Sống Đạo

CẦU NGUYỆN

CẦU NGUYỆN

“Cầu nguyện thinh lặng…nghĩa là thường xuyên dành thời gian ở một mình với Chúa, Đấng mà chúng ta biết yêu thương chúng ta” (Thánh Tê-rê-xa Avila, Tiểu Sử Tự Thuật 8,5).

Câu chuyện minh họa:

Ở tù về, tôi được nhiều người chất vấn: “Cha sướng thật, trong tù cha đã có nhiều thời giờ để cầu nguyện!” Không phải đơn giản như các bạn nghĩ đâu! Chúa đã cho tôi có dịp hiểu rõ sự yếu đuối thể lý và tinh thần của tôi. Thời giờ trong tù trôi qua chậm rãi, đặc biệt trường hợp của những ai bị biệt giam. Bạn hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng thinh lặng … thấy lâu dài cách kinh khủng. Khi thinh lặng ấy kéo dài từng năm, thì nó trở thành đời đời … Ông bà ta thường bảo: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại, nghĩa là, một ngày trong tù dài bằng ngàn thu tự do”.

Có những lúc quá đau, quá mệt không đọc được một kinh.

Tôi nhớ lại chuyện ông già Jim. Cứ mỗi ngày lúc 12 giờ trưa ông ta vào nhà thờ không quá hai phút. Ông từ (giữ nhà thờ) rất thắc mắc theo dõi, rồi một hôm chận ông Jim lại và hỏi:

– Tại sao bác vào đây mỗi ngày?

– Tôi đến cầu nguyện.

– Không thể được! Kinh gì trong hai phút?

– Tôi vừa già, vừa dốt, đọc kinh theo kiểu của tôi.
– Ông nói gì với Chúa?

– Tôi cầu nguyện: “Giêsu, có Jim đây!” rồi tôi về.

Thời gian trôi qua. Jim già yếu, bệnh tật, phải vào bệnh viện, nơi khu vực người già. Sau đó Jim yếu liệt, chuẩn bị đi xa … Linh mục tuyên úy và nữ tu y tá đến bên giường Jim:

– Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào khu vực này, có nhiều điều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ hơn, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?

– Chả biết!… Lúc còn sức tôi đi quanh thăm mọi người, chào hỏi, chuyện trò một chốc; lúc sau liệt giường tôi gọi tên họ, thăm hỏi, làm cho họ cười. Với Jim ai cũng vui.

– Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?

– Khi nào cha và sơ được người ta đến thăm mỗi ngày có vui không?

– Vui chứ! Nhưng có thấy ai thăm Jim đâu?
– Lúc mới vào, tôi có xin hai chiếc ghế, một dành riêng cho cha và sơ, một cho khách quí của tôi, thấy không?

– Khách của ông là ai?

– Là Chúa Giêsu. Trước kia tôi đến thăm Ngài ban trưa, nay đi hết nổi, cứ 12 giờ trưa Ngài đến thăm tôi.
– Ngài nói gì với Jim?
– Ngài bảo: Jim, có Giêsu đây!…
Trước lúc Jim chết, người ta thấy Jim đưa tay chỉ chiếc ghế như thể muốn mời ai ngồi, Jim mỉm cười, nhắm mắt ra đi.

Những lúc tôi không còn sức để đọc nổi dù một kinh, tôi lặp đi lặp lại: “Giêsu, có con đây”, tôi cảm thấy như Chúa Giêsu trả lời: “Thuận ơi, có Giêsu đây!” Tôi vui vẻ và bình an.

Fx Nguyễn Văn Thuận

Chia sẽ bài viết này trên:

Thách thức cấp bách trước mắt chúng ta

Thách thức cấp bách trước mắt chúng ta

Đọc

Laudato Si’, Dẫn Nhập: “Lời kêu gọi của tôi”

Cuối phần dẫn nhập, Đức thánh cha Phanxicô đã đưa ra lời kêu gọi của ngài khi ngài mô tả “thách thức cấp bách” trước mắt chúng ta. Ngài lạc quan cho rằng con người sẽ làm điều đúng đắn khi ngài nhắc đến thách thức này “bao gồm mối bận tâm đưa toàn thể gia đình nhân loại gắn kết với nhau để tìm kiếm sự phát triển bền vững và toàn vẹn, để chúng ta biết rằng mọi vật đều có thể thay đổi.” Thêm nữa, chúng ta không đơn độc: “Đấng Tạo Hóa không bỏ rơi chúng ta; Ngài không bao giờ từ bỏ kế hoạch yêu thương của ngài hay hối tiếc vì đã dựng nên chúng ta. Nhân loại vẫn có khả năng cùng nhau làm việc để xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta.” Sau đó Đức thánh cha đánh giá cao tất cả những ai “tìm kiếm không mệt mỏi cách xử lý các hậu quả bi đát gây ra do sự tàn phá môi trường đang ảnh hưởng đến cuộc sống của những người nghèo nhất thế giới.” Sau cùng, Đức thánh cha kết thúc phần này bằng tiếng kêu của người trẻ: “Người trẻ đòi hỏi sự thay đổi. Họ tự hỏi làm thế nào con người có thể hô hào xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn mà không nghĩ đến khủng hoảng môi trường và những đau khổ của người bị loại trừ.” (13)

Phản tỉnh

Thách thức xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn không phải là một nhiệm vụ cỏn con. Căn bản mà nói, đó là việc tạo ra một thế giới nơi các nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người được đáp ứng một cách bền vững. Suy ngẫm hình ảnh trên đây, vốn là một sự minh họa tính hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Bạn sẽ làm gì để thực hiện lời kêu gọi của Đức thánh cha Phanxicô? Bạn muốn đảm đương vai trò nào?

Hành động

Vì bất cứ ai cũng có những giải pháp khác nhau, nên bạn cũng góp phần mình vào thách thức cấp bách này. Không một ai có thể cứu tất cả các loài đang gặp nguy hiểm, chữa mọi thứ bệnh tật hay cung cấp nước sạch, năng lượng sạch và thực phẩm an toàn cho tất cả mọi người khắp mọi nơi. Biết ơn thay, “xây dựng một tương lai tươi đẹp hơn” là một nhiệm vụ lớn lao và đa dạng nơi đó bất cứ ai cũng có thể đóng một vai trò nhất định.

Nêu bạn là học sinh sinh viên, hãy suy xét sử dụng thời gian đang được thụ huấn để nghĩ về mục tiêu lớn hơn của bạn, và rồi tiến từng bước nhỏ theo hướng ấy. Nếu bạn đứng tuổi hơn, có thể đang là trụ cột gia đình hay có địa vị cao trong nghề nghiệp của mình, hãy suy xét đến những khác biệt giữa việc cá nhân tự hành động so với việc phân bổ công việc cho người khác. Có thể bạn sẽ thay đổi ngay bây giờ để góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn một chút, hoặc có thể bạn sẽ đầu tư hun đúc khả năng của các thế hệ tương lai nhằm tạo nên sự khác biệt. Có thể bạn sẽ tiến hành cả hai việc. Một điểm chính yếu từ Laudato Si’ là: Mọi hành động tốt đều đáng giá, dù nó nhỏ bé thế nào đi nữa.

Tác giả: Samantha Panchèvre
Chuyển ngữ: Minh Vương
Nguồn: https://www.ncronline.org/news/earthbeat/urgent-challenge-us

Chia sẽ bài viết này trên:

Điều mà Chúa truyền dạy tha thiết lúc này

1. Tôi xin chia sẻ điều mà Chúa tha thiết truyền dạy tôi lúc này. Chúa truyền dạy không chỉ riêng tôi, mà cũng truyền dạy cho mọi người con Chúa. Chúa truyền dạy một cách tha thiết, một cách khẩn cấp, như một sứ điệp cứu rỗi.

2. Điều mà Chúa truyền dạy là: “Lúc này hơn bao giờ hết, các con hãy nhờ Đức Mẹ Maria, mà đổi mới bản thân, hầu tránh được đại họa diệt vong phần xác phần hồn”.

3. Vâng lời Chúa truyền dạy, tôi đến với Đức Mẹ, tôi ôm lấy Mẹ, tôi cảm nhận được sự an tâm, an ủi, an vui lạ lùng.

4. Tôi nhận thấy rất rõ: Tình thương Mẹ dành cho tôi là rất đậm đà đặc tính khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Mẹ là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Mẹ là đền thờ Chúa Th|nh Thần.

5. Với sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, Mẹ mong đợi hãy tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều trong tình hình hiện nay. Tình hình càng khó khăn phức tạp, thì sự làm chứng cho Chúa càng phải rất khôn ngoan.

6. Tôi hỏi Mẹ:“Thế nào là làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan?” Thì Mẹ cho tôi nhận thấy: Muốn làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan trong bất cứ tình hình nào, thì hãy để ý đến hai việc này:

7. Một là phải phục vụ con người một cách tận tình và khiêm nhường.

8. Hai là hãy coi sám hối, đổi mới bản thân là việc phải làm mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Đổi mới bản thân theo Lời Chúa, đó là điều cần xác định rõ.

Thí dụ: Lời Chúa là.
Bố thí phải kín đáo (Mt 6,1)
Cầu nguyện nơi kín đáo (Mt 6,5)
Ăn chay cách kín đáo (Mt 6,16)
Thực tế thường không được vậy, nên tôi cần s|m hối, đổi mới bản
th}n mỗi ng{y.

9. Mấy ngày nay, Đức Cha Bề trên của nhiều giáo phận đã ra thông báo khuyên các tín hữu của mình không nên tụ tập đông người, cho dù để tham dự Thánh lễ, vì lý do dịch Covid-19. Tôi cũng coi thông báo đó là khôn ngoan.
Qua sự kiện trên đây, Mẹ dạy tôi điều này: Khôn ngoan mà Chúa Thánh Thần muốn, là hãy biết linh hoạt trong cách sống đức tin. Điều gì là căn bản, thì phải giữ, điều gì là hình thức, thì có thể đổi, và cần đổi, nếu tình hình khuyến cáo. Chứ khôn ngoan không có nghĩa là luôn phải đúng thói quen.

10. Tôi được may mắn tiếp xúc với nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân sống trong các chế độ khắt khe với Công giáo. Họ cho thấy họ phải khôn ngoan thế nào, để có thể tồn tại một cách bình an, mà vẫn giữ được đức tin.

11. Riêng tôi, lúc này, nhờ có nhiều quen biết với các thành phần xã hội, thì khôn ngoan mà Mẹ dạy tôi thực hiện, là hãy chân thành nói về Chúa một cách công khai và riêng tư, tôi nói một cách tình nghĩa, và xem ra nhiều người đã gặp được Chúa: Tạ ơn Chúa.

12. Thế là tôi đã được Mẹ Maria dạy tôi về sự khôn ngoan, một đức tính rất cần cho người mục tử tại Việt Nam hôm nay.

13. Mẹ cũng đang còn dạy tôi về sự khôn ngoan, qua gương sáng của nhiều giám mục, tu sĩ và giáo dân.

14. Nhiều phong trào đạo đức mang sự khôn ngoan Phúc Âm đang hoạt động mạnh tại nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam. Thí dụ phong trào kinh Mân Côi.

15. Phần thưởng mà chúng tôi chờ, cũng chỉ là Chúa mà thôi, đó là sự khôn ngoan sau cùng.

Long Xuyên, ngày 11.8.2020
ĐGM GB. Bùi Tuần

Chia sẽ bài viết này trên:

Phục hồi sự vô tội

Phục hồi sự vô tội

“Tôi nói thật cho anh em biết, nếu không quay lại và trở thành như trẻ em, anh em sẽ không bao giờ được vào Nước Trời” (Mt 18,3).

Đặc điểm đầu tiên đánh động mọi người khi nhìn vào mắt một đứa trẻ là sự vô tội: vô tội vì thật đáng yêu khi không có khả năng nói dối hay đeo mặt nạ hoặc làm bộ là một nhân vật nào đó chứ không phải như sự thật của mình. Về điều này, trẻ em rất giống với thiên nhiên.

Chó là chó, hoa hồng là hoa hồng, ngôi sao là ngôi sao: vạn vật ra sao thì cứ như vậy.

Chỉ có người lớn mới có khả năng vừa là thế này vừa làm bộ thế khác.

1. Khi người lớn phạt trẻ con vì đã nói thật, vì đã cho biết cách thẳng thắn những gì nó nghĩ nó cảm   thấy,  người ta đã vô tình dạy trẻ con dấu diếm và thế là đã phá vỡ sự đơn sơ vô tội của nó.

Rồi chẳng bao lâu sau, nó sẽ lọt vào hàng ngũ của vô số người phải tuyệt vọng thốt lên: ‘Rốt cuộc tôi chẳng biết mình là ai cả’, vì đã che dấu sự thật của mình với người khác quá lâu, đến nỗi sau cùng chính mình cũng chẳng biết sự thật của mình.

Bạn còn giữ bao nhiêu phần trăm sự vô tội ấy của tuổi thơ? Hiện nay, có ai mà khi đứng trước mặt người ấy bạn hoàn toàn là mình, cởi mở và vô tội như một đứa trẻ?

2. Còn một cách khác tinh tế hơn sẽ làm mất sự vô tội của tuổi thơ, đó là khi đứa trẻ bị nhiễm tham vọng muốn trở thành một nhân vật nào đó.

Hãy xem hàng hàng lớp lớp những người đang ra sức trở thành một nhân vật nào đó, thay vì trở thành những gì thiên nhiên đã định cho mình như làm nhạc, nấu nướng, sửa máy, đóng bàn ghế, làm vườn, sáng chế. Người ta ra sức làm sao cho mình thành công, nổi tiếng, có quyền lực; trở thành một điều gì đó không làm cho mình được hoàn thành bản thân trong âm thầm lặng lẽ, mà trở thành một điều gì đó có thể giúp mình được vẻ vang, được bành trướng. Hãy nhìn những người đã đánh mất sự vô tội chỉ vì đã không chọn để trở thành chính mình, mà muốn mình được thăng quan tiến chức, được tỏ ra mình là một điều gì đó, dù chỉ là trong mắt nhìn.

Hãy nhìn vào đời sống thường ngày của mình. Bạn thấy có suy nghĩ nào, lời nói nào hay hành động nào của mình mà không mang dấu vết của lòng khao khát muốn trở thành một nhân vật nào đó, cho dù nhân vật ấy có thể chỉ là một nhà tu đức thành công hay một vị thánh vô danh tiểu tốt?

Trẻ em, giống như các loài vật vô tội, phó mình hoàn toàn cho tự nhiên để thiên nhiên đã định cho mình thế nào thì mình trở thành thế ấy.

Người lớn nào còn giữ được sự vô tội cũng đều buông mình cho thiên nhiên hay cho định mệnh đưa đẩy, không hề có ý định trở thành một ai đó hay gây ấn tượng trên người khác. Chỉ có điều khác là: người lớn làm như vậy không dựa vào bản năng tự nhiên, như trẻ con, mà dựa vào sự tỉnh ngộ liên tục về tất cả mọi sự đang diễn ra nơi mình và chung quanh mình. Nhờ sự tỉnh ngộ ấy họ tránh được các điều xấu và lớn lên theo như thiên nhiên đã trù định, chứ không theo kế hoạch của những cái tôi đầy tham vọng.

3. Còn một cách nữa người lớn làm mất sự vô tội của tuổi thơ: đó là dạy chúng phải bắt chước ai đó. Khi bắt một đứa trẻ trở thành bản sao của ai đó, là bạn đã dập tắt cái tia sáng độc đáo đã đi theo đứa trẻ khi nó chào đời. Khi bạn quyết định rở thành một ai đó, bất kể có vĩ đại và thánh thiện hay không, là bạn đã làm hỏng con người mình.

Thử nghĩ tới ánh lửa độc đáo trong lòng mình, đã bị chôn vùi dưới bao nhiêu lớp sợ hãi. Sợ mình sẽ bị chê cười hay bị khai trừ bởi đã dám sống trung thực với mình, không chịu máy móc khuôn theo cách ăn mặc, hành động, nghĩ suy của nhiều người. Bạn đã từng uốn mình theo người khác không chỉ trong hành vi và tư tưởng, mà cả trong những phản ứng, những cảm xúc, những thái độ và những giá trị. Bạn không dám bứt ra khỏi tình trạng hư hỏng ấy, không dám đòi lại sự vô tội nguyên thuỷ của mình. Đây chính là cái giá bạn phải trả để được xã hội và tổ chức của mình đón nhận. Nhưng như thế là bạn đã bước vào thế giới của những người luồn cúi, những người bị kiểm soát; là đã bị lưu đày ra khỏi vương quốc chỉ dành cho những ai vô tội như trẻ thơ.

4. Một cách nữa rất tinh vi có thể làm mất đi sự vô tội của bạn là ưa ganh đua và so sánh với người khác. Khi làm như thế, là bạn đã đánh đổi sự đơn sơ của mình để lấy tham vọng muốn như một ai đó hoặc hơn một ai đó.

Sở dĩ trẻ em có thể giữ được sự vô tội của mình và sống như bao thụ tạo khác trong hạnh phúc Nước Trời, ấy là vì nó không bị hút vào cái mà chúng ta gọi là thế gian – là nơi tăm tối của người lớn, trong đó người ta không dành thời gian để sống mà là để tìm lời khen và sự ngưỡng mộ, không dành thời gian để sống trung thực với mình cách vui vẻ mà là để so sánh và ganh đua tới mức điên cuồng, để chạy theo những điều trống rỗng mang tên là thành công và danh tiếng, dù đôi khi phải trả giá đắt tới mức đánh gục, làm nhục và tiêu diệt người thân cận mình.

5. Nếu cho mình nếm cảm thực sự những đau khổ của địa ngục trần gian ấy và sự trống  rỗng do địa ngục trần gian ấy mang tới, có thể bạn sẽ thấy lòng mình như muốn nổi loạn, lòng mình chán ngán tới mức bạn muốn phá tan mọi xích xiềng của lệ thuộc và lừa phỉnh đã từng quấn quanh tâm hồn bạn, để được bước vào vương quốc của sự vô tội – nơi đó có các trẻ thơ và các nhà thần bí.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách: Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên:

Sự thay đổi nhã nhặn

Sự thay đổi nhã nhặn

“Nước Trời phải chịu sự mạnh bạo, và những người tàn bạo đã dùng bạo lực mà giành lấy Nước Trời” (Mt 11, 12).

Thử so sánh vẻ đẹp đơn sơ và thanh thoát của một đoá hoa hồng đang nở với những căng thẳng và bất an trong cuộc đời bạn. Cánh hoa ấy có một điều mà bạn không có, là hoàn toàn bằng lòng với chính mình. Đoá hoa không bị cài đặt chương trình từ ban đầu như bạn đã bị – chương trình bất mãn với chính mình. Vì thế, đoá hoa không mảy may bị thúc bách phải trở nên một cái gì đó hơn sự thật của mình.

Đó là lí do giải thích tại sao đoá hoa có được một vẻ đẹp không giả tạo, không có những dằng co nội tâm mà trong nhân loại chúng ta chỉ thấy nơi các trẻ nhỏ và các nhà thần bí.

Hãy xem tình trạng buồn bã của bạn. Lúc nào bạn cũng bất mãn với chính mình, muốn thay đổi chính mình. Vì thế, người bạn lúc nào cũng đầy bạo lực và không chịu được mình, mà điều này chỉ thấy xuất hiện mỗi khi bạn cố gắng thay đổi chính mình. Nếu vậy, bất cứ sự thay đổi nào bạn thực hiện cũng có kèm theo sự dằng co nội tâm.

Bạn đau khổ khi thấy người khác làm được điều mà mình không làm được, hay trở thành cái mà mình chưa trở thành.

Bạn có cảm thấy ghen tương và tức tối hay không, nếu như bạn biết bằng lòng với chính mình và không bao giờ khao khát cái mà mình không phải là? Tiếc rằng bạn bị thôi thúc trở thành một người khác, có kiến thức nhiều hơn, có vóc dáng đẹp hơn, nổi tiếng và thành công hơn. Bạn muốn trở thành người có nhiều nhân đức hơn, yêu nhiều hơn, trầm tư hơn; bạn muốn tìm được Chúa, ngày càng xích lại gần hơn với lí tưởng của mình.

Hãy nhớ lại lịch sử đáng buồn của mình khi ra sức hoàn thiện bản thân; lịch sử ấy đã kết thúc, nếu không tan tành mây khói thì cũng chỉ thành công với biết bao đau khổ và chiến đấu.

Bây giờ hãy thử hình dung bạn buộc phải thôi không còn cố gắng thay đổi bản thân mình và bất mãn với bản thân mình nữa, lúc ấy bạn có sẵn sàng đi ngủ, miễn cưỡng chấp nhận mọi sự nơi mình và chung quanh mình không?

Nhưng còn một cách khác, không cần cù đẩy mình tiến lên mà cũng không miễn cưỡng chấp nhận bỏ cuộc. Đó là tự hiểu lấy bản thân mình. Đây là một điều không dễ dàng vì muốn hiểu sự thật của mình, bạn cần phải tự do hoàn toàn khỏi mọi ham muốn thay đổi sự thật của mình để trở thành một điều gì khác.

