ba thiên thần đến thăm ông Abraham và cùng chia sẻ với nhau quanh bàn tròn của tình thân và lòng hiếu khách. Trong bức tranh i-côn, nhân vật ở giữa chỉ hai ngón tay về chén thánh và nghiêng người về phía nhân vật ở bên trái, Đấng đang dâng lời chúc tụng. Nhân vật thứ ba ngồi phía bên phải chỉ về lỗ trống hình vuông ở trên mặt bàn. Từ những chuyển động của các nhân vật và những chi tiết của bức tranh, người xem như được mời gọi tham dự vào cuộc đối thoại cùng với những chuyển biến thiêng liêng diễn ra khi đàm đạo. Ba nhân vật đã hợp thành vòng tròn bí nhiệm được chuyển động theo một sự cân xứng hoàn hảo. Vì thế, khi các thầy cầu nguyện trước bức tranh i-côn và tập trung tâm trí vào vòng tròn của tình yêu, sự thân mật và lòng hiếu khách, họ bỗng nhận ra rằng họ chẳng có gì phải sợ. Khi các thầy tự cho mình trở thành thành viên của cộng đoàn được thiết lập bởi ba Đấng Thánh, đồng thời để mình bị lôi cuốn vào trong vòng tròn của sự an toàn và tình yêu thương, lúc đó các thầy sẽ cảm thấy vững tâm và cầu nguyện tốt.

Đứng trước bức i-côn này, tôi ý thức về những nỗi lo lắng đang có trong tôi. Nhưng khi tôi tập trung mọi chú ý vào ô vuông trên mặt bàn, tôi cảm thấy đó như một chiếc cửa sổ dẫn tôi bước vào nơi sâu thẳm trong sự thân mật với Thiên Chúa. Điều này giúp tôi xác tín hơn rằng, dù tôi vẫn phải đối diện với những khó khăn thử thách của một thế giới ngập tràn những nỗi ghét ghen và sợ hãi, thì chính sự thân tình, lòng hiếu khách và sự niềm nở đón tiếp của các nhân vật trong bức tranh đã trở thành con đường dẫn tôi đi sâu vào trong mầu nhiệm của cuộc sống thần linh.

HÃY LƯU LẠI TRONG TÌNH YÊU

Buông bỏ sợ hãi và nhìn nhận sự thật về chính mình luôn là một thách đố. Khi chúng ta quên đi căn tính đích thực của mình – con yêu dấu của Chúa, chúng ta sẽ đánh mất mục đích sống, sẽ cảm thấy bất an, sợ hãi. Vì sợ nên chúng ta không còn tự do để quyết định và hành động. Chỉ khi nào chúng ta dành chỗ cho Thiên Chúa và bắt đầu lắng nghe tiếng nói yêu thương của Ngài, chúng ta mới cảm nhận được một tình yêu đích thực và hoàn hảo. Dần dần chúng ta có thể giũ bỏ mọi nỗi sợ hãi và nhìn nhận phẩm vị người con yêu dấu của mình trong tình yêu thương của Chúa. Chắc chắn sự sợ hãi sẽ không hoàn toàn biến mất khỏi cuộc sống của chúng ta. Có thể ngày mai nó sẽ trở lại chi phối chúng ta và chúng ta cũng sẽ phải tiếp tục chiến đấu với nó, nhưng không phải vì thế mà chúng ta lo sợ hay hoảng loạn, chúng ta lại tiếp tục hành trình buông bỏ sợ hãi để đạt đến yêu thương. Mỗi lần chúng ta cảm thấy sợ, chúng ta hãy đặt mình trong sự hiện diện của Chúa, lắng nghe tiếng nói của Chúa và để Ngài dẫn chúng ta về với tình yêu hoàn hảo của Ngài, một tình yêu có sức mạnh giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi và ban cho chúng ta sự tự do đích thực.

Thật không dễ khi phải chống lại và vượt ra khỏi sự giam hãm của những thế lực tối tăm để chọn sống trong mái ấm yêu thương như là nơi trú ẩn đích thực của mình. Lựa chọn này không chỉ làm một lần cho tất cả nhưng đây là một lựa chọn liên tục trong hành trình thiêng liêng. Lựa chọn này được củng cố trong các việc thực hành thiêng liêng như: chuyên chăm cầu nguyện, siêng năng đọc và chia sẻ Lời Chúa theo phương pháp lectio divina và khao khát sống sự sống của Chúa trong mỗi phút giây của cuộc sống. Các việc đạo đức như thế cùng với những tập luyện thiêng liêng khác nhằm giúp chúng ta ý thức hơn về căn tính người con yêu dấu của mình. Những luyện tập căn bản như lòng hiếu khách, tình bạn thiêng liêng, nguyện gẫm, sự tha thứ và tinh thần vui tươi sẽ giúp chúng ta dần dần thoát khỏi sự giam hãm của sợ hãi để lưu lại trong mái nhà của tình yêu. Lúc đó chúng ta có thể mặc lấy tâm tình Thánh vịnh gia thốt lên, “tôi được ở trong đền Người, những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23,6).

MỘT MÁI ẤM YÊU THƯƠNG DÀNH CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI

Việc thoát khỏi sự giam hãm thống trị của sợ hãi để sống trong mái nhà của tình yêu là một việc cần thiết, không chỉ cho một cá nhân mà cho sự tồn tại của cả gia đình nhân loại. Nếu chúng ta suốt ngày chỉ lo nghĩ đến những điều làm chúng ta sợ khác như: sợ khủng bố, sợ xã hội chủ nghĩa, sợ đất nước mình không thể tiếp tục giữ được danh tiếng là một cường quốc hùng mạnh và giàu có nhất thế giới. Hoặc có khi chúng ta bị chi phối bởi những nỗi sợ như làm sao có thể đầu tư nhiều thời gian, tiền bạc và năng lượng hơn để có thể chế tạo thật nhiều vũ khí tối tân, có sức hủy diệt địa cầu nhanh hơn. Trên bình diện quốc gia, chúng ta phải thoát khỏi những ước muốn thống trị cùng với những mối đe dọa của sự chết để tìm ra những phương thế củng cố cho việc hòa giải, sự hợp tác và tương trợ mang tính quốc tế. Chúng ta cần lập một chương trình đào tạo về sự bình an, về mục vụ bình an hoặc về khả năng tạo thêm nguồn lực để duy trì sự bình an. Chúng ta cần đổi mới hệ thống giáo dục, tổ chức tôn giáo, luật lệ trao đổi trên thương trường và ngay cả những trò tiêu khiển, giải trí, để tất cả đều nhắm đến mục đích là xây dựng sự bình an như mối quan tâm hàng đầu của mọi hoạt động. Chúng ta cần một trật tự mới về kinh tế vượt trên mọi chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội để tái tạo sự bình an và công bằng như mục tiêu chung của xã hội. Trên bình diện quốc gia, chúng ta cần tin rằng một trật tự mang tính quốc tế là điều khả thi và những ganh đua, kình địch giữa các quốc gia hoặc các khối liên minh nay đã lỗi thời.

Liệu chúng ta có thể phát triển một linh đạo toàn cầu trong đó những chỉ dẫn của Tin mừng không chỉ dừng lại ở thái độ và lối ứng xử của những cá nhân nhưng còn là của các quốc gia? Phải chăng chúng ta cần có một cuộc thay đổi rộng lớn, một cuộc cách mạng đi từ sợ hãi đến yêu thương, từ sự chết đến sự sống, từ tình trạng tù hãm đến tái sinh sự sống mới, từ thái độ sống thù nghịch đến lối sống tự do của con cái Thiên Chúa, những người thuộc về cùng một gia đình nhân loại? Có thể nhiều người sẽ cho rằng, cuộc cách mạng trên đây là hão huyền hoặc chỉ là những ý tưởng ngây ngô, không thực tế. Họ đón nhận và thực hiện những giáo huấn của Chúa Giêsu trong phạm vi cá nhân và gia đình họ, nhưng khi áp dụng những giáo huấn đó cho các vấn đề thuộc phạm vi quốc tế, họ lại thấy những giáo huấn này không thực tế và hầu như không tưởng. Nhưng Chúa Giêsu đã sai các môn đệ của Ngài ra đi để làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài. Ngài không chỉ sai các môn đệ đến với một cá nhân nào đó nhưng là đến với muôn dân, dạy cho mọi dân tộc tuân giữ các giới răn và mệnh lệnh của Chúa (Mt. 28,19-20). Vào ngày sau hết, Chúa Giêsu sẽ tập hợp tất cả các nước và sẽ hỏi họ: “Các người đã làm gì cho các anh em bé nhỏ nhất của Ta?” (Mt 2, 31-46). Hành trình trở nên môn đệ ở đây phải hiểu là hành trình vượt trên sự đạo đức cá nhân hoặc trung thành cộng đồng để đến với muôn dân, làm cho mọi dân nước đón nhận Tin mừng của Chúa. Không chỉ một vài cá nhân, nhưng là tất cả mọi quốc gia, được mời gọi thoát khỏi sự giam hãm của sợ hãi – nguyên nhân của mọi nỗi nghi ngờ, hận thù và chiến tranh, để bước vào ngôi nhà chung của tình yêu, nơi đó sự hòa giải, chữa lành và bình an ngự trị.

Các thầy dạy đàng thiêng liêng tuyệt vời như thánh Bênêđictô, thánh Catarina Siena, mục sư Martin Luther King, cha Thomas Merton, tất cả đều dẫn chúng ta tới một chân lý sức mạnh của sự đổi mới trong Lời Chúa không chỉ giới hạn trong phạm vi an toàn của cá nhân hoặc giữa những tương quan cá nhân nào đó nhưng sức mạnh đó phải được lan tỏa trên phạm vi toàn thế giới. Một thế giới được gọi là Giêrusalem mới, một thế giới mới, một cộng đồng mang tính toàn cầu và thuộc về tất cả mọi người, mọi quốc gia. Những ai dám tham gia vào vòng tròn thân mật của Chúa, họ sẽ là những vị thánh Phanxicô mới của thời đại. Họ được mời gọi và sai đi để hoàn tất vòng tròn thân mật của Thiên Chúa bằng sự đáp trả của họ. Họ cho chúng ta một cái nhìn về một trật tự mới, một trật tự được nảy sinh từ những đổ nát của cái cũ. Thế giới đang chờ đợi những vị thánh mới – những người nam, người nữ ngôn sứ được cắm rễ sâu trong tình yêu của Chúa, nhờ đó họ được tự do để hình dung và thiết tạo một thế giới mới nơi công lý ngự trị, nơi không còn chiến tranh, nơi mà những thể chế, trật tự cũ sẽ bị loại bỏ. Chúng ta mong ngóng ngày mà tất cả chúng ta được lưu lại trong tình yêu, ở đó chúng ta được giải thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi, không chỉ trong chốc lát nhưng là được tự do hoàn toàn và mãi mãi.

Nhà của Chúa là nhà của tình yêu được dành cho tất cả mọi người. Trong ngôi nhà, chúng ta được ở trong quỹ đạo của sự an toàn, niềm nở và thân mật. Ở đó, chúng ta sẽ dần dần giũ bỏ được những nỗi sợ hãi của mình để học biết tin yêu phó thác. Trong nhà đó, chúng ta tìm được tự do, niềm vui và sự gần gũi thân thương. Khi sống trong ngôi nhà của tình yêu, chúng ta dễ dàng kiến tạo bình an và thực thi công bình. Được sống trong bầu khí yêu thương, chúng ta sẽ thi hành sứ vụ cách nhiệt thành và hiệu quả hơn. Nơi mái ấm yêu thương, chúng ta được tự do thể hiện chính mình, được tự do hoạt động, tin tưởng và yêu thương mà không phải sợ bất cứ điều gì.

Những thực hành cụ thể cho việc huấn luyện thiêng liêng

Ai trong chúng ta cũng thấy rằng thế giới chúng ta đang sống đầy những mối nguy hiểm, sợ hãi và bấp bênh. Nhiều người trong chúng ta phải sống trong những hoàn cảnh nơi mà những người chung quanh chỉ cảm thấy thú vị và phấn khởi trước những thất bại của chúng ta. Chúng ta cũng có thể phải sống trong một môi trường bị bao vây bởi những người luôn muốn làm hại chúng ta, coi chúng ta như kẻ thù. Chúng ta cũng có thể cảm thấy sợ vì có quá nhiều thay đổi đang diễn ra trên thế giới, nơi mà dường như sự “thống lãnh và quyền lực” của những bậc thống trị thế giới tối tăm này (Ep 6,12) đang xâm chiếm cơ cấu xã hội đến nỗi sự bình an và công lý không còn đất sống. Mặc dù chúng ta không muốn sợ những người chúng ta gặp ngoài đường, nhưng thực tế khiến chúng ta phải sợ họ. Chúng ta không muốn khóa xe hơi, xe đạp hoặc thậm chí khóa cửa nhà của chúng ta, nhưng với tình trạng xã hội như hôm nay buộc chúng ta phải khóa để bảo đảm an toàn. Chúng ta không muốn cảnh báo bố mẹ, con cái hay bạn bè không nên đi ra ngoài một mình, nhưng vì sự bất ổn của an ninh buộc chúng ta phải nhắc nhở họ. Sống trong một xã hội như thế, làm sao chúng ta có thể vượt ra khỏi mọi nỗi sợ hãi để dám sống hoàn toàn cho tình yêu?

Hồi tâm và viết nhật ký

Sau đây là những câu hỏi đơn giản giúp chúng ta suy niệm riêng hoặc thảo luận với một nhóm nhỏ:

  1. Ngày hôm nay, điều gì đã khiến bạn cảm thấy sợ và lo lắng?
  2. Ai hoặc điều gì làm bạn sợ nhất?
  3. Khi bạn sợ thiếu thốn, bạn thường tích trữ hoặc bám víu vào điều gì?
  4. Lúc nào bạn cảm thấy an toàn và không sợ hãi? Đó là những hoàn cảnh nào?
  5. Ngày hôm nay, Chúa đã thể hiện tình yêu và sự quan tâm của Ngài đối với bạn bằng cách nào?
  6. Thư của Thánh Gioan chương 1,18 “tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” có ý nghĩa gì đối với bạn?

Visio Divina[1]: Sống trong ngôi nhà của tình yêu

Hãy dành ra ít là 10 phút cho việc cầu nguyện bằng hình ảnh. Hãy nhìn thật lâu và chăm chú vào bức i-côn về Chúa Ba Ngôi của họa sĩ Rublev. Hãy lắng nghe cha Henri Nouwen nói về bức i-côn này trong Nét đẹp của Thiên Chúa: “Khi đặt mình trước tác phẩm và cầu nguyện, tôi có cảm tưởng như được mời gọi tham gia vào cuộc trò chuyện thân mật của Thiên Chúa và được đồng bàn với Thiên Chúa. Ba Ngôi Sự chuyển động từ Chúa Cha sang Chúa Con và sự chuyển động của Chúa Con và Chúa Thánh Thần về phía Chúa Cha trở thành một chuyển động thiêng liêng giúp tôi nâng tâm hồn lên và cảm thấy bình an.”

Tiếp đến là quan sát vòng tròn thân mật được tạo ra bởi ba Đấng Rất Thánh trong bức tranh. Kế đó, đưa mắt nhìn về phía ô vuông ở trên mặt bàn. Vài phút sau, chúng ta ngừng nhìn vào bức tranh và cầu nguyện lớn tiếng bằng một trong những câu Thánh vịnh dưới đây. Rồi lại tiếp tục nhìn vào bức tranh và đi vào trong vòng tròn thân mật.

“Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.
Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo”
(Tv 46,1)

“Nhưng con đây vẫn tin tưởng nơi Ngài, lạy CHÚA,
dám thưa rằng: Ngài là Thượng Đế của con”
(Tv 31,14).

“Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,
còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt”
(Tv 95,7).

“Tôi tin chắc rằng: dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).

“Lòng nhân hậu và tình thương Chúa,
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên”
(Tv 23,6).

Vào cuối giờ cầu nguyện, bạn hãy đọc lớn tiếng Thánh vịnh sau đây:

“Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền CHÚA tôi
mọi ngày trong suốt cuộc đời, …
Ngày tôi gặp tai ương hoạn nạn,
Người che chở tôi trong lều thánh,
đem giấu tôi thật kín trong nhà,
đặt an toàn trên tảng đá cao.
Nên giờ đây tôi ngẩng đầu đắc ý,
nhìn quân thù vây bủa chung quanh.
Tôi sẽ dâng lễ tế trong thánh điện,
lễ tạ ơn, nhã nhạc vang lừng,
tôi sẽ đàn ca mừng kính CHÚA”
(Tv 27,4-6).

Dịch từ cuốn “Spiritual Formation” của cha Henri Nouwen
Chuyển ngữ: Nt. Theresa Nguyễn Thị Ngọc Hà
Nguồn: Nouwen, Henri JM. Spiritual Formation: From Fear to Love. HarperSanFrancisco, 2006, p. 72 – 88.
[1] Visio Divina là phương pháp cầu nguyện bằng hình ảnh