Month: Tháng Tám 2020

Mất đi để được lại – CN XXII TN A

Mất đi để được lại – CN XXII TN A

Trên Internet có kể câu chuyện như sau:

Một cô gái sống cô đơn trong căn nhà gỗ cạnh khu rừng. Một hôm, giữa lúc dạo chơi, cô bỗng thấy hai chú chim non mất mẹ đang thoi thóp trong tổ trên một chạc cây. Cô vội đem về nuôi trong một cái lồng rất đẹp. Tình thương của cô đã làm cho hai chú chim non lớn nhanh và trổ mã. Mỗi sáng chúng cất tiêng líu lo chào đón cô.

Ngày kia, cô sơ ý để một chú chim sổ lồng. Không muốn tình yêu của cô hay mất, nên cô vội chộp lấy chú chim bé bỏng. cô sung sướng giữ chặt nó trong tay. Nhưng khi nới lỏng tar a cô mới bang hoàng thấy con chim đã khép mắt lìa đời.

Cô thẫn thờ nhìn con chim lẻ bạn còn lại trong long. Có lẽ nó cần được tự do bay vút lên bầu trời trong xanh. Cô tiến đến chiếc lồng và nhẹ nhàng tung chú chim lên cao. Nó lượn trên vai cô , hót vang nhữngg giai điệu thánh thót mà cô chưa một lần được thưởng thức trong đời.

Qua tiếng hót mượt mà diệu kỳ ấy, cô chợt hiểu rằng cách nhanh nhất để đánh mất tình yêu là khi ta nắm giữ nó thạt chặt. Trái lại, để giữ mãi ự yêu thương thì ta phải ân cần trao hco cuộc tình một đôi cánh tự do.

***

Cô gái chỉ “được lại” niềm vui khi cô bằng lòng chịu “mất đi” chú chim bé bỏng. Vì hạnh phúc của loài chim là được tung bay trên bầu trời, và niềm vui của con người là được nghe tiếng chim thánh thót.

Bài tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,25). Cần phải “Mất đi” để “được lại”.

Người Kitô hữu chỉ thực sự thật hạnh phúc khi dám mất đi cái tạm bợ để được lại cái vĩnh hằng, dám mất đi cái mau qua để được lại cái trường tồn.

Người kito hữu chỉ thực sự khôn ngoan khi sẵn long “mất đi” của cải phù vân đê “được lại” gia tài vĩnh cửu, “mất đi” sự sống hay chết để “được lại” sự sống đời đời.

Hiểu được cái gì phải “mất đi” và cái gì sẽ “được lại” đã không phải là dễ dàng, mà sống được điều đó lại càng khó khăn hơn.

Đâu phải dễ dàng từ bỏ những cái mình thân thiết nhất, yêu quí nhất; nhưng cai mình dày công kiếm tìn, theo đuổi.

Đâu pahi dễ dàng, để mất đi những thú vui, khoái lạc, thỏa mãn giác quan, đê mê thân xác.

Đâu phải dễ dàng triệt tiêu cái tôi cao ngạo, tự mãn, tự tôn đã từng được vuốt ve, nuông chiều.

Phải suy nghĩ cho thật nhiều, phải cầu nguyện cho thật lâu, để sáng suốt nhận định về “cái được”, “cái mất” cũng là để khỏi phải hối tiếc khi đã quá muộn. Đây hẳn là câu mà Đức Giêsu đề nghĩ chúng ta suy nghĩ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). “Theo thầy” là “phải từ bỏ chính mình” hẳn là không dễ dàng. “Theo Thầy là “vác thập giá mình mà theo” lại không dễ chịu chút nào. Nếu thế, thì đây là một đòi hỏi hết sức gắt gao, nghiêm túc không thể tùy hứng làm hay không làm. Vì ngày sau đó, Đếc Giêsu đã cảnh báo: “Người (Chúa Cha) sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm” (Mt 16,27).

Các tông đồ đã từ bỏ mọi sự mà theo Chúa nên đã được gấp trăm cả đời này lẫn đời sau.

Các vị tử đạo đã từ bỏ sự sống ngắn ngủi, để được lại sự sống muôn đời.

Thánh Teresa đã từ bỏ cả tuổi thanh xuân nương mình trong chốn viện tu, để được lại biết bao linh hồn nhờ lời cầu nguyện, hy sinh âm thầm.

Augustino đã từ bỏ đời sống xa hoa trụy lạc, để được lại một vị thánh giám mục khôn ngoan thánh thiện lừng danh trong Giáo Hội.

Maximilien Kolbe đã từ bỏ chính mạng sống mình, chết thay cho người bạn tù, để được lại chính Chúa là nguồn sự sống.

Mỗi Kitô hữu đều có những cái để từ bỏ, nhưng cần thiết nhất và cũng khó khăn nhất là phải từ bỏ chính mình, từ bỏ cái tôi cao ngạo, ích kỷ, hưởng thụ, để được ngay từ bây giờ niềm vui, an bình và hạnh phúc.

Trên nỗi đau của từ bỏ chúng ta thấy ý nghĩa ngọt ngào của hy sinh. Hy sinh bao giờ cũng có hương thơm của thiên đàng. Baeteman nói: “Khi hy sinh dâng lên cao thì hồng ân đổ xuống nhiều”.

***

Lạy Chúa, xin giúp mỗi người chúng con biết cái gì cần phải “mất đi”, cái gì cần phải “từ bỏ”, để chúng con được nhẹ nhàng bước theo Chúa trọn con đường mà Chúa muốn chúng con đi.

Xin cho chúng con trung thành theo Chúa đến cùng, cho dù là chông gai, đau khổ, vì chỉ có Chúa mới là cùng đích cuộc đời chúng con. Amen.

Thiên Phúc (Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Chia sẽ bài viết này trên:

Theo Chúa – CN XXII TN A

Theo Chúa – CN XXII TN A

Câu kết bài Tin Mừng tuần trước: “Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Kitô”, thật ngạc nhiên! Sau khi Chúa chuẩn nhận lời tuyên xưng của thánh Phêrô, Chúa lại cấm công khai điều ấy.Tại sao? Thánh Matthêu không trực tiếp trả lời, nhưng kể tiếp “Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Chúa bắt đầu một “chương mới” trong việc dạy dỗ các môn đệ. Bấy lâu nay, các ông chỉ thấy Chúa rao giảng và chữa lành, được đám đông tôn kính. Nay các ông đã nhận ra “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa” thì “từ lúc đó Chúa bắt đầu tỏ” cho các ông biết con đường Chúa phải trải qua để lãnh nhận tất cả uy quyền và vinh quang của “ Đức Kitô Con Thiên Chúa” trong thân phận Con Người “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Phản ứng của các môn đệ như thế nào? Vẫn ông Phêrô bộc lộ thật mãnh liệt. Có lẽ những lời về đau khổ và cái chết làm cho ông ù tai rồi nên không nghe được lời cuối cùng. “Ông liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải những chuyện ấy” Nhưng cái cách “ông kéo riêng Người ra” để nói nhỏ khiến Chúa phải làm toáng lên để khỏi các môn đệ khác ngộ nhận: “Nhưng Đức Giêsu quay lại bảo ông Phêrô: Xatan. Lui lại đang sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”. Ông Phêrô vừa được Cha trên trời mạc khải cho biết “tư tưởng của Thiên Chúa” về mầu nhiệm “Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa”, bỗng quay lại với tư tưởng của loài người và trở thành Xatan cản lối. [Cái tên Xatan trong tiếng Aram vốn có nghãi là kẻ chống đối, còn trong tiếng Hylạp “dia-bolos” là kẻ gây chia rẽ bằng cách quăng một vật gì đó vào giữa hai người đang đi với nhau để tách hai người ra. Đó là nghề của Xatan từ ban đầu và bao lâu còn có con người trên mặt đất thì nó vẫn chưa thất nghiệp: xúi giục sự chống đối để chia rẽ con người với Thiên Chúa, chia rẽ người nam với người nữ, chia rẽ anh em, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ cả trong Hội Thánh của Chúa, dù Chúa đã bảo đãm là nó không phá nổi, nó vẫn cứ vùng vẫy cho tới ngày bị “quăng vào hồ lửa và diêm sinh” (Kh 20,8; x.St 2-4) ]. Khi Xatan cám dỗ Chúa cách thô lỗ nhất là xúi Chúa bái lạy nó để được vinh hoa thế gian thì Chúa đuổi nó thẳng tay: “Xatan kia! Xéo đi” (Mt 4,10). Bây giờ ông Phêrô, môn đệ được tuyển chọn, lại muốn cản đường Chúa, khác nào tiếng vọng của Xatan, nên Chúa quay lại qưở trách ông, nhưng không đuổi đi mà chỉ đuổi ông về vị trí môn đệ: làm môn đệ thì đi đàng sau Thầy; Chúa không cần một “Tôn Ngộ Không” đi trước dẫn đường! Ông đã nhận ra Chúa là “Đức Kitô Con Thiên Chúa” thì đừng theo tư tưởng của loài người nữa. Chúa như nhắc lời sách Isaia: “tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối các người không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi chừng đó” (Is 55,8-9). (x.Tĩnh tâm với sách Tin mừng Matthêu, Lm Nguyễn Công Đoan, SJ).

Theo “tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa”, Chúa Giêsu đã nói lên luật hy sinh cho những ai muốn làm môn đệ, gồm 3 điểm: từ bỏ mình, vác thập giá, và theo Chúa. Ba điểm đó, tuy là ba nhưng cũng chỉ là một: theo Chúa trên con đường khổ giá. Chúa lấy sự nhẫn nại đau khổ như một điều kiện để theo Ngài, làm đồ đệ Ngài : “Ai muốn theo Ta thì hãy bỏ mình, vác Thập giá và theo Ta” (Mt 16, 24).

Thời gian ngắn trước đây Chúa Giêsu khen Phêrô và đặt Phêrô lãnh đạo Giáo Hội khi trao “Chìa khoá Nước Trời” cho Phêrô và đặt ông làm “Đá Tảng” để xây dựng Giáo Hội. Ngay sau đó,  Chúa lại khiển trách Phêrô đã gây cớ ngăn cản chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Phêrô với tất cả tấm lòng chân thành yêu mến không muốn điều gì xảy ra cho Thầy. Khi Chúa Giêsu tâm sự cùng các ông là Ngài sẽ vác thập giá và chịu đóng đinh, chịu chết trên thập tự, Phêrô nêu ý kiến can ngăn Chúa tránh xa thập giá. Chúa cho Phêrô biết điều ông suy nghĩ xem ra có vẻ tốt lành nhưng không phải đến từ trời cao mà đến từ trần thế. Ý kiến trần thế của Phêrô vấp phải hai lỗi lầm: Phêrô không hiểu rõ sứ mạng của Thầy là chết cho người mình yêu và Phêrô cũng không thể mường tượng ra được hy sinh là dấu chỉ của tình yêu chân chính, đích thực.

Phêrô theo Chúa là hình ảnh tuyệt đẹp. Từ khi được Chúa gọi, Phêrô đã liên tục theo Chúa. Chúa đã tỏ ra là yêu thương Phêrô cách riêng nên trong tất cả các biến cố của cuộc đời Chúa: vui, buồn, lo âu, thất vọng, Chúa đều cho Phêrô tham dự vào cách tích cực nhất. Phêrô đã tỏ ra mẫn cán trong sự thương yêu này. Có những cuộc theo Chúa rất đáng khen như trường hợp khi Chúa tuyên bố về bánh hằng sống thì có một số đông các môn đệ đã bỏ Chúa mà đi, trong khi đó Chúa đã hỏi nhóm 12 là: “Còn các con, các con không bỏ thầy sao?”. Phêrô đã tỏ ra rất ngoan ngùy và can đảm thưa với Chúa: “Bỏ Thầy con biết theo ai vì chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống”. Nhưng cũng có những lần vấp ngã trong việc theo chân Chúa như trong cuộc thương khó của Chúa. Kinh Thánh trong trường hợp này đã diễn tả việc theo chân Chúa một cách rất tiêu cực của Phêrô. Chỉ với lời hỏi han về mối liên hệ với Chúa, Phêrô cũng đã chối phắt đi là không quen biết Ngài, không phải là một lần mà tới ba lần. Cả sau này nữa, khi Phêrô xác nhận được Thầy mình đã sống lại, nhưng trước những cơn bách đạo dồn dập khốc liệt, ông đã quyết định bỏ thành Rôma để ra đi, và chính Chúa phải hiện ra buộc ông trở lại để theo chân Chúa đến cùng. Như vậy, cuộc hành trình theo chân Chúa chẳng đơn giản chút nào. Rất nhiều chướng ngại và thử thách đang chờ đợi người tông đồ.

Chúa không chấp thuận theo Chúa xa xa hay theo Chúa có điều kiện. Ngài muốn chúng ta theo Ngài thì phải triệt để, trọn vẹn và dứt khoát: “đã cầm cầy không có ngoái cổ lại”;“ai không sẵn sàng từ bỏ cha mẹ, anh em, ruộng vườn… thì không xứng đáng là môn đệ ta”;“ai không đứng về phe ta là chống đối ta”; “hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”. Tất cả những điều này cho thấy Chúa muốn những ai theo Chúa thì quyết liệt thuộc về Chúa vì chỉ có Ngài mới có lời ban sự. Đó cũng là thái độ của các môn đệ Chúa sau này, sau khi được Chúa Thánh Thần tác động. Phaolô đứng trước công nghị không hề sợ hãi mà còn tuyên bố thuộc hẳn về Ngài dầu có phải chết, “chúng tôi không thể nào mà không rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh và đã sống lại”.

Con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Con đường “đánh mất chính mình”, để tìm lại được chính mình, như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết: con đường “đánh mất chính mình”, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (x.Đức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).

Khởi đầu sứ vụ Giáo hoàng 14/3/2013, Đức Phanxicô nói: “Thánh Phêrô, người đã tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, thưa cùng Người rằng: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Con sẽ theo Thầy, nhưng đừng nói đến Thánh Giá! Ðiều này không có gì liên quan với nó. Con sẽ theo Thầy với các khả năng khác, mà không có Thánh Giá. Khi chúng ta đi mà không có Thánh Giá, khi chúng ta xây dựng mà không có Thánh Giá, và khi chúng ta tuyên xưng Ðức Kitô mà không có Thánh Giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa: chúng ta thuộc về thế gian, chúng ta là Giám Mục, Linh Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa”.

Con đường Chúa đi không có tiện nghi trần thế mà chỉ có từ bỏ và thập giá. Nhưng Chúa mãi mãi là Tình Yêu. Chỉ có Chúa mới là Hạnh Phúc mà chúng ta đang mong chờ và tìm kiếm. Chúng ta vẫn có quyền chọn lựa, nhưng hãy nhớ rằng: “Bộ mặt thế gian sẽ qua đi”, và “dù được lợi cả thế gian mà mất mạng sống, thì ích gì cho chúng ta?”.

Lạy Chúa, con đường Chúa đã đi qua là con đường tình yêu, con đường thánh giá và vâng phục tự hiến. Xin cho chúng con biết từ bỏ chính mình và vác thánh giá hằng ngày mà đi theo ChúaAmen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Điều mà Chúa truyền dạy tha thiết lúc này

1. Tôi xin chia sẻ điều mà Chúa tha thiết truyền dạy tôi lúc này. Chúa truyền dạy không chỉ riêng tôi, mà cũng truyền dạy cho mọi người con Chúa. Chúa truyền dạy một cách tha thiết, một cách khẩn cấp, như một sứ điệp cứu rỗi.

2. Điều mà Chúa truyền dạy là: “Lúc này hơn bao giờ hết, các con hãy nhờ Đức Mẹ Maria, mà đổi mới bản thân, hầu tránh được đại họa diệt vong phần xác phần hồn”.

3. Vâng lời Chúa truyền dạy, tôi đến với Đức Mẹ, tôi ôm lấy Mẹ, tôi cảm nhận được sự an tâm, an ủi, an vui lạ lùng.

4. Tôi nhận thấy rất rõ: Tình thương Mẹ dành cho tôi là rất đậm đà đặc tính khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Mẹ là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Mẹ là đền thờ Chúa Th|nh Thần.

5. Với sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, Mẹ mong đợi hãy tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều trong tình hình hiện nay. Tình hình càng khó khăn phức tạp, thì sự làm chứng cho Chúa càng phải rất khôn ngoan.

6. Tôi hỏi Mẹ:“Thế nào là làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan?” Thì Mẹ cho tôi nhận thấy: Muốn làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan trong bất cứ tình hình nào, thì hãy để ý đến hai việc này:

7. Một là phải phục vụ con người một cách tận tình và khiêm nhường.

8. Hai là hãy coi sám hối, đổi mới bản thân là việc phải làm mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Đổi mới bản thân theo Lời Chúa, đó là điều cần xác định rõ.

Thí dụ: Lời Chúa là.
Bố thí phải kín đáo (Mt 6,1)
Cầu nguyện nơi kín đáo (Mt 6,5)
Ăn chay cách kín đáo (Mt 6,16)
Thực tế thường không được vậy, nên tôi cần s|m hối, đổi mới bản
th}n mỗi ng{y.

9. Mấy ngày nay, Đức Cha Bề trên của nhiều giáo phận đã ra thông báo khuyên các tín hữu của mình không nên tụ tập đông người, cho dù để tham dự Thánh lễ, vì lý do dịch Covid-19. Tôi cũng coi thông báo đó là khôn ngoan.
Qua sự kiện trên đây, Mẹ dạy tôi điều này: Khôn ngoan mà Chúa Thánh Thần muốn, là hãy biết linh hoạt trong cách sống đức tin. Điều gì là căn bản, thì phải giữ, điều gì là hình thức, thì có thể đổi, và cần đổi, nếu tình hình khuyến cáo. Chứ khôn ngoan không có nghĩa là luôn phải đúng thói quen.

10. Tôi được may mắn tiếp xúc với nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân sống trong các chế độ khắt khe với Công giáo. Họ cho thấy họ phải khôn ngoan thế nào, để có thể tồn tại một cách bình an, mà vẫn giữ được đức tin.

11. Riêng tôi, lúc này, nhờ có nhiều quen biết với các thành phần xã hội, thì khôn ngoan mà Mẹ dạy tôi thực hiện, là hãy chân thành nói về Chúa một cách công khai và riêng tư, tôi nói một cách tình nghĩa, và xem ra nhiều người đã gặp được Chúa: Tạ ơn Chúa.

12. Thế là tôi đã được Mẹ Maria dạy tôi về sự khôn ngoan, một đức tính rất cần cho người mục tử tại Việt Nam hôm nay.

13. Mẹ cũng đang còn dạy tôi về sự khôn ngoan, qua gương sáng của nhiều giám mục, tu sĩ và giáo dân.

14. Nhiều phong trào đạo đức mang sự khôn ngoan Phúc Âm đang hoạt động mạnh tại nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam. Thí dụ phong trào kinh Mân Côi.

15. Phần thưởng mà chúng tôi chờ, cũng chỉ là Chúa mà thôi, đó là sự khôn ngoan sau cùng.

Long Xuyên, ngày 11.8.2020
ĐGM GB. Bùi Tuần

Chia sẽ bài viết này trên:

Điều gì đã xảy ra với Mười Hai Vị Tông Đồ?

Điều gì đã xảy ra với Mười Hai Vị Tông Đồ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp. Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem. Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20). Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình. Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.

Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu ? Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không ?

Phêrô

Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó. Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia. Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma. Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma. Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê

Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp. Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X. Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)

Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo. Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2). Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này. Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela. Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan

Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo. Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su. Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9). Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê

Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp. Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên. Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô

Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô. Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau. Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.
Tôma

Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ. Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi”. Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)

Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài. Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải trước khi tử đạo ở Êthiopia. Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)

Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước. Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh. Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62. Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma. Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô

Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi. Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.” Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng. Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành

Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai cùng nhau giảng đạo như một cặp. Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm. Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia

Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi. Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó. Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.

________

Chú thích:

 (1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa. Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu. Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi). Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên. Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra. Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.

Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, ​​như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi. Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên. Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa. Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình. Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng. Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5. Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”. Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên. Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước. Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm! Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh. Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62. Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau. Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài. Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

Chia sẽ bài viết này trên:

Phục hồi sự vô tội

Phục hồi sự vô tội

“Tôi nói thật cho anh em biết, nếu không quay lại và trở thành như trẻ em, anh em sẽ không bao giờ được vào Nước Trời” (Mt 18,3).

Đặc điểm đầu tiên đánh động mọi người khi nhìn vào mắt một đứa trẻ là sự vô tội: vô tội vì thật đáng yêu khi không có khả năng nói dối hay đeo mặt nạ hoặc làm bộ là một nhân vật nào đó chứ không phải như sự thật của mình. Về điều này, trẻ em rất giống với thiên nhiên.

Chó là chó, hoa hồng là hoa hồng, ngôi sao là ngôi sao: vạn vật ra sao thì cứ như vậy.

Chỉ có người lớn mới có khả năng vừa là thế này vừa làm bộ thế khác.

1. Khi người lớn phạt trẻ con vì đã nói thật, vì đã cho biết cách thẳng thắn những gì nó nghĩ nó cảm   thấy,  người ta đã vô tình dạy trẻ con dấu diếm và thế là đã phá vỡ sự đơn sơ vô tội của nó.

Rồi chẳng bao lâu sau, nó sẽ lọt vào hàng ngũ của vô số người phải tuyệt vọng thốt lên: ‘Rốt cuộc tôi chẳng biết mình là ai cả’, vì đã che dấu sự thật của mình với người khác quá lâu, đến nỗi sau cùng chính mình cũng chẳng biết sự thật của mình.

Bạn còn giữ bao nhiêu phần trăm sự vô tội ấy của tuổi thơ? Hiện nay, có ai mà khi đứng trước mặt người ấy bạn hoàn toàn là mình, cởi mở và vô tội như một đứa trẻ?

2. Còn một cách khác tinh tế hơn sẽ làm mất sự vô tội của tuổi thơ, đó là khi đứa trẻ bị nhiễm tham vọng muốn trở thành một nhân vật nào đó.

Hãy xem hàng hàng lớp lớp những người đang ra sức trở thành một nhân vật nào đó, thay vì trở thành những gì thiên nhiên đã định cho mình như làm nhạc, nấu nướng, sửa máy, đóng bàn ghế, làm vườn, sáng chế. Người ta ra sức làm sao cho mình thành công, nổi tiếng, có quyền lực; trở thành một điều gì đó không làm cho mình được hoàn thành bản thân trong âm thầm lặng lẽ, mà trở thành một điều gì đó có thể giúp mình được vẻ vang, được bành trướng. Hãy nhìn những người đã đánh mất sự vô tội chỉ vì đã không chọn để trở thành chính mình, mà muốn mình được thăng quan tiến chức, được tỏ ra mình là một điều gì đó, dù chỉ là trong mắt nhìn.

Hãy nhìn vào đời sống thường ngày của mình. Bạn thấy có suy nghĩ nào, lời nói nào hay hành động nào của mình mà không mang dấu vết của lòng khao khát muốn trở thành một nhân vật nào đó, cho dù nhân vật ấy có thể chỉ là một nhà tu đức thành công hay một vị thánh vô danh tiểu tốt?

Trẻ em, giống như các loài vật vô tội, phó mình hoàn toàn cho tự nhiên để thiên nhiên đã định cho mình thế nào thì mình trở thành thế ấy.

Người lớn nào còn giữ được sự vô tội cũng đều buông mình cho thiên nhiên hay cho định mệnh đưa đẩy, không hề có ý định trở thành một ai đó hay gây ấn tượng trên người khác. Chỉ có điều khác là: người lớn làm như vậy không dựa vào bản năng tự nhiên, như trẻ con, mà dựa vào sự tỉnh ngộ liên tục về tất cả mọi sự đang diễn ra nơi mình và chung quanh mình. Nhờ sự tỉnh ngộ ấy họ tránh được các điều xấu và lớn lên theo như thiên nhiên đã trù định, chứ không theo kế hoạch của những cái tôi đầy tham vọng.

3. Còn một cách nữa người lớn làm mất sự vô tội của tuổi thơ: đó là dạy chúng phải bắt chước ai đó. Khi bắt một đứa trẻ trở thành bản sao của ai đó, là bạn đã dập tắt cái tia sáng độc đáo đã đi theo đứa trẻ khi nó chào đời. Khi bạn quyết định rở thành một ai đó, bất kể có vĩ đại và thánh thiện hay không, là bạn đã làm hỏng con người mình.

Thử nghĩ tới ánh lửa độc đáo trong lòng mình, đã bị chôn vùi dưới bao nhiêu lớp sợ hãi. Sợ mình sẽ bị chê cười hay bị khai trừ bởi đã dám sống trung thực với mình, không chịu máy móc khuôn theo cách ăn mặc, hành động, nghĩ suy của nhiều người. Bạn đã từng uốn mình theo người khác không chỉ trong hành vi và tư tưởng, mà cả trong những phản ứng, những cảm xúc, những thái độ và những giá trị. Bạn không dám bứt ra khỏi tình trạng hư hỏng ấy, không dám đòi lại sự vô tội nguyên thuỷ của mình. Đây chính là cái giá bạn phải trả để được xã hội và tổ chức của mình đón nhận. Nhưng như thế là bạn đã bước vào thế giới của những người luồn cúi, những người bị kiểm soát; là đã bị lưu đày ra khỏi vương quốc chỉ dành cho những ai vô tội như trẻ thơ.

4. Một cách nữa rất tinh vi có thể làm mất đi sự vô tội của bạn là ưa ganh đua và so sánh với người khác. Khi làm như thế, là bạn đã đánh đổi sự đơn sơ của mình để lấy tham vọng muốn như một ai đó hoặc hơn một ai đó.

Sở dĩ trẻ em có thể giữ được sự vô tội của mình và sống như bao thụ tạo khác trong hạnh phúc Nước Trời, ấy là vì nó không bị hút vào cái mà chúng ta gọi là thế gian – là nơi tăm tối của người lớn, trong đó người ta không dành thời gian để sống mà là để tìm lời khen và sự ngưỡng mộ, không dành thời gian để sống trung thực với mình cách vui vẻ mà là để so sánh và ganh đua tới mức điên cuồng, để chạy theo những điều trống rỗng mang tên là thành công và danh tiếng, dù đôi khi phải trả giá đắt tới mức đánh gục, làm nhục và tiêu diệt người thân cận mình.

5. Nếu cho mình nếm cảm thực sự những đau khổ của địa ngục trần gian ấy và sự trống  rỗng do địa ngục trần gian ấy mang tới, có thể bạn sẽ thấy lòng mình như muốn nổi loạn, lòng mình chán ngán tới mức bạn muốn phá tan mọi xích xiềng của lệ thuộc và lừa phỉnh đã từng quấn quanh tâm hồn bạn, để được bước vào vương quốc của sự vô tội – nơi đó có các trẻ thơ và các nhà thần bí.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách: Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên:

Sự thay đổi nhã nhặn

Sự thay đổi nhã nhặn

“Nước Trời phải chịu sự mạnh bạo, và những người tàn bạo đã dùng bạo lực mà giành lấy Nước Trời” (Mt 11, 12).

Thử so sánh vẻ đẹp đơn sơ và thanh thoát của một đoá hoa hồng đang nở với những căng thẳng và bất an trong cuộc đời bạn. Cánh hoa ấy có một điều mà bạn không có, là hoàn toàn bằng lòng với chính mình. Đoá hoa không bị cài đặt chương trình từ ban đầu như bạn đã bị – chương trình bất mãn với chính mình. Vì thế, đoá hoa không mảy may bị thúc bách phải trở nên một cái gì đó hơn sự thật của mình.

Đó là lí do giải thích tại sao đoá hoa có được một vẻ đẹp không giả tạo, không có những dằng co nội tâm mà trong nhân loại chúng ta chỉ thấy nơi các trẻ nhỏ và các nhà thần bí.

Hãy xem tình trạng buồn bã của bạn. Lúc nào bạn cũng bất mãn với chính mình, muốn thay đổi chính mình. Vì thế, người bạn lúc nào cũng đầy bạo lực và không chịu được mình, mà điều này chỉ thấy xuất hiện mỗi khi bạn cố gắng thay đổi chính mình. Nếu vậy, bất cứ sự thay đổi nào bạn thực hiện cũng có kèm theo sự dằng co nội tâm.

Bạn đau khổ khi thấy người khác làm được điều mà mình không làm được, hay trở thành cái mà mình chưa trở thành.

Bạn có cảm thấy ghen tương và tức tối hay không, nếu như bạn biết bằng lòng với chính mình và không bao giờ khao khát cái mà mình không phải là? Tiếc rằng bạn bị thôi thúc trở thành một người khác, có kiến thức nhiều hơn, có vóc dáng đẹp hơn, nổi tiếng và thành công hơn. Bạn muốn trở thành người có nhiều nhân đức hơn, yêu nhiều hơn, trầm tư hơn; bạn muốn tìm được Chúa, ngày càng xích lại gần hơn với lí tưởng của mình.

Hãy nhớ lại lịch sử đáng buồn của mình khi ra sức hoàn thiện bản thân; lịch sử ấy đã kết thúc, nếu không tan tành mây khói thì cũng chỉ thành công với biết bao đau khổ và chiến đấu.

Bây giờ hãy thử hình dung bạn buộc phải thôi không còn cố gắng thay đổi bản thân mình và bất mãn với bản thân mình nữa, lúc ấy bạn có sẵn sàng đi ngủ, miễn cưỡng chấp nhận mọi sự nơi mình và chung quanh mình không?

Nhưng còn một cách khác, không cần cù đẩy mình tiến lên mà cũng không miễn cưỡng chấp nhận bỏ cuộc. Đó là tự hiểu lấy bản thân mình. Đây là một điều không dễ dàng vì muốn hiểu sự thật của mình, bạn cần phải tự do hoàn toàn khỏi mọi ham muốn thay đổi sự thật của mình để trở thành một điều gì khác.

Bạn sẽ hiểu điều này rõ hơn, khi so sánh thái độ của nhà khoa học nghiên cứu các thói quen của loài kiến nhưng không hề mảy may muốn thay đổi các thói quen ấy với thái độ của một người huấn luyện chó tìm hiểu các thói quen của chó để bắt chúng học một điều gì đó.

Nếu điều bạn đang cố gắng làm không phải là tìm cách thay đổi bản thân mình, mà chỉ là quan sát bản thân mình, nghiên cứu từng phản ứng của mình đối với con người và sự vật, không phê phán hay kết án mà cũng chẳng muốn cải tạo bản thân, sự quan sát của bạn lúc ấy sẽ không trở nên thành kiến hay thiên vị mà là bao trùm lên tất cả, sẽ không cứng ngắc với những kết luận chắc nịch mà là cởi mở và luôn luôn mới mẻ.

Sau đó, bạn sẽ thấy có một điều hết sức kì diệu xảy ra nơi mình: bạn sẽ trở nên hết sức tỉnh táo, trong suốt và hoàn toàn thay đổi.

Lúc ấy, sự thay đổi sẽ xảy ra chăng? Phải. Nơi con người bạn và trong môi trường chung quanh bạn.

Nhưng sự thay đổi ấy có không phải là do sự khéo léo và ngược xuôi vất vả của bạn, lúc nào cũng tranh giành, cũng so sánh, cũng ép uổng, cũng lên lớp, cũng lèo lái một cách bất bao dung và đầy tham vọng, sinh ra bao căng thẳng, xung đột và đối kháng giữa bạn và thiên nhiên – một quá trình sẽ làm bạn kiệt sức và thất bại như khi người ta chạy xe mà cứ đạp thắng mãi.

Nhờ sự tỉnh ngộ sáng suốt và có sức biến đổi ấy, người ta dẹp sang một bên cái tôi lúc nào cũng đòi hoạch định, lúc nào cũng tìm mình, để trao cho thiên nhiên toàn quyền tạo ra sự thay đổi như thiên nhiên đã từng làm cho đoá hoa hồng: không gượng gạo, duyên dáng, quên mình, khoẻ khoắn, không vướng một sự xung đột nội tâm nào. Nếu thay đổi nào cũng bạo tàn thì đoá hoa hồng ấy cũng sẽ bạo tàn. Nhưng phẩm chất tuyệt vời của thiên nhiên không phát sinh từ sự bất bao dung và thù ghét bản thân mình.

Chính vì thế trong cơn mưa bão quét đi tất cả mọi sự không hề có sự giận dữ, cũng không hề có loài cá nào ăn con mình để tuân thủ các định luật môi trường lạ lùng, cũng không hề có các tế bào trong thân thể con người phá huỷ nhau vì một lợi ích nào đó cao hơn.

Nếu thiên nhiên có huỷ hoại điều gì thì đó không phải là do thiên nhiên tham vọng, tham lam hay đòi bành trướng bản thân mình, mà chỉ là vì tuân thủ một định luật huyền bí nào đó nhằm lợi ích cho toàn vũ trụ hơn là chỉ lo cho sự sống còn và lành mạnh của các thành phần riêng lẻ.

Đây là thứ mạnh bạo mà chúng ta gặp thấy nơi các nhà huyền bí: mạnh bạo là vì chống lại các ý kiến và cơ chế đã ăn sâu vào xã hội và văn hoá chúng ta và nhờ đó nhìn ra những tệ đoan mà các người cùng thời với các ngài có thể mù quáng không thấy.

Cũng chính sự mạnh bạo này đã khiến cho đoá hoa hồng vươn thẳng và đương đầu với các sức mạnh thù nghịch. Đó cũng là sự mạnh bạo mà đoá hoa hồng bắt chước nhà thần bí kia: là nhẹ nhàng hưởng ứng, sau khi đã mở hết các cánh hoa ra đón lấy ánh nắng mặt trời, và sống một cách thanh thoát, thật đáng yêu, không cần phải lo lắng tìm cách làm cho tuổi đời đã được an bài cho mình kéo dài thêm một phút. Đoá hoa ấy đã sống trong hạnh phúc và duyên dáng như các cánh chim trên trời và các đoá hoa ngoài đồng nội, không chút bất an và bất mãn, ghen tị và lo âu, tranh đua và giành giật, không như thế giới hôm nay, lúc nào cũng tìm cách nắm lấy phần kiểm soát và cưỡng ép, thay vì bằng lòng với sự tỉnh ngộ ấy, trao hết mọi gánh nặng cho Thiên Chúa bày tỏ quyền năng trong thiên nhiên.

Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách:Tiếng gọi yêu thương

Chia sẽ bài viết này trên:

Chìa khóa Nước Trời – Chúa nhật XXI Thường niên năm A

Chúa nhật XXI Thường niên năm A: Chìa khóa Nước Trời

Tin mừng hôm nay thuật lại biến cố thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa Hằng Sống; và với lời tuyên xưng này, thánh Phêrô đã được Chúa Giêsu trao “Chìa Khóa Nước Trời “, tức là quyền lãnh đạo Dân Chúa.

Trong Kinh Thánh, chìa khóa tượng trưng cho quyền cai quản và điều hành, như Thiên Chúa ban cho Êliakim quyền điều hành nhà Ðavid (Is 22,20-22), hay quyền hành của Chúa Giêsu trên sự chết (Kh 1,17-18).

Chìa khóa, theo Thánh Kinh, là biểu tượng của sự tin tưởng, uy quyền và trách nhiệm. Chúa Giêsu đã trao chìa khóa cho thánh Phêrô. Chúa tin tưởng thánh Phêrô, trao cho Ngài quyền hành và trách nhiệm để hướng dẫn Giáo Hội trên trần gian: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước Trời; sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”. Quyền “cầm buộc và tháo cởi” có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh (GLHTCG, số 553). Đây là một quyền hành thật cả thể. Vì bản chất của quyền hành ở đây theo từ ngữ chuyên biệt trong tiếng Do thái có thể chỉ đến việc cầm buộc ma quỉ trong khi trừ quỉ, trong việc hành luật liên quan đến vạ tuyệt thông và trong những vấn đề phán quyết nghiêm trọng (NJBC,659).

Ngoài ra, theo một số nhà chú giải Thánh kinh như Kevin O’Sullivan, OFM và Paul J Achtemeier, “Chìa khóa Nước Trời ” ám chỉ đến hình ảnh một người đầy tớ với chìa khóa trong tay để mở cửa các phòng trong nhà. Người có chìa khóa trong tay không chỉ có quyền xác định ai được vào và ai không được vào, mà còn có trách nhiệm toàn quyền trông coi để ý mọi sự trong nhà của chủ mình. (Harper’s Dict 524-525).

Nếu trách nhiệm được trao không chu toàn, nếu quyền hành được ban bị lạm dụng, và bị mất tin tưởng, thì chắc chắn chìa khóa sẽ bị lấy lại. Tiên tri Isaia trong bài đọc 1 đã minh chứng điều đó. Sobna, quan cai đền thờ đã bị cách chức và trục xuất khỏi địa vị cũng chỉ vì đã lạm dụng quyền hành. Ông đã lạm dụng quyền hành bắt ép vua Hezekiah (716-687) nổi dậy chống lại Assyria và chạy đến Ai cập cầu cứu. Tiên tri Isaia đã hoàn toàn phản đối việc này. Ngài kêu gọi Giuđa phải nên tin tưởng vào Thiên Chúa của mình, chứ không phải nơi sự trợ giúp của dân ngoại. Nhưng Giuđa đã không tin tưởng nơi Thiên Chúa, và cuối cùng vào những thế kỷ sau đó, Giuđa và Giêrusalem đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Và như chúng ta được biết, chìa khóa của Sobna đã bị lấy lại và trao cho Êliaqim, con trai Helcia. (Kevin O’Sullivan, OFM, The Sunday Readings (A) 309-314).

Trước lễ cung hiến Nhà thờ mới, có nghi thức trao chìa khoá mở cửa Nhà thờ. Đức Giám Mục trao chìa khóa cho Linh Mục Quản Xứ để ngài mở cửa Nhà thờ.Nghi thức này muốn nói lên rằng: việc quản trị Nhà thờ trên toàn Giáo phận là thuộc Đức Giám Mục Giáo Phận, còn Linh Mục Quản Xứ chỉ là người nhận quyền từ Đức Giám Mục, thay mặt Đức Giám Mục trông coi, cũng như cử hành và ban phát các bí tích cho cộng đoàn Dân Chúa tại Nhà thờ này.

Nếu hiểu chìa khóa là biểu tượng nói lên sự tin tưởng, quyền hành và trách nhiệm thì không chỉ riêng thánh Phêrô đã lãnh nhận chìa khóa Chúa trao; mà qua Ngài, qua Giáo hội, hết thảy mọi tín hữu cũng đều được lãnh nhận chìa khóa ấy khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chìa khóa ấy không gì khác hơn là tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và đồng thời tin tưởng chúng ta cũng là con Thiên Chúa. Đức tin dạy rằng, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa theo bản tính. Còn chúng ta cũng là con Thiên Chúa theo ân sủng. Quyền làm con Thiên Chúa và trách nhiệm đi kèm là một ơn rất trọng đại và cũng chính là “chìa khóa Nước Trời” cho mỗi người và cho những người có trách nhiệm liên hệ. Chìa khóa chính là hạt giống đức tin từ ngày lãnh nhận làn nước Bí tích Rửa tội giúp họ mở cửa bước vào kho tàng ân đức của Chúa nơi các Bí tích. “Với Chúa, mọi sự đều có thể” ; “ơn được làm con Thiên Chúa”, đó là chìa khóa Nước Trời mà Thiên Chúa trao cho mỗi người tín hữu. Chìa khoá mở lối vào Thiên Quốc Vĩnh Hằng có độ rắn của lòng trung thành, liên lỉ trong cầu nguyện; có độ bền của sự hiền hậu, khiêm nhường; có cấu trúc đẹp của lòng bao dung, tha thứ. Nó không làm bằng kim loại vật chất của trần gian, mà được đúc kết bằng hợp kim của niềm tin tâm linh và tính thánh thiêng. Nó có thể mở được tất cả các cánh cổng của những vấn nạn nghiêm trọng trong cuộc sống, và của mỗi thân phận con người.

Thánh Phêrô đã trải qua nhiều đau khổ, chịu bách hại và đã đổ máu vì danh Đức Kitô. Chúa đã đặt Ngài là: “Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng được”. Thánh Phêrô đã tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” và đã tuyên xưng tình yêu “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Vì niềm tin yêu vào Chúa Giêsu Kitô, Thánh Phêrô đã chia sẽ sứ mạng của Thầy Chí Thánh và hiến dâng mạng sống cho đoàn chiên. Thánh Phêrô đã sống theo chân lý: ‘Nếu Thiên Chúa ở cùng chúng ta, ai có thể đánh bại chúng ta?’. Chúa là sức mạnh của thánh nhân, không gì có thể tách Ngài ra khỏi lòng mến của Chúa Kitô. Thánh Phêrô xứng đáng để nắm giữ “Chìa khóa Nước Trời”.

Có câu chuyện “Chìa khoá và ổ khoá Thiên Đàng”thật ý nghĩa

Một hôm nọ, khoá cửa Thiên Đàng bị hư, Thánh Phêrô đích thân mang cả chìa lẫn khoá xuống trần gian để tìm người sửa chữa. Ngài tới nhà anh thợ khoá đầu tiên.

– Chào anh, tôi có cái ổ khoá bị hư, anh làm ơn sửa giùm.

– Cụ làm nghề gì mà cửa nhà cụ lại có cái ổ khoá to và quý thế này ?

– Tôi làm nghề đánh cá, sau đổi sang nghề chăn chiên anh ạ .

– Ừ ! Nhìn quần áo và chân tay của cụ, tôi tin. Nhưng cụ nói thật đi, cụ “chôm” cái của quý bằng vàng ròng này ở đâu vậy?

Thánh Phêrô tần ngần trả lời :

– Của tôi đó, vì đây là khoá cửa của Thiên Đàng, còn tôi là Phêrô.

Anh thợ vồn vã :

– À! Thế thì lại khác, chỉ 1 giờ là tôi sửa xong cho cụ thôi, cụ cho xin 100.000 đồng .

Thánh Phêrô giật mình :

– Đắt thế à ? Tôi chỉ có 1.000 thôi.

– Không được đâu cụ ơi. Tôi nghe ngày xưa cụ đứng đầu Hội Thánh, hẳn là cụ giàu có lắm ?

– Anh hiểu lầm rồi ! Trong Hội Thánh chúng tôi, ai càng đứng đầu thì lại càng là người tôi tớ phục vụ, sống khiêm hạ khó nghèo như Đức Giêsu làng Nazareth. Thôi anh cố sửa nó đi, có thể vì công khó của anh mà tôi sẽ xin Chúa cho anh vào Thiên Đàng .

Anh thợ mỉm cười lắc đầu

– Tôi cần cái thực tế. Tiền thôi cụ ạ, còn Thiên Đàng thì xa lạ quá. Vả lại ở Thiên Đàng mà nghèo như cụ thì tôi chẳng ham. Thôi cụ đi xoay xở đâu đó thêm đi, rồi quay lại đây.

Thánh Phêrô bước đi, buồn bã nghĩ thầm : Anh thợ này sửa được nhiều thứ khoá, chỉ trừ khoá của Thiên Đàng. Đồng tiền quý đến thế kia ư ?

Ngài lại tìm đến nhà một anh thợ khác, nổi tiếng khéo tay và giàu có nhất vùng, hy vọng gặp được người yêu mến Thiên Đàng hơn chuyện tiền bạc.

Anh thợ đon đả chạy ra đón mừng .

– Tôi nhận ra ngài rồi. Tay cầm chìa khoá vàng, khuôn mặt và thân hình lại giống hệt bức tượng trong nhà thờ xứ tôi. Vào đây, gia đình tôi hân hạnh tiếp đón Thánh Cả.

Thánh Phêrô vui mừng, nhưng cũng ngần ngại dò hỏi :

– Tôi có cái khoá cửa thiên đàng bị hỏng, tôi chỉ có 1.000 đồng, nhờ anh sửa giúp

– Xin cất đi, tôi còn phải biếu ngài thêm lộ phí nữa kìa. Còn cái khoá thì không thành vấn đề, chỉ độ nửa tiếng là xong thôi. Có điều là, xin ngài hứa cho tôi một việc.

– Tốt lắm, anh cứ nói .

– Xin ngài đưa tôi vào Thiên Đàng và cho tôi làm trùm phường khóa ở trên đấy. Ngồi trên các Thánh hay các thiên thần thì tôi không dám, nhưng làm sếp đám thợ khoá thì tôi dư sức. Ngài sẽ thấy tay nghề của tôi khi sửa khoá cho ngài, xem tôi có đáng ngồi chỗ tốt hay không.

Bỗng có tiếng ầm ầm từ đầu ngõ, hàng trăm dân làng ùa chạy tới nhà anh thợ khoá khi nghe nói Thánh Phêrô đang ở nhà anh. Tiếng hò hét vang lừng từ ở cổng ra vào.

– Lạy Thánh Phêrô, ngài cho vợ chồng con vào Thiên Đàng với.

– Đứa nào xô tao vậy, đây là cổng nhà anh thợ khoá chứ đã phải là cửa Thiên Đàng đâu mà chen dữ thế? Phải có hàng lối chứ .

– Gặp Thánh Phêrô chứ có phải đi mua vé xinê, hay đi mua thịt mua cá đâu mà phải xếp hàng cha nội.

– Chúng mày biết gì? Ông Trùm nói có lý đấy. Thế chúng mày không nghe cha giảng là ở trên Trời có “Đám rước mặc quần áo trắng tinh tay cầm cành thiên tuế” à? Phải trật tự chứ!

– Chúa ơi! Chết con rồi. …

Thánh Phêrô lắc đầu ngán ngẩm. Cần phải “gửi” đi đâu nữa, họ đang ở hoả ngục rồi còn gì! Họ cãi nhau chí chóe, chửi thề, dẫm đạp lên nhau để “tranh” Thiên Đàng. Có kẻ đã dúi được vào túi Thánh Phêrô phong bì, hoa, nến. Rồi hí hửng vì đã “hối lộ” được người giữ cửa đầy quyền uy.

Bỗng có một cơn gió mù mịt cuốn lấy Thánh Phêrô. Thiên Thần đã đưa ngài đi trong gió. Để lại đám dân làng khóc la tiếc nuối, và anh thợ khoá tiu nghỉu vì tan giấc mộng vàng.

Thiên Thần đưa Phêrô tới bên một bờ suối rồi chào tạm biệt ra đi. Thánh nhân nhẹ gật đầu từ tạ. Ngài vẫn còn bực bội vì chuyện xảy ra vừa rồi. Tại sao con người lại coi nhẹ Thiên Đàng để kiếm tìm tiền tài danh vọng nhỉ? Ngay cả đám dân muốn “xấn xổ” vào Thiên Đàng, họ có nghĩ gì tới Chúa và anh em mình đâu, lợi lộc riêng tư đã che mắt họ. Người ta có thể nhân danh một Thiên Đàng tốt đẹp để giành giật, gấu ó nhau đến vậy hay sao? Ôi! Nếu có Gioan và Giacôbê ở đây, “những người con của sấm sét ” chắc cũng sẽ như xưa, muốn xin lửa Trời xuống đốt tiệt cái đám dân nông cạn này.

– Hãy uống bát nước này cho mát đi, cụ đang có lửa trong lòng đó.

Thánh Phêrô giật mình quay lại. Một cậu bé thật xinh trai, tay cầm ly nước, đã đứng sau lưng mình từ lúc nào. Ngài cầm lấy ly nước, uống một hơi thật sảng khoái.

– Cám ơn cậu bé, cậu thật tốt bụng.

Cậu bé lém lỉnh nhìn cái ổ khoá trên tay Thánh Phêrô.

– Ổ khoá này đẹp quá, cụ cho tôi xem tí nào.

– Khoá cửa Thiên Đàng đó mà. Cậu có muốn lên đấy không, tôi dẫn cậu đi?

– Chả cần cụ dẫn đâu, tôi thừa biết nó ở đâu rồi .

– Thật không ?

– Thật chứ !

Thiên Đàng thuộc về những người bé nhỏ như tôi mà, cụ quên rồi à ?

Ngạc nhiên trước câu trả lời ngộ nghĩnh, Thánh Phêrô cảm thấy mến cậu bé thông minh này. Ngài đưa cả ổ khoá lẫn chìa cho cậu bé.

– Cẩn thận kẻo rơi nhé.

Cậu bé cầm cả hai ngắm nghía, rồi cậu tinh nghịch trả lại chìa khoá cho Phêrô.

– Cụ giữ lấy chìa khoá này như một kỷ niệm hay một biểu tượng cho bổn phận và quyền uy. Còn cái này thì… Chưa dứt lời, cậu đã ném ổ khoá đánh “tõm” xuống giữa lòng suối sâu.

Thánh Phêrô giật mình lớn tiếng :

– Ôi Chúa ơi ! Cậu làm gì vậy ?

Cậu bé mỉm cười trả lời :

– Thật ra cửa Thiên Đàng đâu cần ổ khoá. Điều quan trọng không phải là nó đóng hay mở, mà là sự “đóng hay mở” của lòng người. Phải giải quyết chuyện này ở dưới đất chứ không phải trên trời cụ ạ.” Điều gì con cầm buộc dưới đất, trên Trời cũng cầm buộc. Điều gì con tháo mở dưới đất, trên Trời cũng tháo mở “. Có người đã nói với cụ câu đó, cụ không nhớ sao?

Thánh Phêrô ngẩn ngơ hỏi lại:

– Nhưng làm sao để họ mở hay đóng để tôi cầm buộc hay tháo gỡ ? Vì họ cứ khép kín trước vẻ đẹp của Thiên Đàng, nhưng lại sẵn sàng mở lòng ra với tiền tài, danh vọng. Làm sao để họ làm ngược lại đây, cậu bé?

– Cụ đừng chỉ trỏ lên trời và nói những chuyện cao xa của Thiên Đàng với họ nữa. Ngược lại, phải dẫn họ tới một nơi để họ học biết khó nghèo, khiêm hạ, hy sinh. Cụ có muốn tôi đưa cụ tới đó, để rồi sau cụ có thể dẫn họ đi không?

Thánh Phêrô sốt sắng :

– Được rồi, tôi theo cậu. Nhưng đi đâu mới được chứ ?

Cậu bé mỉm cười, nheo mắt nhìn Phêrô :

– Đi Bêlem, rồi lên Núi Sọ.

Nói xong, cậu quay lưng, lững thững bước đi về phía có ánh nắng chói chang, phía của Mặt Trời.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Chìa Khóa và Đá Tảng – Chúa Nhật XXI TN năm A

Chìa Khóa và Đá Tảng – Chúa Nhật XXI TN năm A

Trang Tin mừng hôm nay, Chúa trao cho thánh Phêrô hai sứ vụ quan trọng là “Chìa Khóa” và là “Đá Tảng”: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời”; “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng được”.

1. Chìa Khóa

Bài đọc 1, Thiên Chúa phán về ông Engiakim con của Khinkigiahu: “Chìa khóa nhà Đavít, Ta sẽ đặt lên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được” (Is 22,22). Chúa Giêsu không nói về chìa khóa nhà Đavít mà mà chìa khóa Nước Trời. Sau khi thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa Hằng Sống; và với lời tuyên xưng này, ngài đã được Chúa  trao “Chìa Khóa Nước Trời“, đó là quyền lãnh đạo Dân Chúa, quyền đóng mở và bảo quản kho tàng thiêng liêng của Hội Thánh, đó chính là Lời Chúa, các Bí tích. Sau này khi Phục Sinh, bên bờ hồ Tibêria, Chúa trao quyền mục tử quản trị “Hãy chăm sóc đàn chiên của Thầy” (Ga 21,17) .

Trong Kinh Thánh, chìa khóa tượng trưng cho quyền cai quản và điều hành, là biểu tượng của sự tin tưởng, uy quyền và trách nhiệm. Chúa Giêsu đã trao chìa khóa cho thánh Phêrô. Chúa tin tưởng thánh Phêrô, trao cho ngài quyền hành và trách nhiệm để hướng dẫn Hội Thánh trên trần gian: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời; sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”. “Trên trời và dưới đất”, “tháo cởi và cầm buộc”, Chúa Giêsu là dòng dõi Đavit, không phải để kế thừa vương quốc trần gian mà là vương quốc vĩnh cửu của Nước Trời. Quyền “cầm buộc và tháo cởi” là hai hành động diễn tả việc giảng dạy và áp dụng Luật Môsê do các thầy dạy (Rapbi) của Israel, điều đó cũng có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh.

Trước lễ cung hiến Nhà thờ mới, có nghi thức trao chìa khóa mở cửa Nhà thờ. Đức Giám Mục trao chìa khóa cho Linh Mục Quản Xứ để ngài mở cửa Nhà thờ.Nghi thức này muốn nói lên rằng: việc quản trị Nhà thờ trên toàn Giáo phận là thuộc Đức Giám Mục Giáo Phận, còn Linh Mục Quản Xứ chỉ là người nhận quyền từ Đức Giám Mục, thay mặt Đức Giám Mục trông coi, cũng như cử hành và ban phát các bí tích cho cộng đoàn Dân Chúa tại Nhà thờ này.

Nếu hiểu chìa khóa là biểu tượng nói lên sự tin tưởng, quyền hành và trách nhiệm thì không chỉ riêng thánh Phêrô đã lãnh nhận chìa khóa Chúa trao; mà qua ngài, qua Hội Thánh, hết thảy mọi tín hữu cũng đều được lãnh nhận chìa khóa ấy khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chìa khóa ấy không gì khác hơn là tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và đồng thời tin tưởng chúng ta cũng là con Thiên Chúa. Quyền làm con Thiên Chúa chính là “chìa khóa Nước Trời” cho mỗi người và cho những người có trách nhiệm liên hệ. Chìa khóa chính là hạt giống đức tin từ ngày lãnh nhận làn nước Bí tích Rửa tội giúp họ mở cửa bước vào kho tàng ân đức của Chúa nơi các Bí tích. Nói đến chìa khóa là phải nghĩ đến ổ khóa. Ổ khóa là để thực thi chức năng bảo vệ những gì được xem là quý giá mà có thể bị mất vì kẻ trộm, kẻ cướp. Chúa Giêsu nói là trao chìa khóa cho Phêrô, thế thì Người trao cho ông khi nào ? Có thể khẳng định là Người đã trao chìa khóa Nước Trời cho Phêrô trong lần hiện ra tại bờ hồ Tibêria khi Người từ cõi chết sống lại. “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy…Hãy chăn dắt chiên của Thầy…”. Nhận lấy chìa khóa là nhận lấy trách vụ bảo vệ. Để có thể chu toàn trách vụ bảo vệ thì trước hết cần phải trân quý cái mình bảo vệ đồng thời nhận rõ các nguy cơ khiến có thể mất nó. Chúa đã trao cho Phêrô chìa khóa để bảo vệ đoàn chiên. Chúa cũng đã trao chìa khóa cho các giám mục để chăm sóc, bảo vệ đặc biệt đoàn chiên trong các Hội Thánh địa phương.

Chúa Giêsu đã trao chìa khóa Nước Trời cho Phêrô, nhưng ngài không cầm chìa khóa bằng sắt thép hay kỹ thuật số, mà chìa khóa ấy chính là bí tích hòa giải. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo dạy: Quyền “trói và cởi” là quyền tha thứ các tội lỗi, công bố những phán đoán về giáo lý và đưa ra những quyết định có tính kỷ luật trong Giáo hội (x. số 553).

2. Đá Tảng

Sau khi Phêrô và các môn đệ biết nguồn gốc lời tuyên xưng của Phêrô là do Cha trên trời mạc khải, Chúa Giêsu công bố và thiết lập Hội Thánh, cộng đoàn của Giao Ước Mới: “Thầy bảo con biết: con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Với lời này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh. Chúa xây dựng Hội Thánh của Chúa trên đá tảng Phêrô. Xây trên đá có nghĩa là xây trên một nền tảng vững chắc, vững chắc đến mức độ sức mạnh của hỏa ngục cũng không thắng nổi: “trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”.

Cuối bài giảng trên núi, Chúa đã nói ví dụ xây nhà “xây nhà trên cát”  thì sẽ bị nước cuốn đi, “xây nhà trên đá” thì “mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào nhà ấy cũng không sụp đổ”. Bây giờ Chúa đã có được nền đá để xây ngôi nhà là Hội Thánh của Chúa. Việc Cha mạc khải cho Phêrô biết và tuyên xưng Chúa Giêsu là ai, là tín hiệu của Chúa Cha cho Chúa Giêsu thấy Tảng Đá tuyển chọn. Ở cái miền đất “đá nhiều hơn đất” này, núi đá trơ trọi và những tảng đá trơn trượt cao sừng sững, hay hốc đá…là những nơi an toàn. Ngôn sứ Isaia diễn tả sự an toàn của những người theo đường chính trực : “Người như thế sẽ được ở trên núi cao, có đồn trên núi đá làm nơi trú ẩn. Bánh ăn sẽ được luôn cung cấp, nước uống chẳng lo thiếu bao giờ” (Is 33,16). Các Thánh Vịnh nhiều lần ví Thiên Chúa lá núi đá, là tảng đá. Thậm chí sách Xuất Hành đẩy đến cùng ý nghĩa cứu độ này, khi kể rằng lúc dân Israel không có nước uống, họ kêu trách ông Môsê, ông Môsê kêu lên Đức Chúa thì Đức Chúa truyền: “Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục dân Israel, cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đàng kia trước mặt mọi người, trên tảng đá núi Khorep. Ngươi sẽ đập vào tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống” (Xh 17,1-7). Sách Dân số kể chuyện tương tự ở một giai đoạn sau, Thiên Chúa bảo ông Môsê cầm gậy, triệu tập cộng đồng Israel trước tảng đá rồi “nói với tảng đá” và “từ tảng đá ngươi sẽ làm cho nước chảy ra cho chúng uống”. Nhưng trong cơn tức giận vì sự cứng lòng của dân, ông Môsê đã cầm gậy “đập vào tảng đá hai lần”, “nước trào ra lai láng cho dân và súc vật uống” (Ds 20,1-11). Nhưng Đức Chúa thịnh nộ với ông Môsê vì đã không tôn vinh Danh Chúa khi trái lệnh: thay vì nói với tảng đá, ông lại đập và đập tới hai lần!

Quyền lực và thù nghịch của Thiên Chúa và loài người từ ban đầu là cái chết do Satan cầm đầu và đưa vào trần gian (x.Kn 1,13;2,24). Chúa đã thắng cả cái chết, nên ngôi nhà Hội Thánh Chúa xây lên thì quyền lực Tử Thần sẽ không làm gì được. Tất cả những kẻ đã làm tay chân cho tử thần để tìm cách tiêu diệt Hội Thánh của Chúa, từ bên ngoài cũng như từ bên trong Hội Thánh đều đã được tử thần đón về dinh để tưởng thưởng; còn Hội Thánh vẫn sống động và tiếp tục lan rộng đến tận cùng thế giới. “Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33). Cái đêm đen tối nhất của lịch sử Hội Thánh đã xảy ra rồi: mười hai ông tông đồ Chúa đã chọn, thì ông thủ quỹ Giuđa bán Chúa; tảng đá Phêrô mới chỉ bị một con hầu giữ cổng “rờ gáy” đã chối Chúa nhanh hơn gà gáy, mười ông kia bỏ trốn ngay khi Chúa bị bắt, còn Chúa thì vào âm phủ, ngôi mộ bị niêm phong với lính gác. Đó chính là cái đêm Hội Thánh sinh ra (x.Ga 16, 20-22)

(x.Tĩnh tâm với sách Tin Mừng Matthêu, Lm Nguyễn Công Đoan SJ).

Nếu Phêrô có quyền giáo huấn,quyền thánh hóa và quản trị Hội Thánh, thì chỉ nhằm mục đích là phục vụ Dân Chúa. Hội Thánh đã gặp biết bao khó khăn trong dòng lịch sử. Không chỉ những cuộc bách hại đẫm máu, mà còn có những chia rẽ, tranh chấp nội bộ, những sa sút trầm trọng vì chạy theo thế gian. Chúa Giêsu gọi Simon là Phêrô, nghĩa là Đá. Điều này diễn tả sự chia sẻ quyền lực của Thiên Chúa cho người đại diện Chúa nơi trần gian là Phêrô và các Đấng kế vị ngài. Chúng ta tin vào sự vững bền của Hội Thánh vì chính Chúa là Nền Tảng đã đặt ngai tòa Phêrô như Đá vững chắc cho ngôi nhà Hội Thánh. Sức mạnh của Đấng Phục Sinh là cơ sở cho niềm tin và bình an khi chúng ta sống trong Hội Thánh của Chúa.

Chìa Khóa mở lối vào Thiên Quốc Vĩnh Hằng có độ rắn của lòng trung thành, liên lỉ trong cầu nguyện; có độ bền của sự hiền hậu, khiêm nhường; có cấu trúc đẹp của lòng bao dung, tha thứ. Nó không làm bằng kim loại vật chất của trần gian, mà được đúc kết bằng hợp kim của niềm tin tâm linh và tính thánh thiêng. Nó có thể mở được tất cả các cánh cổng của những vấn nạn nghiêm trọng trong cuộc sống, và của mỗi thân phận con người.

Tảng Đá, tên mới này phản ánh sứ mạng Chúa giao cho Phêrô. Trên Táng Đá này, Chúa xây Hội Thánh vững bền. Thánh Phêrô đã trải qua nhiều đau khổ, chịu bách hại và đã đổ máu vì danh Đức Kitô. Thánh Phêrô đã tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” và đã tuyên xưng tình yêu “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Vì niềm tin yêu vào Chúa Giêsu Kitô, Thánh Phêrô đã chia sẻ sứ mạng của Thầy Chí Thánh và hiến dâng mạng sống cho đoàn chiên. Thánh Phêrô đã sống theo chân lý: ‘Nếu Thiên Chúa ở cùng chúng ta, ai có thể đánh bại chúng ta?’. Chúa là sức mạnh của thánh nhân, không gì có thể tách ngài ra khỏi lòng mến của Chúa Kitô. Thánh Phêrô xứng đáng để nắm giữ “Chìa Khóa Nước Trời”.

Lời hứa của Chúa Giêsu với Phêrô đã trở thành hiện thực khi nhìn lại lịch sử Hội Thánh hơn hai ngàn năm qua. Phêrô là Đá Tảng nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng vững bền. Phêrô giữ chìa khóa nhưng chính Chúa gìn giữ tòa nhà. Dẫu Hội Thánh trải qua nhiều sóng gió nhưng vẫn luôn luôn đứng vững trên nền tảng của Thánh Phêrô. Vị Giáo hoàng tiên khởi và các đấng kế vị luôn đóng trọn vai trò “Đá Tảng”, luôn chu toàn chức vụ “cầm chìa khóa nước trời” để “trói và cởi”. Nhờ đó, nhân loại đón nhận biết bao ơn lành từ Thiên Chúa qua Hội Thánh.

Tạ ơn Chúa đã lập nên Hội Thánh. Hội Thánh trở thành mẹ của mỗi tín hữu trong đức tin, trong cuộc sống siêu nhiên (x. LG 6.14.15.41.42). Vì thế, bổn phận của chúng ta đối với Hội Thánh là biết ơn, vâng lời và xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên Ðền thờ thiêng liêng.” (1Pr 2,5)

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Bình an giữa sóng gió – Chúa Nhật XIX Thường Niên năm A

Bình an giữa sóng gió
Chúa Nhật XIX Thường Niên, năm A

Đời người là một hành trình nhiều sóng gió, và ai cũng khao khát đi qua sóng gió để đến được bờ bình an. Đối với người Kitô hữu, niềm khao khát ấy phải chăng là ao ước thấy được Chúa đồng hành và nâng đỡ hành trình đời mình.

Bài Tin Mừng Chúa Nhật 19[1] hôm nay kể lại một hành trình hiểm nguy trắc trở mà các môn đệ của Chúa Giêsu đã trải qua. Trời đã tối, các môn đệ mệt nhoài sau một ngày phụ giúp Chúa Giêsu giảng dạy và nuôi ăn đám đông hơn chục nghìn người trong phép lạ hoá bánh ra nhiều. Khi chưa nguôi niềm vui của một sứ vụ thành công, các ông bước tiếp một hành trình không mấy tươi sáng. Qua bờ bên kia trước – một hành trình không rõ về mục đích, lênh đênh trên biển giữa đêm tối, và thiếu vắng sự đồng hành của Thầy Giêsu. Điều duy nhất các môn đệ chắc chắn chỉ là lời thúc giục ban đầu của Thầy: xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước.

Giông tố thường đến giữa hành trình, vì không ai khởi hành khi trời mưa bão. Trong hành trình của các môn đệ, chuyện không mong muốn đã xảy đến khi sóng to gió lớn ập đến con thuyền nhỏ bé của các ông. Thuyền đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió. Để có thể đối phó với cơn gió ngược chiều, hành trình sẽ dài và vất vả hơn vì thuyền buồm phải đi dích dắc so với đoạn đường thẳng tới đích. Mệt mỏi, lạnh lẽo, đói khát trong đêm giữa biển khơi sóng gió, ắt hẳn ai cũng đang tự hỏi về vai trò của thầy Giêsu: người đã mời họ bước vào cuộc hành trình đơn độc. Chẳng phải Chúa mời gọi tôi đi vào cuộc hành trình này sao? Chúa có biết tôi đang gặp khó khăn không? Chúa đang ở đâu? Chúa có đồng hành và giúp đỡ tôi khi tôi đang bơ vơ chống chọi sóng gió?

Sóng gió trong cuộc đời là chuyện không ai tránh được, và cũng không ai có thể hiểu hết nguồn cơn của chúng. Học hành, công việc, sức khoẻ, gia đình, tương quan xã hội – tất cả đều là những hành trình không ít sóng gió mà mỗi người đều phải trải qua. Ngay cả những hành trình tốt lành thánh thiện như phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân cũng đầy rẫy những gian nan. Chính Mẹ Têrêsa Calcutta cũng đã từng có kinh nghiệm về những tăm tối trong cuộc đời. Mẹ cảm thấy như Chúa đã bỏ rơi mình trong thời gian gần 50 năm. Mẹ đã từng thú nhận: “Nếu tôi có là thánh, tôi sẽ là vị thánh của tối tăm, và tôi sẽ xin Trời cho tôi làm ánh sáng cho những người sống trong tối tăm trần gian”.[2]

Giữa sóng gió của cuộc hành trình, Chúa Giêsu xuất hiện. Điều lạ lùng là các môn đệ đã không nhận ra Thầy mình – các ông tưởng Thầy là ma, hoảng hốt kêu la bấn loạn giữa cơn sóng gió. Có lẽ chính những khó khăn vất vả đã che mắt các ông. Có lẽ Chúa đến vào lúc các ông không ngờ tới, khi tất cả dường như đã mệt nhoài buông xuôi, hoặc chỉ đang cố chống chọi với sức công phá của sóng gió biển khơi mà không còn hy vọng vào bất cứ một giải pháp nào khác hơn được nữa. Chúa đến giữa canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển, sóng gió vẫn đang vần vũ con thuyền giữa biển khơi, các môn đệ hoảng hốt. Chưa hoàn tất hành trình khó khăn vượt biển, các môn đệ đi tiếp hành trình không dễ dàng của việc nhận ra Chúa Giêsu.

Cách Chúa đến khác lạ, nhẹ nhàng và đối lập hẳn với hoàn cảnh sóng gió mà các môn đệ đang gặp phải. Thay vì dẹp yên sóng gió, Chúa mời gọi Phêrô bước trên sóng biển, đi giữa cơn gió lớn để đến với Ngài. Đến gần Chúa chừng nào thì vượt qua được sóng gió chừng ấy. Trong cuộc hành trình, có lúc Phêrô chìm vì sợ hãi nhưng Chúa vẫn tiếp tục đưa tay nắm lấy và dìu ông vượt qua khó khăn để lên thuyền và đến bờ bình an.

Đi giữa sóng gió, cám dỗ lớn nhất là để nỗi khó khăn sợ hãi bắt chụp lấy mình, thay vì vững tin vào sự hiện diện và đồng hành nhẹ nhàng nhưng vững chắc của Chúa. Sợ hãi và kém tin đã làm Phêrô chìm, còn tin tưởng và nắm lấy tay Chúa mới giữ ông vững vàng tiến bước. Kể cũng lạ, lối nẻo của Chúa là nhẹ nhàng giữa sóng gió, là an bình giữa bão giông. Từ hang Bêlem ngày Giáng Sinh đến đồi Canvê hôm chịu khổ hình, Chúa vẫn trung thành với con đường nghèo khó, âm thầm, nhiều khó khăn nhưng lại rất đỗi bình an, nhân hậu và công minh chính trực. Giữa muôn sóng gió của cuộc đời, Chúa có thể đến qua tha nhân, qua lời động viên an ủi, qua lời cầu nguyện, qua tâm lòng thiện lành đơn sơ, hay nơi niềm tin son sắt bền sâu về sự đồng hành và cứu giúp. Trên núi Horeb, Elia đã trải qua kinh nghiệm gặp Chúa nơi tiếng gió hiu hiu (1V 19,9-13). Sau tất cả những gầm gừ quát tháo của gió bão, động đất, lửa cháy, Elia nhận ra Chúa trong cơn gió nhẹ hiu hiu và tiến ra gặp Ngài.

Lời cầu xin quen thuộc trong Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô cũng mang tinh thần của người an bình giữa sóng gió: đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu. Người tin Chúa thường gặp nhiều thử thách, nhưng họ vẫn an bình cậy trông.

Phải chăng con người quỵ ngã giữa những hành trình, hay là họ chỉ không nhận ra và không nắm lấy bàn tay của Chúa? Rồi giông tố sẽ đến giữa cuộc hành trình, nhưng Chúa vẫn đang đi trên mặt biển mà đến với tôi. Rồi bao ồn ào quát tháo như bão táp, đất động, lửa cháy sẽ ập đến trước mắt, nhưng Chúa vẫn ở trong cơn gió nhẹ hiu hiu để hong mát cuộc đời tôi. Nếu cuộc đời có nhiều cuộc hành trình sóng gió, thì bình an của Chúa neo đậu nơi chính niềm tin sắt son và tấm lòng đơn thành. Bình an ấy thật nhẹ nhàng đến mức bay là trên sóng gió biển khơi.

Đaminh Lê Văn Luận, SJ

[1] CN 19 TN A (Mt 14,22-33), 9-8-2020

[2] http://www.simonhoadalat.com/GIAOHOI/Nam2009/Thang4/21SachMeTeresa.htm

Chia sẽ bài viết này trên:

Cứ yên tâm, Thầy đây đừng sợ – Chúa Nhật XIX Thường Niên Năm A

Cứ yên tâm, Thầy đây đừng sợ
SN Chúa Nhật XIX Thường Niên, năm A

I. LỜI CHÚA: Mt 14, 22-36

22 Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng.23 Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình.24 Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió.

25 Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.26 Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy! “, và sợ hãi la lên.27 Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! “28 Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.”29 Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến! ” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su.30 Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với! “31 Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? “

32 Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay.33 Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! “

*  *  *

34 Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét.35 Dân địa phương nhận ra Đức Giê-su, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người.36 Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được khỏi.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

Bài Tin Mừng có cấu trúc song song đối xứng như sau:

A (c. 22-24): Các môn đệ xuống thuyền

– Đức Giê-su một nơi, các môn đệ một nơi.

– Sóng đánh, gió ngược.

B (c. 25-31): Đức Giê-su đến với các môn đệ

– Đức Giê-su đến với các môn đệ,
trên biển đầy sóng gió

– Ông Phê-rô đến với Đức Giê-su,
trên biển đầy sóng gió

A’ (c. 32-33): Thầy trò cùng thuyền, gió yên biển lặng

– Thầy trò cùng thuyền.

– Gió lặng.

———————–

– “Ngài là Con Thiên Chúa !”

*  *  *

Trình thuật Tin Mừng bắt đầu với hình ảnh con thuyền chỉ có các môn đệ và bị sóng đánh vì gió ngược, và kết thúc với hình ảnh con thuyền có Thầy và có trò, « êm trôi êm trôi » trong gió nhẹ.

Sự chuyển biến đầy ý nghĩa này đến từ kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giê-su, không phải ở bên ngoài sóng gió, hay ở trên cao tưởng tượng, nhưng ngay ở giữa lòng biển cả, với đôi bàn chân chế ngự sóng dữ. Hình ảnh thật ý nghĩa và sống động, loan báo mầu nhiệm Vượt Qua của Người.

« Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! » (c. 33)

*  *  *

1. Đức Giê-su một nơi, các môn đệ một nơi (c. 22-24)

a. Chiêm ngắm Đức Giê-su

Chúng ta hãy nhìn ngắm Đức Giê-su. Sau phép lạ bánh hóa nhiều, « Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước ». Chúng ta có thể tự hỏi tại sao ? Và chính Ngài giải tán đám đông chứ không phải các môn đệ ; bởi vì Đức Giê-su mới là mục tử ; đoàn chiên, là đoàn chiên của Người ; và chính Người nuôi dưỡng đoàn chiên, chứ không phải các môn đệ.

Sau đó, Đức Giê-su núi cầu nguyện một mình suốt đêm. Chúng ta có thể hình dung ra Đức Giê-su đang cầu nguyện, và lắng nghe Ngài cầu nguyện. Về điều này, Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại cho chúng ta rất nhiều (x. Ga 14-17). Chúng ta có thể đoán ra rằng, một phần quan trọng của thời gian cầu nguyện mà Đức Giê-su thực hiện là việc « phân định thiêng liêng » : phải bày tỏ căn tính Ki-tô và Con Thiên Chúa của Ngài như thế nào và bằng con đường nào : con đường mà ma quỉ gợi ra trong sa mạc và cũng là con đường mà các môn đệ mong chờ ? Hay con đường mà Chúa Cha muốn từ thuở tạo thiên lập địa và được ghi khắc trong sáng tạo và trong lịch sử cứu độ ? Con đường đáp ứng mọi nhu cầu của con người bằng quyền năng và những phép lạ cả thể, như bánh hóa nhiều ? Hay bằng con đường của hạt lúa mì, con đường trở nên lương thực cho con người (x. St 1, 29), con đường mang lấy mọi bệnh hoạn tật nguyền của loài người, con đường băng qua Biển Đỏ Sự Chết ?

b. Chiêm ngắm các môn đệ

Với phép lạ bánh hóa nhiều, chắc chắn đã tạo ra nơi các môn đệ sự gắn bó nào đó : vinh quang của Thầy được tỏ hiện, sự thán phục của đám đông đối với Thầy, nhưng các môn đệ cũng được hưởng nữa, bánh dư tràn, và những mối tương quan với nhiều người được dệt nên qua biến cố đặc biệt này. Nhưng, đã đến lúc phải bỏ lại tất cả, vì Chúa muốn các môn đệ phải « sang bờ bên kia ».

Trong hành trình đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, chúng ta vẫn cứ thỉnh thoảng lại phải « sang bờ bên kia » ; và sẽ đến lúc, và lúc đó không thể tránh được, chúng ta phải sang bờ bên kia của sự chết. Những lúc như thế, hành trình « sang bờ bên kia » đều chất chứa những bấp bênh và thách đố, và nhất là phải hi sinh và từ bỏ rất nhiều, như các môn đệ bị Đức Giê-su bắt phải bỏ lại tất cả, xuống thuyền, ra khơi xa, để sang bờ bên kia. Quả vậy, một thử thách rất lớn ở giữa lòng biển cả đang chờ các môn đệ, và chắc chắn đó sẽ là thử thách không bao giờ quên :

  • Các môn đệ ở trên thuyền, thuyền ở giữa Biển Hồ : lúc đó là ban đêm và trên thuyền không có Thầy Giê-su.
  • Một hoàn cảnh như thế đã là một thử thách rồi, vì trong đêm tối và ở giữa biển, nên các môn đệ không còn thấy bờ bến, có thể mất hướng đi và bị biển vùi dập và nuốt chửng bất cứ lúc nào. Nhưng, thêm vào đó, con thuyền bị sóng đánh vì gió ngược nữa, khiến các môn đệ phải vất vả chèo chống.
  • Vẫn chưa hết thử thách, vì Đức Giê-su biết rõ hoàn cảnh thử thách của các môn đệ, nhưng mãi canh tư Ngài mới đến, nghĩa là mãi đến rạng sáng !

Thử thách của các môn đệ nói về hay làm chúng ta nhớ tới những thử thách riêng của mỗi người chúng ta. Vậy đâu là những thử thách mà chúng ta đang phải đối diện ? Nhưng Lời Chúa trong trình thuật Tin Mừng này còn mời gọi chúng ta phải biết nhận định để nhận ra sự hiện diện của Chúa ngay trong lòng thử thách.

2. Đức Giê-su đến với các môn đệ (c. 25-31)

a. Các môn đệ và Đức Giê-su

Chúng ta hãy nhìn ngắm, lắng nghe và quan sát các môn đệ, khi họ thấy Đức Giê-su đi trên mặt nước đến với họ. Các môn đệ của Đức Giê-su, đang bị vùi dập giữa sóng nước mênh mông và dữ dằn trong đêm tối, Ngài không đưa họ ra khỏi thử thách này, nhưng Ngài « vượt qua » biển cả hung tợn và chết chóc để gặp gỡ các môn đệ ngay giữa lòng thử thách. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp loan báo Ngài sẽ đi vào cõi chết để gặp gỡ chúng ta trong thử thách tận cùng là sự chết, để nói với chúng ta rằng : « Thầy đây, đừng sợ, vì Thầy mạnh hơn sự chết ». Nếu chúng ta đang ở trong thử thách, vậy thì đâu là cách thức Đức Giê-su đi đến và hiện diện cùng với chúng ta trong thử thách ?

Cách Ngài đến thật lạ lùng, đến độ các môn đệ tưởng là ma, do đó họ rất hoảng hốt, bởi vì Ngài đi trên mặt biển mà đến với các ông ! Chúng ta hãy cảm thông với các môn đệ : ở giữa biển và trong cảnh « tranh tối tranh sáng », khi không có người lù lù đi tới ! Sau này, các ông cũng sẽ hốt hoảng tưởng là ma, khi Đức Ki-tô từ cõi sống lại, nghĩa là vượt qua biển cả sự chết, tỏ mình ra cho các môn đệ. Và làm sao không hốt hoảng được, khi một người đã được chôn táng cẩn thận rồi, mà này lại « trở về » !

Chúng ta hãy lắng nghe lời của Đức Giê-su : « Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ ». Ở giữa lòng thử thách của biển cả và sau này, trong cơn sầu khổ của cuộc Thương Khó, các môn đệ tự mình không thể nhận ra Đức Ki-tô hằng sống ; nhưng Ngài phải ra dấu cho các môn đệ bằng cách « lên tiếng ». Thật vậy, với bà Maria Ma-đa-lê-na đang khóc bên mộ, Đức Ki-tô đã gọi tên của bà : « Maria » ; với hai môn đệ đang buồn rầu thất vọng trên đường Emmau, Đức Ki-tô phục sinh đã âm thầm đồng hành và giải thích thử thách Thương Khó của Ngài dưới ánh sáng của Sách Thánh ; và với các môn đệ đang ở giữa thử thách của biển cả, Đức Giê-su lên tiếng : « Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ ».

Và trong mọi thử thách của chúng ta, thử thách của thân phận và của số phận, Đức Ki-tô vẫn luôn lên tiếng, nói với chúng ta : « Thầy đây, đừng sợ », vì Ngài đã trải qua tất cả và đã vượt qua tất cả. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, phải ở tận cùng của khó khăn và thử thách, Người mới đến và đến cách lạ lùng để cứu giúp và mở đường cho chúng ta đi ; và sau này, Chúa sẽ cứ để chúng ta chết đi, nghĩa là chúng ta phải đi vào trong bóng đêm của biển cả sự chết ; và chỉ sau đó, Đức Ki-tô Phục Sinh, là Đấng chiến thắng sự chết, mới đến đón chúng ta ở bờ bên kia của sự chết.

b. Ông Phê-rô và Đức Giê-su

Ngay sau khi Đức Giê-su lên tiếng, ông Phê-rô liền thưa : « Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài. » Lời yêu cầu này của Phê-rô vừa diễn tả sự nghi ngờ, vì ông nói : « Nếu quả là Ngài… », và vừa diễn tả cá tính đặc biệt của ông : nhanh nhẹn, thẳng thắn, can đảm, không sợ hãi và rất gắn bó với Thầy Giê-su.

« Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm ». Khi sợ hãi, thì tất yếu bị lún chìm ; và lời của Đức Giê-su mặc khải cho biết lí do của sự sợ hãi : « Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? ». Ngài đưa tay nắm lấy ông, rồi Ngài mới trách. Nếu không sẽ quá muộn ! Như thế, lún chìm là hậu quả tất yếu và tự tại của sự hoài nghi ; ngược lại, khi tin tưởng, chúng ta sẽ vững bước và vượt qua thử thách thân phận, số phận, sự dữ và tội lỗi, bởi vì lòng tin có sức mạnh cứu độ, như Đức Giê-su nói : « lòng tin của con đã cứu con ».

Nhưng, một cách sâu xa hơn, điều ông Phê-rô xin, cũng chính là cách thức mà mỗi người môn đệ được mời gọi đến với Đức Giê-su : như Phê-rô, người môn đệ cũng phải « đi trên mặt nước » để đến với Đức Giê-su. Hình ảnh « đi trên mặt nước » thật là ý nghĩa : chẳng dựa vào gì hết, chỉ dựa vào Lời Chúa thôi, nhưng đầy hiểm nguy sóng gió và có nguy cơ lún chìm. Chúng ta cũng phải « đi trên mặt nước » để đến với Đức Giê-su, chắc chắn chúng ta sẽ sợ hãi, chúng ta la lên : « Chúa ơi, xin cứu con ! », và Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy chúng ta.

3. « Ngài là Con Thiên Chúa » (c. 32-33)

« Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay ». Như thế, ở đâu có Đức Ki-tô hiện diện, thì ở đó sóng yên gió lặng. Chúng ta hãy khát khao có được kinh nghiệm này : lòng chúng ta được « sóng yên gió lặng », khi chúng ta mở rộng lòng quảng đại đón nhận Đức Ki-tô vào con thuyền cuộc đời hay con thuyền tâm hồn của chúng ta, cho dù chúng ta đang phải sống trong thử thách hay cơn khốn khó. Xin cho chúng ta nghiệm được sức mạnh chiến thắng sự chết và những gì thuộc về sự chết, mỗi khi có Đức Ki-tô Phục Sinh hiện diện.

Lúc này các môn đệ tưởng Ngài là « ma », bây giờ họ tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa. Ngài sẽ bày tỏ căn tính Con Thiên Chúa của Ngài một cách thực sự và trọn vẹn khi chiến thắng vượt qua Sự Dữ và Sự Chết trong mầu nhiệm Vượt Qua.

*  *  *

Ở giữa lòng thử thách, Đức Giê-su đến cứu giúp, nhưng các môn đệ lại hốt hoảng ; và theo thánh Mác-cô, lí do là vì : « các ông đã không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều, lòng trí các ông còn ngu muội » (Mc 6, 52). Lý do được nêu ra ở đây thật là lạ : phép lạ bánh hóa nhiều (x. Mt 14, 13-21), vừa được Đức Giê-su thực hiện có liên quan gì đến thử thách các môn đệ vừa trải qua ?

Câu hỏi này thật đáng cho chúng ta suy gẫm. Thực vậy, nếu các môn đệ và cả chúng ta hôm nay nữa, hiểu và tin vào quyền năng của Chúa, Đấng có thể làm cho chúng ta no đầy trong cơn đói khát, Đấng đã đưa chúng ta từ hư vô vào trong sự sống, Đấng hi sinh chính sự sống của mình vì chúng ta, Đấng vẫn nuôi dưỡng chúng ta mỗi ngày bằng Lời và Mình của Ngài, thì sẽ không hốt hoảng sợ hãi và dễ dàng nhận ra Chúa vượt qua tất cả để đến gặp gỡ chúng ta ngay trong bóng tối của thử thách, của Sự Dữ, của tội lỗi và của chính sự chết, để làm cho chúng ta tín thác và hi vọng và dẫn chúng ta Vượt Qua, như chính Người đã Vượt Qua. Bởi vì, Người là Con Thiên Chúa :

Khi thầy trò đã lên thuyền,
thì gió lặng ngay

Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa! (c. 32-33)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

10 lợi ích của việc mỗi ngày dành ít phút cho Chúa

Chúng ta đã được dạy rất nhiều về việc phải dành giờ cầu nguyện. Các vị thánh đã xác nhận rằng cầu nguyện là hơi thở của đời sống thiêng liêng, giúp chúng ta hướng về Chúa.

Tuy vậy, cuộc sống hối hả và vụ lợi thời nay đã khiến người ta nghi ngờ về điều này. Phần vì không có thời gian, phần vì thấy cầu nguyện chẳng mang lại lợi ích gì, người ta đã bỏ đi thói quen tốt lành ấy. Cũng có rất nhiều người cho rằng cầu nguyện là việc của những người đi tu hoặc những ai rảnh rỗi.

Có thật là việc cầu nguyện mỗi ngày hoàn toàn vô ích không? Hẳn nhiên không phải vậy, ít ra, chúng ta có thể thấy được 10 lợi ích “tức thì” của cầu nguyện, như sau:

  1. Sống giây phút hiện tại

Guồng quay của mưu sinh có khi làm người ta quên mất mình đang sống. Họ hay nghĩ về quá khứ hoặc tương lai, mà ít khi biết rằng hiện tại mới là cuộc sống. Dành ít phút lắng đọng mỗi ngày giúp người ta thưởng ngoạn sự sống của mình. Lúc đó, họ thật sự ý thức về sự sống đang tuôn chảy trong mình, cả linh hồn và thân xác được nghỉ ngơi, tách mình ra khỏi tất cả những bận tâm lo lắng. Họ đặt mình trước Đấng là Sự Sống và tiếp tục thụ hưởng sự sống nơi Ngài.

  1. Nhìn lại những gì đã qua để tạ ơn

Cuộc sống trôi qua với biết bao biến cố vui buồn nối tiếp nhau. Tất cả đều có những ý nghĩa và tác động nhất định đến cuộc sống của mình. Dưới cái nhìn đức tin, chúng đều là những hồng ân của Chúa. Một vài phút lặng đọng trong ngày để nhìn lại những chuỗi biến cố đó với tâm tình biết ơn là điều vô cùng tuyệt vời, vì nó giúp ta ngày càng chìm sâu trong tương quan thân quen với Chúa và sống sự hiện diện của Chúa trong từng phút giây của đời mình.

  1. Kiểm duyệt cuộc sống

Cũng không trách khỏi nhiều lúc chúng ta đã có những lời nói, hành vi, tư tưởng sai lạc, làm ảnh hưởng đến chính cuộc sống của mình và người khác. Với những sai sót lớn, ta dễ dàng nhận ra. Nhưng với những sai sót nhỏ, ta dễ dàng bỏ qua hoặc không để ý. Từ từ, chúng sẽ tích tụ lại và làm chúng ta sa lầy hơn. Thường xuyên nhìn lại với cái nhìn suy xét xem mình đã sống cuộc sống của mình thế nào, có gì cần chỉnh sửa lại cho tốt hơn sẽ giúp chúng ta trở nên hoàn thiện hơn và đáng yêu hơn với mọi người.

  1. Giúp hãm dẹp cơn nóng giận

Cơn nóng giận thường là nguyên cớ cho rất nhiều những lời nói và quyết định sai lầm của chúng ta. Lúc đó, ta bị cảm xúc chi phối nặng nề và không làm chủ được bản thân mình. Kinh nghiệm cho thấy, ta thường hối hận sau đó vì những gì mình đã làm. Trầm tĩnh lại là cách ta làm nguôi cơn nóng giận và khống chế nó. Khi đó cơn nóng giận sẽ từ từ tan đi. Điều này chỉ có được với một người có thói quen trở về với lòng mình mà họ thực tập hàng ngày trong những giây phút thinh lặng.

  1. Suy tính kỹ càng cho vấn đề của mình

Ai cũng có vấn đề của riêng mình và luôn nỗ lực để tìm cách giải quyết. Nhiều khi vì có quá nhiều giải pháp, người ta không biết chọn cái nào cho tốt. Cũng có khi phía trước chỉ là một màn đêm tăm tối, khiến mình chẳng biết phải làm sao. Đôi khi người ta hỏi ý kiến những bậc khôn ngoan. Nhưng bao giờ cũng cần đôi chút tĩnh lặng để suy xét. Các bậc trí giả thường cho rằng mọi giải pháp đều đã được phú bẩm trong lòng mình, chỉ cần thinh lặng là có thể lắng nghe được. Đó chẳng phải là những phút giây ta ở một mình và suy nghĩ đó sao? Những ồn ào bên ngoài sẽ làm cho chúng ta bị rối. Còn thinh lặng sẽ giúp ta sáng ra.

  1. Giúp xua tan nỗi sợ

Nỗi sợ là một trong những kẻ thù lớn nhất của con người. Nó cho thấy sự nhỏ bé, thấp hèn và bất lực của chúng ta. Mỗi khi sợ, ta thường cầu cứu sự trợ giúp của người khác. Khi nó vượt quá sức con người, ta thường chạy đến các bậc thần linh. Trong thinh lặng của cầu nguyện, ta được đưa vào đối diện với một vị Thiên Chúa vừa yêu thương ta và quyền năng vô hạn. Bỗng dưng, ta sẽ thấy mình được Ngài che chở bao bọc, hứa hẹn sẽ luôn ở bên và giúp ta vượt thắng mọi gian nguy thử thách. Người nào càng sống tinh thần cầu nguyện, người ấy càng bình tĩnh trước những giông tố của cuộc đời vì họ kín múc được sức mạnh từ Chúa.

  1. Những lời kinh giúp ý thức và loại trừ những tư tưởng xấu

Nhiều lúc chúng ta cũng muốn cầu nguyện nhưng chẳng biết cầu nguyện thế nào. Các phương pháp cầu nguyện dường như cao siêu và khó thực hành. Khi ấy, chỉ đơn giản là ta thầm thĩ những câu kinh đã được soạn sẵn. Những lời kinh tưởng chừng khô khan nhưng lại có tác dụng rất lớn. Nếu chúng ta vừa đọc vừa chú tâm đến từng lời kinh, nó sẽ trở thành những tâm tình của chúng ta dâng cho Chúa. Ngoài ra, khi chúng ta tập trung vào nó, nó sẽ giúp xua tan những tà ý đang có trong đầu mình. Nhờ đó, trái tim của chúng ta sẽ được thanh lọc và trở nên tinh tuyền hơn.

  1. Tiếp xúc với Lời Chúa, nghe Chúa nói với mình

Nếu chúng ta chọn cầu nguyện với Lời Chúa, mỗi ngày suy niệm một đoạn ngắn, ta sẽ có cơ hội chìm sâu trong những mặc khải của Chúa cho chúng ta. Những lời ấy sẽ ban cho chúng ta sức mạnh, giải thoát chúng ta khỏi mọi bận tâm lo lắng. Sâu hơn, ta sẽ nghe được điều Chúa muốn nhắn gửi riêng cho mình. Dần dần, ta sẽ hiểu biết hơn về Chúa, có mối tương quan thân thiết với Chúa, sẽ yêu Chúa hơn và được Chúa biến đổi để nên giống Đức Giêsu Kitô hơn. Lời Chúa không phải là lời bình thường. Lời ấy có sức cứu độ chúng ta và đưa chúng ta về Nước Trời.

  1. Đưa tâm hồn hướng về trời cao

Sự thinh lặng trong cầu nguyện sẽ giúp tâm trí chúng ta được giải thoát khỏi mọi thứ tầm thường của đời này. Ta sẽ dần dần được hấp dẫn bởi nét tuyệt đẹp của các nhân đức và bắt đầu kinh tởm những sự xấu xa vẫn đang vây hãm và quyến rũ chúng ta. Bản chất lương thiện trong ta sẽ trỗi dậy và ta biết mình không thuộc về chốn đời tạm này. Ta khám phá ra rằng quê thật của chúng ta là Thiên Đàng, là cõi vinh phúc đời đời, mà muốn trở về nơi ấy, ta phải dứt bỏ những thứ đang mê hoặc chúng ta ở đây, đang khiến chúng ta lầm đường lạc lối. Khi ấy, ta sẽ được nhấc bổng lên tận trời cao, đó là niềm hy vọng của chúng ta.

  1. Lãnh nhận ơn lành từ Chúa

Đây là một lợi ích thiết thực hơn bao giờ hết. Trong cầu nguyện, ta có thể xin Chúa những ơn lành cần thiết cho chính mình hay cho người khác. Cuộc sống tại thế này luôn khiến chúng ta sống trong tình trạng thiếu thốn trăm bề, nếu không phải là những thiếu thốn vật chất, thì cũng là tinh thần. Chẳng nơi đâu ta có thể “xin xỏ” một cách thoải mái như trong cầu nguyện vì ta biết rằng mình đang đối diện với một Đấng hằng yêu thương mình và luôn sẵn sàng ban ơn cho mình bất cứ lúc nào hay nơi nào, bao nhiêu cũng được.

Với 10 lợi ích như thế, tại sao chúng ta vẫn còn chần chừ, ngại ngùng, tiếc thời gian mà không dành giờ cho Chúa, phải không?

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Chia sẽ bài viết này trên:

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết lời tựa cho một cuốn sách mới có tựa đề “Hiệp thông và Hy vọng”, và khuyến khích mọi người tái khám phá tình liên đới giữa những tàn phá của đại dịch virus corona, hãy để mình được “nhiễm” tình yêu thương chứ không nhiễm virus.

Trong lời tựa cuốn sách được phát hành hôm 28/07 vừa qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã suy tư về những bài học mà các Kitô hữu đã học được từ đại dịch Covid-19.

Cuốn sách “Hiệp thông và Hy vọng” được Đức Hồng Y Walter Kasper và cha George Augustin biên tập, chứa đựng những suy tư thần học từ nhiều tác giả khác nhau về “việc làm chứng cho đức tin trong thời gian đại dịch”.

Đức Thánh Cha viết: “Giống như một cơn bão bất ngờ, cơn khủng hoảng virus corona đã khiến tất cả chúng ta ngạc nhiên, khi đột ngột thay đổi, ở cấp độ toàn cầu, cuộc sống cá nhân, công cộng, gia đình và công việc của chúng ta.” Ngài đau buồn vì nhiều người đã mất người thân, cũng như công việc và sự ổn định tài chính của họ. Ở nhiều nơi, ngay cả lễ Phục sinh cũng được cử hành một cách khác thường và vắng lặng, và mọi người không thể tìm được sự an ủi nơi các Bí tích.

Tìm gốc rễ của hạnh phúc

Theo Đức Thánh Cha, tình cảnh bi thảm này cho thấy rõ bản tính dễ tổn thương của con người, bị giới hạn bởi thời gian và sự bất ngờ. Đại dịch buộc chúng ta đặt câu hỏi về gốc rễ của hạnh phúc và tái khám phá gia sản đức tin Ki-tô giáo của chúng ta. Ngài nói: “Nó nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã quên hoặc đơn giản là trì hoãn tham gia một số vấn đề chính trong cuộc sống. Nó đang khiến chúng ta đánh giá những gì thực sự quan trọng và cần thiết, và những gì có tầm quan trọng thứ yếu hay chỉ là hời hợt”.

Cơ hội sống liên đới

Đức Thánh Cha suy tư rằng thời gian thử thách này cho chúng ta cơ hội để hướng cuộc sống chúng ta trở về với Thiên Chúa; nó mời gọi chúng ta dùng cuộc sống phục vụ tha nhân, ý thức những bất công và thức tỉnh trước tiếng kêu của người nghèo và trái đất bị đau bệnh.

“Truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác

Phục Sinh tỏ cho các tín hữu thấy rằng chúng ta không bị tê liệt bởi đại dịch. Phục Sinh mang hy vọng, tin tưởng và khuyến khích, củng cố ý thức liên đới. Mối nguy bị nhiễm virus sẽ dạy chúng ta cách “truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác. Cử hành Thánh Thể ban cho chúng ta sức mạnh để giải quyết những khó khăn và thử thách. Và cuối cùng, Đức Thánh Cha hy vọng cuốn sách giúp khám phá “một ý nghĩa mới của hy vọng và liên đới.” (CSR_5506_2020)

Vatican News (29.7.2020) Hồng Thủy

Chia sẽ bài viết này trên:

Đừng Để Ai Nghèo Trước Mặt Chúng Ta – Chúa Nhật XVIII TN, năm A

Đừng Để Ai Nghèo Trước Mặt Chúng Ta

Mỗi lần đi làm từ thiện ở đâu đó thì tôi lại thường răn mình với câu của cha ông: “Làm phúc nơi nao để cầu ao rách nát”. Tôi phải nhìn lại xem những người ở bên cạnh đã được tôi quan tâm chia sẻ hay chưa? Người nghèo đang chung sống với tôi đã được hưởng lộc gì từ tôi? Hay tôi chỉ quan tâm đánh bóng tên tuổi của mình mà bỏ rơi người bên cạnh mình?

Tôi vẫn nhớ lời một cô bé trong xứ đã nói với tôi:

“Cha ơi! Nếu cha cần giúp ai đó, cha có thể liên lạc với cô của con. Cô của con tốt lắm, hay chia sẻ cho người nghèo lắm. Nhưng… cô chỉ chia sẻ cho người ngoài thôi. Con là cháu ruột, nhà con nghèo nhưng cô không giúp… Lần kia, cô nhờ con chở cô vào một trung tâm nuôi người già neo đơn và trẻ mồ côi để giúp họ. Cô cầm một xấp tiền trong tay và đi phát cho hết mọi người. Con đứng kế bên cô, con thèm được cô cho một tờ thôi nhưng không được. Cô đâu có biết là đứa cháu gái của cô phải mượn xe để chở cô đi làm việc từ thiện. Giá như mà cô cho cháu của cô 1 tờ để đổ xăng cũng đỡ…”

Xem ra lời Chúa Giê-su từng nhắc nhở cũng chẳng thừa: “Vì các ngươi sẽ có người nghèo luôn bên cạnh các ngươi, còn Ta, các ngươi sẽ không gặp Ta mãi đâu” (Ga 12, 8).

“Người nghèo luôn bên cạnh các ngươi”. Người nghèo đó không hẳn chỉ ở trong trung tâm này hay nhà mồ côi kia. Người nghèo đó luôn ở bên cạnh. Họ có thể là người cha người mẹ già nay đã tàn hơi và kém trí nhớ. Người nghèo đó có thể là chính người anh, người chị, người em, người con, người cháu đang sống trong mái nhà của chúng ta. Những người nghèo đó thật gần với chúng ta, họ gần hơn những người nghèo mà chúng ta hay đi thiện nguyện để đăng đàn đánh bóng tên tuổi mình.

Bài phúc âm hôm nay kể rằng: khi thấy một đám đông rất đông đã đi theo Chúa và luôn ở bên cạnh Chúa suốt cả ngày. Chúa chạnh lòng thương. Chúa bàn với các tông đồ để tìm ra phương án lo cho họ. Thế nhưng, các môn đệ đã “bàn” rất hợp lý với Đức Giêsu rằng “lực bất tòng tâm”, tốt nhất là  giải tán dân chúng để họ đi mua thức ăn! Phủi tay là thượng sách. Nhưng Chúa Giêsu đã bảo các ông: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính chúng con hãy cho họ ăn đi.”. Các ông bàng hoàng sửng sốt vì biết đào đâu ra thức ăn cho bằng ấy ngàn người?

Bất đắc dĩ, các ông mới dùng phương án gom góp của mọi người để chia sẻ cho nhau. Các ông cũng chỉ gom được năm cái bánh và hai con cá!”. Ấy thế mà một khi đã đưa cho Chúa rồi thì “ai nấy đều ăn no nê” .

Đôi khi chúng ta cũng thường bỏ quên người nghèo ở bên cạnh chúng ta. Đôi khi chúng ta vẫn dửng dưng với người bên cạnh đến nỗi họ đang sống trong cô đơn, tủi hổ vì chúng ta.

Họ là những cha mẹ già già yếu thèm một chút tình người của đứa con mà cả đời lo cho nó nhưng lại bị nó bỏ rơi trong cô đơn xó nhà.

Họ là những người vợ thèm một chút quan tâm của người chồng để bù đắp lại cuộc đời vợ lam lũ chịu cực chịu khổ vì chồng.

Họ là những người hàng xóm láng giềng tốt bụng luôn sẵn lòng giúp chúng ta nhưng ngược lại chúng ta lại quên quan tâm tới họ.

Nhiều người chúng ta luôn ao ước có thể góp sức làm thay đổi thế giới. Chúng ta ao ước có thể làm những chuyện phi thường, những chuyện siêu phàm để mang lại hạnh phúc cho loàingười. Thế nhưng, điều ấy sẽ không bao giờ xảy ra vì chúng ta chỉ là người phàm nên chăng chỉ có thể làm những chuyện bình dị mà thôi! Điều mà chúng ta có thể làm thay đổi cả thế giới này là bằng chính những hành động nhỏ nhặt nhất của mình, những công việc của bổn phận, những công việc của tự nguyện hy sinh vì lợi ích tập thể đều là những công việc góp phần thay đổi thế giới. Vâng chúng ta chỉ cần làm một việc nào đó với tất cả sự yêu thương và tình cảm chân thành là chúng ta đang làm vơi đi những khổ đau, những gánh nặng cho tha nhân.

Khi chung tay giúp đỡ người khác chỉ với một hành động nhỏ thôi chúng ta cũng làm nên những điều to lớn đối với người nhận được sự giúp đỡ và cả những người xung quanh.

Không cần làm những chuyện phi thường mà chỉ cần làm những việc nhỏ nhưng biểu lộ một tình yêu chân thành vẫn có thể làm vơi đi biết bao phiền muộn, đau khổ cho tha nhân.

Xin Chúa cho chúng ta luôn là những con người biết đóng góp phần nhỏ bé của mình để làm vơi những đau khổ, đói nghèo cho những người chung quanh. Xin cho chúng ta biết quan tâm đến người bên cạnh của mình và đừng bao giờ để ai bị nghèo đòi hay bỏ quên trước mặt chúng ta. Amen.

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Chia sẽ bài viết này trên:

Bữa Tiệc Tình Thương – Chúa Nhật XVIII TN, năm A

Bữa Tiệc Tình Thương – Chúa Nhật XVIII TN, năm A

Hành hương Thánh Địa, chúng tôi có ghé thăm miền đất Tabgha với nhiều địa danh quen thuộc được kể trong Phúc Âm.Vùng Tabgha màu mỡ trải dọc theo hướng Tây Bắc bờ Biển hồ Galilê. Tên Tabgha bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Heptapegon” nghĩa là “7 con suối” và được thu gọn lại theo tiếng Ả Rập là Tabgha.

Theo truyền thống, tại miền đất này đã diễn ra những sự kiện quan trọng trong sứ vụ của Chúa Giêsu: Phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều; Chúa giảng Bài giảng trên Núi; sau khi Phục sinh, Chúa đã hiện ra với các môn đệ trên bờ hồ và trao quyền lãnh đạo cho Simon Phêrô…

Chúng tôi đến thăm “Nhà Thờ Bánh Hóa Nhiều”, giữa một khu vườn rất nhiều cây ôliu và hoa cỏ xanh tươi xinh đẹp. Ngôi Nhà thờ nguyên thủy được xây dựng dưới thời Byzantine, trong nhiều giai đoạn khác nhau và được trùng tu vào các thế kỷ sau đó. Nhà thờ vẫn còn lưu giữ một sàn nhà khảm đá (mosaic) đã được khám phá tại Thánh địa. Có lẽ biểu tượng nổi bật nhất, nằm ngay trên đỉnh của bức tranh phía dưới bàn thờ chính là 4 chiếc bánh và 2 con cá, kính nhớ việc Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ tại đây.

Khi chiêm ngắm bức họa với 2 con cá và 4 chiếc bánh, ai cũng hỏi tại sao lại 4 mà không phải là 5 chiếc bánh như Phúc Âm đã kể? Đây là một sự “thiếu sót” có chủ ý của nghệ nhân khi làm nên bức hình đó. Vì chiếc bánh thứ năm không nằm trong giỏ nhưng nằm trên bàn thờ, đó chính là Mình Thánh Chúa mỗi khi thánh lễ được cử hành trên bàn thờ này.

Người Ba Tư xâm chiếm vùng này và phá hủy Nhà thờ vào năm 614. Vương cung Thánh đường mới được xây dựng trên nền cổ của ngôi Nhà thờ, vẫn còn giữ nguyên phong cách cũ đồng thời kết hợp hài hòa những nét cổ xưa và hiện đại. Ngày nay, các thầy dòng Biển Đức chăm sóc ngôi Nhà thờ này.

Chúng tôi đọc Phúc Âm câu chuyện phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều và thinh lặng suy niệm. Matthêu chương 14 mô tả hai bữa tiệc xảy ra nối tiếp nhau để độc giả so sánh và suy nghĩ: bữa tiệc sang trọng với cái đầu của Gioan Tẩy Giả và bữa tiệc của dân nghèo với 5 cái bánh và 2 con cá.

Mt 14,1-12: Tại bữa tiệc ở cung điện của vua Hêrôđê với các quan khách sang trọng quý phái. Họ có tất cả mọi sự trên đời: quyền hành, danh vọng, tiền bạc, sắc đẹp, lạc thú, thức ăn cao lương mỹ vị, rượu ngon thỏa thích, vũ nữ duyên dáng chân dài chân ngắn…và có cả hận thù ích kỷ, máu đổ đầu rơi.

Mt 14,13-21: Tại bữa tiệc nơi hoang vắng với đám dân nghèo đói. Họ chẳng có gì ngoài sự tin tưởng, hy vọng vào tình thương và sự chia sẻ của Chúa Giêsu. Đây là phép lạ của tình thương. Các môn đệ cũng đóng vai trò quan trọng là cộng tác với Chúa, đi phân phát thức ăn cho dân chúng. Mọi người chia sẻ cho nhau, bánh và cá cứ thế mà tiếp tục nhiều lên. Chúa không làm phép lạ một núi bánh và cá cho mọi người đến lấy. Chúa làm phép lạ khi mọi người liên đới với nhau, cùng bẻ ra và trao cho nhau. Bữa ăn hôm đó là một biểu tượng của bữa tiệc Thánh Thể. Không còn ranh giới, không còn giai cấp, không còn kẻ trên người dưới. Một tinh thần hòa đồng, tất cả đều là anh chị em trong Chúa Giêsu. Trong tiệc Thánh Thể, người ta tìm thấy bình an và nguồn hạnh phúc trào dâng trong tâm hồn. Người ta tận hưởng hoa trái tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại, người ta nhận biết giá trị của bình an nội tâm do ân sủng Chúa ban đến.

1. Bánh Trường Sinh

Phép lạ hoá bánh là dấu chỉ báo trước Thánh Thể: “Ngài cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ” (Mt 14,20). Trong Tiệc Ly “Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng” (Mc 14,22). Cử chỉ Bẻ Bánh đã trở thành nét đặc trưng của Chúa Giêsu ( Lc 24, 30) và của Giáo hội (Cv 2, 42).

Ðược bánh ăn, dân chúng muốn “bắt lấy Ngài tôn lên làm vua” (Ga 6,15). Họ tiếp nối Satan cám dỗ Ngài lần nữa. Chúa Giêsu nhắc nhở họ rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh “Hãy ra công làm việc, đừng vì lương thực hư nát nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ngươi” (Ga 6, 27). Họ xin cho được ăn mãi thứ bánh ấy và Chúa đã bảo họ: “Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với ta không hề phải đói, ai tin vào ta, chẳng khát bao giờ” ( Ga 6, 35). Chóp đỉnh của mạc khải về Bánh Hằng Sống chính là “Ai ăn thịt ta và uống máu ta thì được sống muôn đời, và ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Ăn thịt, uống máu nhấn mạnh đến cái chết trên thập giá của Chúa.

Bánh Ta sẽ ban” hướng về cái chết của Chúa Giêsu và gợi đến Tiệc Thánh Thể lưu niệm vĩnh viễn sự chết cứu độ của Chúa trên Thập giá. Giá trị cứu rỗi của cái chết trên Thập giá được hiện tại hóa luôn mãi trong Tiệc Tạ Ơn của Giáo Hội. Người tín hữu được sống dồi dào khi ăn uống Mình Máu Chúa Giêsu.

Chúa vẫn tiếp tục đồng hành cùng Giáo hội, thực hiện công trình cứu độ trong Giáo hội, qua Giáo hội và với Giáo hội. Trao cho chúng ta Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể, Chúa mời gọi chúng ta bẻ ra và trao cho anh em mình.

2. Bánh Lời Chúa

Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Lời Thiên Chúa là Lời Quyền Năng, nhưng Ngài lại trao cho con người sứ mạng công bố lời Ngài “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các Ngôn sứ” (Dt1, 1). Cũng một sứ mạng ấy được tiếp nối trong Giáo hội hôm nay “Ngài sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Sứ mạng đó là nhiệm vụ cốt yếu của các tông đồ “Chúng tôi không thể sao nhãng Lời Thiên Chúa để lo giúp việc bàn ăn” (Cv 6, 2) và chính Thánh Phaolô kêu lên “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng“. Thế là, con người tội lỗi được giao trách nhiệm công bố Lời thánh hóa; con người yếu đuối công bố Lời quyền năng; con người giới hạn công bố Lời vĩnh cửu. Một vinh dự quá đổi lớn lao.

Lời Chúa có thể đọc và giải thích ngoài phụng vụ, trong phạm vi cá nhân hoặc khi làm việc đạo đức. Khi đó Lời Chúa là cơ hội ban ơn hiện sủng và hiệu năng ở đây là hiệu năng “do nhân” (ex opere operantis), tùy thuộc thái độ tâm hồn của người đọc và người nghe. Lời Chúa được công bố khi cử hành phụng vụ, đó là Lời do Chúa Giêsu hoặc Giáo hội ấn định, được công bố nhân danh Chúa và Giáo hội bởi Thừa tác viên chính thức. Lời Bí Tích mang hiệu năng “do sự” (ex opere operato), qua các bí tích Chúa Kitô ban ân sủng cho người lãnh nhận.

Sứ vụ công bố Lời Chúa được thực hiện trong tác động của Thánh Thần. Bởi thế người rao giảng Tin mừng chỉ có thể thực rao giảng Lời Chúa nhờ quyền năng và tác động của Thánh Thần. Chính Thánh Thần tác động lên người nói cũng như người nghe, để Lời được công bố không còn là Lời của người phàm nhưng là Lời Thiên Chúa. Dù ta có cố gắng đến đâu cũng không thể cải hoá lòng người vì: “Không ai có thể tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa mà không do Thánh Thần” (1Cr 12,3) và “Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là uổng công” (Tv 127,1).

Các con có mấy chiếc Bánh Lời Chúa để trao cho anh em? Chúa vẫn luôn hỏi chúng ta điều ấy mỗi ngày. Bởi đó, cần trau dồi Lời Thiên Chúa, vì người được sai đi để công bố Lời Chúa chứ không phải lời của thế gian, cho dẫu lời ấy có khôn ngoan đến đâu chăng nữa. Ðồng thời cũng phải trau dồi lời con người, là khả năng nói, loan báo, kỹ năng diễn đạt tư tưởng và rao giảng để Lời Chúa chinh phục các tâm hồn.

Công bố Lời Chúa vừa là một hồng ân vừa là một trách nhiệm. Là hồng ân vì con người tầm thường được Thiên Chúa mời gọi làm ngôn sứ. Là trách nhiệm vì phải nỗ lực để chu toàn sứ vụ.

3. Bánh Thánh Thể

Bánh và rượu tượng trưng đầy đủ chính con người chúng ta. Bánh là kết quả công lao khó nhọc của con người. Người ta thường nói: Ðổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có mà ăn. Bánh như thế tượng trưng công lao khó nhọc và chính sự sống con người. Bên cạnh đời sống vật chất còn có đời sống tinh thần. Vì thế cùng với bánh chúng ta dâng rượu. Rượu tượng trưng cho mọi nỗi vui buồn sướng khổ của đời người: khi vui ta uống chén rượu mừng nhưng khi buồn ta uống chén rượu giải khuây. Dâng lên Chúa bánh và rượu là chúng ta dâng lên tất cả đời sống với mọi nỗi vui buồn sướng khổ, tất cả dệt nên cuộc sống hiện tại của mình.

Ðến Nhà Thờ dâng Lễ, mỗi tín hữu mang lễ vật riêng là chính đời sống của mình, nhưng khi dâng lễ, nó được thu hợp lại thành lễ vật chung của cộng đoàn dâng lên Chúa. Tấm bánh được hình thành bởi trăm ngàn hạt lúa miến đã được xay nát ra và hòa trộn với nhau trong chậu bột. Ly rượu là kết quả của nhiều trái nho được ép ra và hòa tan với nhau. Cả hai tượng trưng đầy đủ ý nghĩa cộng đồng cho lễ vật mỗi người cũng như lễ vật toàn thể cộng đoàn. Linh mục đọc Lời Truyền Phép là Lời Chúa Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô. Đồng thời Chúa Kitô cũng biến đổi những hy sinh, những hạnh phúc đau khổ, những trách nhiệm của cộng đoàn trong hiến lễ để rồi khi mỗi người rước lễ, họ đón nhận Mình Máu Chúa là đón nhận lại của lễ mình dâng lên mà giờ đây đã được thánh hiến. Người tín hữu được lớn lên trong đức tin, trong lòng mến nhờ ân sủng của Thánh Thể Chúa Kitô. “Chính tôi là Bánh trường sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói;ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ” (Ga 6,35). “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51). Thánh Thể như thế là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa và con người; là quà tặng Thiên Chúa trao ban cho nhân loại, và chính là lương thực thiêng liêng, bảo đảm hạnh phúc trường cửu của chúng ta. Bởi đó tham dự thánh lễ cách đầy đủ tích cực trọn vẹn với tất cả con người là cách tốt nhất đáp lại tình thương của Chúa, yêu mến Thánh Thể.

ĐHY FX Nguyễn Văn Thuận viết “Con muốn hỏi: ‘Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả?’. Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh nào, không tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên Thánh giá”. (Đường Hy Vọng #349).Bí tích Thánh Thể là ‘nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu’ (GH 11), là trung tâm điểm của Phụng Vụ vì cử hành mầu nhiệm Vượt Qua, ‘mầu nhiệm Chúa Kitô hoàn tất công trình cứu độ chúng ta’ (GLCG 1068).

Tham dự Thánh Lễ cách “trọn vẹn, ý thức và linh động”, và “qua cuộc sống biểu lộ cho người khác thấy mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Hội Thánh chân chính” (PV 2) là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một niềm tin nhạy cảm để biết nhận ra bàn tay quan phòng của Chúa. Xin ban cho chúng con tấm lòng quảng đại, để biết sống chia sẻ, hầu cảm nhận được tình yêu của Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Amen!

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Mục vụ thời Công nghiệp 5.0

Mục vụ thời Công nghiệp 5.0

WGPSG — Cuộc cách mạng công nghiệp 5.0: kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị để giải quyết tình trạng thất nghiệp và ô nhiễm môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa sản phẩm.

Các cuộc cách mạng công nghiệp

Thế giới đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp và đang tiến vào cuộc cách mạng công nghiệp 5.0.

Cách mạng công nghiệp 1.0 ra đời từ năm 1780 với năng lượng cơ học được tạo ra từ hơi nước và nhiên liệu hóa thạch.

Cách mạng công nghiệp 2.0 bắt đầu từ năm 1870 với điện năng và việc sản xuất dây chuyền hàng loạt.

Cách mạng công nghiệp 3.0 khởi sự từ năm 1970 với điện tử, công nghệ thông tin và tự động hóa việc sản xuất.

Cách mạng công nghiệp 4.0 xuất hiện vào đầu thế kỷ 21 với việc sử dụng Internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây, để tạo ra tương tác ‘thực tại – ảo (AR)’ nối kết thế giới ảo và thế giới thực với nhau (được gọi là những ‘Hệ thống không gian mạng – vật lý’).

Tiếp theo, mặc dù cách mạng công nghiệp 4.0 chưa phát triển hết mức, nhiều nhà tiên phong trong ngành và các nhà lãnh đạo công nghệ đã hướng tới cuộc cách mạng công nghiệp 5.0: kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị để giải quyết tình trạng thất nghiệp và ô nhiễm môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa sản phẩm.

  1. Bối cảnh của Công nghiệp mới: đi từ Công nghiệp 4.0

Bắt nguồn từ một dự án của chính phủ Đức, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là một chiến lược chủ động nhằm chuyển đổi các tác nhân sản xuất từ ​​các ‘Hệ thống hoàn toàn Vật lý’ sang các ‘Hệ thống không gian Mạng – Vật lý (CPS: CyberPhysical System)’.

Như vậy, nền tảng của Công nghiệp 4.0 là dựa trên hệ thống CPS (Mạng – Vật lý), và giao tiếp với nhau thông qua IoT (Internet vạn vật).

Trao đổi thông tin theo thời gian thực giữa các hệ thống CPS (Mạng – Vật lý) sẽ tạo ra một khối lượng lớn dữ liệu, đòi hỏi phải có một phương pháp lưu trữ có hiệu quả và an toàn. Giải pháp phổ biến nhất hiện nay chính là Lưu trữ đám mây.

Và để có được thông tin hữu ích từ các khối dữ liệu thô khổng lồ này, người ta cần phải phân tích chúng. Việc kết hợp các dữ liệu được phân tích thông qua IoT (Internet vạn vật) đã làm xuất hiện khái niệm ‘Internet công nghiệp’: kết nối thế giới kỹ thuật số và thế giới thực.

Và như thế, các động lực chính yếu của Công nghiệp 4.0 là:

•    Hội nhập kinh doanh và sản xuất;

•    Thực hiện các ứng dụng liên kết không gian mạng và không gian đời thực;

•    Thực hiện ‘Dây chuyền sản xuất hiệu quả’ và ‘sản phẩm thông minh’.

Các khái niệm mới của Công nghiệp 4.0 bao gồm: hệ thống CPS (Mạng – Vật lý), IoT (Internet vạn vật), nhà máy thông minh, dữ liệu lớn, lưu trữ đám mây và mạng an ninh tự chủ.

Về hiệu quả, Công nghiệp 4.0 giảm thiểu được các loại chi phí:

•    Chi phí sản xuất: giảm từ 10% đến 30%;

•    Chi phí hậu cần: giảm từ 10% đến 30%;

•    Chi phí quản lý: giảm từ 10% đến 20%.

Tóm lại, Công nghiệp 4.0 sử dụng IoT (Internet vạn vật) như là không gian sản xuất và sau đó phân tích dữ liệu lớn được thu thập trên bộ lưu trữ đám mây để làm tăng hiệu quả cho mức độ tự chủ và an ninh của Mạng.

3. Giải quyết các vấn đề của Công nghệ 4.0 

Công nghiệp 4.0 cốt yếu bao gồm việc tự động hóa các quy trình và thực hiện ‘điện toán biên’ (nối kết không gian mạng và không gian thực, với các dụng cụ thuận tiện).

Trọng tâm duy nhất của nó là nâng cao hiệu quả sản xuất và, do việc tối ưu hóa các quy trình sản xuất, nó vô tình bỏ qua chi phí dành cho nhân công, có nguy cơ khiến cho nhiều người phải thất nghiệp. Đây là vấn đề lớn nhất sẽ xảy ra khi toàn bộ công nghệ 4.0 phát huy tác dụng. Do đó, nó sẽ phải đối mặt với sự kháng cự từ các công đoàn và chính trị gia. Sự kháng cự này sẽ làm vô hiệu hóa một số lợi ích của Công nghiệp 4.0, khi ngày càng có nhiều áp lực đòi phải gia tăng số lượng việc làm cho con người.

Thêm vào đó, ô nhiễm môi trường​​ đang gia tăng cách khủng khiếp, bắt đầu từ cuộc Cách mạng Công nghiệp 2.0.

Và Cách mạng công nghiệp 5.0 đã được hình thành để giải quyết các vấn đề này: đưa đông đảo những con người lao động trở lại nhà máy, đồng thời tập trung hơn vào việc giảm thiểu các tác động bất lợi cho môi trường.

3. Công nghiệp 5.0 giải quyết vấn đề môi trường

Mặc dù trong thập kỷ vừa qua, đã có nhiều thuật toán AI được sử dụng để nghiên cứu từ viễn tượng môi trường bền vững, nhưng Công nghiệp 4.0 đã không tập trung mạnh mẽ vào việc này, không tập trung cải thiện các công nghệ để củng cố tính bền vững môi trường của trái đất. Vì thế môi trường vẫn đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng như là một trong những hậu quả xấu của các cuộc cách mạng công nghiệp.

Người ta đã nhắm thực hiện Cách mạng công nghiệp 5.0 để giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, Kế hoạch Khoa học Công nghệ lần thứ 5 của Chính phủ Nhật (2016-2020) đã đề xuất khái niệm Xã hội 5.0, trong đó con người sẽ giải quyết được các vấn đề như biến đổi khí hậu, ùn tắc giao thông, thiếu lương thực, xóa khoảng cách giàu nghèo. Con người sẽ được hưởng những sản phẩm, dịch vụ, tiện ích tốt hơn, với số lượng vừa đủ, tại thời điểm phù hợp nhất.

4. Công nghiệp 5.0: Robot trở thành Cobot

Đưa đông đảo con người lao động trở lại nhà máy, cuộc Cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc thông minh, để tiếp tục sử dụng năng lực trí tuệ và sức sáng tạo của con người, hầu tăng cường hiệu quả của quy trình sản xuất.

Trong khi mối quan tâm chính trong Công nghiệp 4.0 là về tự động hóa, thì Công nghiệp 5.0 sẽ quan tâm đặc biệt về sự kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị.

Lực lượng máy móc tự trị sẽ nhận ra và hiểu được ý muốn của con người. Loài người sẽ làm việc cùng với robot, không những không sợ hãi mà còn yên tâm khi biết rằng đồng nghiệp robot của họ hiểu rất rõ về họ và có khả năng hợp tác cách hiệu quả và hài hòa với họ.

Công nghiệp 5.0 sẽ thay đổi định nghĩa của từ robot. Robot sẽ không chỉ là một cỗ máy lập trình có thể thực hiện các nhiệm vụ lặp đi lặp lại, mà còn biến thành người bạn đồng hành lý tưởng của con người trong mọi tình huống.

Cung cấp các sản phẩm robot thông minh với sự tiếp xúc của con người, cuộc cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ giới thiệu thế hệ robot tiếp theo, thường được gọi là cobots (collaborative robots) – tức là những ‘robot hợp tác’, luôn hiểu biết hoặc nhanh chóng tìm hiểu xem chúng cần phải làm gì để hỗ trợ con người.

Những ‘robot hợp tác’ này sẽ nhận thức được sự hiện diện của con người; do đó, chúng sẽ quan tâm đến các tiêu chí an toàn và rủi ro. Chúng có thể nhận thấy, hiểu được và cảm nhận được không chỉ con người, mà cả mục tiêu và kỳ vọng của nhân vật điều hành.

Giống như người học việc, cobot sẽ nhìn xem và tìm hiểu cách thức một cá nhân thực hiện nhiệm vụ của họ. Một khi đã tìm hiểu xong, cobot sẽ thực hiện các nhiệm vụ y như một con người. Do đó, con người sẽ cảm thấy thỏa mãn khi làm việc cùng với các cobot.

Khái niệm về Công nghiệp 5.0 có thể được hình dung qua một ví dụ về dây chuyền sản xuất. Nó cho thấy một công nhân đang làm việc trong một bộ máy dây chuyền lắp ráp cơ điện.

Người công nhân bắt đầu làm nhiệm vụ. Và một cobot sử dụng máy ảnh trên một trục quay để quan sát quá trình. Máy ảnh này hoạt động như cặp mắt của cobot.

Cobot cũng được kết nối với một máy tính xử lý để lấy ra hình ảnh, rồi xử lý hình ảnh, và học các kiểu mẫu bằng cách sử dụng máy học hỏi.

Nó quan sát con người, theo dõi môi trường, và suy ra những gì mà người vận hành sẽ làm tiếp theo, bằng cách ‘học tập sâu’ để phân tích ý định của con người.

Một cảm biến quan trọng có thể được sử dụng để hiểu ý định của con người là ‘quang phổ chức năng cận hồng ngoại’ (fNIRS), qua kênh liên lạc không dây, để lấy tín hiệu từ não người. fNIRS khá phù hợp cho nhiệm vụ này vì nó có dạng tai nghe và không cần các bước thiết lập và hiệu chỉnh tốn thời gian.

Một khi cobot đã tự tin vào những dự đoán của nó, nó sẽ ra sức giúp đỡ người lao động. Nó sẽ giống như một con người khác, đang đứng cùng người lao động và ra sức giúp đỡ người này.

Ví dụ, khi cobot dự đoán rằng người lao động sắp sử dụng một dụng cụ nào đó, nó sẽ tự động đi lấy và mang dụng cụ đó đến cho người lao động đúng lúc người này cần đến. Quá trình này diễn ra liền mạch để người lao động không phải khựng lại trong quy trình làm việc của mình.

Như vậy quá trình hoạt động của cobot thông minh này sẽ diễn ra như sau:

(1) Cobot quan sát một người đang lao động.

(2) Cobot phân tích ý định của người này qua máy quan sát trực quan (máy ảnh RGB) và cảm biến quang phổ chức năng cận hồng ngoại (fNIRS).

(3) và (4) Cobot bắt đầu di chuyển đến nơi có đồ vật mà người lao động sắp cần đến.

(5) Cobot cầm lấy đồ vật này.

(6) Cobot mang đồ vật đến vị trí làm việc của người đang lao động.

(7) Cobot trao đồ vật vào bàn tay người lao động đúng lúc họ cần.

Cách mạng công nghiệp 5.0 cũng sẽ tạo ra một chức vụ sản xuất mới: CRO (Chief Robotics Officer: Chánh văn phòng robot). CRO là một cá nhân có chuyên môn trong việc hiểu robot và hiểu tương tác của chúng với con người.

CRO sẽ chịu trách nhiệm đưa ra quyết định thêm hoặc bớt các máy móc hoặc các robot tại nhà máy để đạt được vận hành tối ưu và hiệu quả.

CRO là người có kinh nghiệm về robot, về trí thông minh nhân tạo, về mẫu nhân tố con người và tương tác giữa con người với máy móc.

CRO được trang bị các ‘kỹ thuật robot hợp tác’ và, nhờ biết tận dụng máy tính cao cấp, họ sẽ được đặt vào một vị trí thích hợp để tích cực quản lý môi trường. Điều này cuối cùng sẽ làm tăng tính bền vững của nền văn minh nhân loại bằng cách giảm thiểu ô nhiễm và chất thải để bảo tồn trái đất.

4. Công nghiệp 5.0: Cá nhân hóa sản phẩm

Bằng cách đưa con người trở lại sản xuất công nghiệp với sự phối hợp thông minh hài hòa của các cobot, người công nhân sẽ được nâng cao kĩ năng để có thể đáp ứng nhu cầu ‘cá nhân hoá’ sản phẩm của khách hàng.

Nền công nghiệp 4.0 bắt đầu chuyển sang công nghiệp 5.0 khi chúng ta bắt đầu cho phép khách hàng tùy chỉnh sản phẩm theo những gì họ muốn. Khách hàng có thể thiết kế chương trình trực tuyến, lựa chọn chi tiết vật liệu, lựa chọn nhà cung cấp, lựa chọn nhà sản xuất… từ bất cứ nơi nào trên thế giới, với yêu cầu tốt nhất, công nghệ tốt nhất, mức giá tốt nhất…

Ví dụ, khách hàng có thể vào trang web của hãng xe hơi BMW và chọn loại xe họ muốn với hàng ngàn biến số khác nhau, không chỉ màu sắc, đèn pha, nội thất… mà còn rất nhiều chi tiết khác. Công nghiệp 5.0 đưa khái niệm ‘cá nhân hóa’ lên một tầm cao mới, đặc biệt trong lãnh vực sức khỏe. Có các ứng dụng thông minh thực hiện việc ‘cá nhân hóa điều trị y tế’: tóm tắt lối sống, yêu cầu sức khỏe và thể trạng của bệnh nhân để tạo ra một chế độ chăm sóc sức khỏe hoàn toàn tùy chỉnh và thích hợp với từng bệnh nhân. Trong lãnh vực phẫu thuật, với chuyên môn của một bác sĩ phẫu thuật được đào tạo và sự chính xác của một trợ lý cobot, các phòng phẫu thuật sẽ phục vụ bệnh nhân cách nhanh gọn và hữu hiệu. Các cơ quan cấy ghép y tế, truyền máu, trị tiểu đường và một loạt các ứng dụng y tế khác có thể được hưởng lợi từ các quy trình sản xuất được hỗ trợ bởi cobot và hợp tác với AI.

Trong Công nghiệp 5.0, quyền tự do ‘thiết kế – phản ứng – sáng tạo sản phẩm’ được trao lại cho người sử dụng sản phẩm. Con người có nhiều trách nhiệm hơn và người ta xử lí công việc trong một môi trường rộng lớn hơn nhưng dễ dàng hơn, và an toàn hơn các môi trường trước đây. Các nhà sản xuất trong các xưởng sản xuất bắt đầu cho phép các sản phẩm mang tính cá nhân hoá và chuyên biệt hơn.

Công nghiệp 5.0 sẽ cho khách hàng tham gia nhiều hơn vào việc thiết kế và chế tạo sản phẩm theo mục tiêu sử dụng của từng cá nhân bởi vì họ có nhiều thông tin hơn. Chính vì vậy, Công nghiệp 5.0 sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn. Một số lượng lớn các công việc sẽ được tạo ra trong lĩnh vực hệ thống thông minh, lập trình AI và robot, bảo trì, đào tạo, lên lịch, tái sử dụng và phát minh ra các loại robot sản xuất mới.

5. Đào tạo ảo

Công nghiệp 5.0 rất cần đến chương trình đào tạo ảo. Người ta đã bắt đầu thực hiện việc đào tạo ảo từ năm 1997 trong đó, học viên học một nhiệm vụ hoặc kỹ năng cụ thể trong một môi trường ảo. Khi huấn luyện viên và học viên không sống cùng một nơi, loại hình đào tạo này giúp giảm thiểu chi phí và thời gian đi lại cho cả hai bên.

Đào tạo ảo có thể cung cấp một môi trường an toàn và chính xác để đào tạo một lực lượng lao động lành nghề, tránh được những nguy hiểm và rủi ro mà họ có thể gặp phải khi được huấn luyện trong không gian thực.

6. Hệ thống máy móc tự trị thông minh

Hệ thống máy móc tự trị thông minh trong Công nghiệp 5.0 khác biệt đáng kể so với những gì được gọi là tự động hóa trong Công nghiệp 3.0.

Các hệ thống máy móc tự trị thông minh – cùng với các cobot – cần có được những cảm nhận giống như con người. Ví dụ, một người lao động sẽ ngừng làm việc khi nghi ngờ có điều gì đó bất thường trong không gian làm việc của mình. Đây là hành vi dự đoán rất quan trọng trong việc ngăn ngừa tai nạn tại nơi làm việc. Điều này được gọi là ‘công nghệ tầm nhìn và cảm giác’.

Các cobot sẽ được trang bị các ‘công nghệ tầm nhìn và cảm giác’ này, đồng thời chúng cũng phải ước tính được nhu cầu cần hỗ trợ, đánh giá rủi ro trong việc hỗ trợ, theo dõi các yếu tố an toàn và sau đó tiếp cận một cách an toàn để hỗ trợ con người. Chúng cũng cần được cung cấp khả năng ‘bản địa hóa’ và tính toán chính xác.

Các phương pháp ‘Học Tập Sâu (Deep Learning) ’ sẽ giúp các cobot đạt được những điều này. Các chiến lược ‘Học Tập Sâu’ về cơ bản được thành lập dựa trên các mạng lưới thần kinh nhân tạo.

7. Hệ thống sản xuất của Công nghiệp 5.0

Công nghiệp 5.0 sẽ mang lại những thách thức chưa từng có trong quá trình tương tác giữa máy móc và con người (HMI: Human-Machine Interface) vì nó sẽ đưa máy móc đến rất gần với cuộc sống hằng ngày của bất kỳ con người nào.

Công nghiệp 5.0 sẽ cách mạng hóa các hệ thống sản xuất trên toàn cầu khiến cho những người lao động không phải làm những công việc buồn tẻ, bẩn thỉu và lặp đi lặp lại, để đảm nhận những công việc hứng khởi mà hoạt động và sáng tạo nhiều hơn.

Người ta sẽ làm ra các robot rẻ hơn và có khả năng cao, được tạo thành từ các vật liệu tiên tiến như carbon và vật liệu nhẹ nhưng mạnh, được cung cấp bởi các gói pin được tối ưu hóa cao, với quy trình xử lý dữ liệu mạnh hơn và một mạng lưới các cảm biến thông minh hơn.

Công nghiệp 5.0 sẽ tăng năng suất và hiệu quả hoạt động, thân thiện với môi trường, giảm nguy cơ chấn thương và rút ngắn chu kỳ thời gian sản xuất.

8. Kết luận

Cuộc cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ xuất hiện khi ba yếu tố chính của mạng công nghiệp hiện đại – là các thiết bị thông minh, hệ thống thông minh và tự động hóa thông minh – kết hợp hoàn toàn với thế giới vật lý, và hợp tác hài hòa với trí thông minh của con người.

Thuật ngữ ‘Tự động hóa trực tuyến (online automation)’ sẽ là một cụm từ đẹp của Công nghiệp 5.0 – mô tả các ‘cobot tự trị’ hợp tác tốt đẹp với con người trong cùng một thời gian và không gian làm việc. Sự tin tưởng và độ tin cậy giữa hai bên sẽ đạt được hiệu quả đầy hứa hẹn, sản xuất tùy chỉnh và phong phú, với số lượng chất thải tối thiểu, bảo vệ được môi trường, gia tăng việc làm hứng khởi cho con người, và tạo ra vô số sản phẩm mang dấu ấn cá nhân thích hợp cho từng khách hàng.

Đặc tính rất nhân văn của Cách mạng công nghiệp 5.0 tất nhiên cũng cần sự đóng góp tích cực của mọi Kitô hữu khi họ cố gắng nhận ra dấu chỉ của thời đại mà hoạt động và hợp tác với mọi người đúng với tinh thần của Tin Mừng.

Lm Giuse Vi Hữu – Nguồn: WGPSG

THAM KHẢO

  1. Saeid Nahavandi, Industry, 5.0 – A Human-Centric, 2019.
  2. Anand Birje, A vision for Industry 5.0: Humans augmented with cobots and connectivity, 2020.
  3. M RameshCobots expected to play increasing role in post-Covid-19 automation, 2020.
  4. Phill Cartwright, What will Industry 5.0 mean for manufacturing?, 2018.
  5. Global Briefing Report Society 5.0 Feature, Society 5.0 – Updates on Japanese Business and Economy, 2019
  6. Cabinet Office, Government of Japan, Society 5.0, 2020.
Chia sẽ bài viết này trên:

Chuyên mục