Bạn sẽ hiểu điều này rõ hơn, khi so sánh thái độ của nhà khoa học nghiên cứu các thói quen của loài kiến nhưng không hề mảy may muốn thay đổi các thói quen ấy với thái độ của một người huấn luyện chó tìm hiểu các thói quen của chó để bắt chúng học một điều gì đó.

Nếu điều bạn đang cố gắng làm không phải là tìm cách thay đổi bản thân mình, mà chỉ là quan sát bản thân mình, nghiên cứu từng phản ứng của mình đối với con người và sự vật, không phê phán hay kết án mà cũng chẳng muốn cải tạo bản thân, sự quan sát của bạn lúc ấy sẽ không trở nên thành kiến hay thiên vị mà là bao trùm lên tất cả, sẽ không cứng ngắc với những kết luận chắc nịch mà là cởi mở và luôn luôn mới mẻ.

Sau đó, bạn sẽ thấy có một điều hết sức kì diệu xảy ra nơi mình: bạn sẽ trở nên hết sức tỉnh táo, trong suốt và hoàn toàn thay đổi.

Lúc ấy, sự thay đổi sẽ xảy ra chăng? Phải. Nơi con người bạn và trong môi trường chung quanh bạn.

Nhưng sự thay đổi ấy có không phải là do sự khéo léo và ngược xuôi vất vả của bạn, lúc nào cũng tranh giành, cũng so sánh, cũng ép uổng, cũng lên lớp, cũng lèo lái một cách bất bao dung và đầy tham vọng, sinh ra bao căng thẳng, xung đột và đối kháng giữa bạn và thiên nhiên – một quá trình sẽ làm bạn kiệt sức và thất bại như khi người ta chạy xe mà cứ đạp thắng mãi.

Nhờ sự tỉnh ngộ sáng suốt và có sức biến đổi ấy, người ta dẹp sang một bên cái tôi lúc nào cũng đòi hoạch định, lúc nào cũng tìm mình, để trao cho thiên nhiên toàn quyền tạo ra sự thay đổi như thiên nhiên đã từng làm cho đoá hoa hồng: không gượng gạo, duyên dáng, quên mình, khoẻ khoắn, không vướng một sự xung đột nội tâm nào. Nếu thay đổi nào cũng bạo tàn thì đoá hoa hồng ấy cũng sẽ bạo tàn. Nhưng phẩm chất tuyệt vời của thiên nhiên không phát sinh từ sự bất bao dung và thù ghét bản thân mình.

Chính vì thế trong cơn mưa bão quét đi tất cả mọi sự không hề có sự giận dữ, cũng không hề có loài cá nào ăn con mình để tuân thủ các định luật môi trường lạ lùng, cũng không hề có các tế bào trong thân thể con người phá huỷ nhau vì một lợi ích nào đó cao hơn.

Nếu thiên nhiên có huỷ hoại điều gì thì đó không phải là do thiên nhiên tham vọng, tham lam hay đòi bành trướng bản thân mình, mà chỉ là vì tuân thủ một định luật huyền bí nào đó nhằm lợi ích cho toàn vũ trụ hơn là chỉ lo cho sự sống còn và lành mạnh của các thành phần riêng lẻ.

Đây là thứ mạnh bạo mà chúng ta gặp thấy nơi các nhà huyền bí: mạnh bạo là vì chống lại các ý kiến và cơ chế đã ăn sâu vào xã hội và văn hoá chúng ta và nhờ đó nhìn ra những tệ đoan mà các người cùng thời với các ngài có thể mù quáng không thấy.

Cũng chính sự mạnh bạo này đã khiến cho đoá hoa hồng vươn thẳng và đương đầu với các sức mạnh thù nghịch. Đó cũng là sự mạnh bạo mà đoá hoa hồng bắt chước nhà thần bí kia: là nhẹ nhàng hưởng ứng, sau khi đã mở hết các cánh hoa ra đón lấy ánh nắng mặt trời, và sống một cách thanh thoát, thật đáng yêu, không cần phải lo lắng tìm cách làm cho tuổi đời đã được an bài cho mình kéo dài thêm một phút. Đoá hoa ấy đã sống trong hạnh phúc và duyên dáng như các cánh chim trên trời và các đoá hoa ngoài đồng nội, không chút bất an và bất mãn, ghen tị và lo âu, tranh đua và giành giật, không như thế giới hôm nay, lúc nào cũng tìm cách nắm lấy phần kiểm soát và cưỡng ép, thay vì bằng lòng với sự tỉnh ngộ ấy, trao hết mọi gánh nặng cho Thiên Chúa bày tỏ quyền năng trong thiên nhiên.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách:Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên:

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa.

Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.

Có thật là việc cầu nguyện mỗi ngày hoàn toàn vô ích không? Hẳn nhiên không phải vậy, ít ra, chúng ta có thể thấy được 10 lợi ích “tức thì” của cầu nguyện, như sau:

  1. Sống giây phút hiện tại

Guồng quay của mưu sinh có khi làm người ta quên mất mình đang sống. Họ hay nghĩ về quá khứ hoặc tương lai, mà ít khi biết rằng hiện tại mới là cuộc sống. Dành ít phút lắng đọng mỗi ngày giúp người ta thưởng ngoạn sự sống của mình. Lúc đó, họ thật sự ý thức về sự sống đang tuôn chảy trong mình, cả linh hồn và thân xác được nghỉ ngơi, tách mình ra khỏi tất cả những bận tâm lo lắng. Họ đặt mình trước Đấng là Sự Sống và tiếp tục thụ hưởng sự sống nơi Ngài.

  1. Nhìn lại những gì đã qua để tạ ơn

Cuộc sống trôi qua với biết bao biến cố vui buồn nối tiếp nhau. Tất cả đều có những ý nghĩa và tác động nhất định đến cuộc sống của mình. Dưới cái nhìn đức tin, chúng đều là những hồng ân của Chúa. Một vài phút lặng đọng trong ngày để nhìn lại những chuỗi biến cố đó với tâm tình biết ơn là điều vô cùng tuyệt vời, vì nó giúp ta ngày càng chìm sâu trong tương quan thân quen với Chúa và sống sự hiện diện của Chúa trong từng phút giây của đời mình.

  1. Kiểm duyệt cuộc sống

Cũng không trách khỏi nhiều lúc chúng ta đã có những lời nói, hành vi, tư tưởng sai lạc, làm ảnh hưởng đến chính cuộc sống của mình và người khác. Với những sai sót lớn, ta dễ dàng nhận ra. Nhưng với những sai sót nhỏ, ta dễ dàng bỏ qua hoặc không để ý. Từ từ, chúng sẽ tích tụ lại và làm chúng ta sa lầy hơn. Thường xuyên nhìn lại với cái nhìn suy xét xem mình đã sống cuộc sống của mình thế nào, có gì cần chỉnh sửa lại cho tốt hơn sẽ giúp chúng ta trở nên hoàn thiện hơn và đáng yêu hơn với mọi người.

  1. Giúp hãm dẹp cơn nóng giận

Cơn nóng giận thường là nguyên cớ cho rất nhiều những lời nói và quyết định sai lầm của chúng ta. Lúc đó, ta bị cảm xúc chi phối nặng nề và không làm chủ được bản thân mình. Kinh nghiệm cho thấy, ta thường hối hận sau đó vì những gì mình đã làm. Trầm tĩnh lại là cách ta làm nguôi cơn nóng giận và khống chế nó. Khi đó cơn nóng giận sẽ từ từ tan đi. Điều này chỉ có được với một người có thói quen trở về với lòng mình mà họ thực tập hàng ngày trong những giây phút thinh lặng.

  1. Suy tính kỹ càng cho vấn đề của mình

Ai cũng có vấn đề của riêng mình và luôn nỗ lực để tìm cách giải quyết. Nhiều khi vì có quá nhiều giải pháp, người ta không biết chọn cái nào cho tốt. Cũng có khi phía trước chỉ là một màn đêm tăm tối, khiến mình chẳng biết phải làm sao. Đôi khi người ta hỏi ý kiến những bậc khôn ngoan. Nhưng bao giờ cũng cần đôi chút tĩnh lặng để suy xét. Các bậc trí giả thường cho rằng mọi giải pháp đều đã được phú bẩm trong lòng mình, chỉ cần thinh lặng là có thể lắng nghe được. Đó chẳng phải là những phút giây ta ở một mình và suy nghĩ đó sao? Những ồn ào bên ngoài sẽ làm cho chúng ta bị rối. Còn thinh lặng sẽ giúp ta sáng ra.

  1. Giúp xua tan nỗi sợ

Nỗi sợ là một trong những kẻ thù lớn nhất của con người. Nó cho thấy sự nhỏ bé, thấp hèn và bất lực của chúng ta. Mỗi khi sợ, ta thường cầu cứu sự trợ giúp của người khác. Khi nó vượt quá sức con người, ta thường chạy đến các bậc thần linh. Trong thinh lặng của cầu nguyện, ta được đưa vào đối diện với một vị Thiên Chúa vừa yêu thương ta và quyền năng vô hạn. Bỗng dưng, ta sẽ thấy mình được Ngài che chở bao bọc, hứa hẹn sẽ luôn ở bên và giúp ta vượt thắng mọi gian nguy thử thách. Người nào càng sống tinh thần cầu nguyện, người ấy càng bình tĩnh trước những giông tố của cuộc đời vì họ kín múc được sức mạnh từ Chúa.

  1. Những lời kinh giúp ý thức và loại trừ những tư tưởng xấu

Nhiều lúc chúng ta cũng muốn cầu nguyện nhưng chẳng biết cầu nguyện thế nào. Các phương pháp cầu nguyện dường như cao siêu và khó thực hành. Khi ấy, chỉ đơn giản là ta thầm thĩ những câu kinh đã được soạn sẵn. Những lời kinh tưởng chừng khô khan nhưng lại có tác dụng rất lớn. Nếu chúng ta vừa đọc vừa chú tâm đến từng lời kinh, nó sẽ trở thành những tâm tình của chúng ta dâng cho Chúa. Ngoài ra, khi chúng ta tập trung vào nó, nó sẽ giúp xua tan những tà ý đang có trong đầu mình. Nhờ đó, trái tim của chúng ta sẽ được thanh lọc và trở nên tinh tuyền hơn.

  1. Tiếp xúc với Lời Chúa, nghe Chúa nói với mình

Nếu chúng ta chọn cầu nguyện với Lời Chúa, mỗi ngày suy niệm một đoạn ngắn, ta sẽ có cơ hội chìm sâu trong những mặc khải của Chúa cho chúng ta. Những lời ấy sẽ ban cho chúng ta sức mạnh, giải thoát chúng ta khỏi mọi bận tâm lo lắng. Sâu hơn, ta sẽ nghe được điều Chúa muốn nhắn gửi riêng cho mình. Dần dần, ta sẽ hiểu biết hơn về Chúa, có mối tương quan thân thiết với Chúa, sẽ yêu Chúa hơn và được Chúa biến đổi để nên giống Đức Giêsu Kitô hơn. Lời Chúa không phải là lời bình thường. Lời ấy có sức cứu độ chúng ta và đưa chúng ta về Nước Trời.

  1. Đưa tâm hồn hướng về trời cao

Sự thinh lặng trong cầu nguyện sẽ giúp tâm trí chúng ta được giải thoát khỏi mọi thứ tầm thường của đời này. Ta sẽ dần dần được hấp dẫn bởi nét tuyệt đẹp của các nhân đức và bắt đầu kinh tởm những sự xấu xa vẫn đang vây hãm và quyến rũ chúng ta. Bản chất lương thiện trong ta sẽ trỗi dậy và ta biết mình không thuộc về chốn đời tạm này. Ta khám phá ra rằng quê thật của chúng ta là Thiên Đàng, là cõi vinh phúc đời đời, mà muốn trở về nơi ấy, ta phải dứt bỏ những thứ đang mê hoặc chúng ta ở đây, đang khiến chúng ta lầm đường lạc lối. Khi ấy, ta sẽ được nhấc bổng lên tận trời cao, đó là niềm hy vọng của chúng ta.

  1. Lãnh nhận ơn lành từ Chúa

Đây là một lợi ích thiết thực hơn bao giờ hết. Trong cầu nguyện, ta có thể xin Chúa những ơn lành cần thiết cho chính mình hay cho người khác. Cuộc sống tại thế này luôn khiến chúng ta sống trong tình trạng thiếu thốn trăm bề, nếu không phải là những thiếu thốn vật chất, thì cũng là tinh thần. Chẳng nơi đâu ta có thể “xin xỏ” một cách thoải mái như trong cầu nguyện vì ta biết rằng mình đang đối diện với một Đấng hằng yêu thương mình và luôn sẵn sàng ban ơn cho mình bất cứ lúc nào hay nơi nào, bao nhiêu cũng được.

Với 10 lợi ích như thế, tại sao chúng ta vẫn còn chần chừ, ngại ngùng, tiếc thời gian mà không dành giờ cho Chúa, phải không?

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Chia sẽ bài viết này trên:

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết lời tựa cho một cuốn sách mới có tựa đề “Hiệp thông và Hy vọng”, và khuyến khích mọi người tái khám phá tình liên đới giữa những tàn phá của đại dịch virus corona, hãy để mình được “nhiễm” tình yêu thương chứ không nhiễm virus.

Trong lời tựa cuốn sách được phát hành hôm 28/07 vừa qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã suy tư về những bài học mà các Kitô hữu đã học được từ đại dịch Covid-19.

Cuốn sách “Hiệp thông và Hy vọng” được Đức Hồng Y Walter Kasper và cha George Augustin biên tập, chứa đựng những suy tư thần học từ nhiều tác giả khác nhau về “việc làm chứng cho đức tin trong thời gian đại dịch”.

Đức Thánh Cha viết: “Giống như một cơn bão bất ngờ, cơn khủng hoảng virus corona đã khiến tất cả chúng ta ngạc nhiên, khi đột ngột thay đổi, ở cấp độ toàn cầu, cuộc sống cá nhân, công cộng, gia đình và công việc của chúng ta.” Ngài đau buồn vì nhiều người đã mất người thân, cũng như công việc và sự ổn định tài chính của họ. Ở nhiều nơi, ngay cả lễ Phục sinh cũng được cử hành một cách khác thường và vắng lặng, và mọi người không thể tìm được sự an ủi nơi các Bí tích.

Tìm gốc rễ của hạnh phúc

Theo Đức Thánh Cha, tình cảnh bi thảm này cho thấy rõ bản tính dễ tổn thương của con người, bị giới hạn bởi thời gian và sự bất ngờ. Đại dịch buộc chúng ta đặt câu hỏi về gốc rễ của hạnh phúc và tái khám phá gia sản đức tin Ki-tô giáo của chúng ta. Ngài nói: “Nó nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã quên hoặc đơn giản là trì hoãn tham gia một số vấn đề chính trong cuộc sống. Nó đang khiến chúng ta đánh giá những gì thực sự quan trọng và cần thiết, và những gì có tầm quan trọng thứ yếu hay chỉ là hời hợt”.

Cơ hội sống liên đới

Đức Thánh Cha suy tư rằng thời gian thử thách này cho chúng ta cơ hội để hướng cuộc sống chúng ta trở về với Thiên Chúa; nó mời gọi chúng ta dùng cuộc sống phục vụ tha nhân, ý thức những bất công và thức tỉnh trước tiếng kêu của người nghèo và trái đất bị đau bệnh.

“Truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác

Phục Sinh tỏ cho các tín hữu thấy rằng chúng ta không bị tê liệt bởi đại dịch. Phục Sinh mang hy vọng, tin tưởng và khuyến khích, củng cố ý thức liên đới. Mối nguy bị nhiễm virus sẽ dạy chúng ta cách “truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác. Cử hành Thánh Thể ban cho chúng ta sức mạnh để giải quyết những khó khăn và thử thách. Và cuối cùng, Đức Thánh Cha hy vọng cuốn sách giúp khám phá “một ý nghĩa mới của hy vọng và liên đới.” (CSR_5506_2020)

Vatican News (29.7.2020) Hồng Thủy

Chia sẽ bài viết này trên:

Từ Sợ Hãi đến Yêu Thương

Từ Sợ Hãi đến Yêu Thương

Bức i-côn “Ba Ngôi Thiên Chúa-theo Cựu Ước”
của Andrei Rublev vẽ vào khoảng năm 1410

Khi cầu nguyện trước bức i-côn này, chúng ta cảm thấy được mời gọi tham gia vào cuộc đối thoại thân mật giữa ba Đấng Rất Thánh và đồng bàn với các Ngài. (Henri Nouwen)

Những người tích trữ vì sợ

Một số người quá quan tâm về nguồn dự trữ trên thế giới bảo nhau rằng: “Lấy gì bảo đảm là chúng ta có đủ lương thực và nguồn dự trữ cho những lúc khó khăn? Cho dù bất cứ điều gì xảy đến, chúng ta phải tìm cách để có thể tồn tại. Vậy cách tốt nhất là chúng ta hãy thu tích thật nhiều lương thực và kiến thức hầu có đủ cho chúng ta trong những lúc túng thiếu và giúp chúng ta vượt qua thời gian khủng hoảng.” Thế rồi họ bắt đầu tích trữ mọi thứ cần thiết, nhiều đến nỗi người khác phải lên tiếng phản đối: “Các anh đã thu tích quá nhiều, nhiều hơn những gì các anh cần. Trong khi chúng tôi lại không có đủ lương thực để có thể tồn tại. Hãy chia sẻ cho chúng tôi phần dư của các anh!” Nhưng những người chỉ lo tích trữ lại nói: “Không, không được đâu, chúng tôi cần phải dự trữ những thứ này phòng khi cần, nhất là trong những lúc rủi ro, nguy hiểm.” Những người kia năn nỉ: “Hiện tại chúng tôi đang chết đói, làm ơn chia sẻ cho chúng tôi ít lương thực, đồ dùng và kiến thức của các anh để chúng tôi có thể tồn tại. Chúng tôi không thể đợi thêm được nữa! Chúng tôi cần những thứ đó ngay bây giờ!” Nghe đến đây, những người chuyên lo tích trữ vì sợ thiếu lại càng sợ hơn, ngoài nỗi sợ thiếu, giờ họ lại mang thêm một nỗi sợ nữa, đó là sợ những người nghèo đói tấn công. Vì thế họ bảo nhau: “Chúng ta hãy xây tường rào chung quanh để người lạ không thể đột nhập vào lãnh địa của chúng ta.” Thế là họ bắt đầu xây những tường rào cao vừa kiên cố đến nỗi họ không thể nhìn thấy bất cứ ai ở bên ngoài, dù những người bên ngoài đó quen hay lạ! Và khi nỗi sợ gia tăng, họ nói với nhau: “Kẻ thù của chúng ta càng ngày càng nhiều và mạnh đến độ họ có thể đập phá những bức tường của chúng ta. Vì thế, nếu chúng ta chỉ xây tường thôi thì chưa đủ chắc chắn để chống lại kẻ thù, chúng ta cần đặt chất nổ và kẽm gai trên những tường rào để không còn ai dám đến gần.” Tuy nhiên, thay vì cảm thấy an toàn sau những bức tường được trang bị vũ khí chống kẻ thù, họ lại cảm thấy chính họ bị nhốt trong những nhà tù của sự sợ hãi do chính họ xây lên.

Tại sao chúng ta lại sợ hãi đến thế?

Càng biết nhiều người và càng hiểu họ thì tôi càng thoát khỏi thế lực của những sợ hãi tiêu cực. Một khi chúng ta sống trong lo sợ thì nỗi sợ càng có sức mạnh vây hãm cuộc sống của chúng ta. Sợ hãi xâm nhập vào toàn bộ cơ cấu của chúng ta, cá nhân cũng như cộng đoàn. Nhiều người đã để cho sự sợ hãi chi phối mọi động lực, suy nghĩ và hành động của họ. Chúng ta quá lo lắng cho bản thân mình và cho những người chung quanh. Chúng ta sợ điều dữ, sợ những điều không may có thể xảy ra cho mình và cho người thân.

Trong cuộc sống, hầu như lúc nào chúng ta cũng có cái gì đó để sợ: sợ những điều ở bên trong, ở chung quanh chúng ta, sợ những chuyện rất gần hoặc rất xa, sợ những điều nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được, sợ chính mình, sợ người khác và sợ cả Thiên Chúa. Trong mọi suy nghĩ, lời nói, hành động hoặc những phản ứng của chúng ta dường như luôn mang dáng dấp của sự sợ hãi. Nỗi sợ này dường như có một sức mạnh vô hình mà chúng ta không thể giũ bỏ nó được. Một khi sự sợ hãi xâm chiếm tâm hồn chúng ta cách sâu xa, nó đi vào cả trong cõi vô thức. Một cách ý thức hay không ý thức, chúng ta đã để cho nỗi sợ điều khiển tất cả mọi sự lựa chọn và quyết định của chúng ta. Sự sợ hãi nếu chưa được thuần hóa có thể trở thành một bạo chúa hung hãn hành hạ và đàn áp chúng ta phải sống như những con tin trong ngục tù của nó.

Một khi chúng ta để cho nỗi sợ hãi len lỏi vào cuộc sống của mình, chúng ta tự nhốt mình trong căn nhà của sợ hãi và nhìn mọi thứ bên ngoài qua lăng kính sợ hãi. Vì thế, những gì chúng ta thấy chỉ là bế tắc, thiếu thốn, khan hiếm và xa tránh. Ai bị chi phối bởi sức mạnh của sợ hãi, tâm trí họ luôn cảm thấy căng thẳng và muốn xa tránh người khác. Những ai làm chúng ta sợ hãi, thường sai khiến chúng ta làm những gì họ muốn. Khi sợ người nào, chúng ta thường để cho người đó điều khiển chúng ta. Sự sợ hãi là một trong những vũ khí hữu hiệu nhất trong tay những ai muốn điều khiển chúng ta. Những người đó có khi là bố mẹ, thầy cô giáo, bác sĩ, cấp trên, giám mục, cha xứ hoặc Thiên Chúa. Một khi bị sợ hãi khống chế, chúng ta suy nghĩ, nói năng và hành động như một người nô lệ.

Nhìn vào mối quan tâm của xã hội hôm nay, những chủ đề và chuyên mục trên tạp chí, trên đài phát thanh thường tập trung vào quyền lực và sự sợ hãi. Mọi người luôn lo lắng tự hỏi: Tôi sẽ phải làm gì hoặc tôi sẽ sống ra sao nếu tôi không tìm được một người bạn đời, không mua được nhà, không tìm được việc làm xứng hợp, không tìm được người bạn hay một vị ân nhân nào giúp tôi? Tôi sẽ phải làm gì nếu tôi bị đuổi việc? Nếu như tôi bị bệnh hoặc gặp tai nạn thì tôi phải làm thế nào? Làm sao tôi có thể vượt qua được nỗi đau nếu tôi mất đi người bạn thân, hoặc hôn nhân của tôi tan vỡ? Nếu chiến tranh xảy ra thì cuộc sống của tôi sẽ như thế nào? Thực ra, sự thật vô hình hàm chứa trong những câu hỏi này là: sẽ chẳng bao giờ có những câu trả lời khỏa lấp được sự sợ hãi trong tâm hồn họ vì họ luôn luôn cảm thấy sợ, hết sợ chuyện này lại đến chuyện khác. Việc này giải quyết chưa xong lại xuất hiện nỗi sợ khác. Để đi đến quyết định sinh con, chúng ta vạch ra rất nhiều thứ phải làm liên hệ đến đứa con như sự lo lắng liệu mình có đủ khả năng để trợ cấp cho con vào đại học hay không? Việc nuôi dạy con sẽ như thế nào? Và cứ thế, chúng ta cứ bị cuốn vào hết nỗi lo này đến nỗi lo khác liên quan đến nghề nghiệp, nơi mình sống, bạn bè, người thân và rất nhiều thứ khác. Nếu chúng ta cho rằng, chúng ta sẽ không hạnh phúc nếu không được bạn bè tán thành, ca tụng? Hoặc chúng ta nghĩ là sẽ bất hạnh nếu không có đủ tiền. Những ý nghĩ như thế sẽ khiến chúng ta tiếp tục ở trong tình trạng sợ hãi lo lắng và cố tìm mọi cách để thu tích, để có nhiều hơn nữa. Cứ thế, từ nỗi sợ này lại sinh ra nỗi sợ khác. Sợ hãi chẳng bao giờ nảy sinh tình yêu.

Tác động của sự sợ hãi trên cuộc đời chúng ta có thể rất tinh vi. Trong ý thức, chúng ta có thể không dám nghĩ mọi người chung quanh là kẻ thù của chúng ta, tuy nhiên, chúng ta vẫn có những thái độ và ứng xử như thể họ là kẻ thù. Ngày qua ngày, nếu điều đó cứ tiếp tục xảy ra, thì một ngày nào đó, chúng ta sẽ cảm thấy mình trở thành kẻ xa lạ với những người hàng xóm láng giềng và ngay cả với những người sống chung một nhà với chúng ta. Chúng ta cảm thấy sợ hãi, cô lập và bất lực. Thay vì tự tin và tự do, chúng ta lại cảm thấy lo âu buồn phiền và tê liệt. Thay vì sống trong niềm vui và hy vọng, chúng ta lại cảm thấy buồn phiền và trống rỗng. Thay vì sống trong căn nhà trào tràn tình thương, nơi Thiên Chúa ngự trị, chúng ta lại nhốt mình trong ngục tù của sự sợ hãi.

NGÔI NHÀ NƠI TÌNH YÊU ĐƯỢC VUN TRỒNG

Trong vài tháng được chia sẻ và quan sát đời sống của những anh chị em nghèo khổ, bị áp bức tại Châu Mỹ La Tinh, tôi dần nhận ra rằng họ là những người rất tự do, không sợ gì cả. Họ sống rất đơn sơ, chân thành và luôn thể hiện lòng biết ơn giữa một đất nước đầy những mối nguy hiểm, sợ hãi. Ở nơi đó, tôi nhìn thấy những người nghèo đói, đau đớn và khổ cực. Cũng nơi đó tôi tìm được niềm vui, sự bình an và lòng biết ơn. Tôi cũng sớm nhận ra rằng, sự áp bức và sự nghèo đói của Nam Bán cầu là những nỗi lo sợ, thống khổ và sự giam hãm của những người sống trong Bắc Bán cầu. Một cách nào đó, hai thực tại này không thể tách rời nhau. Sự đau khổ và mất tự do được tạo nên bởi nhu cầu tích trữ và sợ hãi hoang mang không tách rời khỏi những đau khổ mà anh chị em đang sống trong các vùng mà chúng ta gọi là “quốc gia đang phát triển” phải hứng chịu. Tại Bắc Mỹ, dường như chúng ta quên đi những điều dẫn chúng ta tới cuộc sống yêu thương. Chúng ta dường như đã đánh đổi niềm hy vọng ở trong ngôi nhà yêu thương của Chúa bằng những bức tường kiên cố, hệ thống an ninh trật tự và những cộng đồng kín cổng cao tường.

Thánh Gioan đã rất chí lý khi khẳng định tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi. Ở đây thánh nhân muốn ám chỉ đến một tình yêu thánh thiêng đến từ Thiên Chúa. Ngài không đưa ra một chiến lược cụ thể nhằm đạt được mục tiêu hay phát triển hệ thống an ninh. Ngài cũng không nói đến những cảm xúc của con người hay sự hòa hợp tâm lý, hấp dẫn lẫn nhau hoặc những cảm xúc sâu đậm thu hút nhau. Tất cả những điều này đều có giá trị của nó. Tuy nhiên, tình yêu hoàn hảo mà thánh Gioan muốn nói ở đây là một tình yêu phổ quát và vượt trên mọi dự định, cảm xúc, tình cảm và đam mê. Tình yêu hoàn hảo là một tình yêu linh thánh, trong đó chúng ta được mời gọi thông phần vào sự mật thiết của Thiên Chúa và học biết ở lại trong sự mật thiết với Đấng là tác giả và là cội nguồn của tình yêu. Sự mật thiết này không khởi đi từ con người nhưng phát xuất từ Thiên Chúa và do sáng kiến của Chúa – Đấng đã đến cắm lều và ở giữa chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta vào ở trong nhà của Ngài, nơi mà Ngài đã chuẩn bị phòng ốc sẵn sàng cho chúng ta.

Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU

Thánh kinh Cựu ước cũng như Tân ước rất nhiều lần đã dùng từ “nhà – home”. Các Thánh vịnh luôn diễn tả một sự khao khát được ở trong nhà của Thiên Chúa, được ẩn náu dưới cánh của Ngài và trú ẩn an toàn trong đền thánh Chúa; các Thánh vịnh ca ngợi nơi thánh của Chúa, là lều tạm lý tưởng và nơi trú ẩn an toàn vững chắc. Cụm từ “ở trong nhà Chúa” diễn tả nỗi khát mong trong những lời cầu nguyện tâm tình trên đây. Thật là ý nghĩa khi thánh Gioan mô tả Chúa Giêsu – Ngôi Lời Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Thánh Gioan không chỉ kể lại cho chúng ta về việc Chúa Giêsu đã mời gọi thánh nhân và người anh là ông Andrê đến và ở lại trong nhà của Chúa (Ga 1, 38-39) nhưng thánh Gioan còn khéo léo cho chúng ta thấy cách thức Chúa Giêsu thể hiện Ngài chính là Đền Thờ mới (Ga 2,19). Điều này được biểu lộ rõ ràng trong diễn từ ly biệt, khi Chúa Giêsu cho thấy Ngài chính là nơi cư ngụ đích thực của chúng ta: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4). Chúa Giêsu, nơi cư ngụ trọn vẹn của Thiên Chúa, đã trở thành nhà – nơi ở của chúng ta. Bằng cách chọn ở lại trong chúng ta như nhà của Chúa, Chúa Giêsu cho phép chúng ta ở lại trong Chúa như nhà của chúng ta. Bằng việc xây dựng mối tương quan thân mật với chúng ta, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tham dự vào mối tương quan thân mật giữa Ngài với Chúa Cha. Bằng việc chọn chúng ta làm nơi ở yêu thích của Ngài, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta chọn Ngài làm nơi cư ngụ yêu thích của chúng ta. Có thể chúng ta sẽ phân vân tự hỏi làm sao chúng ta có thể ở trong ngôi nhà tình yêu? Hoặc phải chăng vì chúng ta đã quen sống trong sự sợ hãi đến độ không còn khả năng nghe được lời mời gọi, “Đừng sợ!” của Chúa?”

ĐỪNG SỢ!

Đây là lời quả quyết mà không chỉ một mình chúng ta cần học để có thể nghe thấy nhưng còn phải được minh chứng bằng cuộc sống để tất cả mọi người đều có thể cảm nhận và nghe được lời này. Cụm từ “Đừng sợ!” được nhắc đến nhiều lần trong Tân ước. Khi sứ thần của Chúa xuất hiện, lời đầu tiên của các ngài, đó là “đừng sợ!” Đây cũng là lời sứ thần Gabriel đã nói với ông Giacaria khi hiện ra với ông trong đền thờ và báo cho ông biết vợ ông, bà Elizabeth sẽ sinh một con trai; cũng với lời này, sứ thần Gabriel nói với Đức Maria khi hiện ra với Mẹ trong căn nhà của Mẹ tại làng Nazareth. Sứ thần báo cho Mẹ biết là Mẹ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu.

Qua cuộc đời sứ vụ, Chúa Giêsu đã nhiều lần dạy các môn đệ đừng nhát đảm, đừng để cho sự sợ hãi thống trị. Khi các môn đệ hoảng sợ trước các đợt sóng dữ dội, Chúa Giêsu vẫn thản nhiên ngủ trên thuyền! Như các môn đệ đầu tiên, mỗi khi nỗi lo âu ập đến làm chúng ta chao đảo, chúng ta cũng muốn đánh thức Chúa và hoảng hốt thưa với Ngài: “Xin cứu chúng con, lạy Chúa, vì chúng con sắp chìm rồi!” Ngài cũng sẽ bảo với chúng ta: “Hỡi những người kém lòng tin, sao các con lại hoảng hốt đến thế?” Và Ngài ngăm đe gió và biển, biển lặng như tờ (x. Mt 8,23-27). Lời trấn an này cũng được lặp lại cho các phụ nữ khi các bà đến thăm mộ Chúa và thấy tảng đá bị lăn sang một bên: “Đừng sợ, đừng sợ, đừng sợ.”

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ trong căn phòng đóng kín vì sợ, Ngài nói với các ông: “Hãy an tâm, chính Thầy đây, đừng sợ” (Mt 28,10). “Thầy là Thiên Chúa tình yêu, Đấng mời gọi các con đến lãnh nhận món quà của niềm vui, của sự bình an và lòng biết ơn để các con trút bỏ hết mọi nỗi sợ hãi lo âu. Nhờ đó các con có thể chia sẻ cho người khác kinh nghiệm về những điều các con sợ phải buông bỏ.” Lời mời gọi của Chúa Giêsu gọi mời tất cả chúng ta hãy bước ra khỏi căn nhà của sự sợ hãi để đến ở trong mái nhà của tình yêu; ra khỏi sự giam hãm của chốn ngục tù để bước vào vùng trời tự do: “Hãy đến với Ta, hãy vào trong nhà của Ta, căn nhà của tình yêu!”

“Đừng sợ!” – lời trấn an được lặp đi lặp lại nhiều lần. Đây là lời mà chúng ta cần nghe nhất. Một lời chứa đựng những từ như “Fear not!- Đừng sợ!” đã và đang được vang lên trong suốt dòng lịch sử nơi môi miệng các sứ giả của Chúa, nơi lời của các thiên thần hoặc các thánh, nhất là lời của chính Chúa Giêsu. Đó là lời mở ra một cuộc sống hoàn toàn mới – cuộc sống trong mái ấm yêu thương, trong căn nhà của Chúa.

Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng ta dọc dài cuộc sống, Ngài dạy dỗ và chỉ lối cho chúng ta trở về với mái ấm yêu thương. Nhưng thật không dễ để hiểu được những bài học của Chúa vì chúng ta thường bị chi phối bởi rất nhiều nỗi sợ hãi hoang mang. Chúng ta cảm thấy lo lắng sợ hãi khi nhìn vào những công việc hoặc những nhiệm vụ tưởng như vượt quá sức mình, khi phải đối diện với những thách đố, những đợt sóng dữ dội, những cơn lốc và bão tố gầm thét. Chúng ta thường thốt ra những câu nói đượm vẻ hoài nghi như: “Vâng, vâng, … nhưng cứ nhìn xem, thực tế đâu có thể bảo đảm cho tôi khỏi những lo lắng.” Chúa Giêsu, một vị Thầy đầy kiên nhẫn, Ngài không ngừng dạy chúng ta phải xây đắp cho căn nhà – quê hương đích thực của mình ở đâu. Ngài dạy chúng ta nên tìm kiếm điều gì và chọn lựa lối sống nào hầu dẫn chúng ta đến tình yêu đích thực. Khi chúng ta phân vân, mất định hướng, chúng ta thường tập trung mọi chú ý của mình vào những khó khăn, nguy hiểm mà quên đi những điều chúng ta đã nghe. Những lúc đó, Chúa Giêsu tiếp tục nhắc nhở chúng ta: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong các con. Ai ở lại trong Thầy thì Thầy sẽ ở lại với người ấy và người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái…. Thầy đã nói với các con điều này để niềm vui của Thầy ở mãi trong các con, và niềm vui của các con nên trọn vẹn” (Ga 15,4 – 5.11). Quả vậy, Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta hãy ở trong ngôi nhà yêu thương của Ngài.

TỪ SỢ HÃI ĐẾN YÊU THƯƠNG

Cầu nguyện là con đường dẫn chúng ta ra khỏi ngôi nhà sợ hãi để bước vào ngôi nhà tình yêu. Cầu nguyện giúp chúng ta vượt thắng nỗi lo sợ do bị lệ thuộc vào một cá nhân nào đó, bị chi phối bởi cách họ suy nghĩ về chúng ta và cách hành xử của họ đối với chúng ta. Chúng ta lo lắng “anh hoặc chị ấy nghĩ gì về tôi? Ai thực sự là bạn của tôi? Kẻ thù của tôi là ai? Ai tán thành tôi, khen ngợi tôi hay phản đối tôi? Ai nói tốt hoặc nói xấu về tôi?” Chúng ta cứ mải lo lắng băn khoăn đi tìm ảnh hưởng, giá trị và căn tín đời mình từ người khác. Một khi chúng ta để cho người khác quyền quyết định về giá trị bản thân hay lòng tự trọng của mình tùy vào cách họ phản ứng, suy nghĩ hoặc nói về chúng ta, lúc đó, chúng ta trở thành nô lệ cho những mối tương quan. Chúng ta trở thành những người bị lệ thuộc hoặc ăn bám vào một ai đó để họ bố thí cho mình chút tình thương, giá trị và chỗ đứng của bản thân mình. Và nếu không được người ấy nhìn nhận, chúng ta sẽ cảm thấy bị hụt hẫng và mất định hướng. Chúng ta đã để cho người đó quyết định căn tính và phẩm giá của mình. Dần dần sự lệ thuộc cách mù quáng này khiến chúng ta mất định hướng và mục đích sống. Lúc đó, thay vì chọn sống cuộc sống của mình cách tự do thoải mái, chúng ta lại sống trong sự bất an, lo âu và sợ hãi.

Trong một thế giới đầy những hỗn loạn, bất an, một trong những cách cầu nguyện tốt nhất là chúng ta chọn tình yêu hơn là lo lắng băn khoăn, chọn mở rộng tâm hồn để cảm nhận sự hiện diện sống động của Đấng luôn yêu thương che chở chúng ta. Khi chúng ta đạt đến sự trưởng thành thiêng liêng và cảm nghiệm sâu xa về sự hiện diện của Chúa, đồng thời ý thức rằng cuộc sống của chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Thiên Chúa và sự thông hiệp với Ngài cho dù hoàn cảnh bên ngoài có thế nào đi nữa, chính lúc đó, chúng ta mới có thể rũ bỏ mọi nỗi sợ hãi đang đeo bám tâm trí chúng ta. Thực tế cho thấy, thật hiếm có một ngày trong đời, một ngày mà chúng ta không phải đối diện với bất kỳ một nỗi lo âu nào cả, bên trong cũng như bên ngoài. Thế nhưng, cho dù cuộc sống luôn phải đối diện với trăm nghìn mối lo, chúng ta không phải sống trong sự sợ hãi, vì tình yêu mạnh hơn sợ hãi: “Trong tình yêu không có sợ hãi; tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” (1Ga 4,18).

Thật sự tôi chưa bao giờ thấy ở đâu mô tả về ngôi nhà của tình yêu đẹp và đầy đủ ý nghĩa như nơi bức i-côn về Chúa Ba Ngôi của họa sĩ Andrei Rublev đã vẽ vào năm 1410 để tưởng nhớ thánh Sergius (1313 – 92) – vị thánh vĩ đại người Nga. Đối với tôi, bức tranh i-côn như là cánh cửa sổ hé mở cho chúng ta nhìn vào bên trong ngôi nhà tình yêu. Quả thật, câu chuyện đằng sau bức tranh gợi mở cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa.

Trước đây khá lâu, ở nước Nga, nhiều cuộc bạo động xảy ra tại một thành phố nhỏ khiến các thầy trong Đan viện cảm thấy lo lắng sợ hãi đến nỗi họ không thể cầm trí cầu nguyện được. Trước tình hình đó, Viện phụ đã mời Rublew, một họa sĩ nổi tiếng về tranh i-côn, vẽ một bức tranh hầu giúp các thầy có thể duy trì đời sống cầu nguyện ngay giữa những hỗn loạn, hiểm nguy và sợ hãi. Rublev đã vẽ một bức i-côn dựa trên câu chuyện trong sách Sáng Thế kể lại việc ba thiên thần đến thăm ông Abraham và cùng chia sẻ với nhau quanh bàn tròn của tình thân và lòng hiếu khách. Trong bức tranh i-côn, nhân vật ở giữa chỉ hai ngón tay về chén thánh và nghiêng người về phía nhân vật ở bên trái, Đấng đang dâng lời chúc tụng. Nhân vật thứ ba ngồi phía bên phải chỉ về lỗ trống hình vuông ở trên mặt bàn. Từ những chuyển động của các nhân vật và những chi tiết của bức tranh, người xem như được mời gọi tham dự vào cuộc đối thoại cùng với những chuyển biến thiêng liêng diễn ra khi đàm đạo. Ba nhân vật đã hợp thành vòng tròn bí nhiệm được chuyển động theo một sự cân xứng hoàn hảo. Vì thế, khi các thầy cầu nguyện trước bức tranh i-côn và tập trung tâm trí vào vòng tròn của tình yêu, sự thân mật và lòng hiếu khách, họ bỗng nhận ra rằng họ chẳng có gì phải sợ. Khi các thầy tự cho mình trở thành thành viên của cộng đoàn được thiết lập bởi ba Đấng Thánh, đồng thời để mình bị lôi cuốn vào trong vòng tròn của sự an toàn và tình yêu thương, lúc đó các thầy sẽ cảm thấy vững tâm và cầu nguyện tốt.

Đứng trước bức i-côn này, tôi ý thức về những nỗi lo lắng đang có trong tôi. Nhưng khi tôi tập trung mọi chú ý vào ô vuông trên mặt bàn, tôi cảm thấy đó như một chiếc cửa sổ dẫn tôi bước vào nơi sâu thẳm trong sự thân mật với Thiên Chúa. Điều này giúp tôi xác tín hơn rằng, dù tôi vẫn phải đối diện với những khó khăn thử thách của một thế giới ngập tràn những nỗi ghét ghen và sợ hãi, thì chính sự thân tình, lòng hiếu khách và sự niềm nở đón tiếp của các nhân vật trong bức tranh đã trở thành con đường dẫn tôi đi sâu vào trong mầu nhiệm của cuộc sống thần linh.

HÃY LƯU LẠI TRONG TÌNH YÊU

Buông bỏ sợ hãi và nhìn nhận sự thật về chính mình luôn là một thách đố. Khi chúng ta quên đi căn tính đích thực của mình – con yêu dấu của Chúa, chúng ta sẽ đánh mất mục đích sống, sẽ cảm thấy bất an, sợ hãi. Vì sợ nên chúng ta không còn tự do để quyết định và hành động. Chỉ khi nào chúng ta dành chỗ cho Thiên Chúa và bắt đầu lắng nghe tiếng nói yêu thương của Ngài, chúng ta mới cảm nhận được một tình yêu đích thực và hoàn hảo. Dần dần chúng ta có thể giũ bỏ mọi nỗi sợ hãi và nhìn nhận phẩm vị người con yêu dấu của mình trong tình yêu thương của Chúa. Chắc chắn sự sợ hãi sẽ không hoàn toàn biến mất khỏi cuộc sống của chúng ta. Có thể ngày mai nó sẽ trở lại chi phối chúng ta và chúng ta cũng sẽ phải tiếp tục chiến đấu với nó, nhưng không phải vì thế mà chúng ta lo sợ hay hoảng loạn, chúng ta lại tiếp tục hành trình buông bỏ sợ hãi để đạt đến yêu thương. Mỗi lần chúng ta cảm thấy sợ, chúng ta hãy đặt mình trong sự hiện diện của Chúa, lắng nghe tiếng nói của Chúa và để Ngài dẫn chúng ta về với tình yêu hoàn hảo của Ngài, một tình yêu có sức mạnh giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi và ban cho chúng ta sự tự do đích thực.

Thật không dễ khi phải chống lại và vượt ra khỏi sự giam hãm của những thế lực tối tăm để chọn sống trong mái ấm yêu thương như là nơi trú ẩn đích thực của mình. Lựa chọn này không chỉ làm một lần cho tất cả nhưng đây là một lựa chọn liên tục trong hành trình thiêng liêng. Lựa chọn này được củng cố trong các việc thực hành thiêng liêng như: chuyên chăm cầu nguyện, siêng năng đọc và chia sẻ Lời Chúa theo phương pháp lectio divina và khao khát sống sự sống của Chúa trong mỗi phút giây của cuộc sống. Các việc đạo đức như thế cùng với những tập luyện thiêng liêng khác nhằm giúp chúng ta ý thức hơn về căn tính người con yêu dấu của mình. Những luyện tập căn bản như lòng hiếu khách, tình bạn thiêng liêng, nguyện gẫm, sự tha thứ và tinh thần vui tươi sẽ giúp chúng ta dần dần thoát khỏi sự giam hãm của sợ hãi để lưu lại trong mái nhà của tình yêu. Lúc đó chúng ta có thể mặc lấy tâm tình Thánh vịnh gia thốt lên, “tôi được ở trong đền Người, những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23,6).

MỘT MÁI ẤM YÊU THƯƠNG DÀNH CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI

Việc thoát khỏi sự giam hãm thống trị của sợ hãi để sống trong mái nhà của tình yêu là một việc cần thiết, không chỉ cho một cá nhân mà cho sự tồn tại của cả gia đình nhân loại. Nếu chúng ta suốt ngày chỉ lo nghĩ đến những điều làm chúng ta sợ khác như: sợ khủng bố, sợ xã hội chủ nghĩa, sợ đất nước mình không thể tiếp tục giữ được danh tiếng là một cường quốc hùng mạnh và giàu có nhất thế giới. Hoặc có khi chúng ta bị chi phối bởi những nỗi sợ như làm sao có thể đầu tư nhiều thời gian, tiền bạc và năng lượng hơn để có thể chế tạo thật nhiều vũ khí tối tân, có sức hủy diệt địa cầu nhanh hơn. Trên bình diện quốc gia, chúng ta phải thoát khỏi những ước muốn thống trị cùng với những mối đe dọa của sự chết để tìm ra những phương thế củng cố cho việc hòa giải, sự hợp tác và tương trợ mang tính quốc tế. Chúng ta cần lập một chương trình đào tạo về sự bình an, về mục vụ bình an hoặc về khả năng tạo thêm nguồn lực để duy trì sự bình an. Chúng ta cần đổi mới hệ thống giáo dục, tổ chức tôn giáo, luật lệ trao đổi trên thương trường và ngay cả những trò tiêu khiển, giải trí, để tất cả đều nhắm đến mục đích là xây dựng sự bình an như mối quan tâm hàng đầu của mọi hoạt động. Chúng ta cần một trật tự mới về kinh tế vượt trên mọi chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội để tái tạo sự bình an và công bằng như mục tiêu chung của xã hội. Trên bình diện quốc gia, chúng ta cần tin rằng một trật tự mang tính quốc tế là điều khả thi và những ganh đua, kình địch giữa các quốc gia hoặc các khối liên minh nay đã lỗi thời.

Liệu chúng ta có thể phát triển một linh đạo toàn cầu trong đó những chỉ dẫn của Tin mừng không chỉ dừng lại ở thái độ và lối ứng xử của những cá nhân nhưng còn là của các quốc gia? Phải chăng chúng ta cần có một cuộc thay đổi rộng lớn, một cuộc cách mạng đi từ sợ hãi đến yêu thương, từ sự chết đến sự sống, từ tình trạng tù hãm đến tái sinh sự sống mới, từ thái độ sống thù nghịch đến lối sống tự do của con cái Thiên Chúa, những người thuộc về cùng một gia đình nhân loại? Có thể nhiều người sẽ cho rằng, cuộc cách mạng trên đây là hão huyền hoặc chỉ là những ý tưởng ngây ngô, không thực tế. Họ đón nhận và thực hiện những giáo huấn của Chúa Giêsu trong phạm vi cá nhân và gia đình họ, nhưng khi áp dụng những giáo huấn đó cho các vấn đề thuộc phạm vi quốc tế, họ lại thấy những giáo huấn này không thực tế và hầu như không tưởng. Nhưng Chúa Giêsu đã sai các môn đệ của Ngài ra đi để làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài. Ngài không chỉ sai các môn đệ đến với một cá nhân nào đó nhưng là đến với muôn dân, dạy cho mọi dân tộc tuân giữ các giới răn và mệnh lệnh của Chúa (Mt. 28,19-20). Vào ngày sau hết, Chúa Giêsu sẽ tập hợp tất cả các nước và sẽ hỏi họ: “Các người đã làm gì cho các anh em bé nhỏ nhất của Ta?” (Mt 2, 31-46). Hành trình trở nên môn đệ ở đây phải hiểu là hành trình vượt trên sự đạo đức cá nhân hoặc trung thành cộng đồng để đến với muôn dân, làm cho mọi dân nước đón nhận Tin mừng của Chúa. Không chỉ một vài cá nhân, nhưng là tất cả mọi quốc gia, được mời gọi thoát khỏi sự giam hãm của sợ hãi – nguyên nhân của mọi nỗi nghi ngờ, hận thù và chiến tranh, để bước vào ngôi nhà chung của tình yêu, nơi đó sự hòa giải, chữa lành và bình an ngự trị.

Các thầy dạy đàng thiêng liêng tuyệt vời như thánh Bênêđictô, thánh Catarina Siena, mục sư Martin Luther King, cha Thomas Merton, tất cả đều dẫn chúng ta tới một chân lý sức mạnh của sự đổi mới trong Lời Chúa không chỉ giới hạn trong phạm vi an toàn của cá nhân hoặc giữa những tương quan cá nhân nào đó nhưng sức mạnh đó phải được lan tỏa trên phạm vi toàn thế giới. Một thế giới được gọi là Giêrusalem mới, một thế giới mới, một cộng đồng mang tính toàn cầu và thuộc về tất cả mọi người, mọi quốc gia. Những ai dám tham gia vào vòng tròn thân mật của Chúa, họ sẽ là những vị thánh Phanxicô mới của thời đại. Họ được mời gọi và sai đi để hoàn tất vòng tròn thân mật của Thiên Chúa bằng sự đáp trả của họ. Họ cho chúng ta một cái nhìn về một trật tự mới, một trật tự được nảy sinh từ những đổ nát của cái cũ. Thế giới đang chờ đợi những vị thánh mới – những người nam, người nữ ngôn sứ được cắm rễ sâu trong tình yêu của Chúa, nhờ đó họ được tự do để hình dung và thiết tạo một thế giới mới nơi công lý ngự trị, nơi không còn chiến tranh, nơi mà những thể chế, trật tự cũ sẽ bị loại bỏ. Chúng ta mong ngóng ngày mà tất cả chúng ta được lưu lại trong tình yêu, ở đó chúng ta được giải thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi, không chỉ trong chốc lát nhưng là được tự do hoàn toàn và mãi mãi.

Nhà của Chúa là nhà của tình yêu được dành cho tất cả mọi người. Trong ngôi nhà, chúng ta được ở trong quỹ đạo của sự an toàn, niềm nở và thân mật. Ở đó, chúng ta sẽ dần dần giũ bỏ được những nỗi sợ hãi của mình để học biết tin yêu phó thác. Trong nhà đó, chúng ta tìm được tự do, niềm vui và sự gần gũi thân thương. Khi sống trong ngôi nhà của tình yêu, chúng ta dễ dàng kiến tạo bình an và thực thi công bình. Được sống trong bầu khí yêu thương, chúng ta sẽ thi hành sứ vụ cách nhiệt thành và hiệu quả hơn. Nơi mái ấm yêu thương, chúng ta được tự do thể hiện chính mình, được tự do hoạt động, tin tưởng và yêu thương mà không phải sợ bất cứ điều gì.

Những thực hành cụ thể cho việc huấn luyện thiêng liêng

Ai trong chúng ta cũng thấy rằng thế giới chúng ta đang sống đầy những mối nguy hiểm, sợ hãi và bấp bênh. Nhiều người trong chúng ta phải sống trong những hoàn cảnh nơi mà những người chung quanh chỉ cảm thấy thú vị và phấn khởi trước những thất bại của chúng ta. Chúng ta cũng có thể phải sống trong một môi trường bị bao vây bởi những người luôn muốn làm hại chúng ta, coi chúng ta như kẻ thù. Chúng ta cũng có thể cảm thấy sợ vì có quá nhiều thay đổi đang diễn ra trên thế giới, nơi mà dường như sự “thống lãnh và quyền lực” của những bậc thống trị thế giới tối tăm này (Ep 6,12) đang xâm chiếm cơ cấu xã hội đến nỗi sự bình an và công lý không còn đất sống. Mặc dù chúng ta không muốn sợ những người chúng ta gặp ngoài đường, nhưng thực tế khiến chúng ta phải sợ họ. Chúng ta không muốn khóa xe hơi, xe đạp hoặc thậm chí khóa cửa nhà của chúng ta, nhưng với tình trạng xã hội như hôm nay buộc chúng ta phải khóa để bảo đảm an toàn. Chúng ta không muốn cảnh báo bố mẹ, con cái hay bạn bè không nên đi ra ngoài một mình, nhưng vì sự bất ổn của an ninh buộc chúng ta phải nhắc nhở họ. Sống trong một xã hội như thế, làm sao chúng ta có thể vượt ra khỏi mọi nỗi sợ hãi để dám sống hoàn toàn cho tình yêu?

Hồi tâm và viết nhật ký

Sau đây là những câu hỏi đơn giản giúp chúng ta suy niệm riêng hoặc thảo luận với một nhóm nhỏ:

  1. Ngày hôm nay, điều gì đã khiến bạn cảm thấy sợ và lo lắng?
  2. Ai hoặc điều gì làm bạn sợ nhất?
  3. Khi bạn sợ thiếu thốn, bạn thường tích trữ hoặc bám víu vào điều gì?
  4. Lúc nào bạn cảm thấy an toàn và không sợ hãi? Đó là những hoàn cảnh nào?
  5. Ngày hôm nay, Chúa đã thể hiện tình yêu và sự quan tâm của Ngài đối với bạn bằng cách nào?
  6. Thư của Thánh Gioan chương 1,18 “tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” có ý nghĩa gì đối với bạn?

Visio Divina[1]: Sống trong ngôi nhà của tình yêu

Hãy dành ra ít là 10 phút cho việc cầu nguyện bằng hình ảnh. Hãy nhìn thật lâu và chăm chú vào bức i-côn về Chúa Ba Ngôi của họa sĩ Rublev. Hãy lắng nghe cha Henri Nouwen nói về bức i-côn này trong Nét đẹp của Thiên Chúa: “Khi đặt mình trước tác phẩm và cầu nguyện, tôi có cảm tưởng như được mời gọi tham gia vào cuộc trò chuyện thân mật của Thiên Chúa và được đồng bàn với Thiên Chúa. Ba Ngôi Sự chuyển động từ Chúa Cha sang Chúa Con và sự chuyển động của Chúa Con và Chúa Thánh Thần về phía Chúa Cha trở thành một chuyển động thiêng liêng giúp tôi nâng tâm hồn lên và cảm thấy bình an.”

Tiếp đến là quan sát vòng tròn thân mật được tạo ra bởi ba Đấng Rất Thánh trong bức tranh. Kế đó, đưa mắt nhìn về phía ô vuông ở trên mặt bàn. Vài phút sau, chúng ta ngừng nhìn vào bức tranh và cầu nguyện lớn tiếng bằng một trong những câu Thánh vịnh dưới đây. Rồi lại tiếp tục nhìn vào bức tranh và đi vào trong vòng tròn thân mật.

“Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.
Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo”
(Tv 46,1)

“Nhưng con đây vẫn tin tưởng nơi Ngài, lạy CHÚA,
dám thưa rằng: Ngài là Thượng Đế của con”
(Tv 31,14).

“Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,
còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt”
(Tv 95,7).

“Tôi tin chắc rằng: dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).

“Lòng nhân hậu và tình thương Chúa,
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên”
(Tv 23,6).

Vào cuối giờ cầu nguyện, bạn hãy đọc lớn tiếng Thánh vịnh sau đây:

“Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền CHÚA tôi
mọi ngày trong suốt cuộc đời, …
Ngày tôi gặp tai ương hoạn nạn,
Người che chở tôi trong lều thánh,
đem giấu tôi thật kín trong nhà,
đặt an toàn trên tảng đá cao.
Nên giờ đây tôi ngẩng đầu đắc ý,
nhìn quân thù vây bủa chung quanh.
Tôi sẽ dâng lễ tế trong thánh điện,
lễ tạ ơn, nhã nhạc vang lừng,
tôi sẽ đàn ca mừng kính CHÚA”
(Tv 27,4-6).

Dịch từ cuốn “Spiritual Formation” của cha Henri Nouwen
Chuyển ngữ: Nt. Theresa Nguyễn Thị Ngọc Hà
Nguồn: Nouwen, Henri JM. Spiritual Formation: From Fear to Love. HarperSanFrancisco, 2006, p. 72 – 88.
[1] Visio Divina là phương pháp cầu nguyện bằng hình ảnh

Chia sẽ bài viết này trên:

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Người đi gieo Tin Mừng – CN XV TN A

Từ thuở hồng hoang, Tin Mừng đã đến: Lời Ngài tạo tác đất trời (Tv 32). Người đi gieo Tin Mừng đầu tiên chính là Thiên Chúa Tạo Thành Vũ Trụ.

Bỗng, một tin buồn bao trùm cả vũ trụ: tin buồn từ bản án đầu tiên trong nhân loại- con người phải đau khổ và phải chết ngàn thu.

Tin buồn ấy, khởi đi từ việc tình thương của Thiên Chúa bị chính tạo-vật-được-ơn-tự-do phủ nhận cách công khai qua việc bất tuân đối với chính Đấng Sinh Thành.

Con người lầm lũi vào cuộc đời đầy bất hạnh. Khi chưa kịp bất hạnh vì sự chết, thì con người đã bất hạnh vì thiếu tình thương và giàu lòng kiêu ngạo hơn người, nảy sinh tính ích kỷ ganh tỵ

Thấy Abêlê được lòng Thiên Chúa, Cain bỗng ganh tỵ đến tột cùng và không ngần ngại giết chết em mình cách thê thảm

Triệu triệu năm trần gian đã qua đi, mà lòng kiêu ngạo của thưở ban đầu vẫn còn nguyên vẹn trong cái bản tính, cái cốt cách, cái văn phong của con người. Người người vẫn đang muốn làm Cain đòi hơn kẻ khác trong mọi việc, người người đang muốn tự phong tặng cho mình vào chỗ nhất mà không cần biết chỗ nhất ấy có đẹp lòng Thiên Chúa hay không, vì họ đã gạt bỏ Thiên Chúa ra ngoài đời sống.

Thật khủng khiếp cho cái hậu quả kiêu căng của tội tổ tông truyền: hận thù, ganh tỵ và mất bình an.

Trước toàn cảnh buồn thảm, bi đát ấy, Thiên Chúa gieo vào trần gian một Hạt Giống Tin Mừng. Hạt giống ấy là Chúa Giêsu Kitô, Người Tuyệt Đối Khiêm Nhường của Thiên Chúa, đến để mang lại cho trần gian niềm vui đích thực: niềm vui của lòng yêu thương, và yêu thương khiêm hạ đến quên mình để người khác được sống và sống bình an.

Hạt Giống Tin Mừng

Tiên tri Isaia đã nói trước về Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa: “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (Is 55, 10-11)

Hạt giống ấy được gieo âm thầm vào trần gian. Hạt giống của trời cao, bị đất thấp từ chối. Hạt giống của tin mừng bình an, bị tin buồn bất an trấn áp. Hạt giống chân lý bị bất công loại trừ. Hạt giống yêu thương bị oán thù tẩy chay ngạo mạn….

Thân phận Chúa Giêsu, thân phận hạt giống của Thiên Chúa, bị trầm đọa như thế, tưởng như là một thất bại ê chề của Thiên Chúa, nhưng không, đó lại là kế hoạch cứu rỗi của Chúa vì Hạt Giống đang “thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, và làm tròn sứ mạng Thiên Chúa ủy thác”: hư thối đi để nẩy mầm.

Chúa Giêsu, Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa, vốn dĩ là hạt giống khiêm nhường tự hạ, đã bằng lòng thối đi trong lòng đất để đâm chồi cây tin mừng và trổ sinh hoa trái bình an. Nhưng, điều quan trọng là lòng đất có bằng lòng đón nhận hạt giống tin mừng ấy không.

Đón nhận Hạt Giống Tin Mừng

Hãy khát khao đón nhận lời Chúa, như Thánh Phaolô nói: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. (Rm 8, 19)

Vì Chúa Giêsu tha thiết ước muốn chúng ta đón nhận Lời Ngài, là chính Ngài, cho Ngài được nẩy mầm và lớn lên trong chúng ta, để chúng ta được hoa trái vui mừng và bình an.

Thế nhưng, vì bản tính kiêu căng, và lòng nặng hướng về tội lỗi, nên thái độ đón nhận Tin Mừng cũng hờ hững như vệ đường, kiêu căng như sỏi đá, mối bận tâm thế gian và lòng ganh tỵ như gai góc um tùm đã làm cho Hạt Giống Tin Mừng của Thiên Chúa không thể mọc lên được. Chỉ có tâm hồn thành tâm khiêm nhượng mới là mảnh đất tốt cho Lời Chúa mọc lên và sinh hoa kết quả.

Như Chúa Giêsu giải thích: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận, nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 19-23)

Đáng tiếc thay cho tâm hồn còn đầy gai góc của lòng ganh tỵ, còn đầy sỏi đá của lòng kiêu căng, còn mãi dững dưng với ơn lộc Thiên Chúa, còn giữ nguyên căn cội của tội nguyên tổ đã bóp chết Hạt Giống Tin Mừng.

Hãy để cho lòng mến ngập tràn tâm hồn ta, lòng mến đơn sơ khiêm nhượng, lòng mến thật thà dũng cảm, lòng mến biết nhẫn nhịn thứ tha, lòng mến lịch sự tôn trọng nhau trong điều thiện hảo đẹp lòng Chúa, lòng mến biết khích lệ nhau ca tụng Chúa…. Lòng mến khiêm nhượng hãy tràn ắp tâm hồn, để Hạt Giống Lời Chúa nẩy mầm, sinh hoa kết quả.

Người đi gieo Hạt Giống Tin Mừng hôm nay.

Đã đến lúc mà mỗi tín hữu cần ý thức vai trò đi gieo trong cuộc sống đức tin của mình. Không chỉ là việc của các linh mục, tu sĩ, mà còn là việc khẩn thiết của giáo dân, những con người lăn lộn trong ruộng đời của Thiên Chúa. Họ không chỉ nghe Lời Chúa, mà còn phải đem ra thực hành, và cuộc sống đầy hoa trái bình an của họ, biến họ trở thành người đi gieo bình an Nước Chúa.

Vì thế, người đi gieo tin mừng phải là người sống Tin Mừng trước tiên. Chính cuộc sống Tin Mừng là lời giảng hùng hồn nhất, có sức biến đổi thế giới nầy thành một thế giới tràn ngập niềm vui.

Bởi vậy, thiết tưởng cũng nên đặt lại vấn đề rao giảng Lời Chúa mà mình đã sống, hơn là rao giảng Lời Chúa mà mình đã học, vì không có gì đáng trách cho bằng việc “nói một đường, làm một nẻo”!

Ước mong cho bạn, cho tôi, cho người đi gieo tin mừng hôm nay mặc lấy tấm lòng của người đi gieo tin mừng đầy khiêm nhượng, để Lời Chúa biến đổi cuộc đời nên lời chứng cho niềm vui và bình an nước Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho lòng con khiêm nhượng đón nhận Lời Ngài là ánh sáng, là sức sống là niềm vui bình an cho chúng con, để cuộc sống mỗi chúng con trở thành lời chứng hùng hồn cho niềm vui và bình an của Nước Thiên Chúa. Amen.

Suy niệm của PM. Cao Huy Hoàng

Chia sẽ bài viết này trên:

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

Cách ly đang gây hoảng sợ. Văn hoá của chúng ta vốn đã quen với những lối giải trí tức thời không ngưng nghỉ thì viễn cảnh mỗi người phải tự cách ly lại càng gây thêm hoang mang. Chúng ta phải đương đầu làm sao?

 Tôi gặp lại chính mình khi nghĩ đến Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận. Tôi đã từng gặp ngài khi ngài còn ở Roma trong những ngày vàng son. Ngài nhận chức Giám mục Nha Trang, Việt Nam, năm 1967 và được bổ nhiệm làm Giám mục Phó Sài Gòn năm 1975 ngay trước những ngày Sài Gòn rơi vào tay quân đội Bắc Việt. Tháng tám năm đó, dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời, ngài bị bắt và trải qua mười ba năm sau đó trong tù. Vào ngày được thả, ngài vẫn bị quản thúc tại nhà cho đến ngày bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1991. Có đến chín năm trong thời gian mười ba năm tù đày, ngài bị biệt giam. Chúng ta học được gì nơi ngài?

 Rời Việt Nam, Hồng Y Thuận đến Roma. Năm 1998, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặt ngài làm Chủ Tịch Uỷ Ban Công Lý và Hoà Bình và vào năm 2000, Đức Thánh Cha mời ngài hướng dẫn tuần linh thao cho giáo triều Roma vốn được tổ chức mỗi năm vào đầu Mùa Chay. Đức Gioan Phaolô II yêu cầu ngài trình bày những trải nghiệm riêng tư của những năm biệt giam. Những bài nói chuyện của ngài sau đó được phổ biến như những Chứng Từ của Niềm Hy Vọng.

 Đức Hồng Y đã mô tả những hoàn cảnh bị giam giữ. Ngài ở trong một xà lim không có cửa sổ và trong nhiều ngày nhiều đêm đèn điện không bao giờ tắt; và sau đó, nhiều đêm nhiều ngày ngài lại bị vùi chôn vào bóng tối hoàn toàn. Ngài cảm nhận như thể “đang ngạt thở vì cái nóng và độ ẩm đến phát điên”. Ngài cảm thấy khủng hoảng vì không thể chu toàn sứ vụ linh mục của mình.

 Và rồi, vào một đêm, từ sâu thẳm lòng mình, ngài nghe một tiếng nói, “Tại sao con phải dằn vặt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và công việc của Người”. Ngài chợt nhận ra rằng, sứ vụ của ngài là tốt nhưng sứ vụ của ngài đã không là Thiên Chúa mà là công việc của Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa có thể làm điều này điều kia tốt hơn ngài làm rất nhiều, vì thế, ngài phải chọn Thiên Chúa, không phải công việc của Người và chỉ chọn một mình Người.

 Trải nghiệm của Hồng Y Phanxicô Xavier, dẫu quá khắc nghiệt như hoàn cảnh của nó, có thể giúp chúng ta suy nghĩ về các ưu tiên của mình trong thời gian dịch bệnh Corona. Đây cũng là một khủng hoảng cá nhân đối với nhiều người trong chúng ta cũng như đối với tình trạng khẩn cấp về sức khoẻ và các biến động xã hội cũng như chính trị. Một bài học nhớ mãi đối với Hồng Y Phanxicô Xavier là ngài ý thức sâu sắc về giá trị của giây phút hiện tại. Ngài viết, “Đây là thời khắc duy nhất chúng ta đang có trong tay, quá khứ đã qua và chúng ta không biết liệu có một tương lai hay không. Giây phút hiện tại là kho tàng lớn lao của mỗi người”. Khi chúng ta chấp nhận cuộc sống giãn cách xã hội liệu chúng ta có quá để tâm đến quá khứ hoặc quá bứt rứt về tương lai? Hoặc là chúng ta có khả năng nhìn thời gian hiện tại, dẫu có thể đang khó khăn, như một quà tặng?

 Việc sống giây phút hiện tại, trong thinh lặng và giãn cách xã hội không làm cho mọi sự nên dễ dàng. Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier giải thích, “Thời gian trôi chậm trong nhà tù, đó là điều đáng nói nhất của việc cách ly. Hãy tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng và nhiều hơn nữa… trong thinh lặng”. Chúng dài một cách kinh khủng và khi đã trở thành nhiều năm, chúng là vô tận”. Dẫu chúng ta không nghĩ một điều gì đó khốc liệt hơn sẽ xảy ra nhưng những tuần sau đó, những tháng sau đó vẫn rất nghiệt ngã. Hồng Y Phanxicô Xavier thừa nhận rằng, trong cuộc đời ngài, có những giai đoạn mà ngài cảm thấy hết sức đau khổ khi thấy mình không thể cầu nguyện, “Tôi trải nghiệm sâu sắc sự yếu hèn thể xác và tinh thần của mình”. Nhiều lần ngài viết, ngài đã kêu lên như Chúa Giêsu đã kêu lên trên thập giá, “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con”. Mỗi lần như thế, ngài thêm, “Vậy mà, con biết Chúa không bỏ con”. Dẫu thế, những thời khắc này có thể vẫn rất khó khăn cho chúng ta và một đôi khi cũng thật khó để xác tín rằng, đức tin bảo đảm cho chúng ta, chúng ta không bao giờ bị bỏ rơi.

 Trong khi hoạ lại trải nghiệm của mình về sự cách ly, Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ để mình bị cuốn hút vào đó. Đơn giản, cách ly không bao giờ là tất cả đối với ngài. Trên hết, Ngài giữ cho tinh thần mình phấn chấn bằng một cảm thức mình là thành viên của Hội Thánh mà ngài thể hiện theo một cách thức khiến người khác ngạc nhiên. Ngài kể, khi còn bị cách ly ở Hà Nội, một nữ công an mang đến cho ngài một con cá để làm thức ăn, con cá được gói với hai trang nhật báo Vatican, L’Osservatore Romano, vốn theo sự thường là bị tịch thu. Ngài giấu nỗi vui khi nhìn thấy nó; sau đó, một mình, ngài rửa sạch, hong khô tờ báo và cất lấy nó, ngài coi nó như một vật thánh. Ngài giải thích, “Với tôi, trong một chế độ cách ly ngặt nghèo không khoan nhượng đó, những trang này là một dấu chỉ của sự hiệp thông với Roma, với thánh Phêrô, với Giáo Hội và một cái ôm hôn từ toà thánh”. Ngài thêm, “Hẳn tôi đã không thể sống sót nếu không nhận thức mình là một thành phần của Hội Thánh”.

 Thế nhưng, cảm thức về cộng đoàn của Hồng Y Phanxicô Xavier không bao giờ chỉ hẹp hòi trong phạm vi Giáo Hội. Giới răn yêu thương là nền tảng cho cuộc sống của ngài. Không ai bị loại ra ngoài; cách riêng, không phải là những người canh gác ngài. Các nhà chức trách thường xuyên thay đổi những người canh gác ngài vì sợ rằng, đặt họ ở đó, họ sẽ bị “lây nhiễm” bởi ngài. Sau đó họ ngưng đổi người, vì sợ ngài sẽ làm lây nhiễm tất cả. Ngày kia, một trong những người canh gác ngài hỏi, “Ông có yêu thương chúng tôi không?”, ngài trả lời, “Có, tôi yêu các ông”. Người ấy không tin, “Nhưng chúng tôi bỏ tù ông nhiều năm, không một phiên toà, không một bản án và ông vẫn yêu thương chúng tôi? Không thể có điều đó”. Hồng Y Phanxicô Xavier nói với người canh gác mình rằng, “Tôi ở với các ông đã nhiều năm, ông thấy đó là sự thật”. Người ấy nói với ngài, “Khi ông được tự do, ông không phái giáo dân tới đốt nhà chúng tôi và giết gia đình chúng tôi chứ?”; “Không! Ngay cả nếu các ông muốn giết tôi, tôi vẫn yêu thương các ông”; “Nhưng tại sao?”; “Bởi vì Chúa Giêsu dạy tôi yêu thương mọi người, yêu thương ngay cả những kẻ thù của tôi. Nếu tôi không yêu thương, tôi không đáng được gọi là người công giáo”. Đó là một chuyện kể phi thường nhắc cho chúng ta rằng, giới răn yêu thương tha nhân của Chúa Giêsu một đôi khi lên tiếng mạnh mẽ nhất vào những thời điểm khi người ta cần đến nó nhất. Một nét đặc trưng cho hoàn cảnh của chúng ta là chăm sóc, cách ly hay không cách ly, chúng ta cũng phải chăm sóc nhau.

 Chuyện kể cuối cùng là khi Hồng Y Phanxicô Xavier còn là sinh viên ở Roma, ngài viếng Lộ Đức. Tại hang đá, ngài suy nghĩ về lời Đức Mẹ nói với Bernadette, “Mẹ không hứa cho con niềm vui và những ủi an trên cuộc đời này, nhưng là thử thách và khổ đau”. Ngài tự hỏi với thoáng chút sợ hãi rằng, liệu những lời này cũng nói với mình chăng. Nhiều năm êm ả dần trôi, từ một Giáo sư chủng viện đến Giám đốc, rồi Tổng đại diện và Giám mục sau đó, thì ngài nghĩ rằng, những lời đó chẳng dính dáng chút nào đến mình. Thế nhưng, đến năm 1975 và với năm đó, “Tôi bị bắt vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời với tù đày, cách ly; bấy giờ tôi mới hiểu, Đức Mẹ đã chuẩn bị cho tôi điều này từ năm 1957”.

 Trải nghiệm của chúng ta vào những tuần những tháng sắp tới vốn sẽ không khắc nghiệt như trải nghiệm của Đức Hồng Y Phanxicô Xavier, chúng ta tin như thế; nhưng nó cũng trao tặng chúng ta một cơ hội. Đức Hồng Y nói, “Khi tôi trải qua những giờ phút đau khổ cùng cực về thể xác và tinh thần, tôi nghĩ đến Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Với con mắt thế gian, cuộc đời của Ngài là một thất đoạt, thất vọng và thất bại…; vậy mà với cái nhìn của Thiên Chúa, đó là một thời khắc quan trọng nhất trong cuộc đời của Ngài, bởi đó cũng chính là lúc Ngài đổ máu ra cho ơn cứu độ toàn thể nhân loại”.

Chúng ta đã sống những ngày đầu tiên của cuộc khủng hoảng này. Khắt nghiệt là điều có thể có nhưng phải chăng trong cái nhìn quan phòng thì một điều gì đó xảy ra đã rất trùng hợp với Mùa Chay năm nay? Như Đức Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận tại Lộ Đức, chúng ta có cảnh tỉnh trước những bài học vốn có thể dạy cho mình một điều gì đó?

Rev. Fr. RODERICK STRANGE
—————————————————-

 Cha Roderick Strange là một giáo sư thần học của đại học St. Mary, Twickenham; ngài cũng là Viện Trưởng của Mater Ecclesiae College, một học viện giáo hoàng thuộc đại học St. Mary. Cuốn sách mới nhất của ngài là Newman: The Heart of Holiness, do Hodder & Stoughton xuất bản.

 Nguồn: https://www.thetablet.co.uk/features/2/17772/living-in-the-present-moment

 Người dịch: Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Chia sẽ bài viết này trên:

Sứ đồ Phaolô

Sứ đồ Phaolô

Phaolô thành Tarsus (còn gọi là Saolô theo chữ Saul, Paulus, Thánh Phaolô Tông đồ, Thánh Phaolồ hoặc Sứ đồ Phaolô, Thánh Bảo-lộc hay Sao-lộc theo lối cũ (tiếng Hebrew: שאול התרסי‎ Šaʾul HaTarsi, nghĩa là “Saul thành Tarsus”, tiếng Hy Lạp cổ đại: Σαούλ Saul và Σαῦλος Saulos và Παῦλος Paulos[2]), là “Sứ đồ của dân ngoại.” [3] Cùng các sứ đồ Phêrô, Gioan, và Giacôbê, ông được xem một trong những cột trụ của Hội Thánh Kitô giáo tiên khởi, và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Kitô giáo thời kỳ sơ khai.[4] (sinh 3–14 TCN; mất 62–69 CN).

Không giống Mười hai Sứ đồ, không có chỉ dấu nào cho thấy Phaolô từng gặp Giêsu trước khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá.[5] Theo ký thuật của Tân Ước, Phaolô là người Do Thái chịu ảnh hưởng văn minh Hy Lạp, và là công dân của Đế quốc La Mã, đến từ thành Tarsus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Phaolô là người kiên trì săn đuổi những Kitô hữu ban đầu (hầu hết là người Do Thái) để bách hại họ, cho đến khi chính ông trải qua kinh nghiệm lạ lùng trên đường đến thành Damascus. Trong một khải tượng, ông gặp Chúa Giêsu và mắt ông bị mù trong một thời gian ngắn. Trải nghiệm này đã đem ông đến với đức tin Kitô giáo, chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa.[6] Phaolô khẳng định rằng ông nhận lãnh Phúc âm không phải từ con người, nhưng từ chính “sự mặc khải của Chúa Giêsu.”[7]

Sau khi chịu lễ Thanh Tẩy, Phaolô đến ngụ cư ở xứ Arabia (có lẽ là Nabataea) cho đến khi ông gia nhập cộng đồng Kitô hữu còn non trẻ ở Jerusalem, và ở lại với Phêrô (hoặc Phi-e-rơ) trong mười lăm ngày.[8] Qua những thư tín gởi các cộng đồng Kitô giáo, Phaolô trình bày mạch lạc quan điểm của ông về mối quan hệ giữa tín hữu Kitô giáo người Do Thái với tín hữu Kitô giáo không phải người Do Thái, và giữa Luật pháp Moses (Mô-sê hoặc Môi-se) với giáo huấn của Chúa Giêsu.

Phaolô được sùng kính như một vị Thánh bởi các nhóm khác nhau như Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo, và một số người thuộc Giáo hội Luther. Ông được xem là thánh quan thầy của Malta và Thành Luân Đôn, một vài thành phố khác được đặt tên để vinh danh ông như São Paulo, Brasil và Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ. Đạo Mormon xem ông là nhà tiên tri.

Các thư tín của Phaolô hình thành phần nền tảng của Tân Ước (được xem là nguồn quan trọng cho nền thần học của Hội Thánh ban đầu) cùng những nỗ lực của ông nhằm truyền bá Kitô giáo trong vòng các dân tộc, là mục tiêu của nhiều khuynh hướng luận giải khác nhau. Kitô giáo truyền thống xem các thư tín của Phaolô là một phần của kinh điển Tân Ước và xác định rõ ràng rằng tư tưởng của Phaolô là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Giêsu và các sứ đồ khác.

Những người ủng hộ thần học giao ước tin rằng Hội Thánh đã thay thế dân tộc Do Thái trong vị trí Tuyển dân của Thiên Chúa, khơi mở những tranh luận hiện vẫn tiếp diễn xem xác định rõ ràng này có phải bắt nguồn từ ý tưởng của Phaolô khi ông giải thích Jeremiah 31: 31[9] và Ezekiel 36: 27[10], sau đó xác định rõ ràng này được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Kitô giáo.

Ảnh hưởng của Phaolô trong tư tưởng Kitô giáo được xem là quan trọng hơn bất cứ tác giả Tân Ước nào, xuyên suốt hệ tư tưởng Kitô giáo cho đến ngày nay: từ Augustine thành Hippo đến những bất đồng giữa Gottschalk và Hincmar thành Reims; giữa tư tưởng Thomas Aquinas và học thuyết của Molina; giữa Martin Luther, John Calvin và Arminius; giữa học thuyết của Jansen và các nhà thần học Dòng Tên, đến các tác phẩm của nhà thần học Karl Barth, đặc biệt là luận giải của Barth về một trong những thư tín của Phaolô,Thư gởi tín hữu ở Rôma, đã tạo ra những dấu ấn về chính trị và thần học trên giáo hội Đức thế kỷ 21.

Phaolô trên đường đến Damascus,

Có thể sử dụng hai nguồn chính để tái tạo những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Phaolô: các thư tín của ông và những ký thuật trong sách Công vụ các Sứ đồ.[11] Có một vài khó khăn khi dựa vào hai nguồn thông tin này: những thư tín của Phaolô được viết trong quãng thời gian tương đối ngắn (có lẽ khoảng từ năm 50 – 58), và có những nghi vấn về một số sự kiện trong sách Công vụ.[12][13] Riêng về Thứ kinh Công vụ của Phaolô và Thecla, các học giả thường không công nhận sách này, cho đó chỉ là một tác phẩm văn học được sáng tác trong thế kỷ thứ 2, do các sự kiện được chép trong đó không phù hợp với những ký thuật của sách Công vụ các Sứ đồ và các thư tín của Phaolô.

Tuổi trẻ

Theo Công vụ các Sứ đồ, Phaolô sinh tại thành Tarsus, xứ Cilicia, thuộc Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) với tên Saul.[14] Ông là người Israel thuộc chi phái Benjamin, được cắt bì vào ngày thứ tám, là một người Pharisee,[15] và “là người sốt sắng quá đỗi về cựu truyền của tổ phụ”[16] Theo sách Công vụ, Phaolô có quốc tịch La Mã – một đặc quyền mà ông đã dùng đến vài lần để tự bảo vệ mình [17]

Quan điểm được chấp nhận rộng rãi cho rằng Phaolô chưa hề kết hôn. Chính Phaolô đã viết;”Vậy, tôi nói với người những kẻ chưa cưới gả, và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn”.[18] Không có chứng cớ lịch sử nào đề cập đến việc Phaolô đã lập gia đình. Tuy nhiên, một số người lập luận rằng tập quán xã hội thời ấy đòi hỏi người Pharisee và thành viên Toà Công luận (Sanhedrin) phải lập gia đình. Nếu Phaolô là người Pharisee và có thể là thành viên Toà Công luận, thì có lẽ ông đã kết hôn vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

Theo Công vụ 22: 3,[19] Phaolô ở Jerusalem, theo học Gamaliel, một học giả tiếng tăm thời ấy. Khi đi nhiều nơi để rao giảng Phúc âm, Phaolô thường tự lo sinh kế cho mình[20] như được chép trong Công vụ 18: 3,[21] Phaolô từng sống với nghề may trại. Theo La Mã 16:2, Pheobe là người có những đóng góp tài chính hỗ trợ ông trong sứ mạng rao giảng phúc âm.

Tiếp nhận Đức tin Kitô giáo

Bài chi tiết: Sự cải đạo của Phaolô

Theo lời tự thuật của Phaolô, ông tìm mọi cách để săn đuổi và bức hại các tín hữu Kitô giáo cho đến chết,[22] theo ký thuật của sách Công vụ, ông có mặt trong số những người chứng kiến cái chết của Stephen, người tử đạo đầu tiên của Kitô giáo,[23] nhưng về sau Phaolô đã chấp nhận đức tin Kitô giáo:

“Bấy giờ, Saul chỉ hằng ngăm đe và chém giết môn đồ của Chúa không thôi, đến cùng thầy cả thượng phẩm, xin người những bức thư đề gởi cho các nhà hội thành Damascus, hầu cho hễ gặp người nào thuộc về đạo, bất kỳ đàn ông đàn bà, thì trói giải về thành Jerusalem. Nhưng Saul đang đi đường gần đến thành Damascus, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Saul, Saul, sao ngươi bắt bớ ta? Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Giêsu mà ngươi bắt bớ; nhưng hãy đứng dây, vào trong thành, người ta sẽ cho ngươi mọi điều phải làm. Những kẻ đi cùng với người đều đứng lại sững sờ, nghe tiếng nói mà chẳng thấy ai hết. Saul chờ dậy khỏi đất, mắt dẫu mở, nhưng không thấy chi cả; người ta bèn cầm lấy tay dắt người đến thành Damascus; người ở đó ba ngày, chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống.” (Công vụ 9. 1-9; xem thêm lời giải trần của Phaolô trước Vua Agrippa ở Công vụ 26, và Galatians 1. 13-16).

Cổng Kisan, nơi Phaolô trốn khỏi thành Damascus

Sau trải nghiệm tiếp nhận Kitô giáo, Phaolô lưu lại vài ngày ở Damascus rồi đến sống ở vương quốc Nabatea mà ông gọi là “Arabia”, rồi trở lại Damascus, khi ấy đang ở dưới sự cai trị của người Nabatea. Ba năm sau khi qui đạo, Phaolô bị buộc phải rời khỏi thành phố qua cổng Kisan trong ban đêm do phản ứng của giới cầm quyền Do Thái đối với lời giảng của ông. Về sau Phaolô đến Jerusalem, gặp James Người công chính (Giacôbe hoặc Gia-cơ) và Peter, ông ở với Peter trong 15 ngày.

Sau chuyến viếng thăm Jerusalem, Phaolô đến thành Antioch, từ đó ông bắt đầu cuộc hành trình qua Cộng hòa Síp và miền nam vùng Tiểu Á để rao giảng Phúc âm của Giêsu – được biết đến với tên “Hành trình Truyền giáo Thứ nhất của Phaolô”.[24] Tại Derbe, Phaolô và Barnabas bị ngộ nhận là “thần linh… trong hình dạng loài người”.[25] Những thư tín của Phaolô nhắc đến việc ông giảng dạy tại Syria và Cilicia,[26] sách Công vụ ký thuật rằng Phaolô “trải qua xứ Syria và Cilicia, làm cho các hội Thánh được bền vững”.[27]

Trong các cuộc hành trình truyền giáo, Phaolô thường chọn một hoặc hai người cùng đi với ông, đó là Barnabas, Silas, Titus, Timothy, John còn gọi là Mark, Aquila, Priscilla và thầy thuốc Luca. Ông nếm trải nhiều điều khổ ải dưới các hình thức khác nhau như bị giam cầm ở Philippi, bị roi vọt và ném đá, chịu đói khát, và suýt thiệt mạng vì một âm mưu sát hại ông.[28]

Thành lập các Giáo đoàn

Trong những năm kế tiếp, Phaolô đi khắp phía tây của vùng Tiểu Á, lần này ông tiến vào xứ Macedonia và thành lập cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên tại thành Philippi, tại đây ông phải đối diện với nhiều khó khăn. Phaolô thuật lại kinh nghiệm của mình:”Sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Philippi, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Thiên Chúa, cứ rao truyền Phúc âm của Thiên Chúa cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến”.[29] Sách Công vụ, từ góc nhìn của một nhân chứng, thuật lại việc Phaolô đuổi quỷ khỏi một phụ nữ nô lệ, làm người ấy mất khả năng bói toán và vì vậy làm giảm trị giá của người nô lệ; do đó, chủ nô cho ông là “kẻ cắp”, và nộp ông cho quan quyền.[30] Sau khi được trả tự do vì không có chứng cứ buộc tội,[31] Phaolô đi đến thành Thessalonica, lưu lại ở đây một thời gian trước khi vào Hy Lạp. Trước tiên ông đến Athens, nơi ông có bài thuyết giảng đã trở thành huyền thoại trên đồi Areopagus khi ông soi dẫn cho những người có mặt ở đây biết ai là “Chúa Không biết” mà họ vẫn thờ phụng.[32] Kế đó, Phaolô đến thành Corinth, lưu trú ở đó ba năm và viết thư nhất gởi tín hữu ở Thessalonica.

Một lần nữa, Phaolô lại vướng vào vòng lao lý ở thành Corinth khi một nhóm người Do Thái cáo buộc Phaolô “xúi giục dân chúng thờ Thiên Chúa cách trái nghịch với luật pháp”. Phaolô bị kéo đến trước quan trấn thủ Gallio, nhưng ông này cho đây là việc không đáng quan tâm và bác bỏ cáo trạng.[33] Một di chỉ ở Delpphi có nhắc đến tên Gallio, giúp xác định sự kiện này xảy ra trong năm 52, góp phần tái tạo bảng niên đại về cuộc đời của Phaolô.

Phaolô tiếp tục công cuộc rao giảng Phúc âm, thường được gọi là “Hành trình Truyền giáo Thứ ba”,[34] trải qua khắp vùng Tiểu Á và Macedonia, đến Antioch rồi quay trở lại. Nỗ lực thuyết giáo của Phaolô gặp phải những phản ứng giận dữ tại một hí viện ở Ephesus, khi lợi tức của giới thợ bạc ở đây bị thiệt hại do ảnh hưởng từ những lời thuyết giảng của ông. Thu nhập của những người này phụ thuộc vào nghề làm tượng nữ thần Artemis được cư dân địa phương sùng bái; hệ quả là đám đông bạo động vây phủ Phaolô khiến ông và những người bạn suýt bị mất mạng.[35] Về sau, khi Phaolô trên đường đến thành Jerusalem, có đi qua thành Ephesus nhưng không lưu lại ở đó vì ông phải đến Jerusalem cho kịp Lễ Ngũ Tuần. Dù vậy, Phaolô đã triệu tập các trưởng lão của hội Thánh tại Ephesus đến gặp ông tại Miletus. Tại đây, Phaolô giãi bày với họ những trải nghiệm cá nhân cũng như khuyên bảo và khích lệ họ.[36]

Giam cầm

Khi đến Jerusalem, Phaolô đối diện với lời đồn đại cho rằng ông chống lại luật pháp Moses. Để chứng minh việc tuân giữ luật pháp, Phaolô giữ lời thề Nazarite với bốn người khác.[37] Sau bảy ngày cho kỳ lễ tinh sạch gần trọn, Phaolô bị bắt giữ và hành hung ngay bên ngoài Đền thờ bởi một đám đông cuồng loạn kêu la: “Hỡi người Israel, hãy đến giúp với! Kìa, người này giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp, và nghịch cùng chốn này nữa, đến nỗi hắn dẫn người Hy Lạp vào trong đền thờ, và làm cho nơi Thánh này bị ô uế”.[38] Khi một đội binh La Mã đến cứu Phaolô khỏi đám đông đang giận dữ, họ kéo đến cáo buộc Phao lô là kẻ mưu phản, “kẻ xách động thuộc phe Nazareth”, kẻ rao giảng sự sống lại của người chết. Phaolô cố gắng giải thích và trình bày đức tin của mình với đám đông bằng ngôn ngữ của họ, có lẽ là tiếng Aram, nhưng đám đông càng bất bình kêu to, “Hãy cất người dường ấy khỏi thế gian, nó chẳng đáng sống đâu!”[39] Phaolô viện dẫn quyền công dân La Mã để xin được xét xử tại Rôma, nhưng do sự trì trệ của tổng đốc Antonius Felix, ông bị giam giữ hai năm ở Caesarea cho đến khi quan tổng đốc mới, Porcius Festus, đến nhậm chức, nghe giải trình và cho giải Phaolô bằng đường biển đến La Mã, tại đây ông bị quản chế thêm hai năm, với điều kiện sống tốt hơn.[40]

Đến đây chúng ta bị buộc phải dựa vào các truyền thuyết nếu muốn có thêm thông tin chi tiết về những ngày cuối cùng của Phaolô. Theo một truyền thuyết, Phaolô đã đến Tây Ban Nha và Anh quốc. Có lẽ Phaolô đã có ý định ấy, nhưng vẫn không có chứng cớ ông đã thực hiện chuyến đi. Theo một truyền thuyết khác, Phaolô đã chết ở La Mã. Eusebius thành Caesarea (khoảng 275 – 339) cho rằng Phaolô đã bị xử chém đầu trong thời trị vì của Nero, Hoàng đế La Mã, có thể là năm 64, khi thành La Mã bị thiêu rụi bởi một cơn hoả hoạn, hoặc vài năm sau đó, khoảng năm 67.

Đến La Mã, những ngày sau cùng

Sách Công vụ các Sứ đồ ký thuật chi tiết hành trình chuyến đi của Phaolô từ Caesarea đến La Mã. Quản cơ Julius giải giao Phaolô và những tù nhân khác bằng thuyền, có lẽ Luca và Aristarchus cùng đi trên tàu. Vì đang mùa giông bão, cuộc hành trình vừa chậm vừa gian khổ. Họ đi dọc bờ biển Syria, Cicilia và Pampylia. Đến thành Myra trong xứ Lycia, tù nhân được chuyển sang một tàu khác để đến Ý. Phải khó nhọc lắm tàu mới cập bến Mỹ Cảng trên đảo Crete.[41] Phaolô đưa ra lời khuyên nên nghỉ đông ở đây, nhưng họ không chịu nghe theo và tiếp tục cuộc hành trình.[42] Tàu bị bão, trôi giạt trong mười bốn ngày, sau cùng bị mắc cạn trên bờ biển Malta.[43] Đoàn người phải lưu lại trên đảo suốt ba tháng, ở đó Phaolô chữa lành bệnh sốt và bệnh lỵ cho thân phụ của tù trưởng của đảo, Publius, và những người khác. Khi mùa xuân đến, đoàn người lại lên đường.[44]

Sách Công vụ ký thuật cuộc đời của Phaolô cho tới khi ông đến La Mã, lúc ấy ước chừng 61 tuổi. Cuốn sách kết thúc với những lời cáo trách của Phaolô khi nói chuyện với một nhóm người Do Thái tìm đến để tra hỏi và chế giễu ông về Phúc âm:

Hãy đến nơi dân này và nói rằng;

Các ngươi lấy tai nghe mà chẳng hiểu chi;

Lấy mắt xem mà chẳng thấy gì;

Vì lòng dân này đã nặng nề;

Họ bịt tai; Họ nhắm mắt;

E rằng mắt mình sẽ thấy,

Tai mình sẽ nghe,

Lòng mình sẽ hiểu,

Và họ sẽ trở lại,

Để ta chữa lành chăng.

Vậy, hãy biết rằng

Sự cứu rỗi này của Thiên Chúa đã sai đến cho người ngoại;

Những người đó sẽ nghe theo vậy.[45]

Tác phẩm

Phaolô viết nhiều thư tín gởi các hội Thánh và những cá nhân. Tuy vậy, có lẽ có một số đã không còn được lưu giữ. 1Cor 5: 9[46] có thể được xem như là một gợi ý về thư tín trước đó ông đã gởi các tín hữu thuộc giáo đoàn Corinth nhưng nay không còn. Những thư tín vẫn còn lưu giữ đều được đưa vào Tân Ước, theo thứ tự từ dài đến ngắn. Có một ít thư tín được viết trong khi ông bị giam giữ, thường được gọi là “thư viết trong tù”, theo truyền thuyết những lá thư này được viết ở La Mã.

Những thư tín có được sự đồng thuận về quyền tác giả của Phaolô:

Thư gửi tín hữu Rôma

Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô

Thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô

Thư gửi tín hữu Galát

Thư gửi tín hữu Philípphê*

Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica

Thư gửi ông Philêmon*

Những “thư tín giống như của Phaolô” (nhiều học giả tin rằng như thư này không phải do chính Phaolô viết, nhưng thường được cho rằng ông là tác giả)

Thư gửi tín hữu Êphêsô*

Thư gửi tín hữu Côlôsê*

Thư thứ hai gửi tín hữu Thêxalônica

Những thư tín mục vụ của Phaolô:

Thư thứ nhất gửi ông Timôthê

Thư thứ hai gửi ông Timôthê

Thư gửi ông Titô

Ghi chú: Những thư tín có dấu * thuộc nhóm những bức thư viết trong tù.

Thần học

Tư tưởng của Phaolô ảnh hưởng đậm nét trên thần học Kitô giáo trong những lãnh vực như đức tin, sự xưng công chính, cứu rỗi, mối quan hệ giữa Kitô hữu và luật pháp Moses, Kitô học (Christology), Thánh Linh học, nguyên tội, chung thời học (eschatology) và bản chất của đời sau, cũng như vị trí của Kinh Thánh Do Thái trong Kitô giáo.

Đức tin và Sự xưng công chính

Phaolô tập chú vào vị trí trọng tâm của đức tin trong sự cứu rỗi được ban cho qua sự chết chuộc tội của Chúa Giêsu, và khả năng được xưng công chính qua đức tin ấy.[47] Một trong những điều Phaolô xác định rõ ràng đã trở nên rất nổi tiếng: “Vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm theo luật pháp”,[48] luôn luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sự xưng công chính và đức tin.

Xưng công chính là một ý niệm về pháp chế.[49] Được xưng công chính nghĩa là được tuyên bố trắng án. Vì mọi người đều là tội nhân, chúng ta chỉ có thể được trắng án khi Chúa Giê-xu thế chỗ chúng ta bằng cái chết đền tội thay trên cây thập tự. Như thế, theo cách nói của Phaolô tội nhân “được xưng công chính bởi đức tin,” ấy là bằng cách hiệp nhất với Chúa Kitô, tội nhân đồng chết và đồng sống lại với ông. Tuy nhiên, cần biết rằng được xưng công chính không có nghĩa là vì chúng ta hiệp nhất với Chúa Kitô trong sự vô tội của ông, mà vì sự chết hiến tế của đấng vô tội mang lấy hình phạt của chúng ta là tội nhân xứng hiệp với sự đoán phạt thiên thượng.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của đức tin, nhờ đó mà tội nhân được xưng công chính, Phaolô nhắc đến Abraham, người đã tin tưởng lời hứa của Thiên Chúa rằng ông sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc. Phaolô giải thích rằng, “Phúc âm đã được rao truyền trước cho Abraham.”[50] Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Phaolô về sự hiện hữu từ trước vô cùng của Chúa Giêsu, nghĩa là ông là Thiên Chúa.[51]

Cùng với sự dạy dỗ của Phaolô về sự phục sinh và sự sống vĩnh hằng, cái nhìn thấu suốt của Phaolô về thần học đức tin và sự xưng công chính là chủ đề của nhiều sự luận giải, dẫn đến những tranh luận về việc xưng công chính chỉ bởi đức tin đối nghịch với sự xưng công chính bởi đức tin và công đức. Hầu hết các giáo hội Kháng Cách khẳng quyết rằng tư tưởng Phaolô đã giúp hình thành định nghĩa cho rằng sự cứu rỗi đến chỉ từ đức tin mà không bởi bất cứ nỗ lực bên ngoài nào của tín hữu (xem Năm Tín lý Duy nhất), bất đồng với quan điểm của Công giáo Rôma và Chính Thống giáo cho rằng ý tưởng của Phaolô đã bị hiểu sai và không phù hợp với lời dạy của James (Giacôbê hoặc Gia-cơ): “Nhơn đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.”[52]

Sự Cứu rỗi và Luật pháp Moses

Vấn đề có còn cần thiết phải tuân giữ Luật pháp Moses để được cứu rỗi đã được nêu lên trong thời kỳ Hội Thánh tiên khởi tại Giáo hội nghị Jerusalem, ở đó quan điểm của Phaolô đã tạo ra ảnh hưởng đáng kể. Những tác phẩm của Phaolô trình bày giáo thuyết cho rằng có được sự cứu rỗi không phải bởi nỗ lực tuân giữ luật pháp Moses nhưng do đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu. Phaolô xác định rõ ràng rằng không có sự phân biệt nào hết giữa người Do Thái và các dân tộc khác “vì mọi người đều phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Thiên Chúa.”[53] Vì vậy Phaolô được xem là nhân tố chính thúc đẩy việc chấp nhận người “ngoại bang” (không phải dân Do Thái) gia nhập Kitô giáo mà không có bất cứ yêu cầu tuân giữ nghi thức Do Thái như phép cắt bì hoặc kiêng cữ một số thức ăn.

Nguyên tội

Trong Tân Ước, giáo lý nguyên tội (tội tổ tông) được luận giải mạch lạc bởi Phaolô. Ông viết: “Bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội….”[54] Về sau giáo lý này được trình bày cặn kẽ bởi các nhà thần học Kitô giáo, nổi bật nhất là Augustine thành Hippo. (Xem Nguyên tội)

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Linh

Chúa Giêsu

Trong các thư tín của mình, Phaolô có nhắc đến các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu như bữa ăn cuối cùng của ông với các môn đồ,[55] sự chết trên thập tự giá,[56] và sự sống lại.[57] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là người Do Thái thuộc dòng dõi Vua David.[58] Ông tập chú vào bản chất của mối quan hệ giữa tín hữu Cơ Đốc với Chúa Giê-su, nhất là sự chết chuộc tội của ông. Phúc Âm Máccô chép rằng Chúa Giêsu đã “phó sự sống mình là giá chuộc cho nhiều người.”[59] Trong các thư tín của mình, nhất là trong Thư gửi tín hữu Rôma, Phaolô đã triển khai mạch lạc và cặn kẽ ý niệm về hành động cứu chuộc của Chúa Giêsu.

Theo luận giải của Phaolô, dưới luật pháp mọi người đều là tội nhân, nhưng những ai tiếp nhận Chúa Giêsu thì “nhờ ân điển ông mà được xưng công chính bởi sự cứu chuộc đã làm trọn trong Chúa Giêsu Kitô.” Họ được “cứu chuộc” vì Chúa Giê-xu đã đền tội thay cho họ; bởi sự chết của ông mà họ được phục hòa với Thiên Chúa. Như thế, sự chết của Chúa Giêsu là sự hiến tế chuộc tội cho con người nhằm làm dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Ấy là ân điển của Thiên Chúa, và chỉ bởi đức tin mà con người mới có thể nhận lãnh ân điển ấy.[60]

Phaolô luận giải xác tín của ông trong giáo lý về thần tính của Chúa Kitô. Ông viết: “Vì muôn vật đã được dựng nên trong ông (Chúa Kitô), bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi ông và vì ông mà được dựng nên cả. ông có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong ông”.[61] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là “ảnh tượng của Thiên Chúa” (“Ấy chính ông là hình ảnh của Thiên Chúa không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên.”)[62][63]

Chúa Thánh Linh

Tương tự, Phaolô cũng trình bày một học thuyết vững chắc về Chúa Thánh Linh. Phần lớn Thư gởi tín hữu ở La Mã và phần cuối Thư thứ hai gởi tín hữu ở Corinth miêu tả Chúa Thánh Linh bình đẳng với Chúa Cha và Chúa Con, giúp hình thành giáo lý Ba Ngôi. Trong thư gởi tín hữu ở Galatia, Phaolô giải thích rằng việc tín hữu nhận lãnh Chúa Thánh Linh là do lời hứa Thiên Chúa dành cho Abraham thể hiện qua sự chết cứu chuộc của Chúa Giêsu,[64] và xác chứng rằng, “Nếu anh em thuộc về Chúa Cơ Đốc, thì anh em là dòng dõi của Abraham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.”[65]

Khi xem xét đến việc thực hành các ân tứ được ban cho từ Chúa Thánh Linh, Phaolô đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong thư gởi tín hữu ở Corinth.[66] với lời cảnh báo cần cẩn trọng với khả năng nói tiếng lạ trong trạng thái xuất thần, ngược lại vị sứ đồ khuyến khích những lời khuyên bảo có thể thông hiểu và gây dựng đức tin, ông cũng đặc biệt quan tâm đến việc duy trì trật tự trong hội Thánh.[67]

Dựa trên nguyên tắc vàng “Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích và làm gương tốt”[68] ông đưa ra lời khuyên chớ nên ăn thịt hiến tế cho các thần linh. Theo tập tục thời ấy, thịt thường được hiến tế trong các đền thờ trong những ngày lễ hội tôn giáo linh đình và trác táng.[69]

Phaolô miêu tả Chúa Thánh Linh là sức mạnh hiệp nhất, dù có nhiều ân tứ khác nhau nhưng tất cả đều là sự ban cho của Chúa Thánh Linh.[70] Ông ví von hội Thánh giống như thân thể con người, có chân tay và các cơ quan khác nhau nhưng chỉ là một thân thể; mọi thành viên của hội Thánh “đều đã chịu phép báp têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.” Như thế, để gây dựng và phát triển hội Thánh, tín hữu được ban cho các ân tứ khác nhau như giảng dạy, an ủi khích lệ, chữa bệnh, nói tiên tri và làm phép lạ.[71] Phaolô cũng liệt kê các phẩm chất cần có cho mỗi Kitô hữu mà ông gọi là “Trái của Thánh Linh”: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ.[72] Song, Phaolô gọi tình yêu thương là “sự ban cho lớn hơn hết”, và ông khuyên mọi tín hữu cần ước ao ân tứ này.[73]

Mặc khác, Phaolô cũng dạy về sự sống mới trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh,[74] và sự xác tín trong lòng của tín hữu để họ có thể tin quyết vào địa vị làm con Thiên Chúa.[75]

Các Vấn đề Xã hội

Quan điểm của Phaolô về các vấn đề xã hội cũng có ảnh hưởng lớn trên nền văn hoá Kitô như những quan điểm thần học của ông.

Trong thư gởi tín hữu ở Colossae, Phaolô cho biết người theo Chúa cần phải có cuộc sống tích cực như thế nào – ấy là theo đuổi những chuẩn mực của thiên đàng, không phải của trần thế. Trong suốt nhiều thế kỷ, những chuẩn mực ấy có ảnh hưởng đáng kể trên xã hội phương Tây. Phaolô kết án những hành vi như bất khiết, dâm dục, tham lam, giận dữ, vu khống, phỉ báng, dối trá và phân biệt chủng tộc trong khi ông đề cao những đức hạnh như nhân ái, tử tế, nhẫn nại, tha thứ, yêu thương, hòa bình, và biết ơn.[76]

Phaolô kết án sự dâm dục và việc thực hành đồng tính luyến ái, ông viết “Hãy tránh xa sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình.”[77][78]

Phaolô cũng dạy về sự tự do trong Chúa Kitô,[79][80][81] sự thờ phượng đúng cách và kỷ cương trong hội Thánh,[82][83] sự hiệp nhất của các tín hữu,[84][85] và hôn nhân.[86][87] Phaolô khuyến khích tín hữu theo đuổi cuộc sống độc thân “vì cớ tai vạ hầu đến”, nhưng cảnh báo rằng cả cuộc sống hôn nhân và cuộc đời độc thân đều có thể không tốt nếu không thuận phục ý Chúa. Ông nhắc nhở, “Vậy tôi nói với những kẻ chưa cưới gả và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn. Song nếu họ chẳng thìn mình được, thì hãy cưới gả; vì thà cưới gả còn hơn để cho tình dục un đốt.”[88]

Về việc sở hữu nô lệ, Phaolô dạy rằng vì ngày Chúa Giêsu tái lâm đã gần kề, tín hữu nên chú tâm vào đời sống đức tin hơn là vào địa vị xã hội.[89] Phaolô khuyên nhủ người nô lệ nên trung tín phục vụ chủ mình và người làm chủ phải tôn trọng và đối đãi tử tế với nô lệ hoặc người làm công “vì biết rằng cả hai đều có một chủ chung trên trời, và trước mặt ông chẳng có sự tây vị ai hết.”[90] Phaolô cũng tìm cách chuộc Onesimus, một nô lệ bỏ trốn, và yêu cầu người chủ xem Onesimus “không phải là nô lệ nữa, nhưng như anh em rất yêu dấu.”[91] Nhiều người xem đây là một hành động biểu thị tinh thần chống sở hữu nô lệ của Phaolô, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thời ấy, xem việc sở hữu nô lệ là một quyền công dân.

Nguồn gpcantho

Chia sẽ bài viết này trên:

[Vui bước Tin Mừng] Sức mạnh của lời cầu nguyện

[Vui bước Tin Mừng] Sức mạnh của lời cầu nguyện

Câu chuyện được kể từ một sơ trực tiếp trên cánh đồng truyền giáo và chứng kiến những việc lạ lùng Thiên Chúa làm như những ngày đầu của Công vụ Tông đồ. Mục Vui bước Tin Mừng là kết quả sự cộng tác giữa Vatican News Tiếng Việt và Uỷ ban Loan báo Tin Mừng của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Người kể chuyện: Sr. Dominique- Rndm
Viết bài: Sr. M. Phạm Thị Tuyết Mai- Rndm
Dòng Đức Bà Truyền Giáo

Tân Thông Hội là một xã thuộc huyện Củ Chi, Sài Gòn. Vào năm 1970, sau biến cố chính trị ở Campuchia, đông đảo bà con Việt Nam sinh sống bên đất nước Campuchia hồi hương về nước. Một số đông đồng bào lương giáo được tiếp nhận và thành lập một Làng Việt kiều tại Xã Tân Thông Hội. Ấp Tân Tiến thuộc xã tân Thông Hội, lúc đó chỉ là rừng cây cao su, bà con đã khai hoang và dựng nhà để ở. Tân Thông Hội thời thập niên 1970- 1980 rất nghèo đói, dân chúng ở trong những căn nhà lá lụp sụp, chung quanh trồng trúc, họ làm đủ mọi việc để sinh sống. Các dòng tu cũng được Giáo quyền mời về đây phục vụ. Đáp lời mời, dòng Đức Bà Truyền Giáo (ĐBTG) đã đến Tân Thông Hội. Sứ mạng của các nữ tu ĐBTG trong giai đoạn này là phụ trách một Cô nhi viện, dạy nghề cho phụ nữ: may, thêu, móc, đan lát, thăm viếng, hàn gắn các gia đình có nguy cơ tan vỡ, phát lương thực, phát thuốc cho người nghèo.

Trong khu xóm nhỏ, có anh chị Thuận-Phượng là gia đình lương dân. Anh Thuận làm nghề thêu khăn bàn và các bức tranh đồng quê rất đẹp, còn vợ anh, chị Phượng, buôn bán ngoài chợ. Họ tên Thuận nhưng sống không hòa thuận chút nào. Tối ngày họ to tiếng với nhau, có lúc còn rượt nhau ra đường, hoặc khóc rấm rứt suốt đêm. Các nữ tu luôn phải khuyên giải và can ngăn…nhưng cũng chẳng đi đến đâu. Thế rồi như sợi dây đàn quá căng, thì phải đứt… Họ đi đến ly hôn, dù đã có với nhau một cậu con trai 2 tuổi, tên Thắng, rất đẹp và dễ thương. Từ đó anh Thuận bỏ đi nơi khác để sống.

Trong hoàn cảnh đó, các nữ tu Đức Bà Truyền Giáo đến thăm viếng, an ủi, khuyên bảo, hỗ trợ chị Phượng. Ngày qua ngày chị Phượng xin đọc kinh với các nữ tu, nhưng vẫn không muốn theo đạo Công giáo…

Vài tháng sau, một buổi tối, tôi sang nhà chị và đưa cho chị cuốn sách Tân Ước, vì chị ao ước đọc Kinh Thánh. Ôi, thật ngạc nhiên, tôi thấy anh Thuận có mặt trong phòng. Anh bẽn lẽn chào tôi, tôi hiểu ra sự việc, tôi quay về cộng đoàn của mình… Sau đó tôi khuyên họ trở về với nhau để lo cho con.

 Sau vài năm tôi kiên trì cầu nguyện và khuyên nhủ, chị Phượng đã được ơn làm con cái Chúa, chị rất ngoan đạo, siêng năng học và thực hành Lời Chúa. Chị còn gia nhập gia đình Trợ Tá Truyền Giáo và tham gia các hoạt đồng truyền giáo rất tích cực, chị còn là thành viên của nhóm Kinh Thánh, tham dự giờ chia sẻ Lời Chúa hằng tuần. Chị tâm sự với tôi:

– Con chỉ còn một mối quan tâm duy nhất là cầu xin tha thiết cho chồng con theo Chúa.

Thế rồi, một ngày kia, anh Thuận đi xe honda gặp phải một cô bé sang đường, anh không tránh kịp, nên tự té, nằm lăn quay ra, không sao chỗi dậy được, mọi người phải đỡ lên, nhưng anh không sao đi lại được nữa và anh cảm thấy quá đau đớn, toàn thân ê ẩm. Gia đình đưa anh đến bệnh viện Xuyên Á, cách nhà khoảng 7 km, sau khi chụp X quang bác sĩ cho biết: Anh bị gẫy 7 chiếc xương sườn, không bó bột được, bác sĩ cho thuốc về uống và bảo anh phải ngủ ngồi trong vòng 8 tuần lễ, và tiếp tục uống thuốc, rồi sẽ tái khám sau.

Từ đó anh không thể đi, đứng hay nằm được, suốt ngày đêm chỉ ngồi dựa lưng vào các chồng gối mà thôi. Anh cảm thấy đau đớn, mỏi mệt, chán chường và thất vọng vô cùng. Mọi người đến an ủi, một ngày, hai ngày rồi ba ngày… Thời gian coi như bất tận, miệt mài, dai dẳng… hết đêm rồi lại ngày, anh cố chợp mắt, vừa ngủ gật một cái thôi, các xương sườn gẫy của anh lên tiếng, cả thân thể anh rúng động. Ôi! cơn đau đớn không thể diễn tả được… Anh rên rỉ trong tuyệt vọng khốn cùng, và vẫn nhớ lời bác sĩ căn dặn:

– Anh phải ngồi ngủ như vậy trong 8 tuần lễ liên tục, đồng thời uống thuốc theo sự chỉ dẫn của bác sĩ mới hy vọng lành được những chiếc sương xườn đã gẫy.

Ba ngày ba đêm trôi qua, anh đau khổ vì không sao cựa quậy được, lại thêm mệt mỏi vì không thể ngả lưng xuống giường dù chỉ một giây. Anh ngồi như một bức tượng, chung quanh là những chiếc gối to nhỏ đủ kiểu chèn cho anh không bị ngả nghiêng… đến ngày thứ tư anh quá đau đớn, anh lại cảm thấy mình là gánh nặng của vợ con, anh bắt đầu nghĩ quẩn, không muốn sống nữa, anh cảm thấy chết còn sướng hơn… Anh âm thầm nói với người cháu:

– Chú không sao ngủ được, con ra tiệm thuốc tây mua cho chú thuốc an thần, nhiều nhiều vào để chú uống dần.

Ngày hôm đó, khi chị Phượng đang chăm sóc, anh rên rĩ đau đớn và nói với chị:

– Đám tang công giáo bên nhà ồn ào quá, chắc là đông người đến viếng xác, đọc kinh cầu lễ cho người quá cố phải không em?

Chị Phượng thủ thỉ:

– Anh Thuận ơi, em theo Chúa lâu rồi, chỉ còn anh chưa cùng chiến tuyến với em. Nếu anh có mệnh hệ gì, em biết làm sao đây. Bấy lâu nay, em nghĩ anh đã có lần tin Chúa. Vậy anh theo Chúa với em nhé, anh dọn lòng chịu phép thanh tẩy nghen.

Trong lúc cơn đau đang hành hạ anh từng đợt, mồ hôi tước ra nhễ nhại, anh yếu ớt gật đầu tỏ ý ưng thuận. Chị Phượng thấy sắc mặt anh nhợt nhạt, nhịp tim yếu, anh từ chối không ăn uống thứ gì. Chị Phượng lo lắng và sợ hãi nên kêu cô Châu là y tá đến truyền nước cho anh. Sau khi truyền hết một chai, cô thấy mạch cứ tụt dần, cô Châu liền nói với chị Phượng:

– Anh ấy yếu lắm rồi, phải đưa đi bệnh viện gấp thôi.

Chị Phượng nói vói chồng:

– Anh ơi, em mời Cha Sở rửa tội cho anh trước khi đi bệnh viện nhé.

Mắt anh vẫn nhắm chặt, nhưng anh gật đầu. Chị Phượng vội báo cho chị Thi, một phụ nữ đạo đức, và cũng là một Trợ Tá Truyền Giáo rất nhiệt thành trong công việc truyền giáo. Chị Thi nhanh nhẹn tìm cách liên lạc với cha sở để xin ngài đến rửa tội gấp, nhưng thật không may, chị không sao gặp được ngài…Cuối cùng chị xoay sở và tìm được cha phó Anton, cha mau mắn đi với chị đến nhà anh chị Thuận mặc dù đã rất khuya.  Bí tích thánh tẩy được cử hành ngay và chỉ có 2 giáo dân tham dự, cha Antôn làm cha đỡ đầu cho anh Thuận luôn. Sau khi rửa tội xong, anh hé mắt thì thầm lời cám ơn cha Anton xong là anh rơi vào tình trạng hôn mê ngay. Chị Phượng tìm xe để đưa anh đi bệnh viện, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, phải chờ đến sáng mới có xe để đi bệnh viện. Chị Phượng lo lắng, chị càng cầu nguyện khẩn thiết hơn, vừa cầu nguyện chị vừa sắp xếp lại những chiếc gối cho anh, đến nữa đêm chị cảm thấy mệt, nên ghé nằm bên những đống gối của anh và thiếp ngủ. Bỗng chị nghe tiếng anh gọi:

– Em ơi, anh chưa chết hả? Hình như anh đang sống? Nhưng sao anh lại nằm xuống được? Em đỡ anh ngồi dậy thử xem. Ôi, sao anh hết đau rồi, hết đau rồi…

Lúc đó chị Phượng vừa sợ vừa ngạc nhiên vì thấy khuôn mặt anh Thuận đang thảng thốt, chị không biết thật hư ra sao. Chị lắp bắp:

– Anh sao rồi? Đừng làm em sợ.

Anh Thuận thì thầm:

– Anh còn sống thật hả em? Em cho anh nắm tay em thử xem…

Sau đó anh Thuận thú nhận với vợ là anh đã uống hết 40 viên thuốc an thần một lần để tự tử vì anh quá đau đớn và thất vọng, anh nghĩ quẫn rằng anh không thể nào chịu đựng tình trạng đau đớn này và phải ngồi im không ngủ được trong 8 tuần. Mỗi lần anh chuyển mình thì những chiếc xương sườn của anh như rú lên và gào thét. Anh nghĩ rằng anh không nên làm khổ vợ con nữa và muốn tìm cái chết nhanh nhất để giải phóng cho chính mình.

Câu chuyện được chữa lành của anh thật lạ lùng. Anh kể rằng:

– Chiều hôm đó, khi uống xong 40 viên thuốc an thần, tôi bị thuốc vật, ruột gan tôi đau đớn khủng khiếp, tôi nghĩ rằng tôi sẽ chết trước khi mọi người có thể làm gì đó để cứu tôi, tôi không còn hy vọng gì cho đến khi cha phó Anton đến và ban phép Thanh Tẩy cho tôi, khi cha Anton mặc áo các phép, mắt tôi bổng như chói lòa bởi một luồng ánh sáng, sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, tôi thiếp đi luôn, tôi tự nghĩ mình đã chết, đã được giải thoát để về với Chúa. Nhưng tôi không ngờ, Chúa đã chữa lành cho tôi. Tạ ơn Chúa.

Chị Phượng vô cùng xúc động và biết ơn Chúa, chị liên tục nói lời tạ ơn Chúa và gọi báo tin cho mọi người biết anh Thuận đã được chữa lành cách kỳ diệu sau khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Mọi người xung quanh hân hoan chúc tụng quyền năng vô biên của Thiên chúa đã dành cho gia đình anh chị Thuận Phượng.

Nhờ lời cầu nguyện tha thiết và kiên trì của chị Phượng, Thiên Chúa đã ban những ân huệ đặc biệt cho gia đình: Anh Thuận được chữa lành khỏi bệnh tật thể lý và bệnh tật trong tâm hồn. Anh đã trở thành con cái của Thiên Chúa, hiệp thông trong đoàn chiên của giáo xứ Tân Thông Hội, và trở thành gia đình sống đạo gương mẫu và hạnh phúc.

Đó là câu chuyện về “Mãnh lực của lời cầu nguyện trong gia đình”, lời cầu nguyện chân thành của một người vợ trở lại đạo đã cứu lấy được gia đình mình và đem được người chồng gia nhập giáo hội Công giáo cùng với mình và trở thành con Thiên Chúa. Hiện nay anh chị có được 3 người con trai và cả 3 đã lập gia đình.

 “Tạ ơn Thiên Chúa, đã thương đoái đến phận hèn tôi tớ Ngài. Từ nay muôn đời sẽ khen tôi diễm phúc” …Đó là lời trong kinh Magnificat của Đức Maria, mà chị Phượng đã lập lại trong biến cố vô cùng trọng đại của gia đình chị.

 Nguồn VietVatican

Chia sẽ bài viết này trên:

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.

Xã hội của chúng ta ngày nay phải đối mặt sự gia tăng của chủ nghĩa thế tục và đánh mất đức tin nơi các đô thị phồn hoa. Chúng ta chợt nhận ra mình đang đối đầu với một thế giới đắm chìm trong sự bành trướng của sự dữ và chủ nghĩa khủng bố, chiến tranh và bạo lực. Chúng ta gặp nhiều rắc rối bởi những đổ vỡ trong đời sống gia đình, cùng vô số những ồn ào chia trí và cả việc thiếu vắng những nỗ lực sống thánh.

Nhưng chuỗi Mân Côi có thể giúp chúng ta. Và chúng ta cũng biết điều này, vì chính Đức Maria đã nói điều này cách đây 100 năm tại làng Fatima, Bồ Đào Nha, khi Mẹ hiện ra sáu lần với ba trẻ chăn cừu từ tháng Năm đến tháng Mười năm 1917, mỗi tháng một lần. Mẹ nhắc đi nhắc lại rằng: “Hãy lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày để có được hòa bình trên khắp thế giới và kết thúc chiến tranh.”

Chúng ta cũng biết những giá trị tuyệt vời của chuỗi Mân Côi, vì nó đã minh chứng sức mạnh của nó hết lần này đến lần khác xuyên suốt lịch sử nơi đời sống của các tín hữu nam nữ. Chắc chắn điều này có được không phải bởi vì chuỗi Mân Côi là thần chú phép thuật nhưng bởi vì chuỗi Mân Côi mang chúng ta đến với Chúa Giêsu. Theo như lời của Đức Hồng y Francis E. George – Tổng Giám mục Tổng giáo phận Chicago, vào dịp bế mạc năm Mân Côi 2013 – thì chuỗi Mân Côi “mang chúng ta đến với trái tim của Tin Mừng”.

Vượt thắng sự ồn ào

Trong lối sống hiện đại điển hình, chúng ta rất dễ bị chia trí và bị lấn át bởi tất cả mọi ồn ào xung quanh. Công nghệ đang liên tục đòi hỏi sự chú ý của chúng ta. Ngay cả khi đang ngồi trước những màn hình lớn thì chúng ta vẫn nhìn vào những màn hình điện thoại nhỏ hơn. Chúng ta bị lôi cuốn bởi những cám dỗ của các công cụ truyền thông xã hội và sử dụng tin nhắn như một hình thức giao tiếp chính yếu. Chúng ta đã hình thành một não trạng “luôn luôn bận rộn” hoặc “luôn luôn rảnh rỗi”, và ồn ào không còn biên giới đối với chúng ta. Trong một báo cáo của Nielson công bố vào tháng 6 năm 2016 cho biết trung bình người Mỹ sử dụng hơn 10 tiếng mỗi ngày để chỉ nhìn vào các loại màn hình (Tivi, máy tính, điện thoại,…). Chúng ta dễ nói với bản thân rằng mình đang làm việc chăm chỉ và việc tiêu thụ một lượng lớn thời gian cho các thiết bị công nghệ là cần thiết, nhưng thực tế thì tất cả những ồn ào đó đang hủy hoại mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.

Mặc dù vấn đề này trở nên đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, nhưng đây không phải chỉ là vấn đề của thế kỉ XXI. Năm 1973, Đức Hồng y Albino Luciani – lúc đó là Tổng Giám mục Tổng giáo phận Venice, sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I – đã có một bài giảng về “sự khủng hoảng trong cầu nguyện” trên khắp thế giới, trong đó một phần nguyên nhân là do “những ồn ào đã xâm chiếm cuộc sống của chúng ta”.

Nếu Đức Thánh Cha nghĩ rằng cuộc sống năm 1973 đầy ồn ào, vậy thì ngài sẽ nghĩ gì về cuộc sống hiện tại ?

Chúng ta cũng đối diện với vô số những ồn ào nội tâm. Chúng ta bị chia trí trong cầu nguyện bởi những cản trở bên trong, điều thường được biểu hiện dưới hình thức của kiêu ngạo và tự cho mình là trung tâm. Trong tất cả những lúc khó khăn ấy, chúng ta có thể nhờ đến chuỗi Mân Côi. Những suy ngắm tuyệt vời của lời kinh Mân Côi có thể giúp chúng ta tập trung và vượt thắng những ồn ào bên ngoài. Đồng thời, bằng việc cầu nguyện với lời kinh đơn sơ này một cách liên lỉ, tín thác và khiêm nhường, chúng ta có thể phá vỡ được những rào cản bên trong chúng ta.

Bài giảng của Đức Hồng y Luciani được viết lại trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” trình bày một sự bảo trợ tuyệt hảo và mạnh mẽ của chuỗi Mân Côi – điều mà phù hợp với hiện tại như nó đã từng phù hợp vào năm 1973.

Tận hiến sâu xa hơn cho Giáo Hội

Tổng Giám mục Fulton J. Sheen, một trong những “người khổng lồ” tri thức, tinh thần và thậm chí là truyền thông của thế kỉ XX, cũng đã tận hiến thẳm sâu chính mình cho Đức Mẹ, và ngài đã viết tặng Mẹ một cuốn sách có tựa đề “Tình yêu đầu của nhân loại, Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa”

Nhiều người trong chúng ta có lẽ giống với cha Patrick Peyton, người được biết đến như là “linh mục của chuỗi Mân Côi”. Ngài là người đã tạo ra cụm từ “gia đình cùng cầu nguyện, cùng chung sống”.

Nhưng hồi ấy, cha Peyton không chỉ tạo ra cụm từ ấy; từ lúc nhỏ, ngài được giáo dục và đào tạo bởi các giá trị to lớn của chuỗi Mân Côi.

Cha Peyton đã quá quen với việc cầu nguyện cùng gia đình bằng chuỗi Mân Côi mỗi tối, và khi cha rời xa gia đình lần đầu tiên để đi làm và sống chung với một gia đình Công Giáo khác, thì cha đã rất sốc và đau buồn khi mọi người trong nhà ấy không cầu nguyện trước khi đi ngủ.

Ngài viết rằng: “Trong khi giả vờ ngủ, tôi đã cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi của mình và tôi cảm nhận được nỗi đau khổ của người con xa nhớ quê hương, nỗi đắng cay khi sống giữa những người mà lối sống của họ khác biệt với tôi, quan niệm về các giá trị sống của họ không đúng với tất cả những rèn luyện và trải nghiệm của tôi, điều mà tôi được dạy là bình thường.”

Đây rõ ràng là một trải nghiệm quan trọng của cha Peyton – cha nhận ra rằng cha không thể xem thường đức tin đã được lãnh nhận nơi gia đình. Đó cũng là lý do tại sao khi bi kịch gieo xuống cuộc đời mình, đang lúc chuẩn bị lãnh nhận chức thánh, cha Peyton vẫn có thể hướng về Đức Maria. Nhờ vào việc tận hiến cho Mẹ, cha Peyton đã được chữa lành một cách thần kỳ khỏi chứng bệnh suy nhược. Và đáp trả lại, cha đã cống hiến đời mình để lan truyền việc tận hiến cho Đức Maria. Ngài đã nói rằng: “Công trạng và vinh quang của mỗi việc làm mà tôi thực hiện đều sẽ thuộc về Mẹ và chỉ mình Mẹ”.

Cha Peyton tiếp tục thành lập phong trào Gia đình Mân Côi, sử dụng phát thanh vô tuyến, phim ảnh, các biển hiệu bên ngoài và hơn 260 nhóm họp trên khắp 6 châu lục để khuyến khích hàng triệu người cầu nguyện cùng gia đình Mân Côi.

Đoạn trích mô tả giai đoạn này trong cuộc đời của cha Peyton, trong cuốn “tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?”, được trích từ tiểu sử và ký sự của cha Peyton khi ngài bị bệnh tật đe dọa và hồi phục cách phi thường – cũng như sự tận hiến cho Đức Maria và chuỗi Mân Côi, điều mà không bao giờ bỏ rơi ngài.

Phát triển mối tương quan môn đệ Chúa Kitô

Tôi nghĩ thật đúng khi nói rằng mỗi người trong chúng ta, dù ở đâu đó trên đường đời, thì cũng đã từng tình cờ cảm nhận được lời nguyện cầu hay đức tin của ai đó mà chúng ta cực kì ngưỡng mộ và thậm chí có thể là đố kỵ. Dường như việc chứng kiến này là một món quà, và nó nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng chúng ta cũng được mời gọi để xây dựng mối tương quan mật thiết và thân tình với Chúa Giêsu.

Để làm điều đó, chúng ta phải gặp gỡ Ngài, “gặp gỡ Chúa Kitô” – một cụm từ đã trở nên phổ biến trong triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và điều này là rất thiết yếu – nghĩa là cần phải tìm hiểu Chúa Kitô một cách sâu sắc, trọn vẹn và không nghi ngờ, cùng dọn trống tâm hồn mình để tâm hồn của chúng ta có thể được đổ tràn đầy Thánh Thần Chúa.

Có nhiều cách để gặp gỡ Đức Kitô trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta như: nhờ cầu nguyện, các bí tích và dĩ nhiên, nơi Thánh Thể. Nhưng một bước tiến nhỏ trên con đường gặp gỡ Đức Giêsu là hình thành mối thân tình với Mẹ của Ngài trước. Vì sau cùng thì Mẹ là người hiểu rõ Đức Giêsu nhất và chính Mẹ đã cưu mang Người trong lòng mình. Đức Maria đã luôn dõi theo Con của Mẹ, chăm sóc và dạy dỗ Người. Mẹ đã trân quý từng khoảnh khắc khi ở bên Chúa Giêsu và luôn suy niệm chúng trong lòng, như Tin Mừng Luca thuật lại. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đáng mến của chúng ta đã viết trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae về chuỗi Mân Côi rằng, việc tận hiến cho Đức Mẹ là một trong những phương cách cầu nguyện truyền thống của Kitô giáo, hướng tới việc chiêm ngắm dung mạo Đức Kitô. Khi chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, chúng ta suy ngắm những khoảnh khắc khác nhau trong cuộc đời Đức Giêsu thông qua cách nhìn của Thánh Mẫu Người. Việc chiêm ngắm này dẫn chúng ta đến với một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa, điều mà dẫn đưa chúng ta vào con đường của người môn đệ Chúa Kitô.

Sự thiếu vắng một cách đáng kinh ngạc mối tương quan môn đệ Chúa Kitô trong thế giới ngày nay phần lớn là do rất khó để từ bỏ chính mình mà vác thập giá mình và bước theo Chúa, dù rằng chúng ta được dạy là phải làm như vậy. Tuy nhiên, là những môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi bỏ đi cái tôi, sự ích kỷ, kiêu ngạo và thay vào đó là ưu tiên dành cho tha nhân. Đó là một lối sống khác biệt với thế gian, thế nhưng Đức Maria và chuỗi Mân Côi có thế giúp chúng ta thực hiện được điều đó.

Mang hòa bình cho thế giới

Trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê, một trong những bài Kinh Thánh yêu thích của tôi, ngài khuyên các tín hữu trong mỗi ngày sống: “Đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4,6-7)

Gần cuối năm 2014, Đức cha Doeme đã có một thị kiến, ngài trông thấy Đức Giêsu hiện ra và trao cho ngài một thanh gươm. Nhưng khi ngày cầm lấy thanh gươm ấy thì nó liền biến thành một tràng chuỗi Mân Côi. Đức cha cho biết: “Rõ ràng với chuỗi Mân Côi, chúng ta có thể loại trừ được sự dữ”. Mặc dù đây là một lời chứng đặc biệt cho sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu chống sự dữ, nhưng đó không phải là duy nhất.

Nhiều câu chuyện khác và nhiều vị thánh đã phát họa lại những sự bảo trợ mà chuỗi Mân Côi mang lại, từ trận chiến Lepanto – cứu Giáo Hội Công Giáo Tây Phương thoát khỏi sự xâm lăng của quân Ottoman, cho đến thánh Piô Năm Dấu – người gọi chuỗi Mân Côi là “vũ khí chống lại sự dữ trong thế giới ngày nay”.

Trong một tài liệu liên quan được viết vào tháng 9 năm 1951, Đấng đáng kính Giáo Hoàng Pius XII đã xem chuỗi Mân Côi là phương dược giúp cho thế giới lúc bấy giờ giải trừ những sự dữ.

Chắc chắn không ít khó khăn khi chúng ta nhận thấy mình đang ở trong những hoàn cảnh khác nhau như hiện nay, với việc chiến tranh liên miên ở Trung Đông, chủ nghĩa khủng bố ở quê hương và trên thế giới, và việc bắt bớ các Kitô hữu khắp nơi.

Những lời của Đức Giáo Hoàng Pius XII về sự dữ cách đây 70 năm nhưng lại phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, chuỗi Mân Côi tiếp tục là vũ khí giúp chúng ta chiến đấu chống sự dữ.

Chiến đấu chống chủ nghĩa thế tục

Một nghiên cứu mới đây về sứ mạng tông đồ được thực hiện bởi Trung Tâm Nghiên cứu Ứng dụng tại Đại học Georgetown, Washington D.C, chỉ ra rằng 13 là độ tuổi tiêu biểu mà vào độ tuổi đó người ta sẽ đánh mất niềm tin của mình. Khi được hỏi rằng bạn có từng xem xét việc quay trở lại Giáo Hội hay không, thì con số xấu xa đó lại tiếp tục xuất hiện, với chỉ 13% người trẻ được hỏi có câu trả lời là “có”.

Cả hai dữ liệu thống kê nói trên đang gây ra lo lắng cho chúng ta, nhưng chúng không may lại trình bày một bức tranh chính xác về vị trí của chúng ta hiện nay trong khía cạnh loan truyền niềm tin nơi xã hội của chúng ta. Chúng ta đang thất bại. Xã hội hiện tại đang phải đối mặt với sự bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa thế tục. Trong một diễn văn dành cho các Giám mục Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2012, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cảnh báo về sự ngập tràn của chủ nghĩa thế tục trong xã hội nước Mỹ, ngài nói: “Thật cấp thiết, toàn thể Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ cần nhận ra những đe dọa nghiêm trọng đối với những chứng tá đời sống đạo đức nơi Giáo Hội, đó là chủ nghĩa thế tục đang gia tăng mạnh mẽ trong các hoạt động chính trị lẫn văn hóa”

Nhưng Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI không phải là vị Giáo Hoàng đầu tiên lên tiếng chống lại chủ nghĩa thế tục. Đức Leo XIII, trị vì từ năm 1878 đến năm 1903, đã từng bị tấn công bởi các chính sách chính trị và những rắc rối của chủ nghĩa nhân văn thế tục trong suốt thời gian kế vị Thánh Phêrô. Trong một vài phần của 11 thông điệp về chuỗi Mân Côi (Đức Leo XIII được biết đến với biệt hiệu “vị Giáo Hoàng của chuỗi Mân Côi”) – một trong số đó được liệt kê trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” – Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã nói về những nguy hiểm của một thế giới thiếu vắng niềm tin. Những lời đó của ngài mạnh mẽ và phù hợp với cả hiện tại, giống như nó đã từng phù hợp lúc bấy giờ. Đức Leo XIII tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu với những rắc rối đang gia tăng – và ngài đã đúng. Cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể giúp thế giới tái khám phá niềm tin của mình.

Giúp chúng ta nên thánh

Mỗi người trong chúng ta được mời gọi nên thánh, nhưng như chúng ta biết, cuộc sống đó không hề đơn giản. Nó đòi hỏi những hy sinh, dâng hiến, đức hạnh và trên hết đó là mối tương quan thân mật với Chúa Kitô, cùng một quyết tâm nghe theo thánh ý Ngài, dù bất kể có chuyện gì. Mặc dù điều đó không dễ dàng, nhưng nên thánh là điều mà mỗi người trong chúng ta được mời gọi.

Lời mời gọi chung này được diễn tả trong Hiến chế Tín lý về Giáo Hội của Công Đồng Vaticanô II – điều mà nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta được mời gọi “hãy nên hoàn thiện như Cha của anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” Khi mong muốn thực hiện được điều đó, còn gì tốt hơn khi chiêm ngắm các thánh – những người đã làm được điều đó. “Các thánh và các chân phước trên trời nhắc nhở chúng ta, những kẻ lữ hành trần thế, rằng lời cầu nguyện, trên hết, là lương thực cho mỗi ngày sống để chúng ta không bao giờ lạc mất hướng nhìn về đời sống vĩnh hằng.” Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Đối với nhiều người, chuỗi Mân Côi […] là phương cách để họ trò chuyện với Thiên Chúa mỗi ngày. Chuỗi Mân Côi dẫn chúng ta vào một sự mật thiết sâu sắc hơn nữa với Chúa Kitô và với Đức Trinh Nữ Maria.”

Rất nhiều vị thánh đã tận hiến mình cho chuỗi Mân Côi như: thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, thánh Têrêsa Calcutta, thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, thánh Zelie Martin, chân phước John Henry Newman, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và thánh Louis de Montfort. Nhờ những mẫu gương của các ngài, chúng ta tìm thấy được cảm hứng cho chính mình trong việc cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi nhiều hơn, để tiến gần hơn tới việc nên thánh nhờ Đức Maria và Con của Mẹ.

Grentchen R.Crowe
Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com

Chia sẽ bài viết này trên:

GANH ĂN TỨC Ở MUÔN ĐỜI NÁT – Phút Cầu Nguyện, Thứ Bảy 25/04/2020

GANH ĂN TỨC Ở MUÔN ĐỜI NÁT – Phút Cầu Nguyện, Thứ Bảy 25/04/2020

Kính thưa quý vị, các bạn thân mến!

Trong bài viết “Các Kitô hữu trợ giúp nhau nên Thánh, linh mục Phan Long có kể câu chuyện như sau:

Có hai chú diều bay trên bầu trời, chúng quyết định mở cuộc tỷ thí để xem ai sẽ bay cao hơn. Cạnh chúng có hai con chim ưng cũng đang mở cuộc thi tài. Chỉ trong chớp mắt, chúng bay vút lên trời. Nhưng hai chú diều thì cứ đảo bên này đảo bên kia, và không sao bay lên cao được.

Sau này, diều hỏi chim ưng: “Chúng ta mở cuộc tỷ thí dưới cùng một bầu trời, nhưng vì sao các anh có thể bay lên cao, còn chúng tôi thì không?”

“Đó là vì nguyên tắc tỷ thí của chúng ta khác nhau!”, một chim ưng nói: “Nguyên tắc của chúng tôi là phải vượt thắng đối thủ; trong khi nguyên tắc của các anh lại là ngăn không cho đối thủ thắng mình. Theo nguyên tắc của chúng tôi, nếu đối thủ bay vượt hơn mình, thì mình phải cố gắng hết sức để có thể đuổi kịp và thắng; còn nếu mình vượt hơn, đối thủ cũng phải nỗ lực nhiều hơn để có thể bằng mình. Do đó, cả hai chúng tôi đều có thể bay vút lên giữa trời xanh. Còn theo nguyên tắc của các anh, thì nếu đối thủ bay cao hơn mình, mình phải tìm cách kéo đối thủ xuống. Nếu ta không thể bay lên được, thì mi cũng đừng hòng! Hai sợi dây của các anh cứ xoắn vào nhau như thế, làm sao bay lên cao?… Đó là cách nghĩ của các anh, và lẽ đương nhiên là cả hai đều thất bại”.

Quý vị và các bạn thân mến!

Cạnh tranh hay ganh đua là một yếu tố tích cực và cần thiết để giúp một cộng đoàn, một xã hội được phát triển mạnh mẽ. Với quyền năng của mình Đấng Tạo Hóa có thể  tạo nên những con người có những khả năng, trình độ, sức khỏe ngang bằng với nhau, nhưng nếu Ngài làm như thế thì cuộc sống con người sẽ đơn điệu và tẻ nhạt biết bao! Vì người ta không còn gì phải cố gắng, phải vươn lên vì chẳng có ai hơn mình. Trong các câu chuyện kiếm hiệp thời danh, đã có nhiều tay kiếm sau khi khổ luyện để trở thành tay kiếm siêu quần, bá chủ trong thiên hạ lại trở nên cô đơn trong ngôi vị độc tôn của mình. Họ buồn vì không còn ai xứng đáng là đối thủ. Thanh kiếm của họ trở nên cô đơn vì không còn cái đích để nó cố gắng vượt qua.

Thế nhưng, sự cạnh tranh chỉ mang lại lợi ích nếu đó là sự cạnh tranh lành mạnh. “Nếu mình vượt hơn, đối thủ cũng phải nỗ lực nhiều hơn để có thể bằng mình. Do đó, cả hai chúng tôi đều có thể bay vút lên giữa trời xanh”. Ngược lại, cạnh tranh không lành mạnh là khi “đối thủ bay cao hơn mình, mình phải tìm cách kéo đối thủ xuống” thì sẽ không mang lại hiệu quả tích cực cho cá nhân cũng như cộng đồng, xã hội.

Trong hoạt động tông đồ của người Kitô hữu chúng ta cũng thế. Nhiều khi chúng ta cũng bị cám dỗ bởi những danh phận, địa vị trong một hội đoàn, một tổ chức đạo đức và như thế, chúng ta sẽ trở nên rất khó chịu, cảm thấy như bị tổn thương danh dự khi trong cộng đoàn bỗng xuất hiện một ai đó tỏ ra xuất sắc, tài giỏi hơn chúng ta. Và do sự ganh tỵ, do lo sợ sẽ bị mất ảnh hưởng, vì uy tín năng lực của mình có thể bị lu mờ trước ngôi sao vừa xuất hiện đó, từ cõi vô thức, chúng ta bắt đầu có những suy nghĩ và hành động mang đầy tính đố kỵ. Nhân danh sự ổn định cộng đoàn, bảo vệ những bài bản chính thức của tập thể, chúng ta khéo léo tìm mọi cách để loại trừ hoặc làm cho nhiệt tình của năng lực mới giảm dần, họ trở nên chán nản và tự nguyện rời bỏ hội đoàn mà ta đang có ảnh hưởng nhất.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, việc Thiên Chúa trở nên người phàm và yêu thương con người đến nỗi bằng lòng chịu chết trên Thập Giá đã khiến ma quỷ ganh tỵ, gieo rắc hận thù và cái chết trên khắp thế giới. Xin Chúa giữ chúng con đừng sa vào chước cám dỗ của ma quỷ để sự ghen ghét, đố kị và cạnh tranh xâm nhập vào con tim mà ngược lại, hãy biết chung sống hòa bình như anh chị em với nhau. Amen.

Bình Minh

Chia sẽ bài viết này trên:

NÓNG GIẬN LÀ DO Ở TÂM MÀ RA – Phút Cầu Nguyện, Thứ Sáu 24/04/2020

NÓNG GIẬN LÀ DO Ở TÂM MÀ RA – Phút Cầu Nguyện, Thứ Sáu 24/04/2020

Có một người đàn ông thường hay nổi giận, nếu không vừa ý thì lập tức giận dữ liền. Ông ta tích trữ nguyên nhân ghen ghét cho rằng, mỗi lần giận dữ đều do người khác mà ra. Vì vậy mà ông tránh xa con người ở phố thị, rồi một mình đi vào trong núi tu thân dưỡng tính.

Một hôm ông ta vác cái lu bằng đất sét đi múc nước, vì một chút bất cẩn mà ông ta làm đổ lu nước đầy, tất cả nước đều chảy ra nên ông ta chỉ còn cách là đi múc nước lại. Nhưng khi đi được nửa đường thì lại để lu nước đổ giữa đường. Liên tục 3 lần như thế nên ông nổi giận đem lu nước đập vỡ vụn.

Ông ta nhìn những mảnh lu vỡ tự trách: “Trước đây nếu ta giận dữ đều cho rằng vì người khác, bây giờ dù chỉ ở có một mình trong núi, vậy mà ta vẫn còn giận dữ sao. Như vậy ta đã hiểu ra rồi: giận dữ là do ở trong tâm mình mà ra”

Quý vị và các bạn thân mến!

Con người chào đời bằng tiếng khóc, như một báo hiệu cho một kiếp sống trầm luân và khổ ải. Dù ở bất cứ địa vị nào, giai tầng nào thì sự hiện hữu của những góc tối, những nghịch cảnh như là điều tất yếu của con người trong cuộc đời trần thế này. Những điều đau khổ và bất hạnh của cuộc đời chẳng khác nào những hạt muối nguyên chất với vị mặn chát. Tuy nhiên, số lượng những đắng mặn mà cuộc sống của chúng ta phải nếm trải phụ thuộc vào thái độ, vào cái tâm của chúng ta đối với những thử thách, đau buồn ấy vào. Nếu nhận thức của chúng ta đối với sự việc là cái ly, chúng ta sẽ uống vào cuộc đời mình những dư vị mặn chát, nhưng nếu nhận thức của chúng ta đối với sự việc là cái hồ, mọi phiền muộn, khó khăn sẽ được hóa giải, chúng ta sẽ uống vào đời mình những ngụm nước ngọt mát, trong lành. Do vậy, khi chúng ta biết tu tâm dưỡng tính, để mở lòng ra bao la như biển hồ thì những nắm muối đầy bất ưng của cuộc đời vẫn không thể làm lòng chúng ta bừng lên những ngọn lửa của sự bực bội, giận dữ.

Thánh Ê-phê-sô 4:26 cũng nhắc nhở rằng:  “Nếu tức giận cũng đừng phạm tội”. Với bản tính mỏng giòn của con người, rất khó để chúng ta tránh được cảm xúc nóng giận. Thế nhưng nóng giận một cách có kiểm soát là điều chúng ta có thể thực hiện được. Rõ ràng, chúng ta thường dễ nổi giận với những người dưới quyền hành hay nhỏ bé hơn mình và ngược lại, với cấp trên hay với người có quyền thế, chúng ta có kiểm soát cảm xúc nóng giận rất tốt, thậm chí còn có khả năng triệt tiêu nó. Như vậy “giận dữ là do ở trong tâm mình mà ra”.

Lời dạy của Thánh Giacôbê rất chí lý rằng: “ Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” và “ mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa”. “Người hay nổi giận khơi dậy xung đột. Kẻ dễ nổi nóng vi phạm nhiều thay.” (Châm Ngôn 29:22). Thực tế cũng cho thấy biết bao tội ác tày trời mà con người có thể gây ra nếu không biết kiềm chế cơn nóng giận. Ngay cả khi lý do khiến chúng ta nổi giận là chính đáng hay được phép đi nữa thì cũng không nên kéo dài cảm xúc tiêu cực đó, vì điều đó sẽ khiến chúng ta “không được thừa hưởng Nước Đức Chúa Trời”. Ga-li-ti 5:12-21

Lạy Chúa Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh, trong cuộc Thương Khó, dù “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bằng” (1 Pr 2,23). Xin cho chúng con biết noi gương hiền lành và khiêm nhượng của Ngài và cũng xin Thần khí thánh của Ngài giúp chúng con tu dưỡng tâm tính để kiểm soát cơn giận. Amen.

Bình Minh     

Chia sẽ bài viết này trên: