Đức Mẹ Maria

13 Tháng 10 – Mặt Trời Múa

13 Tháng 10 – Mặt Trời Múa

     Hôm nay 13 tháng 10, là kỷ niệm Ðức Mẹ hiện ra lần thứ sáu cho ba em Lucia, Phanxicô và Giacinta tại làng Fatima bên Bồ Ðào Nha.

Ðây là lần hiện ra có đông đảo dân chúng chứng kiến nhất. Mặc dù thời tiết xấu, ngay từ ngày 12, có trên mười ngàn người Bồ Ðào Nha từ khắp nơi trong nước đổ xô về Fatima để chờ đợi phép lạ như Ðức Mẹ đã hứa trong các lần hiện ra trước. Người lo lắng nhất trong suốt mấy ngày hôm đó chính là bà mẹ của Lucia. Bà khuyên cô con gái hãy đi xưng tội để nhỡ nếu không có phép lạ xảy ra, thì khi bị giết chết, họ cũng an tâm vì đã xưng tội. Cô Lucia trả lời: con sẽ đi xưng tội, nhưng không phải vì sợ phép lạ không xảy ra…Ðức Mẹ sẽ giữ lời hứa.

Buổi sáng sớm ngày 13/10, người ta đã thấy đám đông đứng phủ đầy ngọn đồi Cova da Iria, nơi Ðức Mẹ hứa sẽ hiện đến. Dưới cơn mưa lất phất của những ngày đầu mùa thu, ai cũng cảm thấy lạnh cóng, nhưng đều hiệp ý với nhau trong lời kinh Mân Côi kính Mẹ. Mọi người đều chăm chú hướng nhìn về ba em bé mục đồng, trong y phục rách rưới và bê bết những bùn.

Lucia bắt đầu đọc kinh Mân Côi, bỗng cô hô lớn: “Xin mọi người hãy xếp dù lại”. Với hai em Phanxicô và Giacinta, cô ra lệnh:

“Hai em hãy quỳ xuống, vì Ðức Mẹ đang hiện đến”.

Cùng với ba em, nhiều người đã nhìn thấy vệt sáng trên nền trời. Trong một cái nhìn vừa cảm thông và u buồn, Ðức Mẹ nói với ba em bé: “Ta là Ðức Mẹ Mân Côi… Ta muốn người ta xây một nhà nguyện tại đây để kính nhớ Ta. Các con hãy tiếp tục lần hạt mỗi ngày”. Và Ðức Mẹ đã hứa sẽ nhận lời cầu xin của một số người mà Lucia đại diện trình lên Mẹ. Nhưng Mẹ cảnh cáo: “Ðừng xúc phạm đến Chúa nữa, người ta đã xúc phạm quá đỗi rồi”. Nói xong những điều đó, Ðức Mẹ chỉ tay về hướng mặt trời… Trong cơn ngây ngất, Lucia đã thốt lên: “Xin mọi người hãy nhìn về mặt trời”.

Lạ lùng thay, ai cũng có thể nhìn về mặt trời mà không bị lóa mắt. Như một bánh xe cuồn cuộn lửa đỏ, ánh thái dương bỗng quay lượn, nhảy múa và toát ra những tia sáng muôn màu sắc. Rồi thình lình, từ trời cao, mặt trời bỗng đổ xuống như một trái bóng da khổng lồ. Trong cơn hốt hoảng, mọi người cảm thấy như mặt trời sắp rơi xuống, ai ai cũng nằm rạp xuống trên bãi cỏ và đấm ngực ăn năn như để chờ đợi giây phút cuối cùng của vũ trụ… Hiện tượng mặt trời nhảy múa và sa xuống mặt đất kéo dài trong vòng hai phút. Khi mặt trời đã trở lại trạng thái bình thường, mọi người đều nhận thấy rằng, bãi cỏ ướt đẫm trong cơn mưa bỗng trở nên khô ráo.

Việc Ðức Mẹ hiện ra và hiện tượng mặt trời nhảy múa đi kèm như được mô tả trên đây, mang nhiều ý nghĩa.

Chính phủ cách mạng tại Bồ Ðào Nha vào năm 1917 muốn đánh đổ những thứ mà họ gọi là huyền thoại tôn giáo, cũng như dẹp bỏ mọi thứ cuồng tín. Buổi sáng ngày 13/10 hôm đó, cả một lực lượng vũ trang hùng hậu đã được gửi đến đồi Cova da Iria để ngăn cản mọi cuộc tập họp của dân chúng. Báo chí thì tung ra lời tuyên đoán rằng phép lạ sẽ không bao giờ xảy ra và huyền thoại tôn giáo sẽ cáo chung từ hôm đó.

Thế nhưng tất cả những sức ép trên đây đã không đánh đổ được lòng tin của người tín hữu.

Phép lạ mặt trời múa vừa là một thể hiện của quyền năng của Thiên Chúa vừa là một lời mời gọi sám hối. Ðệ nhất chiến tranh đã phát sinh nhiều làn sóng vô thần chủ trương tiêu diệt tôn giáo bằng bạo lực. Bên cạnh những chế độ độc tài chối bỏ quyền sống của con người, nhiều người cũng buông thả trong đời sống luân lý.

Thế giới chỉ có thể cứu vãn được nếu con người biết hoán cải: đó là sứ điệp mà Ðức Maria đã không ngừng lặp đi lặp lại tai Fatima. Và phương tiện để giúp con người hoán cải trước tiên đó là cầu nguyện.

Cầu nguyện không những là quay trở lại với Chúa, nhưng còn là một cải đổi tương quan đối với người anh em.

Lịch sử đang lập lại không ngừng. Quyền sống của con người đang bị chối bỏ nhiều nơi trên thế giới. Con người cũng chối bỏ và chà đạp chính Thiên Chúa trong những sa đọa về luân lý. Ðức Maria đang tha thiết kêu mời chúng ta hãy sám hối, siêng năng cầu nguyện với kinh Mân Côi… Ðó là phương thế duy nhất để cứu vãn thế giới của chúng ta.

Lẽ Sống

Chia sẽ bài viết này trên:

ĐỨC MẸ DẠY LẦN HẠT MÂN CÔI TẠI FATIMA

ĐỨC MẸ DẠY LẦN HẠT MÂN CÔI TẠI FATIMA

Tại Fatima, Đức Mẹ từ trời hiện xuống với 3 em tất cả là 6 lần đều vào các ngày 13 trong tháng (từ tháng 5 tới tháng 10)

1/ Ngày 13-5- 1917, khi gặp Bà lạ, Luxia hỏi: Con có được về trời không?

– Đức Mẹ phán: Được, con sẽ về.

– Còn em Giaxinta?

– Giaxinta cũng được về.

– Còn em Phanxicô sao?

– Phanxicô cũng được về trời, nhưng nó phải đọc nhiều kinh Mân Côi đã.

Đức Mẹ còn bảo:- Hãy lần hạt Mân Côi để xin hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh.

2/ Ngày 13-6, Luxia hỏi: Bà muốn con làm chi?

Lần thứ 2 Đức Mẹ nói “Các con hãy lần hạt hằng ngày”.

Lần này Đức Mẹ còn nói Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ trên thế giới…

3/ Ngày 13-7, lần thứ 3 Đức Mẹ nói:

“Ta muốn các con tiếp tục lần hạt hằng ngày tôn kính Đức Mẹ Mân Côi để xin hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh vì chỉ có Đức Mẹ có thể giúp.

Đức Mẹ còn nói: những người muốn được ơn xin, cần phải đọc kinh Mân Côi để được ơn .

Rồi Đức Mẹ dặn tiếp:

– Hãy hy sinh cầu cho tội nhân và lặp lại mỗi hy sinh: “Lạy Chúa Giêsu, vì yêu Chúa, để cầu cho tội nhân thống hối và đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ.”

Đặc biệt lần hiện ra tháng này, Đức Mẹ cho 3 em thấy hỏa ngục. Luxia tả:

“Đức Mẹ mở rộng tay ra như đã làm trong hai lần trước. Những tia sáng thấu qua trái đất và chúng con thấy một biển lửa. Ma quỉ và các linh hồn dưới hình người bị dìm vào đó như những cục than hồng, cháy đen hay đỏ rực đang ngoi ngóp, phập phồng, có lúc bị ném lên như cùng với cuộn khói đen kịt rồi văng trở lại hỏa hào tràn ngập rên siết, nghiến răng thống khổ và thất vọng. Điều đó làm chúng con kinh hãi và run sợ. (chắc điều đó làm con khóc thét lên như những người chung quanh nói họ thấy con khóc) Quỉ dữ có thể phân biệt nhờ sự hung dữ và tàn bạo giống như những quái vật khủng khiếp chưa từng thấy, cháy đen hay đỏ rực như than trong lò. Kinh khiếp và hoảng hốt chúng con ngước nhìn xin Đức Mẹ cứu giúp. Đức Mẹ đã nhân từ, buồn sầu nhắn nhủ:

– Các con vừa thấy hỏa ngục nơi tội nhân khốn nạn phải rơi vào. Để cứu họ, Chúa muốn thiết lập trên thế giới sự tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Tội Mẹ. Nếu những điều Mẹ dạy được thi hành, nhiều linh hồn được cứu rỗi và thế giới sẽ có hòa bình.

Đức Mẹ còn dạy thêm:

“Mỗi khi các con lần hạt, đọc lời nguyện sau đây sau mỗi mầu nhiệm:

“Lạy Chúa Giêsu xin tha tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục. Xin đem các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là các linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.”

4/ Ngày 13-8. Các em bị bắt lên Quận để bị tra hỏi, lần này Đức Mẹ dạy:

“Ta muốn con tiếp tục tới Cova da Iria vào ngày 13 và tiếp tục lần hạt hằng ngày. Vẻ mặt rất buồn, Đức Mẹ dặn: Hãy cầu nguyện thực nhiều và hy sinh cho tội nhân; có nhiều linh sa hỏa ngục vì không có ai hy sinh cho họ.

5/ Ngày 13-9 Đức Mẹ dạy:” hãy tiếp tục lần hạt để xin chiến tranh chấm dứt. Tháng Mười Mẹ sẽ làm một phép lạ để mọi người tin”.

6/ Ngày 13-10-1917  Đức Mẹ đã làm những gì Đức Mẹ đã hứa trong các tháng trước:

Đức Mẹ xưng tên: Ta là Đức Mẹ Mân Côi.

Hãy tiếp tục lần hạt hằng ngày.

Chiến tranh sẽ chấm dứt và binh sĩ sẽ trở lại gia đình.

*Ngày 13 tháng 5 năm 1917 tại Fatima: “Các con hãy siêng năng lần hạt Mân Côi hằng ngày để cầu nguyện cho thế giới được hòa bình và chiến tranh chóng chấm dứt.”

*Có người thắc mắc với Chị Lucia: “Tại sao Đức Mẹ kêu gọi lần hạt hàng ngày mà không bảo đi tham dự thánh lễ?” Chị trả lời là chị không nghĩ ra để hỏi Đức Mẹ và Đức Mẹ cũng đã không giải thích. Tuy nhiên theo ý chị, nếu Đức Mẹ yêu cầu tham dự thánh lễ hàng ngày thì chắc chắn sẽ có rất nhiều người cho rằng đó là điều không thể vì xa nhà thờ, vì hoàn cảnh sinh nhai, hay điều kiện cuộc sống, hoặc công việc, sức khỏe….Ngược lại việc lần hạt Mân Côi là việc ai ai cũng có thể làm được, giàu có hay nghèo nàn, thông giỏi hay dốt nát, cao sang hay hèn kém.

Chị nói thêm: “Kinh Mân Côi là lời nguyện làm đẹp lòng Thiên Chúa và mưu ích lợi cho linh hồn chúng ta nhiều nhất. Nếu không, có lẽ Đức Mẹ đã không kiên trì kêu gọi chúng ta hãy lần chuỗi Mân Côi như vậy.”

Qua 6 lần hiện ra trên, ta thấy Đức Mẹ dạy đọc kinh Mân Côi để Đức Mẹ ban ơn cho cá nhân, gia đình, thế giới…

Lm. Đoàn Quang, CRM

Chia sẽ bài viết này trên:

Lời Kinh Kết Nối – LỄ MẸ MÂN CÔI

Lời Kinh Kết Nối
LỄ MẸ MÂN CÔI

Xã hội được xây dựng trên nhiều nền tảng. Một trong những nền tảng căn bản và quan trọng nhất là truyền thông.Truyền thông càng ngày càng có nhiều ảnh hưởng thiết thực trong cuộc sống con người và trong đời sống của Giáo Hội.Thời đại hôm nay, mạng internet được gọi là xa lộ thông tin cung cấp rất nhiều thông tin về mọi lãnh vực, cho con người mối quan hệ rộng lớn và nhiều cơ hội diễn đạt cảm xúc cũng như suy nghĩ của mình. Hòa vào mạng internet, con người trên khắp thế giới được kết nối với nhau. Hầu như ai cũng dùng điện thoại di động, đi đâu cũng có Wifi, 3G, 4G…Đến đâu cùng có kết nối.

Phụng vụ Giáo hội bước vào tháng Mân Côi kính Đức Mẹ. Từ ý tưởng truyền thông liên kết, tôi nghĩ đến: Kinh Mân Côi như điện thoại di động hòa đời người tín hữu vào mạng sự sống thiêng liêng. Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

  1. Kết nối với Đức Maria

Kinh Kính Mừng là nối kết hai lời chào. Lời Sứ thần Gabriel chào Đức Maria trong buổi Truyền tin: “Mừng vui lên hỡi đấng đầy ơn phúc” (Lc 1,28) và  lời bà Êlisabet chào Mẹ Maria: “Em thật có phúc hơn mọi người nữ”(Lc 1,42) trong ngày thăm viếng. Phần hai là lời khẩn nài được Giáo hội thêm vào xin Đức Mẹ cầu bàu: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử Amen.

Khi lần chuỗi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta được nối kết với Đức Maria. Chiêm ngắm Mẹ chỉ là “Nữ tỳ hèn mọn”, nhưng “Chúa đã đoái thương nhìn tới”. Vì thế, “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Một thiếu nữ nhỏ bé sống ở làng quê nghèo Nadaret đã trở thành Mẹ Thiên Chúa. Sứ thần Gabriel đến Nadaret chào thôn nữ Maria: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Ba tiếng “Đầy-ân-sủng” gộp lại trở thành như là tên gọi riêng của Đức Maria. Mẹ được tràn đầy ân sủng. Mẹ luôn luôn có Thiên Chúa ở cùng. Không có giây phút nào mà Mẹ không có Thiên Chúa với mình. Không có giây phút nào mà Mẹ không trọn vẹn thuộc về Chúa. Không có bất cứ dấu vết tội lỗi chen vào giữa Mẹ và Thiên Chúa. Là một tâm hồn luôn luôn nghiền ngẫm Kinh thánh, chắc hẳn Đức Maria nhớ lại Lời Chúa đã dùng Ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavit xưa. Nhưng điều mà Mẹ không bao giờ nghĩ tới là mình có thể đóng vai trò gì trong việc thực hiện lời tiên tri ấy. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Sau khi được Sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Và thế là Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành Thánh Mẫu của Thiên Chúa.

Mẹ được Thiên Chúa sủng ái, được trở nên cao trọng vì Mẹ khiêm nhường. Đức khiêm nhường dẫn Mẹ đến chỗ hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa.Đức Maria đã trở thành Mẹ Thiên Chúa qua thái độ khiêm nhường và lời đáp xin vâng phát xuất từ lòng tin của Mẹ.

Đức Maria là người diễm phúc vì Mẹ đã tin như bà Êlisabet đã thốt lên : “Phúc cho em vì đã tin những lời Chúa phán”.

Đọc Kinh Mân Côi là kết nối hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, cách tự nhiên như tình mẫu tử.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thổ lộ tâm tình : “Từ thuở niên thiếu, lời kinh Kinh Mân Côi đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi… Kinh Mân Côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng và trong những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu; nơi lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ…. Kinh Mân Côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu! Kỳ diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó”.

  1. Kết nối với Chúa Giêsu

Điều huyền diệu làm cho chuỗi Mân Côi hữu hiệu là khi đọc, chúng ta vừa cầu nguyện vừa suy niệm. Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Những tâm tình suy niệm hướng về Chúa Giêsu Kitô.

Chuỗi Mân Côi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.

Đọc Kinh Mân Côi là suy niệm các mầu nhiệm của Phúc Âm. Vì thế, Thánh Gioan Phaolô II  nói: “Kinh Mân Côi không thay thế việc đọc Kinh thánh, lectio divina; trái lại, Kinh Mân Côi giả định trước và cổ võ việc đọc Kinh thánh. Trong Kinh Mân Côi, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi ngày một hơn. Khi suy ngẫm về Kinh Mân Côi, chúng ta bước vào trường học của Đức Maria để Mẹ dạy chúng ta về Chúa Giêsu vì Mẹ đã nuôi dưỡng Chúa Giêsu, đồng hành với Chúa Giêsu và cùng chịu khổ với Chúa Giêsu dưới cây thánh giá”.

Chuỗi hạt Mân Côi 200 hạt, 150 hạt, 50 hạt hay 10 hạt được dùng để đếm số Kinh Kính mừng là “…lời ca tụng Đức Kitô không ngừng. Đức Kitô được nhắc đến trong mỗi Kinh Kính Mừng cũng là Đấng được trình bày trong chuỗi các mầu nhiệm: Người là Con Thiên Chúa và là Con Đức Trinh Nữ…” (ĐGH Phaolô VI, Rosamrum Virginis Mariae, số 18).

Các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng, hòa quyện trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Chuỗi Mân Côi lần lượt diễn tả:

– Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc khổ nạn Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang phục sinh của Đức Kitô.

Qua Kinh Mân Côi, chúng ta lặp đi lặp lại không những một hai lần Kinh Kính Mừng, nhưng là đọc đi đọc lại cả hai trăm lần, như hai trăm đóa hoa hồng dâng kính Mẹ Maria. Đức Giáo Hoàng Piô V đã nói: “Đây là việc tôn kính Đức Trinh Nữ Maria bằng cách đọc một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng, theo con số các thánh vịnh của Đavít, chia thành từng chục kinh một với một Kinh Lạy Cha, đồng thơi suy ngắm các mầu nhiệm về toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô”.

Chuỗi Mân Côi là quà tặng quí báu, Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta. Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người bình dân. Các mầu nhiệm Mân Côi còn được gọi là cuốn sách Phúc Âm rút gọn của người bình dân. Cứ 10 Kinh Kính mừng lại suy gẫm về một mầu nhiệm mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng.

  1. Kết nối với nhau

Đọc kinh Mân Côi mỗi người được kết nối với Đức Maria và với Đức Kitô, từ đó được hiệp thông với mọi tín hữu.

Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Cầu nguyện với Đức Mẹ bằng lời kinh Mân Côi, chúng ta được kết nối với Chúa Giêsu là nguồn mạch ban sự sống. Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện.Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái thì phải được tháp nhập vào thân nho.Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể. Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với cội nguồn là Chúa Giêsu.

Chuỗi Mân Côi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mân Côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria.Chuỗi Mân Côi mang đến vô vàn huyền diệu cho con người. Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

“Với Kinh Mân Côi, tín hữu nhận biết người Ấn Độ là anh em của mình, người Châu Âu sung túc cũng nhận ra người Somali đói nghèo là chi thể của mình, người Kinh cảm nhận hơn nữa người Thượng gần gũi với mình. Tại sao ta lần hạt ở nhà thờ, gia đình, trên đường…? Tại sao ai cũng lần hạt được, từ giáo sĩ đến giáo dân, từ trí thức đến nông dân, từ em thơ đến các cụ? Thưa bởi vì Kinh Mân Côi bình đẳng phổ cập, chẳng những phù hợp với mọi người mà còn củng cố hiệp thông với mọi người. Buồn hay vui người ta đều lần hạt, đám cưới thì lần hạt xin hạnh phúc đời này, còn đám tang thì lần hạt xin hạnh phúc đời sau”. (x. Nút vòng xoay, trang 193, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).

Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối mỗi người với Chúa Giêsu, với Mẹ Maria và với nhau. Đó là kinh nguyện phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

Theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta quyết tâm sống theo lời Mẹ trong dịp hiện ra lần cuối tại Fatima là “Hãy siêng năng lần hạt”. Kinh Mân Côi đưa chúng ta vào trong đại dương của Tình Yêu Thiên Chúa qua các mầu nhiệm chiêm ngắm và lời kinh lặp đi lặp lại. Kinh Mân Côi là nguồn an ủi, nguồn sức mạnh trong mọi hoàn cảnh của đời người tín hữu. “Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán” (Đường Hy vọng, số 947).

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con biết yêu mến tràng Chuỗi Mân Côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống, nhờ đó chúng con được hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau. Xin Mẹ khẩn cầu cho chúng con bên tòa Chúa. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Vẻ đẹp của Mẹ Maria theo tác giả cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn”

Vẻ đẹp của Mẹ Maria theo tác giả cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn”

WGPSG /Aleteia — Tiểu thuyết gia nổi tiếng yêu mến Đức Mẹ và coi Mẹ là tiêu chuẩn cho cái Đẹp. 

Con gái tôi hiện đang đọc cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn” lần thứ hai. Khi cháu đọc cuốn này, tôi cố chỉ ra cho cháu một số câu đố Công giáo thú vị ẩn trong đó. Ví dụ, con có biết rằng cuối cùng có phải Frodo đã phá hủy chiếc nhẫn vào ngày 25-3 không? Ngày đó là ngày lễ Truyền Tin, ngày mà Chúa Kitô được thụ thai và bắt đầu quá trình đánh bại sự dữ một lần và mãi mãi. Hoặc, con có biết rằng bánh Lembas (loại bánh đặc biệt do thần tiên làm) giống với Bí tích Thánh Thể một cách kỳ lạ không?

Những ám chỉ về Công giáo nơi cuốn tiểu thuyết này không có gì đáng ngạc nhiên. Xét cho cùng, tác giả Tolkien là một người Công giáo dấn thân, coi đức tin là trung tâm từ đó nhìn ra thế giới. Tolkien nói, “Từ trong bóng tối của đời tôi với quá nhiều thất vọng, tôi đặt trước mặt bạn một điều tuyệt vời đáng yêu quý nhất trên trái đất: đó là Bí tích Thánh Thể.”

Với cuốn “Chúa tể của những chiếc nhẫn” của mình, Tolkien không dự định viết một cuốn tiểu thuyết mang tính Công giáo, nhưng sau đó ông phải thừa nhận rằng hóa ra nó lại là “một tác phẩm chủ yếu có tính tôn giáo và Công giáo; lúc đầu chỉ là vô thức thôi, nhưng đã mang tính ý thức khi được duyệt lại.”

“Một nét Công giáo đã thấm vào các cuốn sách của tôi chính là hình ảnh Đức Trinh Nữ Maria. Nàng tiên Galadriel không hoàn toàn nói năng giống như Đức Trinh Nữ – có nghĩa là nàng không chỉ đơn giản là một nhân vật giả dạng Đức Maria – nhưng có một số tính cách giống với Đức Maria. Tolkien coi nàng tiên này “vĩ đại nhất trong số các tiên nữ”, giống như cách chúng ta coi Mẹ Maria là vĩ đại nhất trong tất cả các vị thánh. Galadriel là một nữ hoàng, một người mẹ, và thường xuất hiện như một người trợ giúp kỳ diệu. Đôi khi, nàng tiên này được gọi đơn giản là “Người phụ nữ của ánh sáng”.

Những điều này rõ ràng ám chỉ Đức Trinh Nữ. Mẹ Maria có tất cả những đặc điểm này. Mẹ thường hiện ra giúp đỡ những người túng thiếu, đó là lý do tại sao một trong những danh hiệu của Mẹ là “Mẹ Hằng Cứu Giúp”. Hình ảnh thú vị nhất của nàng tiên Galadriel là ở trong Hai Tòa Tháp, khi bà tiên này hiện ra cứu giúp Sam. Tolkien viết, “Rất xa, như trong một bức tranh nhỏ do thần tiên vẽ ra, anh ấy nhìn thấy bà tiên Galadriel đang đứng trên bãi cỏ ở Lorien với những món quà trên tay. Và này bạn Đeo Nhẫn ơi, anh ấy đã nghe bà tiên nói, từ xa nhưng rõ ràng: ‘Tôi đã chuẩn bị thứ này cho bạn đây.’” Sau đó, bà tiên nhắc Sam rằng anh ấy sở hữu một thứ ánh sáng kỳ diệu xua đuổi được bóng tối và tất cả những sinh vật xấu xa trú ngụ trong đó. Sam sử dụng nó và anh ấy cùng với Frodo đã được cứu thoát.

Tolkien thực sự yêu mến Mẹ Maria. Ông thậm chí đã dịch kinh Kính Mừng sang ngôn ngữ thần tiên. Trên tất cả, ông đã coi Mẹ Maria là tiêu chuẩn của cái Đẹp, đó là lý do tại sao ông miêu tả Galadriel đẹp tuyệt vời. Trong một lá thư gửi cho một người bạn là linh mục, cha Robert Murray, người đã chỉ ra những điểm tương đồng giữa Mẹ Maria và Galadriel, Tolkien viết, “Tôi nghĩ rằng tôi biết chính xác ý của bạn… qua những lời bạn nhắc đến Đức Mẹ, đã hình thành tất cả nhận thức bé nhỏ của tôi về cái Đẹp vừa uy nghiêm vừa giản dị.”

Thật là táo bạo khi nói rằng Đức Maria là nền tảng để xây nên tất cả cái Đẹp khác. Ý của ông là gì khi nói như thế? Ông ấy có lẽ không có ý nói rằng Mẹ Maria là người phụ nữ đẹp nhất từng sống trên thế gian. Ông ấy đang đề cập đến vẻ đẹp nội tâm, vẻ đẹp tâm hồn. Đây là lý do tại sao ông nói về sự uy nghiêm của Mẹ, theo truyền thống Công giáo, dựa trên sự khiêm tốn tuân theo lời mời gọi của Chúa, và sự đơn giản của Mẹ, theo đó ông muốn nói cuộc đời Mẹ chỉ tập trung cao độ vào tình yêu, không bị sao nhãng phức tạp. Vẻ đẹp hình thể của Đức Maria là phản ảnh tâm hồn cao đẹp của Mẹ.

Vâng, tuyên bố của Tolkien thoạt đầu gây sốc, nhưng đó là một tuyên bố Công giáo đích thực. Chẳng hạn, Đấng Đáng kính Fulton Sheen cũng đã nói điều tương tự:

“Sự tinh khiết xinh đẹp của Đức Maria hẳn đã đạt đến mức độ nó ít thu hút con mắt, nhưng lại thu hút linh hồn của đàn ông nhiều hơn… Rất có thể con mắt người ta khi nhìn vào Đức Maria, hiếm khi ý thức được rằng Đức Maria trông thật đẹp mắt. Giống như những người đàn ông hư hỏng được làm cho trong sạch tư tưởng bởi hình ảnh của một đứa trẻ vô tội, cũng vậy, tất cả những suy nghĩ xác thịt sẽ bị loại bỏ nhờ một cái nhìn về Đức Mẹ Vô nhiễm.”

ĐGM Fulton Sheen đã nói điều tương tự như Tolkien, rằng vẻ đẹp giản dị của Mẹ trở thành nền tảng để thanh lọc tâm trí chúng ta, những người hằng ngắm nhìn Mẹ. Nếu cuộc sống của chúng ta được nên tươi đẹp, nếu tâm hồn chúng ta bắt đầu rực sáng tình yêu, thì đó là vì chúng ta trước tiên đã nhìn thấy vẻ đẹp của người Mẹ thiêng liêng của chúng ta.

Cách ông Tolkien mô tả vẻ đẹp của Đức Maria giúp chúng ta xác định cái Đẹp thực sự là gì. Nó không liên quan gì đến ngoại hình hoặc quần áo bắt mắt; nó liên quan đến cách tâm hồn tỏa sáng và làm cho một người đẹp từ trong ra ngoài. Vẻ đẹp trong sáng, ngây thơ, duyên dáng và siêu thoát. Nó rực sáng tình yêu. Nếu chúng ta cũng muốn nên xinh đẹp, thì nơi đầu tiên cần tô điểm chính là đời sống nội tâm của chúng ta. Về điều này, chúng ta không thể có tấm gương nào tốt hơn là Đức Trinh Nữ Maria.

Lm Michael Rennier (Aleteia) / Tóc Ngắn chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG 

Chia sẽ bài viết này trên:

LỜI CHÚA TRONG KINH MÂN CÔI

LỜI CHÚA TRONG KINH MÂN CÔI

WHĐ (24.9.2020) – Tháng 10, tháng Mân Côi lại về. Tôi muốn viết một chút về Kinh Mân Côi dưới góc độ Lời Chúa trong Kinh Mân Côi.

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân ở miền Bắc, công giáo “đạo gốc” [không phải theo nghĩa của một số người trẻ ngày nay ở Sàigòn, ngồi trên xe gắn máy dưới “gốc cây” ngoài sân nhà thờ để dự lễ…]. Ở quê tôi, trẻ bắt đầu tập nói thì đã học chắp tay “ạ!” trước tượng Chúa, tượng Đức Mẹ, rồi học làm dấu Thánh Giá, học kinh Kính Mừng… Tối nào gia đình cũng tụ họp trước bàn thờ lần chuỗi “năm chục”. Còn bé thì làm dấu thánh giá rồi đi ngủ. Thước đo độ lớn là kinh Kính Mừng, một, rồi ba, rồi một chục kinh chung với cả gia đình… tới tuổi lãnh phép Thêm Sức thì ngồi đọc năm chục kinh chung với cả nhà.

Tôi 6, 7 tuổi thì bà nội tôi mắt đã lòa, trời mưa thì bà ngồi ở nhà lần chuỗi đủ 15 ngắm, trời nắng thì bà bảo dắt bà qua nhà một người bà con ở gần nhà, bị liệt hai chân, hai bà lần chuỗi với nhau, như một niềm vui, niềm an ủi. Tôi ngồi với bà một chục kinh, rồi bà cho tôi đi chơi. Bà lần chuỗi xong thì gọi dắt bà về. Nhà tôi ở cách nhà thờ giáo xứ cũng khá xa. Ngày Chúa nhật đi lễ thì bọn trẻ rủ nhau vừa vui đùa vừa đi lễ, người lớn thì vừa đi vừa lần chuỗi, khoảng năm chục kinh thì tới nhà thờ. Tôi lớn lên dưới bầu trời ven sông Hồng, mỗi buổi tối, trên thì sao lấp lánh gọi nhau, dưới là lời Kinh Mân Côi vọng từ nhà này qua nhà khác.

Nay tôi là ông lão 80, từng sống 9 năm “hơn hẳn thầy tu một dấu huyền”, chẳng được phép mang đồ đạo nào trên mình. Hết 6 tháng “làm việc” đến những tháng nhàn rỗi: “Một mình một cỗ thảnh thơi ngồi”, cơm bưng nước rót, một mình một cõi, chẳng có gì để làm, chẳng có gì để đọc, chỉ có bốn bức tường để ngắm và thiên thần bổn mạng làm bạn… thì mười đốt ngón tay là xâu chuỗi, ngày ngày đếm thời giờ bằng chuỗi Mân Côi.

Hai chục năm sau đó thì ngược lại, sáu năm trời được Bề Trên Dòng sai đi khắp năm châu bốn bể vì nhiệm vụ trong Dòng, trước khi “định cư định canh” từ mười hai năm nay tại miền đất mà Chúa đã chọn làm quê hương khi từ trời xuống thế, chờ ngày song ca với ông già Si-mê-ôn.

Tại miền đất này, Tổng Lãnh Thiên Thần Gáp-ri-en đã xướng phần đầu kinh Kính Mừng và lời xin vâng của Trinh Nữ làng Na-da-rét mở ra Tin Mừng do các Tông Đồ rao giảng, nay được tóm tắt trong 20 mầu nhiệm Kinh Mân Côi. Rồi bà Y-sa-ve được đầy Thánh Thần, tiếp lời Thiên Sứ Gáp-ri-en cho trọn kinh Kính Mừng, các thiên thần đồng ca lời “Sáng Danh” và sau đó Con Thiên Chúa đích thân dạy kinh Lạy Cha. Tất cả nội dung Kinh Mân Côi xảy ra ở miền đất này.

Các nhà thờ chánh tòa lớn và cổ kính bên Tây thì dùng tượng đá, bên trong bên ngoài, không phải chỉ để trang trí, nhưng là “sách giáo lý” và Kinh Thánh cho mọi người. Bên Đông thì dùng nghệ thuật “tranh thánh”, tiếng Hy-lạp gọi là “i-kôn”, dùng nhiều biểu tượng và có thể gom nhiều chi tiết trên cùng một mặt phẳng để giúp người xem đi sâu vào từng mầu nhiệm. Người ta không nói là “vẽ i-kôn”, nhưng là “viết i-kôn”, vì mỗi “i-kôn” giống như cả một chương sách thần học kinh thánh, tín lý và thiêng liêng, giải nghĩa một mầu nhiệm. Người “viết i-kôn” xuất phát từ một kinh nghiệm chiêm niệm mầu nhiệm và “viết” ra để giúp cho người nhìn ngắm i-kôn đi vào cảm nghiệm thiêng liêng mà chính mình đã được trong chiêm niệm. Vì thế từ màu sắc tới các đường nét, cách bố cục đều có những “qui ước”, giống như viết văn vậy. Bức “i-kôn” nhiều người biết là bức của Rublev, diễn tả mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, gợi hứng từ câu chuyện “Ba Vị Khách tới viếng ông Áp-ra-ham” (St 18)

Bức “i-kôn” của Rublev

Có lẽ Kinh Mân Côi khởi sự từ cách cầu nguyện bên phương Đông với những lời vắn tắt được lặp đi lặp lại, dấu vết rõ nhất là câu “Kyrie eleison”, “xin Chúa thương xót”, và lời kinh Lạy Cha mà Chúa Giê-su dạy. Chúa Giê-su căn dặn: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mt 26, 41). Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu “cầu nguyện không ngừng” (1Tx 5,17). Sau này trong các tu viện, các tu sĩ cầu nguyện theo sát lời chỉ dẫn của thánh Phao-lô: với các thánh vịnh (của Cựu Ước), thánh ca được Thánh Thần linh hứng mà chúng ta còn gặp thấy trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca và các thư của thánh Phao-lô:

Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa. 20Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha. (Ep 5,19-20; x. Cl 3,16-17).

Rồi đến thời phần đông giáo dân và cả những tu sĩ không biết đọc, họ đọc 150 lần kinh Lạy Cha thay cho 150 thánh vịnh. Dần dần lời Thiên Sứ truyền tin cho Đức Ma-ri-a và lời bà chào của bà Y-sa-ve được dùng, sau này thêm phần thứ hai của kinh Kính Mừng… Cứ như thế mà Kinh Mân Côi thành hình như chúng ta đọc ngày nay vào thế kỷ 15.

Hai mươi mầu nhiệm trong Kinh Mân Côi giống như tựa đề của hai mươi bức “tranh thánh” diễn tả từng mầu nhiệm trong các sách Tin Mừng và tín lý của Hội Thánh, xướng lên để chúng ta tự hình dung theo Tin Mừng, chiêm ngắm trong khi nhẩm đi nhẩm lại những lời kinh rút ra từ sách Tin Mừng và phụng vụ, cũng là những lời gợi lên khởi đầu (Sứ Thần truyền tin) và kết quả của ơn cứu độ trong Đức Giê-su, là chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, và được trực tiếp thân thưa với Cha chúng ta ở trên trời, ngợi khen và giãi bày những tâm tình và những nhu cầu của chúng ta trong đời sống làm người và làm con Thiên Chúa, được hiệp với thần thánh trên trời và Hội Thánh trên trần gian tung hô Ba Ngôi Thiên Chúa là nguồn ơn cứu độ (kinh Sáng Danh), cầu xin với Đức Ma-ri-a, Đấng vừa là Mẹ của Đấng Cứu Chuộc vừa là Mẹ chúng ta, những kẻ được hưởng ơn cứu chuộc.

Trẻ thơ nào cũng cần nghe và cảm nghiệm những lời, những cử chỉ âu yếm. Có gì ngọt ngào âu yếm cho trẻ thơ hơn là hai tiếng “Ba”, “Má”. Vui, buồn, khổ, đau, hay sung  sướng thì “Ba”, “Má”, cũng là lời diễn tả đầu tiên ở sẵn ngay đầu môi. Có bàn tay nào êm ái bằng bàn tay của mẹ; bàn tay nào chở che mạnh mẽ hơn bàn tay của cha… Kinh Mân Côi cho chúng lặp đi lặp lại tiếng kêu “Cha”, và “Mẹ”…

Những lời kinh và các mầu nhiệm trong Kinh Mân Côi giúp chúng ta cảm nghiệm Tình Thương của Thiên Chúa là Cha. Chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha, thân thưa với Cha. Nhớ đến, ôn lại những gì Cha đã làm cho chúng ta trong mầu nhiệm cứu độ, như thánh Gio-an diễn tả:

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ. (Ga 3,16-17).

Và Thánh Phao-lô cảm nghiệm: “Người đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi” (Gl 2,20).

Tình Thương ấy là nguồn sức mạnh và cậy trông của chúng ta trong mọi hoàn cảnh:

Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? 36Như có lời chép: chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh. 37Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. 38Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, 39trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.

Và khi chúng ta cảm nghiệm được hạnh phúc ấy thì chúng ta cũng được thôi thúc yêu mến đồng loại và có gương mẫu để biết yêu mến như Chúa Giê-su dạy:

Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau ; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 35Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau. (Ga 13,34-35)

Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

12Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. (Ga 15, 9-13)

Chúng ta được gọi Thân Mẫu của Chúa, Nữ Vương Thiên Đàng là Mẹ của mình, được cảm nghiệm Tình Thương của Mẹ suốt từ khi Mẹ nhận sứ mạng làm Mẹ Đấng Cứu Chuộc cho đến khi Mẹ đứng gần thập giá như Người Đàn Bà Mới, nghe Chúa Giê-su từ trên thập giá trao chúng ta – qua đại diện là người môn đệ Chúa yêu mến – cho Thân Mẫu của Người, để chúng ta thành con của Bà, và Bà làm Mẹ của chúng ta, “Mẹ của kẻ sống”, thay cho người Đàn Bà đầu tiên đã đem cái chết vào trước khi thành mẹ của chúng ta. Rồi để kết thúc, chúng ta chiêm ngắm cuộc khải hoàn của Mẹ, Mẹ được tham dự hoàn toàn vào cuộc khải hoàn của Đấng Cứu Chuộc do Mẹ sinh ra.

Mẹ trở thành nguồn cậy trông, bảo chứng cho chúng ta về quyền năng cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta được tin tưởng thân thưa với Mẹ mọi nhu cầu của chúng ta “khi nay và trong giờ lâm tử”.

Kinh Mân Côi đưa chúng ta vào trong đại dương của Tình Yêu Thiên Chúa qua các mầu nhiệm chúng ta chiêm ngắm và lời kinh chúng ta lặp đi lặp lại. Kinh Mân Côi là nguồn an ủi, nguồn sức mạnh trong mọi hoàn cảnh của đời người tín hữu.

Tôi xin kết thúc bằng kinh nghiệm của “người tù xuyên thế kỷ” 38 năm, với hai năm ngồi trong khám tử hình bị vợ bỏ, con trai con gái còn nhỏ, lớn lên thì nghèo nên chẳng ai có điều kiện đi thăm cha.

Là sĩ quan đi cải tạo, bị bắt lại một lần, với tội danh tuyên truyền phản cách mạng, bị bắt lại lần nữa và lãnh án tử hình. Hai lần trước anh đã được bạn tù người công giáo dạy giáo lý, thuộc Kinh Mân Côi và ngắm Đàng Thánh Giá, nhưng chưa chịu phép rửa. Trong khám tử hình, hai chân cột vào một dây xích sắt dài. Anh nảy ra sáng kiến tự chế xâu chuỗi để đọc Kinh Mân Côi: đếm mười mắt xích, xé áo lấy vải đánh dấu, làm chuỗi Mân Côi. Ngày ngày lần chuỗi năm vòng 15 mầu nhiệm, rồi “ngồi Đàng Thánh Giá” ba vòng nữa. Ngày nào anh cũng chờ trong hy vọng, không phải hy vọng được tha, nhưng “nếu hôm nay người ta tháo xiềng đem ra bắn thì con sẽ được ở với Chúa trên thiên đàng”. Hai năm sau, một ngày người ta mở cửa, tháo “xâu chuỗi”, nhưng chưa cho anh lên thiên đàng với Chúa, chỉ đưa anh qua phòng án chung thân. Ít lâu sau, anh được đưa lên trại lao động. Ở đây anh đã gặp cha Đaminh Ngô Quang Tuyên và tôi, Cha Tuyên chuẩn bị và tôi làm phép rửa cho anh trong âm thầm. Nhiều người đã nghe biết tên anh, vì ngày đầu tiên đi lễ, gặp lễ cầu cho hòa bình và công lý, anh được mời lên chia sẻ. Lời đầu tiên của anh: “Tôi tha thứ tất cả, cho mọi người đã làm tôi đau khổ 38 năm qua”. Anh xóa từ hận thù, oán hận trong các bài thơ, bài hát anh đã viết hồi trước.

Khi anh được ra về thì tuổi đã cao, mắt đã gần lòa, sức khỏe suy yếu, con trai anh đã 45 tuổi, vẫn nghèo. Nhưng anh vẫn giữ được sự lạc quan và óc hài hước. Chuỗi Mân Côi và đàng thánh giá đã giữ tâm hồn anh bình an, lạc quan, vui vẻ sau ba mươi tám năm tù…

Giê-ru-sa-lem ngày 23 tháng 9 năm 2020
Linh mục Giu-se Nguyễn Công Đoan, S.J.

Chia sẽ bài viết này trên:

Điều mà Chúa truyền dạy tha thiết lúc này

1. Tôi xin chia sẻ điều mà Chúa tha thiết truyền dạy tôi lúc này. Chúa truyền dạy không chỉ riêng tôi, mà cũng truyền dạy cho mọi người con Chúa. Chúa truyền dạy một cách tha thiết, một cách khẩn cấp, như một sứ điệp cứu rỗi.

2. Điều mà Chúa truyền dạy là: “Lúc này hơn bao giờ hết, các con hãy nhờ Đức Mẹ Maria, mà đổi mới bản thân, hầu tránh được đại họa diệt vong phần xác phần hồn”.

3. Vâng lời Chúa truyền dạy, tôi đến với Đức Mẹ, tôi ôm lấy Mẹ, tôi cảm nhận được sự an tâm, an ủi, an vui lạ lùng.

4. Tôi nhận thấy rất rõ: Tình thương Mẹ dành cho tôi là rất đậm đà đặc tính khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Mẹ là sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Mẹ là đền thờ Chúa Th|nh Thần.

5. Với sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, Mẹ mong đợi hãy tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều trong tình hình hiện nay. Tình hình càng khó khăn phức tạp, thì sự làm chứng cho Chúa càng phải rất khôn ngoan.

6. Tôi hỏi Mẹ:“Thế nào là làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan?” Thì Mẹ cho tôi nhận thấy: Muốn làm chứng cho Chúa một cách khôn ngoan trong bất cứ tình hình nào, thì hãy để ý đến hai việc này:

7. Một là phải phục vụ con người một cách tận tình và khiêm nhường.

8. Hai là hãy coi sám hối, đổi mới bản thân là việc phải làm mọi ngày, mọi giờ, mọi phút. Đổi mới bản thân theo Lời Chúa, đó là điều cần xác định rõ.

Thí dụ: Lời Chúa là.
Bố thí phải kín đáo (Mt 6,1)
Cầu nguyện nơi kín đáo (Mt 6,5)
Ăn chay cách kín đáo (Mt 6,16)
Thực tế thường không được vậy, nên tôi cần s|m hối, đổi mới bản
th}n mỗi ng{y.

9. Mấy ngày nay, Đức Cha Bề trên của nhiều giáo phận đã ra thông báo khuyên các tín hữu của mình không nên tụ tập đông người, cho dù để tham dự Thánh lễ, vì lý do dịch Covid-19. Tôi cũng coi thông báo đó là khôn ngoan.
Qua sự kiện trên đây, Mẹ dạy tôi điều này: Khôn ngoan mà Chúa Thánh Thần muốn, là hãy biết linh hoạt trong cách sống đức tin. Điều gì là căn bản, thì phải giữ, điều gì là hình thức, thì có thể đổi, và cần đổi, nếu tình hình khuyến cáo. Chứ khôn ngoan không có nghĩa là luôn phải đúng thói quen.

10. Tôi được may mắn tiếp xúc với nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân sống trong các chế độ khắt khe với Công giáo. Họ cho thấy họ phải khôn ngoan thế nào, để có thể tồn tại một cách bình an, mà vẫn giữ được đức tin.

11. Riêng tôi, lúc này, nhờ có nhiều quen biết với các thành phần xã hội, thì khôn ngoan mà Mẹ dạy tôi thực hiện, là hãy chân thành nói về Chúa một cách công khai và riêng tư, tôi nói một cách tình nghĩa, và xem ra nhiều người đã gặp được Chúa: Tạ ơn Chúa.

12. Thế là tôi đã được Mẹ Maria dạy tôi về sự khôn ngoan, một đức tính rất cần cho người mục tử tại Việt Nam hôm nay.

13. Mẹ cũng đang còn dạy tôi về sự khôn ngoan, qua gương sáng của nhiều giám mục, tu sĩ và giáo dân.

14. Nhiều phong trào đạo đức mang sự khôn ngoan Phúc Âm đang hoạt động mạnh tại nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam. Thí dụ phong trào kinh Mân Côi.

15. Phần thưởng mà chúng tôi chờ, cũng chỉ là Chúa mà thôi, đó là sự khôn ngoan sau cùng.

Long Xuyên, ngày 11.8.2020
ĐGM GB. Bùi Tuần

Chia sẽ bài viết này trên:

THÁNG HOA THỜI ĐẠI DỊCH

THÁNG HOA THỜI ĐẠI DỊCH

Tháng Năm, tháng trái đất nở hoa, nhất là ở Bắc bán cầu, và thông thường người ta bắt đầu nghĩ đến việc trồng vườn, dã ngoại, lên kế hoạch cho kỳ nghỉ…

Đó cũng là tháng Hoa kính Đức Mẹ.

Trong nhiều thế kỷ, Giáo hội Công giáo đã dành toàn bộ tháng Năm để tôn vinh Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Truyền thống lâu đời này bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại. Vào thời khởi thủy của Hy Lạp, tháng Năm được dành riêng để kính thần Artemis, nữ thần của sự phong nhiêu. Còn ở La Mã cổ đại, tháng Năm được dành riêng để tôn vinh nữ thần Flora – thần của các loài hoa. Họ tổ chức lễ hội Hoa vào cuối tháng Tư và cầu xin nữ thần Flora làm cho toàn thể cây cối trên mặt đất được trổ bông.[1]

Trong thời Trung Cổ, các phong tục tương tự đã có rất nhiều, xoay quanh việc giã từ mùa đông, vì ngày đầu tháng Năm được coi như là khởi đầu của một mùa tăng trưởng mới.

Cũng trong thời kỳ này, truyền thống dâng kính 30 ngày cho Đức Mẹ đã ra đời, cũng được gọi là Tháng Đức Mẹ, được tổ chức từ ngày 15-8 đến ngày 14-9 và hiện vẫn được giữ ở một số khu vực.

Ý tưởng về một tháng dành riêng cho Đức Mẹ có thể bắt nguồn từ thời Baroque (khoảng 1600 đến 1750) với ba mươi bài ‘suy niệm linh thao’ để tôn vinh Đức Mẹ. Sau đó, tháng Năm kính Đức Mẹ với những việc sùng kính đặc biệt đã được tổ chức mỗi ngày trong suốt cả tháng Năm. Phong tục này được phổ biến rộng rãi trong suốt thế kỷ 19 và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Và cách sùng kính Đức Mẹ vào tháng Năm cũng trở nên đa dạng như chính những người tôn vinh Đức Mẹ: dựng bàn thờ tôn kính Mẹ Maria, đọc kinh Mân Côi, dâng triều thiên và dâng hoa lên Đức Maria với những lời ca trìu mến, ngọt ngào…

Tháng Hoa của những năm đầu thế kỷ 20 được ghi dấu đặc biệt với sự kiện Đức Mẹ lần đầu tiên hiện ra với ba trẻ làng Fatima vào ngày 13-5-1917. Hai trong số ba trẻ này đã được Mẹ Maria tiên báo là sẽ sớm được đưa về thiên đàng nếu biết siêng năng lần hạt Mân Côi, và quả thực, lần lượt trong năm 1919 và năm 1920, Francisco và Jacinta đã qua đời vì dịch Cúm Tây Ban Nha – một trong những đại dịch khủng khiếp nhất lịch sử, kéo dài từ đầu năm 1918 đến cuối năm 1920 – đã làm cho khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới nhiễm bệnh, dẫn đến khoảng 50 đến 100 triệu ca tử vong (x. Đại dịch 1918-1920: Cái chết của hai vị Thánh trẻ ở Fatima).

100 năm sau khi Jacinta lìa trần vì đại dịch Cúm Tây Ban Nha, chúng ta bước vào tháng Hoa năm 2020 khi mà thế giới cũng đang lao đao với đại dịch Covid-19, khởi phát vào cuối năm  2019, là năm kỷ niệm 100 năm ngày vị Thánh trẻ Francisco qua đời cũng vì dịch bệnh.

Nhớ đến hai vị thánh trẻ của tháng Hoa 1917 đã chết vì dịch bệnh của thế kỷ trước, chúng ta cũng nhớ đến các nạn nhân của đại dịch hôm nay, và đặc biệt nhớ đến các chuyên viên y tế cũng như các linh mục tu sĩ đang phục vụ các bệnh nhân nhiễm virus corona – được Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là ‘những vị thánh nhà bên cạnh’. Vì sự hy sinh của những vị thánh ấy, hiệp với sự hy sinh tột đỉnh của Đức Giêsu trên thánh giá và của Mẹ Maria đứng cận kề thánh giá, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa và Mẹ Maria thương cứu nhân loại mau qua khỏi đại dịch và cải hóa chúng ta cùng toàn thể thế giới.

Tháng Hoa năm nay, hoa vẫn nở đẹp, nhưng người ta không thể tổ chức dã ngoại đông đảo để ngắm hoa, cũng như không thể tổ chức dâng hoa long trọng để tôn kính Mẹ Maria. Nhưng chúng ta vẫn có thể dâng lên Mẹ những đóa hoa lòng rất đẹp, những lời kinh Mân Côi sốt sắng tại gia, những nghĩa cử bác ái cụ thể để giúp những người đang đau khổ thiếu thốn trong dịch bệnh. Như thế, Tháng Hoa trong mùa đại dịch lại trở nên có ý nghĩa vô cùng. Chắc chắn chúng ta sẽ đặc biệt cảm nhận được tình thương của Mẹ Maria, Đấng đang đứng sát bên cạnh chúng ta trong thương đau, như ngày xưa Mẹ đã kiên cường đứng cận kề thánh giá để an ủi Con Mẹ đến cùng…

Vi Hữu
Trích Sách Nhịp Sống Tin Mừng 05-2020
Nguồn: WGPSG

[1] x. Marge Fenelon, Why is May the Month of Mary?

Chia sẽ bài viết này trên:

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

TẠI SAO LẦN CHUỖI MÂN CÔI LẠI CẦN THIẾT NGAY LÚC NÀY?

Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.

Xã hội của chúng ta ngày nay phải đối mặt sự gia tăng của chủ nghĩa thế tục và đánh mất đức tin nơi các đô thị phồn hoa. Chúng ta chợt nhận ra mình đang đối đầu với một thế giới đắm chìm trong sự bành trướng của sự dữ và chủ nghĩa khủng bố, chiến tranh và bạo lực. Chúng ta gặp nhiều rắc rối bởi những đổ vỡ trong đời sống gia đình, cùng vô số những ồn ào chia trí và cả việc thiếu vắng những nỗ lực sống thánh.

Nhưng chuỗi Mân Côi có thể giúp chúng ta. Và chúng ta cũng biết điều này, vì chính Đức Maria đã nói điều này cách đây 100 năm tại làng Fatima, Bồ Đào Nha, khi Mẹ hiện ra sáu lần với ba trẻ chăn cừu từ tháng Năm đến tháng Mười năm 1917, mỗi tháng một lần. Mẹ nhắc đi nhắc lại rằng: “Hãy lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày để có được hòa bình trên khắp thế giới và kết thúc chiến tranh.”

Chúng ta cũng biết những giá trị tuyệt vời của chuỗi Mân Côi, vì nó đã minh chứng sức mạnh của nó hết lần này đến lần khác xuyên suốt lịch sử nơi đời sống của các tín hữu nam nữ. Chắc chắn điều này có được không phải bởi vì chuỗi Mân Côi là thần chú phép thuật nhưng bởi vì chuỗi Mân Côi mang chúng ta đến với Chúa Giêsu. Theo như lời của Đức Hồng y Francis E. George – Tổng Giám mục Tổng giáo phận Chicago, vào dịp bế mạc năm Mân Côi 2013 – thì chuỗi Mân Côi “mang chúng ta đến với trái tim của Tin Mừng”.

Vượt thắng sự ồn ào

Trong lối sống hiện đại điển hình, chúng ta rất dễ bị chia trí và bị lấn át bởi tất cả mọi ồn ào xung quanh. Công nghệ đang liên tục đòi hỏi sự chú ý của chúng ta. Ngay cả khi đang ngồi trước những màn hình lớn thì chúng ta vẫn nhìn vào những màn hình điện thoại nhỏ hơn. Chúng ta bị lôi cuốn bởi những cám dỗ của các công cụ truyền thông xã hội và sử dụng tin nhắn như một hình thức giao tiếp chính yếu. Chúng ta đã hình thành một não trạng “luôn luôn bận rộn” hoặc “luôn luôn rảnh rỗi”, và ồn ào không còn biên giới đối với chúng ta. Trong một báo cáo của Nielson công bố vào tháng 6 năm 2016 cho biết trung bình người Mỹ sử dụng hơn 10 tiếng mỗi ngày để chỉ nhìn vào các loại màn hình (Tivi, máy tính, điện thoại,…). Chúng ta dễ nói với bản thân rằng mình đang làm việc chăm chỉ và việc tiêu thụ một lượng lớn thời gian cho các thiết bị công nghệ là cần thiết, nhưng thực tế thì tất cả những ồn ào đó đang hủy hoại mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.

Mặc dù vấn đề này trở nên đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, nhưng đây không phải chỉ là vấn đề của thế kỉ XXI. Năm 1973, Đức Hồng y Albino Luciani – lúc đó là Tổng Giám mục Tổng giáo phận Venice, sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I – đã có một bài giảng về “sự khủng hoảng trong cầu nguyện” trên khắp thế giới, trong đó một phần nguyên nhân là do “những ồn ào đã xâm chiếm cuộc sống của chúng ta”.

Nếu Đức Thánh Cha nghĩ rằng cuộc sống năm 1973 đầy ồn ào, vậy thì ngài sẽ nghĩ gì về cuộc sống hiện tại ?

Chúng ta cũng đối diện với vô số những ồn ào nội tâm. Chúng ta bị chia trí trong cầu nguyện bởi những cản trở bên trong, điều thường được biểu hiện dưới hình thức của kiêu ngạo và tự cho mình là trung tâm. Trong tất cả những lúc khó khăn ấy, chúng ta có thể nhờ đến chuỗi Mân Côi. Những suy ngắm tuyệt vời của lời kinh Mân Côi có thể giúp chúng ta tập trung và vượt thắng những ồn ào bên ngoài. Đồng thời, bằng việc cầu nguyện với lời kinh đơn sơ này một cách liên lỉ, tín thác và khiêm nhường, chúng ta có thể phá vỡ được những rào cản bên trong chúng ta.

Bài giảng của Đức Hồng y Luciani được viết lại trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” trình bày một sự bảo trợ tuyệt hảo và mạnh mẽ của chuỗi Mân Côi – điều mà phù hợp với hiện tại như nó đã từng phù hợp vào năm 1973.

Tận hiến sâu xa hơn cho Giáo Hội

Tổng Giám mục Fulton J. Sheen, một trong những “người khổng lồ” tri thức, tinh thần và thậm chí là truyền thông của thế kỉ XX, cũng đã tận hiến thẳm sâu chính mình cho Đức Mẹ, và ngài đã viết tặng Mẹ một cuốn sách có tựa đề “Tình yêu đầu của nhân loại, Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa”

Nhiều người trong chúng ta có lẽ giống với cha Patrick Peyton, người được biết đến như là “linh mục của chuỗi Mân Côi”. Ngài là người đã tạo ra cụm từ “gia đình cùng cầu nguyện, cùng chung sống”.

Nhưng hồi ấy, cha Peyton không chỉ tạo ra cụm từ ấy; từ lúc nhỏ, ngài được giáo dục và đào tạo bởi các giá trị to lớn của chuỗi Mân Côi.

Cha Peyton đã quá quen với việc cầu nguyện cùng gia đình bằng chuỗi Mân Côi mỗi tối, và khi cha rời xa gia đình lần đầu tiên để đi làm và sống chung với một gia đình Công Giáo khác, thì cha đã rất sốc và đau buồn khi mọi người trong nhà ấy không cầu nguyện trước khi đi ngủ.

Ngài viết rằng: “Trong khi giả vờ ngủ, tôi đã cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi của mình và tôi cảm nhận được nỗi đau khổ của người con xa nhớ quê hương, nỗi đắng cay khi sống giữa những người mà lối sống của họ khác biệt với tôi, quan niệm về các giá trị sống của họ không đúng với tất cả những rèn luyện và trải nghiệm của tôi, điều mà tôi được dạy là bình thường.”

Đây rõ ràng là một trải nghiệm quan trọng của cha Peyton – cha nhận ra rằng cha không thể xem thường đức tin đã được lãnh nhận nơi gia đình. Đó cũng là lý do tại sao khi bi kịch gieo xuống cuộc đời mình, đang lúc chuẩn bị lãnh nhận chức thánh, cha Peyton vẫn có thể hướng về Đức Maria. Nhờ vào việc tận hiến cho Mẹ, cha Peyton đã được chữa lành một cách thần kỳ khỏi chứng bệnh suy nhược. Và đáp trả lại, cha đã cống hiến đời mình để lan truyền việc tận hiến cho Đức Maria. Ngài đã nói rằng: “Công trạng và vinh quang của mỗi việc làm mà tôi thực hiện đều sẽ thuộc về Mẹ và chỉ mình Mẹ”.

Cha Peyton tiếp tục thành lập phong trào Gia đình Mân Côi, sử dụng phát thanh vô tuyến, phim ảnh, các biển hiệu bên ngoài và hơn 260 nhóm họp trên khắp 6 châu lục để khuyến khích hàng triệu người cầu nguyện cùng gia đình Mân Côi.

Đoạn trích mô tả giai đoạn này trong cuộc đời của cha Peyton, trong cuốn “tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?”, được trích từ tiểu sử và ký sự của cha Peyton khi ngài bị bệnh tật đe dọa và hồi phục cách phi thường – cũng như sự tận hiến cho Đức Maria và chuỗi Mân Côi, điều mà không bao giờ bỏ rơi ngài.

Phát triển mối tương quan môn đệ Chúa Kitô

Tôi nghĩ thật đúng khi nói rằng mỗi người trong chúng ta, dù ở đâu đó trên đường đời, thì cũng đã từng tình cờ cảm nhận được lời nguyện cầu hay đức tin của ai đó mà chúng ta cực kì ngưỡng mộ và thậm chí có thể là đố kỵ. Dường như việc chứng kiến này là một món quà, và nó nhắc nhở mỗi người chúng ta rằng chúng ta cũng được mời gọi để xây dựng mối tương quan mật thiết và thân tình với Chúa Giêsu.

Để làm điều đó, chúng ta phải gặp gỡ Ngài, “gặp gỡ Chúa Kitô” – một cụm từ đã trở nên phổ biến trong triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, và điều này là rất thiết yếu – nghĩa là cần phải tìm hiểu Chúa Kitô một cách sâu sắc, trọn vẹn và không nghi ngờ, cùng dọn trống tâm hồn mình để tâm hồn của chúng ta có thể được đổ tràn đầy Thánh Thần Chúa.

Có nhiều cách để gặp gỡ Đức Kitô trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta như: nhờ cầu nguyện, các bí tích và dĩ nhiên, nơi Thánh Thể. Nhưng một bước tiến nhỏ trên con đường gặp gỡ Đức Giêsu là hình thành mối thân tình với Mẹ của Ngài trước. Vì sau cùng thì Mẹ là người hiểu rõ Đức Giêsu nhất và chính Mẹ đã cưu mang Người trong lòng mình. Đức Maria đã luôn dõi theo Con của Mẹ, chăm sóc và dạy dỗ Người. Mẹ đã trân quý từng khoảnh khắc khi ở bên Chúa Giêsu và luôn suy niệm chúng trong lòng, như Tin Mừng Luca thuật lại. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đáng mến của chúng ta đã viết trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae về chuỗi Mân Côi rằng, việc tận hiến cho Đức Mẹ là một trong những phương cách cầu nguyện truyền thống của Kitô giáo, hướng tới việc chiêm ngắm dung mạo Đức Kitô. Khi chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, chúng ta suy ngắm những khoảnh khắc khác nhau trong cuộc đời Đức Giêsu thông qua cách nhìn của Thánh Mẫu Người. Việc chiêm ngắm này dẫn chúng ta đến với một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa, điều mà dẫn đưa chúng ta vào con đường của người môn đệ Chúa Kitô.

Sự thiếu vắng một cách đáng kinh ngạc mối tương quan môn đệ Chúa Kitô trong thế giới ngày nay phần lớn là do rất khó để từ bỏ chính mình mà vác thập giá mình và bước theo Chúa, dù rằng chúng ta được dạy là phải làm như vậy. Tuy nhiên, là những môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi bỏ đi cái tôi, sự ích kỷ, kiêu ngạo và thay vào đó là ưu tiên dành cho tha nhân. Đó là một lối sống khác biệt với thế gian, thế nhưng Đức Maria và chuỗi Mân Côi có thế giúp chúng ta thực hiện được điều đó.

Mang hòa bình cho thế giới

Trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê, một trong những bài Kinh Thánh yêu thích của tôi, ngài khuyên các tín hữu trong mỗi ngày sống: “Đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4,6-7)

Gần cuối năm 2014, Đức cha Doeme đã có một thị kiến, ngài trông thấy Đức Giêsu hiện ra và trao cho ngài một thanh gươm. Nhưng khi ngày cầm lấy thanh gươm ấy thì nó liền biến thành một tràng chuỗi Mân Côi. Đức cha cho biết: “Rõ ràng với chuỗi Mân Côi, chúng ta có thể loại trừ được sự dữ”. Mặc dù đây là một lời chứng đặc biệt cho sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu chống sự dữ, nhưng đó không phải là duy nhất.

Nhiều câu chuyện khác và nhiều vị thánh đã phát họa lại những sự bảo trợ mà chuỗi Mân Côi mang lại, từ trận chiến Lepanto – cứu Giáo Hội Công Giáo Tây Phương thoát khỏi sự xâm lăng của quân Ottoman, cho đến thánh Piô Năm Dấu – người gọi chuỗi Mân Côi là “vũ khí chống lại sự dữ trong thế giới ngày nay”.

Trong một tài liệu liên quan được viết vào tháng 9 năm 1951, Đấng đáng kính Giáo Hoàng Pius XII đã xem chuỗi Mân Côi là phương dược giúp cho thế giới lúc bấy giờ giải trừ những sự dữ.

Chắc chắn không ít khó khăn khi chúng ta nhận thấy mình đang ở trong những hoàn cảnh khác nhau như hiện nay, với việc chiến tranh liên miên ở Trung Đông, chủ nghĩa khủng bố ở quê hương và trên thế giới, và việc bắt bớ các Kitô hữu khắp nơi.

Những lời của Đức Giáo Hoàng Pius XII về sự dữ cách đây 70 năm nhưng lại phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, chuỗi Mân Côi tiếp tục là vũ khí giúp chúng ta chiến đấu chống sự dữ.

Chiến đấu chống chủ nghĩa thế tục

Một nghiên cứu mới đây về sứ mạng tông đồ được thực hiện bởi Trung Tâm Nghiên cứu Ứng dụng tại Đại học Georgetown, Washington D.C, chỉ ra rằng 13 là độ tuổi tiêu biểu mà vào độ tuổi đó người ta sẽ đánh mất niềm tin của mình. Khi được hỏi rằng bạn có từng xem xét việc quay trở lại Giáo Hội hay không, thì con số xấu xa đó lại tiếp tục xuất hiện, với chỉ 13% người trẻ được hỏi có câu trả lời là “có”.

Cả hai dữ liệu thống kê nói trên đang gây ra lo lắng cho chúng ta, nhưng chúng không may lại trình bày một bức tranh chính xác về vị trí của chúng ta hiện nay trong khía cạnh loan truyền niềm tin nơi xã hội của chúng ta. Chúng ta đang thất bại. Xã hội hiện tại đang phải đối mặt với sự bành trướng mạnh mẽ của chủ nghĩa thế tục. Trong một diễn văn dành cho các Giám mục Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2012, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cảnh báo về sự ngập tràn của chủ nghĩa thế tục trong xã hội nước Mỹ, ngài nói: “Thật cấp thiết, toàn thể Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ cần nhận ra những đe dọa nghiêm trọng đối với những chứng tá đời sống đạo đức nơi Giáo Hội, đó là chủ nghĩa thế tục đang gia tăng mạnh mẽ trong các hoạt động chính trị lẫn văn hóa”

Nhưng Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI không phải là vị Giáo Hoàng đầu tiên lên tiếng chống lại chủ nghĩa thế tục. Đức Leo XIII, trị vì từ năm 1878 đến năm 1903, đã từng bị tấn công bởi các chính sách chính trị và những rắc rối của chủ nghĩa nhân văn thế tục trong suốt thời gian kế vị Thánh Phêrô. Trong một vài phần của 11 thông điệp về chuỗi Mân Côi (Đức Leo XIII được biết đến với biệt hiệu “vị Giáo Hoàng của chuỗi Mân Côi”) – một trong số đó được liệt kê trong cuốn “Tại sao chuỗi mân côi lại cần thiết ngay lúc này?” – Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã nói về những nguy hiểm của một thế giới thiếu vắng niềm tin. Những lời đó của ngài mạnh mẽ và phù hợp với cả hiện tại, giống như nó đã từng phù hợp lúc bấy giờ. Đức Leo XIII tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chuỗi Mân Côi trong việc chiến đấu với những rắc rối đang gia tăng – và ngài đã đúng. Cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể giúp thế giới tái khám phá niềm tin của mình.

Giúp chúng ta nên thánh

Mỗi người trong chúng ta được mời gọi nên thánh, nhưng như chúng ta biết, cuộc sống đó không hề đơn giản. Nó đòi hỏi những hy sinh, dâng hiến, đức hạnh và trên hết đó là mối tương quan thân mật với Chúa Kitô, cùng một quyết tâm nghe theo thánh ý Ngài, dù bất kể có chuyện gì. Mặc dù điều đó không dễ dàng, nhưng nên thánh là điều mà mỗi người trong chúng ta được mời gọi.

Lời mời gọi chung này được diễn tả trong Hiến chế Tín lý về Giáo Hội của Công Đồng Vaticanô II – điều mà nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta được mời gọi “hãy nên hoàn thiện như Cha của anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” Khi mong muốn thực hiện được điều đó, còn gì tốt hơn khi chiêm ngắm các thánh – những người đã làm được điều đó. “Các thánh và các chân phước trên trời nhắc nhở chúng ta, những kẻ lữ hành trần thế, rằng lời cầu nguyện, trên hết, là lương thực cho mỗi ngày sống để chúng ta không bao giờ lạc mất hướng nhìn về đời sống vĩnh hằng.” Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Đối với nhiều người, chuỗi Mân Côi […] là phương cách để họ trò chuyện với Thiên Chúa mỗi ngày. Chuỗi Mân Côi dẫn chúng ta vào một sự mật thiết sâu sắc hơn nữa với Chúa Kitô và với Đức Trinh Nữ Maria.”

Rất nhiều vị thánh đã tận hiến mình cho chuỗi Mân Côi như: thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, thánh Têrêsa Calcutta, thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, thánh Zelie Martin, chân phước John Henry Newman, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và thánh Louis de Montfort. Nhờ những mẫu gương của các ngài, chúng ta tìm thấy được cảm hứng cho chính mình trong việc cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi nhiều hơn, để tiến gần hơn tới việc nên thánh nhờ Đức Maria và Con của Mẹ.

Grentchen R.Crowe
Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Mẹ và đại dịch Covid-19

Đức Mẹ và đại dịch Covid-19

Đức Mẹ vốn được ca ngợi là Đấng “phù hộ các giáo hữu” (Kinh Cầu Loreto). Cho nên, trong bất cứ cơn khốn khó nào, tín hữu cũng chạy đến với ngài, tha thiết xin ngài cầu bầu cùng Chúa “cho chung con”. Cơn đại dịch Covid-19 trùm phủ khắp hoàn cầu với lưỡi hái tử thần quét nhanh quét mạnh càng làm họ chạy đến với ngài nhiều hơn, tin cậy hơn, trìu mến hơn.

Gương Đức PhanxicôNhưng không hình ảnh cảm động nào bằng hình ảnh vị đại diện Chúa Kitô thân hành tới Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả ở Vatican để cầu xin cùng Mẹ cho thành phố và cho thế giới trước bức ảnh Salus Populi Romani hay làm phép lạ và đã cho cung nghinh bức ảnh này về Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô để từ đó bức ảnh luôn hiện diện trong bất cứ buổi phụng vụ nào do ngài cử hành tại Vương cung Thánh đường này và quảng trường của nó.

Hình như Hội đồng Giám mục Ý chậm chạp hơn vị giáo chủ của họ. Trong khi đất nước chìm ngập trong chết chóc đau thương, các ngài chỉ những chăm chút sao cho giáo dân tuân theo các biện pháp của chính phủ: đóng cửa nhà thờ, giữ khoảng cách xã hội…

Theo Hannah Brockhaus của CNA, chỉ sau khi nhận được hơn 300 thỉnh nguyện thư của giáo dân, các giám mục Ý mới chịu dâng hiến nước Ý cho Đức Mẹ. Buổi lễ sẽ diễn ra ngày 1 tháng Năm tới tại một đền thánh ở miền Bắc Ý.

Trong một sứ điệp video ngày 20 tháng 4, Đức Hồng Y Gualtiero Bassetti, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ý, nói rằng ngài nhận được “hơn 300 lá thư, đầy tình yêu, và lòng sùng kính đối với các ủi an của Trinh Nữ Maria”.

Ngài cho biết các lá thư trên đặt câu hỏi “ tại sao Đức Hồng Y không dâng hiến đất nước chúng ta cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria? Mọi người đang khốn khổ vì trận đại dịch này, tất cả những ai đang làm việc tại các bệnh viện và phải chăm sóc người lân cận của họ, tại sao lại không phó thác toàn bộ quốc gia cho Đức Maria?”

Đức Hồng Y Bassetti nhận định rằng nhiệm vụ của các chủ chăn là hướng dẫn đoàn chiên của các ngài, “nhưng thường thì chính đoàn chiên, chính dân Kitô giáo, thúc đẩy các chủ chăn của họ, như đã diễn ra trong trường hợp này”.

Các Giám Mục Ý dâng quốc gia cho Đức Mẹ

Việc phó thác nước Ý cho Đức Mẹ sẽ diễn ra chiều tối ngày 1 tháng 5 tại Vương cung Thánh đường Santa Maria del Fonte, một đền thánh dâng kính Đức Mẹ Caravaggio thuộc tỉnh Bergamo, một trong các khu vực bị Covid-19 tác hại hơn cả.

Ngày 1 tháng 5 được chọn vì là ngày đầu tháng Mân Côi, và cũng là ngày kính Thánh Giuse Thợ, ngày cầu nguyện cho các công nhân, những người đang hết sức lo âu và sợ hãi cho tương lai của họ.

Trong thư gửi tín hữu, các Giám Mục Ý cho rằng trong ngày trên “Giáo hội trao phó cho Đức Mẹ người bệnh, các nhân viên y tế, các bác sĩ, các gia đình, và người quá cố”.

Các ngài viết thêm rằng buổi cầu nguyện được tổ chức tại đền Santa Maria del Fonte ở Caravaggio, Ý, vì nó được bao quanh bởi “các đau khổ và đau đớn trong một lãnh thổ bị thử thách nặng nề bởi tình trạng khẩn trương về y tế”. Đền này được xây trên địa điểm Đức Mẹ hiện ra với một thiếu nữ vùng quê tên là Giannetta Varoli, vào ngày 26 tháng 5 năm 1432.

Trong sứ điệp của ngài, Đức Mẹ thúc giục người ta ăn năn thống hối, ăn chay các ngày thứ sáu. Ngài cũng được gọi là Đức Mẹ Suối Nước vì 1 suối nước đã xuất hiện dưới tảng đá nơi Đức Mẹ đứng và trên đó, ngài để lại dấu chân.

Cùng năm ấy, một đền thánh nhỏ đã được xây tại địa điểm. Hơn 100 năm sau, tức năm 1575, Thánh Charles Borromeo, lúc ấy là Giám Mục Milan, đã thuê một kiến trúc sư để khởi đầu diễn trình mở rộng đền thánh cho có hình dạng giống như bây giờ.

Mỹ và Gia Nã Đại dâng hiến quốc gia cho “Đức Maria, Mẹ Giáo Hội”

Cũng theo tin CNA, Đức Tổng Giám Mục Jose Gomez, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đã lên tiếng mời mọi Giám Mục Hoa Kỳ tham gia với ngài vào ngày 1 tháng 5 để dâng Hoa Kỳ cho Đức Mẹ như một đáp ứng trước đại nạn Covid-19. Việc dâng mình này cũng trùng hợp với việc các Giám Mục Gia Nã Đại dâng nước họ cho Đức Mẹ.

Trong thư gửi các Giám Mục Hoa Kỳ, Đức Tổng Giám Mục Gomez cho biết việc dâng mình cho Đức Mẹ được thực hiện dưới tước hiệu “Maria, Mẹ Giáo Hội”.

Ngài viết “mọi năm, Giáo Hội vốn tìm kiếm sự cầu bầu đặc biệt của Mẹ Thiên Chúa trong tháng năm. Năm nay, chúng ta tìm sự giúp đỡ của Đức Mẹ một cách càng khẩn thiết hơn nữa khi chúng ta cùng nhau hứng chịu các hiệu quả cuả đại dịch hoàn cầu”.

Công bố trên tiếp theo công bố tương tự của các Giám Mục Gia Nã Đại. Các vị này cũng sẽ dâng Lãnh Thổ Nữ Hoàng cho Đức Mẹ dưới cùng một tước hiệu.

Đức Tổng Giám Mục Gomez xác nhận sự hợp tác giữa hai Hội Đồng Giám Mục Gia Nã Đại và Hoa Kỳ trong việc dâng hiến này. Ngài viết “Dựa trên cuộc thảo luận với giới lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Gia Nã Đại, Ban Điều Hành của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã họp và khẳng định sự thích hợp của ngày 1 tháng 5, 2020 như một dịp để các Giám Mục Hoa Kỳ dâng hiến quốc gia chúng ta cho Đức Mẹ và làm thế dưới tước hiệu ‘Maria, Mẹ Thiên Chúa'”. Ngài viết thêm: các ngài làm thế “cùng một ngày với ngày các Giám Mục anh em ở phía bắc dâng hiến Gia Nã Đại dưới cùng một tước hiệu”.

Tước hiệu “Maria, Mẹ Thiên Chúa” do Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI dâng kính Đức Mẹ tại Công Đồng Vatican II và ngày lễ kính Đức Mẹ dưới tước hiệu này được chính thức thêm vào lịch phụng vụ từ năm 2018.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên bố rằng thứ hai sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống sẽ được cử hành như lễ nhớ kính “Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa”. Đức Hồng Y Sarah, bộ trưởng Bộ Phụng Thờ Thiên Chúa và Kỷ luật Bí tích, nói rằng việc thêm ngày lễ nhớ này nhằm khuyến khích sự tăng trưởng của “lòng sùng kính chân chính đối với Đức Mẹ”.

Cử hành lễ nhớ này năm 2018, Đức Tổng Giám Mục Gomez từng nói rằng: “khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và về trời, Đức Mẹ trở thành trái tim mẹ hiền của Giáo Hội Người”.

Đây cũng là dịp cầu nguyện cho qua nạn dịch Covid-19. Đức Tổng Giám Mục nói: “Điều này giúp Giáo Hội cơ may để cầu xin Đức Mẹ tiếp tục che chở người dễ bị tổn thương, chữa lành người đau yếu, và ban ơn khôn ngoan cho những ai đang cố gắng chữa trị thứ virút khủng khiếp này”.

24 quốc gia được dâng hiến cho Đức Mẹ Fatima

Theo gương Đức Phanxicô nhanh hơn cả, theo tập san The Tablet của Anh, là sáng kiến của các vị Giám Mục Bồ Đào Nha trong việc dâng hiến quốc gia họ cho Đức Mẹ Fatima. Thông tấn xã Portuguese Ecclesia cho hay: buổi lễ, do Hội Đồng Giám Mục Bồ Đào Nha tổ chức, được sự tham gia qua làn sóng truyền hình, truyền thanh và các phương tiện truyền thông xã hội của các vị Tổng Giám Mục tại các nước Albania, Hung Gia Lợi, Moldova, Ba Lan, Romania, Slovakia, Tây Ban Nha, cũng như Bolivia, Colombia, Costa Rica, Cuba, the Dominican Republic, East Timor, Guatemala, Ấn Độ, Kenya, Mễ Tây Cơ, Nicaragua, Panama, Paraguay, Peru, Tanzania và Zimbabwe.

Hãng này nói thêm “nhiều nhóm tín hữu khác” cũng tham gia các lời cầu nguyện cùng một lúc này để chấm dứt đại dịch coronavirus đang sát hại tới lúc đó là 34,000 người trên khắp thế giới, theo số liệu của WHO.

Lời cầu nguyện dâng hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria nói rằng tất cả các quốc gia tham gia, như thành phần của “Giáo Hội lữ thứ trần gian”, nay chờ mong lòng thương xót và cứu thoát của Thiên Chúa.

Lời cầu nguyện tiếp tục: “Trong giờ phút đau khổ độc đáo này, xin Chúa trợ giúp Giáo Hội Chúa, soi sáng cho các nhà cai trị các quốc gia, lắng nghe người nghèo và người bị giáng họa, đề cao ngừơi khiêm nhường và bị áp bức, chữa lành người bệnh và người có tội, nâng dậy những người bị bác bỏ và làm cho ngã lòng, giải phóng người bị giam giữ và ngồi tù, và giải thoát chúng con khỏi cơn đại dịch đang giáng xuống chúng con. Xin Chúa nâng đỡ con cái Chúa, người cao niên và dễ bị tổn thương nhất, khuyến khích các bác sĩ, y tá, các nhà chuyên môn y tế và các người chăm sóc thiện nguyện, xin củng cố các gia đình, trợ giúp chúng con trong tư cách công dân và tình liên đới, xin Chúa trở thành ánh sáng cho người hấp hối và nghinh đón người chết vào nước của Chúa”.

Tưởng cũng nên biết, theo Derry Journal, người dân Ái Nhĩ Lan cũng đã được Đức Tổng Giám Mục Eamon Martin cùng với các giám mục và linh mục cả nước dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ vào cùng ngày 25 tháng 3 nhân lễ Truyền Tin đề xin “sức mạnh và che chở khỏi Coronavirus, Covid-19”.

Vũ Văn An
Nguồn:  Vietcatholic
Chia sẽ bài viết này trên:

Ba ‘thị chứng nhân’ và Bí mật Fatima

Ba ‘thị chứng nhân’ và Bí mật Fatima

Sắp đến tháng Hoa đặc biệt trong đại dịch corona, người ta bắt đầu nhắc đến Bí mật Fatima cùng với các thị chứng nhân: Nữ tu Lucia, Thánh Franciso và Thánh Jacinta. Đây cũng là các mẫu gương sống của thời đại dịch.

Nữ tu Lucia

Hồng y Jose Saraiva  Martins – từng là Tổng trưởng của Bộ Phong Thánh và quen biết Lucia trong những năm cuối đời của chị – đã nhận xét Lucia là một nữ tu rất thông minh và giản dị, rất cụ thể và hài hước, rất dễ chịu và đôn hậu…

Là con út trong một gia đình có 7 người con – 6 gái và 1 trai, Lucia đã được cha mẹ là Antonio và Maria Rosa dos Santos  sinh ra vào ngày 28-3-1907, tại làng Aljustrel thuộc giáo xứ Fatima, Bồ Đào Nha.

Lucia được rửa tội ngày 30-3-1917, và rước lễ lần đầu khi lên 6 tuổi. Từ lúc 8 tuổi, cô bé đã suốt ngày ở ngoài đồng chăn chiên cùng với những mục đồng khác trong làng.

Và chính trong thời điểm này – khi Lucia đang chăn chiên cùng với hai em họ của mình là Jacinta và Francisco Marto, thì một vị thiên thần đã vài lần hiện đến với ba trẻ này, để chuẩn bị cho các em một sứ mạng đặc biệt: đón tiếp một vị khách lớn sẽ đến từ trời. Đó là Đức Trinh nữ Maria.

Vào ngày 13-5-1917 (lúc ấy Lucia được 10 tuổi), cô và hai em họ đang chăn chiên ở  Cova de Iria thì Mẹ Maria đã hiện ra lần đầu với ba em. Mẹ tiếp tục hiện ra với các em vào ngày 13 hằng tháng cho đến tháng Mười năm 1917 (trừ tháng Tám, các em đã không đến được vì bị những viên chức chống Giáo hội ngăn cản và nhốt tù). Trong những lần hiện ra này, Đức Trinh Nữ khuyến khích ba trẻ cầu nguyện, đặc biệt là lần chuỗi Mân Côi, và hy sinh hãm mình. Mẹ cũng truyền đạt một số lời tiên tri về tương lai (kết thúc Thế chiến I, sự gia tăng lầm lạc ở Nga lan rộng khắp thế giới, một số quốc gia bị hủy diệt, một cuộc đại chiến với dấu hiệu báo trước vì con người không sửa đổi, tín hữu bị bách hại…) Vào ngày 13-10-1930, Đức Giám mục José Alves Correia da Silva của Leiria-Fatima đã tuyên bố những lần Đức Mẹ hiện ra ở Fatima là sự kiện đáng tin và cho phép cử hành lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ với danh hiệu Đức Mẹ Mân Côi Fatima.

Jacinta và Francisco đã qua đời trong đại dịch Cúm Tây Ban Nha năm 1919. Còn Lucia tiếp tục sống để thực hiện nhiệm vụ Đức Mẹ giao cho mình. Năm 14 tuổi, Lucia vào nội trú trường Các Nữ tu Thánh Dorothée ở Vilar, gần Oporto ở phía bắc Bồ Đào Nha. Vào ngày 24-10-1925, Lucia vào tập tu ở Dòng Thánh Dorothée ở Tuy, vùng Galicie (Tây Ban Nha), cách biên giới Bồ Đào Nha không xa. Tại đây, nữ tu Lucia tiếp tục được Đức Mẹ hiện ra giải thích các thông điệp của Fatima. Lucia khấn lần đầu vào ngày 3-10-1928, và khấn trọn đời vào ngày 3-10-1934 với tên dòng là Nữ tu Maria của Mẹ Sầu Bi.

Vì mong có đời sống chiêm niệm sâu xa hơn, năm 1946, với sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, Lucia gia nhập dòng kín Thánh Têrêsa ở Coimbra, và khấn dòng vào ngày 31-5-1949 với tên dòng là Maria Lucia của Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ.

Năm 1967, nữ tu Lucia đến Fatima để tham dự buổi lễ cử hành kỷ niệm 50 năm Đức Mẹ hiện ra, do ĐTC Phaolô VI chủ tọa. Chị Lucia cũng trở lại Fatima vào ngày 13-5-1982, khi ĐTC Gioan Phaolô II đến đây để cảm ơn Mẹ Maria đã cứu sống ngài trong cuộc ám sát ngày 13-5-1981. Chị Lucia còn trở lại đây đây hai lần nữa: khi ĐTC đến Fatima vào năm 1991; rồi năm 2000, khi ĐTC phong chân phước cho Jacinta và Francisco.

Nữ tu Lucia đã viết hai cuốn sách: sách “Hồi Ký” – kể lại các lần hiện ra của Đức Mẹ Fatima, và sách “Lời Kêu Gọi Từ Thông Điệp Fatima”- trả lời cho nhiều câu hỏi về cách sống thông điệp Fatima.

Trong cuộc hiện ra lần thứ hai ngày 13-6-2017, khi Lucia hỏi “Mẹ có đưa chúng con lên trời không?”,  Đức Maria đã trả lời: “Mẹ sẽ sớm đưa Jacinta và Francisco về trời. Nhưng con sẽ còn ở lại trái đất này lâu hơn, vì Chúa Giêsu muốn con làm cho người ta hiểu biết và yêu mến Mẹ nhiều hơn nữa. Chúa cũng muốn con cổ động lòng tôn sùng Trái tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ”.

Như vậy, Lucia là một thị chứng nhân khá lâu dài của Đức Mẹ Fatima. Hồng y Jose Saraiva  Martins – từng là Tổng trưởng của Bộ Phong Thánh và quen biết Lucia trong những năm cuối đời của chị – đã nhận xét Lucia là một nữ tu rất thông minh và giản dị, rất cụ thể và hài hước, rất dễ chịu và đôn hậu: “Nếu Lucia không phải là một người cụ thể, thông minh, thì chắc tất cả các tài liệu quan trọng về Fatima đã không được viết ra. Nhờ những tài liệu đó mà chúng ta biết được toàn bộ câu chuyện về Đức Mẹ Fatima”.

Sứ mạng thị chứng nhân tại thế của vị nữ tu này đã kết thúc vào ngày 13-2-2005: Lucia qua đời sau nhiều tuần bị suy nhược vì tuổi già sức yếu (thọ 98 tuổi). Một ngày sau khi Lucia về với Chúa, trong lá thư đề ngày 14-2-2005 gửi ĐGM Albino Mamede Oleto (giáo phận Coimbra), ĐTC Gioan Phaolô II [1] viết:

“Nữ tu Lucia để lại cho chúng ta một tấm gương tuyệt vời về lòng trung thành với Chúa và tuân theo ý Chúa với tràn trề niềm vui. Tôi rất xúc động khi nhớ đến những lần gặp gỡ và mối liên hệ thân hữu thiêng liêng ngày càng được được tăng cường thêm với vị nữ tu này. Tôi luôn được những lời cầu nguyện của chị hỗ trợ, đặc biệt là trong những giai đoạn chịu thử thách và đau khổ khắc nghiệt. Nguyện xin Chúa ân thưởng dồi dào cho chị vì đã phục vụ Giáo Hội cách âm thầm mà rất tuyệt vời…” [2]

Thánh lễ an táng nữ tu Lucia được cử hành tại nhà thờ chính tòa Coimbra và linh cữu của chị được chôn cất tại tu viện, sau đó được chuyển đến Vương cung Thánh đường Fatima, bên cạnh mộ phần của Francisco và Jacinta.

 Thánh Francisco Marto

Trong bài giảng lễ phong chân phước cho Francisco và Jacinta[3] vào ngày 13-5-2000, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ví Francisco như Môsê, thấy ngọn lửa bốc cháy mà không bị thiêu rụi. 

Chúa đã cho Francisco thấy nỗi “buồn sầu” lớn lao của Chúa! Nên chân phúc đã chỉ có một nguyện ước là “an ủi Chúa Giêsu và làm cho Người vui” bằng cách luôn cố gắng sống tốt, không ngừng dâng lên các hy sinh và lời cầu nguyện.

Francisco sinh ngày 11-6-1908, là người con thứ sáu trong số 7 đứa con của ông bà Manuel và Olimpia Marto.

Khá đẹp trai với mái tóc sáng, Francisco thích các trò chơi, thích gặp gỡ bạn bè, nhưng không thích cạnh tranh. Cậu không hề phàn nàn khi bị đối xử bất công, sẵn sàng từ bỏ một sở hữu quý giá (nhường một chiếc khăn tay đóng dấu hình Đức Mẹ cho một cậu bé, không muốn tranh đấu để giữ lấy nó). Cậu thích hòa hoãn, nhưng lại rất can đảm, ví dụ như khi phải đối đầu với cuộc thẩm vấn của ông thị trưởng. Cậu đã từng là một đứa trẻ nghịch ngợm, có lần đã bỏ những vật lạ không ăn được vào miệng anh trai đang ngủ! Cậu yêu thiên nhiên và động vật, chơi với thằn lằn và rắn, rồi mang về nhà, khiến mẹ cậu phải khó chịu. Có lần, tài sản chỉ có một xu thôi, cậu đã dùng tất cả tài sản nhỏ nhoi đó mà chuộc lấy một con chim trong tay bạn mình, rồi thả cho chú chim được bay tự do. Cậu hay thổi sáo cho Lucia và Jacinta múa hát. Tóm lại, cậu là người tử tế, hiền lành, chưa phải là thánh, nhưng sẵn sàng đón nhận những ân sủng sớm được ban cho cậu.

Khác với Lucia và Jacinta, Francisco chưa bao giờ nghe được những lời của Mẹ Fatima, mặc dù cậu đã nhìn thấy Mẹ hiện ra và cảm nhận sự hiện diện của Mẹ.

Sau khi Đức Mẹ hiện ra lần đầu, Lucia đã truyền tải thông điệp của Mẹ, rằng cậu sẽ được lên thiên đàng nếu siêng năng lần hạt Mân Côi.

Khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ hai, Lucia xin Mẹ cho mình được lên thiên đàng, Đức Mẹ đã trả lời rằng Francisco và Jacinta sẽ được sớm đưa về trời, nhưng Lucia sẽ phải đợi một thời gian (Lucia qua đời ngày 13-2-2005 ở tuổi 97).

Khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ ba, các em được cho biết một bí mật – trông thấy hỏa ngục – khiến các em thay đổi, trở nên như những người lớn hơn là trẻ em.

Vào thời điểm ấy, ông Artur de Oliveira Santos – là thị trưởng thành phố cũng là một thành viên Tam Điểm – đã đưa ra kế hoạch khủng bố các em. Ông bắt các em phải tự nhận mình nói dối, đe dọa bỏ các em vào chảo dầu sôi. Ông nhốt các em lại khiến ba trẻ không đến được điểm hẹn khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ tư (ngày 13-8-1917). Khi ấy Francisco đã tỏ ra hết sức dũng cảm, sẵn sàng chịu chết để được về trời.

Sau đó, các em vẫn tiếp tục đến điểm hẹn với Đức Mẹ trong hai ngày 13 của hai tháng kế tiếp.

Khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ năm, bất chấp những lời đe dọa của ông Thị trưởng được đăng trên báo chí, hàng chục ngàn người đã kéo đến xem. Trong số những người tò mò ấy, có giáo sư tiến sĩ Manuel Formigao, người sau đó sẽ thẩm vấn ba trẻ em và đã tin vào tính xác thực của các em.

Khi công chúng biết Đức Mẹ hứa thực hiện một phép lạ trong lần hiện ra kế tiếp, nhiều người quyết định ở đó, và vào ngày 13-10-1917, khoảng 70 ngàn người đã có mặt để chứng kiến phép lạ “mặt trời quay”.

Sau các lần Đức Mẹ hiện ra, cậu bé Francisco đã đến tuổi đi học. Tuy nhiên, cậu cũng dành rất nhiều thời gian cầu nguyện với Chúa Giêsu ẩn mình trong Nhà Tạm. Mối quan tâm lớn của cậu là an ủi cho Chúa được bớt ưu phiền và an ủi Trái Tim Đức Mẹ. Khi được hỏi cậu muốn gì khi lớn lên, Francisco trả lời: “Tôi không không muốn gì cả. Tôi muốn chết và lên trời.”

Tháng 8-1918, khi Thế chiến I sắp kết thúc, cả Francisco và Jacinta đều mắc dịch bệnh cúm Tây Ban Nha. Bệnh trở nặng chỉ trong thời gian ngắn. Vào tháng Tư năm sau, Francisco – biết mình không còn sống được bao lâu – đã xin được rước lễ lần đầu. Sáng hôm sau, lúc 10g ngày 4-4-1919, cậu đã từ trần với ánh sáng rực rỡ trên khuôn mặt. Francisco được mai táng vào ngày hôm sau trong nghĩa trang nhỏ ở Fatima, phía bên kia nhà thờ giáo xứ, và sau đó được đưa đến chôn trong Thánh đường ở Cova da Iria.

Thánh Jacinta Marto

Bé Jacinta cảm nhận sâu sắc nỗi buồn đau của Đức Mẹ, nên đã anh dũng hiến thân làm của lễ hy sinh đền tội thay cho các tội nhân.

Một ngày kia, em và Francisco ngã bệnh liệt giường… Đến lúc Francisco hấp hối, Jacinta nói với anh trai: “Cho em gửi lời kính chào Chúa và Đức Mẹ, và thưa với các Đấng rằng em chịu mọi sự các Đấng muốn để các người tội lỗi ăn năn trở lại”.

Jacinta đã từng xúc động sâu xa vì thị kiến hỏa ngục trong cuộc hiện ra ngày 13-7-1917 đến nỗi, để cứu các người có tội, không một việc hãm mình hay đền tội nào bị em coi là quá lớn… (Trích bài giảng lễ của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong dịp phong chân phước cho Francisco và Jacinta [4] vào ngày 13-5-2000)

Jacinta là em út của Francisco, sinh vào ngày 11-3-1910. Cô luôn chiếm được cảm tình của những ai quen biết cô. Xinh đẹp và tràn đầy sức sống, cô bé rất có duyên, thích khiêu vũ, và yêu các loài hoa. Và cô yêu Chúa cách đặc biệt. Lúc 5 tuổi, rớt nước mắt khi nghe kể về cuộc Thương khó của Chúa, cô thề sẽ không bao giờ phạm tội khiến Chúa phải đau buồn.

Jacinta có nhiều bạn, nhưng cô yêu người chị họ Lucia nhiều nhất. Khi Lucia lên mười tuổi, phải đi chăn chiên, không đến chơi với cô được nữa, Jacinta đã năn nỉ mẹ cho cô và Francisco dắt vài con chiên đi ra đồng mà chăm sóc chiên với Lucia. Chiên cũng đã trở thành bạn bè của cô. Cô đặt tên cho chúng, ôm những chiên con trên đùi, và cố vác một con trên vai, giống như những hình ảnh về mục tử nhân lành mà cô đã trông thấy.

Những ngày sống của Jacinta luôn vui tươi và hân hoan, vì cô luôn cùng với Lucia và Francisco thích thú thưởng thức mọi sự chung quanh mình. Các em gọi mặt trời là “ngọn đèn của Đức Mẹ” và gọi những ngôi sao là “lồng đèn của các thiên thần”, rồi ra sức đếm những vì sao khi trời về tối. Các em thường hay la lớn những tên gọi để nghe được giọng nói của mình vang vọng qua thung lũng, và cái tên vang vọng rõ nhất chính là “Maria”.

Các em đọc Kinh Mân Côi hằng ngày sau khi ăn trưa, nhưng để có thời gian vui chơi nhiều hơn, các em đã rút ngắn Kinh Mân Côi lại: Kinh Lạy Cha chỉ còn vài chữ “Lạy Cha chúng con” đọc vào đầu mỗi chục kinh, tiếp theo là vài chữ “Kính mừng Maria” được đọc mười lần! Việc ‘tầm phào’ này sẽ sớm được thay đổi.

Vào mùa Xuân năm 1916, khi bọn trẻ đang chăn chiên, một thiên thần đã hiện ra với chúng trong một khu rừng ô liu. Thiên thần yêu cầu các em cùng cầu nguyện với ngài. Thiên thần hiện ra một lần nữa vào mùa Hè tại một cái giếng trong vườn nhà Lucia, thúc giục các em hy sinh để đền tội thay cho các kẻ tội lỗi. Trong lần hiện ra cuối cùng vào cuối mùa Hè, thiên thần cầm Bánh thánh bên trên một chén thánh, rồi trao Mình Chúa cho các em. Trải nghiệm này đã tách các em ra khỏi các bè bạn khác và chuẩn bị cho các em biết đón nhận những cuộc hiện ra sắp tới của Đức Mẹ.

Các chuyến viếng thăm sau đó của vị Nữ vương thiên đàng đã làm cho ba trẻ hoàn toàn thay đổi. Jacinta, đôi khi bép xép, đã trở nên điềm đạm và ý tứ hơn. Sau khi Đức Mẹ hiện ra lần đầu, Lucia và Francisco đã thề giữ bí mật và đã thực sự giữ kín, không cho ai biết. Nhưng Jacinta, quá phấn khích, buột miệng kể hết những gì mình nhìn thấy cho người nhà, và sau đó người nhà kể lại cho cả làng. Nhiều người tiếp nhận tin tức này với sự hoài nghi, nhạo báng. Riêng mẹ của Lucia thì rất tức giận. Vì thế, Jacinta hết sức ân hận, cô hứa sẽ không bao giờ tiết lộ thêm bất kỳ bí mật nào khác nữa.

Việc nhìn thấy hỏa ngục trong lần thứ ba Đức Mẹ hiện ra, dường như đã ảnh hưởng nhiều nhất trên Jacinta. Để giải cứu những người tội lỗi khỏi lửa hỏa ngục, cô bé là người đã tự nguyện hãm mình hy sinh nhiều nhất trong ba trẻ: khi thì nhịn ăn trưa, nhịn uống nước trong những ngày nóng nực, lúc thì đeo một sợi dây thừng có nhiều nút thắt rất khó chịu chung quanh bụng. Những hy sinh đau đớn khác mà Jacinta – cùng với Lucia và Francisco – phải gồng mình đón nhận, chính là những nhạo báng của những kẻ không tin, những quấy rầy của những giáo sĩ hoài nghi, và những khiêu khích của những tín đồ muốn ba trẻ phải tiết lộ bí mật.

Sau phép lạ mặt trời quay, Jacinta đã nhận được nhiều ơn đặc biệt. Có một lần cô bé dường như ở hai nơi cùng một lúc để giúp cho một chàng trai trẻ tìm thấy đường về nhà. Lạc trong một khu rừng rậm, anh đã quì gối cầu xin, và Jacinta đã xuất hiện để cầm tay chàng trai dắt đi, trong khi cô bé cũng vẫn đang ở nhà cầu nguyện cho chàng trai này.

Khi mắc dịch bệnh Cúm Tây Ban Nha, Jacinta đã phải rời gia đình đến một bệnh viện cách đó vài dặm. Cô không phàn nàn, vì Đức Mẹ đã báo trước với Jacinta rằng cô sẽ đi đến hai bệnh viện, không phải để được chữa trị, mà để chịu đau khổ vì yêu Chúa và đền tội thay cho những kẻ tội lỗi. Cô ở lại bệnh viện thứ nhất trong hai tháng, chịu những cuộc điều trị đau đớn, sau đó, trở về nhà. Rồi bị lao phổi, cô được gửi tới Lisbon, trước tiên vào một cô nhi viện Công giáo. Ở đó, cô cảm thấy thật hạnh phúc vì có thể tham dự Thánh lễ và viếng Chúa. Nhưng chỉ ở đấy một thời gian rất ngắn, cô bé đã nhanh chóng được chuyển đến một bệnh viện thứ hai như Đức Mẹ đã báo trước, nơi đó Jacinta đã đón nhận một hy sinh cuối cùng là chết cô đơn một mình vào ngày 20-2-1920. Thân xác cô được nghỉ yên trong Thánh đường ở Cova da Iria, nơi Đức Mẹ đã từng hiện ra với cô.

Bí mật Fatima

Trong 6 lần hiện ra của Đức Mẹ tại Fatima, từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1917, Đức Trinh Nữ Maria đã giao phó ba bí mật cho ba trẻ chăn chiên.

Bí mật đầu tiên là nhìn thấy hỏa ngục, khiến các em vô cùng sợ hãi để rồi sau đó đã không ngừng gia tăng lời cầu nguyện, mong xin được ơn sám hối cho kẻ có tội. Lucia đã kể lại cảnh rùng rợn này của hỏa ngục: “Có những quỷ dữ và những linh hồn chìm trong biển lửa mênh mông… giữa những tiếng kêu đau đớn và rên rỉ tuyệt vọng. Cảnh đó khiến chúng tôi hết sức kinh hoàng và run rẩy sợ hãi.”

Bí mật thứ hai mang tính tiên tri. Đức Mẹ nói với ba trẻ rằng nếu con người không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, thì sẽ có Thế chiến II. Mẹ cũng báo trước những lầm lạc ở nước Nga sẽ lan rộng, dẫn đến việc bách hại Giáo hội và Đức Giáo hoàng. Để tránh bớt những tệ nạn này, Đức Mẹ đã kêu gọi siêng năng lần hạt Mân Côi, sám hối và thực hiện trên toàn thế giới việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.

Bí mật thứ ba liên quan đến Giáo hội và Giáo hoàng. Ba trẻ trông thấy một giám mục mặc áo trắng, được xác định là Đức Giáo hoàng, bị bắn giết cùng với nhiều tu sĩ, linh mục và giáo dân thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Bí mật này được diễn giải như là những cuộc bách hại mà Giáo Hội đã phải trải qua trong thế kỷ 20. Chính Đức Gioan Phaolô II đã được nhận ra trong thị kiến của bí mật này – khi ngài bị bắn ngã gục vào ngày 13-5-1981, bị thương nặng và nhờ Đức Mẹ ra tay cứu chữa mới thoát chết trong gang tấc.

Mặc dù có tới ba bí mật Fatima, nhưng chỉ có ‘một sợi chỉ đỏ’ xuyên suốt tất cả, đó là lời mời gọi sám hối tội lỗi, thay đổi cách sống mỗi ngày một tốt hơn, vì chính những hành vi xấu xa của con người là nguyên nhân gây nên tất cả những điều tồi tệ được nhắc đến trong ba bí mật của Fatima.

Vi Hữu chuyển ngữ và tổng hợp từ PIERCED HEARTS, EWTN (Eternal Word Television Network ) và CNA (Catholic News Agency) / Nguồn: Sách Nhịp Sống Tin Mừng 10.2017

 


[1] ĐTC Gioan Phaolô II cũng qua đời sau chị Lucia khoảng 2 tháng (ngày 2-4-2005), thọ 85 tuổi.

Chia sẽ bài viết này trên:

CÁC TRẺ CHĂN CỪU LÀNG FATIMA VÀ ĐẠI DỊCH VI-RÚT CORONA

CÁC TRẺ CHĂN CỪU LÀNG FATIMA VÀ ĐẠI DỊCH VI-RÚT CORONA

Hai vị thánh nhỏ tuổi, Jacinta và Francisco Marto, đã chết trong một trận dịch bệnh. 

Jacinta Marto đã qua đời một cách đơn độc. Gia đình của cô cũng như những người yêu mến cô đã không thể ở bên cạnh cô bởi vì cơn dịch đã gây ra việc cách ly khắp mọi nơi. Điều duy nhất mà cô mong ước trước khi chết đó là được lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, thế nhưng thậm chí điều này cũng không thể được.

Nếu bạn nghe có vẻ giống như hiện nay, thì chính là như vậy.

Đúng 100 năm sau cái chết của Jacinta vào tháng 2 năm 1920 trong trận đại dịch cúm Tây Ban Nha, thì vào tháng 2 năm 2020 đại dịch vi-rút corona đã bắt đầu gây ra một chấn động lớn tại các nước Phương Tây và nhanh chóng bùng phát mạnh đến nỗi không thể coi thường được nữa.

Hai thánh Jacinta và Francisco Marto, đấng bảo trợ cho các bệnh nhân, đã giúp thế giới sẵn sàng đương đầu với cả hai cơn đại dịch.

Từ năm 1916-1917, ba trẻ chăn cừu làng Fatima ở Bồ Đào Nha bắt đầu đón tiếp các vị khách đến từ thiên đàng, đầu tiên là một thiên thần và sau đó là Đức Mẹ Fatima. Những thị kiến được kết thúc bởi sự kiện “Phép lạ Mặt Trời”, lúc đó Francisco được 9 tuổi và Jacinta được 7 tuổi; sự kiện đặc biệt này được chứng kiến bởi hàng ngàn người và được làm chứng bởi cả các tín hữu lẫn những người ngoại đạo.

Đức Mẹ đã yêu cầu ba trẻ nói với thế giới rằng: “Người ta phải ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, vì Ngài đã bị xúc phạm quá nhiều rồi !” và Đức Mẹ tiên báo rằng một cuộc chiến khủng khiếp sẽ xảy ra nếu như con người không chịu sám hối. Khi Đệ nhất thế chiến vẫn còn đang khốc liệt thì cơn đại dịch cúm Tây Ban Nha bùng phát và đã cướp đi sinh mạng của Francisco và Jacinta Marto, tiếp theo đó là Đệ nhị thế chiến bùng nổ.

Sau năm Lòng Thương Xót và trước khi cơn đại dịch Covid-19 cách ly toàn thế giới khỏi những cử hành phụng vụ đúng vào dịp tưởng niệm 100 năm ngày mất của Jacinta và Francisco, thì vào năm 2017 Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên thánh cho hai trẻ này nhân kỉ niệm 100 năm Sứ điệp Fatima, và ngài đã đưa đời sống của hai trẻ này trở thành “mẫu gương cho đời sống người Kitô hữu” trong thời đại ngày nay.

Theo đó, vào năm 2017 Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói rằng: “Qua việc tuyên thánh cho Francisco và Jacinta, tôi mong ước giới thiệu với toàn thể Giáo Hội mẫu gương của hai vị thánh này. Sau khi gặp gỡ Đức Mẹ, hay còn được các trẻ gọi là “Bà Đẹp”, thì các em đã liên lỉ lần chuỗi Mân Côi, đền tội và hy sinh hãm mình để cầu nguyện cho chiến tranh sớm chấm dứt, cũng như cầu nguyện cho các linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót.”

Khi chúng ta mong ước được lãnh nhận Bí tích Thánh Thế, chúng ta có thế nhìn vào mẫu gương của Francisco và Jacinta.

Năm 2017, tôi đã viết cuốn Fatima Family Handbook (tạm dịch: Những chỉ dẫn thiêng liêng của các trẻ làng Fatima), và may mắn thay, cuốn sách này đang được tái bản ngay lúc này. Sách này trình bày ra những phương cách thực hành theo hai trẻ Francisco và Jacinta nhằm an ủi Chúa Giêsu, hoán cải tội nhân và yêu mến Chúa Giêsu nhờ vào Đức Maria. Một trong những cách thức trên là viếng Thánh Thể.

Trong suốt một năm rưỡi sau các thị kiến, cuộc sống của Francisco được nổi bật bởi lòng yêu mến Thánh Thể. Cậu thích ẩn mình trong nhà thờ và cầu nguyện thân mật với “Chúa Giêsu đang ẩn mình” nơi Nhà Tạm.

Cậu qua đời vào ngày 4 tháng 4 năm 1919 khi chỉ mới 10 tuổi.

Còn Jacinta thì đã phải chịu đau ốm giống như những gì mà Đức Mẹ đã nói. Cô đã phải chịu rất nhiều đau khổ bệnh tật và phải rời xa gia đình để nhập viện tại trại trẻ mồ côi Lisbon. Niềm an ủi lớn lao duy nhất của cô là được nhìn thấy nhà nguyện từ ghế ngồi hành lang bên ngoài phòng, và chăm chú chiêm ngắm mỗi khi cô có thể.

Đây cũng là điều mà chúng ta đang làm, bị cách ly khỏi bí tích hiệp thông vì dịch bệnh, và chỉ có thể thăm viếng và chiêm ngắm Thánh Thể qua “cửa sổ” của màn hình tivi, máy vi tính, điện thoại.

Chúng ta cũng có thể noi theo gương của hai vị thánh này trong việc sẵn sàng chịu đựng đau khổ để hoán cải tội nhân.

Khi tuyên thánh cho hai trẻ này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói: “Đức Mẹ đã tiên báo và cảnh cáo chúng ta về một lối sống loại trừ Thiên Chúa và thậm chí xúc phạm Thiên Chúa nơi các thụ tạo của Ngài. Một đời sống như vậy luôn được cảnh báo là có nguy cơ dẫn đến hư mất đời đời.”

Francisco và Jacinta là những mẫu gương trong việc đền tội để các tội nhân có thể được cứu khỏi điều còn tồi tệ hơn cả cái chết.

Trong một đêm nọ, khi cha của Francisco đã hỏi cậu tại sao cậu khóc, thì cậu trả lời rằng: “Con đang nghĩ đến Chúa Giêsu, Ngài đang rất buồn bởi vì những tội lỗi đã gây ra tổn thương đến Ngài”

Những tội lỗi mà các trẻ đã lo lắng dường như phù hợp trong thời đại của chúng ta hơn cả thời của các trẻ này nữa.

Sau khi Đức Mẹ chỉ cho ba trẻ nhìn thấy hỏa ngục, Jacinta đã cảnh báo mẹ cô rằng: “Mẹ ơi, hãy tránh xa sự giàu có và xa hoa.”

Cô cũng nói rằng: “Để được thanh sạch nơi thể xác thì nghĩa là không được gian dâm, và để được thanh sạch trong tư tưởng thì nghĩa là không được phạm tội; đừng nhìn điều mà ta không nên nhìn, đừng trộm cắp hay nói dối, và phải luôn nói sự thật, cho dù điều đó rất khó.”

Bàn luận về những nỗi lo lắng của Jacinta đối với tội lỗi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói: “Ngày nay cũng vậy, rất cần thiết để cầu nguyện và ăn năn sám hối hầu khám phá ra hồng ân của việc hoán cải”

Trong lời nguyện của phép lành Urbi et Orbi dành cho đại dịch, Đức Thánh Cha Phanxicô đã liệt kê những cách mà chúng ta đã tự lừa dối chính mình bằng những hứa hẹn giả trá. Đức Thánh Cha đã cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, trong mùa Chay này, lời mời gọi của Chúa đang vang lên một cách khẩn thiết: ‘Hãy hoán cải!’, ‘Hãy trở về với Ta với tất cả tâm hồn của con’. Chúa đang mời gọi chúng con tận dụng thời gian thử thách này như một thời gian của chọn lựa”, và Đức Thánh Cha nói với tất cả chúng ta rằng: “Đức tin bắt đầu khi chúng ta nhận ra chúng ta cần đến ơn cứu độ.”

Nếu đúng như vậy thì bệnh tật và đau khổ là lời mời gọi sám hối và trở về với Chúa, lúc này Chúa đang kêu gọi chúng ta hoán cải như chưa bao giờ hoán cải. Hai thánh Francisco và Jacinta đang hướng dẫn chúng ta theo cách này.

Tom Hoopes, 13/04/2020
Anthony Lai chuyển ngữ từ aleteia

Chia sẽ bài viết này trên:

Bí Mật Fatima Toàn Bộ – chân thật

Bí Mật Fatima Toàn Bộ – chân thật

Vì tính cách hết sức quan trọng của Bí Mật Fatima phần thứ ba, trước khi chính thức tiết lộ vào ngày 26/6 trong Đại Năm Thánh 2000, tức sau biến cố hai Thiếu Nhi Fatima Phanxicô và Giaxinta được phong chân phước ở Linh Địa Fatima ngày 13/5 cùng năm, Tòa Thánh đã phải phổ biến một tập tài liệu dầy 40 trang, được đăng trên tờ tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, ngày 28/6/2000.

Tài liệu này do chính Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin của Tòa Thánh thực hiện, bằng 7 thứ tiếng khác nhau là Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Đức, Bồ Đào Nha và Balan, với một nội dung bao gồm 7 phần chính yếu theo thứ tự sau đây:

  1. Lời giới thiệu tổng quát của Đức Tổng Giám Mục Bertone, Thư Ký của Thánh Bộ;
  1. Bí Mật Fatima phần thứ nhất và phần thứ hai;
  1. Bí Mật Fatima phần thứ ba (cả phóng ảnh của nguyên bản do chính tay chị Lucia viết);
  1. Bức thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi chị Lucia đề ngày 19/4/2000;
  1. Tường trình về cuộc trao đổi gặp gỡ giữa hai vị đại diện của ĐTC và chị Lucia ngày 27/4/2000;
  1. Lời Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Angelo Sodano về bí mật cuối lễ phong Á Thánh 13/5/2000;
  1. Bản dẫn giải thần học của Đức Hồng Y Tổng Trưởng Ratzinger về Bí Mật Fatima phần thứ ba.

Chúng ta có thể xem lại toàn bộ tài liệu quan trọng này ở mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh sau đây:

http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_20000626_message-fatima_en.html

Trong Lời Giới Thiệu Văn Kiện của Đức Tổng Giám Mục Bertone, chúng ta biết rằng Bí Mật Fatima phần thứ ba được chị Lucia viết ra ngày 3/1/1944, và bản chép tay duy nhất phần bí mật ấy đã được Đức Giám Mục địa phương Leiria niêm ấn trong một bao thư, và sau cùng đã được Tòa Thánh cất giữ trong Lưu Mật Viện ngày 4/4/1957. Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã đọc phần bí mật này ngày 17/8/1959, và Đức Thánh Cha Phaolô VI cũng đã đọc phần bí mật ấy ngày 27/3/1965, song cả hai đều quyết định không công bố gì.

Để trả lời câu hỏi thứ 3 trong 3 câu hỏi của vị đại diện Đức Thánh Cha là Đức Tổng Giám Mục Tổng Thư Ký Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin Tarcisio Bertone (cùng với Đức Giám Mục Serafim de Sousa Ferreira e Silva cai quản giáo phận địa phương Leiria-Fatima) đến gặp chị ngày Thứ Năm 27/4/2000 tại đan viện Camêlô của chị ở Coimbra, về vấn đề “tại sao chỉ (được tiết lộ phần bí mật này) sau năm 1960? Phải chăng Đức Mẹ đã ấn định thời điểm như vậy?”, (vì chị viết ở ngoài bao thư đựng phần bí mật còn lại này như thế khi chị gửi nó đến vị giám mục địa phương bấy giờ), chị Lucia đã thành thực thú nhận:

  • Không phải là Đức Mẹ. Chính con là người đã ấn định thời điểm này, vì con linh cảm thấy rằng phần bí mật ấy không thể nào hiểu được vào trước năm 1960 mà chỉ sau khi đó thôiĐến nay thì người ta đã hiểu rõ hơn rồi. Con chỉ viết lại những gì con đã thấy; còn việc giải thích những điều này thì không phải nhiệm vụ của con mà là của Đức Thánh Cha”.

Cũng trong cuộc trao đổi với hai vị đại diện của Đức Thánh Cha ngày 27/4/2000 này, chị Lucia chẳng những đã chính thức xác nhận câu hỏi thứ  nhất về bản văn Bí Mật Fatima phần thứ ba được Vị Đại Diện của Đức Thánh Cha mang đến cho chị coi thực sự là từ chị: « Đây là bức thư của con », « Đây là những gì con viết », mà còn xác nhận vấn đề thứ hai được đặt ra với chị là: “Phải chăng Bộ mặt chính trong thị kiến là Đức Giáo Hoàng?”. Chị  chẳng những đã đồng ý mà còn cho biết thêm rằng:

  • «Chúng con không biết tên của vị Giáo Hoàng này; Đức Mẹ không nói với chúng con tên của vị Giáo Hoàng ấy; chúng con không biết có phải là Đức Biển Đức XV hay Piô XII hoặc Phaolô VI hay Gioan Phaolô II; nhưng đó là vị Giáo Hoàng bị khổ đau và cũng làm cho chúng con đau khổ nữa».

Thật thế, vị giáo hoàng này, như trong lời Giới Thiệu Văn Kiện của Đức Tổng Giám Mục Bertone cho biết, sau khi bị ám sát trọng thương tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981 mới đọc phần Bí Mật Fatima thứ ba, (chứ không phải là Ngài đã đọc trước đó).

Thế rồi, Ngài đã cố gắng “đáp ứng trọn vẹn những gì ‘Đức Mẹ’ yêu cầu” vào những ngày 7/6/1981 tại Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma, và đã lập lại ngày 13/5/1982 ở Fatima, nhất là ngày 25/3/1984 tại Quảng Trường Thánh Phêrô, bằng việc “hiệp thông trong tinh thần với các giám mục trên thế giới được Ngài ‘kêu gọi’ trước đó để dâng hiến hết mọi con người nam nữ và tất cả mọi dân tộc cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria”.

Trong Lời Giới Thiệu Văn Kiện, Đức Tổng Giám Mục Bertone cũng lập lại nguyên văn những phần quan trọng của Bản Kinh Dâng Hiến do Đức Thánh Cha dọn đọc từ năm 1981, trong đó có câu:

  • Chúng con xin dâng Mẹ đặc biệt những người và những dân nước cần được hiến dâng và phó thác”.

Qua bức thư ngày 8/11/1989, chị Lucia đã khẳng định:

  • Vâng, việc hiến dâng ngày 25/3/1984 đã đươc thực hiện đúng như những gì Đức Mẹ xin”.

Ở phần cuối của Lời Giới Thiệu Văn Kiện chúng ta thấy được lý do tại sao Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quyết định cho tiết lộ Bí Mật Fatima phần thứ ba, đó là vì Ngài mong muốn con người nhận biết tình yêu thương của Thiên Chúa qua dấu chỉ thời đại hiện lên nơi lịch sử của họ.

  • Quyết định của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong việc cho công bố phần thứ ba của ‘bí mật’ Fatima chấm dứt một giai đoạn lịch sử mang dấu vết con người bi thảm tham lam tìm kiếm quyền lực và sự dữ, song lại là một giai đoạn lịch sử được thấm đẫm tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa cùng với việc chuyên tâm chăm sóc của Mẹ Chúa Giêsu cũng là Mẹ của Giáo Hội”.

Đức Tổng Giám Mục Bertone đã xác nhận ý hướng của Đức Thánh Cha với hai đoạn kết thúc Lời Giới Thiệu Văn Kiện như sau:

  • Tác động của Thiên Chúa là Chúa của lịch sử, cùng với việc con người cũng phải có trách nhiệm đối với màn bi kịch của cuộc sống tự do theo ý riêng của nó, là hai cột trụ xây dựng lên lịch sử nhân loại.

“Khi hiện ra ở Fatima, Đức Mẹ đã nhắc lại các giá trị bị lãng quên đó. Mẹ nhắc lại cho chúng ta nhớ lại rằng tương lai của con người là ở nơi Thiên Chúa, và chúng ta là thành phần phải tích cực lãnh nhận trách nhiệm trong việc kiến tạo tương lai ấy”.

Sau đây là nguyên văn toàn bộ Bi Mật Fatima 3 phần do chị Lucia viết ra, đã được bao gồm trong văn kiện 42 trang của Tòa Thánh, kèm theo cả phóng ảnh viết tay của Bí Mật Fatima này nữa.

“Bí mật này được làm nên bởi ba phần khác nhau mà giờ đây con sắp viết ra hai trong ba phần đó:

“Phần thứ nhất là thị kiến về hỏa ngục.

“Đức Mẹ đã tỏ cho chúng con thấy một biển lửa lớn, dường như ở dưới lòng đất. Ma quỉ và các linh hồn dưới hình người bị chìm ngập trong lửa này, giống như những cục than hồng thông suốt, hoàn toàn như thỏi đồng đen đủi hay bóng láng, bập bềnh trong một đám cháy rực lửa, lúc thì bị tung lên không trung bởi những ngọn lửa xuất phát từ chính mình họ cùng với những đám khói cả thể, lúc thì bị rớt một cách nhẹ bỗng xuống khắp nơi như những tia lửa của một đám cháy khổng lồ, với những tiếng la thất thanh và rên xiết đớn đau tuyệt vọng, khiến chúng con kinh khiếp và rùng mình sợ hãi. Có thể nhận ra đám ma quỉ bằng những hình thù rùng rợn và ghê tởm giống các con thú kinh khiếp chưa từng thấy. đen ngòm và thông suốt. Thị kiến này kéo dài trong giây lát. Chúng con làm sao có thể tỏ lòng biết ơn cho đủ đối với Người Mẹ thiên đình nhân ái của chúng con, Đấng mà trong lần hiện ra thứ nhất đã sửa soạn trước cho chúng con bằng lời hứa sẽ đem chúng con về thiên đàng. Bằng không, con nghĩ rằng chúng con sẽ chết đi vì sợ hãi và kinh hoàng.

“Bấy giờ chúng con nhìn lên Đức Mẹ, Đấng hết sức nhân từ và buồn bã nói với chúng con rằng:

“Các con vừa thấy hỏa ngục, nơi tội nhân khốn nạn rơi xuống. Để cứu họ, Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới. Nếu những điều Mẹ nói với các con được thực hiện thì nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và thế giới sẽ có hòa bình. Chiến tranh sắp chấm dứt, nhưng nếu người ta không thôi xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến khốc liệt hơn sẽ bùng nổ trong đời Đức Piô XI. Khi các con thấy ánh sáng lạ lùng chiếu giữa ban đêm, thì các con hãy biết rằng đó là điềm lạ vĩ đại Thiên Chúa muốn cho các con hay Ngài sắp sửa trừng phạt thế giới tội lỗi, bằng chiến tranh, đói khát và việc bắt bớ Giáo Hội cùng Đức Thánh Cha. Để ngăn ngừa điều này, Mẹ sẽ đến để xin dâng hiến Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ và xin rước lễ đền tạ các ngày Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu người ta nghe lời Mẹ yêu cầu, Nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình; bằng không, Nước Nga sẽ truyền bá lầm lạc khắp thế giới, gây chiến tranh và bách hại Giáo Hội. Người lành sẽ chịu tử vì đạo; Đức Thánh Cha sẽ chịu nhiều đau khổ; các nước khác nhau sẽ bị hủy diệt. Cuối cùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng hiến Nước Nga cho Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được ban cho một thời gian hòa bình.

“Sau hai phần con đã diễn tả, thì ở bên trái của Đức Mẹ và cao hơn một chút, chúng con thấy có một vị Thiên Thần cầm một lưỡi gươm cháy lửa nơi tay trái; thanh gươm chớp chớp phát ra những ngọn lửa như muốn thiêu đốt thế giới; tuy nhiên, những ngọn lửa ấy đã bị tắt mất trước ánh quang sáng ngời từ bàn tay phải của Đức Mẹ phát ra chiếu về phía vị Thiên Thần, bởi thế, lấy bàn tay phải của mình mà chỉ xuống trái đất, vị Thiên Thần đã kêu lớn tiếng rằng: ‘Hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội!’. Rồi chúng con thấy một vị Giám Mục mặc Áo Trắng, ‘mà chúng con có cảm nhận đó là Đức Thánh Cha’, trong một vùng sáng mênh mông là Thiên Chúa, ‘giống như người ta thấy mình đi ngang qua trước một tấm gương soi’. Các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ khác đang tiến lên một ngọn núi dốc đứng, trên đỉnh có một cây Thập Giá lớn, được làm bằng những thân cây nứt nẻ như loại thân cây điên điển còn vỏ; trước khi tiến lên tới đỉnh núi, Đức Thánh Cha đã băng qua một thành phố lớn, một nửa đã bị tàn rụi, còn một nửa kia thì đang run rẩy loạng quạng lê bước với đầy những đớn đau và buồn khổ, Ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thi thể Ngài gặp thấy trên quãng đường đi; tiến tới đỉnh núi rồi thì khi đang quì ở dưới chân cây Thập Giá lớn, Ngài đã bị một nhóm lính bắn các đầu đạn và mũi tên đến hạ sát, cũng lần lượt bị sát hại như thế có cả các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ cùng với thành phần giáo dân ở các tầng lớp và vai trò khác nhau. Dưới hai cánh Thập Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm trong tay mình một bình nước thánh bằng pha lê để chứa đựng máu của các vị Tử Đạo và hai vị dùng máu ấy vẩy trên những linh hồn đang tìm đường đến cùng Thiên Chúa”.

 Ở đây, căn cứ vào những gì được chính Tòa Thánh tiết lộ và Chị Lucia xác nhận, chúng ta đã thấy rõ Bí Mật Fatima phần thứ ba, một phần Bí Mật Fatima tưởng không bao giờ được tiết lộ, nhưng khi được tiết lộ lại bị một số cho mình là chuyên gia về Fatima không công nhận, thậm chí tung ra những thứ Bí Mật Fatima được họ gọi là Thứ Ba. Nguyên nhan đề “Bí Mật Fatima Thứ Ba” của họ đã cho thấy họ chẳng biết gì về Fatima, vì Bí Mật Fatima như Chị Lucia cho biết chỉ có một nhưng được chia làm 3 phần, chứ không phải là có 3 Bí Mật Fatima. Tuy nhiên, để vạch trần bộ mặt giả dối của những thứ Bí Mật Fatima Thứ Ba này, chúng ta cần phải đọc nguyên văn của chúng.

Đaminh Maria Cao Tấn  Tĩnh, BVL
Nguồn: thoidiemmaria.net

Chia sẽ bài viết này trên:

Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai – Lễ Truyền Tin

Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai
Lễ  Truyền Tin

I. LỜI CHÚA: Lc 1, 26-38

26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” 34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”

35 Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” 38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

1. Nhìn ngắm Đức Maria (v. 26-27)

2. Lắng nghe Sứ thần Gabrien và Đức Maria

a. Bước thứ nhất (c. 28-29) : Sứ thần chào – Đức Maria bối rối

b. Bước thứ hai (c. 30-34) : Sứ thần loan báo sứ mạng – Đức Maria không hiểu

c. Bước thứ ba (c. 35-37) : Sự thần giải thích

3. Lắng nghe lời « Xin Vâng » của Đức Mẹ (c. 38)

*  *  *

Ngôi Lời nhập thể để hiện diện ở giữa loài người chúng ta, nghĩa là để trở nên « Đấng Emmanuel », cần hai lời « xin vâng »

  • Lời xin vâng của Đức Maria để được sinh ra.
  • Được sinh ra vẫn chưa đủ, Người còn cần lời xin vâng của Thánh Giu-su, để thuộc về một gia đình và dân tộc có văn hóa và lịch sử riêng.

Chính Ngôi Lời đã sống lời XIN VÂNG, và chúng ta được mời gọi nhận ra sự « khiêm nhường và hiền lành » của Người (x. Mt 11, 28-30), ngay lúc Người để cho mình được cưu mang và được sinh ra như một em bé (x. Tv 8), và Người được sinh ra như thế đó, theo lời kể của thánh Luca : « một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ » (Lc 2, 12).

Người vẫn còn cần lời xin vâng của từng người chúng ta, để hiện diện ở giữa chúng ta và giữa con người hôm nay.

1. Chiêm ngắm Đức Maria (c. 26-27)

Vị trí của Đức Maria thật là lớn lao và duy nhất trong tương quan với Thiên Chúa và loài người chúng ta : Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, trong đó có chúng ta, và Đức Maria cũng là Mẹ Thiên Chúa. Tuy nhiên, tất cả những ơn huệ lớn lao của Mẹ đã bắt đầu bằng một biến cố thật hạn hẹp, thật nhỏ bé, thật khiêm tốn, thật âm thầm và kín ẩn, đó là biến cố Truyền Tin. Nhỏ bé và âm thầm, nhưng đó chính là một kinh nghiệm thiêng liêng làm thay đổi cuộc đời của Đức Maria, và của lịch sử cứu độ. Và kinh nghiệm thiêng liêng này là một cuộc đối thoại, đối thoại giữa Đức Maria và sứ thần Gabriel.

Trước hết, chúng ta cần chú ý đến nơi chốn xảy ra biến cố Truyền Tin, đó là nhà của Đức Maria : « Sứ thần vào nhà trinh nữ » (Lc 1, 28). Khi cầu nguyện với Lời Chúa, chúng ta được mời gọi hình dung ra nơi chốn, ở đó diễn ra biến cố mà bản văn Tin Mừng thuật lại : nhà, vườn, sa mạc, đồi Calvê… Việc « đặt khung cảnh » khi bước vào giờ cầu nguyện như thế có hai mục đích :

  • Khi cầu nguyện, chúng ta được mời gọi dấn thân cả con người của chúng ta, bên trong cũng như bên ngoài. Thế mà, bên trong của chúng ta, có nhiều thứ, trong đó có trí tưởng tượng. Dùng trí tưởng tượng để hình dung ra một nơi chốn khi cầu nguyện, đó là giúp chúng ta cầu nguyện với cả con người, đồng thời giúp định hướng cho trí tưởng tượng, vốn hay dẫn chúng ta đi lang lang, ra khỏi việc cầu nguyện. Hơn nữa, nơi chốn mà chúng ta hình dung ra, không phải là bất cứ nơi nào, đó là một nơi chốn của đời thường, nhưng đồng thời cũng là nơi « thánh », nghĩa là nơi được Chúa viếng thăm.
  • Vì thế, một nơi chốn cụ thể còn có một ý nghĩa thiêng liêng : Thiên Chúa đến gặp gỡ con người không phải ở trên trời cao hay ở một nơi xa vời, nhưng tại một nơi chốn cụ thể và rất đời thường, chẳng hạn nhà của Đức Maria ; và đối với chúng ta cũng vậy, đó có thể là một nơi nào đó trong cuộc đời của chúng ta : trường học, nơi hành hương, nhà tĩnh tâm, trong vườn của Nhà Dòng, trong căn phòng nhỏ bé, hay nơi nhà nguyện… Vậy đâu là nơi chốn, ở đó chúng ta được Thiên Chúa viếng thăm, đã làm thay đổi cuộc đời chúng ta, như trường hợp của Đức Mẹ ?

Trình thuật Truyền Tin có thể được gói gọn trong tiếng « Xin Vâng » của Đức Mẹ; và chúng ta thường hiểu tiếng « Xin Vâng » là câu trả lời tức khắc của Mẹ khi nghe lời đề nghị của Thiên Chúa, qua trung gian của sứ thần Gabriel. Tuy nhiên, nếu chúng ta đặt lời « Xin Vâng » của Mẹ vào trong diễn tiến của trình thuật Tin Mừng, chúng ta sẽ nhận ra rằng, tiếng « Xin Vâng » của Mẹ là điểm tới của cả một cuộc trao đổi khá dài, và nhất là đầy biến động trong tâm hồn.

Trước hết, chúng ta hãy tự hỏi Đức Maria là ai, theo lời kể của thánh sử Luca về mầu nhiệm Truyền Tin? Mẹ là một thiếu nữ Israel, ngụ tại Galilê, làng Nazarét. Mẹ là một thiếu nữ đã đính hôn, như bao thiếu nữ khác khi đến tuổi trưởng thành. Một cách chính xác, Mẹ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi Đavít. Như thế, lúc ban đầu, Mẹ là một cô gái như bao cô gái khác (và cũng tương tự như thế, đối với phái nam). Và có lẽ chúng ta cũng đã như vậy trước khi bước vào hành trình ơn gọi, ơn gọi gia đình hay dâng hiến: một cô gái với thân phận bình thường, và với ước mơ về đời mình cũng thật bình thường. Nhưng Mẹ lại không được vậy, vì, có thể nói, Chúa đến làm xáo trộn cuộc đời của Mẹ.

Ở đây chúng ta có thể nhìn lại hành trình ơn gọi của mình và tự hỏi: đâu là những dấu chỉ, những cách thức Chúa dùng để làm xáo trộn cuộc đời chúng ta, làm cho chúng ta không thể sống như những cô gái (hay một người) bình thường ? Và trong trình thuật Truyền Tin, Chúa không đến trực tiếp, nhưng qua trung gian sứ thần Gabriel; vậy đâu là những người « trung gian » của Chúa trong cuộc đời và nhất là hành trình ơn gọi của chúng ta ?

 2. Sứ thần Gabrien với Đức Maria

Cuộc đối thoại giữa Sứ Thần và Đức Maria được « đóng khung », nghĩa là khởi đầu và kết thúc, bởi chuyển động vào và ra của sứ thần: « Sứ Thần vào nhà trinh nữ » (c. 28), và sau đó, « Rồi Sứ Thần từ biệt ra đi » (c. 38). Cuộc đối thoại có thể chia làm ba bước. Chúng ta hãy lắng nghe từng bước, nhưng không quên nhìn ngắm và quan sát cung cách đối thoại của Đức Mẹ, vốn diễn tả những tâm tình nội tâm, chẳng hạn sự bối rối lúc ban đầu.

a. Bước thứ nhất (c. 28-29)

Sứ Thần ngỏ lời với Đức Maria: « Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà ». Lời chào của sứ thần dành cho Đức Maria trở thành lời chào của chúng ta, vì Kinh Kính Mừng hằng ngày của chúng ta, của cả Giáo Hội bắt đầu bằng lời chào này: « Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà ». Nhưng ở ngọn nguồn, lời chào này làm cho Đức Maria rất bối rối.

Chúng ta hãy hình dung ra Đức Maria đang trong trạng thái bối rối và tự hỏi tại sao? Chúng ta có kinh nghiệm tương tự như vậy bao giờ chưa ? Chúng ta có bối rối như Mẹ không ? Nếu chưa, nghĩa là chưa có kinh nghiệm về tình yêu nhưng không Thiên Chúa dành cho chúng ta từ thuở đời đời, thì Mẹ sẽ chia sẻ cho chúng ta, bởi vì tất cả những gì Mẹ nhận được là để chia sẻ. Ơn huệ lớn nhất mà Mẹ nhận được là Đức Giê-su, và Mẹ đã chia sẻ hết cho chúng ta và Mẹ vẫn chia sẻ mỗi ngày.

Và Đức Mẹ tự hỏi về ý nghĩa của lời chào. Không phải vì Mẹ không hiểu điều sứ thần muốn công bố, là ân sủng Thiên Chúa dành cho Mẹ cách nhưng không, nhưng Mẹ không hiểu ý nghĩa của ân sủng: qua ân sủng Thiên Chúa ban cho Mẹ tràn đầy, Chúa muốn nói gì với Mẹ, Chúa muốn mời gọi Mẹ thực hiện điều gì? Vì thế, ngay sau đó, sứ thần mặc khải điều Thiên Chúa mời gọi Mẹ thực hiện: « Này đây, bà sẽ thụ thai… ». Có lẽ chúng ta cũng vậy, khi Chúa đến ngỏ lời với chúng ta, một lúc nào đó trong quá khứ và nhất là trong những biến cố quan trọng của hành trình ơn gọi ; chúng ta cũng bối rối và tự hỏi: tại sao Chúa lại chọn con, tại sao Chúa ưu ái với con cách nhưng không như vậy ? Chúa mời gọi con làm gì?

b. Bước thứ hai (c. 30-34)

Sứ thần xác chuẩn ơn huệ nhưng không Chúa ban cho Mẹ: « Bà được đẹp lòng Thiên Chúa », và sau đó, loan báo sứ mạng mà Thiên Chúa muốn trao cho Mẹ: « Này đây bà sẽ thụ thai… ». Như thế, ơn huệ luôn đi đôi với sứ mạng ; và đó chính là cung cách hành xử của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, trong lịch sử Hội Dòng và trong hành trình ơn gọi của mỗi người chúng ta.

Sứ mạng thụ thai, hạ sinh con trai, vốn là « Con Đấng Tối Cao », là sứ mạng quá lớn, lớn hơn tất cả những gì Mẹ có và Mẹ là. Vì thế, Mẹ không thể không nêu câu hỏi, và câu hỏi của Mẹ chất chứa một ngăn trở, cũng rất lớn: « Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ? » Chính ở nhịp thứ hai này của cuộc đối thoại, mà chúng ta cảm nhận được Đức Mẹ thật sống động, thật mạnh mẽ và cũng thật lý sự nữa. Vì thế, Mẹ thật gần gũi với chúng ta, vì can đảm đặt câu hỏi, nêu ra khó khăn và trở ngại đối với lời mời gọi của Thiên Chúa.

Còn có một điều bất ngờ lớn lao nữa, mà chắc chắn lúc này, Mẹ chưa hình dung ra hết được, bởi vì Mẹ sẽ phải khám phá ra từ từ, đó là cách Đức Giê-su trở nên cao cả, trở nên Con Đấng Tối cao, và nhất là cách Ngài thừa kế ngai vàng vua Đa-vít. Biến cố Đức Giêsu giáng sinh trong máng cỏ, việc dâng Hài Nhi cho Đức Chúa trong Đền Thờ và nhất là lời tiên tri của ông cụ Simeon : « một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà », sẽ hướng Mẹ tới con đường Thập Giá của Con Mẹ.

Sứ mạng Chúa muốn trao cho chúng ta, khi mời gọi chúng ta đi Đức Ki-tô trong đời sống dâng hiến, luôn luôn vượt qua khả năng của chúng ta. Như khi Đức Giê-su mời gọi: « Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi ». Hay như kinh nghiệm của Thánh Phaolô: « Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối » (2Cr 12, 8-9). Mẹ thật gần gũi với chúng ta, vì can đảm đặt câu hỏi, nêu ra khó khăn và trở ngại đối với lời mời gọi của Thiên Chúa. Chúng ta cũng được Chúa ban ơn huệ để thi hành sứ mạng, chúng ta hãy ca đảm, giống như Mẹ, dãi bày cho Chúa nghe những khó khăn và trở ngại của chúng ta : « việc ấy xẩy ra thế nào được ? »

c. Bước thứ ba (c. 35-37)

Sứ thần rất coi trọng ngăn trở mà Đức Mẹ nêu ra; vì thế, để thuyết phục, ngài đã không dựa vào điều gì khác, ngoài quyền năng riêng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy dừng lại thật lâu để suy niệm từng lời của sứ thần. Vì lời của sứ thần rất thuyết phục, thuyết phục đến độ, Đức Maria đã thốt ra lời « Xin Vâng » liều lĩnh, hướng đến rất nhiều thách đố, nguy nan và những điều bất ngờ. Trước hết, theo lời của Sứ Thần, Người Con Mẹ sẽ cưu mang và sinh ra, là hoàn toàn do quyền năng của Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa: « Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, … ». Làm phát sinh sự sống, ở nơi mà loài người không thể làm gì được, đó chính là quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa.

Sứ thần Gabriel đến gặp Đức Maria, vào thời điểm bà Elizabeth có thai được sáu tháng; vì thế, trong lời đối thoại với Đức Mẹ, sứ thần long trọng nêu ra trường hợp bà Elizabet để thuyết phục Đức Mẹ. Sự kiện bà Elizabet với cung lòng vừa hiếm muộn và vừa già cỗi nhưng lại mang thai, có ý nghĩa đặc biệt trong lời xin vâng của Mẹ và trong mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa:

  • Trường hợp bà Elizabet nhắc nhớ Lịch sử cứu độ; và lời xin vâng của Mẹ đặt trên nền tảng hành động của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ.
  • Lời xin vâng của Mẹ làm cho lịch sử cứu độ được hoàn tất : hoàn tất bao gồm hai chiều kích : liên tục nhưng mới mẻ.
  • Người con bà Elizabet sinh ra sẽ gắn bó đến cùng với Người Con Mẹ Maria sinh ra.

Như thế, Thiên Chúa có khả năng làm phát sinh sự sống ở nơi mà con người không còn hi vọng gì và không thể làm gì được nữa, bởi vì hai ông bà vừa hiếm muộn và vừa lớn tuổi. Và tuyệt tác này lại nhắc nhớ những tuyệt tác tương tự khác trong lịch sử cứu độ, đó là trường hợp các phu nhân hiếm muộn của các tổ phụ, mà vẫn cứ sinh con được, và tiêu biểu nhất là bà Sara, vợ của tổ phụ Abraham. Với Đức Maria, đó cũng là một tuyệt tác, nhưng là một tuyệt tác còn lớn hơn và là duy nhất: Mẹ sinh con không phải từ cung lòng già cỗi hay hiếm muộn, nhưng là từ cung lòng trinh nguyên. Các Giáo Phụ nhìn ra đây là hình ảnh diễn tả công trình sáng tạo của Thiên Chúa, bởi vì lúc khởi đầu, Thiên Chúa cũng làm phát sinh sự sống từ mặt đất trinh nguyên. Đó là vì, đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được. Và đây đã là Tin Mừng cho loài người của chúng ta rồi: đó là Thiên Chúa có thể làm phát sinh sự sống, và làm phát sinh sự sống viên mãn là Đức Kitô, ở nơi mà con người không còn hi vọng gì, ở nơi là tuyệt đối không thể đối với con người. Như thế mầu nhiệm Vượt Qua đã được loan báo ở đây rồi, nơi biến cố truyền tin, bởi vì Thiên Chúa sẽ làm trào vọt sự sống từ sự chết, trong mầu nghiệm Thương Khó và Phục Sinh của Đức Ki-tô.

Chúng ta được mời gọi nhận ra hành động của Thiên Chúa trong lịch sử của Hội Dòng, của Tu Hội, của giáo xứ chúng ta, trong gia đình, trong cuộc đời và trong hành trình ơn gọi của chúng ta, để chúng ta có thể đi theo Đức Ki-tô và phục vụ cho sứ mạng của Ngài, không phải bằng sức lực và khả năng của chúng ta, nhưng quyền năng và sức mạnh của Chúa.

Và biến cố Truyền Tin cũng bày tỏ cho chúng ta yếu tính của đời tu: đó là để cho Thiên Chúa làm phát sinh sự sống thần linh của Người, theo hình ảnh của Đức Ki-tô, ở nơi không thể, là thân xác trinh nguyên của chúng ta, theo cách thức mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Maria. « Trinh nguyên », tiên vàn theo nghĩa thiêng liêng. « Trinh nguyên », tiên vàn theo nghĩa thiêng liêng (bởi vì trinh nguyên thể lý tuyệt đối là không thể và chỉ là vẻ bề ngoài), nghĩa là một con tim khát khao dành trọn cho một mình Chúa và tình yêu của Người.

3. « Xin vâng »  (c. 38)

Trong bản văn Hi-lạp của trình thuật Truyền Tin, thật ra không có từ « xin vâng », hay từ « vâng » trong bản dịch Tiếng Việt ở đây, nhưng chỉ có câu trả lời của Đức Mẹ: « Tôi đây là nữ từ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói » hay dịch sát hơn : « Tôi đây là nữ tì của Chúa, hãy xảy ra cho tôi theo như lời Sứ Thần ». Ngoài ra, « Xin Vâng » còn được đọc theo tiếng La-tinh là « Fiat » ; nhưng thực ra, « Fiat » có nghĩa là « ước gì xảy ra », hoặc « hãy xẩy ra », cho tôi theo như lời của ngài. Vì thế, chúng ta vẫn cứ tiếp tục nói Đức Mẹ thưa « Xin Vâng », nhưng phải hiểu tiếng « Xin Vâng » của Mẹ là cả một câu trả lời khá dài và đầy ý nghĩa.

Thật vậy, trong lời « Xin Vâng », Mẹ tự xưng mình là « nữ tì ». Chúng ta thường nghĩ ra nhiều tước hiệu cao vời dành cho Đức Maria ; nhưng Mẹ lại thích tự xưng mình, trong biến cố Truyền Tin và trong bài ca bất hủ Magnificat, là « Nữ Tì của Chúa » (Lc 1, 38), là « Phận nữ tì hèn mọn ». Chúng ta được mời gọi dõi theo một Đức Maria như thế đó. Không ở đầu ngoài lời nói này của Mẹ, chúng ta cảm thấy thật gần gũi với Mẹ. Vì chúng ta cũng như Mẹ, là nữ tì, là tôi tớ của Thiên Chúa. Sau đó, Mẹ nói « Hãy xảy ra cho tôi theo như lời của Sứ Thần nói ». Chúng ta hãy cảm nếm lòng tín thác tuyệt đối Mẹ dành cho Chúa qua lời nói này, bởi vì qua lời này, Mẹ cam kết từ bỏ quyền làm chủ đời mình; và đó chính là ý nghĩa tận cùng của mọi ơn gọi, và nhất là của ơn gọi dâng hiến.

Chúng ta được mời gọi đặt lời « xin vâng » của chúng ta, khi đón nhận Đức Ki-tô vào cuộc đời chúng ta và sống theo ơn gọi Chúa ban, trong lời « Xin Vâng » của Đức Mẹ. Cũng giống như Đức Mẹ, tiếng xin vâng ban đầu của chúng ta cần phải làm mới lại suốt đời, nhất là ở những khúc quanh quan trọng và trong thời gian tĩnh tâm, hay ở những lúc khó khăn thử thách lớn nhỏ trong hành trình ơn gọi. Trong những giai đoạn khó khăn thử thách lớn, có khi chúng ta được mời gọi thưa « xin vâng » mỗi ngày, bằng cách nhận lời « Xin Vâng » của Mẹ làm của mình, và lời « Xin Vâng » này có nghĩa là: « Con là nữ tì của Chúa, xin xảy ra cho con theo như Lời của Ngài. »

*  *  *

Xin Đức Mẹ đồng hành và phù hộ chúng ta với tình yêu hiền mẫu, để chúng ta cũng sống đến cùng lời « xin vâng » của chúng ta, giống như Mẹ; và cùng với Giáo Hội trong lời nguyện của Giờ Kinh Sáng vào ngày Lễ Truyền Tin, chúng ta thân thưa với Chúa :

Như Đức Mẹ là bà Eva mới
đã vâng nghe Lời Chúa,
xin thực hiện những gì Chúa muốn làm cho chúng con.

Vì lời Đức Mẹ chuyền cầu,
xin Chúa thương nhận lời chúng con.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

ĐỨC BÀ NHƯ LẦU ĐÀI ĐA-VÍT VẬY

ĐỨC BÀ NHƯ LẦU ĐÀI ĐA-VÍT VẬY

Dc 4, 4: Migdal David (turris davidica)
7,4: Migdal hassen (Turris eburnea, Tháp ngà);

Sở dĩ tôi đề cập câu chuyện này là vì cách đây mấy tháng có một nhà Dòng Nữ toàn người Việt, nhưng ở nước ngoài, xin tôi làm “trọng tài” vì trong cộng đoàn có cuộc tranh luận và luộm thuộm khi đọc Kinh Cầu, vì một chữ trong kinh cầu Đức Bà: cộng đoàn vẫn đọc Đức Bà như lầu đài Đa-vit vậy – nhưng có một chị từ Việt Nam mới qua sống trong cộng đoàn bảo rằng phải đọc… lâu đài Đa-vit mới đúng, vì nhà dòng của chị ở Việt Nam vẫn đọc như vậy, đó là bản của Hội Đồng giám mục Việt Nam, và chị này nhất định một mình một phe khi đọc kinh cầu…

Tôi trả lời rằng trước hết, bản kinh cầu Đức Bà hiện có trong sách kinh đọc hàng ngày là bản do ủy ban sửa kinh làm năm 1924, có các nhân vật thông thạo Hán và Nôm thời ấy tham gia. Còn từ khi có Hội Đồng Giám Mục Miền Nam Việt Nam (1960), rồi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (họp lần đầu năm 1980), theo như tôi biết thì chưa hề đặt vấn đề duyệt lại các kinh quen đọc, vì từ sau Công Đồng Vaticano II tới nay, hơn năm mươi năm rồi Ủy Ban Phụng Tự trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam vẫn còn đang làm việc với bản dịch sách lễ Rô-ma và sách bài đọc thánh lễ, nên chưa có thời giờ hay đầu óc nào để nghĩ tới các kinh quen đọc hàng ngày. Vì vậy nói đó là bản của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là chưa đúng.

Các bản in xưa nay trong các giáo phận ở Việt Nam, và trên trang điện tử đều ghi: Đức Bà như lầu đài Đa-vit vậy.

Nhân đây, để giúp mọi người hiểu rõ hơn về Kinh Cầu, tôi sẽ lần lượt trình bày:

  1. Nguồn gốc Kinh Cầu
  2. Nguồn gốc Kinh cầu Đức Bà bằng tiếng La-tinh và bản dịch Hán (kinh cầu chữ), Việt.
  3. Vị trí câu này trong cấu trúc của Kinh Cầu Đức Bà và ý nghĩa
  4. Nguồn gốc và ý nghĩa câu “Đức Bà như lầu đài Đa-vít vậy”
  5. NGUỒN GỐC KINH CẦU

Trong phụng vụ phương Đông có hình thức cầu nguyện “kêu cầu” với những câu do phó tế xướng (kêu) và cộng đoàn đáp (cầu), tiếng Hy lạp gọi là litaneia, tiếng La-tinh litania [mượn của tiếng Hy lạp]. Câu đáp thông thường là kyrie eleisonxin Chúa thương xót chúng con. – tương tự: xin Chúa nghe cho chúng con – xin Chúa nhậm lời chúng con.

Đức Thánh Cha Giê-la-si-ô I (492-496) đưa hình thức ‘KÊU – CẦU” này vào phụng vụ phương Tây, vết tích còn lại trong thánh lễ hiện nay ở phần thống hối: linh mục xướng và cộng đoàn đáp “Xin Chúa thương xót chúng con, Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con, Xin Chúa thương xót chúng con”; và “Lạy Chiên Thiên Chúa

Bên phương Tây, hình thức kinh cầu trở nên phổ thông trong các cuộc rước “cầu mùa”, cộng đoàn đi rước và cầu xin theo cách xướng đáp. Hình thức cầu nguyện cộng đoàn này được cổ võ thêm nhờ những kinh cầu được Hội Thánh phê chuẩn: kinh cầu các thánhKinh cầu Đức Bàkinh cầu Thánh Danh Chúa Giê-su (1886); kinh cầu Thánh Tâm Chúa Giê-su (1899); kinh cầu thánh Giu-se (1906) và kinh cầu Máu Châu Báu Chúa Giê-su (1960). Ở Việt Nam còn có “Kinh cầu Chúa chịu nạn”, gồm những câu tóm tắt các bài Phúc Âm về cuộc khổ nạn, để giúp tín hữu suy niệm cuộc Khổ Nạn của Chúa trong Tuần Thánh.

  1. NGUỒN GỐC KINH CẦU ĐỨC BÀ quen đọc.

Kinh cầu Đức Bà quen đọc có tên gọi là Kinh Cầu Đức Bà Lô-rét-tô, vì là kinh cầu quen đọc ở Lô-rét-tô, – một nơi hành hương nổi tiếng ở nước Ý – ít là từ năm 1531 và được ĐTC Xích-tô Thứ Năm phê chuẩn năm 1587. Tuy trong các sách giúp sùng kính Đức Mẹ Maria có nhiều mẫu kinh cầu Đức Bà khác, nhưng kinh cầu Đức Bà Lô-rét-tô là bản duy nhất được Hội Thánh phê chuẩn để dùng chung. Bản được phổ biến khắp trong Hội Thánh là bản tiếng La-tinh.

Qua dòng thời gian các Đức Thánh Cha đã thêm vào một số câu:

1675: Nữ Vương truyền phép rất thánh Mân Côi (cho Hội Mân Côi)

1883: Nữ Vương vô nhiễm nguyên tội (Đức Lê-ô thứ Mười Ba, cho toàn thể Hội Thánh)

1903: Đức Mẹ chỉ bảo đàng lành (Đức Lê-ô thứ Mười Ba)

1917: Nữ vương Ban sự bình an (Đức Bê-nê-đi-tô thứ Mười Lăm)

1950: Nữ vương Hồn xác lên trời (Đức Pi-ô thứ Mười Hai)

1980: Đức Bà là Mẹ Hội Thánh (Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai), và Nữ vương các gia đình (Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai)

Bản dịch chữ Hán và bản dịch tiếng Việt

Khi còn bé tôi vẫn nghe đọc “Kinh cầu chữ” [tức là kinh cầu Đức Bà bằng chữ Hán] trong các buổi đọc kinh giỗ trong gia đình, cùng với kinh “Phục Rĩ chí tôn” [bản tiếng Việt là Lạy ơn Thiên Chúa Cao Sang]. Tôi sinh ở Miền Bắc nên chỉ biết ở miền Bắc – “Kinh cầu chữ” là bản dịch kinh cầu Đức Bà mà Giáo Hội ở Trung Hoa vẫn dùng cho tới nay. Tôi không có tài liệu để tìm xem bản dịch chữ Hán có từ bao giờ, ai đã truyền sang Việt Nam, từ khi nào.

Bản dịch tiếng Việt thì tôi cũng không có tài liệu để xem có từ bao giờ. Chắc chắn là năm 1924, công việc “sửa kinh” do các bậc thầy về chữ Hán và chữ Nôm trong Hội Thánh ở Việt Nam thời đó thực hiện, đã hoàn chỉnh bản dịch tiếng Việt quen đọc hiện nay.

  1. VỊ TRÍ CÂU “ĐỨC BÀ NHƯ LẦU ĐÀI ĐA-VÍT VẬY”

Nếu đọc kinh cầu với tất cả những câu các Đức Thánh Cha đã thêm vào như kể trên, ta nhận ra:

ba câu mở đầu cao rao sự thánh thiện cao cả của Đức Bà

mười hai câu ca tụng Đức Bà trong tư cách Thánh Mẫu

sáu câu ca tụng Đức Bà trong tư cách Trinh Nữ

Mười ba câu dùng những biểu tượng, chủ yếu từ trong Cựu Ước, để ca tụng các nhân đức và vai trò của Đức Bà trong lịch sử Cứu Độ.

Trong chuỗi Mười Ba biểu tượng này có hai biểu tượng “cây tháp”: dịch sát tiếng La-tinh: cây tháp bằng ngà và cây tháp của Đa-vít.

Bản chữ Hán:                                    Bản tiếng Việt

Tượng nha bảo tháp    象牙宝塔: Đức Bà như tháp ngà báu vậy

Đa-vít địch lâu              达味敌楼:  Đức Bà như lầu đài Đa-vít vậy

[Nên chú ý cách dịch vừa sát vừa thoáng, tận dụng khả năng phong phú của ngôn ngữ Trung Hoa và Việt Nam, vừa tăng phần trang trọng lại chú ý tới âm điệu theo văn hóa và chất âm nhạc của tiếng Hoa và tiếng Việt để dễ đoc chung lớn tiếng.]

Tiếng La-tinh nói vắn tắt, nhưng là để so sánh chứ không phải đồng hóa Đức Bà với cây tháp ngà hay cây tháp của Đa-vít.

Trong khi tiếng La-tinh lặp lại hai lần chữ TURRIS, thì chữ Hán dùng hai từ THÁP và LÂU, nhưng thêm BẢO tháp, và ĐỊCH lâu, vẫn giữ ý nghĩa là “tháp”. Địch  quân địch, nghĩa là tháp cao trong thành để canh và theo dõi động thái của kẻ thù ở bên ngoài.

Bản dịch tiếng Việt dựa theo cách dịch của chữ hán, nhưng lại thích ứng với tiếng Việt: NHƯ THÁP NGÀ BÁU vậy và NHƯ LẦU ĐÀI ĐA-VÍT vậy [1]. Tiếng Việt không thể nói đơn giản như tiếng La-tinh: “Tháp ngà” “Tháp Đa-vít’; cũng không thể nói “Đức Bà là cây tháp bằng ngà” hay “là tháp ngà”; “… là cây tháp Đa-vít”, “là cây tháp của Đa-vít”…)

Bản tiếng Việt dùng chữ “lầu đài” để diễn tả “tháp”. Từ đôi này là tiếng Việt, ta thường dùng một nửa: lầu Năm Góc, lầu chuông (tiếng miền Nam) – tháp chuông, gác chuông (tiếng miền Bắc); “nhà lầu” đối với “nhà trệt”; “lên lầu” có hai nghĩa: xây thêm một lầu trên căn nhà; hoặc “đi lên lầu”; yếu tố chung là “cao hơn”. “Đài Đức Mẹ”, “Đài liệt sĩ”, “Đài kỷ niệm” … có yếu tố chung là công trình kiến trúc đặc biệt, xây cao và tách riêng ra khỏi các kiến trúc chung quanh để dễ thấy…

Trong các kiến trúc xưa, tháp không dùng để ở, mà dùng vào nhiều việc khác, vì nó được xây cao lên: tháp canh, tháp chuông, tháp để ngoạn cảnh… Tháp Luân Đôn dùng làm nhà tù kiên cố. Các lâu đài xưa cũng thường có tháp dùng làm nhà tù. Trong kiến trúc hiện đại, thì người ta nói đến Tháp Đôi [twin-tower] nổi tiếng vì là kỷ niệm  bi đát của Hoa Kỳ, Tháp Trump [Trump Tower] trong thời sự nước Mỹ với tổng thống Trump. Ý nghĩa này nằm ngoài câu chuyện về Kinh Cầu.

  1. NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA câu ĐỨC BÀ NHƯ LẦU ĐÀI ĐA-VÍT vậy

Trong Cựu Ước thì “Tháp” thường có chức năng quân sự: kiến trúc kiên cố, vươn cao để canh phòng và bảo vệ… như thánh vịnh 47/48: “Hãy đi vòng Xi-on, dọc theo tường lũy, đếm tháp canh xem được bao nhiêu”.

Ngoài ra còn thấy tháp canh vườn nho (x. Is 5, 2)

“Tháp” trở thành hình ảnh để ví Thiên Chúa là Đấng bảo đảm sự an toàn cho ta: Tv 60/61, 3; Cn 18, 10.

Bản văn đầu tiên trong sách Sáng Thế nói đến “tháp” là 11:4: sau khi phát minh ra gạch để xây dựng thay vì đá [con cháu ông Nô-ê] bảo nhau: “Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời”.

Chỉ có sách Diễm Ca nói đến “Tháp ngà” và “Tháp của Đa-vít” trong hai mạch văn ca tụng vẻ đẹp nơi cái “cổ” của “Nàng”: “Cổ em giống như tháp bằng ngà” (7,4); “Cổ em như tháp của Đa-vít” (4,4).

Hai hình ảnh này chỉ thấy trong sách Diễm Ca, nên ta chẳng thể nói gì hơn là nhận rằng đây là hai hình ảnh có tính “ước lệ”. Hình ảnh tháp ngà ghép màu trắng đặc biệt của ngà voi [2]với hình dáng cao thon thả của một ngọn tháp! Diễn tả vẻ đẹp.

Hình ảnh tháp của Đa-vít thì chính bản văn Diễm Ca quảng diễn thêm: “được xây lên để chứa vũ khí, hàng ngàn chiếc khiên được treo lên ở đó, tất cả những chiếc mộc của các dũng sĩ”. Như vậy hình ảnh này gợi tính cách quen thuộc của tháp là nơi kiên cố, dự trữ sức mạnh và khí giới để bảo vệ thành trì [3], và là kiến trúc vươn cao để quan sát tình hình bên ngoài tường thành khi bị quân thù bao vây. Tuy Cựu Ước không nói rằng vua Đa-vít có xây tháp, nhưng danh xưng thành vua Đa-vít quen dùng để nói về thành Xi-on hay Giê-ru-sa-lem là thành kiên cố khiến quân thù “mới thấy thành đã sững sờ kinh ngạc, quá hãi hùng bỏ chạy thoát thân.” (Tv 47/48, 6)

Kinh cầu đặt hai hình ảnh này kề nhau trong một chuỗi 13 biểu tượng để ca tụng vẻ đẹp và vai trò của Đức Bà Maria trong lịch sử cứu độ. Lời kinh mời chúng ta yêu mến và tin tưởng ở sự che chở của Đức Trinh Nữ Maria, vì Người rất xinh và đẹp lòng Thiên Chúa nên Người có thể cầu bầu cho chúng ta cách hữu hiệu.

Kết luận

Kinh cầu Đức Bà là một bản kinh các tín hữu khắp nơi đều sử dụng. Nó giúp người ta chiêm ngắm Đức Trinh nữ Maria như một tấm gương phản chiếu lịch sử ơn cứu độ: nơi Người “Thiên Chúa đã làm những việc kỳ diệu” để biểu lộ lòng thương xót và quyền năng cứu độ. Kinh Cầu Đức Bà giúp Chiêm ngắm những gì Thiên Chúa đã trang điểm Đức Trinh Nữ Maria để đặt Người làm Mẹ của Con Thiên Chúa làm người, và làm Mẹ của tất cả những ai được tái sinh bởi máu và nước từ cạnh sườn Chúa Cứu Thế chảy ra trên thập giá. Nhờ chiêm ngắm Đức Mẹ theo các lời trong Kinh Cầu gợi lên, chúng ta được thêm lòng tin tưởng vào Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa, thêm hiểu biết, yêu mến và tin tưởng chạy đến ẩn náu dưới bóng của Mẹ.

Kinh cầu Đức Bà đã cô đọng và tích lũy truyền thống của toàn thể Hội Thánh về lòng sùng kính Đức Mẹ mà chúng ta nhận được trong kho tàng thánh thiêng của Hội Thánh. Bản La-tinh có trước chúng ta năm thế kỷ, bản dịch chữ Hán và bản dịch tiếng Việt cũng có trước chúng ta cả thế kỷ rồi, chúng ta hãy trân trọng giữ gìn nguyên vẹn cho con cháu; đọc cho đúng, hiểu cho đúng và giúp người khác hiểu cho đúng, để mọi người tín hữu Việt Nam hòa nhập vào dòng truyền thống tôn sùng Đức Mẹ của toàn thể Hội Thánh và luôn sống động mạnh mẽ trong lòng mọi tín hữu Việt Nam.

Tôi được phục vụ Hội Thánh ở Việt Nam và ngoài Việt Nam trong sứ vụ linh mục, tới nay đã tròn 50 năm. Tôi xin phép gởi lời trăng trối này cho các linh mục thuộc lứa tuổi con cháu: ước gì các linh mục là những người có trách nhiệm giảng dạy biết nhận trách nhiệm của mình, tìm hiểu ngọn nguồn mọi điều phải giảng dạy trước khi giảng bằng lời nói hay chữ viết. Tín hữu Việt Nam còn tin tưởng các cha lắm, xin hãy trân trọng lòng tin tưởng này bằng cả đời sống và mọi lời giảng dạy của mình.

Ước gì được như vậy để thân già này nhắm mắt ra đi bình an như Cụ Si-mê-ôn. Amen.

Giê-ru-sa-lem, 12/3/2020
 Linh mục Giu-se Nguyễn công Đoan, dòng Tên
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN

______________

[1] Các bản in chính thức Sách Kinh trong các giáo phận Việt Nam xưa nay, và trang điện tử đều ghi LẦU ĐÀI.

[2] Trong văn chương Việt Nam, chúng ta cũng quen với hình ảnh ước lệ này: trong như ngọc, trắng như ngà – tấm thân ngọc ngà.

[3] Trong các trình thuật về vua Đa-vít thì chỉ nói tới đền vua, ngôi nhà bằng gỗ bá hương (2S 7,2) và sân thượng của đền vua (2S 11, 2), nơi vua đứng ngắm người đẹp Bet-Sa-bê tắm trên một sân thượng khác… không nói đến lâu đài, cũng không nói đến kho vũ khí nào cả. Salomon sẽ dành 13 năm để xây cung điện của vua, không thấy kể chi tiết, và 7 năm để xây Đền Thờ. Trình thuật về công trình xây Đền Thờ kể nhiều chi tiết, đặc biệt “Cung Rừng Li-băng”. 200 năm sau, đời vua Khí-ki-gia. Vua này đã phạm một sai lầm nghiêm trọng khi cho sứ giả của vua Ba-bi-lon coi cả kho vũ khí của mình. Ngôn sứ I-sai-a quở trách và cho biết hậu quả tai hại sẽ xảy ra (2V 20, 12-19; Is 39,1-8). Khi nguy cơ xâm lược đến gần, ngôn sứ I-sai-a sẽ khiển trách Giê-ru-sa-lem: “Ngày ấy các ngươi đã nhìn vào kho vũ khí trong Cung Rừng… các ngươi thấy thành Đa-vít có nhiều lỗ hổng… nhưng Đấng tác tạo cả thành đô, các ngươi lại không nhìn” (22, 8-10).

Chia sẽ bài viết này trên:

KHÔNG CHA CỤ NÀO HẾT

KHÔNG CHA CỤ NÀO HẾT

Một buổi sáng tháng 4, bà Jochle Prasser kêu điện thoại, mời tôi đến giúp chồng bà đang lên cơn đau nặng. Tôi đến ngay. Bà Jochle nói với tôi:

– Nhà tôi bị sưng cả 2 phổi, nặng lắm. Ông kêu sơ đến giúp vì ông đã quen biết sơ 1 lần trước đây trong bệnh viện. Xin sơ chỉ lo giúp ông việc bệnh tật thôi. Còn việc đạo giáo thì khỏi.

Tôi hết lòng giúp bệnh nhân. Không đả động gì đến việc đạo giáo. Bệnh tình không bớt mà thêm trầm trọng.

Một hôm, nhằm ngày thứ 7, tôi khấn Đức Mẹ cho ông ta, rồi đánh bạo hỏi:- Tôi mời 1 linh mục đến thăm ông được không?

Ông ta trả lời: – Tùy Sơ. Tôi lập gia đình theo phép đạo hẳn hoi. Con cái tôi đứa nào cũng đã chịu phép rửa tội cả, nhưng thú thiệt: đã 16 năm nay, tôi bỏ Chúa bỏ Mẹ hết cả rồi. Không biết ông cha đến có giúp tôi được gì không?

Khi Cha đến, bệnh nhân tỏ vẻ rửng rưng, còn cằn nhằn, nói những lời không được lịch sự. Thấy vậy, tôi chạy lại. Vừa thấy tôi, bệnh nhân la lên:

– Tôi đổi ý rồi. Tôi không cần ông cha ông cụ nào hết. Cả Cha cả Sơ, lui ra đi?

Ba ngày sau, mẹ Bề Trên giục tôi tới thăm bệnh nhân ra sao. Thấy tôi đến, ông ta lại la:- Lại đến. Đi! Đi ngay! Đi cho rảnh!

Ngày thứ 4, cũng là ngày thứ 4 trong tuần. Mẹ Bề Trên lại hối tôi đi thăm bệnh nhân. Tôi vừa tới nhà ông, thì gặp ngay bà mẹ của ông. Bà nói:

– Sơ muốn thì cứ vào thăm, nhưng bây giờ nó hết nói, hết còn làm gì được nữa. Đã từ nửa đêm, nó cứ thở khò khè, không còn biết gì nữa. Chỉ còn đợi chết thôi…

Tôi vào phòng bệnh nhân: mắt ông ta lờ đờ, miệng há hốc, thở khò khè. Tôi quỳ xuống bên giường. Lấy xâu chuỗi ra, lần hột. Bà vợ thấy vậy, lụng bụng, tỏ vẻ khó chịu… Tôi phân trần:

– Ngay từ đầu, bà kêu tôi đến giúp ông, nên tôi xin mạn phép ở lại giúp ông tới cùng…

Tôi vẫn tiếp tục lần hột, mường tượng đến thần chết đang lẩn quẩn đâu đây. Rồi tôi lấy ra ở túi áo mẫu ảnh Đức Mẹ Fatima, nhét vào tay bệnh nhân. Tôi có cảm tưởng toàn thân ông ta đang bị giày vò, bấn loạn, chống chọi với những lực lượng vô hình…

Thoát chốc, môi ông ta động đậy. Rồi ông nói:

– Tôi đã bị luận phạt. Tôi đã bị luận phạt.

– Không, ông chưa bị luận phạt. Bao lâu ông còn sống, bấy lâu ông chưa bị luận phạt.

– Tôi phải làm gì để khỏi bị luận phạt?

Ông cứ nhắc lại mỗi lời kinh tôi đọc:

Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời. Rất Thánh….

Đức Mẹ thông ơn Thiên Chúa. Đức Mẹ…

Đức Mẹ có tài có phép. Đức Mẹ…

Đức Mẹ có lòng khoan nhân. Đức Mẹ….

Đức Mẹ phù hộ các giáo hữu. Đức Mẹ…

Tôi chưa kịp đọc tiếp, ông lại la lên, hỏi lớn:

– Tôi phải làm gì nữa, để khỏi bị luận phạt?

Tôi đánh bạo đáp: – Phải kêu ông cha đến giúp.

Ông ta kêu ngay mẹ và vợ:

– 2 bà phải kiếm lẹ cho tôi 1 ông cha.

Một cha Dòng Tên, vì học viện các cha gần ngay đấy, được mời đến. Vừa thấy tôi, cha vội hỏi: – Có truyện gì, Sơ?

– Thưa cha, lúc này có một bệnh nhân khá tỉnh táo, ông muốn gặp cha. .

Tôi xuống nhà dưới, để cha và bệnh nhân thong thả trong phòng… 10 phút sau, cha mở cửa bước ra, vẻ mặt sáng sủa, hài lòng, nói: – Tôi đi lấy Dầu Thánh và Mình Thánh Chúa, ông ta đã sẵn sàng cả rồi…

Sau đó, bệnh nhân rước Mình Thánh Chúa, chịu phép Xức dầu, lãnh ơn Toàn xá. Chúng tôi đang đọc kinh Kính Mừng tạ ơn, cầu cho ông ta, thì ông ta mở to mắt, hỏi tôi:

– Thưa Sơ, Sơ biết bài ca: “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng?”

Tôi gật đầu, cất giọng hát: “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng…” ông ta cũng hát hùa theo. Hát được chừng 2 câu, ông nấc 1 cái, thở hổn hển, ngoẹo đầu sang 1 bên, rồi bắt đầu mê sảng… 2 giờ sau, ông tắt thở…

Nhớ Ơn Mẹ, Tập 2

Chia sẽ bài viết này trên: