Month: Tháng Bảy 2019

Ghen tuông trong đời sống vợ chồng: Nỗi đau không chỉ riêng ai!

Ghen tuông trong đời sống vợ chồng: Nỗi đau không chỉ riêng ai!

Ai cũng biết rằng ghen tuông (hay ghen tương) trong hôn nhân là điều khó tránh khỏi, dù vợ chồng là người bình dân hay giới trí thức, là người nghèo hay thành phần giàu có. Sự ghen tuông nó ăn vào máu thịt của mỗi người, nam cũng như nữ. Chẳng hạn, dân gian ta thường nói: “Ớt nào là ớt chẳng cay / Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng” hay “Ta rằng ta chẳng có ghen / Chồng ta ta giữ, ta nghiền, ta chơi!” (Ca dao VN).

Ngày nay, các vụ đánh ghen xảy ra như cơm bữa. Chỉ cần mở kênh Youtube lên là sẽ thấy những màn sát phạt thanh toán nhau hung dữ, ác độc, tàn nhẫn vô nhân đạo. Qua báo chí, người ta thường xuyên đọc được rất nhiều thông tin về những vụ án mạng rùng rợn mà nguyên nhân cũng chỉ vì ghen tuông mà ra. Chính vì vậy mà có người nói: “Lòng ghen tương giống như địa ngục và sức mạnh của nó là sức mạnh của lửa trong hỏa ngục”, hoặc có câu: “Một tình yêu ghen tuông thì đốt ngọn đuốc của nó trong đống củi hồng của những cơn giận dữ” (Burke).

Thực vậy, ta biết rằng: Ghen tuông được cho là khó tránh khỏi trong tình yêu và đôi lúc sự ghen tuông thái quá lại khiến mối quan hệ rạn nứt, khi sự ghen tuông thái quá chủ thể có khả năng sẽ hành động một cách ngớ ngẩn, thể hiện như sự bực bội, khó chịu khi một đối tượng nói chuyện thân mật với người khác giới, người tình cũ và có cảm giác thấy mình đang bị bỏ rơi, bị phản bội và cảm thấy bấp bênh cho tình yêu của chính mình, có những cặp đôi còn ghen tuông nhau ngay trong ngày cưới. (Theo Wikipedia)

Những biểu hiện của ghen tuông đối với những người có tâm lý hướng ngoại gồm biểu hiện sự giận dữ, ghen tuông ầm ĩ, đối với những người có xu hướng hướng nội thì biểu hiện sự ghen tuông của mình bằng sự xa lánh, lạnh lùng, khinh bỉ, căm thù đối tượng. Cả hai dạng này đều rất nguy hại cho sức khỏe cả thể chất và tinh thần. (Theo Wikipedia)

* GHEN: CHUYỆN KHÔNG CỦA RIÊNG AI

Ai cũng biết rằng sự ghen tuông không trừ một ai hay bất kỳ một đôi hôn nhân nào. Nó có thể xảy đến bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu và bất kỳ trong hoàn cảnh nào. Ngoại trừ những trường hợp ghen bóng ghen gió, ghen vu vơ, ghen vớ vẩn, ghen không lý do, thì sự ghen tuông giữa hai vợ chồng thường bắt đầu với sự nghi ngờ về người thứ ba cùng với sự xuất hiện một số dấu hiệu khác thường, chẳng hạn như đi sớm về khuya, những cuộc điện thoại hay tin nhắn lạ lúc đêm khuya, phát hiện mùi thơm lạ cùng với sự chi tiêu tiền bạc cho những mục đích không rõ ràng, sự thờ ơ lạnh nhạt trong sinh hoạt vợ chồng vv.

Sự ghen tuông sẽ lên đến đỉnh điểm khi vợ/ chồng bắt quả tang mối tình vụng trộm của bạn đời với người thứ ba, lúc đó cuộc chiến bắt đầu công khai và khốc liệt. Khi phát hiện ra bằng chứng về sự phản bội, người đàn ông thường trở nên hung dữ, bạo lực, họ khống chế, chỉ trích người phụ nữ bằng đủ mọi cách nhưng một số không dễ dàng chia tay ngay lập tức.

Riêng đối với các bà vợ, một số phản ứng thường gặp của họ khi chồng vụng trộm là đánh ghen với tình địch, giận hờn, chì chiết. Tuy nhiên họ có thể bỏ qua, tha thứ cho chồng. Phụ nữ hay ghen khi cảm thấy bạn đời hờ hững, lạnh nhạt với mình. Có những phụ nữ ghen tuông kiểu lặng thầm, đó là do họ mất đi sự tự tin vào bản thân, lo sợ mình không còn nắm giữ được trái tim của bạn đời, sợ bị bỏ rơi. Họ càng ghen khi tự mình phóng đại và suy diễn những hành động của nam giới và kết luận rằng anh ta có dấu hiệu phản bội. (Theo Wikipedia)

Phụ nữ ghen sẽ tìm kiếm những bằng chứng và dấu vết từ người chồng như mùi nước hoa lạ, những tài liệu quên trong túi áo, túi quần, tin nhắn hoặc số điện thoại lạ… Khi phát hiện ra bằng chứng về sự phản bội, lo sợ rằng mình sẽ bị bỏ rơi, phụ nữ sẽ khóc lóc hoặc đe doạ bạn đời và thường sẽ tìm mọi cách gặp trực tiếp tình địch để giải quyết. Nói chung, phụ nữ khi ghen thì mỗi người có một kiểu ghen khác nhau, có cái ghen sáng suốt, minh mẫn, nhưng cũng có cả kiểu ghen mù quáng. (Theo Wikipedia)

Dù ghen tuông dưới hình thức nào đi nữa thì hậu quả sẽ là cả hai, người ghen và người bị ghen sẽ gặp rất nhiều bất lợi về mặt tâm lý, sức khỏe, mối tương quan vợ chồng, nhất là nó sẽ để lại nhiều hậu quả tai hại và di chứng khó lường.

Trước hết, ta thấy rằng, khi ghen tuông thì trong cơ thể sẽ xảy ra các phản ứng cả về tâm lý và hành động với các biểu hiện đau đớn về tinh thần, tức giận, buồn bã, bi quan, ghen tị, sợ hãi, lo lắng về hình ảnh của mình, tự xót thương mình, cảm thấy bị bẽ mặt (tâm lý), run rẩy, toát mồ hôi, tự trấn an mình, có những hành động hung hăng, thậm chí bạo lực (hành động). Ở góc độ tâm lý và y học, ghen tuông có thể ảnh hưởng trực tiếp đến trí não, nó làm giảm trí thông minh, thiếu logic, đánh mất sự tự tin, tiêu tan độ hấp dẫn cũng như nhân cách con người.

Tuy nhiên vẫn có ý kiến cho rằng, ghen tuông ở một mức độ nhất định, sẽ có tính tích cực nhất định vì nó chứng tỏ tình cảm giữa hai bên sâu nặng, và góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa hai người và một chút ghen tuông hờn giận sẽ làm cho tình yêu thêm nồng nàn và hiểu nhau hơn, nó cũng là một biểu hiện của tình yêu sâu nặng. Dù vậy nếu không kiểm soát được thì sẽ dẫn đến hậu quả khó lường, sự ghen tuông ở một mức độ vừa phải sẽ làm cho tình yêu bền chặt hơn, nhưng nếu ghen tuông mù quáng dẫn đến có những lời nói, hành vi thiếu kiềm chế sẽ là một trong những nguyên nhân của tội phạm, bi kịch tình yêu, bi kịch gia đình. (Theo Wikipedia)

Dù sao đi nữa thì “Ghen là vẫn tai họa cho tình yêu” (Colette). Người phương Tây thì cho rằng, đối với người vợ, thà có một người chồng không trung thành còn hơn có một người chồng hay ghen. Tại sao thế? Vì người chồng không trung thành còn giữ được hạnh phúc với vợ, còn người chồng hay ghen luôn biến gia đình thành địa ngục. Đối với người chồng, người vợ càng ghen tuông càng không thể nào sửa đổi được người chồng, trái lại nó còn đầu độc đời sống chung cho đến khi tình yêu bị tiêu diệt hoàn toàn.

* GHEN VÀ YÊU

Chúng ta tự hỏi có tương quan nào giữa ghen và yêu không, vì nhiều người vẫn cho rằng ghen xuất phát từ yêu, ghen là chứng tỏ còn yêu, ghen là biểu hiện của tình yêu bình thường giữa nam và nữ, đến nỗi có người đã nói “Kẻ nào không ghen là không yêu”. Như vậy, ta có thể chấp nhận sự ghen tuông được không?

Theo tác giả cuốn “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Ki-tô” thì, “bất cứ ai yêu một người khác phái và yêu một cách lành mạnh cũng đều cảm thấy ghen tương khi người đó biểu lộ một sự quan tâm không hợp lý với một người thứ ba. Thiếu sự ghen tương trong những hoàn cảnh như thế cũng đồng nghĩa với thiếu yêu thương. Như thế, sự ghen tương là một biểu lộ chắc chắn của tình yêu. Có yêu mới ghen. Để nói lên tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, Kinh Thánh không biết dùng hình ảnh nào xác đáng hơn là nói rằng: Thiên Chúa là Đấng hay ghen tương, ghen là biểu hiện của tình yêu. Ai cũng biết, sự vắng bóng của ghen tương là một dấu hiệu cho thấy tình yêu đã vỗ cánh bay xa”. [1]

Tuy nhiên, trên thực tế, ta thấy rằng ghen tuông có nhiều mức độ, ở một giới hạn nào đó thì ghen chính là chút gia vị cho tình yêu, nhưng thông thường thì sự ghen tuông mà không kiểm soát được sẽ là tai họa cho tình yêu. Bà Nadezhda von Meck đã nói: “Có ghen mới là yêu, nhưng ghen quá sẽ giết chết tình yêu”. Một danh nhân khác cũng đã nói: “Sự ghen tuông trong tình cảm giống như muối trong thức ăn. Một chút ít có thể làm vị trở nên đậm đà, nhưng quá nhiều sẽ làm hỏng vị, và trong một vài trường hợp nhất định, có thể nguy hiểm đến tính mạng” (Maya Angelou)

Chúng ta biết rằng, một đôi hôn nhân hạnh phúc, một gia đình êm ấm luôn đặt trên nền tảng một tình yêu chân thành, trong sáng, tự do và song phương. Nhưng khi tình yêu phai nhạt, hoặc mất đi sự trong sáng lành mạnh của nó, thì nguy cơ sẽ là sự lo lắng, nghi ngờ, thất vọng. Làm sao có thể có được một gia đình êm ấm khi mà “Ông ăn chả” hoặc “bà ăn nem” được. Hành động ngoại tình và sự xuất hiện của người-thứ-ba sẽ làm đảo lộn tất cả. Như một danh nhân đã nói: “Ghen tuông làm đảo lộn và đầu độc tất cả những gì tốt đẹp trong tình yêu”. Tình yêu lúc đó chỉ còn là sự hờn ghen, lo sợ, hận thù và cay đắng mà thôi. Có người đã quả quyết rằng, trong khi tình yêu là sự khỏe mạnh thì ghen tuông lại là bệnh hoạn, cả hai không thể tương thích với nhau được (Robert A Heinlein).

Cuối cùng thì ta cũng thấy rằng, “Người ghen tương là người chưa biết yêu, vì một tình yêu đích thực luôn luôn được xây dựng trên sự tôn trọng. Hơn bất cứ quan hệ nào, đời sống vợ chồng đòi hỏi hai người phải tôn trọng và đối xử với nhau tế nhị hơn với bất cứ ai khác. Khi người ta bắt đầu nghi ngờ dẫn đến việc kiểm soát nhau, và nhất là để cắt đứt mọi liên lạc thân hữu với người khác cũng như mọi sinh hoạt xã hội, thì đó là dấu hiệu cho thấy sự tin tưởng giữa hai người không còn nữa. Một khi không còn tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống chung sẽ trở nên ngột ngạt, khó thở để rồi sẽ bùng nổ bằng bạo động và đưa đến đổ vỡ”. [1]

* THUỐC CHỮA “BỆNH” GHEN

 Chúng ta biết rằng, đã là người thì không ai lại không có thể mắc bệnh ghen. Dường như chẳng ai được miễn nhiễm khỏi tính ghen tương. Một chút ghen tương là một báo động tốt để giúp cho hai người hiểu nhau hơn, trưởng thành hơn trong nhân cách và tình yêu. Nhưng nếu ghen tương đã trở thành một thứ ung nhọt không chữa nổi thì đời sống vợ chồng sẽ như một thứ thân thể bệnh hoạn.

Mặc dù văn hào Pháp Michel de Montaigne đã quả quyết rằng, “Trong tất cả các thứ bệnh tinh thần, bệnh ghen được nuôi dưỡng nhiều thứ nhất và có ít thuốc chữa nhất”, nhưng trên thực tế có nhiều người đã tìm ra được những phương thuốc hữu hiệu để chữa bệnh ghen. Ta có thể tóm tắt mấy cách thế chính sau đây:

1- Đừng bao giờ biến sự ghen tuông trở thành phản ứng cực đoan. Khi ta thiếu kiềm chế, tạo cơ hội để cơn ghen bùng nổ, như đổ dầu vào lửa, thì lúc đó nó sẽ trở thành kẻ thù của hôn nhân và là tai họa cho tình yêu. Cả hai người, vợ cũng như chồng nên ngừng theo dõi người bạn đời của mình và nhất là đừng bao giờ tra hỏi nhau một cách trơ trẽn, thiếu tế nhị. Điều cơ bản của cuộc sống vợ chồng là tin tưởng lẫn nhau. Nếu cứ nghi ngờ nhau, hậu quả là vô tình người ghen đã đẩy chồng hoặc vợ mình vào vòng tay người khác.

Chúng ta lưu ý là trong hôn nhân, ghen tuông thái quá như món ăn nồng mùi vị khiến người trong cuộc chán nản, mệt mỏi. Nếu tỉnh táo biết nêm nếm đủ liều thì ghen sẽ là gia vị khiến đời sống vợ chồng thêm phần ngọt ngào, viên mãn. Trong thực tế, khi ghen người ta không thể làm chủ và kiểm soát được suy nghĩ cũng như cảm xúc của mình. Sự mù quáng khi ghen khiến bạn có những biện pháp đối phó không hiệu quả. Hậu quả diễn ra, nhiều người mới ân hận vì những hành vi và lời nói của mình. (Nguồn: vnexpress.net)

2- Hãy tạo mọi cơ hội để lấy lại niềm tin, sự cảm thông và tha thứ. Người Tây phương đưa ra quan điểm thế này, người nào yêu thực sự thì người đó không ghen. Thực chất chủ yếu của tình yêu là lòng tin. Tước bỏ lòng tin trong tình yêu tức là tước bỏ nền tảng tạo nên sức mạnh và độ bền vững của tình yêu, là tước bỏ tất cả bộ mặt tươi sáng của nó.

Do vậy, phương thuốc để chữa bệnh ghen hữu hiệu, đó là tìm hiểu nguyên nhân cặn kẽ vì sao bạn đời mình lại “say nắng” như thế, vì sao lại xảy ra tình yêu “ngoài luồng” như thế, tình trạng trên mới chớm hay đã lâu, hoàn cảnh nào đã đưa đẩy đến sự việc ngoại tình của vợ hay chồng như thế vv. Phải giữ thái độ bình tĩnh và phản ứng sao cho có chừng mực, tỏ ra sự cảm thông và tha thứ, để người bạn đời của mình hiểu được rằng tình yêu thực sẽ có sức mạnh hóa giải tất cả.

Một tác giả đã chia sẻ kinh nghiệm như sau: “Mặc dù cơn ghen của bạn được dựa trên chứng cứ rõ ràng, nếu bạn không dùng hình thức thô bạo thì bạn vẫn có hy vọng chiếm lại tình cảm của người mình thương yêu. Ở nơi đàn ông hay phụ nữ, đều dễ có sự sai lầm, phản bội nhưng sau đó họ vẫn có thể ân hận chân thành. Người ta cứ tưởng ngoại tình là nguyên nhân chính của ly hôn. Thực ra không phải vậy. Trong 75% trường hợp ly dị một cách hợp pháp, thì nguyên nhân chính là mâu thuẫn về tiền bạc”. [2]

3- Hãy xác định lại bản chất của tình yêu trong hôn nhân. Có người đã nhận định rằng, khi ghen tuông, tự ái sẽ đóng vai trò quan trọng hơn là ái tình (La Rochefoucauld). Điều đó có nghĩa là khi ghen, người ta trở nên ích kỷ, mù quáng, cọc cằn, tàn nhẫn. Hành động của người ghen, nếu nhân danh tình yêu, thì cũng chỉ là sự thù hằn đáng sợ.

Trong khi đó, tình yêu đích thực và trong sáng luôn luôn được thể hiện qua sự tôn kính, trân trọng người bạn đời. Nếu người ngoại tình là người không còn biết kính trọng bản thân và tình yêu của vợ hay chồng mình thì người ghen tuông là người đánh mất lý trí, hành động mù quáng, coi người bạn đời của mình như là một kẻ phản bội phải trả giá đắt và đáng khinh bỉ. Người ta quên rằng bản chất của tình yêu đích thực là dâng hiến, là vị tha, là bao dung. Thay vì tự ái vì mình bị “cắm sừng”, thay vì thù hận do tình yêu bị phản bội, thì chúng ta nên chọn lựa một thái độ đúng mực nhất, đó là bao dung và tha thứ. Chính điều này sẽ thuyết phục bạn đời mình từ bỏ những gì không phù hợp với tình yêu chân chính của vợ chồng.

Cuối cùng, muốn tránh được sự ghen tuông, thiết tưởng vợ chồng phải làm mọi cách để duy trì lòng chung thủy và giữ cho tình yêu giữa hai người luôn nồng thắm.

Thực vậy, “Không gì hữu hiệu để giúp đôi vợ chồng thắng vượt tính ghen tương cho bằng lòng chung thuỷ với nhau. Lòng chung thủy đối với nhau được thể hiện không chỉ bằng sự đam mê gắn bó với nhau, mà nhất là bằng lòng quảng đại, khoan dung, tha thứ, quên mình. Nói cho cùng, tình bác ái Kitô giáo chính là thể hiện của sự chung thuỷ và là chìa khoá của hạnh phúc hôn nhân”./. [1]

Aug. Trần Cao Khải

– – – – – – – – – – – – – – –
[1] D. Wahrheit – “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Ki-tô” – Bài “Thử thách của ghen tương” – Mục Vụ HN&GĐ
[2] Vũ Hạnh – “Hôn nhân không đau đớn” – NXB Thanh Niên năm 2000

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Đôi giày Chúa ban : 39 và 40

Đôi giày Chúa ban : 39 và 40

Một bà lão nghèo hằng ngày vẫn đến nhà thờ trong ngôi làng nghèo hoang vắng để tham dự Thánh Lễ.

Mấy ngày nay bà không dự lễ nữa nên vị linh mục thắc mắc, Ngài đã lân la dò hỏi thì được biết rằng bà không đi nhà thờ do bà không có giày mang. Hỏi thăm thì vị linh mục biết được rằng đôi giày cũ của bà đã sửa đến 6 lần rồi và anh thợ sửa giày nói lần này không thể sửa được nữa. Vậy là bà không có giày để mang nên không thể vượt đường xa heo hút mà đến tham dự Thánh Lễ được.

Một người trong làng biết tin ấy đã gợi ý tặng bà lão đôi giày mới nhưng bà lão khước từ và nói : cảm ơn cô nhưng Chúa của tôi biết tôi cần gì và Ngài sẽ ban cho tôi.” Sau vài lần thuyết phục ko được người ấy bỏ ý định đó.

Vị linh mục hay tin ấy đã lặn lội tìm đến nhà bà mang theo một đôi giày để tặng bà: khi thấy vị linh mục đến bà cũng nói như nói với vị ân nhân kia : tôi cảm ơn ý tốt của Cha nhưng Chúa của tôi biết tôi cần gì Ngài sẽ ban cho tôi!

Vị linh mục nói : Thiên Chúa là tình yêu Ngài sẽ ban ơn lành của Ngài xuống trên bà thông qua anh chị em xung quanh bà.

Nhưng thưa bà hôm nay tôi thật xấu hổ khi nói với bà điều này, đôi giày tôi tặng bà thật không hoàn hảo. Một người bạn mua tặng tôi khi cô ta trở về nước thăm nhà nhưng do một sự nhầm lẫn nên cô ấy lấy nhầm đôi giày một bên phải số 40 và bên trái số 39.
Nhưng thật sự tôi ko có đôi giày nào khác ngoài đôi này để tặng bà. Tôi hy vọng nó sẽ giúp được bà. Nhưng tôi bảo đảm nó thật sự tốt.

Bà lão vừa nghe xong đã vui mừng thốt lên : Tạ ơn Chúa Ngài thật vĩ đại. Con biết Ngài sẽ ban cho con những thứ con cần. Tạ ơn Chúa, Tạ ơn Chúa.

Vị linh mục hết sức ngạc nhiên và ngỡ ngàng rồi bà giải thích: thưa Cha bẩm sinh bố mẹ sinh tôi ra đã mang một đôi chân ko hoàn hảo. Nhưng gia đình tôi thật sự nghèo vì vậy khi mua giày tôi phải mua 2 đôi 2 size 39 và 40. Nên tôi rất quý đôi giày. Và khi đôi giày tôi bị hư thật sự tôi rất buồn và tôi cũng không thể nào yêu cầu vị ân nhân mua cho tôi cùng lúc 2 đôi được.

Nhưng tôi luôn luôn tin Chúa của tôi Ngài yêu thương tôi. Ngài sẽ ban cho tôi những thứ tôi cần. Tạ ơn Chúa.

Thật vậy “ vì Cha anh em biết rõ anh em cần gì trước khi anh em cầu xin” ( Mt 6,8)

 

Nguồn : catholicletter

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

CÂU CHUYỆN TÌNH – Ðây là lời cầu nguyện, một cuộc nói chuyện với Chúa.

CÂU CHUYỆN TÌNH

Ðây là lời cầu nguyện, một cuộc nói chuyện với Chúa. 

Một hôm, tôi dậy sớm để xem cảnh hừng đông vừa mới hé,

Ôi, công trình Thiên Chúa mới diễm lệ xiết bao.

Mắt ngắm nhìn, tôi ngợi khen Thiên Chúa về những kỳ công nhiệm mầu…Tôi ngồi đấy, và thấy rằng Chúa hiện diện.

Người hỏi tôi: “Con có yêu mến Ta không ?”

Tôi đáp: “Lẽ tất nhiên, Lạy Chúa ! Chúa là Thiên Chúa và Ðấng Cứu Ðộ con”.Và Người hỏi:

“Nếu con mang khuyết tật, con có còn yêu mến ta không ?”

Tôi ngỡ ngàng, nhìn xuống tay chân và toàn bộ hình hài,

Rồi nghĩ rằng có bao điều tôi sẽ không tài nào làm được,

Ngay cả những điều tôi thấy là đương nhiên.
Và tôi trả lời: “Hẳn là sẽ rất khó đấy, lạy Chúa, nhưng… con vẫn yêu Chúa !”

Người lại hỏi:”Nếu con mù, con có còn yêu các thọ tạo của Ta chăng ?”

Làm sao lại có thể yêu một điều mình không thể thấy nhỉ ?

Và tôi nghĩ đền bao nhiêu người mù trên thế giới,

Và biết bao người trong số họ
Vẫn cứ yêu mến Chúa và muôn thọ tạo của Người.Thế nên tôi đáp lời: “Nghĩ như thế thật đau lòng, Nhưng… con vẫn yêu Ngài !”

Chúa tiếp tục hỏi:  “Nếu con điếc, con có còn chịu lắng nghe Lời Ta không ?”

Làm sao lại có thể nghe được điều gì nếu tai mình bị điếc ?

Rồi tôi chợt hiểu: Nghe Lời Chúa không chỉ bằng đôi tai, mà bằng chính tâm hồn.

Tôi trả lời: “Thật khó lòng làm như thế, nhưng… con vẫn yêu mến lời Ngài “

Người lại hỏi: “Nếu con câm, con vẫn còn ca tụng Danh Ta chứ ?”

Làm sao mà có thể ca tụng khi mình không còn giọng hát ?

Rồi tôi chợt nhận ra: Chúa muốn tôi ca lên từ đáy sâu tấm lòng chân thật.

Tiếng ca của tôi dẫu có thế nào cũng được.

Và ngợi khen Chúa không chỉ là hát ca,

Nhưng trong những ngày gian nan,

Tôi sẽ ca ngợi Chúa bằng cách cảm tạ Người.

Vì thế tôi mới nói: “Dù con không thể hát, con vẫn còn ngợi ca Chúa đến trọn đời !”

Ðến đây, tôi cứ ngỡ rằng mình đã trả lời quá hay,

Nhưng… Chúa chợt hỏi: “Thế, vì sao con phạm tội ?”
Tôi vội trả lời: “Vì con chỉ là con người, con chưa phải trọn lành.”

Chúa lại hỏi thêm “Thế sao khi yên ổn, con lại đi xa ta thế ?
Và vào những lúc nguy nan, con mới biết cầu nguyện hết lòng ư ?”

Tôi đành nín lặng, và tôi chỉ còn biết khóc…

Chúa lại dồn dập hỏi:

      ” Sao con chỉ hát với cộng đoàn và trong những buổi tĩnh tâm ?

Sao con chỉ kiếm tìm Ta trong những khi thờ phượng ?

Sao con cầu xin bao nhiêu thứ chỉ vì mình con ?

Sao con cầu xin mà lại thiếu lòng xác tín ?”

Lệ trào mi chảy xuống má của tôi…

“Sao con xấu hổ về Ta ?

Sao không rao giảng Tin Mừng cho đến nơi đến chốn ?

Sao khi gặp gian truân, con lại đi thở than với người khác,

Trong khi chính Ta trao vai mình cho con tựa vào mà khóc ?

Sao con lại chối từ khi Ta cho con cơ hội phục vụ Danh Ta ?”

Tôi muốn trả lời, nhưng còn biết nói gì đây ?

“Ta ân ban cho con sự sống, đâu có phải là để con vứt bỏ !
Ta ân ban cho con tài năng để phục vụ Ta, nhưng con đã vội quay lưng ! Ta mặc khải Lời Ta cho con, nhưng con không chịu thêm gì trong hiểu biết !

Ta nói khó với con, nhưng con cứ bịt tai !
Ta chúc phúc cho con, nhưng con hướng mắt nhìn nơi khác !
Ta sai tôi tớ đến với con, nhưng con ngồi yên khi họ bị đuổi xua !
Ta nghe lời con cầu và đã nhậm lời mọi điều con cầu khẩn.

Vậy, con có thực sự yêu mến Ta chăng ?”

Tôi không thể trả lời. Làm sao trả lời đây ? Tôi vô cùng bối rối.
Tôi không còn lời biện bạch. Tôi có thể nói gì đây ?

Lòng kêu thét và mắt tôi đẫm lệ, tôi trình Người:

“Lạy Chúa, xin thứ tha, con không xứng làm con của Chúa !”

Chúa đáp lời: “Ân Huệ của Ta đấy, con ơi !”
Tôi bèn hỏi: “Sao Chúa vẫn tha thứ cho con ?

Sao Chúa lại yêu con đến thế ?”

Chúa trả lời: “Vì con là công trình Sáng Tạo của Ta.

Con là con của Ta. Ta chẳng thể nào bỏ rơi con.
Khi con khóc, Ta đồng cảm và cùng khóc với con.
Khi con hớn hở reo vui, Ta cùng cười với con.
Khi con suy sụp tinh thần, Ta luôn khích lệ con.
Khi con vấp ngã, Ta nâng con chỗi dậy
Khi con mệt mỏi, Ta đã bồng bế con trên tay.

Ta sẽ ở cùng con cho đến ngày sau cùng, Và Ta sẽ còn yêu thương con mãi mãi.”

Chưa bao giờ tôi khóc nhiều như thế.
Làm sao tôi đã từng có thể sống dửng dưng ?
Làm sao tôi đã từng xúc phạm Chúa quá nhiều ?

Tôi hỏi Chúa: “Vậy, Chúa thương con đến mức độ nào ?”
Chúa đưa tay ra và tôi thấy dấu đinh xuyên thấu,

Tôi gục đầu dưới chân Chúa của tôi, Và lần đầu tiên trong đời, tôi đã biết nguyện cầu thực sự…

(Nguyên tác “Love Story”, bản dịch của giáo sư Trần Duy Nhiên )

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Kinh Lạy Cha, Đọc Xuôi Đọc Ngược (CN 17 TN C)

Kinh Lạy Cha, Đọc Xuôi Đọc Ngược – CN 17 TN C

Kinh Lạy Cha là lời kinh Chúa Giêsu dạy các môn đệ và là lời kinh căn bản của Kitô giáo. Lời kinh này là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng, là tâm điểm của Thánh Kinh như Thánh Augustinô nói: “Cứ đọc hết các kinh nguyện trong sách Thánh, chúng ta sẽ tìm thấy những điều được thâu tóm trong lời kinh Chúa dạyVới lời kinh này, không những chúng ta nguyện xin tất cả những gì chúng ta có thể ao ước cách chính đáng, mà còn theo trật tự những gì nên ao ước. Vì thế, kinh nguyện này không chỉ dạy chúng ta nguyện xin, mà còn huấn luyện tâm tình của chúng ta nữaDù chúng ta có đọc lời nào khác, những lời do người cầu nguyện đặt ra để khơi dậy lòng sốt sắng, chúng ta cũng chẳng nói gì khác ngoài điều đã có trong kinh Lạy Cha, nếu chúng ta cầu nguyện cho đúng và thích hợp”(x. Thư thánh Augustinô giám mục gửi cho Pơrôba về kinh Lạy Cha, trong Kinh Sách, IV, tr. 335).

Kinh Lạy Cha độc đáo vì chính là lời kinh “của Chúa” và cũng là lời cầu nguyện của Hội Thánh. Lời kinh này đã ăn sâu vào kinh nguyện phụng vụ. Trong Thánh lễ, các lời nguyện xin của kinh Lạy Cha còn cho thấy đặc tính cánh chung, hướng về ngày Chúa Quang Lâm “cho tới khi Chúa lại đến” (1Cr 11,26).

Kinh Lạy Cha là lời kinh duy nhất Chúa Giêsu để lại, lời kinh tuyệt vời và phong phú vì chất chứa bao điều huyền nhiệm.

“Kinh Lạy Cha chẳng những là một lời cầu nguyện, mà còn là một lời tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa là Cha. Thiên Chúa Cha vừa là nguồn gốc mọi sự, vừa là cùng đích mọi loài. Đó là niềm tin căn bản nhất, bao trùm cả lộ trình đi và về của con người. Vì vậy kinh Lạy Cha vừa có thể đọc xuôi, vừa có thể đọc ngược” (x. Kinh Lạy Cha của Linh Mục trong Năm Đức Tin, ĐGM Matthêô Nguyễn Văn Khôi; Gpquinhon.org).

I. Đọc xuôi Kinh Lạy Cha

Đọc xuôi, bắt đầu từ việc tuyên xưng Thiên Chúa là Cha, cầu xin cho danh Người cả sáng, cho Nước Người trị đến, cho thánh ý Người được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Tiếp đến chúng ta xin Người những ơn cần thiết cho cuộc đời kitô hữu của chúng ta, như được thỏa mãn những nhu cầu cần thiết của cuộc sống, được ơn tha thứ những lỗi lầm thiếu sót, được gìn giữ khỏi sa chước cám dỗ và được giải thoát khỏi quyền lực của ác thần.

Đọc xuôi, Kinh Lạy Cha bao gồm: một lời thân thưa, hai lời nguyện ước và ba lời cầu xin.

  1. Lời thân thưa

Thiên Chúa được gọi bằng nhiều danh hiệu khác nhau : Thiên Chúa vĩnh cửu, Thiên Chúa quyền năng, Thiên Chúa tạo dựng, Thiên Chúa thánh thiện… Mỗi danh hiệu nói lên một ưu phẩm, một đặc tính của Thiên Chúa.

Nhưng không một danh hiệu nào lại đậm đà, trìu mến, ý nghĩa, hy vọng cho bằng danh hiệu Cha. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ là mỗi khi cầu nguyện hãy thân thưa :  Lạy Cha chúng con ở trên trời.

Lời mạc khải mối liên hệ chiều sâu giữa Chúa Giêsu với Chúa Cha. Lời diễn tả một chiều kích thiêng liêng, các môn đệ được đi vào đời sống thân mật, liên kết với Chúa Cha và Chúa Con.

Cha không chỉ là nguồn cội phát sinh nhưng còn là vòng tay nâng đỡ, là mái ấm chở che, là động lực thúc đẩy, là lý tưởng mời gọi. Từ ngữ Cha gợi lên cả một trời yêu thương vừa thân thiết vừa huyền nhiệm vô cùng.

Từ đây, lời thân thương “Lạy Cha” luôn vang vọng mãi nơi môi miệng của người Kitô hữu. Lời gắn kết họ với Thiên Chúa. Lời nối kết tương quan cha con trong tình yêu. Hồng ân thật cao quý Chúa muốn ban cho con người. Được gọi Thiên Chúa là Cha, được làm con cái của Thiên Chúa. Đó là tư cách rất riêng của những ai là môn đệ Đức Giêsu. Ơn gọi làm con là ơn gọi căn bản nhất, ơn gọi cao trọng nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Đức Giêsu. Vì thế chúng ta phải sống hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha và huynh đệ với tha nhân là anh chị em. Vì chưng toàn thể nhân loại chỉ có một Cha và tất cả đều là anh em chị em của nhau.

  1. Hai lời nguyện ước

“Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển” và “Triều đại Cha mau đến” là hai lời nguyện ước của những người con thảo hiếu hướng về Cha mình.

Thiên Chúa không cần đến lời chúng ta cầu nguyện để nhờ đó danh Người và triều đại Người mới được hiển thánh, được tôn vinh. Tự bản chất, Thiên Chúa không cần đến những lời cầu xin của chúng ta, có hay không, danh Người mãi mãi vẫn rạng ngời vinh hiển.

Vậy thì chúng ta cầu nguyện như thế để làm gì? Chắc một điều đó là vì phần ơn ích cho chúng ta.

Hai lời nguyện ước là xin cho danh Thiên Chúa được hiển thánh nơi chính con người chúng ta. Thiên Chúa là Đấng Thánh. Là con Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là Cha, người con xin Cha thánh hoá, xin Cha kiện toàn mỗi ngày để con được nên thánh, được tham dự vào cuộc sống thần linh với Cha. Người con cần sống hiếu thảo. Biết quan tâm, chăm lo đến những công việc thuộc về Cha của mình. Là con của Cha trên trời thì chúng ta phải làm cho Danh Cha được cả sáng và Nước Cha trị đến, Ý Cha được thực hiện. Cha rất vui, hài lòng khi có những người con biết sống hiếu thảo như thế.

  1. Ba lời cầu xin.

“Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày; xin tha tội cho chúng con, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ”.

Xin cho những nhu cầu chính đáng phần xác phần hồn: lương thực hằng ngày, ơn thứ tha tội lỗi, ơn vượt thắng cám dỗ và ơn thoát khỏi sự dữ. Thân xác cần cơm bánh lương thực. Linh hồn cần ơn thánh. Ba lời cầu xin rất thiết thực đối với sự sống của nhân loại. Lời cầu xin cho có cơm bánh hằng ngày, thiết thực và hữu ích cả trên bình diện thiêng liêng lẫn cuộc sống đời thường. Bởi ngoài nhu cầu thiết yếu của con người là cơm bánh ra, người Kitô hữu cần đến một thứ thần lương tuyệt vời khác chính là Bánh Hằng Sống, là Thánh Thể Chúa Kitô.

Ơn tha thứ thật cần thiết. Trước mặt Thiên Chúa, con người là tội nhân. Tha thứ cho nhau là điều kiện cần và đủ để chúa tha thứ cho mình. Được Cha yêu thương chăm sóc và thứ tha các lỗi lầm, con noi gương Cha sống yêu thương tha thứ cho anh em của mình. Như thế mới trọn vẹn tình con thảo hiếu.

Cạm bẫy và cám dỗ vẫn bủa vây tư bề. Cần tỉnh thức trước mọi cơn cám dỗ. Ơn Chúa là nguồn trợ lực là sức mạnh để con người vuột thắng mọi cám dỗ.

II. Đọc ngược Kinh Lạy Cha

Đọc ngược kinh Lạy Cha để đi lại lộ trình đức tin của dân Do thái ngày xưa và để bày tỏ niềm xác tín mới đối với Thiên Chúa vì những gì Người ban cho chúng ta qua kinh Lạy Cha. Vậy chúng ta hãy cùng nhau tuyên xưng:

  1. Thiên Chúa là Cha quyền năng đã cứu chúng ta cho khỏi sự dữ.

Cũng như ngày xưa Thiên Chúa đã cứu dân Israel ra khỏi ách nô lệ bên Ai cập, thì nay qua bí tích rửa tội, mỗi người chúng ta cũng đã được Thiên Chúa cứu khỏi quyền lực của Satan là đầu mối của mọi sự dữ.

  1. Thiên Chúa là Cha yêu thương không để chúng ta sa chước cám dỗ.

Sau khi được Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ Ai cập, dân Do thái đã đi qua hoang địa tiến về đất hứa, đã gặp rất nhiều cám dỗ và thử thách. Sau khi chịu phép rửa tội, cuộc đời chúng ta cũng là một hành trình xuyên qua hoang địa trần gian để tiến về đất hứa đích thực là thiên đàng. Chúng ta cũng gặp phải những chước cám dỗ như người Do thái ngày xưa. Nhận ra sự yếu đuối của mình, chúng ta tha thiết khẩn cầu Chúa gìn giữ và Người đã gìn giữ chúng ta.

  1. Thiên Chúa là Cha nhân từ luôn sẵn sàng tha thứ mọi  tội lỗi của chúng ta.

Mặc dù đã nhiều lần phản bội, quay lưng lại với Thiên Chúa, thử thách Thiên Chúa, cứng đầu cứng cổ bất tuân lệnh Chúa, nhưng dân Do thái đã được Chúa tha thứ, nhờ lời chuyển cầu của ông Môsê. Cũng vậy, nhờ công nghiệp của Đức Kitô, chúng ta luôn được Thiên Chúa thứ tha những lỗi lầm thiếu sót và những xúc phạm đến Thiên Chúa và anh chị em là hình ảnh của Người. Được Thiên Chúa tha thứ, chúng ta cũng tha thứ cho nhau, để cùng nhau tiến bước trên con đường của Chúa.

  1. Thiên Chúa là Cha quan phòng luôn chăm sóc và nuôi dưỡng chúng ta.

Trong suốt hành trình 40 năm trước khi tiến vào đất hứa là nơi chảy sữa và mật, mỗi ngày dân Do thái đã được Thiên Chúa ân cần ưu ái ban cho manna, thịt chim cút và nước sạch từ tảng đá chảy ra. Ngày nay Thiên Chúa quan phòng cũng luôn lo liệu cho chúng ta mọi nhu cầu vật chất, để chúng ta có thể sống xứng đáng và phát triển các khả năng. Hơn nữa Người còn ban cho chúng ta bánh hằng sống là Lời Chúa và bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta, cùng với dòng nước ơn thánh vọt ra từ tảng đá là Đức Kitô đang hoạt động qua các bí tích, giúp chúng ta có sức đạt đến đất hứa đích thực là nước thiên đàng, nơi tràn trề sữa và mật thiêng liêng, khiến cho chúng ta không bao giờ đói khát.

  1. Thiên Chúa là Cha khôn ngoan đã mạc khải cho chúng ta thánh ý của Người và giúp chúng ta thực hiện.

Cùng với manna, chim cút và nước từ tảng đá vọt ra, Thiên Chúa còn ban cho dân Do thái các huấn lệnh bày tỏ ý muốn của Người, để họ tuân giữ và được sống. Ngày nay, chúng ta cũng nhận được thánh ý của Thiên Chúa biểu lộ qua Thánh Kinh, qua giáo huấn của Giáo Hội. Đời sống của mỗi người chúng ta hệ tại việc thực thi ý Chúa. Khi kết hiệp sự vâng phục của chúng ta với sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với thánh ý Cha, tức là chúng ta làm cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

  1. Thiên Chúa là Vua uy quyền đã làm cho Nước Chúa trị đến nơi chúng ta.

Sau khi hoàn tất cuộc hành trình xuyên qua sa mạc, Thiên Chúa đã ban cho dân Israel đất hứa làm gia nghiệp, ở đó họ sống hạnh phúc dưới quyền cai trị của Người. Sau khi hoàn tất cuộc hành trình nơi dương thế, chúng ta cũng sẽ được đưa vào Nước Trời, nơi Thiên Chúa hiển trị, để Người mãi mãi là Vua của chúng ta và chúng ta sẽ là dân của Người đến thiên thu vạn đại, và trong Nước Người không còn đau khổ, khóc than và tang tóc, nhưng chỉ có sự sống dồi dào trong hạnh phúc vô biên.

  1. Thiên Chúa là Cha, đó là thánh danh mà chúng ta ca tụng đến muôn ngàn đời.

Sống trong đất hứa Thiên Chúa đã ban, những người Do thái đạo đức không ngừng tôn vinh danh Chúa, vì chính nhờ danh Người họ đã được cứu thoát khỏi ách nô lệ Ai cập, được giúp đỡ để vượt qua các chước cám dỗ, được tha thứ mọi tội lỗi, được nuôi dưỡng chăm sóc, được biết thánh ý của Thiên Chúa, được sống dưới quyền cai trị của Chúa. Mai ngày trên thiên đàng, chúng ta cũng sẽ không ngừng ca tụng thánh danh Thiên Chúa và chúng ta có thể khởi đầu kinh Lạy Cha như sau: “Lạy Cha, giờ đây chúng con được ở với Cha trên trời”. (trích từ: Kinh Lạy Cha của Linh Mục trong Năm Đức Tin, ĐGM Matthêô Nguyễn Văn Khôi; Gpquinhon.org).

  • Kinh Lạy Cha, lời kinh tuyệt vời

Kinh Lạy Cha là một lời kinh tuyệt vời. Vinh danh và thánh ý Chúa được đặt trên hết. Các nhu cầu của con người được đặt sau.

Kinh Lạy Cha là một lời kinh tuyệt vời. Con người được gọi Thiên Chúa là Cha. Mỗi người là con cái của Thiên Chúa.

Kinh Lạy Cha là một lời kinh tuyệt vời. Xin Cha ban ơn không những phần xác mà cả phần hồn; xin Cha không chỉ tha tội trong quá khứ mà còn gìn giữ cho khỏi sa chước cám dỗ ở tương lai.

Kinh lạy Cha là lời kinh tuyệt vời và huyền nhiệm nối kết con người với Thiên Chúa. Đây là lời kinh đến từ Thiên Chúa, là quà tặng của Thiên Chúa trao ban cho con người. Chính vì thế, Thiên Chúa ưa thích và không ngừng ban muôn ơn cho con người thông qua lời kinh thân thương, đơn giản và dễ hiểu này.

Lạy Cha,

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con, những ơn con thấy được, và những ơn con chưa nhận thấy được.

Con biết rằng con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng, biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.

Con thường đau khổ vì những gì Cha không ban cho con, và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.

Tạ ơn Cha vì những gì Cha cương quyết không ban bởi lẽ điều đó có hại cho con, hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.

Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha dù con không hiểu hết những gì Cha làm cho đời con. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Phúc vì được thấy, phúc vì được nghe

Phúc vì được thấy, phúc vì được nghe

Lễ thánh Gioakim và thánh Anna (26.7.2019)

Song Thân của Đức Maria

“Mắt anh em thật có phúc vì được thấy,
tai anh em thật có phúc, vì được nghe”

 

I. LỜI CHÚA: Mt 13, 16-17

16 “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe.
17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM:

Trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay, Đức Giê-su nói: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe.” Trong bối cảnh phụng vụ, lời này của Đức Giê-su được ứng nghiệm cho đôi mắt và đôi tai của “ông bà ngoại” của Người, nghĩa là của hai thánh Gioakim và Anna. Tuy nhiên, lời này của Đức Giê-su cũng liên quan đến đôi mắt và đôi tai của chúng ta.

Thực vậy, qua kinh nghiệm cuộc sống, nhất là khi chúng ta có dịp đến phục vụ những người tàn tật, những người mù, những người câm điếc, chúng ta mới nhận ra rằng sự kiện chúng ta thấy được và nghe được, là một ơn huệ; và khi nhận ra đôi mắt và đôi tai của chúng ta là một ơn huệ, chúng ta được mời gọi nhận ra Đấng ban ơn để tạ ơn và ca tụng, và chia sẻ ơn huệ mà chúng ta có cho người khác, nhất là cho những người tàn tật, không có cùng một ơn huệ như chúng ta.

Tuy nhiên, ngay trước đó, Đức Giê-su còn nói tới một bệnh mù khác, một bệnh điếc khác: “họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe, không hiểu” (c. 13). Như thế, mối phúc mà Đức Giê-su nói tới, không chỉ là khả năng thể lý nhìn thấy sự vật và nghe được âm thanh.

1. Phúc vì được thấy

Thật vậy, đôi mắt của chúng ta được dựng nên, có “ơn gọi” không phải là nhìn thấy những điều hữu hình, nhưng qua những điều hữu hình, nhận ra những thực tại vô hình. Thực vậy, chúng ta được mời gọi nhìn thấy sự vật không chỉ như là sự vật, nhưng còn là những quà tặng, những ơn huệ, những dấu chỉ, nói lên sự hiện diện của ai đó, của tình thương, nói lên Đấng ban ơn, nói lên chính Đấng tạo dựng.

Và nhất là khi nhìn thấy một người, đôi mắt của chúng ta không được dừng lại ở vẻ bề ngoài, ở ngoại hình, ở trang phục, không được coi người người này là đối tượng để mình thỏa mãn nhu cầu, thỏa mãn lòng ham muốn; nhưng đôi mắt của chúng ta được mời gọi nhìn người khác trong sự thật, nghĩa là người đó là một ngôi vị tự do và có lòng ước ao, có ơn gọi riêng, có quá khứ và những vấn đề riêng, có hành trình riêng cần tôn trọng; nếu sự thật là người ấy có những hành vi phạm lỗi đáng lên án, thì chúng ta được mời gọi nhận ra một sự thật khác lớn hơn: người ấy còn là một ngôi vị bất hạnh đang đau khổ, và có khi người này ở trong bất hạnh mà không biết. Đó cái nhìn của Người Cha nhân hậu đối với người con hoang đàng, đó là cái nhìn của Đức Giê-su về người phụ nữ ngoại tình, đó là cái nhìn của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với loài người chúng ta, với từng người chúng ta.

Đôi mắt của thánh Gioakim và thánh Anna, đôi mắt của các môn đệ và đôi mắt của chúng ta thật là có phúc, như Đức Giê-su nói: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy”, bởi vì chúng ta được ơn nhận biết Đức Giê-su Nazareth là Đức Ki-tô, Con Thiên Hằng Sống và Ngôi Lời nhập thể. Đôi mắt có phúc là đôi mắt nhận biết Đức Giê-su Ki-tô; và đôi mắt nhận biết Đức Giê-su Ki-tô là đôi mắt sống đúng với ơn gọi của mình.

2. Phúc vì được nghe

Cũng vậy đối với đôi tai của chúng ta: đôi tai của chúng ta được ban cho, có ơn gọi không phải là nghe tiếng động hay âm thanh, nhưng là nghe ra sự hài hòa của âm thanh, nghe được giai điệu, kết cấu của âm thanh, truyền đạt cho chúng ta một ý nghĩa, một sứ điệp, truyền đạt cho chúng ta Ngôi Lời, bởi vì « Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành » (Ga 1, 3 và St 1):

Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Người làm. (Tv 19, 2).

Thế mà ý nghĩa và sứ điệp, được tạo ra bởi sự liên kết hài hòa theo quy luật giữa các âm thanh, thì hoàn toàn thinh lặng, không có tiếng động. Thiên Chúa nói với con người qua rất nhiều lời nói: lời trong Kinh Thánh, lời từ các chứng nhân của Thiên Chúa, nhưng chính Đức Giêsu Nazareth, Ngôi Lời Thiên Chúa làm nên sự hợp nhất của những lời nói cụ thể này. Như thế, Ngôi Lời không làm cho bất cứ đôi tai nào rung lên, Ngôi Lời chỉ được thốt lên và chỉ được nghe trong thinh lặng. Thiên Chúa ngỏ sự thinh lặng của Ngôi Lời cho người biết lắng nghe:

Không trung loan báo việc tay Người làm.
Ngày qua mách bảo cho ngày tới,
đêm này kể lại với đêm kia.
Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh,
mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu
và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển. (Tv 19, 4-5)

3. Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời Thiên Chúa

Thánh Phao-lô trong thư gởi Tín Hữu Roma đã trích Tv 19, nhưng một cách rất lạ lùng. Bởi vì, đối với thánh nhân “Tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển.” (Tv 19, 5) không là gì khác hơn là việc rao giảng Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô! Thật vậy, ngài đã viết trong thư gởi các tín hữu Roma:

Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô. Nhưng tôi xin hỏi: Phải chăng họ đã không được nghe giảng? Có chứ!

“Tiếng các ngài đã dội khắp hoàn cầu,
và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Rm 10, 17-18)

Theo thánh Phao-lô, sứ điệp của công trình tạo dựng và sứ điệp của các tác viên Tin Mừng là cùng một sứ điệp, đó là sứ điệp “Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời Thiên Chúa”. Như thế, điều mà thánh Phaolô cảm nhận thì thật là lạ lùng! Trình thuật, lời công bố và sứ điệp, vốn là lời sáng tạo như là chúng ta nghe được trong sự thinh lặng của Ngôi Lời, nay bỗng dưng vang vọng trong miệng của thánh nhân, cũng như trong miệng của mọi tác viên loan báo Tin Mừng, trong đó có chúng ta hôm nay.

* * *

Như thế, nếu chúng ta nghe ra sứ điệp được truyền đạt “ngày này cho ngày kia” và “đêm này cho đêm kia” kể từ khởi nguyên của thế giới sáng tạo, chúng ta sẽ nghe được sứ điệp Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô. Và ngược lại, nếu chúng ta đón nhận sứ điệp Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta sẽ nghe được sứ điệp của ngày và đêm. Bởi lẽ, cả hai, công trình sáng tạo và Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, có cùng một nội dung, đó là

Ngôi Lời Thiên Chúa; và
Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành. (Ga 1, 3)

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

Quá bận rộn để cầu nguyện?

Quá bận rộn để cầu nguyện?

Bạn có dành thời gian để cầu nguyện – đó là sự liên lạc chân thành, thân mật và “cực kỳ dễ dàng” với Thiên Chúa.

Một trong những ký ức đầu tiên mà tôi không bao giờ muốn quên: mẹ tôi dạy tôi cầu nguyện.

Tôi được ba hoặc bốn tuổi, và sớm tối khi mẹ tôi bế tôi lên giường trong phòng của tôi, trong nhà của chúng tôi trên đường Morgal, Rockville, Maryland. Mẹ tôi thì thầm: “Con hãy dâng lời cầu nguyện của con đi. Con biết cách cầu nguyện không? Con hãy cầu nguyện như thế này:

Lạy Thiên thần của Chúa, thiên thần hộ mệnh yêu dấu của con,
vì yêu thương Thiên Chúa ban thiên thần ở đây với con.
Mọi giây phút của ngày hôm nay, xin ngài hãy ở bên cạnh con
để soi sáng, bảo vệ, chỉ đường và hướng dẫn con. Amen.

Và đó là cách việc cầu nguyện đã bắt đầu nơi tôi thế nào.

Bây giờ, gần sáu mươi năm sau, tôi nhìn lại khoảng thời gian đó và nó có vẻ rất đơn giản. Cuộc sống thật đơn giản, đúng vậy. Nhưng như vậy là đang cầu nguyện. Có một sự giản dị và thuần khiết cho lời cầu nguyện đó, với tất cả những từ ngắn gọn, dễ hiểu và lời cầu xin khiêm nhường không thể chối cãi: Lạy Thiên thần hộ mệnh, xin hãy chăm sóc (canh chừng) con đêm nay.

Khi tôi lớn lên, việc cầu nguyện trở nên thách đố nhiều hơn – Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Sáng Danh, Kinh Hãy Nhớ và các Lời nguyện tắt, và sau đó là Kinh Mân côi, Kinh Tin Kính, Kinh Cầu Thánh Phanxicô, và v.v. Ôi, chuỗi Mân Côi! Làm sao tôi lại không nhớ cuộc rước tháng Năm tại trường Công giáo của Thánh Phêrô, đi bộ dưới ánh mặt trời tháng Năm, đọc râm ran mười Kinh này đến mười Kinh khác, và Chị Irênê với khuôn mặt nghiêm trang dễ thương, mặc đồ đen, đang chơi đàn Organ khi chúng tôi hát “Mẹ đồng trinh” và “Lạy Nữ vương”. Việc cầu nguyện có khó không? Có nóng nực không? Nó đã được thực hiện trong sự nóng bức?

Nhiều năm sau, khi tôi được phong làm phó tế, tôi đã học biết Phụng vụ các Giờ Kinh và cầu nguyện bằng các thánh vịnh, Kinh Ngợi khen (Magnificat) và Chúc tụng (Benedictus).

Đây đều là tất cả phần di sản tuyệt vời của Giáo Hội và mọi người Công giáo nên làm quen với những Kinh này. Nhưng không phải ai cũng có thiên hướng về việc cầu nguyện này, hay đặc biệt là thời gian để cầu nguyện.

Và đó là mấu chốt của vấn đề.

Chúng ta hãy đối diện với nó: trong một thế giới nơi việc luyện tập bóng đá, làm việc, phòng tập thể dục, các cuộc họp PTA[1], các dự án trường học, Twitter và Netflix đang thống trị cuộc sống của chúng ta, nó có thể đang thách thức và dường như khiến chúng ta không thể tìm thấy thời gian để cầu nguyện. Có những ranh giới để gặp gỡ, có những hóa đơn để thanh toán, có em bé để dùng đến tã, có những báo cáo để đệ trình, có những khu vườn để làm cỏ, những email để trả lời, cửa hàng tạp hóa để mua. Và việc cầu nguyện? Thưa chuyện với Chúa? Giữa những căng thẳng và áp lực của cuộc sống hàng ngày, nhiều người trong chúng ta mang danh Thiên Chúa một cách rỗng tuếch, mấy khi chúng ta nói đến Chúa.

Chúng ta muốn cầu nguyện, nhưng ai là người có thời gian?

Thế đấy… bạn. Bạn có (thời gian). Vâng, là bạn đó. Trên thực tế, người bận rộn không thể tìm thấy chìa khóa của bạn hoặc danh sách tạp hóa này trong tuần, nhưng lại tìm thấy thời gian để cầu nguyện. Điều đó không phải là không thể. Nếu bạn đang đọc điều này ngay bây giờ, bạn muốn biết làm cách nào bạn có thể làm những gì bạn cảm thấy được mời gọi để làm, những gì bạn muốn làm, nhưng bằng cách nào đó bạn không thể tìm thấy cơ hội để làm: hãy cầu nguyện. Để dâng lên một lời tốt đẹp lên Thiên Chúa tốt lành của chúng ta. Để duy trì kết nối cách hiệu quả và thân mật với Đấng Tạo Hóa và sẽ nuôi dưỡng linh hồn, và có thể làm một số điều tốt.

Làm sao tôi có thể làm được điều đó? Bạn đang tự hỏi.

Thật vui mừng vì bạn đã hỏi.

Có một cách để cầu nguyện khi bạn cảm thấy mình chỉ không thể. (Vâng, bạn có thể. Thật vậy).  Xây dựng một đời sống cầu nguyện ổn định và đầy đủ có thể được thực hiện, ngay cả khi bạn nghĩ rằng điều đó không thể.

Nhưng hãy lưu ý: Những công thức tôi cung cấp ở đây không có tính ma thuật, không có giải pháp dễ dàng. Điều nay không giống như một trong những chế độ ăn kiêng mà bạn có thể  cải thiện giấc ngủ và điều chỉnh chế độ ăn uống để giảm cân. Bạn sẽ phải làm một số việc. Nhưng như thánh Biển Đức đã nói khi ngài viết Quy luật nổi tiếng của mình: Tôi đã hy vọng điều luật sẽ không “khắc nghiệt hay nặng nề”.

Lời cầu nguyện tốt nhất là một hành động của tình yêu. Tại bản chất, nó thực sự nên được quyết đoán, hầu như cực kỳ đơn giản.

Tôi là một nhà văn, nhà báo, người viết blog, người kể chuyện, nhà thuyết giáo, người chồng và phó tế – một người bận rộn vẫn đang cố gắng dành thời gian để cầu nguyện. Thật không dễ dàng. Hãy tin tôi đi, tôi biết. Nhưng tôi hy vọng sẽ cung cấp một số ý tưởng về cách bắt đầu. Lời cầu nguyện tốt nhất là một hành động của sự phó thác và niềm vui vô biên, tương giao với Thiên Chúa một cách cá vị, thân mật và hoàn toàn trung thực. Đó là một hành động của tình yêu. Và tự bản chất, nó thực sự nên được quyết đoán, hầu như cực kỳ đơn giản.

Lạy Thiên thần của Thiên Chúa, Đấng bảo vệ dấu yêu của con…

Vâng, đơn giản thế thôi.

Tôi hy vọng bạn sẽ nhận thấy điều này hữu ích, một điều gì đó sẽ khuyến khích nhiều lời cầu nguyện hơn, đó là một phương tiện, như một lời cầu nguyện nổi tiếng với Chúa Thánh Thần: “Xin hãy nhóm lên (trong con)… ngọn lửa của tình yêu Thiên Chúa”.

Bạn sẵn sàng thắp lửa lên và bắt đầu cho lửa cháy rồi chứ? Vậy thì chúng ta hãy cầu nguyện. “Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy giúp con cầu nguyện ngày hôm nay”.

Đây là một tuyển lựa từ Sách Hướng Dẫn để Cầu Nguyện cho Người Bận Rộn, của Deacon Greg Kandra (The Word Among Us Press, 2019). Có sẵn tại wau.org/books

 

Bởi: DEACON GREG KANDRA
Theo The Word Among Us [/wau.org]
Prayer Resources
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

[1] PTA: Parent-Teacher Association – Hội phụ huynh-giáo viên (ở các trường học).

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Maria đã chọn phần tốt nhất – CN XVI TN C

Maria đã chọn phần tốt nhất – Chúa Nhật XVI TN C

A. DẪN NHẬP

Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng muốn được người ta tôn trọng và đón tiếp, ai cũng ca tụng tính hiếu khách vì hiếu khách là một đức tính tốt, và người hiếu khách là người có tinh thần bác ái. Sách Sáng thế cho biết ông Abraham là một người hiếu khách, ông đã mời ba người khách lạ vào lều và hầu hạ họ như tôi tớ. Đáp lại tấm thịnh tình của ông, ba vị sứ giả của Thiên Chúa loan báo cho ông biết là ông sẽ có con trai trong tuổi già (Bài đọc 1). Martha và Maria cũng là người hiếu khách, hai chị em đã đón tiếp Đức Giêsu vào nhà và đã phục vụ Ngài một cách tận tình, tuy mỗi người có một cách phục vụ khác nhau (Tin mừng).

Trong cách tương giao, câu chuyện giữa chủ và khách là một cuộc đối thoại chứ không phải là độc thoại. Theo tâm lý chung, ai cũng thích nói, muốn bộc lộ hết tâm tư cho người kia, nhưng người sành tâm lý và được người ta ưa chuộng là người biết lắng nghe, tạo cơ hội cho người kia bộc bạch hết tâm tình của mình. Trong cuộc đón tiếp Đức Giêsu vào nhà, Martha chỉ bận rộn cho bữa ăn mà bỏ quên Ngài, còn Maria thì biết tạo cơ hội cho Ngài thổ lộ tâm tình và được hiểu biết những chân lý mà Ngài muốn mạc khải cho. Trong hai cách phục vụ thì Chúa thích lối phục vụ của Maria hơn, đó là biết lắng nghe: “Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Trong cuộc sống Kitô hữu, nhất là trong cuộc sống tông đồ, sinh hoạt để làm sáng danh Chúa là một điều tốt, nhưng những sinh hoạt ấy chỉ đem lại lợi ích nếu nó được đan dệt bằng sự cầu nguyện, bằng suy niệm và bằng sự thinh lặng trong sự hiện diện của Chúa. Chúng ta đừng đặt câu hỏi: Chúa có nói với chúng ta không, mà phải hỏi ngược lại: chúng ta có thinh lặng và yên tĩnh đủ để nghe Ngài hay không ?

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: St 18,1-10a.

Bài đọc 1 hôm nay nói lên lòng hiếu khách của ông Abraham. Câu chuyện ấy như sau: Trong một bữa trưa nóng bức, Abraham đang ở trong lều thấy có ba người khách lạ đang đứng ở ngoài lều. Ông vội vàng mời ba người khách lạ vào nhà và tiếp đãi một cách rất nồng hậu: lấy nước cho họ rửa chân, lấy bột làm bánh, lấy con bê béo tốt làm thịt đãi khách. Ông không ngờ đây là ba vị sứ giả của Thiên Chúa.

Đáp lại lòng hiếu khách và quảng đại của Abraham, ba vị sứ giả đã loan báo cho ông: Thiên Chúa sẽ ban cho ông một đứa con trai đầu lòng mà ông hằng mơ ước, mặc dầu hai ông bà đều già quá tuổi sinh con.

+ Bài đọc 2: Cl 1,24-28.
Mầu nhiệm được giữ kín nơi Thiên Chúa, nay được vén mở: đó là bản thân Đức Kitô, Đấng cứu độ chúng ta. Là những người được hưởng nhờ mầu nhiệm này, chúng ta cũng phải chia sẻ cho người khác biết.

Thánh Phaolô đã hiểu được mầu nhiệm này, ngài cũng muốn chia sẻ cho người khác khi Ngài thi hành sứ mạng tông đồ. Vì thế, ngài vui sướng vì được chịu đau khổ, biến những đau khổ ấy thành niềm vui. Sở dĩ có được tinh thần ấy vì ngài ý thức rằng nhờ đó mà ngài được bổ khuyết nơi thân xác mình những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô.

+ Bài Tin mừng: Lc 10,38-42.

Khi Đức Giêsu đến viếng thăm Martha và Maria, ta thấy mỗi người có một cung cách tiếp khách: Martha thì cho, còn Maria thì nhận. Martha thì bận rộn lo đủ mọi chuyện để dâng cho Đức Giêsu một bữa cơm ngon miệng. Cô bận rộn đến nỗi phải xin Ngài bảo em giúp mình một tay. Còn Maria thì không làm gì cả, cô chỉ cung kính lắng nghe những lời Ngài dạy.

Câu chuyện này dạy cho chúng ta một bài học: điều Thiên Chúa muốn, không phải là chúng ta làm cho Ngài điều này điều nọ mà là để Ngài giáo huấn chúng ta, để chúng ta được biến đổi nhờ những lời giáo huấn ấy. Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi: biết lắng nghe Lời Chúa.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Lắng nghe Lời Chúa

Truyện mở đầu : Vị vua đến thăm

 Ngày xưa có một vị vua muốn tìm cách giúp cho dân nước ấm no và hạnh phúc. Vua dự tính đi thăm viếng dân làng và hỏi ý kiến họ về tình hình đất nước. Nhà vua gửi sứ giả đến trước gặp hai gia đình ngài muốn thăm viếng để hỏi họ về những niềm hy vọng và ước mơ cho quê hương xứ sở.

Ngày đầu tiên vua đến với gia đình thứ nhất. Vì muốn làm cho vua vui lòng bằng một bữa tiệc với những đồ ăn ngon quí giá chưa từng có, nên khi vua đến nơi, gia đình chủ nhà vẫn còn đang bận rộn vất vả dọn tiệc linh đình. Nhà vua và các quan cận thần phải ngồi ở sân trước nhà để chờ đợi họ sửa soạn bữa ăn. Bữa ăn rất ngon, nhưng khi dọn lên thì mọi người trong gia đình đã quá mỏi mệt, không còn thì giờ và hứng thú để nói chuyện với vua về những điều vua muốn biết. Vua ra về và không mấy hài lòng.

Ngày hôm sau, vua đến thăm nhà thứ hai. Cả nhà ra đón tiếp vua một cách niềm nở. Mặc dù họ chỉ chuẩn bị một bữa ăn rất đơn sơ đạm bạc, nhưng buổi tối hôm đó mọi người trong gia đình đều ngồi quây quần bên vua, chia sẻ cởi mở những uớc mơ và niềm hy vọng của gia đình và dân làng. Họ rất phấn khởi khi vua cho họ biết những dự tính muốn thực hiện cho đất nước. Mặc dù không ăn uống thịnh soạn như tối hôm trước, nhưng khi ra về vua rất hài lòng với buổi gặp gỡ đúng như ý ngài muốn.

Bài Tin mừng hôm nay (Lc 10, 38-42) cũng mang một nội dung như vậy: chị em Martha và Maria tiếp đón Đức Giêsu vào nhà mình, mỗi người có một cung cách tiếp đón. Vậy Đức Giêsu thích cách tiếp đón nào? Của Martha hay của Maria?

I. CÂU CHUYỆN NGƯỜI TIẾP ĐÃI KHÁCH

1. Ông Abraham tiếp đón khách

Bài sách Sáng thế ghi lại việc ông Abraham tiếp đãi sứ giả của Thiên Chúa một cách nồng hậu. Abraham đang ngồi hóng mát trước cửa lều trong buổi trưa nóng bức. Ông thấy ba người khách lạ đi ngang qua. Ông vội chạy ra mời họ quá bộ vào nghỉ mát, bưng nước cho khách rửa chân, dẫn khách nằm nghỉ dưới bóng cây. Ông bắt con bê béo làm thịt. Bà nhồi bột làm bánh. Ông hầu hạ khách như mình là tôi tớ. Đáp lại lòng hiếu khách của ông, sứ giả nói với ông: “Sang năm vào độ này, tôi sẽ trở lại thăm ông, và khi đó bà Sara vợ ông sẽ có một con trai”.

2. Martha và Maria đón tiếp Đức Giêsu

Trên đường tiến về Giêrusalem, Đức Giêsu ghé vào nhà chị em Martha, Maria và Lazarô ở làng Bêtania, cách Giêrusalem ba cây số. Martha đón rước Đức Giêsu vào nhà. Cô là chủ nhà và chưa có gia đình vì cô đón tiếp khách. Nếu có chồng thì chồng sẽ tiếp đón khách. Cách đón tiếp của Martha đã chứng tỏ rằng gia đình này đã từng quen biết Ngài và đã có nhiều lần Ngài đến nhà như người quen biết thân mật (Ga 11,1-14).

Hai chị em có hai tính tình khác nhau: Martha là một người hoạt động, còn Maria là một người trầm lặng. Cô Maria cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Ngài. Còn cô Martha thì lăng xăng lo lắng đón tiếp Chúa, một vị khách quý mà cô muốn bày tỏ hết lòng kính trọng. Martha cảm thấy khó chịu vì cô em không giúp mình một tay, sợ trễ giờ, đến nỗi phải xin Chúa can thiệp, với một giọng trách móc:”Xin Thầy bảo em con giúp con với”.

Không biết câu trả lời của Đức Giês có làm cho Martha buồn không: “Martha, Martha, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi : Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không ai lấy mất” (Lc 10,42).

II. CÂU CHUYỆN NGƯỜI PHỤC VỤ VÀ LẮNG NGHE

Như vậy, Martha và Maria xuất hiện ở đây như hai môn đệ nhiệt thành đón tiếp Đức Giêsu Thầy mình, nhưng Maria chỉ lắng nghe Lời Thầy, còn Martha lo dành riêng cho Thầy một sự đón tiếp nồng hậu.

1. Một Martha năng động

Martha là con người rất yêu mến Đức Giêsu, biết quan tâm tới sức khỏe của Ngài. Trên cuộc hành trình đi vào làng, Ngài mệt mỏi, đói bụng, phải được ăn uống bồi dưỡng để tiếp tục đi rao giảng Tin mừng. Sự lo lắng cho sức khỏe của người khác là nét tinh tế của người phụ nữ. Vì yêu Chúa nhiều, Martha mới lo lắng và lăng xăng như thế. Trong khi đó Ngài lại trách yêu Martha: “Martha, Martha, con lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá” (Lc 10,42). Nói như vậy, phải chăng là Ngài phê bình Martha chỉ đặt trọng tâm vào việc ăn uống ?

Căn cứ vào sự kiện Martha hối thúc nói với Maria giúp cô, một học giả Rachel Conrad Wehberg giải thích với một nét nhân từ hơn: Người ta phải suy luận rằng đây là công việc trong bếp hai người đã quen làm. Maria vẫn thường phụ giúp Martha. Nếu họ đã phân chia công tác: Martha nấu ăn, Maria tiếp khách, thì chẳng có vấn đề gì, vì mỗi người đều chấp nhận và kính trọng nhau. Nhưng ở đây, theo thói quen, cả hai chị em cùng làm công việc nấu nướng. Nếu cả hai cùng làm, sẽ mau có bữa ăn hơn, và cả hai chị em đều có cơ hội ngồi tâm sự với Chúa lâu giờ hơn. Do đó, Martha than phiền không phải vì bà chỉ bận tâm đến việc ăn uống, cũng không phải vì ghen tương, nhưng vì trái tim bà hối thúc muốn được cùng lắng nghe Lời Chúa, cùng ở bên Chúa với Maria. Đó là lý do Martha đã than phiền (Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa giữa lòng đời, năm C, tr 255-256).

Tuy nhiên, Đức Giêsu đang trong lúc bồn chồn lo lắng chuẩn bị cho cuộc tử nạn, Ngài muốn có người biết chia sẻ tâm tình hơn để làm vơi nỗi lòng mình, còn việc ăn uống lúc này thì chỉ là phụ thuộc, không cần thiết mấy. Maria đã đáp ứng đúng tâm trạng của Đức Giêsu.

Truyện: Thèm lòng chứ không thèm thịt.

Một người cha có thói quen, sau giờ làm việc, đi dạo chung với cô con gái. Ông cảm thấy rất hạnh phúc được chuyện trò với con. Thình lình, cô gái bắt đầu cáo lỗi vì không thể đi dạo hằng ngày với cha được. Người cha cảm thấy đau khổ nhưng không nói ra. Sau cùng vào ngày sinh nhật của ông, cô con gái mang đến tặng cha một cái áo len mà cô mới đan. Người cha đã nhận thấy rằng cô con gái đã đan áo len trong lúc ông đi dạo một mình. Ông nói với con: “Martha. Martha, Ba rất quí chiếc áo này. Nhưng Ba thích con đi dạo với Ba hơn. Một cái áo len Ba có thể mua ở bất cứ tiệm bán quần áo nào. Nhưng con gái cưng của Ba, Ba không thể mua được. Con làm ơn đừng bao giờ bỏ rơi Ba nữa nhé”.

2. Một Maria trầm lặng

Cả hai chị em đều có đức tính đáng khen, cả hai đều yêu kính Thầy và ước ao được làm vui lòng Thầy. Nhưng trong dịp này vì lòng nhiệt thành phục vụ, Martha đã làm quá nhiều để sửa soạn một bữa ăn ngon lành. Còn Maria thì trực giác hơn được điều Chúa muốn, nên cứ ngồi dưới chân Chúa mà nghe Lời Ngài dạy. Cô biết Ngài mong ước được mạc khải chính mình, muốn ban cho họ những sứ điệp từ trời, không phải vì lợi ích cho Ngài, mà vì phần rỗi của nhân loại. Bởi vậy, theo nghệ thuật tiếp khách, cô phải để ý đến ý muốn của vị khách trước, phải lắng nghe người khác nói. Trong việc tiếp đãi Thầy, cô đã làm được việc lớn hơn chị cô.

Bà Carnegie viết rất nhiều sách học làm người nổi tiếng. Trong cuốn “Đắc nhân tâm”, bà viết: “Cách làm cho khách vui lòng nhất là lắng nghe khách nói, lắng nghe ước muốn, nguyện vọng, tâm tư của người khác. Như vậy, tỏ ra mình kính trọng, quan tâm đến người để hiểu biết, thông cảm, chia sẻ những tâm tình, những kiến thức, những yêu cầu thiết thực của người, quí hơn cả cơm ăn, áo mặc”.

Truyện: Tổng thống Abraham Lincoln chia sẻ

Trong lịch sử nước Mỹ, trong những ngày đen tối nhất của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln viết thư mời ông bạn cũ ở Illinois tới Washington để thảo luận vài vấn đề. Ông bạn tới Bạch cung là Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ thông báo ông định công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Tổng thống ôn lại tất cả các lý lẽ bênh vực cho các đạo luật ấy và những lý lẽ phi bác lập trường đối nghịch. Ông lại đọc cả những bức thư và bài báo về vấn đề đó, trong đó nhiều người trách ông chần chừ chưa phế bỏ chế độ nô lệ, lại có những bài chỉ trích vì ông có ý tiến hành việc ủng hộ chế độ nô lệ. Sau khi hăng hái nói một hồi lâu, Lincoln bắt tay ông bạn già, chúc ông ta bình an và tiễn ông ta trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến gì hết. Lincoln đã nói, đã trút bỏ những nỗi suy nghĩ đang đè nặng trong lòng ông, như vậy đầu óc ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: “Khi Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn”. Lincoln chỉ cần một người bạn thân thiết biết nghe ông nói và hiểu lòng ông để ông trút bầu tâm sự của ông thôi.

3. Một sự cần thiết mà thôi

Đức Giêsu trả lời cho Martha: “Martha, Martha, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không ai lấy mất”. Câu trả lời của Đức Giêsu đã gây nên nhiều tranh luận và tùy cách hiểu mà dịch ra khác nhau.

Một cách theo như nghĩa trong truyện thì cô Martha lo lắng cho nhiều làm chi, một món ăn là đủ rồi.

Một cách khác theo như bản Phổ thông lấy theo nghĩa thiêng liêng. Đối nghịch với những bận rộn đón tiếp của cô Martha, chỉ có một sự cần thiết là lắng nghe Lời Chúa.

Ở đây thực ra không có ý so sánh những của đời này với của duy nhất trên trời, mà là lấy làm hơn thái độ của Maria chăm chú nghe Chúa, cô Martha chia trí lo lắng quá nhiều sự. Vì thế, Đức Giêsu đã tuyên bố Maria đã chọn phần nhất là nghe Lời Chúa.

III. CÂU CHUYỆN NGƯỜI TÔNG ĐỒ BIẾT LẮNG NGHE

1. Lạc giáo hoạt động (Hérésie de l’action)

Ngày nay, trong Giáo hội, có phong trào tư tưởng cho rằng Giáo hội phải lăn xả vào công việc xã hội nhiều hơn, phải đi đến với người nghèo trước đã. Đạo có chiều dọc và chiều ngang. Hàng dọc hướng về Thiên Chúa, hàng ngang hướng về anh em. Tư tưởng dấn thân trước tiên cho kẻ khác được cổ võ mạnh. Môn Thần học Giải phóng muốn đặt lại căn bản Đức tin: Mến Chúa yêu người, nhưng cứu người trước đã. Từ ngữ “giải phóng” được đem thay thế từ ngữ “cứu rỗi” của Thần học, vì “nó minh bạch và sáng sủa hơn”(Seguido – Hồng Phúc, Suy niệm Lời Chúa, năm C, tr 99).

2. Hoạt động và lắng nghe

Tuy Đức Giêsu chấp nhận lòng hiếu khách của Martha với lòng biết ơn, và đánh giá đúng mức những cố gắng cô thực hiện để tiếp khách cho tốt đẹp, Nhưng dù sao Ngài cũng muốn cô khám phá một điều còn quan trọng hơn, một điều khẩn thiết bậc nhất và duy nhất, mà cô liều mình quên mất: đó là lắng nghe Lời Chúa. Và, vì đã bỏ tất cả để chỉ giữ “một chuyện cần thiết”, mà Maria, em cô, đã tỏ mình là một môn đệ gương mẫu hoàn hảo nhất.

R. Meynet chú giải thêm: “Martha đón tiếp Đức Giêsu vào nhà. Chúa vừa bước vào, thì cô đã bỏ Ngài đó, để lo trăm nghìn chuyện. Vịn cớ phục vụ Ngài, cô tất bật, cô lo lắng mọi sự chỉ trừ Chúa ra. Việc phục vụ của cô lấn lướt cả vị khách của cô. Cô lăng xăng, lo lắng, sợ rằng mình không tiếp đãi đúng mức với vị khách quí. Về phần Maria cô giữ một thái độ xứng hợp nhất, ngồi bên chân Đức Giêsu, trong tư thế của người môn đệ. Cô không làm gì, không nói gì, cô chỉ ngồi và nghe. Cô đã quên tất cả mọi sự, ngoài Chúa. Cô quên chính mình. Cô dành cả con mắt, lỗ tai để nhìn và nghe Lời Chúa. Cô cũng đón tiếp Đức Giêsu hơn ai hết, với phong cách tốt nhất. Nhìn cô, người ta dám nói rằng : chính cô được Ngài tiếp đón mới đúng (Fiches dominicales, năm C, tr 253-254).

Ngày nay, người đàn bà danh tiếng nhất thế giới là một nữ tu bác ái, một Martha thời đại: chân phước Têrêsa Calcutta. Bà đã hiểu và truyền lại cho con cái thiêng liêng của Bà tinh thần bài Tin mừng hôm nay. Cầu nguyện trước khi hoạt động. Mỗi ngày để ra một giờ để chầu Mình Thánh Chúa trước khi xuống “địa ngục Calcutta” để săn sóc kẻ nghèo hoặc đi vào trong các “nhà chết”.

Trong khi tiếp xúc với Chúa chúng ta phải biết trao đổi như người ta nói: “Có đi có lại mới toại lòng nhau”, nghĩa là phải biết nói và biết nghe, biết cho và biết nhận. Nhiều khi chúng ta rất hào phóng chỉ biết cho Chúa mà không biết nhận. Trong lúc Chúa muốn cho chúng ta tạo điều kiện để Chúa có cơ hội ban cho chúng ta nhiều ơn, để chúng ta tiếp nhận, nhưng tiếc thay, Ngài không có cơ hội.

Câu chuyện trong Tin mừng cho chúng ta thấy sự khác biệt chủ yếu giữa Martha và Maria. Martha không có khả năng nhận, trong khi Maria thì có. Maria cho Chúa món quà là một tâm trí mở rộng và một tâm hồn mẫn cảm. Còn Martha, trong lúc rất tốt, rất hào phóng khi cho, lại rất nghèo khi nhận. Cả Chúa cũng không thể cho cô điều gì.

3. Quân bình trong hoạt động và lắng nghe

Đặt thái độ của Martha và Maria đối chọi nhau và nghĩ rằng chỉ có một phía đúng, là quá vội vàng. Maria lắng nghe Lời Chúa, còn Martha tất bật lo phục vụ Chúa. Mỗi cô mỗi cách, họ đều muốn giữ chân Chúa nghỉ lại, trên đường lên Giêrusalem. Cô này bằng cách phục vụ, thì làm tất cả những gì có thể làm cho Ngài; cô kia bằng cách lắng nghe lời Chúa, thì cố gắng ghi nhớ lời Ngài, lời của Thiên Chúa.

Trong cuộc sống của người môn đệ, có lúc “tất bật”, và có lúc “lắng nghe”. Tuy nhiên, không thể có hoạt động tốt nếu không lắng nghe tốt. Maria đã thành công khi tạo cho mình một thái độ không thể thiếu của một môn đệ: là ngồi dưới chân Đức Giêsu, cô quên mọi sự khác, để toàn tâm chú ý vào Chúa và lời Ngài… Nhưng sau đó, có lẽ cô sẽ là một tông đồ hoạt động vì Thầy mình (Fiches dominicales).

Các triết gia Tây phương có khuynh hướng hoạt động cho rằng Chúa không làm gì, con người làm hết. Các triết gia Đông phương trái lại ưa thích thuyết tĩnh học, để Chúa làm hết và con người không làm gì. Nhưng khuôn vàng thước ngọc của chúng ta là: “Cầu nguyện và hoạt động”. Martha phải đi đôi với Maria. Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động, và hoạt động là kết quả của cầu nguyện.

P. Graef nói một câu rất thâm thúy: “Hoạt động mà không có cầu nguyện là thiếu nguyên tắc căn bản, cầu nguyện mà không có hoạt động là thiếu đất gieo hạt”.

Một nhà tâm lý trị liệu và nhà văn Mỹ, ông Thomas Moore nói: “Không còn nghi ngờ việc một số người có thể tiết kiệm chi phí và tránh cho mình sự phiền toái về tâm lý trị liệu chỉ vì họ đã dành mỗi ngày ít phút để nguyện ngắm. Hành động đơn giản này cung cấp cho họ điều họ thiếu trong cuộc sống – một thời gian bất động chủ yếu là để nuôi dưỡng linh hồn”.

Truyện: Bác học Ampère cầu nguyện

Frédéric Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin trầm trọng lúc còn là sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère. Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học lên tiếng hỏi:
– Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?
Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ:
– Thưa giáo sư, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép giáo sư cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin!
Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn:
– Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm.
Chàng sinh viên liền hỏi:
– Thưa giáo sư, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?
Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh vên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:
– Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi.

4. Sống dưới sự hiện diện của Thiên Chúa

Đời sống Kitô hữu phải được đan dệt bằng hoạt động và cầu nguyện. Các tu sĩ sống đời chiêm niệm không phải chỉ có cầu nguyện mà còn phải làm việc; còn các tu sĩ sống đời hoạt động cũng phải cầu nguyện chứ không phải chỉ có hoạt động. Cha Don Marmion nói: “Sự cầu nguyện hỗ trợ cho công việc tông đồ là linh hồn của mọi sứ vụ truyền giáo”.

Người Kitô hữu sống ở trần gian, nhiều lúc phải tất bật với những công việc, nhưng không thể thiếu được sự cầu nguyện. Đối với nhiều người, cầu nguyện chủ yếu là đọc kinh, nhưng đọc kinh chỉ là một trong những hình thức cầu nguyện. Cốt yếu của sự cầu nguyện là kết hợp với Chúa. Nhiều khi chúng ta không đọc kinh, chỉ thinh lặng trước sự hiện diện của Chúa cũng là một cách cầu nguyện rất hay. Thinh lặng cũng là một cách cầu nguyện.

Có lẽ kinh nguyện có lợi nhất là ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, không làm gì cả. Chỉ ngồi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, như Maria ngồi trong sự hiện diện của Đức Giêsu. Nếu chúng ta dành một số thời giờ cho việc cầu nguyện và suy niệm, hoặc chỉ cần ngồi thinh lặng trong sự hiện diện của Thiên Chúa, thì không phải là thời gian lãng phí mà là thời gian được sử dụng tốt. Mỗi ngày chúng ta phải cố gắng, dù trong một thời gian ngắn, tìm kiếm khuôn mặt của Thiên Chúa.

Với cái nhìn nông cạn, nhiều người cho là phần việc của Maria có vẻ dễ dàng vì chỉ có ngồi đó, còn phần việc của Martha thì khó khăn hơn. Nhưng nếu suy cho kỹ, chúng ta có thể thấy ít nhất đôi khi, phần việc của Maria khó khăn hơn nhiều trong hai phần việc ấy. Gạt bỏ công việc của mình và chú trọng hoàn toàn vào người khác không dễ dàng. Đem sự chú tâm trọn vẹn ấy vào Thiên Chúa lại càng khó khăn hơn. Nhưng đó là linh đạo sinh lợi ích rất lớn lao.

Truyện: Dưới sự hiện diện của Thiên Chúa

Tổng Giám mục Anthony Bloom kể lại rằng người đầu tiên đến xin Ngài một lời khuyên khi ngài được truyền chức thánh là một bà cụ. Bà nói:
– Thưa cha, con đã cầu nguyện hầu như không ngừng suốt bốn mươi năm, và con chưa bao giờ có cảm giác gì về sự hiện diện của Thiên Chúa.
Ngài hỏi:
– Con có để cho Thiên Chúa có cơ hội lên tiếng không?
Bà nói:
– Ồ không! Con đã nói với Người suốt thời gian ấy. Như thế không phải là cầu nguyện sao?
Ngài nói:
– Không. Cha không nghĩ như thế. Bây giờ cha gợi ý thế này : con hãy dành riêng mười lăm phút để chỉ ngồi trước mặt Thiên Chúa.
Và bà đã làm như thế. Kết quả là gì? Không lâu sau, bà trở lại và nói:
– Thật lạ lùng, khi con cầu nguyện cùng Thiên Chúa, nói cách khác, khi con nói với Người, con không thấy điều gì. Nhưng khi con ngồi thinh lặng, yên tĩnh mặt đối mặt với Người, con cảm thấy được bao trùm trong sự hiện diện của Người (Flor McCarthy, Phụng vụ Chúa nhật, năm C, tr 514-515).

Để kết thúc bài chia sẻ hôm nay, trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cần xác tín rằng: “Câu hỏi thường đặt ra không phải Thiên Chúa có nói với chúng ta hay không, nhưng là chúng ta có thinh lặng và yên tĩnh đủ để lắng nghe Ngài hay không”.

Lm Giuse Đinh Lập Liễm

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Vì sao giới trẻ Công Giáo ngày nay lơ là với đời sống Đức tin?

Vì sao giới trẻ Công Giáo ngày nay lơ là với đời sống Đức tin?

Vừa qua, trên trang web có bài viết nhan đề “Người trẻ còn thiết tha với tôn giáo?”, qua đó tác giả đã đưa ra cái nhìn khái quát về tình hình sống đạo của các bạn trẻ Công giáo. Theo tác giả bài viết này, ta có thể chia ra làm hai thành phần:

Thành phần thứ nhất là những bạn tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt đối với đời sống tôn giáo, lý do vì cuộc sống vất vả, đầu tắt mặt tối, không còn thời gian và hơi sức dành cho đời sống đức tin nữa. Có chăng mỗi tuần cố gắng đi lễ chủ nhật, mỗi năm xưng tội một lần, theo luật buộc. Thế thôi! Trong khi, đời sống xã hội có muôn vàn hấp hẫn khiến họ khó có thể từ chối “nhập cuộc”, chẳng hạn ăn uống tiệc tùng, du lịch, đi phượt, bạn bè, đam mê mạng xã hội vv. Những thứ này chắc chắn sẽ hấp dẫn họ hơn là Thánh Kinh hay các sinh hoạt đoàn thể Công giáo…

Thành phần thứ hai, theo tác giả bài viết, là những bạn trẻ Công giáo vẫn trung thành với đời sống đức tin chân chính. Họ vẫn còn trung thành đến với Thiên Chúa nơi thánh lễ, các bí tích. Họ cũng phấn khởi tham gia hội đoàn, nhóm trẻ sinh viên Công giáo vv. Trong những vui buồn của cuộc sống, họ vẫn biết chạy đến với Thiên Chúa như chỗ dựa tinh thần. Với họ, tôn giáo luôn là mối bận tâm để giúp họ cân bằng cuộc sống. Hơn nữa, họ giúp nhau đến với Thiên Chúa và cùng nhau vượt qua những khó khăn. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng số người trẻ này quả là quá ít ỏi so với dân số Việt Nam. Và chiếm số đông vẫn là thành phần thứ nhất. [1]

Bên cạnh đó, khi bàn về đức tin của giới trẻ trong đời sống hôm nay, tác giả Lô-ren-sô Vũ Văn Trình MF, cũng đã phác họa khá chi tiết và cụ thể về thực trạng sống đức tin của giới trẻ hiện tại. Bài viết có đoạn sau:

“Hiện nay vẫn còn một số bạn trẻ làm cho chúng ta không khỏi thất vọng và lo lắng cho thế hệ tương lai…Các nhà lãnh đạo tôn giáo rất lo ngại trước vấn đề đạo đức của giới trẻ bị sa sút!

 “Tại một số xứ đạo, các bạn trẻ đi lễ đang giảm dần một cách trầm trọng, nhiều bạn trẻ ngày nay coi việc đi lễ là một gánh nặng. Đi vì bổn phận, hoặc vì gượng ép. Họ đến nhà thờ là do cha mẹ thúc giục, không đi không được, hoặc vì không đi sợ mắc tội chứ không vì niềm tin và lòng mến. Họ có mặt ở nhà thờ nhưng không hề ý thức mình đang có mặt ở đó để làm gì, chỉ mong sao giờ lễ mau kết thúc.

“Và vẫn còn những điều đáng buồn khác, nhiều bạn trẻ ngày nay sống đức tin rất hời hợt. Có dịp tiếp xúc với các bạn trẻ đang học lớp giáo lý hôn nhân, tôi thật ngỡ ngàng về một số đông không biết gì về giáo lý căn bản, ngay cả những kinh đọc hằng ngày họ cũng không thuộc. Họ mang danh nghĩa là đạo gốc nhưng dường như họ theo đạo chủ yếu làm cho cha mẹ vui lòng, không ý thức mình là người Kitô hữu. Một bạn trẻ nói: ‘Những việc như đi nhà thờ, đọc kinh và cầu nguyện chỉ là do thói quen, cũng như do áp lực của những người thân’.

“Như vậy, hơn bao giờ hết, ngày nay, đức tin của giới trẻ chúng ta đang xuống dốc trầm trọng. Ở một vài giáo xứ, số lượng người trẻ đi học giáo lý ngày càng ít đi. Và người ta không còn thấy bóng dáng bạn trẻ đi tham dự Thánh lễ hằng tuần. Và nếu có đi, thì ghế ngồi của họ là ‘xe ôm’, hoặc tụ tập thành nhóm đứng ngoài lề trò chuyện, hút thuốc cho qua giờ lễ… Một người mẹ chia sẻ: ‘Mỗi lần tôi nhắc nhở đứa con trai đi tham dự Thánh lễ, nó trả lời rằng: Thời đại này, đến nhà thờ làm gì hả mẹ? Chỉ cần mình tin có Chúa là đủ. Mẹ thử nghĩ xem, mấy đứa bạn con có đi lễ đâu mà nhà nó vẫn giàu có đấy thôi”. [2]

Nhân đây, xin nhắc lại là, trong Thư Mục vụ năm Đức Tin 2012, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng lên tiếng nhấn mạnh như sau:

“Tại Việt Nam, phần đông các tín hữu vẫn trung thành dự lễ Chúa nhật, kể cả ngày thường. Đa số các gia đình công giáo vẫn là cái nôi nuôi dưỡng và thông truyền đức tin cho con cái. Tuy nhiên, nơi một số người, việc giữ đạo chỉ theo tập tục và thói quen, chưa trở thành xác tín cá nhân và động lực cho những chọn lựa quan trọng trong đời sống. Nơi một số người khác, đời sống đức tin quá thiên về tình cảm, chỉ giới hạn vào một số thực hành nghi lễ và luân lý. Ngoài ra, do ảnh hưởng của thời đại đề cao lối sống vật chất và hưởng thụ, nhiều người trẻ công giáo ngày nay cảm thấy bị lung lạc trong đời sống đức tin, nhiều đôi vợ chồng trẻ không còn ý thức trách nhiệm thông truyền đức tin cho con cái (số 5)”.

Quả vậy, thực trạng giới trẻ ngày nay lơ là với đời sống tôn giáo, lung lạc trong đời sống đức tin, không quan tâm tới việc sống đạo…là điều quá rõ ràng. Và nếu chúng ta tìm hiểu kỹ hơn thì thấy rằng thực trạng ấy đã xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chính vẫn là sự khủng hoảng trầm trọng về niềm tin tôn giáo của giới trẻ trong thời hiện đại và sự thiếu sót quá lớn trong việc giáo dục đức tin cho giới trẻ.

* TỪ THỰC TRẠNG THỬ TÌM RA NGUYÊN NHÂN

Chúng ta có thể tạm thời liệt kê ra đây một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giới trẻ Công giáo lơ là đời sống đức tin, như sau:

– Có thực mới vực được đạo!

Khi nói đến vấn đề sống đạo, thực hành đức tin, nhiều bạn trẻ phản ứng ngay, “Có thực mới vực được đạo!”. Điều đó có nghĩa là đời sống vật chất, vấn đề “cơm-áo-gạo-tiền” đã chi phối toàn bộ cuộc sống của người Ki-tô hữu trẻ. Từ sáng sớm đến tối mịt, từ ngày này qua ngày kia, từ tháng này qua tháng nọ, người ta đầu tắt mặt tối lao vào việc kiếm việc, kiếm tiền, củng cố sự nghiệp. Điều đó không có gì đáng trách nhưng sẽ là một mối nguy cơ lớn nếu tiền bạc, vật chất ảnh hưởng xấu tới đời sống tâm linh, tôn giáo. Thực vậy, “Do ảnh hưởng của thời đại đề cao lối sống vật chất và hưởng thụ, nhiều người trẻ Công giáo ngày nay cảm thấy bị lung lạc trong đời sống đức tin, nhiều đôi vợ chồng trẻ không còn ý thức trách nhiệm thông truyền đức tin cho con cái”. [3]

Tuy nhiên, bạn trẻ chúng ta sẽ phải đối mặt với hai trường hợp: khi vấn đề “thực” là cấp bách thì có thể chúng ta lấy lý do “cơm áo gạo tiền” để biện minh cho việc chọn lựa cái gì là ưu tiên, là khẩn thiết. Lúc đó chúng ta quên “đạo” hay xếp “đạo” vào hàng thứ yếu. Nhưng đến khi chúng ta đã cơm no, áo ấm, thì liệu cái “thực” có vực được cái “đạo” không, hay là chúng ta liều đánh mất “đạo” để bảo đảm cái “thực”, để sống theo hấp lực của vật chất, tiền bạc. “Có tiền mua tiên cũng được” hay “Đồng tiền liền khúc ruột”…

Người ta nhận thấy, chính trong cuộc sống dư thừa, giầu có, sung túc mà các bạn trẻ lại dễ dàng xa Chúa, đánh mất gốc đạo của mình và rời bỏ đức tin. Về vấn đề này, một tác giả đã đưa ra nhận định sau:

“Về phương diện vật chất dường như họ không thiếu sự gì, nhưng cái ‘thực’ nó cũng chẳng vực được cái ‘đạo’, đáng buồn hơn nữa là nó còn làm mất luôn cái ‘đạo’. Càng những ông to bà lớn, càng những cậu ấm cô chiêu thì càng suy thoái đạo đức, tung tiền qua cửa sổ vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng, nhất dạ đế vương. Con nhà nghèo, không có ‘thực’ lấy tiền đâu ra mua thuốc ‘lắc’, uống rượu ngoại, chích xì ke? Họ chẳng biết bám víu cậy nhờ vào ai trên thế gian này, cho nên chỉ còn biết ngửa mặt lên phó thác vào Lòng Thương Xót Chúa. Chính những con người khốn khó cơ cực đó lại vực lên được cái ‘đạo’ thì sao? Nhìn sang những nước văn minh tiên tiến giầu có ở Âu Châu, ở Hoa Kỳ, có biết bao nhà thờ phải đóng cửa, phải bán đi vì không có ai đến tham dự thánh lễ nữa. Có nhiều nhà dòng, chủng viện phải chuyển đổi mục đích sử dụng vì không còn người đi tu nữa. Cái ‘thực’ nó có vực được cái ‘đạo’ nơi những quốc gia giầu có này không?

“Vì thế muốn đặt vấn đề ‘có thực mới vực được đạo’ cho đúng đắn, chúng ta phải cậy nhờ vào Kinh Thánh. Lời Chúa như thế này: ‘Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần, ai làm tôi Đức Kitô như vậy thì được Thiên Chúa vui lòng chấp nhận’. Qua miệng ngôn sứ Giêrêmia, Thiên Chúa nói: ‘Ta sẽ ban cho chúng một tấm lòng, để chúng không lìa bỏ Ta’ (Gr 32, 39). Chúa không nói: ‘Ta sẽ cho chúng ăn no để chúng không bỏ Ta’. [4]

– “Thiên Chúa đã chết!?”

Triết gia vô thần (Friedrich Nietzsche*1844-1900) đã khẳng định “Thiên Chúa đã chết!” (Dieu est mort). Có thể nhiều Ki-tô hữu chúng ta, nhất là các bạn trẻ, đang sống mà như không có Thiên Chúa. Chúng ta đã khai tử Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống chúng ta, mặc dù trên danh nghĩa chúng ta là kẻ có đạo!

Nhiều Ki-tô hữu, nhất là giới trẻ, chỉ quan tâm giữ đạo một cách hình thức, theo thói quen và theo nếp cũ, họ nghĩ rằng làm một vài việc theo luật buộc là đủ, là yên tâm “mình có đạo”. ĐHY Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã nhắc nhở rằng, đừng coi trọng công-việc-của-Chúa ngang bằng Chúa được. Chúng ta tích cực “hành đạo” mà điều cốt lõi trong lệnh truyền của Chúa là “Mến Chúa – Yêu Người” thì ta bỏ sót, không quan tâm.

Thực vậy, “Giữ đạo đơn giản là giữ đúng những gì mà Giáo Hội yêu cầu: Đi lễ mỗi ngày Chúa nhật, xưng tội rước lễ một năm ít là một lần… Vậy mà vẫn có một số người, đặc biệt là giới trẻ họ vẫn không giữ được đạo của mình. Có người vì tiến thân trong công việc hoặc địa vị xã hội đã không dám xưng mình là người theo đạo Thiên Chúa trong tờ sơ yếu lí lịch khi đi học, xin việc làm hoặc vào Đoàn, vào Đảng. Có người không dám bày biện bàn thờ trong nhà khi ở trong khu phố có nhiều Đảng viên. Trong nhà hàng, quan sát những khách ăn sáng, ăn trưa hay ăn tối… có mấy người theo đạo dám ‘làm dấu thánh giá’ trước bữa ăn? Có một số người lại mặc cảm, không dám xưng mình theo đạo trong các cuộc gặp gỡ bạn bè. Hoặc rất ít gia đình tổ chức đọc kinh gia đình mỗi ngày, hoặc đọc kinh trước bữa ăn, mặc dầu chỉ là một kinh lạy cha”. [5]

Xét thực tế trên, phải chăng chúng ta đã “quên mất” Thiên Chúa rồi chăng? Và chúng ta có khác gì người vô thần không?

– Mục tử và con chiên: cung không đủ cầu!

Có một thực tế mà ngày nay ai cũng có thể nhận ra, đó là “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Hay nói theo kiểu kinh tế, thì cung không đủ cầu, nghĩa là số lượng mục tử quá ít, không đáp ứng nhu cầu chăm sóc con chiên quá đông… Khi mục tử không còn đủ sức lực, thời gian, tâm trí để phục vụ con chiên nữa thì một số chiên sẽ bơ vơ lạc lõng, một số chiên sẽ tan đàn, mạnh ai nấy sống, đường ai nấy đi.

Liên quan đến vấn đề này, một tác giả đã viết như sau:

“Nếu xét theo qui luật cung cầu thì trong Giáo hội Việt Nam hiện nay, người linh mục không cần giáo dân mà giáo dân cần linh mục; nghĩa là cung không đủ cầu. Chính điều đó làm cho người linh mục càng ngày càng ít quan tâm đến việc ‘lên đường đi tìm con chiên lạc’, ít nỗ lực xoay sở để loan báo Tin Mừng, nhưng thường thoả mãn nhu cầu tâm linh của người giáo dân một cách bất đắc dĩ, hoặc đạo đức hơn thì cũng dừng lại ở mức độ một người mục tử liêm chính, chu toàn trách nhiệm đòi hỏi của một người công chức. Những tính cách như thế khác xa mẫu mực của người mục tử mang ngọn lửa của sứ vụ trong tim. Tình hình mất quân bình theo luật cung cầu như thế làm cho người linh mục cũng như những sinh hoạt trong giáo xứ rất dễ tiến theo kiểu ban phát, theo cơ chế xin cho như chúng ta thấy trong xã hội thời kinh tế bao cấp trước đây”. [6]

Khi chiên phải sống “xa” mục tử và mục tử không còn mang mùi chiên nữa thì vấn đề giữ đạo, sống đạo đối với tín hữu chỉ còn là chuyện hình thức có cũng được, mà không có cũng chẳng sao!

* TỪ NGUYÊN NHÂN NGHĨ TỚI MỘT VÀI GIẢI PHÁP

Trước tình trạng giới trẻ ngày nay thờ ơ, lạnh nhạt đối với đời sống đức tin, các vị chức trách trong Hội thánh đều cảnh báo và đặc biệt quan tâm tìm những giải pháp thích hợp nhằm giúp các Ki-tô hữu nói chung, các bạn trẻ nói riêng thoát khỏi tình trạng sống đạo hình thức, sống xa đời sống và sinh hoạt của Dân Thiên Chúa, sống như không-có-Thiên-Chúa.

Ở đây, xin mạn phép đề cập vắn tắt hai giải pháp cơ bản nhằm đáp ứng nhu cầu của các bạn trẻ trong việc lấy lại và củng cố niềm tin vào tình thương của Thiên Chúa, vào đạo của Chúa Ki-tô, vào Tin Mừng cứu rỗi.

– Giới trẻ ngày nay cần được hưởng nền giáo dục đức tin thích hợp

Thư Mục Vụ năm Đức Tin 2012 của HĐGMVN đã nêu rõ:

“Cách riêng, chúng tôi muốn ngỏ lời với các linh mục, tu sĩ, và các bậc cha mẹ trong gia đình công giáo. Giáo dục đức tin là trách nhiệm gắn liền với thừa tác vụ linh mục đến nỗi ‘các linh mục mắc nợ với mọi người về việc thông truyền cho họ chân lý Phúc Âm mà các ngài đã nhận được từ nơi Chúa’. Do đó, trong sự hiệp thông với giám mục và linh mục đoàn giáo phận, anh em linh mục hãy dành thời giờ, năng lực và nhiệt tâm cho công việc hết sức quan trọng và cần thiết này, đặc biệt trong việc giảng Lời Chúa và dạy giáo lý cho thiếu nhi và giới trẻ. Anh em cần quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo đội ngũ giáo lý viên, những người trực tiếp cộng tác với chúng ta trong việc thông truyền đức tin cho thế hệ trẻ” (số 9).

Như vậy chúng ta thấy rằng, trách nhiệm chủ yếu trong việc giáo dục đức tin cho giới trẻ vẫn thuộc về các linh mục, đặc biệt là các linh mục trực tiếp phục vụ tại giáo xứ. Để chu toàn nhiệm vụ này, các ngài phải dành nhiều thời gian, công sức kể cả tài chánh để đầu tư vào công việc khẩn thiết và quan trọng này. Tuy nhiên, xét thực tế, ta thấy hiện nay, tại nhiều nơi đã và đang gặp phải nhiều khó khăn, phức tạp, chẳng hạn:

– Tổ chức các lớp giáo lý cho thiếu nhi thì ở đâu cũng có, nhưng lớp giáo lý cho giới trẻ và cho giáo dân trưởng thành thì nhiều nơi chưa làm được vì còn gặp khó khăn về đội ngũ giảng viên, giáo lý viên, nhất là không có sự tham gia tích cực của học viên… Rất nhiều thành phần, tuổi tác trong giáo dân hiện nay biết rất ít về giáo lý, về Thánh Kinh, về các vấn đề cần biết trong đời sống và sinh hoạt của Hội thánh vv. Có thể nói phần đông họ mù tịt. Đó là một thực trạng đáng báo động!

– Tại nhiều nơi, các linh mục không quan tâm đầu tư cho bài giảng đạt “chất lượng cao”, các ngài thích nói lòng vòng, không chủ đề, thiếu chủ điểm, sao cho hết giờ, mà không lưu ý đến việc chuyển tải ý hướng Phụng vụ, đến việc truyền dạy những những điều liên quan tới đức tin, luân lý và Tin Mừng Ki-tô giáo. Vì phần lớn giáo dân chỉ tham dự Thánh lễ mỗi tuần một lần vào ngày Chúa Nhật, do đó, bài giảng của linh mục chủ tế có thể được coi là một nguồn nuôi dưỡng không thể thiếu được vì nhờ đó đem lại lợi ích thiêng liêng cho giáo dân. Vì khi đó linh mục chẳng những “giảng” mà còn “dạy” nữa. Dạy đức tin, dạy luân lý Ki-tô giáo, dạy Thánh Kinh, dạy Thần học vv.

– Giới trẻ ngày nay cần sống trong môi trường có nhiều chứng nhân

ĐTC Phao-lô VI đã nói: “Ngày nay, người ta tin vào những chứng nhân hơn là thầy dạy”. Điều đó có nghĩa là trong lãnh vực sống và truyền bá đức tin, rất cần có các chứng nhân cụ thể, sống động, nhiệt tình. Các bạn trẻ sẽ chịu ảnh hưởng và thu hút bởi các gương sống đạo, từ môi trường gia đình, xóm đạo, cho tới xứ đạo, cộng đoàn Ki-tô hữu vv.

– Gia đình Ki-tô được mệnh danh là “Hội thánh tại gia”, do đó các thành viên phải tích cực sống đạo và nêu gương sáng cho nhau. Thực vậy, “Gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp các bạn trẻ sống đức tin một cách sung mãn. Một gia đình mà trong đó cha mẹ và mọi người sống đạo đức, thánh thiện biết yêu thương lẫn nhau thì con cái sẽ noi gương cha mẹ. Hơn nữa, con cái cần được lớn lên trong bầu khí đức tin sống động của gia đình: Thường xuyên nghe những lời cầu nguyện của cha mẹ, được cha mẹ dạy dỗ cầu nguyện, được nhắc nhở về những ơn lành thánh và sự hiện diện của Chúa, được động viên học hỏi giáo lý, tham dự Thánh lễ, sinh hoạt hội đoàn, được chứng kiến đời sống đức tin cụ thể qua những chọn lựa yêu thương và hy sinh cho nhau mỗi ngày, con cái sẽ thấm nhuần lối sống đức tin đó vào cuộc sống của riêng nó trong xã hội”. [2]

– Giáo xứ là cộng đoàn đức tin và đức ái, nên cũng là môi trường thích hợp để mọi thành viên làm gương sáng cho nhau về niềm tin và lòng yêu thương. Các bạn trẻ sẽ nhìn vào đời sống các mục tử và các tín hữu trưởng thành để học hỏi gương sống đức tin và thực hành đức ái. Hơn lúc nào hết, ngày nay các bạn trẻ rất quan tâm tới đạo-thực-chất hơn là đạo-hình-thức, do đó họ dễ nản lòng và thất vọng khi thấy trong cộng đoàn giáo xứ thiếu gương sáng sống đạo, thiếu chứng tá Tin Mừng và thiếu sự hợp nhất yêu thương./.

Aug. Trần Cao Khải

– – – – – – – –

[1] “Người trẻ còn thiết tha với tôn giáo?”, Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

[2] Tu sĩ Lôrensô Vũ Văn Trình MF – Bài “Đức tin của giới trẻ trong đời sống hôm nay” – Nguồn: giaophanvinhlong.net

[3] Thư Mục vụ năm Đức Tin 2012, HĐGMVN

[4] LM Giuse Trần Đình Long, SSS – Bài “Có thực mới vực được đạo” – Nguồn: http://danchuausa.net

[5] Phê-rô Nguyễn Sơn Thạch – Bài “Theo đạo – Giữ đạo – Sống đạo” – Nguồn: tonggiaophansaigon.com

[6] LM Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP – Bài “Thời WTO, đe dọa hay cơ may của đời sống đức tin?” – Nguồn: Internet

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Tôi không tin vào Thiên Chúa!

Tôi không tin vào Thiên Chúa

Nếu là người công giáo sùng đạo, bạn sẽ ngạc nhiên với tựa đề bài viết. Ngạc nhiên vì tại sao người ta lại khó tin vào Thiên Chúa đến thế. Tuy nhiên, giữa niềm tin và vô tín luôn có những cuộc tranh luận liên lỉ từ cổ chí kim. Có khi điều ấy xảy ra trong chính mỗi người tín hữu. Khi ấy, ước gì biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại trở nên điểm tựa vững chắc cho những ai tìm kiếm đức tin. Bởi theo Đức Bênêđictô XVI: “Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bẩy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi, và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người.” (Bài giảng 19-10-2006).

Tình cờ tôi trò chuyện với một bạn trẻ người Ba Lan. Tôi nghĩ đất nước và con người Ba Lan nổi tiếng là sùng đạo và biết bao vị thánh đã phát xuất từ vùng đất này. Bạn trẻ tôi trò chuyện lại là một trường hợp khác. Anh ấy quả quyết là: “Tôi không tin vào Thiên Chúa!” Dĩ nhiên, tôi hoàn toàn tôn trọng niềm tin của bạn ấy và vẫn tiếp nối câu chuyện. Lý do bạn ấy đưa ra là: Thiên Chúa hoàn toàn không hợp lý so với suy luận của con người. Hoặc, ít là những giải thích về Thiên Chúa, đối với bạn ấy, thì không hợp lý chút nào. Chẳng hạn, tôi không thể đụng chạm Thiên Chúa, nên tôi không tin. Hoặc, nếu Thiên Chúa tốt lành, tại sao lại có đau khổ và chết chóc?, v.v.

Thực tế, đây là lý do nhiều người vô thần hoặc những ai đang gặp khủng hoảng về đức tin thường đưa ra. Họ không thể giải thích nổi thực tại Thiên Chúa là gì! Phải chăng chỉ tin vào một Đấng vô hình, có thể giải quyết mọi sự? Thiên Chúa là ai? Không có Thiên Chúa, có lẽ cuộc sống sẽ tốt hơn. Để minh chứng cho những khó khăn ấy, bạn này đưa cho tôi một quyển sách mà tác giả là người theo chủ nghĩa vô thần hiện sinh: Friedrich Nietzsche (1844-1900). Bố Nietzsche là mục sư Tin Lành. Là người có cá tính mạnh mẽ, Nietzsche coi Kitô giáo là chân lý của những người yếu đuối. Với ông, luân lý của kẻ mạnh mới là luân lý của con người. Theo đó, ông muốn giúp con người thoát khỏi kìm hãm của sức mạnh thần liêng. Ông khẳng định rằng Thiên Chúa phải chết. Đúng hơn, mỗi người phải tiêu diệt vị thần của người yếu để xây dựng thần của người mạnh cũng là hình ảnh siêu nhân nơi chính mình.

Ngoài ra, bạn ấy còn trích dẫn những nhà vô thần nổi tiếng để cho thấy xác tín của mình là có lý. Chẳng hạn, Arthur Schopenhauer, Jean-Paul Sartre hay Karl Marx, v.v. Chắc tôi không đủ tầm để đi vào những suy tư cao siêu của những vị triết gia này ở đây. Tuy nhiên suốt dòng lịch sử, một thực tế là người ta vẫn băn khoăn về Thiên Chúa. Câu hỏi ấy có lẽ càng vang dội hơn vào thời tuổi trẻ của mỗi người. Tạ ơn Thiên Chúa vì có nhiều bạn trẻ đón nhận niềm tin ấy một cách say mê. Họ thực sự để Thiên Chúa chiếm lấy con tim. Họ lắng nghe những giải thích về Thiên Chúa từ Kinh Thánh và từ Giáo Hội. Họ để Thiên Chúa mặc khải chính Ngài trong cuộc sống hằng ngày. Nhờ đó, người tín hữu hy vọng có được cuộc sống hạnh phúc hơn.

Thiện chí của anh bạn trên đây rất lớn. Anh ấy muốn đi tìm câu trả lời cho riêng mình về Thiên Chúa. Anh ấy sinh ra trong một gia đình có truyền thống đạo Công Giáo. Chính anh ấy cũng được lãnh nhận Bí Tích Rửa tội. Tiếc là khi lớn lên, anh không tin vào Thiên Chúa nữa. Lý trí mách bảo cho anh ấy rằng Thiên Chúa không hợp lý chút nào; do đó đối với anh ấy, không đáng để tin vào Thiên Chúa! Anh ấy đáng thương hơn đáng trách, phải không bạn?

Thật hời hợt nếu chúng ta phê phán thái độ niềm tin của người thanh niên này! Bởi thực tế, chúng ta thấy Đức Tin luôn là một quà tặng; và con người hoàn toàn có tự do để đón nhận ân huệ này. Bởi đó, Giáo Hội nhắc chúng ta rằng: “Đức tin là nhân đức giúp ta nhận Thiên Chúa có thật, nhận biết sự thật của Người và tự gắn bó bản thân với Người”. Có lần thánh Augustinô tâm sự rằng: “Lạy Chúa, khi Chúa tạo dựng thì Ngài đâu có cần hỏi ý kiến của con, nhưng khi cứu độ thì Ngài cần con cộng tác.” Nghĩa là, Thiên Chúa đòi chúng ta tin yêu nơi Ngài. Tuy nhiên trong thế giới hôm nay, nhận biết Thiên Chúa vô hình thường là một thách đố lớn đối với tâm trí con người, nhất là với người trẻ, khiến cho không ít người đã thoái lui.

Lời phủ nhận tin vào Thiên Chúa của bạn ấy cứ theo tôi hoài. Làm sao để giới thiệu Thiên Chúa cho người khác? Làm sao để thuyết phục người khác, nhất là những người tài giỏi? Làm sao tôi vừa thấy Thiên Chúa thật hợp lý, vừa tin yêu Thiên Chúa? Mầu nhiệm của Thiên Chúa làm sao con người có thể lý luận và hiểu thấu được? Trong lĩnh vực đức tin, hợp lý là gì, bất hợp lý có thể cho người ta tin được không? Hoặc tôi hiểu thế nào về phát biểu này: “Bản chất của đức tin là đón nhận một chân lý mà trí tuệ mình không đạt tới được; đức tin ấy phải nhất thiết dựa vào chứng từ.” (Chân phước John Henry Newman). Danh sách câu hỏi ấy cứ dài vô tận, mà ít nhiều chúng ta gặp phải!

Trước hết, tôi cầu nguyện cho bạn ấy có được cuộc sống bình an. Mong bạn ấy tiếp tục khắc khoải về Thiên Chúa. Bên cạnh đó, ước gì bạn ấy tìm đến những nguồn chứng minh khác để thấy Thiên Chúa hợp lý hơn. Chẳng hạn trong Thánh Kinh, chúng ta thấy chính Thiên Chúa mặc khải, ngỏ lời với con người. Chính triết gia Søren Kierkegaard[1] gọi đó là bức thư tình Thiên Chúa muốn gửi cho con người. Bạn này có thể đọc những sách của nhiều tác giả hữu thần, hoặc những sách của những nhà khoa học như Albert Einstein, Isaac Newton. Trong đó, mỗi tác giả dẫn ra những bằng chứng để chúng ta tin vào Thiên Chúa.

Ước gì khi tìm kiếm Thiên Chúa, người bạn trên đây và mỗi người được nhiều hồng ân để thấy Thiên Chúa yêu thương và muốn cứu độ mình. Mong sao Thiên Chúa có cách để bạn ấy dám tin yêu nơi Ngài. Được như thế, chúng ta hy vọng bạn ấy cũng được sự sống đời đời. Bởi, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3,16)

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

[1] Một trong những tư tưởng chủ đạo của Kierkegaard là về bước nhảy của Đức Tin (a leap of faith). Ông viết: “Nếu tôi có khả năng thấu hiểu Chúa Trời một cách khách quan, tôi sẽ không tin. Nhưng vì chính tôi không thể có khả năng đó, nên tôi phải tin. Nếu tôi muốn bảo toàn đức tin của mình, tôi phải thường xuyên chú ý níu giữ tình trạng không rõ ràng khách quan để có thể mãi ở sâu bảy vạn dặm dưới đáy nước mà giữ gìn đức tin.”

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Đạo Làm Con Chúa – CN XV TN C

Đạo Làm Con Chúa – Chúa Nhật XV Thường Niên Năm C 2019

Đức Hồng Y G.B. Phạm Minh Mẫn khi còn làm Tổng Giám mục Sài Gòn đã từng đưa ra câu hỏi: “Người Công Giáo là ai?” Ngài đã trả lời từ cái nhìn bên ngoài về người công giáo: “Là người theo đạo yêu thương”, “là người đi nhà thờ”, “là người của Thiên Chúa”… Tuy nhiên Ngài cũng đưa ra một “định nghĩa mới” về người công giáo: Căn cứ vào những trải nghiệm ở chiều sâu đời sống đạo, người công giáo còn được định nghĩa là người cảm nhận mình được Chúa thương, đồng thời ý thức ân huệ đó đã trở thành luật căn bản cho cuộc sống làm người. Nói cách khác, trọng tâm của đạo làm người là yêu thương người khác như Thiên Chúa yêu thương. Vì thế, trong quan hệ với Thiên Chúa, cũng như trong quan hệ với đồng đạo, đồng bào, đồng loại, người công giáo chân chính là người chu toàn bổn phận hàng đầu là lấy tình thương đáp trả tình thương”. Trọng tâm của đạo làm người, nhất là đạo làm người Công giáo là yêu thương người khác.

Đoạn Tin Mừng này là lời giải đáp cho những người muốn thử thách Đức Chúa. Ông luật sĩ đã biết con đường để lên trời là mến Chúa, yêu người mà còn hỏi thử ĐG. ĐG hỏi ngược lại để chính ông nói lên điều răn của Đức Chúa: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi… và yêu người thân cận như chính mình”. Ông luật sĩ lại muốn thử xem người thân cận trong đạo của ông Giêsu này là ai, vì đối với người Do Thái quan niệm người thân cận rất hạn hẹp, chỉ là những người bà con và đồng đạo. Thay vì định nghĩa “người thận cận” là ai, ĐC đã chứng minh “người thân cận” là thế nào: là người không phân biệt bà con, lương giáo, quan điểm, thành phần xã hội… mà là người biết thực thi tình bác ái.

Tư Tế và Lêvi trong đoạn Tin Mừng này chính là Phó Tế và Linh mục ngày hôm nay. Luca ghi rất rõ, Thầy Sáu thấy người bị cướp: “Trông thấy người này, ông tránh qua một bên”. Linh mục, cũng vậy, “cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi”. Phải chi người Samari, là một người dân ngoại “cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi”, thì đỡ xấu hổ biết bao nhiêu. Đằng này ông ấy cũng đi ngang con đường đó, cũng thấy, nhưng khác nhau ở chỗ là “chạnh lòng thương”. Vì vậy ông đã dừng lại làm những hành động mà Tư Tế và Lêvi của đạo Do Thái không dám làm vì sợ vi phạm lề luật khi nghĩ rằng mình đụng đến xác chết, hoặc sợ trễ công việc của mình. Còn người Samari thì chỉ biết tìm cách giúp đỡ nạn nhân mà không sợ mất giờ, mất công, mất của. Rõ ràng Thầy Sáu và Linh Mục giữ luật trên sách vở, còn người Samari giữ luật trong tim.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em có biết không? để gió cuốn đi”. Tấm lòng chính là đạo yêu thương, không bám víu, không nặng nề, mà rất nhẹ nhàng, thanh thoát để gió có thể cuốn đi bất cứ nơi nào cần tình yêu thương. Tấm lòng đó còn có thể gọi là lòng tốt. Lòng tốt được nhận thấy ở những điểm sau đây:

  1. Lòng tốt tự phát là lòng tốt đã ăn sâu vào con tim, đã trở thành máu thịt và hơi thở của con người, để gặp một hoàn cảnh đáng thương, nó sẽ bộc lộ một cách hết sức tự nhiên và dễ dàng.

Lòng tốt này chúng ta nhận thấy nơi ĐG, tự nhiên thấy đám đông bơ vơ cũng “Chạnh lòng thương”,  tự nhiên thấy chiều tới là kêu các môn đệ: “Các con hãy cho họ ăn”

Lòng tốt này chúng ta thấy nơi hình ảnh của người Samari nhân hậu trong bài Tin Mừng hôm nay. Tự nhiên thấy người ta bị nạn, nhào xuống lấy dầu, lấy rượu xức, băng bó vết thương, còn chở vào quán trọ, bỏ tiền ra nhờ người ta chăm sóc vì mình có việc gấp phải đi.

Lòng tốt này tôi cũng nhận thấy nơi hình ảnh bà già trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư. Tự nhiên dựng một cái chòi lá sát mé lộ, để một sạp tre, một lu nước mưa. Con cháu hỏi để chi vậy? Bà nói để người ta đi đường có mỏi vào nghỉ, có khát vào uống. Ban đêm đốt cái đèn dầu treo toòng teng trong cái chòi. Người ta hỏi treo chi vậy? Bà nói treo cho người đi đường khỏi sợ ma, đi đêm mà thấy ánh sáng cũng an tâm, cũng ấm lòng hơn.

Lòng tốt này không nhiều nhưng chúng ta cũng thấy trong cuộc sống. Tự nhiên thấy người ta nghèo cũng thương, nghe người ta kể khổ cũng khóc, có nhiêu tiền cũng móc cho người ta. Tôi đang đi với một người, bỗng thấy anh hối hả qua bên kia đường, không biết chuyện gì? À, thì ra anh đi qua cho bà già ăn xin ít tiền. Bà đâu có kêu la, vậy mà anh vẫn thấy.

Lòng tốt tự phát này, người đời có thể gọi là “lòng tốt lãng xẹt”. Lòng tốt này không phải muốn là được, không phải tập một ngày một bữa là có, mà nó là kết quả của những việc tốt nho nhỏ hằng ngày được dệt kết trong ý thức mình là con Chúa, phải sống đạo yêu thương. Phần thưởng của lòng tốt tự phát này không gì khác hơn là niềm vui được làm thêm “những việc lãng xẹt”. Ví dụ, một đám bạn đi trước sân nhà thờ, một đứa nhào tới lấy miếng giấy hốt cục phân chó. Mấy đứa kia cười ha hả: “Thứ gì thấy cứt chó như thấy bánh!” Đối với người đời đó là “chuyện lãng xẹt”, còn đối với những ai có được lòng tốt tự phát đó, lại là một niềm vui, một niềm hạnh phúc. Một đám bạn chạy xe trên đường. Một đứa bỗng dừng lại, qua lộ, dắt bà già qua đường. Mấy đứa kia nói: “Rãnh quá hé!” Họ không mong chờ phần thưởng nào khác hơn là được làm nhiều những “chuyện lãng xẹt!”

  1. Lòng tốt không giới hạn là không phân biệt thành phần, đối tượng, đẳng cấp; không ranh giới gia đình, họ đạo, có đạo hay không có đạo… nhưng là lan tỏa cho tất cả mọi người, mọi thành phần, mọi ranh giới.

Đụng xe cái rầm trong xóm đạo, mọi người nhào ra xem, hai người bị thương như nhau. Bỗng một người la lên: “Thằng này đeo thánh giá, đem nó đi trước, còn thằng kia đeo ông Phật, để đó tính sau”. Đó là giới hạn của tình yêu.

Cha Piô Ngô Phúc Hậu kể chuyện: Ông Năm có hai bà vợ, người ta gọi là bà Năm lớn, bà Năm nhỏ. Từ khi ông Năm chết, hai bà Năm về sống chung nhà. Một hôm cha Hậu lại thăm bà Năm nhỏ, tặng bà một xâu chuỗi. Bà xin thêm một xâu nữa cho bà Năm lớn. Ai nói tình yêu không thể san sẻ đâu?!

Họ đạo nọ cha sở khó lắm, nên có người không thương cha. Ngược lại cha phó rất vui vẻ, hoạt bát, dễ thương. Một hôm cha phó đi thăm một bà già bệnh tật trong họ đạo. Khi cha về, bà nói: “Con sẽ cầu nguyện cho cha”. Cha phó nói: “Cầu nguyện cho cha sở nữa”. Bà già trả lời: “Không, cha sở khó quá, con không cầu nguyện cho cha sở. Cha phó dễ thương, con cầu nguyện cho cha phó!” Cha phó bảo: “Nếu bà không cầu nguyện cho cha sở thì tôi không đến thăm bà nữa!” Bà già nói: “Vậy con sẽ cầu nguyện cho cha sở, cha phó luôn, nhưng cha phó nhiều hơn!”“Vậy cũng được!”– cha phó trả lời cho bà ta. Cha phó đang tập cho giáo dân mình biết sống tình yêu thương không giới hạn.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay làm nỗi bật chủ đề yêu thương, đó là đạo làm người, và nhất là đạo làm con Chúa. Tình yêu thương này phải là một tình yêu thương tự phát và không có giới hạn. Nghĩa là nó trở thành nhịp thở của trái tim ta, nó trở thành phản ứng tự nhiên của ta.

Xin ơn Chúa giúp qua lời bầu cử của Mẹ Maria, thánh cả Giuse và cha Phanxicô Trương Bửu Diệp cho mỗi người chúng ta luôn ý thức để sống đạo làm người, đạo làm con Chúa qua việc trau giồi đời sống yêu thương.

 

Lm. Giuse Nguyễn

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Vài nguyên tắc truyền giáo của Chúa Giêsu – CN XIV TN C

Vài nguyên tắc truyền giáo của Chúa Giêsu

Vào tháng 10 năm 1987, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người sẽ được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên thánh vào tháng 08 sắp tới, đã triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới để cùng nhau nghiên cứu vấn đề “ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay”. Từ Thượng Hội Đồng này, một tông huấn mang tựa đề: “Người Kitô hữu giáo dân” đã được công bố. Trong đó, Đức Thánh Cha nói: “Giáo dân, vì là thành phần của Giáo Hội, nên mang ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Các bí tích khai tâm kitô giáo và các ân huệ của Chúa Thánh Thần đã trang bị khả năng và thúc giục họ thi hành sứ vụ của mình” (số 33). Đức Thánh Cha còn nói: “Chắc chắn rằng: mệnh lệnh của Chúa Giêsu ‘Hãy đi loan báo Tin Mừng’ vẫn mang giá trị trường tồn và đặt ra một cách cấp bách. Tuy nhiên, tình trạng hiện nay trong thế giới, đang đòi hỏi tuyệt đối phải thực thi mệnh lệnh của Chúa một cách khẩn trương và quảng đại hơn. Một người môn đệ đích thực của Chúa Kitô không có quyền từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Cho hay, cái mới mẻ trong việc thực thi cuộc loan báo Tin Mừng là tất cả toàn dân Chúa, không phân biệt nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mạnh yếu. Tất cả đều được sung vào việc tông đồ truyền giáo”.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay sẽ cho chúng ta thấy nguyên tắc hoạt động của người môn đệ Chúa. Nguyên tắc này do chính Chúa Giêsu, người khởi sự công tác truyền giáo và cũng là linh hồn của việc truyền giáo chỉ dạy.

  1. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
  2. Bài đọc I: (Is 66, 10-14c)

Bối cảnh của bài đọc I là khi vua Cyrus của nước Ba Tư vừa tiêu diệt được đế quốc Babylon và ký sắc lệnh hồi hương cho người Do Thái. Họ rất phấn khởi vì cuối cùng họ cũng được giải thoát. Trong bối cảnh đó, tiên tri Isaia đã nói tiên tri về phúc lành mà Thiên Chúa sẽ tuôn đổ xuống dân chúng. Điều quan trọng nhất trong phúc lành này là ơn bình an: “Này Ta tuôn đổ xuống thành đô, ơn bình an như dòng sông cả” (Is 66, 12).

  1. Bài Đọc II: (Gl 6, 14-18)

Thánh Phaolô tự hào về cây thập giá của Đức Kitô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6, 14). Nhờ quy tắc đó mà thánh nhân được bình an. Để rồi thánh nhân cầu chúc cho mỗi người chúng ta: “được bình an và lòng thương xót của Thiên Chúa” (Gl 6, 16) nhờ biết yêu mến và rao giảng cây thập giá.

  1. Tin Mừng: (Lc 10, 1-12. 17-20)

Đây là bài sai truyền giáo chính thức của Chúa Giêsu. Chúng ta phải phân biệt các Tông Đồ, tức nhóm 12 là những người được Chúa Giêsu chọn gọi một cách đặc biệt, ở sát bên Chúa Giêsu; và các Môn đệ, tức nhóm 72, không theo sát Chúa Giêsu, họ vẫn còn gia đình, vợ con, công việc riêng… nhưng khi nào mùa màng rãnh rỗi, hoặc được Chúa Giêsu triệu tập thì họ đến.

Trong Tin Mừng Matthêu và Maccô, Chúa Giêsu chỉ sai các Tông Đồ thôi, nhưng Luca thì sai cả các Môn đệ nữa, để chúng ta thấy tính phổ quát của công việc truyền giáo. Ai cũng phải truyền giáo chứ không phải chỉ những người được tuyển chọn. Trong bài sai truyền, Chúa Giêsu đã đưa ra những nguyên tắc hoạt động cho những cán bộ truyền giáo. Nguyên tắc đó không phải chỉ áp dụng cho các Môn Đệ của Chúa thời đó, mà còn là nguyên tắc cho mọi thời trong công cuộc truyền giáo.

  1. NGUYÊN TẮC TRUYỀN GIÁO

Mỗi người chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta cũng lãnh nhận sứ mạng truyền giáo, vì “truyền giáo là bản chất của Giáo Hội”. Vì vậy chúng ta cũng phải nắm vững những nguyên tắc này.

  1. Cầu nguyện:

Trước hết, Chúa Giêsu nói: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 2). Vì vậy cầu nguyện chính là linh hồn của việc truyền giáo. Sở dĩ Chúa muốn chúng ta phải cầu nguyện trong truyền giáo là vì đây là công việc thuộc lãnh vực siêu nhiên. Sức tự nhiên của con người không thể nào làm được điều này. Cán bộ truyền giáo phải là con người của cầu nguyện. Vì khi cầu nguyện chúng ta mới tiếp xúc với lãnh vực siêu nhiên để từ đó mới có thể thi hành đúng theo những hoạch định thần thiêng. Qua bài đọc I và bài đọc II, chúng ta thấy ơn ban quan trọng nhất của Chúa là ơn bình an. Người cán bộ của Chúa chỉ có được bình an trong cầu nguyện.

Tôi thích và nhớ mãi hình ảnh ông Jim mà vị tôi tớ Chúa, Đức Hồng Y Px. Nguyễn Văn Thuận kể. Khi còn khỏe, mỗi ngày ông đến nhà thờ lúc 12 giờ trưa không quá 2 phút. Ông từ rất thắc mắc nên theo dõi. Một hôm ông chận Jim lại và hỏi: “Tại sao bác vào đây mỗi ngày?”. “Tôi vào để cầu nguyện”. “Quái lạ, kinh gì mà đọc trong vòng 2 phút?” Jim trả lời: “Tôi vừa già, vừa dốt nên đọc kinh theo kiểu của tôi. Tôi chỉ nói: “Lạy Chúa, Jim đây!”. Thời gian trôi qua, Jim già cả, bệnh tật, phải vào bệnh viện để điều trị. Sau đó Jim yếu liệt và chuẩn bị ra đi. Một Linh mục và một nữ tu đến hỏi thăm: “Jim ơi, hãy nói cho chúng tôi biết, tại sao từ ngày ông vào đây, bệnh viện có nhiều thay đổi, bệnh nhân vui vẻ, chấp nhận thuốc thang, sống có tình nghĩa hơn?” Jim trả lời: “Đơn giản thôi, lúc còn khỏe, Jim đi thăm mọi người, lúc đi không nổi, Jim nhớ và gọi tên mọi người, với Jim ai cũng vui hết”. “Thế tại sao Jim vui, Jim hạnh phúc?”. Jim trả lời vì ngày nào Jim cũng có người đến thăm hết. Mọi người thắc mắc, có thấy ai đâu? Jim bảo: “Lúc trước 12 giờ trưa, Jim đi thăm Chúa Giêsu, còn bây giờ trưa nào Chúa Giêsu cũng đến thăm Jim”? “Ngài nói gì với Jim”? Ngài nói: “Jim ơi, Giêsu đây!” Cầu nguyện làm cho chúng ta có Chúa Giêsu. Có Chúa Giêsu làm cho chúng ta được bình an. Bình an làm cho chúng ta trở thành người nhiệt tâm lo việc truyền giáo hơn.

  1. Phó thác:

Điều thứ hai, Chúa Giêsu nói: “Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy sói” (LC 10, 3). Có phải là Chúa “đem con bỏ chợ không?” Có phải là Chúa đẩy chúng ta tới chỗ nguy hiểm không? Thưa không, nhưng Chúa muốn người cán bộ truyền giáo phải biết phó thác. Bản thân mình luôn luôn gặp nguy hiểm, không gì che chở bảo, không có gì bảo đảm cho, ngoài Chúa. Nhân đức phó thác là nhân đức tối cần nơi người cán bộ truyền giáo.

Tôi có ông cha bạn làm cha phó ở họ đạo Kinh Nước Lên dưới Cà Mau, phụ trách thêm những họ lẻ xung quanh. Có những họ phải vượt qua những con sông lớn hàng giờ mới tới. Trong đợt áp thấp nhiệt đới vừa rồi, ông đi làm lễ về, sóng to, gió lớn, máy chạy tới không được, quay lại không xong, cứ lòng vòng lòng vòng giữa sông lớn. Ổng sợ quá sức, ổng nói chẳng lẽ mình hưởng dương ít vậy ta!? Người môn đệ Chúa luôn ở trong tư thế nguy hiểm, nên phải biết phó thác.

  1. Ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng:

Chúa Giêsu nói: “Đừng chào hỏi ai dọc đường” (Lc 10, 4). Nếu nói như vậy, có phải Chúa dạy cán bộ truyền giáo trở thành những con người bất lịch sự, gặp người quen cũng không chào luôn? Những người khó tính, nhất là những người lớn tuổi người ta nói mình khó ưa, mất dạy, không biết chào hỏi ai hết, vì người xưa nói: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”… Không phải, Chúa Giêsu nói vậy vì nghi thức chào hỏi của người phương đông rất rườm rà, mất thời giờ. Chúa dạy cho cán bộ của Chúa đừng mất giờ vô ích vì việc loan báo tin mừng là việc gấp rút: “Lúa chín đầy đồng mà thờ gặt thì ít”, phải biết tận dụng thời giờ đi gặt lúa, kẻo chim chuột ăn hết.

III. BỔN PHẬN CẤP BÁCH CỦA MỌI KITÔ HỮU

Truyền giáo không là việc của riêng ai, nhưng là bổn phận cấp bách của mọi kitô hữu. Mọi người phải truyền giáo ngay chính trong môi trường, hoàn cảnh của mình. Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới năm 1987 đã định nghĩa vị thế độc đáo của người giáo dân giữa lòng Giáo Hội và giữa thế giới bằng hai mệnh đề như sau: “Giáo dân là ‘ người của Giáo Hội’ trong lòng thế giới”. “Giáo dân là ‘người của thế giới’ trong lòng Giáo Hội”. Là người của Giáo Hội, người giáo dân phải đem Giáo Hội và Chúa Giêsu vào trong thế giới. Và là người của thế giới, giáo dân phải đem thế giới đến cùng Giáo Hội và Chúa Kitô”.

Vì vậy mỗi người chúng ta dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân đều phải nắm vững một vài nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã dạy để chúng ta trở thành những cán bộ truyền giáo lành nghề và nhiệt thành, đó là: Cầu nguyện, phó thác và ưu tiên truyền giáo, để chúng ta có thể đem tin mừng bình an đến cho anh chị em xung quanh mình.

Cầu nguyện để có được sức mạnh của Chúa. Chính vì vậy kinh hôm, kinh mai, lần chuỗi mân côi, xưng tội, viếng Thánh Thể, tham dự thánh lễ, nhất là ngày Chúa nhật… là những việc không thể thiếu của một người giáo dân Tông Đồ.

Phó thác để dấn thân trong đời sống đức tin. Chính vì vậy người Tông Đồ của Chúa không được sợ hãi trong bất cứ cảnh ngộ nào của cuộc sống, nhưng phải biết vươn lên, vươn lên mỗi ngày vì có bàn tay Chúa nâng đỡ.

Ưu tiên truyền giáo để khỏi lạc hướng. Ai? Ở đâu? Làm gì? Thế nào?… cũng phải nghĩ đến việc làm sao cho Nước Chúa trị đến.

Nói tóm lại, Phụng vụ lời Chúa ngày hôm nay một lần nữa mời gọi chúng ta ý thức lại sứ mạng truyền giáo của mình, vì chính Chúa Giêsu đã sai mỗi người và từng người chúng ta vào cuộc đời này để sống và loan báo Tin Mừng. Muốn trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa, chúng ta phải thực hành những nguyên tắc mà Chúa Giêsu đã đưa ra, trong đó có việc cầu nguyện, phó thác và ưu tiên truyền giáo. Xin ơn Chúa giúp qua lời bầu cử của Mẹ Maria, người nữ truyền giáo đầu tiên; của thánh cả Giuse, người trợ tác đắc lực của Chúa; và cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, người luôn quan tâm đến dân ngoại, cho chúng ta có một nhiệt tình truyền giáo cùng với lòng đạo đức và sự phó thác, để chúng ta thực sự trở thành một cán bộ truyền giáo của Chúa.

 

Suy niệm của Lm. Thiện Duy

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

📌 5 thủ đoạn tấn công các gia đình của quỷ Satan!

5 thủ đoạn tấn công các gia đình của quỷ Satan!

Mùa hè đến rồi, nhiều gia đình trong số chúng ta thường đi nghỉ mát, nhưng có một người không nghỉ ngơi, và sẽ không bao giờ nghỉ ngơi. Các bạn có thể đoán ra đó là ai không?

Đó chính là Satan! Vâng, tên ác quỷ Satan! Hắn ta làm việc 25 giờ một ngày, 8 ngày một tuần và quanh năm suốt tháng. Thật vậy, hắn là một “công nhân” chăm chỉ nhất trên thế gian này!

Một trong những công việc chính của Satan trong xã hội đương đại chính là tấn công vào tổ chức lâu đời nhất do Thiên Chúa tạo lập: Gia đình.

Như thánh ý Chúa và đã được Ngài thiết kế ngay từ nguyên thủy, hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ để trở thành cặp vợ chồng được kết hợp trong một bí tích mà ngày nay chúng ta gọi là Bí tích Hôn phối, để rồi sinh con đẻ cái và nuôi dạy chúng trong tình yêu và sự che chở của Thiên Chúa.

Ma quỷ hiểu rõ rằng nếu triệt phá các gia đình thì hắn sẽ có thể hủy diệt toàn bộ kết cấu xã hội loài người. Quả thật, các nhà sử học đã chứng minh một khi gia đình bị lung lay thì toàn bộ xã hội nhanh chóng bị tàn phá!

Trong bài viết này, chúng ta sẽ hiểu 5 cách thức chính trong số vô vàn thủ đoạn mà tên cám dỗ xảo quyệt thường dùng để chống lại các gia đình.

1. Sống thử (hôn nhân thử nghiệm)

Trước đây, một cặp đôi Công giáo nếu sống thử với nhau như vợ chồng ngoài Bí tích Hôn phối thì sẽ bị coi là những người “rối đạo” và phải chịu sự dạy dỗ hoặc xa lánh của cộng đoàn. Còn ngày nay, hành vi này gần như được xem là bình thường, có chăng là chỉ có sự vô cảm, thờ ơ của những người đồng đạo mà thôi.

Nhiều bạn trẻ biện minh: Đến hóa học mà còn phải dùng thử để xem phản ứng, thì chúng em cũng phải “thử” để biết có hợp hay không chứ!

Nhưng họ không ý thức được rằng việc sống ngoài Bí tích Hôn phối chính là sống ngoài tình trạng ân sủng Chúa, nó sẽ gây hiểm nguy cho sự cứu rỗi đời đời của họ, chưa kể đến việc tấm gương mù này còn sẽ tác động tiêu cực đến những đứa con của họ sau này. Tất nhiên, đạo diễn đằng sau kịch bản này không ai khác chính là Satan!

2. Đồng tính

Mặc dù ở đâu đó trên thế giới ngày nay, một số cặp đồng tính đã được hợp pháp hóa, nhưng điều đó không có nghĩa “hôn nhân đồng tính” là đúng đắn. Thật vậy, những gì được hợp pháp không phải lúc nào cũng đạt chuẩn mực đạo đức. Quay trở lại với sách Sáng Thế, Kinh Thánh nói rõ rằng Thiên Chúa đã tạo ra người nam và người nữ là Adam và Eva. Bởi thế mà đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắn khít với vợ mình và chúng sẽ nên một thân xác. (St 2:24).

3. Xem nội dung khiêu dâm

Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã đề cao tình yêu, lòng chung thủy và đức khiết tịnh trong hôn nhân. Ngài nói: “Các ngươi đã nghe bảo: chớ ngoại tình. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: phàm ai nhìn người nữ để thỏa lòng dục vọng thì đã ngoại tình với nó trong lòng”. (Mt. 5: 27-28)

Như thế, liên quan đến Bí tích Hôn phối thì một người đàn ông đã có vợ, mặc dù không ngoại tình thể xác với một người phụ nữ khác nhưng anh ta vẫn có thể ngoại tình bằng tâm hồn qua ánh mắt, tâm trí và trái tim anh ta.

Cho nên ngày nay, một trong những hình thức ngoại tình phổ biến nhất đó là việc người đàn ông (đôi khi có cả phụ nữ) xem phim khiêu dâm. Không nghi ngờ gì nữa, hành vi này sẽ tàn phá các gia đình đồng thời gây ra cho con cái họ những tổn thương nặng nề và vết sẹo tâm hồn suốt cuộc đời!

4. Ngăn chặn sự sống

Nhiều năm trước đây, các cặp vợ chồng kết hôn và mong muốn sớm có con cái. Thậm chí, dù đời sống kinh tế hạn hẹp, mỗi cặp vợ chồng đều muốn có ít nhất là một đứa con. Ngày nay thì ngược lại. Nhiều cặp vợ chồng kết hôn nhưng rồi có tâm thế tránh có con. Họ cho rằng, chúng ta hãy mua nhà, xe hơi, đi du lịch cái đã rồi hẵng có con sau. Trong một xã hội bao trùm bởi chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa hưởng thụ thực dụng, thì những thứ vật chất và cảm giác tự do ích kỷ đó đã chiếm đi không gian ra đời và tồn tại của một sinh linh mới mà chúng ta gọi là con người.

Hành vi tránh thai, chống lại sự sống này cũng do chính Satan thúc đẩy và nuôi dưỡng. Thiên Chúa của chúng ta là một Đấng của sự sống. Còn ma quỷ là một kẻ nói dối và là kẻ giết người ngay từ trong trứng nước.

5. Giao tiếp kém

Phải nói rằng trên bình diện xã hội ngày nay, nhiều cặp vợ chồng từ khi bắt đầu kết hôn vẫn chưa thực sự học được cách đối thoại; họ không bao giờ biết rằng nghệ thuật giao tiếp rất quan trọng trong hôn nhân.

Giao tiếp là một kỹ năng mà không phải ai trong chúng ta đều có được bởi bẩm sinh, mà nó phải được học và rèn luyện. Do đó, trước khi bước đến ngày tuyên bố hứa hôn, chúng ta nên nhận thức được sự cần thiết phải học về giao tiếp, phát triển nghệ thuật giao tiếp, và luôn luôn bồi dưỡng kỹ năng này để “yêu thương và tôn trọng người bạn đời mỗi ngày suốt đời mình”.

Nhưng Satan có thể ngấm ngầm xâm nhập vào đời sống của các cặp vợ chồng để ngăn chặn sự giao tiếp theo những cách sau:

1) Hắn thuyết phục cặp vợ chồng im lặng, không nói chuyện với nhau nữa để tránh xung đột.
2) Hắn cám dỗ cặp vợ chồng thốt ra những lời nói gây tổn thương cho nhau như vết dao cứa lòng!
3) Hắn đưa vào miệng một người nhiều lời ác ý dành cho người còn lại.
4) Hắn thuyết phục cặp vợ chồng không cầu nguyện, không nói chuyện với Chúa. Vì hắn biết Chúa sẽ giúp các cặp vợ chồng giao tiếp tốt hơn.
5) Cuối cùng, hắn có thể giúp người thứ ba có được những lời đường mật và hấp dẫn hơn so với người bạn đời của mình, để gây bất lợi lớn cho cuộc hôn nhân.

Tóm lại, tất cả các Kitô hữu đều phải nhận thức sâu sắc về những thủ đoạn mà tên Satan đang cố gắng tiêu diệt loài người. Một trong những cuộc tấn công đầu tiên của hắn chính là vào các Gia đình – đây là cái nôi của trẻ em, là Giáo hội tại gia và tương lai của nhân loại.

Chúng ta hãy quy hướng về Thánh Gia Thất: Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse để cầu xin các ngài soi dẫn, nhìn nhận ra những nỗ lực xảo quyệt của Satan mà có thể chống lại các cám dỗ của hắn nhằm bảo toàn được đời sống gia đình chúng ta.

(Khánh Vinh, UBMVGĐ, 03.07.2019, dịcn từ Cha Ed Broom, OMV)

Nguồn bài viết: http://ubmvgiadinh.org/article/5-thu-doan-tan-cong-cac-gia-dinh-cua-quy-satan

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Mình Thánh vẫn chứa máu tươi sau 770 năm

Mình Thánh vẫn chứa máu tươi sau 770 năm

Phép lạ có thể nhìn thấy với tất cả mọi người hành hương đến Santarem, Bồ Đào Nha, và trông vẫn còn nguyên như khi xảy ra năm 1247.

Người Công giáo tin rằng bánh và rượu trong Thánh Lễ được biến đổi thành thân thể, máu, linh hồn và thần tính của Chúa Giê-su. Đó là một mầu nhiệm được gọi là “sự biến đổi bản thể”, có nghĩa là trong khi hình thức bên ngoài của bánh và rượu vẫn giữ nguyên, nhưng bản chất ẩn chứa bên trong được hoàn toàn biến đổi (qua quyền năng của Thiên Chúa) thành thân thể và máu của Đức Ki-tô. Đó là một giáo huấn dựa trên kinh thánh và truyền thống và vẫn duy trì không thay đổi bản chất kể từ thời các tông đồ.

Tuy nhiên, Giáo hội công nhận rằng trong một số ít trường hợp thì cả bản chất và hình thức bên ngoài cùng thay đổi thành thân thể và máu của Chúa Giê-su. Những trường hợp này được xác nhận như là “những phép lạ Thánh Thể,” và chứng thực cho lời của Chúa Giê-su nói với các môn đệ của Người tại bữa Tiệc Ly (“Đây là mình ta”).

Một phép lạ như vậy xảy ra tại Santarem, Bồ Đào nha, năm 1247, khi một phụ nữ trẻ, vì ghen với chồng, đã đến một phù thủy với hy vọng tìm được một loại bùa yêu. Phù thủy hướng dẫn người nữ trẻ tìm cách lấy một mình thánh đã truyền phép ở một Nhà thờ Công giáo. Người nữ trẻ làm theo những hướng dẫn và giấu bánh thánh trong một miếng vải lanh.

Ngay sau khi chị ta gói bánh thánh trong miếng vải, bánh thánh bắt đầu chảy máu. Chị ta quá sợ hãi trước những gì nhìn thấy và vội vã bỏ bánh thánh trong ngăn kéo trong phòng ngủ. Vào ban đêm, những tia sáng chói lòa phát ra từ ngăn kéo và chị ta buộc phải nói mọi điều với người chồng.

Ngày hôm sau chị ta mang bánh thánh phép lạ đến với linh mục xứ, linh mục lưu giữ bánh thánh chảy máu trong một hòm thánh tích. Bánh thánh vẫn ở đó tại Santarem từ đó trở đi, và những cuộc điều tra theo giáo luật được thực hiện năm 1340 và 1612. Trong cả hai lần điều tra thì phép lạ vẫn được tìm thấy là xác thực.

Qua các thế kỷ bánh thánh hiện lên như mô máu tươi, hoặc khô đi và trở nên cứng. Theo những người đã được nhìn thấy, bánh thánh vẫn giữ hình dạng một cách lạ thường và có những đường mạch chạy từ trên xuống dưới. Sự thật là bánh thánh giữ nguyên hình dạng không thay đổi sau quá nhiều năm như vậy đã là một “phép lạ thứ hai,” và tiếp tục làm rối trí những người hoài nghi.

Nó là một dấu chỉ cho sự hiện diện thật và trọn vẹn trong Thánh Thể và lấy lại niềm tin của nhiều người Công giáo trên toàn thế giới.

[Nguồn: aleteia]

Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN

 

 

Chia sẽ bài viết này trên: