Month: Tháng Một 2020

Khi yêu, người ta nhìn nhau hay nhìn về một hướng?

Khi yêu, người ta nhìn nhau hay nhìn về một hướng?

Chúng ta vẫn thường nghe nói: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Thế sao hai người yêu nhau không dùng mắt để nhìn và quan sát những góc đẹp trong tâm hồn nhau mà lại nhìn về một hướng như lời khẳng định của tác giả Antoine de Saint-Exupéry rằng Yêu không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng. Đây có thể là một điều khá thú vị dành cho những người đã từng yêu nhau có cơ hội suy nghĩ và chọn lựa hầu đưa ra một quyết định cho riêng mình.

Trước đây, người viết đã từng nghe qua nhạc phẩm Con gái của nhạc sĩ Ngọc Lễ. Lời bài hát như con gái nói có là không, con gái nói không là có…con gái nói một là hai, con gái nói hai là một…lần đầu nghe, bản thân cảm nhận một nỗi trống vắng vì ca từ quá ư trẻ trâu và có phần châm biếm, nếu không muốn nói là nhạt nhẽo và vô vị. Thiển nghĩ, đây có thể là lời tỏ tình của hai kẻ đang say nắng, nói chuyện vu vơ khi ở bên nhau không biết tỏ tình vì lúng túng và bẽn lẽn trong mối tình đầu. Thế nhưng, khi nghe đoạn nhạc sau, tôi lại cảm nhận một sắc thái khá mạnh mẽ, chúng diễn tả sự chững chạc của hai người yêu nhau: Hãy nhìn vào đôi mắt em đây, anh sẽ hiểu tận trái tim này. Hóa ra, những lời nói vu vơ tưởng chừng như vớ vẩn lại là cách để lôi kéo người yêu đi sâu vào trong tận tâm hồn mình qua ánh mắt. Một khi, lời nói trở nên lạc lõng giữa một biển ngôn tình, thì ánh mắt lại diễn tả cả một cơn sóng cuồn cuộn trào dâng. Nó có thể cuốn phăng đi những nghi kỵ thấp hèn, những đua đòi vị kỷ, những dối trá điêu ngoa, và chỉ còn đọng lại những giọt nước mắt tinh khôi của những tâm hồn thiện chí. Và khi ấy, tôi mới chấp nhận lời khuyên của những nhà tư vấn tâm lý: càng nhìn nhau, họ càng yêu nhau.

Nhưng nhìn nhau ở điểm nào để có thể tiếp tục yêu nhau và đi đến trọn đời ? Đó là bản lĩnh của những tâm hồn tế nhị.
Yêu nhau quả ấu cũng tròn ư ? Dường như nó chỉ phù hợp với cảnh giới của hai tâm hồn mới bước vào đường tình yêu. Sự mù quáng ấy thật dễ hiểu ! Tuy nhiên, khi đã lấy nhau rồi, trắng đen đã phân ranh rõ rệt, người ta lại thường nhìn vào những góc khuất của nhau nhưng thay vì để chia sẻ và cảm thông, họ lại dùng nó như bằng chứng cho cuộc chia ly vĩnh viễn. Đó là thái độ sống của những người tiêu cực, bi quan yếm thế, không thể khám phá ra những nét đẹp mới lạ trong tình yêu. Đó không phải là góc nhìn của người có năng lực tích cực.

Trái lại, có một ánh nhìn khiến hai người thuộc trọn về nhau khi bỗng nhiên, họ thốt lên cùng lúc: “Wow” và cùng phá lên cười, chúng làm nổ tung cả một bầu trời nghi ngại. Có thể nói, đó là những khoảnh khắc ra khỏi mình để có thể thuộc trọn về nhau.
Có lúc nàng đang ngồi xem trên truyền hình một cảnh phim về một cô gái bị hiểu lầm đang bị tổn thương lại chịu áp lực về việc người chồng muốn ly dị. Nàng xúc động và đồng cảm với nhân vật, chàng nhận thấy sự kiện, liền hỏi: “Sao em khóc ?”. Nàng trả lời trong nước mắt: “Em sợ mất anh”. Thế là chàng đã ôm nàng vào lòng và bảo: “Làm gì có chuyện đó”. Thật ra, nàng đã trả lời hơi vội và chưa chi tiết, rằng: anh đang làm em tổn thương vì những câu nói vu vơ…Nhưng dù sao, cái ôm chặt ấy cũng đã đủ mạnh để chữa lành nỗi đau. Bởi đó, cần nhìn nhau để nhận ra những mong cầu khá tế nhị của người yêu.

Có nàng đã chia sẻ với một chuyên gia tâm lý rằng em đau bệnh chẳng bao giờ thấy anh ấy ngó ngàng đến dù chỉ một viên thuốc. Hỏi ra mới rõ, chính nàng bao năm chẳng hề biết chồng đau bệnh hay khỏe khoắn thế nào. Bởi thế, sự quan sát và quan tâm cần được đáp ứng từ hai phía. Ngoài ra, việc nhìn nhau và quan tâm nhau cần đi vào những góc khuất của tâm hồn để có thể vực dậy, chữa lành nhau để mọi thành viên trong gia đình luôn cảm nhận thực sự rằng gia đình là nơi an toàn nhất giúp tôi sống thật với chính mình. Khi đó, ta sẽ hiểu thấu phần nào câu nói: Có một nơi để về đó là nhà, có những người để yêu thương đó là gia đình, có được cả hai đó là hạnh phúc.

Thế nhưng, chúng ta không dừng lại ở việc tình yêu được vun đắp nơi ánh nhìn của nhau mà còn mở ra cho các tương quan khác. Theo các nhà tư vấn tâm lý, dấu hiệu của một tình yêu lành mạnh là mở ra và mở rộng với các đối tượng khác, đó là một trong những mối quan tâm mà tác giả muốn gửi gắm qua câu nói: Yêu không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng. Hướng ấy có thể hiểu là lý tưởng hay giá trị cuộc sống, những đứa con và hơn nữa, là một Ai đó.
Trong thời điểm hai người mới gặp và yêu nhau, người ta có thể thề trăng hứa sao, hẹn non hò biển, nhưng trước khi quyết định tiến tới hôn nhân, họ cần phải nghiêm túc đặt ra những vấn đề mang tính sống còn, một trong những điều chúng ta muốn bàn đến ở đây là bậc thang giá trị. Nếu hai người không có một hướng nhìn chung này hay ít ra, hiểu biết và chấp nhận quan điểm và lập trường sống của người yêu thì sẽ dễ dẫn đến tan vỡ nay mai, vì căn nhà có vững chắc là nhờ cái nền chất lượng và vững chãi, cũng vậy, đời sống hôn nhân gia đình không thể lâu bền nếu không được đặt trên những thang giá trị chuẩn mực và thiết thực. Bởi đó, ngày nay người ta thống kê một phần lý do dẫn đến những cuộc ly dị là thiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt giai đoạn trước hôn nhân. Nghĩa là họ chưa được tiếp cận những hướng dẫn cụ thể cho đời sống chung của những chuyên gia tâm lý hôn nhân gia đình hoặc tham gia tích cực các lớp giáo lý hôn nhân để bản thân chuẩn bị những tâm thức và tâm thế sẵn sàng khi đối diện với những khó khăn trong tương lai.

Hẳn nhiên, ai cũng hiểu biết và ý thức những giá trị đang ước ao của đời sống này cả trước khi bước vào hôn nhân, nhưng thực tế, khi đối diện với thực tại vốn muôn màu muôn vẻ, người ta dễ bị cuốn theo những xu hướng xã hội đương thời đề cao mà bỏ qua những truyền thống cổ xưa đã không ngừng giúp các bậc phu huynh của họ kiên vững trong đời sống gia đình. Một minh họa cụ thể cho những gì chúng ta đang bàn đến, xét ưu tiên cho giá trị gia đình. Do hoàn cảnh khó khăn, một số gia đình phải sống cảnh tha phương cầu thực, vợ ở quê nhà còn chồng làm phương xa hoặc ngược lại. Mặc dù, họ vẫn tiếp xúc với nhau mỗi ngày qua các điện thoại thông minh, họ có thể nhìn mặt nhau và nói chuyện trực tiếp nhờ phương tiện hiện đại, nhưng đó chỉ là cách quan tâm về mặt tâm lý. Song, có một phần khác mà chúng ta chưa chú trọng đủ mà đôi khi, chúng lại mang tính quyết định, đó là nhu cầu thể lý. Bởi đó, mới có trường hợp, chồng hy sinh rời xa tổ ấm để ky cóp tiền bạc về xây dựng gia đình, nhưng có ai ngờ, ở nhà, vợ mình qua lại với tên chạy xe ôm, vì ông này vẫn chở nàng đi chợ và lo cho nàng mọi thứ chỉ trừ tiền bạc. Hóa ra, giá trị của gia đình bị lãng quên, người ta nhân danh một thứ hạnh phúc nào đó được xây dựng bằng tiền tài để sẵn sàng hy sinh việc xa rời tổ ấm mà bương chải với đời, đến khi có một chút vật liệu để xây căn nhà thì không có người để ở; nhà không có, tổ ấm cũng chẳng còn !

Hay có những người vì quá mê chuyện làm ăn và đối tác để rồi bỏ bê bữa cơm tối gia đình: một lần, hai lần rồi quen dần thích ăn cơm tiệm hay nhậu với bạn bè hơn là chung bữa cơm với vợ con, với lý do biện minh rằng vì tương lai hạnh phúc gia đình…Đúng là hầu như các ông chồng đều có ý hướng tốt lành đó, nhưng không thể xem chúng như là cách để thường xuyên vắng mặt trong bữa cơm gia đình và những buổi gặp gỡ khác trong sự gần gũi thân tình giữa vợ chồng – con cái. Họ nhủ lòng rằng cố tạo tương giao tốt với sếp và đồng nghiệp (ăn nhậu) thì dễ thăng chức, thăng chức thì sẽ có lương cao, có lương cao sẽ xây một căn nhà đẹp, có căn nhà đẹp thì gia đình sẽ hạnh phúc…Lầm to ! Họ quên một sự thật quan trọng rằng không thể xây dựng hạnh phúc gia đình trong tương lai mà không đặt nền móng vững chắc từ bây giờ trong hiện tại. Làm sao có một gia đình hạnh phúc mà mỗi thành viên không thường xuyên gặp gỡ để vun đắp mái ấm của mình ? Làm sao có một tình thân đích thực khi cảnh chồng về muộn mà vợ con đã ngủ sớm, rồi sáng ra, vợ đi chợ, con đi học mà chồng vẫn ngủ li bì, đến khi dậy đi làm thì tinh thần uể oải lại cũng chẳng gặp được mặt vợ con…cứ như thế, ngày này qua tháng nọ, đó gọi là gia đình ?
Và trong phạm vị ưu tiên cho sự chọn lựa về gia đình, ở đây, chúng ta được mời gọi nhìn về một hướng là những đứa con trong gia đình.

Trước tiên, chúng ta nghe lời khẳng định từ Giáo hội: Hôn phối và tình yêu trong hôn nhân, tự bản chất, được hướng về việc sinh sản và nuôi dưỡng con cái. Trên thực tế, con cái là ân huệ tối thượng của hôn nhân và mưu ích rất nhiều cho chính cha mẹ chúng. (x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Vui Mừng Và Hy Vọng – Gaudium et Spes, số 50). Điều này hầu hết mọi Kitô đều xác tín như thế nhưng trong thực tế, đôi khi chúng bị lãng quên và đưa đến những lạm dụng đáng tiếc. Chẳng hạn, một khi hai vợ chồng chỉ chăm chú vào bản thân và tập chú vào cuộc hôn nhân đang gặp khủng hoảng mà sẵn sàng chia tay mặc cho những đứa con – là những kẻ đáng thương nhất – phải chịu cảnh cha mẹ ly tán. Trái lại, cũng có những bậc cha mẹ vì nhìn đến những hậu quả ảnh hưởng sâu đậm đến con cái do việc ly tán mang lại mà đã chấp nhận tình trạng hiện thời mặc dù không ngủ chung một giường, chẳng ăn chung một mâm. Cho đến một ngày, hai người xích lại gần nhau sau những biến động không thể nào tránh khỏi, đã vượt qua ngoạn mục nhờ thiện chí của hai người. Khi đó, đứa con đã trở thành sợi dây vô hình nối kết mọi khoảng cách tưởng chừng như vô vọng trong đời sống gia đình.

Tưởng cũng cần nhắc lại về tình trạng khủng hoảng trong đời sống nói chung và trong hôn nhân gia đình nói riêng. Có thể nói, khủng hoảng là thành phần tất yếu cho mọi đời sống mà hôn nhân cũng không là một ngoại lệ. Đôi khi, người ta tránh né thuật ngữ này mà dùng một từ khác, nhưng dù sao, nó cũng nói lên một sự biến động nào đó mà sau cuộc giông bão, mỗi người sớm vượt qua và lớn lên. Bởi đó, để vượt qua và lớn lên, mỗi người trong gia đình đều trải qua những cuộc khủng hoảng cách nào đó. Tuy nhiên, tùy cách mỗi người tiếp cận và giải quyết thực tại này mà sẽ có nhiều hệ quả khác nhau. Có những người đã tìm đến giải pháp ly dị, nhưng thật ra, đây chỉ là cách tránh né thực tại đời sống vì thực tế, có những người trải qua nhiều cuộc tình mà không thể sống hài hòa với ai. Một trong những hướng tích cực mà chúng ta đang bàn đến: tất cả vì đàn con thân yêu.

Cuối cùng, hướng nhìn mà hai người yêu nhau nhắm đến là chính Thiên Chúa. Quả thật, Ngài là tác giả phối hợp và tác thành họ nên một qua niềm xác tín vào Bí tích Hôn nhân: Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly. Thế nên, Ngài đồng chịu trách nhiệm cho đôi bạn. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu thuật ngữ “đồng trách nhiệm” này thế nào ? Nghĩa là chính Ngài đã ban đủ ơn giúp họ sống trọn vẹn và bền vững trong cuộc hôn nhân này. Nhưng thực tế, con người vẫn quyết định ly dị là tùy tự do của mỗi người. Có thể nói, phần lớn những điều đáng tiếc này xảy ra là do họ không nhận thức đúng về thực tại thánh thiêng này. Thật vậy, họ cho rằng một đời sống hạnh phúc không thể chấp nhận sự có mặt của những khó khăn, thử thách và cả những khủng hoảng nữa ! Hạnh phúc không phải là một thứ cảm xúc phấn chấn hay cảm giác thỏa mãn nào đó mà chúng hệ tại sự chúc phúc của Thiên Chúa. Quả thật, chính Ngài mới thực sự đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Khuynh hướng chung của vợ chồng khi gặp khó khăn, thử thách nào đó là họ thường đổ lỗi cho nhau mà không tìm hướng giải pháp tốt nhất đến từ giáo huấn của Giáo hội, được hiểu như ý muốn của chính Thiên Chúa trong giai đoạn đen tối này. Chính khi quá tự tin vào khả năng tự giải quyết của chính mình, quá nhìn vào bản thân mà quên đi sự thật: khi yêu, họ nhìn về một hướng là chính Thiên Chúa.

Từ những gì vừa trình bày, chúng ta đã thấy được phần nào giá trị tích cực từ câu nói của tác giả Antoine de Saint-Exupéry, đồng thời, bổ sung cho thông điệp này bằng cách đề nghị hai người yêu nhau cũng cần nhìn vào nhau để nhận ra những tâm tư, tình cảm đôi khi chỉ đọc được qua ánh mắt. Cho dù, các bạn đang nhìn nhau hay nhìn về một hướng, hãy luôn tâm niệm Thiên Chúa luôn ở với các bạn, Ngài muốn chia sẻ phận người với các bạn, đồng trách nhiệm với các bạn và chúc phúc cho gia đình các bạn.

EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Công việc người trẻ trong đường hướng Thiên Chúa

Công việc người trẻ trong đường hướng Thiên Chúa

Lớn lên, ai cũng cần công ăn việc làm ổn định và sống dồi dào. Đó cũng là khát khao và ước mơ thời tuổi trẻ. Chia tay những năm dùi mài kinh sử, người trẻ bước vào đời với biết bao cơ hội làm ăn. Đâu là điểm khởi đầu để người trẻ chạy nhanh và tiến xa trên con đường lập nghiệp? Câu hỏi ấy không dễ trả lời; bởi thực tế, nhiều người trẻ đang thất nghiệp, công việc khó khăn và ra trường làm không đúng chuyên ngành.

Vậy, Thiên Chúa nghĩ gì về công việc hiện nay của người trẻ?

Để trả lời vắn gọn thắc mắc trên, trong khi chia sẻ với các bạn trẻ, Giáo Hội trước hết khẳng định rằng: công ăn việc làm là chủ đề chính người trẻ ước muốn và bận tâm. Thật dễ để thấy chính mình, bạn bè và cả xã hội đều phải đương đầu với kiếp sống mưu sinh. Bạn ngóng ra đường thấy dòng người lao xao xuôi ngược. Họ đang vất vả bương chải chẳng phải vì miếng cơm, manh áo hay sao?

Giàu có và tiện nghi ai cũng mong muốn và kiếm tìm. Một trong những yếu tố quan trọng của làm giàu là đam mê. Nhiều doanh nhân đã chỉ ra, và thêm rằng, đó là đam mê chính đáng và cao thượng. Chẳng hạn, trong chương I của cuốn sách: Chiêu Bài Quản Lý Vàng của Bill Gate, trích câu nói trứ danh của Albert Einstein:

“Đam mê là người thầy tốt nhất. Có đam mê mới nỗ lực làm việc và luôn thấy cuộc sống thật phong phú. Nếu công việc bạn đang làm là niềm đam mê của bạn thì điều đó cho thấy, bạn đã thành công một nửa.”

Điều thú vị là đam mê ấy đến từ Thiên Chúa, tôi tin thế, vì Albert Einstein (1879–1955) vốn là một người sùng đạo hằng tin vào Thiên Chúa. Là người Do Thái, ông theo học trường Công Giáo và thích đọc Kinh Thánh. Ông là người đặt nền cho vật lý hiện đại (Thuyết tương đối[1]). Một trong những phát biểu của ông về Thiên Chúa như sau: “Những ai nghiêm túc nghiên cứu khoa học đều chắc một điều là trong tất cả những định luật của vũ trụ đều có bóng dáng của một thần linh siêu vượt lên trên con người và chúng ta phải cảm thấy mình thật thấp kém.” Thần Linh siêu vượt đó giúp ông đam mê tìm tòi, khám phá.

Tiếc là xã hội Việt Nam hiện nay (trên thế giới cũng thế), tình trạng thất nghiệp gia tăng, lương lao động thấp và mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Thậm chí tôi có nhiều dịp gặp các bạn trẻ đang phải lao động trong môi trường khắc nhiệt. Bóc lột sức lao động và xem người trẻ như một món đồ để mua bán. Nhiều bạn trẻ phải bỏ quê xuất khẩu lao động. Nơi đó không thiếu những hình thức loại trừ và bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Điều này khiến các bạn trẻ nghèo hoàn nghèo. Hệ quả là tình trạng thiếu công ăn việc làm đã cướp đi khả năng mơ ước và hy vọng.

Dĩ nhiên ai cũng thấy giá trị của lao động luôn cao quý. Chính Thiên Chúa cũng lao tác, sáng tạo tiếp tục thế giới này. Ngài mời gọi con người, người trẻ cộng tác trong công trình vĩ đại này. Trong mỗi công việc mình làm, người trẻ được mời gọi nhìn nó như một sứ mạng cao quý. Xin đừng biến mình thành những robot chỉ cắm cúi làm việc mà không suy tư, phản tỉnh. Trong ý hướng này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắn với người trẻ:

“Mặc dù công việc có thể không giúp các con thực hiện các ước mơ của mình, nhưng điều quan trọng là những người trẻ phải nuôi dưỡng một cái nhìn, học cách làm việc theo cách thật sự cá nhân và đầy đủ cho đời sống của mình, và tiếp tục phân định ơn gọi của Thiên Chúa.” (Đức Kitô Sống, số 268)

Bạn có bao giờ hỏi: tại sao tôi lại làm công việc này? Tôi có thể làm gì tốt hơn không? Chúa đang muốn tôi làm gì trong công việc cụ thể này?

Điều đáng bàn là làm sao người trẻ dùng tài năng và sức trẻ của mình để có được một công việc đáng mơ ước. Siêng năng học tập và kiến tạo tương lai là điều Giáo Hội mời gọi. Ngồi chờ sung rụng là rụng cả tương lai. Tôi biết nhiều người bạn thao thức, bàn luận và khởi khiệp. Thất bại có, thành công có. Vấn đề là họ phải suy nghĩ “nát nước” để tìm ra giải pháp khả thi. Khi đó, họ vừa làm, vừa trải nghiệm. Bởi đó, Bill Gates chia sẻ với người độc rằng: “Thành công bắt nguồn từ trái tim không ngủ yên.”[2]

Thành công chỉ “bó tay” với những ai lười biếng. Đôi khi có bạn ảo tưởng: giàu có thần tốc. Người giàu như thế trên thế giới có, nhưng đếm trên đầu ngón tay. Cứ bình thường, ai cũng trải qua bước khởi nghiệp. Đôi khi sự phũ phàng, trắc trở thử thách người trẻ, nhưng thành công sẽ đến với những ai không từ bỏ ước mơ, không bao giờ được bỏ cuộc.

Thừa nhận là có người gặp nhiều thuận lợi trong sự nghiệp của họ, nhưn phần lớn nhân loại phải vất vả mới có miếng ăn. Dù bạn là ai trong số ấy, Thiên Chúa gọi bạn làm việc. Chúa có thể gọi bạn làm y tá, thợ mộc, nhân viên ngân hàng, kỹ sư, nhà giáo, nghệ sĩ hoặc bất kỳ công việc nào khác. Ước chi người trẻ có thể tập trung hết khả năng của mình để hy sinh, đại lượng và dấn thân.

Tôi phải thừa nhận một sự thật đau lòng ở Việt Nam: nhiều người trẻ không cảm nhận được niềm vui trong công việc.[3] Có người học vì cha mẹ, chọn nghề học vì ép buộc. Lắm người làm chỉ đơn thuần vì đồng lương. Tuy nhiên, lý tưởng của một công việc bao gồm cả niềm vui, hăng say và cống hiến. Đó là ý nghĩa của công ăn việc làm. Không chỉ ở thời đại 4.0, thời xa xưa con người đã mong ước điều ấy:

“Tôi nhận ra rằng, đối với con người, không có gì tốt hơn là hưởng những thú vui do công việc chính mình làm ra.” (Trích sách Giảng Viên 3,22, được viết cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên).

Vậy rốt cuộc Thiên Chúa muốn người trẻ làm gì? Chắc chắn Ngài muốn người trẻ sống hạnh phúc và dấn thân. Đáng trách cho những ai lười biếng, ăn bám và than trời trách đất. Người đời sẽ vỗ tay ủng hộ những bạn trẻ chí thú làm ăn. Hãy khai phá con đường mới để cùng nhau giúp mình và người khác hưởng cuộc sống đầy đủ, phát triển bền vững.

Lao động có khi chưa bao giờ an nhàn thư thái; tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh đó, con người hy vọng tìm cho mình chỗ nương tựa nơi Thiên Chúa. Cùng với Ngài làm việc và thưởng thức những thách đố từ công ăn việc làm. Đến độ Martin Luther King (1929–1968) khẳng khái:

“Nếu một người được kêu gọi làm phu quét đường, thì người ấy nên quét đường y như cách Michelangelo vẽ tranh, hoặc Beethoven sáng tác nhạc hay Shakespeare làm thơ. Người ấy nên quét đường cho thật tốt đến độ tất cả các thiên binh trên trời dưới đất phải dừng lại để nói rằng: Nơi đây đã từng có một người quét đường vĩ đại, người ấy đã làm thật tốt công việc của mình.” (x. Docat, 135).

Lạy Chúa Giêsu, nhìn tới nhìn lui, biết bao người trẻ chúng con đang quay cuồng với cuộc sống mưu sinh. Có bạn muốn làm việc, nhưng vẫn chịu cảnh thất nghiệp; có bạn muốn phấn đấu làm ăn, nhưng không có cơ hội; nhiều bạn khởi nghiệp, nhưng mấy ai thành công, v.v. Đã đến lúc chúng con cần Ngài giúp sức, để trong mọi hoàn cảnh, chúng con làm việc trong niềm vui với ước mơ lớn. Trong từng hoàn cảnh, xin giúp chúng con thấy đâu là công việc làm nên cuộc đời ý nghĩa. Làm sao để phụng sự Chúa trong những sứ vụ cụ thể chúng con đang làm? Được như thế, người trẻ hy vọng một tương lai tươi sáng hơn, đáng sống và đáng làm việc hơn. Amen.  

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

[1] Đọc thêm trên wikipedia, Thuyết_tương_đối (một trong những phương trình nổi tiếng của Einstein: E = mc2)

[2] X. Chiêu Bài Quản Lý Vàng của Bill Gates, chương I, phần 5.

[3] Steve Jobs, tác giả của chiếc điện thoại iPhone, máy tính bảng iPad, v.v, nói với người trẻ rằng: “Công việc sẽ lấp đầy một phần lớn cuộc đời của các bạn, cách duy nhất để có được sự thỏa mãn là làm thứ bạn tin rằng nó tuyệt vời. Và cách duy nhất để làm thứ gì tuyệt vời là yêu cái bạn đang làm. Nếu bạn chưa tìm ra, hãy kiên trì. Đừng thỏa hiệp.”

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Nguy hại của ‘Văn hóa Hiệu quả’

Nguy hại của ‘Văn hóa Hiệu quả’

WGPSG / Aleteia — Hãy gấp rút trổ sinh hoa trái! 

Có một câu châm ngôn định hướng, dẫn dắt tư tưởng của con người trong xã hội hiện nay: “Giá trị của bạn tùy thuộc vào những gì bạn làm ra.” Cái nhìn thiển cận và không lành mạnh như thế về cuộc sống được tạo ra bởi một thứ “văn hóa hiệu quả”, đang lan tỏa khắp các lĩnh vực trong xã hội chúng ta.

Câu châm ngôn đó cũng có thể mang những hình thức khác: Bạn chỉ thực sự hiện hữu khi bạn luôn hợp thời; bạn chỉ thực sự sống khi đến thăm càng nhiều nơi càng tốt; bạn chỉ có thể nhận được sự quý trọng nếu bạn làm việc nhiều nhiều hơn nữa.

Tóm lại: giá trị của bạn phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của bạn. Không có chỗ cho sự suy tư, thinh lặng, nghỉ ngơi hoặc sự yếu đuối!

Hãy gấp rút trổ sinh hoa trái! Đây là một tiêu chí, ở mức độ nào đó, có nguy cơ đầu độc tinh thần của chúng ta, thu gọn không gian của con người, tạo ra các thế hệ của những con người bị kích thích quá mức, những con người không bao giờ giao tiếp được với chính họ, và bị mắc kẹt trong một vòng xoáy điên cuồng.

ĐTC Phanxicô đã nói, chúng ta cũng cần phải suy nghĩ về văn hóa lành mạnh của sự nhàn tản, biết cách nghỉ ngơi.

Mệnh lệnh thúc ép chúng ta làm việc và phải thu lấy kết quả tối ưu cũng ảnh hưởng và gây hại cho đức tin của chúng ta, đến mức tạo ra hình ảnh về một vị Thiên Chúa của hiệu quả. Đó là một vị Thiên Chúa đòi hỏi những thành tích hoàn hảo, không ngừng làm việc, và cũng phán xét chúng ta theo kết quả chúng ta đạt được.

Bất cứ ai có cái nhìn như thế về Thiên Chúa sẽ làm việc nhiều hơn những gì đáng phải làm, nhưng nỗi ám ảnh đó sẽ quá mức. Sự nhiệt thành cho việc này hay việc khác được nuôi dưỡng bởi ý nghĩ “đây là cách bạn thực thi ý Chúa” hoặc “bạn phải vác thập giá của riêng mình.” Ẩn sâu bên trong, đó là làm điều lành nhưng không có chừng mực hoặc mất quân bình.

Có những người vì lý do này mà luôn cố sức làm việc, nỗ lực dấn thân tối đa, không bao giờ thư giãn, không hề bận tâm đến ý niệm nghỉ ngơi trong cuộc sống của họ.

Điều này đôi khi được phản ánh trong “học thuyết chuộc tội” và trong ý niệm rằng Thiên Chúa “sẽ trả cho mỗi người tùy theo việc họ làm.”

Theo nhà phân tâm học Erik Erikson, điều này có thể đã được khắc sâu từ thời thơ ấu, ví dụ như khi cha mẹ đưa ra ‘cung cách đổi chác’: bạn chỉ có thể nhận được một lời khen, một giải thưởng hoặc một món đồ chơi từ cha mẹ “khi bạn hoàn thành nhiệm vụ của mình.”

Những người triển khai cái nhìn về “một vị Thiên Chúa của hiệu quả” có thể sẽ bị kiệt sức; họ tập trung quá mức vào công việc, vào sự thành công và hình ảnh của mình, tuyệt vọng tìm kiếm sự tán thưởng cho việc họ làm, khi họ lao mình vào công việc một cách quá đáng.

Theo Henri Nouwen, nhu cầu phải liên tục chứng minh tính hiệu quả của họ chính là con đường dẫn tới kiệt sức, là một dòng nước đục làm cạn kiệt năng lượng sống.

Nói chung, những người này cũng trải nghiệm áp lực của sự kỳ vọng, nỗi sợ bị cạnh tranh từ người khác và nhu cầu phải kiểm soát mọi thứ – ngay cả cảm xúc của họ – để không được phép có một thiếu sót nào trong kết quả chung cuộc.

Đôi khi, một ý nghĩ như vậy tạo ra một dạng của chủ nghĩa vị tha, mà thay vì là đức ái Kitô giáo chân thực và tốt đẹp, lại trở thành một cuộc chạy đua mất kiểm soát của chủ nghĩa hoạt động: làm nhiều, làm tốt hơn, làm mọi thứ!

Rất nhiều lần hình ảnh này được củng cố bằng một bài đọc đầy tính hy sinh về sự cứu chuộc của Chúa Giêsu: “Người đã hy sinh thật nhiều cho bạn, nhưng bạn chưa làm bất cứ điều gì cho Người.”

Người con thứ trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu đánh giá mối quan hệ của mình với Người Cha bằng tiêu chí hiệu quả. Trên đường về nhà, cậu nhẩm tính: “Tôi sẽ nói với cha tôi rằng: Thưa cha, con đã sai và rằng, nếu được, con ít nhất cũng có thể là người làm công cho cha, nếu con không còn đáng là con của cha.”

Nhưng người cha trong dụ ngôn không chờ đợi đứa con trai tự biện minh hay giãi bày về kết cục thất bại của mình. Ông thậm chí không để cậu nói, mà thay vào đó, chạy đến ôm chầm lấy cậu.

Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu đã phá đi hình ảnh của một Thiên Chúa như Ông Chủ nghiêm khắc đặt những lỗi phạm của chúng ta lên bàn cân, và đong đếm tình yêu của Người dành cho chúng ta.

Thay vào đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta lắng nghe tiếng nói bên trong hằng thúc giục chúng ta, ngay giữa lúc hoạt động và thất bại, hãy trở về với Người bằng cả trái tim mà tận hưởng niềm vui của mái ấm và tình yêu, rồi sau đó mới tính đến mọi sự khác.

Nhiều lần, Đức Giêsu đã thách thức não trạng thiên về hiệu quả.

Khi Ngài muốn cho đám đông ăn, và thấy các Tông đồ “đang tính toán”, Ngài yêu cầu họ phải có niềm tin vào năm chiếc bánh và hai con cá của một đứa trẻ. Những thứ ít ỏi khi được cho đi, được chia sẻ với tình yêu, sẽ mang lại hoa trái hơn gấp nhiều lần những công việc mệt nhọc được thực hiện với sự đắn đo, cứng nhắc và lo âu.

Một trong những dụ ngôn đẹp nhất của Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng, khi Thiên Chúa thấy một cây trồng đã không sinh hoa trái trong ba năm, Người không nhìn ngay vào kết quả được tạo ra, nhưng kiên nhẫn và gia hạn thêm một năm nữa, mà trong thời gian đó chính Người đã bỏ công sức ra mà cắt tỉa và chăm bón cho nó.

Tại làng Bêtania, lời trách móc ngọt ngào mà Chúa Giêsu dành cho Matta không phải là coi thường giá trị sự phục vụ và hành động của bà, nhưng là để nhắc nhở bà và nhắc nhở chúng ta rằng, nếu chúng ta chỉ quan tâm lo lắng về những việc cần làm, chúng ta sẽ bỏ lỡ phần tốt nhất: đó là niềm vui được gặp Chúa và lắng nghe Lời Người.

Lm Francesco Cosentino (Aleteia) / Minh Lộc chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG

Chia sẽ bài viết này trên:

Làm Sao Tránh Được Thiên Tai – Sn Mồng Ba Tết, năm Canh Tý

Làm Sao Tránh Được Thiên Tai – SN Mồng Ba Tết, năm Canh Tý

Năm 2020 đó là năm thiên tai hỏa hoạn đến với Nước Úc. Người ta tính tới ngày 07/1/2020 vụ hỏa hoạn đã xảy ra 136 vụ làm tổn thất:

25 người mất tích và thiệt mạng, trong đó có 3 lính cứu hỏa.

Nửa tỉ động vật chết cháy, trong đó có ⅓ số gấu koala . Koala không biết chạy trốn, chúng lặng lẽ ôm cây chờ nguy hiểm qua đi. Loài vật hiền lành, khờ khạo này không có nhiều cơ hội sống sót.

14.7 triệu héc ta rừng và khu dân cư bị thiêu trụi trên cả nước. Tổng diện tích hỏa hoạn bằng 13 thành phố Sài Gòn cộng lại và gấp 16 lần diện tích rừng Amazon cháy cùng năm.

1.300 căn nhà đã bị cháy.

400µg/m3 là nồng độ bụi mịn trong không khí của Sydney vào tháng 12/2019, gấp 40 lần mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

1.39 tỉ USD được Thủ tướng công bố sẽ điều vào quỹ hỗ trợ thiên tai.

Qua vụ hỏa hoạn này ta mới càng cảm nghiệm rõ ràng hơn về cuộc sống và vạn vật chung quanh tất cả chỉ là phù vân.  Tất cả đều như “bông hoa sớm nở tối tàn”, một cơn gió thoảng đủ làm cho nó biến đi, nơi nó mọc không còn lại vết tích.

Dẫu rằng đời người vất vả lắm cũng chẳng thu tích được gì, nhưng con người vẫn phải nỗ lực tìm kiếm cái ăn cho hôm nay và ngày mai. Càng kiếm tìm con người mới ngộ ra chân lý “làm bởi bay, ban bởi Ta”. Chính vì thế, Giáo Hội dành ngày Mồng Ba Tết để xin Chúa thánh hóa ruộng vườn, mùa màng, cây cối và xin Chúa thánh hóa công ăn việc làm. Thánh Phaolô đã viết một câu mạnh mẽ nhưng hoàn toàn hợp lý:” Không làm việc thì đừng ăn “, tương tự như câu:” Đừng nằm chờ sung rụng “…

Đây cũng là cái nhìn của người Việt Nam từ xưa:

Mưu sự tại nhân – Thành sự tại Thiên.

Trời cho ai nấy hưởng

Sống nhờ ơn Trời – Chết về chầu Trời.

Người Việt luôn tin vào Trời rất công bình, họa phúc công minh; Ông Trời như một ông chủ luôn thưởng phạt công minh:

“Trời nào có phụ ai đâu
Hay làm thì giàu, có chí thì nên”

Hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta trao phó công việc làm ăn cho Thiên Chúa. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa quyền năng, Ngài điều khiển mọi loài. Ngài là Đấng cho mưa thuận gió hòa trên kẻ lành người dữ. Ngài là Đấng ban lại cho chúng ta sự thành công trong công việc mà thánh vương Đa-vít đã từng nói: “Nếu Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng bằng uổng công”.

Lịch sử nhân loại đã từng chứng minh có biết bao công trình mà không có bàn tay Thiên Chúa, hay cố tình loại trừ Thiên Chúa sẽ khó hoàn thành, đôi khi còn bị hủy diệt.

Đó chính là sự kiện xây tháp Babel. Con người đã từng không chấp nhận thua Thiên Chúa. Họ muốn chống lại Thiên Chúa nên hợp lực với nhau để xây tháp tới Trời. Thế nhưng, lực bất tòng tâm. Công trình của họ đã bị dang dở. Họ chia rẽ nhau ngay khi công việc còn dở dang.

Gần đây nhất là vụ hỏa hoạn Nước Úc, nếu Trời không mưa thì Nước Úc chỉ còn chở cháy hết rừng mới không còn chỗ cháy.

Thế nên, việc cầu Trời, khấn Trời dù ở khung trời văn minh hay chốn hồng hoang vẫn là cần thiết. Con người luôn bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên. Con người như cảm thấy mình quả nhỏ bé so với vạn vật được tạo thành. Sự khiêm tốn đòi hỏi con người phải cần đến sự trợ giúp và chúc lành của Đấng Tạo Thành.

Trong tâm tình đó, hôm nay, ngày xin ơn thánh hóa công ăn việc làm. Chúng ta dâng lên Chúa những ưu tư hoài bão của chúng ta lên Thiên Chúa. Chúng ta cầu xin Chúa ban cho một năm “mưa thuận gió hòa”, mùa màng trĩu hạt. Xin Chúa là Đấng quyền năng chúc lành cho công việc của chúng ta từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Thánh Cha chúc Tết âm lịch các dân tộc Á châu

Đức Thánh Cha chúc Tết âm lịch các dân tộc Á châu

Vào cuối buổi tiếp kiến chung sáng ngày 22/01, Đức Thánh Cha đã chúc mừng Năm Mới âm lịch các nước sẽ mừng Năm Mới vào ngày 25/01, trong đó có Việt Nam.

Đức Thánh Cha chào, chúc mừng và cầu nguyện cho các nước sẽ mừng Năm Mới vào ngày 25/1. Ngài nói:

“Ngày 25/01 tới đây, tại vùng Viễn Đông và tại một vài nơi trên thế giới, hàng triệu người nam nữ sẽ mừng Năm Mới âm lịch.

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến tất cả anh chị em. Tôi đặc biệt cầu chúc các gia đình sẽ trở thành nơi giáo dục các đức tính: hiếu khách, khôn ngoan, tôn trọng lẫn nhau; và hòa hợp với công trình sáng tạo.

Tôi xin anh chị em cầu nguyện cho hòa bình, cho việc đối thoại và đoàn kết giữa các quốc gia. Đó là những món quà mà thế giới ngày nay cần hơn bao giờ hết.”

Hồng Thủy – Vatican

 

 

 

Chia sẽ bài viết này trên:

Chìa Khóa Hạnh Phúc – Lễ Giao Thừa

Chìa Khóa Hạnh Phúc

Lẽ đất trời có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc, bắt đầu vào lúc giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa. Và đây là giây phút thiêng liêng và tuyệt đẹp, trời đất giao hòa, âm dương đan dệt vào nhau, mỗi người đều cảm thấy như có một cái gì đó thôi thúc, nhưng cũng có một cái gì đó níu kéo lòng ta, chúng ta đang ở vào thời khắc cũ giao lại, mới đón lấy, năm cũ sang năm mới.

Trong giờ phút huyền nhiệm này, mở ra những ngày mới, giúp con người hy vọng, cậy trông và tín thác vào Đấng tác tạo cả đất trời, Đấng ấy là Cứu Chúa của chúng ta. Không gì thích hợp bằng việc chúng ta phải làm trước tiên là hướng tâm hồn lên Chúa là nguồn mạch mọi ơn phúc, để xin Ngài giáng phúc thi ân cho mọi người, mọi nhà, hầu tất cả được sống bình an và yêu thương trong sự quan phòng của Chúa là Đấng Giầu Lòng Thương Xót và thứ tha.

Lời Thánh vịnh 133,3 mới đẹp làm sao : “Cúi xin Đấng tạo thành trời đất, xuống cho đoàn con muôn ngàn phúc cả từ núi thánh Sion” ( Tv 133, 3 ). Lời nguyện dưới đây lôi kéo chúng ta về với Chúa, Đấng là Alpha và Ô Mêga, là Nguyên thủy và là Cùng đích: “Lạy Thiên Chúa là Đấng vô thủy vô chung, là căn nguyên và cùng đích vạn vật, trong giờ phút giao thừa này, chúng con hướng tâm hồn lên Chúa. Cúi xin Chúa rộng ban cho chúng con một năm dồi dào phúc lộc, và đầy lòng hăng hái làm việc lành để tôn vinh danh thánh” (Lời Ca nhập lễ).

Lời Môsê ngỏ với Aaron và các con ông Aaron như sợi dây lôi kéo phúc lành và bình an của Chúa xuống cho dân : “Nguyện Đức Chúa ban phúc lành và gìn giữ anh em ! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em” Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Chúa và Chúa sẽ chúc lành cho chúng (Ds 6n 22,27). Tác giả Thánh Vịnh nói cho chúng ta biết lý do tại sao phải hướng lòng lên Chúa và van xin Ngài : “Ơn phù hộ tôi đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 120, 1-2). Nếu như khi xưa thánh Phaolô đã khuyên tín hữu Thêxalônica, nay ngài cũng khuyên chúng ta : “Hãy cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh” (1Tx 5,16).

Trước thềm năm mới, mỗi người chúng ta đều mang trong mình những những tâm tư và ước muốn. Ưu tư nhìn lại quá khứ, hy vọng hướng tới tương lại. Vậy giờ đây chúng ta có những tâm tình nào, ước muốn gì, chờ đời gì và nhất là nói gì với Chúa ? Chắc chắn một điều là ai cũng xin Chúa là Đấng vô thủy vô chung, là căn nguyên và cùng đích vạn vật, rộng ban cho một năm mới phúc lộc dồi dào, và lòng hăng hái làm việc lành để tôn vinh Danh Chúa.

Về phương diện con người, điều đầu tiên trong năm mới chúng ta cầu chúc cho nhau đó là chúc được bình an, hạnh phúc, vui vẻ, may mắn, mà người có đạo còn chúc nhau được đầy niềm vui và phúc lành của Thiên Chúa.

Về phía Thiên Chúa, vì Ngài là Thiên Chúa Tình Yêu, Ngài yêu thương con người và hằng mong muốn con người được hạnh phúc, nên Ngài sẵn sàng chúc phúc cho chúng ta, chúng ta hãy tin tưởng vào Ngài. Ngài vui khi nhìn thấy chúng ta mạnh khoẻ, cả về thể xác lẫn tâm hồn. Cha mẹ nào mà không vui khi thấy con cái mình lớn lên, khôn ngoan, khoẻ mạnh? Huống chi là Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên chúng ta, không để chúng ta hư không đời, mà lại sinh ra ta cho ta được làm người…lại cho Ngôi Hai Xuống thế làm người để cứu độ, giải thoát ta khỏi mọi tội lỗi và sự dữ, cứu chúng ta khỏi án phạt đời đời. Lời Chúa trong Thánh lễ Giao thừa minh chứng rõ ràng rằng, Thiên Chúa muốn, chúng ta là những người hạnh phúc (x. Mt 5, 1-10).

Năm hết, Tết đến, người ta đều chúc nhau thật nhiều sức khoẻ, bình an, khang an và hạnh phúc trong năm mới. Chúc nhau đong đầy hạnh phúc, xuân sang đắc lộc, gia đình hạnh phúc, vạn sự cát tường… tựu chung lại là cầu mong cho nhau được hạnh phúc. Câu hỏi được đặt ra : Đâu là căn nguyên hạnh phúc của đời người chúng ta ? Chúng ta phải quả quyết rằng : chỉ có Chúa mới là nguồn hạnh phúc của đời chúng ta, là hoan lạc của mọi tâm can, là bình an cho đời tươi thắp sáng.

Ở đầu mỗi câu Tin Mừng (Mt 5, 1-12) hôm nay là một loạt các từ “phúc”, chúng ta có thể suy diễn rằng, Thiên Chúa là Hạnh Phúc, nên Chúa cũng muốn chúng ta là những người hạnh phúc, những phúc nhân.

Thánh lễ Giao thừa này, Tin Mừng trình bày bài giảng dài đầu tiên của Chúa Giêsu nói với dân chúng trên ngọn đồi thoai thoải quanh hồ Galilêa. Thánh Mathêu viết: “Khi thấy đám đông, Chúa Giêsu lên núi: Người ngồi xuống và các môn đệ đến gần. Người bắt đầu giảng dạy họ” (Mt 5,1-2). Chúa Giêsu tuyên bố “phúc” cho người có tinh thần nghèo khó, người sầu khổ, người có lòng thương xót, những người đói khát công lý, có lòng trong sạch, những người bị bách hại (x. Mt 5,3-10). Ðây không phải là một ý thức hệ mới, nhưng là một giáo huấn đến từ trên cao và liên hệ tới thân phận con người chúng ta, thân phận mà Chúa đã muốn nhận lấy khi nhập thể, để cứu vớt. Vì thế, “Bài giảng trên núi được gửi đến tất cả mọi người, trong hiện tại và tương lai… và người ta chỉ có thể hiểu và sống bài giảng này trong hành trình theo Chúa Giêsu, đồng hành với Người” (Ðức Giêsu thành Nazareth, tr. 92). Năm Mới khỏi đầu, chắc chắn các Mối Phúc là một chương trình sống mới cho chúng ta, để được giải thoát khỏi những giá trị giả dối của trần gian và cởi mở đối với những thiện ích chân thực, hiện tại cũng như tương lai. Thực vậy, khi Thiên Chúa an ủi, thỏa mãn sự đói khát công lý, lau sạch nước mắt của những người sầu khổ, có nghĩa là Thiên Chúa mở Nước Trời, nơi hạnh phúc cho họ.

Trước thềm năm mới, chúng ta hãy khẩn cầu các thánh là những người đã được xem là phúc nhân, đặc biệt xin Mẹ Maria, là ‘Đấng đầy ơn phúc’, giúp con cái Mẹ trở thành những phúc nhân trong năm mới, nhất là trước tòa Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ đến muôn thủa muôn đời ! Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chia sẽ bài viết này trên:

Kính Nhớ Tổ Tiên Ngày Tết

Kính Nhớ Tổ Tiên Ngày Tết

Đối với dân tộc Việt Nam, mùa Xuân bắt đầu bằng những ngày Tết, là những ngày đoàn tụ gia đình. Những ngày giáp Tết, ông bà cha mẹ ở nhà trông ngóng con cháu đi xa trở về, còn con cháu ở nơi xa dù đã thành danh, công tác hay còn đi học… cũng trông mong được trở về sum vầy bên những người thân trong ba ngày Tết. Sự trở về của những con, cháu –  dù sống trên quê hương hay phiêu bạt khắp năm châu – còn là dịp để thể hiện lòng thành kính, tri ân và nhớ về tổ tiên.

Không chỉ là ngày lễ của người sống, những người đã chết cũng thực sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu trong ba ngày Tết. Trong truyền thống dân tộc, ngày 23 tháng Chạp, người ta tổ chức tiễn ông Táo về trời, và sau đó là mời tổ tiên về cùng “ăn” Tết với gia đình. Vào thời khắc giao thừa và sáng mùng Một tết, gia đình giàu sang hay nghèo khó đều cố gắng sắm sửa mâm cỗ thịnh soạn hoặc chí ít là mâm cơm đạm bạc để dâng lên ông bà, mong ông bà phù hộ cho một năm mới bình an, vạn sự như ý.

Tứ thời xuân tại thủ

Bách hạnh hiếu vi tiên.

(Xuân khởi đầu bốn mùa

Hiếu đứng trên trăm nết)

Còn trong đời sống người Kitô hữu, chữ Hiếu càng được quý trọng hơn vì đó là một trong 10 Điều Răn mà Thiên Chúa trao ban cho con người: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi (Xh 20,12).

Chúa Giêsu cũng nhắc lại lời ông Mô-sê: “Ngươi phải thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử” (Mc 7,10). Ngài phản đối việc hiếu kính “giả tạo” của con người, mặc dù đã được che đậy qua nhiều lễ nghi, phong tục, truyền thống. Ngài khiển trách những luật sĩ và biệt phái về việc áp dụng sai luật Chúa, vì đối với họ, đã dâng lễ vật cho Chúa rồi thì họ không còn bổn phận giúp cha mẹ nữa: “Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: “Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa”. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa.” (Mt 15,4-6)

Người Công giáo Việt Nam ngay từ lúc học giáo lý vỡ lòng đã được dạy dỗ: “Thảo kính cha mẹ là yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời.” (sách giáo lý Tân Định)

Với các tín đồ Công giáo vùng Á Đông, huấn thị “Plane compertum est” của Đức Thánh Cha Piô XII ngày 08/12/1939 đã công nhận những nghi lễ thờ cúng ông bà tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã có những quy định và những giáo huấn liên quan đến việc thờ phượng ông bà tổ tiên trong sứ mạng truyền giáo tại Việt Nam.

Từ đó nhiều phong tục đẹp mà cha ông đã lưu truyền từ đời này sang đời khác được đưa vào trong các nghi lễ Công giáo. Những ngày giáp tết, gia đình nào cũng sửa sang bàn thờ (trên là Thiên Chúa – dưới là gia tiên), ra nghĩa trang sửa sang, chăm sóc phần mộ ông bà. Và trong ngày đầu Xuân, nhiều gia đình đã đến nhà chờ Phục Sinh, hoặc ra nghĩa trang giáo xứ viếng mộ ông bà, cha mẹ hoặc những người thân yêu trong gia đình.

Cũng trong truyền thống đạo hiếu của dân tộc trong những ngày khởi đầu một năm mới, Giáo hội Công giáo Việt Nam dành ngày mồng Hai tết để kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, là những bậc có công thông truyền sự sống cho chúng ta. Ai cũng mong được đón nhận những giờ phút linh thiêng nhất của ngày đầu năm bên cha mẹ, ông bà dù còn sống hay đã qua đời.

Ngày đó, các người thân trong gia đình cùng nhau đến nhà thờ với tâm trạng bồi hồi xúc động. Có những gia đình đông vui với những mái đầu xanh bên mái đầu bạc, có những gia đình quạnh quẽ vơi bóng người thân… Nhưng tất cả đều cùng nhau hiệp dâng Thánh lễ thật sốt sắng để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những người thân đã qua đời của mình.

Trong Chúa Giêsu Kitô phục sinh, họ tin rằng niềm vui tết của họ chỉ là tạm bợ và chỉ là hình bóng của niềm vui vĩnh cửu trên thiên đàng. Nơi mà tổ tiên, ông bà cha mẹ và những người thân đi trước đang hưởng một mùa xuân đích thực, bất tận và hạnh phúc viên mãn.

Khi cha mẹ còn sống nếu con cái chỉ tỏ lòng yêu mến và  biết ơn thì chưa đủ, còn phải thực hiện bằng việc làm là giúp đỡ cha mẹ, nhất là  khi các ngài đã về già. Tuổi già với những khó khăn, hạn chế về thể xác là kết quả của những tháng ngày dài vất vả nuôi dạy con cái, vì thế việc chăm sóc cha mẹ già không phải là dễ. Nhiều người đã coi cha mẹ già là một gánh nặng nên đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, hoặc cung phụng cho cha mẹ tiền bạc rồi cho đó là thảo hiếu cha mẹ, nhưng không hề về thăm hỏi cha mẹ dù là ngày lễ, tết (vì bận đi du lịch, thư giãn…!).

Khi cha mẹ qua đời, con cái vẫn còn bổn phận giúp đỡ cha mẹ qua Thánh lễ và kinh nguyện hàng ngày vì các ngài chỉ an nghỉ về mặt thể xác nhưng phần hồn vẫn còn hiện diện và trông chờ con cháu cầu nguyện cho các ngài. Nhất là trong những ngày đầu năm mới, ngày linh thiêng của người Kitô hữu, ngày mà bất kỳ người con nào cũng không được phép quên cha mẹ đã qua đời của mình, dù tóc đã bạc, răng đã long. Mỗi người con phải để cao bổn phận làm con của mình cho thế hệ mai sau được biết, để thế hệ này qua đi, vẫn còn có thế hệ kế tiếp sẽ làm công việc đền ơn báo nghĩa trong những ngày đầu năm mới.

Thắp lên những nén hương thơm ngày tết, chúng ta dâng lời tạ ơn Thiên Chúa là cội nguồn sự sống đã tạo dựng nên muôn loài, tứ thời Xuân Hạ Thu Đông; tạ ơn Thiên Chúa đã cho ông bà cha mẹ sinh ra chúng ta làm người. Chúng ta tri ân các ngài vì công ơn sinh thành, dưỡng dục và không chỉ thông truyền sự sống làm người cho chúng ta mà còn thông truyền cả sự sống đức tin cho chúng ta.

Chúng ta có được như ngày hôm nay chính là nhờ công ơn của các ngài: những giọt mồ hôi, những vất vả, những lắng lo và hy sinh tột bực có khi phải đổ cả máu đào để nuôi dưỡng không chỉ phần xác mà còn cả phần hồn chúng ta. Các ngài như gốc mai đại thụ xù xì già cỗi để cho chúng ta là những cánh hoa vàng rực rỡ khoe sắc trong nắng xuân. Công ơn ấy cao ngất tựa Thái Sơn, bao la như biển Thái Bình mà những kẻ làm con không bao giờ đáp đền cho đủ.

Xin các ngài bầu cử cho chúng ta là con cháu, mỗi năm thêm một tuổi mới được sống xứng đáng hơn với kỳ vọng của các ngài. Biết dạy cho con cháu nhìn lại quá khứ để hãnh diện với công lao của tổ tiên và bảo tồn truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cao đẹp. Góp phần làm rạng rỡ gia phong, cùng như góp phần xây dựng cộng đồng mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho những bậc sinh thành của chúng ta còn tại thế. Xin Chúa ban cho các ngài được hồn an xác mạnh, vui hưởng tuổi già bên “con đàn cháu đống”, mỗi ngày một thêm phúc đức, làm trụ cột cho con cháu noi theo.

Jos. Hoàng Mạnh Hùng

Chia sẽ bài viết này trên:

Tết, Tết là gì?

Tết, Tết là gì?

Vào mùa xuân, thế giới tự nhiên như bừng tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Cái lạnh lẽo và khắc nghiệt qua đi, nhường chỗ cho những tia nắng hồng ấm áp ló dạng, đánh thức những nhành cây trơ trụi, làm chớm hé nơi đó những nụ hoa tươi. Tiết trời có chút se lạnh, một cái lạnh không làm người ta sợ như mùa đông, nhưng một cách nhẹ nhàng, nó làm người ta giật mình vì có một cái mới gì đó đang đến. Sự sống như trở lại. Lòng người cũng theo đó mà vui hơn.

Nhắc đến Tết là nhắc đến một sự bắt đầu. Cuộc đời cứ mãi là một chuỗi những bắt đầu. Nhưng sự bắt đầu của năm nay không giống như sự bắt đầu của năm trước. Năm trước là cái đã qua đi; nó đã thuộc về miền ký ức, đã chết đi cùng dòng thời gian. Cái bắt đầu của năm nay là cái mới, tuy nó cũng không hoàn toàn biệt lập hay tách ra khỏi lịch sử. Tia nắng đầu tiên của ngày Tết là cái nguyên đán, cái tinh tuyền, tinh khôi. Nó đưa người ta vào một khung trời khởi động mới. Nó mời gọi người ta hướng đến một chặng đường phía trước với tất cả niềm hy vọng và hân hoan.

Tết là thời khắc của niềm vui. Niềm vui của sự sum vầy. Các thành viên trong gia đình quây quần bên nhau, trao cho nhau tình nồng quý mến. Bạn bè cũng cố gắng gặp gỡ nhau, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, chia sẻ cho nhau những dự tính sắp tới. Người ta dành cho nhau nhưng câu chúc tốt đẹp. Người ta tha hồ mơ mộng đến những viễn tượng đầy màu sắc của năm nay. Người ta cố sửa soạn để biến mình trở nên đẹp nhất có thể, vì cái đẹp là biểu tượng của niềm hạnh phúc, của sự may mắn, của điều tuyệt vời.

Nhưng ít bao giờ người ta để ý: Tết cũng là nỗi buồn của biết bao nhiêu người.

Đó là nỗi niềm của người già vì chẳng biết mình còn được Tạo Hoá cho hít thở không khí dưới gầm trời này bao lâu nữa. Mỗi cái Tết qua là sự sống trong mình như ngắn lại. Niềm vui của người trẻ đã cướp đi tuổi thanh xuân của người già. Thêm một tuổi, thấy cũng chẳng là gì. Nhưng cái “một tuổi” ấy cứ cộng lại từng năm, ta dường như đã quên đi mất: từ bao giờ mình đã không còn hứng thú với cái Tết nữa. Chỉ biết vui cùng niềm vui của lũ trẻ; chứ mình, còn gì để mà vui!

Đó cũng là giọt nước mắt của người xa quê vì cảm thấy một khoảng trống kinh khủng trong tâm hồn mình. Mùa Tết là mùa sum vầy, còn mình thì cô đơn nơi góc phòng quạnh vắng, vọng ký ức về miền xa xăm, cố níu kéo một niềm vui cũ kỹ nào đấy của quá khứ. Thèm được cái ôm, cái hôn. Thèm được nghe câu chúc. Thèm được cùng chúng bạn cất cao bài hát xuân. Để rồi, trong cái mông lung của nỗi nhớ, dòng lệ buồn cứ cuồn cuộn xé nát con tim.

Đó là nỗi lắng lo của những người đang lâm vào cảnh thiếu thốn vì chẳng biết mình sẽ đón Tết bằng cái gì đây. Người ta có quần áo đẹp, có nhà cao cửa rộng, có bánh mứt hạt dưa, chậu hoa tươi tắn… hăm hở chờ ngày đón Xuân. Còn mình, Tết hệt như một ông khổng lồ đè nặng trên vai. Miếng ăn hàng ngày còn không có, lấy đâu ra những thứ xa xỉ như người ta. Mình khổ đã đành, con cái mình cũng mất đi tuổi thơ hồn nhiên, chỉ bởi vì mình quá nghèo. Cái nghèo cứ đeo bám mình chẳng chịu tha từ năm này qua tháng khác.

Đó cũng có thể là một khoảng trời đen của những người đang mất đi định hướng vì không biết mình sẽ phải đối diện với cuộc sống phía trước như thế nào đây. Tết là khởi đầu, nhưng mình đã quá sợ những cái được gọi là khởi đầu lắm rồi. Cả một năm dài phía trước, với biết bao bế tắt và khốn đốn đang chờ. Ta chỉ muốn dừng lại để trốn tránh, mà thời gian cứ kéo ta đi. Ta sợ khi phải tiến về phía trước, vì chẳng biết, liệu có một hố sâu đen đủi nào ở đó chực chờ nuốt chẳng ta chăng!

Tết, Tết là gì?

Là tất cả những nỗi niềm nhân gian: vui, buồn, hân hoan, sợ hãi… Là cái làm cho người ta hạnh phúc. Là cái làm cho người ta hốt hoảng. Là cái khiến ta phải hoang mang khi đặt mình trước dòng thời gian đang lặng lẽ trôi vô hình, cứ vô tình cuốn đi tất cả những gì tay ta đang nắm.

Nhưng ta vẫn phải vui Tết, dù muốn dù không, vẫn phải sống cuộc sống của mình. Giữa tất cả những thăng trầm biến động, ta chọn cái làm mình vui, lạc quan và hạnh phúc, vì ta biết, ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, cớ gì phải buồn làm chi. Chọn lựa này đích thực là ý nghĩa của chữ “Tết”.

Tết cho ta biết: cái quý nhất trên đời là tình người và cái duy nhất có thể sưởi ấm nhân gian là sự yêu thương san sẻ. Tết nhắc nhở ta rằng mình cứ phải luôn bắt đầu, chẳng khi nào ngừng nghỉ. Tết vẽ ra trước mắt ta một khung cảnh tràn trề hy vọng, nơi mà cuộc sống hứa hẹn sẽ dành tặng cho ta một khung trời mới để tiếp tục thăng hoa và một cơ hội khác để làm lại cuộc đời. Ta vui Tết bằng một niềm vui ngập tràn sức sống: ai thật sự vui Tết, người đó không bao giờ già đi, người đó chỉ thấy mình mỗi ngày được bồi đắp nhiều hơn bằng sự khôn ngoan, bình an và ân sủng.

Đối với tôi, Tết là thế!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Chia sẽ bài viết này trên:

Hướng tới việc cử hành lần đầu tiên Chúa nhật Lời Chúa: Kinh thánh là cuộc sống

Hướng tới việc cử hành lần đầu tiên Chúa nhật Lời Chúa: Kinh thánh là cuộc sống

Nhằm chuẩn bị cho Chúa nhật Lời Chúa lần đầu tiên được cử hành vào Chúa nhật thứ ba mùa thường niên 26/01, hôm 17/01/2020, tại Phòng Báo chí Tòa Thánh, Đức tổng giám mục Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng giải thích một số điểm liên quan đến việc cử hành này.

Đức tổng giám mục nhắc lại: Chúa nhật Lời Chúa đã được ĐTC Phanxicô công bố với Tông thư dưới dạng Tự sắc “Aperuit illis – Người mở trí cho các ông”. Đây là một ngày đặc biệt để khuyến khích tất cả các tín hữu đọc và suy niệm Kinh Thánh.

Văn kiện được công bố vào ngày 30 tháng 9, phụng vụ kính nhớ thánh Giêrônimô, cũng là ngày kỷ niệm 1600 năm ngày mất của dịch giả Kinh thánh nổi tiếng, người đầu tiên dịch bộ Cựu Ước từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latinh. Chính Thánh nhân là người đã nói: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô”. Việc chọn ngày công bố Tông thư trùng với ngày mất của thánh Giêrônimô với một chủ ý khuyến khích việc nghiên cứu và chú giải Kinh Thánh trong năm nay, nhằm tôn vinh con người và công trình của Thánh Giêrônimô.

Các văn kiện liên hệ đến Lời Chúa

Đức cha Chủ tịch cũng nhắc đến những sự kiện quan trọng liên quan đến Lời Chúa mà trước đây Giáo hội đã thực hiện: Công đồng Vatican II với Hiến chế Dei Verbum, Thượng hội đồng 2008 về Lời Chúa với Tông huấn Verbum Domini, và nhiều sáng kiến mục vụ đa dạng đã được thúc đẩy trên thế giới nhằm mục đích “tập trung phổ biến, suy tư và nghiên cứu Kinh thánh”.

Như thế, Chúa nhật Lời Chúa được đặt ra như là một “dự án mục vụ của việc tân Phúc Âm hóa”. Mục tiêu là để làm sống lại “trách nhiệm của các tín hữu đối với việc hiểu biết Sách Thánh và giữ cho nó tồn tại thông qua một công trình loan truyền, có khả năng mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của Giáo hội trong những điều kiện sống khác nhau”.

Logo của lễ Chúa nhật Lời Chúa

Nhân dịp này, Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng cho công bố một logo, mô tả hai môn đệ trên đường về Emmaus. Chúa Giêsu tay cầm cuộn Sách Thánh, hai môn đệ: một người đang cầm cây gậy, dấu chỉ cuộc hành hương, cả hai đều hướng về Chúa.

Đức Tổng Giám mục còn nói đến một chủ đích khác khi chọn Chúa nhật Lời Chúa vào thời điểm này: “Ngày Chúa nhật Lời Chúa được cử hành gần với ngày đối thoại giữa người Do Thái và người Công giáo và tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô giáo. Đó là một lựa chọn nhằm đánh dấu hướng đến một bước tiến xa hơn trong đối thoại đại kết: đặt Lời Chúa làm trọng tâm trong những dấn thân mà các Kitô hữu được kêu gọi thực hiện hàng ngày”.

Cử hành Chúa nhật Lời Chúa tại Vatican

Tại Vatican, Chúa nhật Lời Chúa sẽ được tổ chức như sau: vào lúc 10 giờ 26/01, ĐTC Phanxicô sẽ chủ sự thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô. Tượng Đức Mẹ Knock, Đấng bảo trợ của Ailen, sẽ được đặt bên cạnh bàn thờ. Vào năm 1879, tại Knock, Đức Trinh Nữ hiện ra một cách đặc biệt. Cùng hiện ra với Mẹ có Thánh Giuse và Thánh Gioan Thánh sử, cả ba chỉ cho thấy bàn thờ nơi Con Chiên chiến thắng, như trong thị kiến của Sách Khải Huyền. Lần hiện ra này Đức Mẹ không nói gì, không có một sứ điệp nào. Đức Tổng Giám mục giải thích: “Đức Mẹ không nói, giữ thinh lặng, như thể biểu lộ thái độ căn bản trước mầu nhiệm. Tuy nhiên toàn bộ cuộc hiện ra đã ‘nói’, bởi vì, qua sự hiện diện của Thánh sử Gioan cho chúng ta thấy điều chúng ta phải thi hành và con đường đang chờ đợi chúng ta”.

Một cử chỉ mang tính biểu tượng khác sẽ diễn ra vào đầu thánh lễ, sách lễ của Công đồng Vatican II sẽ được cung nghinh.

Vào cuối Thánh lễ, ĐTC sẽ trao Kinh Thánh cho 40 người, đại diện cho mọi thành phần dân Chúa. Và sau đó, những ai hiện diện cũng sẽ được tặng một cuốn Kinh thánh của Nhà xuất bản Thánh Phaolô thực hiện đặc biệt cho dịp này. (CSR_303_2020)

Ngọc Yến
Nguồn: Vatican News Tiếng Việt

Chia sẽ bài viết này trên:

Suy gẫm về mầu nhiệm thời gian

Suy gẫm về mầu nhiệm thời gian 

Tôi bắt đầu Lễ Đêm Giao Thừa khá trễ (lúc 23 giờ 15 phút) với sự gợi ý cho mọi người rằng: chúng ta bắt đầu Thánh Lễ ở năm này nhưng lại kết thúc Thánh Lễ ở năm sau. Đêm Giao Thừa làm nổi bật mầu nhiệm giao thoa giữa các năm. Theo một cách nào đó, tôi cho rằng nó không có gì mầu nhiệm hơn sự giao thoa giữa thứ Năm và thứ Sáu, hoặc 10 giờ sáng và 10 giờ 1 phút sáng. Trong một ý nghĩa nào đó, không gì đơn giản hơn thời gian. Tôi hỏi bạn: “Mấy giờ rồi?” Bạn sẽ trả lời: “1 giờ 15 phút”. Đơn giản! Nhưng thời gian mang trong mình mầu nhiệm của nó.

Thời gian là gì? Một vài người trả lời nó đơn thuần chỉ là mực thước của những thay đổi. Nhưng điều đó không thật sự mang nhiều ý nghĩa, vì sự thay đổi không diễn ra với một tốc độ ổn định.

Vài người khác cho rằng nó chỉ là cách thức khác nhau của việc đo lường khoảng cách trong tính liên tục của không gian – thời gian. Thời gian và không gian có một tương quan mật thiết. Nhìn các ngôi sao ban đêm là nhìn vào quá khứ; nó phải mất hàng triệu năm ánh sáng từ những ngôi sao đến được với chúng ta vượt qua những khoảng cách bao la của khoảng không vũ trụ. Ngay cả ánh sáng từ mặt trời cũng đã mất 8 phút để đến với chúng ta.

Nhưng thời gian có nhiều ý nghĩa hơn khoảng cách mà tất cả chúng ta đều biết. Có một số từ ngữ khác nhau về thời gian trong tiếng Hy Lạp. Chronos chỉ về thời giờ [đồng hồ thời gian]. Kairos bao hàm một khái niệm phức tạp về thời gian trải nghiệm một cách chủ quan. Đôi khi 10 phút có vẻ như 1 giờ, nhưng cũng có lúc 1 giờ có thể trôi qua cách nhanh chóng. Hơn nữa, những thứ có vẻ phù hợp ở những thời điểm nhất định, thì lại không phù hợp ở những thời điểm khác. Do đó, Kairos diễn tả một khái niệm co giãn của thời gian. Cuối cùng, từ aeon (sự vĩnh cửu, hoặc sự viên mãn của thời gian). Tôi sẽ bàn thêm aeon ở dưới đây.

Mỗi năm vào thời điểm này tôi suy gẫm mầu nhiệm của thời gian, bởi lẽ thời gian hiện diện quá nhiều trong tâm trí chúng ta. Khi làm như thế, tôi để ý rằng, hầu hết chúng ta nghĩ rằng, chúng ta biết thời gian là gì cho đến khi chúng ta được yêu cầu định nghĩa nó trong một vài ý nghĩa. Điều đó làm tôi nhớ lại những gì mà thánh Augustinô đã từng nói đến một mầu nhiệm khác: Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu ai đó hỏi tôi định nghĩa về thời gian, tôi bị cám dỗ trích dẫn lời của thánh Augustinô: “Nếu bạn không hỏi tôi [thời gian là gì?], tôi sẽ biết trả lời cho bạn. Nhưng nếu bạn hỏi tôi [thời gian là gì?], tôi sẽ không biết trả lời cho bạn”. Vì vậy, thời gian, ở một mức độ nào đó thì rõ ràng và đơn giản, nhưng ở những mức độ khác thì lại là mầu nhiệm.

Tôi không thể liệt kê tất cả những mầu nhiệm của thời gian, nhưng chỉ xem xét một vài mầu nhiệm:

Mầu nhiệm co giãn của thời gian

Chúng ta nghĩ rằng thời gian thì không có gì thay đổi, 10 phút ở đây cũng giống như 10 phút ở kia. Nhưng khoa học phần lớn đã bác bỏ điều đó. Ví dụ, khi một vật tiệm cận với tốc độ ánh sáng, thì thời gian chậm lại. Hơn nữa, lực hấp dẫn mạnh cũng làm chậm thời gian. Trên một hành tinh rộng lớn với lực hấp dẫn mạnh làm cho tôi già đi nhanh hơn so với trên một hành tinh nhỏ hơn. Cứ cho là nó có một sự khác biệt rất lớn về tốc độ hoặc trọng lực có thể quan sát nhiều cách khác nhau, nhưng luật tương đối chứng minh rằng, thời gian không trôi qua giống nhau ở mọi nơi. Theo một cách nào đó, nó gần giống như việc so sánh khập khiễng giữa một con voi với một con chuột nhắt. Khi con chuột chạy quanh sàn nhà (bị con mèo đuổi) với tốc độ thật đáng kinh ngạc, gần như thể con chuột đang hoạt động trong một khung thời gian khác.

Mầu nhiệm của những vòng đời

Tại sao vòng đời của những chủng loại thì lại quá là khác nhau? Giống như tôi, con mèo Daniel của tôi cũng là một động vật có vú; sinh lý của cả tôi và nó thì khá giống nhau ở hầu hết các khía cạnh. Tuy nhiên, vòng đời của nó rất có thể sẽ kết thúc sau 15 năm, trong khi của tôi có nhiều khả năng được gần 80 năm. Một số loài rùa có thể sống đến 150 năm. Nhiều loài vẹt có thể sống hơn 100 năm, trong khi các loại chim khác chỉ sống được 10 đến 15 năm. Hầu hết, cá chỉ sống được một vài năm, nhưng cá chép có thể sống tới 100 năm. Tất cả chúng ta dường như có một chiếc đồng hồ, một vòng đời đã được định sẵn. Nhưng vòng đời đó dường như khá khác nhau, thậm chí giữa những loài vật rất giống nhau. Chúng ta dường như mang mầu nhiệm của thời gian trong chúng ta. Tôi chưa bao giờ nghe được một giải thích thỏa đáng về sự khác nhau của các vòng đời.

Mầu nhiệm của “đồng hồ bên trong” chúng ta

Hầu hết, các ranh giới của thời gian được bắt nguồn rõ ràng từ chu kỳ của các hành tinh. Một ngày là chu kỳ của trái đất quay quanh trục của nó. Một năm là chu kỳ của trái đất quay quanh mặt trời. Một tháng (ít nhất ban đầu) bắt nguồn từ chu kỳ của mặt trăng quay quanh trái đất (từ “month – tháng” chỉ là một cách phát âm sai của từ “moonth”). Các mùa là kết quả của quỹ đạo trái đất xung quanh mặt trời, cũng như độ nghiêng của trục trái đất trong tương quan với mặt phẳng quỹ đạo của nó. Mầu nhiệm hơn là chu kỳ của 7 ngày mà chúng ta gọi là “tuần”. Nó đến từ đâu? Con người trong hầu hết các nền văn hóa dường như có một nhu cầu “thiết lập lại đồng hồ” cứ sau 7 ngày. Sách Sáng Thế giải thích về sự sáng tạo trong 7 ngày, chắc chắn đã ảnh hưởng của văn hóa Do Thái – Kitô giáo, nhưng những nền văn hóa khác cũng cho thấy xu hướng như thế đối với 7 ngày. Một tuần 7 ngày có nguồn gốc từ đâu? Nó là mầu nhiệm. Là con người, chúng ta dường như có một “đồng hồ bên trong” cần đặt lại ở tần số đó [7 ngày].

Mầu nhiệm về sự vĩnh cửu

Cuối cùng có một mầu nhiệm về điều mà chúng ta gọi là “sự vĩnh cửu”. Hầu hết, mọi người hiểu lầm từ này chỉ đơn giản có nghĩa là một thời gian rất dài. Nhưng từ đó không có nghĩa như thế. Khi người Hy Lạp phát minh ra từ “vĩnh cửu” (aeon), họ định nghĩa nó là “sự viên mãn của thời gian”. Vĩnh cửu là quá khứ, hiện tại và tương lai, tất cả được trải nghiệm cùng một lúc. Tôi không thể nói với bạn điều này là như thế nào, nhưng tôi có thể minh họa nó. Hãy nhìn vào chiếc đồng hồ treo tường ở bên phải. Nó hiển thị 2 giờ (giả sử vào buổi chiều). Điều đó có nghĩa 10 giờ sáng là quá khứ, trong khi 6 giờ chiều là tương lai. Nhưng hãy xem dấu chấm ở giữa đồng hồ. Tại điểm đó, 10 giờ sáng, 2 giờ chiều, và 6 giờ chiều, thì đều giống nhau; chúng có mặt như nhau ở trung tâm. Chúng ta sống cuộc đời trong chuỗi thời gian, trên các mép bên ngoài của tâm đồng hồ. Nhưng Thiên Chúa thì không; Ngài sống trong vĩnh cửu. Thiên Chúa sống trong thời gian viên mãn. Đối với Thiên Chúa, quá khứ, tương lai thì giống như hiện tại. Thiên Chúa thì không chờ đợi những điều xảy đến. Tất cả mọi thứ chỉ là hiện tại. Trong vĩnh cửu, ngàn năm trước hay ngàn năm sau thì chỉ như là hiện tại. Kinh Thánh gợi ý về sự vĩnh cửu của Thiên Chúa trong nhiều đoạn.

Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày. (2Pr 3,8)

Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì,
khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,
được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. (Tv 139,15)

Ngàn năm Chúa kể là gì,
tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,
khác nào một trống canh thôi ! (Tv 90,4)

Và sau đó đơn giản là danh Thiên Chúa: “I AM – Ta là”. Danh xưng này thì không có quá khứ và tương lai, nhưng chỉ là một hiện tại vĩnh cửu (thì hiện tại). Chúa Giêsu đã nói với dân chúng: “Trước khi có Ápraham, thì Tôi, Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,58). Vì thế, đây là mầu nhiệm cao cả nhất của thời gian: sự viên mãn của thời gian, sự vĩnh cửu.

Bạn hãy gẫm về vinh quang của Thiên Chúa và mầu nhiệm của thời gian!

Tác giả: Đức Ông CHARLES POPE
Hướng Dương chuyển ngữ từ blog.adw.org
Nguồn: hdgmvietnam.com

Chia sẽ bài viết này trên:

ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA – CN II TN A

ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA 

Trong Thánh Lễ, ta đọc Chiên Thiên Chúa nhiều lần. Có lẽ ít người hiểu được ý nghĩa của cụm từ “Chiên Thiên Chúa”.

Nhưng khi Gioan Baotixita giới thiệu Chúa Giêsu cho dân Do Thái: “Đây là Chiên Thiên Chúa” thì người Do Thái hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ.

Trong Kinh Thánh, chiên được dùng làm biểu tượng cho những người hiền lành, đạo đức. Trong dụ ngôn về ngày phán xét, Chúa đã tách chiên ra khỏi dê. Chiên ở bên phải, dê ở bên trái.

Thế nhưng chiên còn có một ý nghĩa sâu xa hơn. Hằng năm, vào Lễ Vượt Qua của người Do Thái, mỗi gia đình có tục lệ ăn thịt một con chiên. Phải lựa con chiên non dưới một năm tuổi, tốt đẹp, không tì vết. Người Do Thái ăn thịt Chiên Vượt Qua, không phải để mừng mùa đông đã qua và mùa xuân vừa mới khởi đầu. Nhưng là để kỷ niệm ngày Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Lễ Vượt Qua được cử hành vào đầu mùa xuân. Người Do Thái nhớ đến con chiên. Con chiên đã chết cho họ được sống. Máu chiên đã đưa họ ra khỏi mùa đông tăm tối, tiến vào mùa xuân tươi sáng. Máu chiên đã giúp giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, đưa họ về miền Đất Hứa, sống trong tự do.

Chúa Giêsu đã chịu tử hình vào dịp Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Bữa tiệc ly chính là tiệc Lễ Vượt Qua mà Chúa Giêsu ăn với các môn đệ. Chịu chết vào dịp Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu chính là con chiên của Thiên Chúa bị sát tế để cứu nhân loại.

Chúa Giêsu là con chiên hiền lành, không hé môi khi bị đem đi xén lông. Người khiêm nhường gánh lấy tội lỗi nhân loại.

Bản tiếng Việt dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Từ ngữ “xóa” là một cách nói văn hoa nhẹ nhàng, nhưng không lột hết ý nghĩa của nguyên ngữ. Tiếng Hy Lạp dùng từ ‘airein’, tiếng La tinh dùng từ ‘tollit’ có nghĩa là nhận lấy vào mình, gánh lấy, vác lấy.  Có lẽ nên dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng ‘gánh’ lấy tội nhân loại thì đúng hơn. Xóa là đứng ngoài cuộc. Đức Giêsu không đứng ngoài cuộc. Người đã nhập cuộc, gánh lấy thân phận con người, và nhất là gánh lấy tội lỗi của con người.

Chính vì gánh lấy tội lỗi mà Người, Đấng hoàn toàn trong sạch, vô tội đã chịu hạ mình xếp hàng giữa những người tội lỗi xin Gioan rửa tội. Chính vì gánh lấy tội lỗi nhân loại mà Người lui tới với những người tội lỗi, chuyện trò với họ, ăn uống đồng bàn với họ. Nhưng nhất là chính vì gánh lấy tội nhân loại mà Người phải chịu chết giữa hai tội phạm, đồng số phận với họ, đồng bản án với họ, như những người trộm cướp.

Người gánh lấy tội của ta để ta được tha thứ. Người hạ mình xuống để ta được nâng lên. Người trở nên nghèo hèn để ta được giàu có. Người làm con loài người để ta được làm con Thiên Chúa. Người trở nên yếu hèn để ta được nên mạnh mẽ. Người chịu nhục nhã để ta được vinh quang. Người nhận lấy thân phận nô lệ để ta được tự do. Người cam lòng chịu chết để trả lại cho ta sự sống.

Người tín hữu thường được gọi là “Con chiên của Chúa”. Danh hiệu đó ngầm chứa một lời cầu chúc: Mong cho người tín hữu được xếp vào loại ‘chiên’ trong ngày phán xét. Được đứng bên hữu Vua Thẩm Phán. Được vào hưởng vinh quang trong nước Chúa.

Nhưng danh hiệu đó phải chăng cũng gợi lên một ước mong. Ước mong người tín hữu sống theo gương của Chiên Thiên Chúa. Ước mong những con chiên con nối gót theo chiên mẹ đầu đàn đi vào con đường hiền lành khiêm nhường. Ước mong đoàn chiên tự hiến đời mình như một của lễ dâng lên Thiên Chúa. Và ước mong đoàn chiên gánh lấy số phận của người khác, để yêu thương, đoàn kết, liên đới, chia sẻ với anh em tất cả mọi niềm vui nỗi buồn của họ.

Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội con, xin thương xót con.

 ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Chia sẽ bài viết này trên:

Tại sao các chuông nhà thờ được “rửa tội”

Tại sao các chuông nhà thờ được “rửa tội”

Việc “rửa tội” mang tính tượng trưng theo tự nhiên, nhưng hướng đến sức mạnh thiêng liêng được ban xuống cho những quả chuông.

Chuông giữ một vai trò quan trọng trong đời sống Giáo hội suốt nhiều thế kỷ, trở thành một phương cách giao tiếp chính yếu cho các linh mục và tu sĩ kêu gọi các tín hữu Ki-tô giáo cầu nguyện. Thật vậy, tầm quan trọng của các chuông quá lớn đến mức Giáo hội đã soạn ra một nghi thức tỷ mỷ để làm phép chuông, mà nhiều người gọi đó là một “phép rửa tội.”

Bách khoa toàn thư Công giáo cho biết lịch sử tóm tắt về nghi thức này.

Tên này đã được đặt cho việc làm phép chuông, ít nhất là ở Pháp, kể từ thế kỷ thứ mười một. Nó bắt đầu từ việc thanh tẩy quả chuông bằng nước thánh bởi đức giám mục, trước khi ngài xức dầu nó bằng dầu bệnh nhân có hoặc không có dầu thánh trong đó. Một bình xông hương tỏa hương trầm được đặt phía dưới. Đức Giám mục đọc lời nguyện rằng những á bí tích này của Giáo hội có thể xua đuổi ma quỷ, bảo vệ khỏi những cơn phong ba, và kêu gọi tín hữu cầu nguyện, nhờ vào tiếng chuông.

Gọi việc làm phép chuông là một “phép rửa tội” không phải là cách diễn đạt chính thức của Giáo hội, nhưng đơn giản là một cách phổ biến để mô tả nghi thức đặc biệt được sử dụng suốt nhiều thế kỷ. Ngay cả ngày nay các giám mục vẫn dùng nước thánh để làm phép một quả chuông mới, mặc dù nói chung không còn trịnh trọng như trước đây.

Nghi thức làm nổi bật sức mạnh á bí tích của quả chuông. Các á bí tích được làm phép bởi Giáo hội với mục đích thánh hóa đời sống của chúng ta và dẫn đưa chúng ta đến với các bí tích. Chúng là những dấu chỉ thánh thiêng và ban cho chúng ta ân sủng (sự trợ giúp thiêng liêng) qua sự can thiệp của Giáo hội.

Một cách khác để miêu tả các á bí tích đó là sự mở rộng của các bí tích. Bản thân chúng không phải là bí tích, nhưng có mối  liên hệ với bảy bí tích và tuôn đổ từ các bí tích đó, cuối cùng lại dẫn đưa chúng ta trở về với những bí tích.

Thật dễ dàng nhìn thấy được lý do tại sao các quả chuông được xem là một á bí tích, vì chúng dẫn đưa chúng ta trực tiếp đến với việc cử hành Thánh Thể, kêu gọi chúng ta tôn thờ Thiên Chúa vào ngày Chúa nhật, cũng như trong suốt tuần lễ.

Việc làm phép trọng thể cho các quả chuông nhắm đến mục tiêu xa hơn nữa là xua trừ các tà thần và thậm chí bảo vệ người tín hữu Ki-tô giáo khỏi những cơn phong ba.

Dưới đây là trích dẫn ngắn từ sách Roman Ritual làm nổi bật hai sức mạnh thiêng liêng này được ban tặng cho các quả chuông.

(Tạm dịch) Hãy để cho niềm tin và lòng sùng tín của con người mạnh mẽ hơn khi nghe thấy những hồi chuông du dương của nó. Khi nghe thấy tiếng chuông hãy làm cho mọi tà thần bị quét sạch; hãy làm cho sấm sét, mưa giông và bão tố bị xua tan; để cho sức mạnh của bàn tay Người dập tắt những sức mạnh tà ác của gió, khiến chúng phải run sợ khi nghe tiếng chuông này, và bỏ chạy khi nhìn thấy thánh giá được khắc trên đó … khi tiếng ngân của chuông này vang lên trên các tầng mây xin đạo binh các thiên thần canh giữ cho cộng đoàn Giáo hội Người, những hoa trái đầu mùa của các tín hữu, và nhận được sự bảo vệ thân xác và tâm hồn cho họ mãi mãi.

Mỗi khi bạn nghe thấy một tiếng chuông nhà thờ, hãy tạm dừng lại giây lát để nâng tâm hồn lên tới Chúa. Bạn sẽ hiểu tại sao chuông lại đóng một vai trò quan trọng như vậy trong đời sống thiêng liêng của chúng ta, cắt ngang cuộc sống bận rộn của chúng ta để kêu gọi chúng ta cầu nguyện và dẫn đưa chúng ta trở về với Chúa.

[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN]

Chia sẽ bài viết này trên:

Tiếng Cười Trong Kinh Thánh

Tiếng Cười Trong Kinh Thánh

“Nỗi đắng cay chỉ riêng lòng mình biết, niềm hân hoan đâu chia sẻ được với người ngoài” – Cn 14, 10.  “Tâm trí hân hoan là liều thuốc tốt” – Cn 17,22

Khi đọc sách II Sử Biên Niên, 21,20, ta gặp thấy một đoạn chi chép buồn cười: “Vua Giơhôram lên ngôi khi được ba mươi hai tuổi, và trị vì tám năm ở Giêrusalem. Vua ra đi mà không ai thương khóc. Ông được chôn cất trong Thành Đavít, nhưng không được đặt trong phần mộ các vua”. Thiệt tình mà nói, nhà chép sử đã làm cho cái chết của vị quân vương này bớt căng thẳng. Thực tế là vua Giơhôram chẳng được ai yêu thích.  Câu biên tập này thêm một chi tiết khôi hài vào công thức trang trọng đến chán ngắt của sách Biên Niên Sử.

Khi đọc Kinh Thánh chậm rãi, nhiều lúc ta thấy tức cười. Ta cảm nhận được sự khôi hài trong đó. Ta đi từ buồn sầu, thông cảm hay vui mừng khi đồng cảm với các nhân vật gặp thấy qua từng trang sách. Đôi khi ta chợt cười tủm tỉm dù biết rằng nó chứa đựng những nỗi buồn.  Ta có thể bắt gặp nhiều câu đoạn, những câu chuyện và ngay cả những cuốn sách trong Kinh Thánh qua lăng kính khôi hài và thật sự nhiều phần trong Kinh Thánh có viết với ý vui và lời đáp trả thích đáng chính là tiếng cười. Vậy thì ta có thể kết luận: Khôi hài là một tiểu đề cơ bản trong Kinh Thánh: cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.

Tiếng cười trong Cựu Ước

Chúng ta hãy bắt đầu với câu trích trong sách Giảng Viên 3,4: “Có thời để khóc lóc và có thời để vui cười, một thời để than van, một thời để múa nhảy”. Bản văn Kinh Thánh luôn thực tiễn khi nhìn nhận những cảm xúc của con người và vạch ra giới hạn cho chúng.

Tiếng cười của Thiên Chúa trong Cựu Ước

Và đây là tiếng cười của Thiên Chúa, dù sao Ngài cũng là Đấng tạo dựng mà!

Hãy xem Thánh Vịnh 37,12-13: “Kẻ gian ác mưu hại người công chính, và hậm hực nghiến răng. Nhưng Chúa cười vào nó, vì thấy nó đã đến ngày tàn”.  Tiếng cười ở đây cho thấy sự bất lực của kẻ gian ác cũng như sự vô ích trong mưu đồ của họ chống lại những người công chính. Tại sao ? Như thánh vịnh đã trả lời, những người tin vào Thiên Chúa sẽ được thừa hưởng đất hứa làm gia nghiệp và kẻ gian ác phải đền tội.

Thiên Chúa cũng cười vào kẻ ngạo mạn hoang tưởng về sức mạnh của mình. Thánh Vịnh 2,2.4 nói rằng khi “Vua chúa trần gian cùng nổi dậy … rập mưu đồ chống lại Đức Chúa, chống lại Đấng Người đã xức dầu phong vương” thì lúc ấy “Chúa ngự trời cao thấy thế bật cười, Người chế nhạo bọn chúng”.

Thế nhưng Sôphônia 3,17 lại minh họa một khía cạnh khác của tiếng cười và tính cách của Thiên Chúa, khác hơn điều được diễn tả suốt trong Kinh Thánh: “Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, … Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng”. Niềm vui được thể hiện bằng hoạt động thể lý. Câu này nói lên điều khả thể: sự hoan hỉ làm Thiên Chúa ca hát và nhảy múa!

Ai chịu trách nhiệm ?

Một câu chuyện có thể khiến ta bật cười chính là mẫu đối thoại trên núi Sinai giữa Thiên Chúa và ông Môisê. Những người nô lệ Do Thái vừa mới được giải thoát đang phạm tội thờ lạy bò vàng và cho rằng chính thần bò chứ không phải Thiên Chúa đã dẫn đưa họ ra khỏi đất Ai Cập (Xh 32,4-6). Cả Thiên Chúa lẫn ông Môisê đều không muốn những kẻ gây rối vào lúc này. Giống như một củ khoai nóng, trách nhiệm về những người nô lệ trước đây  được đùn đẩy qua lại giữa Thiên Chúa và ông Môisê.

Thiên Chúa ném trách nhiệm trước, nói với ông Môisê rằng những người Do Thái hư hỏng kia là “dân của ngươi” (c. 7). Nhưng Môisê đã nhanh chóng bắt bài. Ông phủ nhận liên hệ với họ. Những người này không phải của ông! Hẳn nhiên với giọng điệu kính cẩn và bênh vực, ông Môisê đáp lại: “Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai Cập” (c. 11). Ông nhắc nhở Thiên Chúa về lời hứa với các tôi tớ Ngài là Abraham, Isaac, và Israel là làm cho dòng dõi họ “đông đúc như sao trên trời” (c. 13). Cảnh khôi hài đã làm dịu nhẹ đi chương này, một chương có cái kết buồn. Tội lỗi của dân Israel đã nhanh chóng đưa đến cái chết của nhiều người ở cuối chương (Xh 32,35). Cấu trúc của chương là sự kết hợp của đối thoại, phản loạn, khủng hoảng và hình phạt.

Khôi hài qua lời bóng gió

Hãy xem lại sách Sáng Thế Ký 18, 10-15, khi Thiên Chúa báo cho ông Abraham và bà Sara rằng họ sẽ có con trai vào “giờ này năm sau” (c. 10). Bà Sara bật cười, nghĩa rằng mình đã cằn cỗi rồi mà giờ lại sẽ phải nếm mùi xác thịt nữa sao (c. 11). Dẫu sao bà cũng đã xấp xỉ 89 tuổi! Còn ông Abraham có lẽ cũng khoảng 99 tuổi. Song ông tin rằng Thiên Chúa có thể ban cho ông và bà Sara có con nối dõi và làm cho họ trở thành cha mẹ dù xét về bản lĩnh đàn ông thì ông “có sống cũng như chết” (Dt 11,11-12). Ý nghĩ làm cha một đứa trẻ ở độ tuổi này khiến ông vui.

Những cuốn sách khôi hài trong Cựu Ước

Toàn bộ những cuốn sách trong Cựu Ước đều có những yếu tố khôi hài mạnh mẽ. Yếu tố khôi hài trong sách Étte là con số những bữa tiệc. Có ít nhất là 10 bữa tiệc và như vậy chúng hình thành nên cấu trúc cũng như chiếm nhiều hoạt động của cuốn sách. Ta cứ nghĩ xem: những nhà lãnh đạo này có làm gì khác hơn là ăn tiệc và uống rượu, mưu đồ và lè nhè ?

Chúng ta cười suốt nơi sách Giôna. Ta cười về sự công khai bất tuân thượng lệnh của Giona khi ông đi về hướng tây đến Tácsít trong khi Chúa bảo ông đi về hướng đông bắc đến thành Ninivê (Gn 1,1-3); về chuyện ông Giôna bị “phạt nhẹ” để suy nghĩ về mọi chuyện trong bụng con cá lớn; chuyện ông nhăn nhó, cứng đầu im lặng trong ba ngày khi bị tiêu hóa trong bụng cá; chuyện ông bị cá mửa ra trên đất cạn – một nơi nào đó ở vùng Địa Trung (2,11); chuyện bài giảng cộc lốc của ông chỉ có bảy từ cho dân thành Ninivê (3,4); chuyện ông nổi giận vì sự thành công của bài giảng khiến cả thành phố ăn năn hoán cải (4,1). Nhưng tiếng cười đôi khi thoáng đẫm nét buồn vì Giôna cứ giận và giận mà không bao giờ hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho những người không biết đến Ngài và cả súc vật trong thành ấy nữa (4,11). Thật vậy, mọi sự trong sách Giôna – các thủy thủ, con cá lớn, dây bầu, cơn gió nóng và dân Ninivê – đều tuân phục Thiên Chúa. Mọi sự và mọi người đều tuân phục Thiên Chúa chỉ trừ có một: ông Giôna. Thiên Chúa tỏ bày những sắc màu cảm thương và lòng thương xót của Ngài – còn ông Giôna thì bất cần đến chúng.

Khôi hài trong Tân Ước

Tương tự, Tân Ước cũng ngập tràn tiếng cười. Đức Giêsu phải có một cá tính hấp dẫn lắm mới thu hút được sự chú ý của đám đông từ ngày này sang ngày khác cũng như sự trung thành đều đặn của ít nhất mười hai tông đồ trong ba năm. Thêm vào đó, ngoài việc là một thầy dạy hấp dẫn mà lời nói mang lại sự sống, có vẻ như ngài còn là một người khôi hài nổi bật.

Chẳng hạn, một đám đông có đến 5.000 người đi theo ngài vào nơi hoang vắng (Mc 6,30-44). Hẳn nhiên lời dạy của Đức Giêsu khiến họ quên ăn, quên mang theo lương thực hoặc chẳng màng gì đến công việc.

Trong tác phẩm The Humor of Christ  (Sự khôi hài của Đức Kitô), Elton Trueblood đã liệt kê 30 đoạn văn khôi hài trong các Tin Mừng Nhất Lãm. Dụ ngôn và những câu chuyện mà Đức Giêsu kể, chúng đều dễ hiểu. Khán giả của Đức Giêsu sẽ cười với hình ảnh những người khua chiêng đánh trống để báo cho người khác biết về những hành động công chính của mình (Mt 6,2) vì nó khá thịnh hành lúc ấy. Đám đông sẽ thấy lố bịch khi các quan chức lãnh đạo tự gọi mình là những người hảo tâm (Lc 22,25) – bởi vì quần chúng lao động biết quá rõ rằng thật ra không phải thế. Chắc hẳn cử tọa sẽ cười thầm khi Đức Giêsu khen bà góa ồn ào, ngỗ ngược khi kiên trì quấy rầy ông quan tòa bất công và đề cử bà như một mẫu gương cầu nguyện thành công (Lc 18,1-8).

Thánh Phaolô sử dụng sự khôi hài trong thư gởi cho giáo hội mới Côrintô (1 Cr 12,12-27). Ngài bàn đến vài vấn đề được báo cáo cho mình. Những vấn đề này –  tính tự phụ, loại trừ và thái độ “Tôi bất cần anh” – có thể phá hủy giáo hội mới, vì chúng đi ngược với tình yêu mà Đức Giêsu dạy. Thay vì nêu tên những kẻ gây rối ở Côrintô, ngài nói bóng gió về tình trạng này một cách hài hước, nhẹ nhàng: “Mắt không có thể bảo tay: “Tao không cần đến mày”; đầu cũng không thể bảo hai chân: “Tao không cần chúng mày” (c. 12,21). Phaolô khẳng định các thành phần đều cần thiết và cần phải thống nhất hoạt động, trong thân thể Đức Kitô.

Trong nhà ông Giairô, viên trưởng hội đường, Đức Giêsu đã sử dụng kiến thức thực tiễn để phá vỡ một tình trạng căng thẳng. Cô con gái 12 tuổi của ông Giaia vừa mới chết. Đức Giêsu, ba môn đệ và cha mẹ cô gái vào nơi nó nằm (Mc 5,40). Đức Giêsu cầm tay đứa bé và nói, “Talitha koum!” nghĩa là “Này cô bé, ta nói với cháu đó, hãy chỗi dậy!” (c. 41). Cô bé lập tức chỗi dậy và đi lại quanh căn phòng (c. 42a). Marcô ghi nhận phản ứng của những người ở trong phòng là “kinh ngạc sững sờ” (c. 42b); nói cách khác, có lẽ họ sửng sốt và im lặng. Đức Giêsu mới làm một điều gì đó khá thực tiễn: Ngài bảo họ cho con bé ăn (c. 43). Khi nỗi buồn bỗng dưng biến thành một niềm vui bất ngờ như khi một cô gái chết được cho sống lại thì phản ứng tự nhiên của con người là phá cười lớn tiếng hay la to lên. Ở đây, Đức Giêsu nói đùa một câu bằng cách nhắc mọi người rằng cô gái đã bị bệnh, kinh nghiệm được cái chết, rồi bây giờ là một người sống lại đang đói bụng! Hẳn nhiên con bé cần phải ăn! Mọi đứa bé 12 tuổi đều háu ăn! Câu nói tử tế, đúng lúc và thực tiễn này của Đức Giêsu đã phá vỡ mọi căng thẳng, phá mọi nỗi buồn bị dồn nén và sự kinh ngạc hiện diện khắp căn phòng giữa cha mẹ đứa bé và ba môn đệ Đức Giêsu. Và khi Đức Giêsu nói bông đùa một câu thì sự đáp trả đúng đáng hẳn nhiên là những tiếng cười rất vui!

Robin Gallaher Branch
Giáo sư Kinh Thánh, Victory University, Memphis
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
Nguồn: gpquinhon.org

 

Chia sẽ bài viết này trên: