Month: Tháng Một 2019

Ý cầu nguyện tháng 2.2019 của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

CẦU CHO NẠN BUÔN NGƯỜI 

Trong tháng 2 năm 2019, Đức Giáo Hoàng muốn toàn Giáo Hội chú tâm tới thách đố mà nhân loại đang phải gánh chịu, là nạn buôn người, và Ngài mời gọi cầu nguyện để có những giải pháp tích cực, đúng đắn.

Bài viết của cha Joseph Laramie, S.J. giúp chúng ta hiểu hơn về thách đố này:

Cái nào tốt hơn: một cái ly nhựa dùng một lần, hay một cái ly bằng kim loại mà bạn có thể dùng đi dùng lại được? Câu trả lời hẳn là đã đủ rõ ràng. Xét về lâu dài, những đồ tái sử dụng thì tốt cho môi trường hơn và cũng rẻ hơn nữa.

Thế còn con người thì sao? Liệu sử dụng ai đó một lần rồi ném họ đi thì tốt hơn hay dùng họ nhiều lần thì tốt hơn? Sao?! Không nên xem con người giống đồ vật như thế. Hẳn bạn thấy khó hiểu và sợ hãi với so sánh này. Nhưng đây là điều vẫn xảy ra hàng ngày hiện nay. Tên của thứ tội ác này là nạn buôn người.

Ngày nay, con người vẫn bị mua bán trên thế giới. Mại dâm và hình ảnh khiêu dâm, lao động rẻ tiền, cưỡng bức lao động là một trong những cách thức của nạn mua bán người, coi con người như đồ vật. Một thanh niên được hứa hẹn một khoản tiền lớn và thẻ căn cước công dân ở một quốc gia giàu có, nhưng đến nơi làm việc, tất cả công việc của anh là làm vườn trong vài tháng. Vài năm sau, anh ta vẫn tiếp tục công việc tay chân nặng nhọc này – chỉ với vài đồng lương còm cõi và một đống những lời dối trá cùng sự đe dọa. Anh bị vây bọc khốn đốn trong vòng xoáy của sự lừa gạt và áp bức.

Đức Giáo Hoàng dùng từ văn hoá “vứt bỏ” để mô tả mặt đen tối của thời đại kinh tế hiện đại ngày nay. Ngài viết: “Ngày nay, mọi thứ đều tuân theo luật của sự cạnh tranh và chỉ có thứ “vừa vặn nhất” mới có thể tồn tại, nơi cá lớn nuốt cá bé… Con người bị xem như những món hàng tiêu dùng, được sử dụng rồi sau đó bị thải ra. Chúng ta đã tạo ra thứ văn hoá “vứt bỏ” đang lan tràn hiện nay.” (Evangelii Gaudium, 53).

Đối lập hoàn toàn với điều trên, chúng ta hãy nhìn mẫu gương của Đức Giêsu. Ngài đã đứng về phía người phụ nữ bị bắt vì tội ngoại tình, và Ngài đã giải thoát cho chị. Đức Giêsu cho chúng ta thấy rằng: chúng ta không phải là đồ vật. Chúng ta là những con trai, con gái được yêu thương của Cha trên trời.

Nguồn: http://popesprayerusa.net/2019/01/28/february-reflection-fr-joseph-laramie-human-trafficking/

Tại Việt Nam, nạn bắt cóc trẻ em, buôn bán phụ nữ, lao động nô lệ ở nước ngoài là một vấn nạn rất lớn đối với người Việt hiện nay. Theo báo cáo tình hình buôn bán người ở Việt Nam, năm 2017, nhà chức trách xác định có 670 nạn nhân buôn người, (năm 2016 là 1128 nạn nhân) vụ buôn người, 400 đối tượng bị cáo buộc là buôn bán người. (xem: https://laodong.vn/phong-su/canh-giac-voi-nan-buon-nguoi-o-tay-nguyen-619252.ldo)

Theo báo cáo 5 năm vừa, Việt Nam là quốc gia nguồn và là quốc gia đích của đàn ông, phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của buôn bán nô lệ tình dục và cưỡng bức lao động.

Người Việt đi lao động nước ngoài theo loại tự do hoặc thông qua các công ty tuyển dụng lao động của nhà nước, tư nhân hoặc cổ phần. Tuy nhiên, một số công ty không trợ giúp được khi người Việt bị bóc lột, một số công ty khác thì thu phí quá cao khiến cho người lao động dễ bị rơi vào tình trạng buộc phải lao động trừ nợ.

Một số Người lao động ở Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Lào, Angola, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất và Nhật Bản, trở thành nạn nhân bị cưỡng bức lao động trong các ngành xây dựng, ngư nghiệp, nông nghiệp, khai thác mỏ, khai thác gỗ và công nghiệp chế tạo.

Một số lao động Việt nam trở thành nạn nhân buôn người ở Vương quốc Anh và Ailen châu Âu lục địa, Trung Đông, và trong các ngành công nghiệp hàng hải Thái Bình Dương.

Phụ nữ và trẻ em Việt Nam là nạn nhân của tình trạng buôn bán nô lệ tình dục ra nước ngoài. Nhiều người bị lừa gạt về các cơ hội lao động và sau đó bị bán cho các nhà thổ ở vùng biên giới Trung Quốc, Campuchia, Lào, và các nước châu Á khác.

Một số phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài để kết hôn theo môi giới quốc tế hoặc để làm việc trong các nhà hàng, cơ sở mát-xa, quán bar karaoke—ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Ả rập Xê út, Singapore, và Đài Loan—trở thành nô lệ giúp việc gia đình hoặc bị ép buộc làm gái mại dâm.

(trích từ : https://vn.usembassy.gov/vi/tipreport2018/,

Năm 2017, theo thống kê của Tổ chức Đường Dây Nóng Quốc Tế về Nạn buôn người cho thấy có 8.759 trường hợp buôn bán người được xác nhận, trong đó, có hơn 10.000 người trở thành nạn nhân. Số lượng này tăng 13 % so với năm 2016. Như thế, tình trạng buôn người ngày một gia tăng trên thế giới. http://humantraffickingsearch.org/human-trafficking-statistics-2017/

Chúng ta cần làm gì để ngăn chặn tệ nạn này, và có cách nào để trợ giúp các nạn nhân của nạn buôn bán người. Đây là một thực tại bi thảm đối với thời đại này. Chúng ta không thể làm ngơ được. Cần cầu nguyện và hành động: Xin cho mọi người biết quảng đại tiếp đón những nạn nhân của tệ nạn buôn người, cưỡng bức mại dâm và bạo lực.”

Biên dịch: Nhóm Bạn Đường Linh Thao

Chia sẽ bài viết này trên:

“Người gieo giống đi ra gieo giống” (30.1.2019 – Thứ tư, Tuần III TN)

(Mc 4, 1-20)

1 Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Một đám người rất đông tụ họp chung quanh Người, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi dưới biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ.2 Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều. Trong lúc giảng dạy, Người nói với họ:

3 “Các người nghe đây! Người gieo giống đi ra gieo giống.4 Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất.5 Có hạt rơi trên sỏi đá, chỗ không có nhiều đất; nó mọc ngay, vì đất không sâu;6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô.7 Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt và không sinh hoa kết quả.8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nó mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả: hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi, hạt thì được một trăm.”9 Rồi Người nói: “Ai có tai nghe thì nghe! “

10 Khi còn một mình Đức Giê-su, những người thân cận cùng với Nhóm Mười Hai mới hỏi Người về các dụ ngôn.11 Người nói với các ông: “Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em; còn với những người kia là những kẻ ở ngoài, thì cái gì cũng phải dùng dụ ngôn,12 để họ có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ.”

13 Người còn nói với các ông: “Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn?14 Người gieo giống đây là người gieo lời.15 Những kẻ ở bên vệ đường, nơi lời đã gieo xuống, là những kẻ vừa nghe thì Xa-tan liền đến cất lời đã gieo nơi họ.16 Còn những kẻ được gieo trên sỏi đá là những kẻ khi nghe lời thì liền vui vẻ đón nhận,17 nhưng họ không đâm rễ mà là những kẻ nông nổi nhất thời; sau đó, khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì lời, họ vấp ngã ngay.18 Những kẻ khác là những kẻ được gieo vào bụi gai: đó là những kẻ đã nghe lời,19 nhưng những nỗi lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác xâm chiếm lòng họ, bóp nghẹt lời khiến lời không sinh hoa kết quả gì.20 Còn những người khác nữa là những người được gieo vào đất tốt: đó là những người nghe lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả, kẻ thì ba mươi, kẻ thì sáu mươi, kẻ thì một trăm.”

***

Lời Chúa trong Thánh Lễ hôm nay nói về hạt giống Lời Chúa được gieo cách quảng đại trong lòng chúng ta, trong gia đình, trong cộng đoàn của chúng ta, và trong cuộc sống của chúng ta.

Xin Chúa, bằng Lời của Người, vun xới, chăm sóc, thanh tẩy, loại bỏ những ngăn trở có nơi chúng ta, đó là Satan, nông nổi nhất thời, lo lắng sự đời, vinh hoa phú quí, để cho lòng chúng ta, gia đình, cộng đoàn của chúng ta, trở thành những mảnh đất tốt, đón nhận Lời Chúa và làm cho Lời Chúa sinh hoa kết quả gấp một trăm, gấp sáu mươi, gấp ba mươi.

  1. Giảng dạy bằng dụ ngôn

Trước khi lắng nghe dụ ngôn Người Gieo Giống của Đức Giê-su, chúng ta nên hình dung ra cung cách giảng dạy rất gần gũi của Ngài. Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa và Ngài đến để nói Lời Thiên Chúa cho chúng ta, nhưng, như bài Tin Mừng thuật lại, Ngài ra khỏi nhà và đến ngồi ở ven Biển Hồ; rồi người ta đến với Ngài rất đông. Đứng ở bờ hồ và có rất đông người đến với mình, thì sẽ có nguy cơ bị xô đẩy té xuống hồ. Chính vì thế, Ngài phải xuống thuyền mà ngồi[1]. Chúng ta hay nghĩ Đức Giê-su ngự trên ngai hay trên tòa; nhưng ở đây, Ngài hiện diện thật là bình dị và thật là gần gũi giữa chúng ta. Và Đức Giê-su thích hiện diện ở giữa chúng ta như thế đó: ngay trong môi trường sống của chúng ta, ngay trong cuộc sống bình thường của chúng ta, ngay trong Cộng Đoàn của chúng ta, ngay trong gia đình của chúng ta, ngay ở giữa những vấn đề cuộc sống của chúng ta, và thậm chí, ngay trong lòng của chúng ta, qua Lời của Ngài và bí tích Thánh Thể, được ban cho chúng ta hằng ngày.

Ngoài ra, Đức Giê-su còn trở nên gần gũi với chúng ta trong lời giảng dạy nữa, bởi vì Ngài dùng dụ ngôn mà giảng dạy; và chúng ta nên biết rằng kể dụ ngôn là cách thức giảng dạy đặc trưng nhất của Đức Giêsu, bởi vì theo các tác giả Tin Mừng: “Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn” (Mt 13, 34; Mc 4, 34). Và như chúng ta đều đã biết, những dụ ngôn mà Đức Giêsu kể luôn là một câu chuyện đến từ kinh nghiệm cuộc sống, chẳng hạn dụ ngôn muời cô mang đèn đi đón chàng rể, dụ ngôn những yến bạc, dụ ngôn chiên và dê, dụ ngôn người cha nhân hậu, dụ ngôn nắm men, dụ ngôn hạt cải, và nhất là dụ ngôn Hạt Giống và Người Gieo Giống. Dụ ngôn là những câu chuyện đến từ kinh nghiệm đời thường, nhưng khi được Đức Giê-su kể, lại nói cho chúng ta những điều kín ẩn: kín ẩn về Thiên Chúa, kín ẩn về con người, kín ẩn về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau, kín ẩn về chương trình cứu độ của Thiên Chúa, kín ẩn về Nước Trời.

Hơn nữa, dụ ngôn còn có một đặc điểm tuyệt vời nữa là có nhiều nghĩa, giống như một bức tranh; và vì thế, dụ ngôn rất tôn trọng ngôi vị và tự do của người nghe, như chính Đức Giê-su hay kết thúc dụ ngôn bằng câu nói: “Ai có tai thì nghe”. Người nghe có thể tự do chú ý đến bất cứ chi tiết nào, hay tự do đặt mình vào bất cứ nhân vật nào trong dụ ngôn, và tự mìmh khám phá ra ý nghĩa tùy theo kinh nghiệm sống, vấn đề và tâm trạng hiện có của mình. Đức Giêsu thích dùng dụ ngôn là vì vậy, Ngài tôn trọng ngôi vị và tự do của chúng ta, dù chúng ta là ai và đang ở trong tình trạng nào. Và đó chính là trường hợp dụ ngôn Người Gieo Giống mà chúng ta vừa nghe.

  1. Dụ ngôn đầu tiên

Đức Giêsu kể nhiều dụ ngôn, nhưng dụ ngôn Người Gieo Giống là dụ ngôn đầu tiên. Vì thế, dụ ngôn này có tầm quan trọng đặc biệt; thực vậy, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn” (Mc 4, 13). Có thể nói, đây là dụ ngôn Mẹ nói cho chúng ta về “những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa”:

  • về mầu nhiệm sáng tạo, bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi ra khỏi chính mình để sáng tạo và Thiên Chúa sáng tạo bằng Lời (St 1 và Ga 1, 3);
  • về mầu nhiệm cứu độ, bởi vì dụ ngôn nói đến tội lỗi và Sự Dữ làm cản trở Lời Thiên Chúa sinh hoa kết quả;
  • về mầu nhiệm nhập thể, bởi vì Ngôi Lời Thiên Chúa ra khỏi cung lòng Ba Ngôi Thiên Chúa đến với thế giới loài người chúng ta để ban Lời hằng sống của Thiên Chúa;
  • và về mầu nhiệm Thánh Thể và mầu nhiệm Vượt Qua, bởi vì Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời Thiên Chúa, gieo lời và gieo luôn chính mình, như tấm bánh trong bí tích Thánh Thể và như hạt lúa mì, trong cuộc Thương Khó.
  1. Dụ ngôn “Người Gieo Giống”

Có lẽ đa số chúng ta đều xuất thân từ gia đình làm nông nghiệp, nghĩa là làm vườn hay làm ruộng; hoặc chúng ta có kinh nghiệm ít nhiều về nghề này; nếu không, chúng ta cũng biết được những hoạt động này qua chương trình học phổ thông hay các phương tiện truyền thông. Đối với chúng ta, “người gieo giống ra đi gieo giống” là sự kiện quá đỗi bình thường và lập đi lập lại. Nhưng lời này, vì xuất phát từ miệng Đức Giêsu, nên diễn tả một biến cố thật lớn lao: Ngôi Lời Thiên Chúa, ra khỏi cung lòng Thiên Chúa, đi gieo Lời của mình (trong sáng tạo, trong lịch sử loài người và lịch sử cứu độ. và nhất là nơi Đức Giêsu-Kitô); và Ngài không chỉ gieo Lời của mình, mà còn gieo chính mình, gieo sự sống của mình, vì lời nói của Ngài và ngôi vị của Ngài là một. Như chính Đức Giê-su nói về cuộc Thương Khó của Ngài: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24).

Trong dụ ngôn, có bốn trường hợp: trường hợp đầu là mất trắng, vì những con chim ăn mất hạt giống; trường hợp sau khá hơn một chút: hạt giống mọc lên ngay vì đất không sâu, nhưng vì nắng gắt và thiếu rễ sâu nên bị cháy và chết khô; trường hợp thứ ba khá hơn nữa: hạt giống nẩy mầm, mọc thành cây, nhưng vì sống ở giữa bụi gai, gai cũng lớn lên và mạnh hơn nên làm cây chết ghẹt. Chúng ta hãy nhìn vào bản thân mình, vào cuộc đời mình, và tự hỏi: đâu là số phận của hạt giống Lời Chúa? Và tuy hạt giống Lời Chúa vẫn chưa sinh hoa kết quả dồi dào, những chắc chắn, cũng có những tiến bộ nào đó. Và chúng ta cũng tự hỏi: Đâu là “những chim chóc, nắng gắt, vấn đề thiếu gốc rễ và gai góc” ở nơi bản thân chúng ta, đã làm cho hạt giống không sinh hoa kết quả?

Dụ ngôn Người Gieo Giống chất vấn chúng ta, nhưng cũng mang lại cho chúng ta bình an và hi vọng. Bởi vì, trái với kinh nghiệm sống, Người Gieo Giống trong dụ ngôn của Đức Giê-su, có thể nói, gieo hạt giống quí báu của mình “tùm lum”, gieo đại trà, gieo quảng đại, gieo không phân biệt, không xét đoán. Và Lời Chúa vẫn được gieo quảng đại vào lòng chúng ta như thế hàng ngày trong Thánh Lễ.

Lời Chúa được gieo cách quảng đại vào lòng chúng ta, bởi vì Chúa tin rằng, dù sao đi chăng nữa, trong lòng chúng ta chắc chắn có phần đất tốt, hơn nữa, tự bản chất chúng ta là đất tốt, vì chúng ta được dựng nên bởi Lời Chúa và theo hình ảnh Thiên Chúa; và Chúa hi vọng rằng, có một ngày đẹp trời nào đó, Lời của Ngài sẽ rơi vào phần đất tốt này, rồi mọc lên và lớn mạnh, và sinh hoa kết quả gấp trăm, gấp sáu mươi, gấp ba mươi, nghĩa là bội thu và nhiều đến độ có thể bù lại tất cả những hạt đã mất, xét cho cùng không đáng bao nhiêu! Và đó là điểm tới tất yếu của Nước Trời.

Xin cho chính Lời Chúa làm lộ ra phần đất tốt có ở nơi lòng chúng ta, vun xới phần đất tốt này và mở rộng nó ra, để Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào cho sự sống hôm nay và mãi mãi.

* * *

Lời Chúa được ví như hạt giống trong Tin Mừng. Nhưng trong sách Ngôn Sứ Isaia (Is 55, 10-11), Lời Chúa được ví như mưa, như tuyết vốn là những điều kiện thiết yếu cho hạt giống lớn lên. Ngoài ra, để nẩy mầm, lớn lên và sinh hoa kết trái, hạt giống còn cần ánh sáng nữa. Và Chúa cũng là ánh sáng. Như vậy, Lời Chúa là tất cả: vừa hạt, vừa điều kiện thiết yếu làm cho hạt nầy mầm; bởi lẽ Lời Chúa là chính Sự Sống.

Ước ao của Thiên Chúa, điều mà Lời được sai đi thực hiện là gì? Hình ảnh mưa và tuyết nói rõ: tưới gội mặt đất, làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói của bánh ăn. Đó là những hình ảnh đẹp, thật sống động và rất gần gũi, diễn tả cho chúng ta Lời Chúa phục vụ sự sống như thế nào; bởi vì Lời Chúa là Sự Sống, hôm nay và mãi muôn đời.

Lời của ngôn sứ Isaia giúp chúng ta hiểu đúng hướng dụ ngôn Người Gieo Giống: hoa trái, và hoa trái bội thu tất yếu của Lời Chúa, bất chấp những trở ngại, thập chí bất chấp điều tưởng là thất bại. Thay vì chỉ hiểu dụ ngôn theo hướng luân lí.

Dụ ngôn cũng loan báo Mầu Nhiệm Thập Giá. Nơi Thập Giá, trở ngại lớn nhất là sự dữ, và sự dữ được để cho đi đến cùng: hủy diệt Hạt Giống, vốn cũng là Người Gieo Giống. Nhưng điều kì diệu đã xẩy ra: đó lại là con đường thần linh, nhưng cũng rất nhân linh và thiên nhiên, để cho Hạt Giống nảy mầm, lớn lên sinh hoa kết quả “gấp trăm” cho sự sống của con người, hôm nay và mãi mãi.

Đó chính là công trình của Thiên Chúa,
công trình kì diệu trước mắt chúng ta.

(Tv 118, 23)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

[1] Hình ảnh này đã có thể nói cho chúng ta mầu nhiệm Thương Khóa rồi: đám đông sẽ xổ đẩy Ngài vào sự chết, và Ngài cứ để như thế, để làm cho dụ ngôn Người Gieo Giống được hoàn tất cách trọn vẹn: Người Gieo Giống gieo chính mình, vì ngôi vị của Ngài là Hạt Giống, sẽ sinh hoa kết quả gấp trăm, khi “được gieo” vào lòng đất.

Chia sẽ bài viết này trên:

Người đã mang lấy các tật nguyền của ta…

Ngày 17 tháng 01 năm 2019
Thứ năm, tuần I Mùa Thường Niên

I. LỜI CHÚA: Mc 1, 40-45

40 Có người bị phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ xuống van xin rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.”

41 Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi! “42 Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.43 Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay,44 và bảo anh: “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.”

45 Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

1. Người mắc bệnh phong

Bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay mời gọi chúng ta hình dung ra một người mắc bệnh phong và để cho những cảm xúc tự nhiên của chúng ta xuất hiện (ghê người, không muốn nhìn hay tiếp cận, cảm giác buồn nôn…). Chắc chắn trong chúng ta, đã có người nhìn thấy và hơn nữa đi thăm hỏi những người phong ; nếu không, chúng ta có lẽ đã có lần nhìn thấy người bệnh phong trong phim ảnh, chẳng hạn bộ phim nổi tiếng Ben Hur.

Bệnh phong là một những thứ bệnh khủng khiếp nhất mà loài người chúng ta mắc phải : da thịt người mắc bệnh lở loét ; khi bị nặng, vết thương sẽ lõm vào da thịt; tình trạng mất cảm giác sẽ xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể ; sau đó các bắp thịt tiêu đi; nếu ở giai đoạn bị nặng, các ngón tay và ngón chân sẽ rụng dần. Chúng ta hãy cảm thông và cầu nguyện cho những người bệnh phong, và nếu có thể, chúng ta hãy giúp đỡ san sẻ. Bởi vì chính chúng ta là những người được nâng đỡ trước tiên khi chúng ta nghĩ tới những người cùng khổ. Thật vậy, khi liên đới với người cùng khổ, chúng ta sẽ tương đối hóa những nỗi khổ của chúng ta, chúng ta thấy nhẹ nhàng hơn, chúng ta có thể ra khỏi mình để hướng về những người bất hạnh hơn; và năng động này sẽ làm cho chúng ta tự do hơn, thanh thoát hơn, bình an hơn.

Chúng ta vừa nói đến sự đau đớn tột cùng trong thân xác ; nhưng người bệnh phong còn chịu một sự đau khổ còn lớn hơn nữa là bị cách ly khỏi môi trường sống bình thường, khỏi nhà của mình, khỏi những người thân yêu, và có khi còn bị bỏ rơi luôn, không được ai nhìn nhận nữa, như Lề Luật, trích sách Lê-vi, truyền lệnh: “Người mắc bệnh phong phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại” (Lv 13, 46). Như thế, người bị bệnh vừa đau khổ trong thân xác và vừa đau khổ về tinh thần, vì thiếu tình thương và sự liên đới.

Vẫn chưa hết, theo quan niệm của Do thái giáo, bệnh phong hủi là hình phạt tiêu biểu nhất của Thiên Chúa đối với người có tội, như sách Lê-vi nói: “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: Ô uế! Ô uế!” (Lv 13, 45) Tội vô hình có trong tâm hồn, Chúa cho nó hiện hình ra bên ngoài và nó xấu xa ghê tởm như là bệnh cùi.

Theo quan niệm này, chúng ta có thể giả sử rằng, nếu tất cả mọi tội chúng ta đã phạm trong thầm kín mà lộ ra bên ngoài khiến người ta nhìn thấy được, có lẽ chúng ta cũng không khác người phong cùi bao nhiêu, và có khi còn ghê hơn! Và điều này hoàn toàn đúng, vì hậu quả của tội nằm ngay trong hành vi phạm tội, không cần phải Chúa phạt; tội, dù bé dù to, luôn để lại dấu vết nhơ uế trong tâm hồn, và làm đổ vỡ ngay trong lòng chúng ta các mối tương quan: với chính tôi, với người khác, với cộng đồng và với chính Chúa. Vì thế chúng ta cũng là những người mắc bệnh phong đầy người, nhưng vô hình.

 2. Đức Giê-su chạnh lòng thương

Như vậy, nỗi đau của người bị bệnh có tới ba chiều kích: đau khổ trong thân xác, đau khổ trong tinh thần, và đau khổ vì cảm thức bị Thiên Chúa trừng phạt, và nhiều khi vì những tội gì cũng chẳng rõ hay vì những những tội chẳng đáng bị phạt như thế. Thật ra, chúng ta cũng đã từng có kinh nghiệm tương tự : khi chúng ta bị đau, chúng ta rất nhạy cảm với sự hiện diện chăm sóc và yêu thương của người thân, và vì người thân không thể lúc nào cũng ở bên cạnh và chăm sóc chúng ta, chúng ta thường có cảm thức bị bỏ rơi, bị quên lãng, nhưng thực ra không phải như vậy ; hơn nữa, chúng ta còn có thể tự hỏi : Tại sao tôi lại ra nông nỗi này? Đây có phải là một hình phạt của Chúa không ? Tôi đã làm gì để bị như thế này?

Tuy nhiên, Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta ngừng đặt câu hỏi: tại sao lại bệnh tật, tại sao lại đủ mọi khổ đau, phải chăng là hình phạt? Bởi vì, càng đặt câu hỏi, chúng ta sẽ càng bị dồn vào ngõ bí và tự làm khổ mình. Nhưng Lời Chúa mời gọi chúng ta thả mình vào tình thương và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Ki-tô. Thật vậy, Ngài chạnh lòng thương người bệnh phong và chữa anh lành bệnh, một cách vô điều kiện; anh chỉ cần bày tỏ lòng ước ao thôi:

Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch. (c. 40)

Phép lạ chữa bệnh này mang lại cho chúng ta niềm hi vọng thật bao la cho loài người và từng người tật nguyền chúng ta. Thật vậy, trước khi nói lời chữa lành: “Tôi muốn, anh hãy được sạch”, Đức Giê-su đã chạnh lòng thương và giơ tay đụng vào anh. Thế mà, đụng vào người cùi, theo luật là bị ô uế cả trong thân xác lẫn tâm hồn.

Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!” (c. 41)

 3. “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta…”

Đức Giê-su làm cho một người bị bệnh phong được lành sạch. Đó quả là một phép lạ đáng lưu ý và ước ao; ngày nay Chúa và Đức Mẹ vẫn còn thực hiện những phép lạ như thế cho những con người khổ đau. Và ngày nay có nhiều người vẫn còn muốn tiếp tục sứ mạng này của Chúa, nghĩa là chữa bệnh bằng cách đặt tay, lí do là vì, như những người này trả lời, Đức Giêsu đã làm như thế và cũng dạy các môn đệ làm nữa![1]

Tuy nhiên, dường như đó không phải sứ mạng chính yếu của Đức Giê-su, mặc dù Ngài rất quan tâm đến sức khỏe thể lí của những người Ngài gặp. Bởi vì, trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài không cho người được Ngài chữa lành nói với ai cả; và nhất là bởi vì, Ngài đã không chữa lành tất cả những người bị bệnh phong vào thời của Ngài. Vào thời của Ngài vẫn còn rất nhiều người bệnh; sau thời của Ngài và cho đến hôm nay vẫn còn rất nhiều người bệnh. Có thể nói, sau khi Đức Giêsu đến, những vấn đề của thân phận con người vẫn còn nguyên: vẫn sinh, vẫn lão, vẫn bệnh và vẫn tử! Vậy thì Chúa đến với thế giới loài người của chúng ta để làm gì?

Chiêm ngắm cách Đức Giê-su chữa lành người bệnh phong sẽ giúp chúng ta khám phá ra sứ mạng của Ngài. Thật vậy, trước khi nói lời chữa lành: “Tôi muốn, anh hãy được sạch”, Đức Giê-su đã chạnh lòng thương và giơ tay đụng vào anh. Thế mà, đụng vào người cùi, theo luật là bị ô uế cả trong thân xác lẫn tâm hồn.

Như thế, sứ mạng của Đức Giê-su chính là bày tỏ sự cảm thông và tình thương của Thiên Chúa đối với loài người đau khổ của chúng ta, với nỗi đau khổ của mỗi người chúng ta, nhưng không phải bằng cách lấy đi đau khổ, nhưng là mang vào mình đau khổ của con người (x. Mt 8, 7 và Rm 8, 3 ; 2Cr 5, 21 ; Gl 3, 12). Trước khi đáp lời loài người đau khổ, Thiên Chúa, nơi Đức Giê-su, nhận lấy đau khổ của con người làm của mình. Mầu nhiệm Nhập Thê là như thế, Con Thiên Chúa mang lấy thân phận con người, một thân phận ở mức độ thấp nhất, cùng khổ nhất, cùng tận nhất về mọi phương diện.

Đức Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể, thay vì chữa lành mọi bệnh tật của cả loài người, Ngài lại mang hết vào mình và đưa lên Thập Giá, như lời ngôn sứ Isaia đã nói: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8, 17). Trên Thập Giá, Con Thiên Chúa để cho mình bị hành hạ, thân thể của Ngài bị nát tan còn hơn cả người mắc bệnh phong. Nhưng ở nơi Ngài, đau khổ và sự chết không phải là dấu chấm hết, thân phận con người không phải đường cùng, nhưng là con đường dẫn đến sự sống mới.

Như thế, điều mà Đức Giê-su muốn chữa lành không phải là đau khổ và sự chết, nhưng là sự sợ hãi đau khổ và sự chết. Theo thư Do Thái, Ma Quỉ đã dựa vào sự sợ hãi này, mà làm cho con người sống trong tình trạng nô lệ (x. Dt 2, 15), ghen tị, nổi loạn, bạo lực, dò xét và thử thách Thiên Chúa, như Dân Chúa trong sa mạc (x. Dt 3, 8).

*  *  *

Chính khi Đức Giê-su mang thương tích và bị loại trừ trên Thập Giá, là lúc tình yêu Thiên Chúa trở nên rạng người nhất, và cũng là lúc Ngài được tôn vinh, được nhận biết, được hiển linh.

Và bài Tin Mừng hôm nay đã loan báo trước vinh quang lớn lao này của Đức Giê-su rồi. Thật vậy, chính khi “Ngài phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành”, nghĩa là bị loại trừ, lại là lúc, “dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người”, nghĩa là Ngài được tôn vinh và được nhận biết.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

[1] Nếu lòng tin của chúng ta chỉ dựa vào phép lạ, thì: (1) Thiên Chúa chỉ hiện diện trong những điều lạ thường; vậy, còn những điều bình thường, là phần lớn cuộc đời chúng ta, thì sao? Thân phận con người có là ơn huệ Thiên Chúa không? Có diễn tả sự hiện diện của Thiên Chúa và có là đường đi dẫn đến với Người hay không? (2) Điều này sẽ hàm chứa thái độ không chấp nhận thân phận con người và không liên đới với thận phận của người khác. (3) Ma quỉ sẽ lợi dụng để khơi dậy lòng ham muốn không cùng những điều lạ, như đã làm trong Sáng Tạo (x. St 3) và trong Lịch Sử Cứu Độ (x. Ds 21, 4-9): có điều lạ thì tin, không có thì nghi ngờ và kêu trách; ngoài ra, còn có những người đã ngụy tạo ra điều lạ để lừa dối mình và lừa dối nhau!

Chia sẽ bài viết này trên:

Hãy Đối Xử Tốt Với Nhau

Ước mong mỗi một người trong các mối quan hệ của chúng ta – những người tốt, người xấu và những người khó khăn – đều cảm nhận được lòng thương xót của Chúa!

Năm 1947, Corrie ten Boom, một người Hà Lan sống sót trong trại tập trung của Đức Quốc xã ở Ravensbrück, Đức, đã nói chuyện tại một nhà thờ ở Munich về sự tha thứ và lòng thương xót.

Sau khi cô nói, một cựu cai ngục từ trại đã đến với cô, đưa tay ra và xin cô tha thứ cho anh. Anh không nhớ cô, nhưng cô nhớ anh một cách rõ ràng, cùng với tất cả những sự tàn nhẫn mà anh đã đến trút xuống trên cô và các bạn tù của cô.

“Không thể có nhiều giây để anh ta đứng đó, đưa tay ra”, Ten Boom sau đó nhớ lại. “Nhưng đối với tôi, dường như hàng giờ khi tôi vật lộn với điều khó khăn nhất tôi từng phải làm. Và một cách cứng cỏi, một cách máy móc, tôi đặt mạnh tay tôi vào trong tay người đang chìa tay ra cho tôi. Và khi tôi làm điều đó, một điều đáng kinh ngạc (không thể tin được) đã diễn ra. Dòng điện bắt đầu trên vai tôi, chạy xuống cánh tay tôi, rồi truyền vào bàn tay đang đặt trên nhau của chúng tôi.

Ten Boom tiếp tục kể: “Sau đó, hơi ấm chữa lành này dường như tràn ngập toàn bộ con người tôi, khiến tôi rơi nước mắt. ‘Anh ơi! Em tha lỗi cho anh”. Tôi đã khóc. ‘Với tất cả trái tim của tôi!’ Suốt trong một thời gian dài, chúng tôi đã nắm chặt tay nhau, anh ta – người cựu cai ngục và tôi – cựu tù nhân. Tôi chưa bao giờ biết tình yêu của Thiên Chúa lại quá mãnh liệt như lúc đó (khi tôi nói lời tha thứ cho anh ta).

Một Người Anh Em Mà Tôi Đã Tha Thứ (Ân Xá). Vào ngày 13 tháng 5 năm 1981, khi đang đứng trong một chiếc ô tô mui trần di chuyển chậm chạp qua đám đông của Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bị Mehmet Ali Agca bắn bốn phát. Đức Giáo Hoàng bị hai viên đạn xuyên qua ngực và ngài phải trải qua gần sáu giờ phẫu thuật và được truyền sáu đơn vị máu trước khi các bác sĩ có thể nói với bất kỳ sự tự tin nào rằng ngài sẽ hồi phục.

Trong xe cứu thương trên đường đến bệnh viện, Đức Thánh Cha nói với các trợ tá của ngài rằng ngài đã tha thứ cho bất cứ ai là kẻ tấn công ngài. Bốn ngày sau, Đức Thánh Cha đã công khai sự tha thứ đó thông qua người phát ngôn. Và rồi, hai năm sau đó, Đức Thánh Cha đã táo bạo đến gặp Agca trong phòng giam của anh ta.

“Tôi đã nói chuyện với một người anh em mà tôi đã ân xá và là người hoàn toàn tin tưởng tôi”, Đức Thánh Cha nói với các phóng viên sau khi dành hai mươi phút để nói chuyện nhẹ nhàng với người đàn ông đã sát hại ngài. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã can thiệp để Agca được chính phủ Ý ân xá và trục xuất về Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2000 – trong Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Tôi Có Thể Tha Thứ Không? Những câu chuyện cá nhân của chúng ta có thể không kịch tính như những câu chuyện này, nhưng tất cả chúng ta đều phải đối mặt với câu hỏi: “Tôi có sẵn lòng tha thứ cho những người làm tổn thương tôi không?” Đức Giáo hoàng Phanxicô thường xuyên mời gọi chúng ta thương xót những người đã làm tổn thương chúng ta. Vì vậy, chúng ta hãy nhìn vào các mối quan hệ của chúng ta. Hãy tận dụng những ân sủng mà Thiên Chúa dành cho chúng ta và cố gắng trở nên nhân từ như Cha trên trời của chúng ta là Đấng giàu lòng thương xót (x. Lc 6,36).

Viết cho các tín hữu ở Êphêsô, Thánh Phaolô nói: “Phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Chúa Kitô… Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Người yêu thương và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 4,32-5, 2).

Điều này nghe có vẻ như không có gì hơn những lời khích lệ, nhưng đoạn văn này chứa đựng một số chân lý tràn đầy ân sủng có thể giúp chúng ta trở nên những người biết tha thứ hơn. Chúng ta hãy xem xét những chân lý ấy.

Thứ nhất: Chúa yêu thương chúng ta. “Hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta” (Ep 5,2) Chúng ta có thể nhận ra tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta trong sự hùng vĩ và vẻ đẹp của thế giới đã được tạo dựng nên. Sự kiện Thiên Chúa Chúa thực hiện những chi tiết rất phức tạp trong việc thiết kế ngôi nhà chung của chúng ta cho chúng ta biết rằng Người yêu chúng ta nhiều biết chừng nào. Điều tương tự cũng xảy ra đối với cách cơ thể của chúng ta hoạt động. Rất nhiều điều xảy ra ở cấp độ vi mô và tất cả đều xảy ra với sự thống nhất và chính xác như vậy mà không cần chúng ta phải làm bất cứ điều gì về nó!

Thật đáng kinh ngạc như những dấu hiệu của tình yêu Thiên Chúa, Phaolô đang nói về một tình yêu cá nhân, thậm chí còn dịu dàng hơn. Ngài đang nói về tình yêu mà Người Cha dành cho con cái của mình. Ngài đang nói về một tình yêu cứu chuộc và hòa giải.

Cha trên trời của bạn rất yêu thương bạn. Thật vậy, Người yêu thương tất cả mọi người với cùng một mức độ, ngay cả những người đã làm tổn thương bạn. Đó là lý do tại sao Phaolô mời gọi chúng ta “hãy sống trong tình bác ái” (Ep 5, 2). Đó là cách chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh để tha thứ và không bị ràng buộc bởi sự oán giận hoặc không tha thứ. Do đó, bạn hãy cố gắng hết sức để mở lòng mình ra với tình yêu dịu dàng của Thiên Chúa và tình yêu cá nhân.

Thứ haiChúa Giêsu Chết vì Chúng Ta. Chúa Giêsu “vì chúng ta đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm lễ dâng cho Thiên Chúa” (Ep 5,2). Trước đó trong lá thư của mình, Phaolô đã viết rằng: Trước khi Chúa Giêsu đến, thì tất cả chúng ta “đã chết” trong “sự sa ngã và tội lỗi” của chúng ta (Ep 2,1). Tất cả chúng ta đều chống lại Thiên Chúa và rất cần sự cứu rỗi.

Và ơn cứu độ chính xác là những gì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Người đã sai Con của mình, Chúa Giêsu, từ bỏ cuộc sống của mình để chúng ta có thể sống. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta. “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, để … chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (Rm 6, 6). Có thể khó nắm bắt, nhưng thánh giá Chúa Chúa Giêsu đã mở cổng thiên đàng và làm cho chúng ta có thể nhận biết tình yêu của Thiên Chúa cách sâu sắc và cá vị. Chính sự hy sinh của Chúa Giêsu giúp chúng ta trở nên yêu thương, thương xót và từ bi hơn.

Bất cứ khi nào bạn phải đối diện với một tình huống khó khăn hoặc một số bất công, hãy cố gắng dán mắt bạn vào thập giá. Hãy nhìn xem Chúa Giêsu, Đấng chịu sự bất công lớn nhất trong tất cả những bất công, đã thưa với Chúa Cha rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ” (Lc23,34). Hãy xem Chúa Giêsu cũng nói như thế cho bạn: “Lạy Cha, xin tha thứ!” Thật sự sẽ luôn luôn dễ dàng hơn một chút để tha thứ khi chúng ta biết rằng mình đã được tha thứ.

Thứ ba: Một “Hương Thơm Ngào Ngạt”. Cái chết của Chúa Giêsu là một “hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5,2). Tất cả chúng ta biết rằng thật ngọt ngào thế nào khi ai đó mở lòng để sống tử tế hoặc quảng đại với chúng ta. Đó là cách mà Thiên Chúa nhìn nhận hy lễ của Chúa Giêsu – như một “hương thơm ngào ngạt” đã mang lại cho Người niềm vui lớn lao.

Theo thánh Phaolô, chúng ta có thể là “hương thơm của Chúa Kitô” làm vui lòng Thiên Chúa (2 Cr 2,15). Điều này xảy ra mỗi khi chúng ta tuân theo các mệnh lệnh của Chúa, đặc biệt là khi chúng ta phải gạt bỏ những mong muốn và ước muốn của riêng mình hoặc hy sinh một cái gì đó để thực hiện mệnh lệnh của Người. Không nơi nào có hương thơm ngào ngạt này làm hài lòng Thiên Chúa hơn là khi chúng ta quyết định tha thứ.

Vì vậy, khi Thiên Chúa yêu cầu bạn tha thứ cho ai đó, hãy để tình yêu của Thiên Chúa và lễ hy sinh của Chúa Giêsu làm dịu trái tim bạn và nói với bạn rằng trái tim nhân hậu của bạn là một mùi hương thơm ngào ngạt sẽ làm ấm áp trái tim của Chúa.

Một Tư Duy Mới. Bây giờ, bạn hãy dành một chút thời gian và đọc câu chuyện dụ ngôn của Chúa Giêsu về một người đầy tớ không biết thương xót (x. Mt 18,21-35). Hãy để thông điệp chìm ngập vào trái tim bạn. Người đầy tớ trong câu chuyện này không thể nắm bắt được những chân lý mà Phaolô giải thích cho các tín hữu Êphêsô. Tất nhiên, người đầy tớ ấy đã rất vui mừng khi nhà vua đã tha bổng món nợ kếch xù của anh. Nhưng sự hào phóng của vua đã không ảnh hưởng đủ sâu sắc đến anh để khiến anh trở nên nhân từ. Vì thế, anh đã sống theo tiêu nước đôi, không sẵn lòng đối xử với người khác theo cách mà anh đã được đối xử.

Chúng ta đối diện với thử thách tương tự khi ai đó làm tổn thương chúng ta -cùng một thử thách mà Corrie Ten Boom và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phải đối diện. Tôi sẽ đáp lại bằng lòng tốt, từ bi và tha thứ chứ? Tôi sẽ để điều này trở thành một cách sống cho tôi? Đây là kiểu tư duy mà Phaolô muốn người Êphêsô đón nhận và đó cũng là chính cách suy nghĩ mà Thiên Chúa muốn dành cho chúng ta.

Hãy Cầu Xin Cho Có Những Đột Phá. Hãy bước trở lại và chậm lại một chút. Hãy tìm kiếm Chúa và hãy cảm nghiệm lòng thương xót và tình yêu của Chúa. Hãy suy nghĩ về cách bạn đang sống và hãy thực hiện bất kỳ sự điều chỉnh nào bạn nghĩ là cần thiết. Để giúp bạn, chúng tôi muốn đề xuất ba câu hỏi mà bạn có thể suy nghĩ.

  • Bắt đầu ngày hôm nay, tôi có thể từ bi và nhân hậu hơn như thế nào?
  • Có ai trong cuộc đời tôi cần được tôi tha thứ trong Mùa Chay này không?
  • Tôi cần tiếp cận và cầu xin sự tha thứ của ai đó trong đời tôi không?

Chúng ta hãy cầu cho có những sự đột phá trong các mối quan hệ của chúng ta. Chúng ta hãy để cho Chúa Giêsu phá bỏ những bức tường ngăn cách chúng ta để chúng ta có thể thương xót hơn, như Chúa là Đấng xót thương. Ước mong mỗi một người trong các mối quan hệ của chúng ta – những người tốt, người xấu và những người khó khăn – đều cảm nhận được lòng thương xót của Chúa!

 Theo The Word Among Us
Personal Spirituality Resources
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Chia sẽ bài viết này trên:

“Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy”

Ngày 16 tháng 01 năm 2019 – Thứ tư, tuần I Mùa Thường Niên

I. LỜI CHÚA: Mc 1, 29-39

29 Vừa ra khỏi hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo.30 Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người biết tình trạng của bà.31 Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.

32 Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người.33 Cả thành xúm lại trước cửa.34 Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.

35 Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.36 Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm.37 Khi gặp Người, các ông thưa: “Mọi người đang tìm Thầy đấy! “38 Người bảo các ông: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.”39 Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

II. SUY NIỆM

1. Từ hội đường đến nhà ông Phêrô

Rời khỏi hội đường của người Do-thái, Đức Giêsu đi thẳng tới căn nhà của ông Simon Phêrô. Chúng ta hãy hình dung và chiêm ngắm hành trình mang đầy ý nghĩa này của Đức Giê-su:

  • Đó là hành trình từ Cựu Ước sang Tân Ước; từ Israen sang Dân Mới của Đức Chúa, là Giáo Hội; và với hành trình này, Đức Giê-su làm cho lịch sử cứu độ được hoàn tất, nghĩa là đạt tới sự sống mới và sáng tạo mới, ngang qua và bất chấp bệnh tật, tai họa, những thăng trầm, tội lỗi, sự dữ và cuối cùng là chính sự chết.
  • Hành trình này của Đức Giê-su còn diễn tả hành trình từ nơi phượng tự sang ngôi nhà của đời sống bình thường, ở đó diễn ra mọi vấn đề của cuộc sống, của thân phận con người, sinh lão bệnh tử; và chính nơi ở đây, niềm tin và ơn gọi của mỗi người được thử thách và qua đó lớn lên, trở nên đích thực, trở nên kinh nghiệm thực sự.
  • Ngoài ra, hành trình này còn diễn cách Đức Giê-su gặp gỡ, “mang lấy” và “chia phần” với từng người chúng ta. Nghĩa là, Người không chỉ đi vào tương quan với chúng ta nơi phượng tự hay công cộng, nhưng còn muốn gặp gỡ chúng ta nơi riêng tư nhất, nơi tất cả những gì làm nên con người của chúng ta : nơi ở, gia đình và những người thân yêu của chúng ta.

Trong ơn gọi sống đời sống hôn nhân, cũng như trong đời sống thánh hiến, từ nhà tập đến môi trường tông đồ và sứ mạng, từ lúc tuyên khấn đến đời sống ơn gọi cụ thể, với biết bao mới lạ và thách đố. Nhưng đó lại là môi trường làm cho lòng ước ao dâng hiến và phục vụ trở nên đích thực, và làm cho chúng ta lớn lên trong ơn gọi của Hội Dòng.

Vì thế, chúng ta được mời gọi suy niệm và nhất là chiêm ngắm thật lâu những gì diễn ra trong nhà ông Simon: những gì diễn ra thật đơn sơ, nhưng mang nhiều ý nghĩa cho hành trình đi theo Đức Ki-tô của chúng ta hôm nay.

 2. Chữa lành và phục vụ

Trong nhà, có sự hiện diện của người mẹ, bà nằm đó và đang bị sốt nặng; và như bài Tin Mừng kể lại, ngay tối hôm đó, người ta lũ lượt kéo đến nhà: đó là những người bệnh, những người bị quỉ ám, những người đau khổ vì sự dữ đủ loại; và rốt cuộc cả làng kéo đến đứng trước cửa nhà.

Đó là một hình ảnh thật cụ thể diễn tả nhân loại chúng ta: nhân loại có quá nhiều người bệnh. Nhưng trong thực tế, còn có một thứ bệnh không phải thể lí, nhưng lại làm chúng ta tê liệt hơn là bệnh thể lí: chán nản, mất niềm tin, mất hướng đi, thấy cuộc sống vô nghĩa, bi quan về mình, về hoàn cảnh, về người khác, bị hiểu lầm, bỏ rơi, không được lắng nghe hay tin tưởng… Ngoài ra, và ở một mức độ hay một nghĩa nào đó, cũng có nhiều người bị “quỉ ám”, nghĩa là bị Sự Dữ chi phối và làm chủ.

Các môn đệ nói với Đức Giê-su về bà mẹ. Điều này nói lên sự quan tâm chúng ta dành cho nhau trong thực tế và trong lời nguyện, và đó chính là nét thiết yếu làm nên Dân Mới do Đức Giê-su qui tụ. Đức Giêsu đi đến bên bà, cầm tay bà và giúp bà ngồi dậy. Ở đây, chúng ta còn được mời gọi cảm nhận sự thân mật trìu mến. Ơn chữa lành đến từ cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Đức Giê-su và người bệnh. Hình ảnh này còn nói đến ơn phục sinh, nói đến tình yêu, lòng thương xót, lời hằng sống và chính Mình và Máu Ngài làm chúng ta đứng dậy tiếp tục đi, tìm lại hướng đi, ý nghĩa, lòng ước ao phục vụ, ơn gọi. Đó thực là sự sống mới, hình bóng của ơn tái sinh.

Cơn sốt biến mất và bà bắt đầu phục vụ họ, nghĩa là Đức Giêsu và cả nhà. Bà khỏi bệnh và lấy lại sức sống, không chỉ là sức sống thể lý, nhưng là sức sống mới, sự sống mới, vì sự sống này hướng tới việc phục vụ quên mình. Kinh nghiệm của bà cũng phải là kinh nghiệm của chúng ta, của mọi Kitô hữu.

 3. Rao giảng và trừ quỉ

Chúng ta được mời gọi nhận ra sự tự do của Đức Giêsu đối với nhu cầu của chính mình và của con người: Đức Giê-su không muốn khơi ra nhu cầu và tìm cách đáp ứng (như nền kinh tế thị trường trong đó chúng ta đang sống); nhưng, Ngài chỉ khơi dậy lòng ước ao Thiên Chúa, có nơi sâu thẳm của con người.

Vì thế, trong thực tế, Ngài đã không làm hết việc, Ngài chỉ chữa nhiều người nhưng không chữa hết mọi người. Do đó, vẫn còn nhiều người nữa đang tìm Ngài, họ còn nhờ các môn đệ đi tìm dùm! Nhưng Đức Giê-su rời nơi đó để đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, và khắp miền Galilê để rao giảng và trừ quỉ (lưu ý: hoạt động chữa bệnh không được nêu ra).

Ngài dường như chỉ muốn đi lướt qua lịch sử con người, và chỉ dừng lại ở một số thân phận. Bởi vì Ngài chỉ muốn vạch ra cho chúng ta con đường phải đi, con đường dẫn đến ơn chữa lành triệt để và đích thực, đó là ơn chữa lành bởi Thập Gia, như thư Do Thái mặc khải cho chúng ta:

Như vậy, nhờ cái chết của Người, Người đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ. (Dt 2, 14-15)

*  *  *

Ơn này sẽ dành cho mọi người thuộc mọi thời và mọi nơi. Và Ngài vẫn cần chúng ta nói cho con người hôm nay về Ngài, và ơn chữa lành triệt để của Ngài, và cách nào đó, chúng ta cũng cần nói cho Ngài về con người hôm nay, như các môn đệ đã làm trong “nhà ông Phêrô”.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

VỊ VUA THỨ TƯ

Ngày lễ Ba Vua , Phúc âm chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư.

Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài.

Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế những dọc đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết.

Người thứ nhất mà ông đã gặp là một cụ già rét run vì lạnh. Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất.

Ði thêm một đoạn đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng để chuộc lại cô gái.

Cuối cùng khi tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát các hài nhi trong một ngôi làng lân cận.

Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác.

Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình.

Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người cần giúp đỡ.

Lạy Chúa Hài Đồng, quà tặng mà Chúa yêu thích nhất chính là lòng quảng đại của chúng con dành cho tha nhân.

Xin Chúa dạy con luôn mở rộng tâm hồn để cảm thông, mở rộng trái tim để yêu thương, và mở rộng đôi tay để ban phát.

Xin cho con luôn ý thức rằng, nếu con càng quảng đại với anh em thì con càng trở nên giống Chúa nhiều hơn. Amen!

Sưu tầm

Chia sẽ bài viết này trên:

« Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa » (05.01.2019 – Thứ Bảy, trước Lễ Chúa Hiển Linh)

(Ga 1, 43-51)

43 Hôm sau, Đức Giê-su quyết định đi tới miền Ga-li-lê. Người gặp ông Phi-líp-phê và nói: “Anh hãy theo tôi.”44 Ông Phi-líp-phê là người Bết-xai-đa, cùng quê với các ông An-rê và Phê-rô.

45 Ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói: “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.”46 Ông Na-tha-na-en liền bảo: “Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được? ” Ông Phi-líp-phê trả lời: “Cứ đến mà xem! “

47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: “Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.”48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người: “Làm sao Ngài lại biết tôi? ” Đức Giê-su trả lời: “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.”49 Ông Na-tha-na-en nói: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en! “50 Đức Giê-su đáp: “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.”

51 Người lại nói: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

 1- Nghe nói và đích thân gặp gỡ

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gioan, chúng ta vừa được nghe công bố, kể lại hành trình ơn gọi của ông Nathanael, mà truyền thống Giáo Hội gọi là tông đồ Barthôlômêô. Hành trình này diễn ra theo hai bước:

  • Bước thứ nhất, ông được người bạn là Philiphê nói cho nghe về Đức Giê-su.
  • Bước thứ hai, ông đích thân đến gặp Đức Giê-su.

Nghe nói về Đức Giêsu và sau đó đích thân gặp gỡ Ngài, đó chính là hai yếu tố làm nên kinh nghiệm thiêng liêng căn bản trong đời sống ơn gọi Ki-tô hữu và nhất là ơn gọi dâng hiến. Ở những bước đầu của hành trình đức tin và của ơn gọi, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm “hai bước” này, dĩ nhiên với những đặc điểm riêng của từng người. Cách riêng trong ơn gọi thánh hiến, chúng ta đã thực hiện, hay đúng hơn đã được ban cho kinh nghiệm “hai bước” này ở Nhà Tập, một cách sâu đậm nhất và nền tảng nhất.

Tuy nhiên kinh nghiệm căn bản này phải được duy trì, được bắt đầu lại, được làm mới lạ hầu như hàng ngày, hay ít nhất là hàng năm trong tuần tĩnh tâm.

Nếu chúng ta để ý, kinh nghiệm hai bước này xẩy ra ít nhất hai lần một ngày trong các tuần tĩnh tâm: đó là khi chúng ta nghe gợi ý cầu nguyện và sau đó đi cầu nguyện. Và kinh nghiệm gặp gỡ Đức Kitô trong cầu nguyện phải được kéo dài suốt ngày hoặc ít nhất là phải tác động lên ngày sống của chúng ta. Ít nhất hai lần, vì trong thực tế có thể nhiều hơn: những lời chia sẻ của anh em hay chị em, hay một cách kín đáo hơn, cách sống, cách phục vụ, cách cầu nguyện, cách hiện diện của anh hay chị em cũng có thể là những lời “giới thiệu Đức Kitô” rất đánh động đối với chúng ta.

2- “Hãy đến và anh sẽ thấy”

Chúng ta hãy trở lại cuộc đối thoại giữa Philiphê và Nathanaen. Ông Philipphê đi tìm gặp ông Nathanaen và nói :

Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp : đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.

(c. 45)

Nhưng Nathanaen không được đánh động và cũng chẳng bị thuyết phục , ông trả lời:

Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được ?

(c. 46)

Qua hai lời đối đáp rất ngắn này, chúng ta có rút ra những kết luận rất thực tế và cũng rất quan trọng:

  • Chứng nhân thì chắc chắn về điều mình nói ; đó là điều kiện thiết yếu của lời chứng.
  • Nhưng lời chứng của chứng nhân lại không đủ mạnh để thuyết phục nguời khác!

Đó là bởi vì kinh nghiệm của chứng nhân luôn luôn mạnh hơn và lớn hơn những dẫn chứng mà người này đưa ra. Chẳng hạn, lời chứng về việc ăn soài không thể nào diễn tả hết được chính kinh nghiệm ăn soài. Chính vì thế, Philipphê nói với Nathanaen : « Hãy đến và xem ». Lời chứng chỉ hiệu quả khi nó thúc đẩy người nghe, không phải cúi mình trước những dẫn chứng, nhưng là đến lượt mình, đích thân thực hiện một kinh nghiệm. Bởi vì, chân lí, nhất là chân lí nhân linh và thần linh (khác với chân lí vật lí) không có bằng chứng nào khác, ngoài chính mình.

Điều này làm chúng ta bình an hơn trong sứ mạng làm chứng cho Đức Kitô ngang qua những công việc nhỏ bé của chúng ta. Đích thân từng người được mời đến gặp gỡ Đức Kitô và đích thân Đức Kitô đến gặp gỡ từng người như Ngài đã làm đối với Nathanaen. Chúng ta chỉ có thể làm chứng và mời gọi, bằng chính cuộc đời dâng hiến của chúng ta cho Đức Kitô và cho sứ mạng của Ngài.

 3- « Thầy là Con Thiên Chúa »

Khi đi đến, gặp gỡ và đối thoại với Đức Giê-su, « con ông Giu-se », tông đồ Nathanaen đã tuyên xưng : « Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa » ! Điều gì đã dẫn tông đồ Nathanaen đến lời tuyên xưng đức tin ?

a. « Tôi đã thấy anh… »

Bởi vì, khi Nathanaen đến gặp Đức Giê-su, ông nhận ra rằng, Người đã « biết » và đã « thấy » anh trước khi anh đến gặp Người. Sau khi đã gặp gỡ và trao ban lòng tin, người phụ nữ Samari cũng có cùng một kinh nghiệm : « Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm » (Ga 4, 29). Tác giả Thánh Vịnh cũng nói về cùng một kinh nghiệm được Thiên Chúa thấu suốt:

Lạy CHÚA, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.
Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
thì lạy CHÚA, Ngài đã am tường hết.

(Tv 139, 1-4)

Người « thấu suốt » anh, và Người cũng thấu suốt từng Người chúng ta, bởi vì mỗi người chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Người, được tạo dựng bởi Người và cho Người : « Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành » (Ga 1, 3). Người thấu suốt chúng ta không phải để lên án, nhưng để bao bọc, chữa lành và tái sinh chúng ta cho sự sống của Thiên Chúa, như lời Thánh Vịnh diễn tả :

Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con
.

(Tv 139, 5)

b. « Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới… »

Tuy nhiên, Nathanaen cũng như tất cả chúng ta còn được mời gọi hiểu biết ngôi vị Đức Giê-su ở tầm mức lịch sử cứu độ, và ngang qua lịch sử độ, tầm mức của lịch sử loài người và của toàn thể tạo vật, như lời của Đức Giê-su gợi ra cho Nathanaen: “Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” Bởi lẽ, Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới.

Thật vậy, sau này, chính Đức Ki-tô phục sinh sẽ giải thích cho hai môn đệ Emmau về sự tương hợp giữa mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài và Sách Thánh, nghĩa là Luật và các ngôn sứ (x. Lc 24, 11-35). Sự tương hợp này không chỉ đem lại cho hai môn đệ một sự hiểu biết, nhưng, qua đó, còn tạo ra nơi tâm hồn các ông một kinh nghiệm, kinh nghiệm “con tim bừng cháy”. Như thế, việc hiểu Sách Thánh được hoàn tất nơi Đức Giêsu đã phải đi ngang qua chốn sâu thẳm của tâm hồn, và làm cho sinh động mọi gốc rễ của tâm hồn, để có thể làm cho “con tim bừng cháy”. Vậy thì tại sao người nghe, là hai môn đệ và hôm nay đến lượt chúng ta, lại thấy mình có liên quan, thấy mình được đánh động bởi sự kiện Đức Ki-tô hoàn tất Sách Thánh cổ xưa?

Gương vâng phục của Đức Giêsu đối với Cha của Ngài có lẽ chưa đủ, vì chúng ta vẫn còn ở bên ngoài. Chúng ta thấy mình có liên quan, bởi vì sự vâng phục của Đức Giêsu đối với Chúa Cha được bày tỏ ra cho Ngài ngang qua con người. Kế hoạch của Chúa Cha được ghi khắc ở đâu, nếu không phải là trên con người, trên toàn thể một dân tộc có trước Ngài? Hẳn là kế hoạch này được viết trong một cuốn sách; nhưng nếu các trang sách biết nói, đó là bởi vì chúng qui về những cuộc đời cụ thể, giống như cuộc đời cụ thể của chúng ta, và Thiên Chúa đã dùng những cuộc đời cụ thể này để ghi khắc trên đó kế hoạch Ngài thiết lập cho Đức Kitô của Ngài.

*  *  *

Và, vì lịch sử dân tộc này giống như lịch sử cuộc đời chúng ta, đầy thăng trầm, tội lỗi và bị chi phối nặng nề bởi sự dữ, con tim chúng ta có thể “bừng cháy” khi chúng ta nhận ra nơi con người và cuộc đời của mình hành trình Vượt Qua của Đức Ki-tô.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

Chúng tôi đã gặp (5.1.2019 – Thứ Bảy đầu tháng)

Lời Chúa: Ga 1, 43-51

Khi ấy, Ðức Giêsu quyết định đi tới miền Galilê. Người gặp ông Philípphê và nói: “Anh hãy theo tôi”. Ông Philípphê là người Bétxaiđa, cùng quê với các ông Anrê và Phêrô. Ông Philípphê gặp ông Nathanaen và nói: “Ðấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nadarét”. Ông Nathanaen liền bảo: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” Ông Philípphê trả lời: “Cứ đến mà xem!”

Ðức Giêsu thấy ông Nathanaen tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: “Ðây đích thật là một người Ítraen, lòng dạ không có gì gian dối.” Ông Nathanaen hỏi Người: “Làm sao Ngài lại biết tôi?” Ðức Giêsu trả lời: “Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” Ông Nathanaen nói: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ítraen!”  Ðức Giêsu đáp: “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” Người lại nói: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”

Suy niệm:

Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa,

Đấng dựng nên muôn vật hữu hình cùng vô hình.

Các thụ tạo vô hình ở đây chính là chư vị thiên thần.

Chư vị này sống gần bên Thiên Chúa để phục vụ Ngài và nhân loại.

Hơn nữa, các thiên thần là những người đã phục vụ Đức Giêsu Kitô,

từ khi Ngài chào đời đến khi Ngài quang lâm.

Sứ thần Gabrien được Thiên Chúa sai đến với trinh nữ Maria

để loan báo về sự hạ sinh của Đấng Cứu Độ (Lc 1, 26).

Ta nghe tiếng ngợi khen của muôn vàn thiên binh cùng với sứ thần

trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh trên trái đất (Lc 2, 13).

Ta cũng thấy các thiên thần hiện ra để phục vụ Đức Giêsu (Mt 4, 11),

sau khi Ngài chiến thắng những cám dỗ của quỷ dữ nơi hoang địa.

Khi Đức Giêsu bị xao xuyến trước cái chết sắp đến,

một thiên thần từ trời đã đến tăng sức cho Ngài (Lc 22, 43).

Ngài đã không tránh né cái chết

bằng cách xin Cha cấp cho mình mười hai đạo binh thiên thần (Mt 26, 53).

Tin Vui Phục sinh được loan báo bởi các thiên thần từ mộ trống (Lc 24, 6).

Vào ngày tận thế, các thiên thần của Đức Giêsu sẽ đi theo Ngài

khi Ngài trở lại trong vinh quang để phán xét cả thế giới (Mt 16, 27).

Đức Giêsu nay ngự bên hữu Thiên Chúa trên trời,

trổi vượt trên các thiên thần và được các thiên thần thờ lạy (Dt 1, 4. 6).

Câu cuối của bài Tin Mừng hôm nay

cũng nói đến tương quan giữa Đức Giêsu và các thiên thần.

Trong lần gặp gỡ với Nathanaen và các bạn của ông

Đức Giêsu đã long trọng hứa là họ sẽ thấy trời rộng mở,

và “các thiên thần lên lên xuống xuống trên Con Người” (c. 51).

Trong một giấc mộng, Giacóp đã chiêm bao thấy

“một chiếc thang dựng dưới đất, đầu thang chạm tới trời,

trên đó có các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống” (St 28, 12).

Đức Giêsu nhận mình chính là chiếc thang đó, là Đấng Trung Gian

nối đất với trời, nối Thiên Chúa với nhân loại.

Các thiên thần cũng phải qua Ngài mà đến phục vụ con người.

Các thiên thần cũng là những đấng trung gian được sai đi,

nhưng họ phải qua Đấng Trung Gian duy nhất và đích thực,

vì Đấng đó vừa trọn vẹn là người, vừa trọn vẹn là Thiên Chúa.

Lên lên xuống xuống trên thang Giêsu là việc của các thiên thần.

Lên với Thiên Chúa để dâng cho Ngài nỗi thống khổ của nhân loại.

Xuống với nhân loại để mang cho họ ân lộc và sứ điệp từ trời.

Thiên thần vừa gần với con người, vừa gần với Thiên Chúa,

vừa tựa trên đất, vừa đụng tới trời, nên kéo trời xuống đất và đưa đất lên trời.

Xin được quyền năng của Sứ thần Micae: Ai bằng Thiên Chúa.

Xin được sức mạnh của Sứ thần Gabrien: Thiên Chúa hùng dũng.

Xin được ơn lành mạnh của Sứ thần Raphaen: Thiên Chúa chữa lành.

Kitô hữu là người hạnh phúc vì biết mình được nâng đỡ chở che.

Cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng con tôn thờ,

xin giúp con quên mình hoàn toàn

để ở lại trong Chúa.

lặng lẽ và an bình

như thể hồn con đã sống trong vĩnh cửu.

Lạy Đấng thường hằng bất biến,

mong sao không gì có thể khuấy động

sự bình an của con,

hay làm cho con ra khỏi Chúa;

nhưng ước chi mỗi phút lại đưa con

tiến xa hơn vào chiều sâu của mầu nhiệm Chúa !

Xin làm cho hồn con bình an thanh thản,

xin biến hồn con thành chốn trời cao,

thành nơi cư ngụ dấu yêu của Chúa,

nơi Chúa nghỉ ngơi.

Ước chi

con không bao giờ để Chúa ở đó một mình

nhưng con luôn có mặt, với trọn cả con người,

với thái độ nhạy bén trong đức tin,

cung kính tôn thờ

và phó mình cho Chúa sáng tạo.

(Lời nguyện của Thánh Élisabeth de la Trinité)

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

Chia sẽ bài viết này trên:

Hồng Ân Cao Vời – Lễ Mẹ Thiên Chúa

Ngày đầu năm mới và cũng là ngày Quốc Tế Hòa Bình, Giáo Hội hân hoan cử hành lễ Đức Maria rất thánh, Mẹ Thiên Chúa. Cả hai sự kiện này cùng diễn ra khi Giáo Hội đang cử hành mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, Ngài là Hoàng Tử Bình An, là hòa bình đích thực của nhân loại.

Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban chính Con của Ngài sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria đã được nâng lên địa vị là Mẹ Thiên Chúa và Giáo Hội muốn đặt lễ hôm nay lên hàng đầu của năm tháng ngày giờ.

1. Tín điều Mẹ Thiên Chúa

Năm 431, có một cuộc tranh luận gay gắt đã diễn ra trong Giáo Hội Công Giáo, về tước hiệu đặc biệt của Đức Mẹ. Cuộc tranh luận đã đưa tới một công đồng chung, được tổ chức tại thành phố Êphêsô nhằm giải quyết vấn đề đặt ra.

Có hai lập trường hoàn toàn trái ngược nhau, một bên là giám mục Nestorius (Constantinople), bên kia là thánh Cyrilô (Alexanria).

Giám mục Netorius một mực cho rằng, Đức Maria nên được gọi là Christokos “người sinh ra Chúa Kitô”. Linh mục Dwight Longnecker giải thích rằng “Ngôn từ mà giám mục Netorious sử dụng, cho thấy, ông ta chủ trương rằng, Đức Giêsu Kitô có hai ngôi vị tách biệt. Vì thế, Đức Mẹ chỉ là người đã sinh ra Chúa Giê-su về mặt thể xác, nhân tính; và Mẹ nên được gọi là Christokos, tức là “Mẹ của Chúa Kitô” chứ không thể là “Mẹ Thiên Chúa”.

Đối lại với quan điểm trên, thánh Cyrilô và đa phần các giám mục đều cho rằng, Đức Maria phải được gọi là Theotokos, tức là “Mẹ Thiên Chúa”. Tín điều này khẳng định rằng Chúa Giêsu có “một ngôi vị duy nhất, gồm hai bản tính liên kết chặt chẽ với nhau (không hề tách rời nhau)”.

Đa số tuyệt đối đã đồng quan điểm rằng, Theotokos là tước hiệu xứng hạp với Đức Mẹ, và Nestorius đã bị truất phế chức giám mục Constantinople.

“Mẹ Thiên Chúa” không có nghĩa là Đức Maria hiện hữu trước Thiên Chúa hay Mẹ dựng nên Thiên Chúa, nhưng Mẹ là Đấng đã sinh ra Chúa Giêsu, Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật.

Trong mục nói về tín điều Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có đoạn viết: “Quả thế, Ðấng mà Mẹ cưu mang làm người bởi Thánh Thần, Ðấng thực sự là Con Mẹ theo xác phàm, chính là Con hằng hữu của Chúa Cha, Ngôi Hai trong Ba Ngôi chí thánh. Vì vậy, Hội Thánh tuyên xưng Ðức Maria thực sự là ‘Mẹ Thiên Chúa’ (Theotokos)(GLCG, số 495).

Truyền thống Kitô giáo Chính Thống và Byzantine ưa dùng tước hiệu này hơn bất cứ tước hiệu nào khác của Mẹ. Một bản thánh ca có từ lâu đời trong nghi thức phụng vụ của các truyền thống này, đã diễn tả một cách rất thơ văn, chân lý không đơn giản này như sau: “Đấng toàn thể vũ trụ không thể chứa đựng nổi lại được cưu mang trong cung lòng của Mẹ, ôi Mẹ là Mẹ Thiên Chúa!”

Việc Giáo hội Công Giáo quyết định tuyên xưng Mẹ là Theotokos (Mẹ Thiên Chúa), đã đánh dấu một bước ngoạt quan trọng trong dòng lịch sử Giáo hội. Tước hiệu này làm sáng tỏ hơn niềm tin của Giáo hội về Đức Giêsu Kitô, đồng thời cũng xác quyết mạnh mẽ hơn về bản chất của cuộc nhập thể của Đức Kitô. Tất cả những gì Giáo hội đã tin tưởng từ thời các thánh tông đồ, đã được long trọng xác quyết một cách chính thức trong Công đồng Êphêsô.

Hơn nữa, việc vinh danh Đức Mẹ với tước hiệu là Mẹ Thiên Chúa đã khẳng định vai trò ưu tuyển của Mẹ trong dòng lịch sử cứu độ, đồng thời cũng cho thấy rõ hơn mầu nhiệm cao cả đã diễn ra nơi cung lòng của Mẹ.

Để kỷ niệm thánh công đồng này, năm 1931, Đức Piô XI đã cho thiết lập lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày 11 tháng 10. Công đồng Vaticanô II đã chuyển lễ này sang ngày 01 Tháng Giêng và đổi tên thành lễ kính trọng thể Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa. (Philip Kosloski; Sr Anna Nguyễn Tuyết.op, chuyển ngữ từ: aleteia.org).

2. Tín Điều trong truyền thống Hội Thánh

a. Nền tảng Thánh Kinh.

Tín điều Mẹ Thiên Chúa được xây dựng trên nền tảng Thánh Kinh.

Tiên tri Isaia loan báo: “một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh con trai và sẽ đặt tên con trẻ là Emmanuel” (Is 7,14). Đức Maria sinh ra Đấng Emmanuel, nên Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Lời tiên tri được thực hiện khi sứ thần Gabriel báo tin cho Mẹ Maria: “Bà sẽ thụ thai, sinh con trai và sẽ đặt tên con trẻ ấy là Giêsu… Vì thế Con Trẻ sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” (Lc 1,31-35).

Thánh Phaolô viết: “Thiên Chúa đã sai con mình đến sinh bởi người nữ và sinh dưới chế độ luật” (Gal 4,14). Trong Tin mừng Gioan, Mẹ Maria được gọi là Mẹ Chúa Giêsu (2,1;19,26), và trong Tin mừng Luca, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa đến thăm bà Elidabet (1,43).

Các Kitô hữu thời sơ khai được các Tông Đồ hướng dẫn, luôn có một niềm tin vững chắc vào thiên chức Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria. Điều này được chứng tỏ bằng những việc tôn kính phổ quát như Kinh Tin Kính của các Tông Đồ.

b. Truyền thống Hội Thánh

Tước hiệu Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã được các giáo phụ như Thánh Cyrilô, Athanasiô, Ignatiô Antiochia, tin yêu và truyền dạy.

Công Đồng Êphêsô năm 431 tuyên tín Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.

Công Đồng Constantinople III (680-681) xác quyết rằng: Chúa Giêsu Kitô được sinh ra bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, và Đức Trinh Nữ Maria chính thức và thật sự là Mẹ Thiên Chúa theo nhân tính của Chúa Kitô.

Đức Giáo Hoàng Piô XI, đã ra thông điệp “Mediator Dei” mừng kỷ niệm 1.500 năm Công Đồng Êphêsô và công bố lễ Mẹ Thiên Chúa, mừng trong toàn thể Giáo Hội vào ngày 11 tháng 10.

Đức Piô XII, đã thiết lập Năm Thánh Mẫu vào năm 1954 và tuyên bố rằng chức Mẹ Thiên Chúa là nguồn gốc tất cả mọi ơn sủng và đặc sủng của Mẹ Maria.

Thánh Bônaventura đã nói : “Chức mẹ Thiên Chúa là một ơn vĩ đại phi thường nhất Thiên Chúa có thể ban cho loài thụ tạo. Ơn ấy Ngài đã ban cho Đức Maria”. Thánh Tôma tiến sĩ nói thêm : “Tước vị Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria cao trọng hầu như vô cùng, vì Thiên Chúa không thể cất nhắc ai lên bậc tốt lành và cao sang hơn nữa. Chức Mẹ Thiên Chúa hầu như đã tới biên giới vô cùng”.

Công Đồng Vaticanô II dành chương VIII trong Hiến Chế Lumen Gentium, nói về Mẹ Thiên Chúa. Và trong Hiến Chế về Phụng Vụ, các Nghị Phụ Công Đồng đã chuyển lễ Mẹ Thiên Chúa ngày 11 tháng 10 sang ngày 1 tháng 1 hàng năm.

Thánh Lễ thật phong phú với những lời cầu nguyện cùng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội. Cả 4 kinh nguyện Thánh Thể đều nhắc tới Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Trong kinh nguyện Thánh Thể I, linh mục chủ tế đọc : Hiệp cùng Hội Thánh, chúng con kính nhớ Đức Maria vinh hiển trọn đời đồng trinh Mẹ Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Kinh nguyện Thánh Thể II, III và IV đọc: Cùng với Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa

Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con…” là lời kinh được đọc lên hàng triệu triệu lần mỗi ngày. Danh hiệu Mẹ Chúa Trời được đọc trong phụng vụ của Giáo Hội, trong kinh nguyện riêng tư tại gia đình, trên xe, trên giường bệnh… Càng hiểu biết và yêu mến mầu nhiệm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, chúng ta càng hiểu biết và yêu mến cách trọn vẹn hơn mầu nhiệm Chúa Cứu Thế, Người Con rất yêu dấu của Đức Mẹ.

3. Nữ Vương ban sự Bình An

Giáo Hội mừng lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày đầu năm Dương lịch,cũng là ngày cầu nguyện cho hòa bình thế giới như một nhắc nhớ việc chiêm ngưỡng Mẹ là một Tạo Vật mới tinh tuyền của Thiên Chúa, một Evà mới khởi đầu một thời đại mới, một tạo dựng mới. Kỷ nguyên cứu độ đã khởi sự qua việc Chúa Giêsu nhập thể trong cung lòng Đức Mẹ sau lời xin vâng. Mẹ được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế để bắt đầu kỷ nguyên cứu độ. Nếu Evà cũ đã bất tuân để vùi lấp con người trong khổ đau và sự chết, thì Đức Mẹ với tâm tình xin vâng đã đưa Chúa Giêsu đến với nhân loại mang lại sự sống và tình yêu. Từ đây nhân loại sẽ bước đi trong ánh sáng cứu độ. Chúa Giêsu vị Vua Thái Bình, Hoàng Tử Bình An đã đi vào lòng thế giới, để thiết lập vương quốc Nước Trời qua Mẹ Maria.

Ðức Thánh Cha Phaolô VI đã viết: “Vì sự trùng hợp tốt đẹp giữa ngày 01 tháng giêng với ngày thứ tám giáp lễ Giáng Sinh mà chúng tôi đã đặt ngày đó là ngày Thế Giới Hòa Bình, mà thế giới mỗi ngày càng hưởng ứng thêm, và thành quả của hòa bình đã phát sinh trong lòng nhiều người.” (Marialis Cultus, số 5).

Chúa Giêsu được xưng tụng là Hoàng Tử Hòa Bình, đến chuộc tội nhân loại, giao hòa con người với Chúa Cha. Mẹ Maria luôn gắn bó, hợp tác, hiệp công với Con của mình nên đã trở nên Nữ Vương Hòa Bình cho toàn thế giới. Mẹ đã đóng góp cả cuộc đời mình cùng với Chúa Giêsu mà giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi.

Đức Mẹ khuyên mọi tín hữu siêng năng lần hạt và coi chuỗi kinh Mân Côi như là phương tiện hun đúc hòa bình. Ngày 13 tháng 10 năm 1917 tại Fatima, Đức Mẹ đã hiện ra để lại lời nhắn nhủ dưới hình thức của huấn lệnh là: cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt, tôn sùng trái tim Mẹ. Đây chính là lộ trình nên Thánh bao gồm ba bước tiếp theo nhau và chuỗi Mân Côi được đặt như là một nhịp cầu giữa một bờ là tội lỗi nhân loại và bờ bên kia chính là ơn thánh hóa của Thiên Chúa. Cũng như việc lần hạt chuyên cần là một phương tiện hiệu quả giúp người ta đạt được hòa bình. Chính trong ý nghĩa này, kinh Mân Côi phải được gọi là Kinh của hòa bình. Ở đâu kinh Mân Côi được cổ võ thì ở đó cũng vang lên lời cầu nguyện tha thiết: “Nữ Vương ban sự bình an, cầu cho chúng con”.

Lễ Mẹ Thiên Chúa kết thúc tuần Bát Nhật Giáng Sinh làm tỏa sáng vẻ đẹp kỳ diệu của tình yêu cứu độ. Ngôi Hai đã vâng phục nhập thể cứu rỗi nhân loại. Với tiếng xin vâng, Đức Maria làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể và làm Mẹ hết thảy những ai được tháp nhập vào thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

Ngày đầu Năm Mới, xin Mẹ ban bình an và cho chúng con thêm tuổi thêm khôn ngoan, thêm nhân đức, thêm ơn nghĩa trước mặt Thiên Chúa và mọi người.Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Chia sẽ bài viết này trên:

Ghi nhớ và suy niệm trong lòng (01.01.2019 – Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa)

Lời Chúa: Lc 2,16-21

16 Những người chăn chiên liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ. 21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.

Suy niệm:
Làm người ai cũng cần có mẹ.Mẹ là người cưu mang, sinh ra và dưỡng nuôi con cho khôn lớn.Khi Con Thiên Chúa làm người, mang lấy trọn phận người,Ngài cũng cần một người mẹ, như bao người khác.Mẹ Maria là thiếu nữ, là trinh nữ được Thiên Chúa tuyển chọn,Để thụ thai và sinh hạ Con Một Thiên Chúa.Khi Công Đồng Êphêsô (năm 431) gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa,Công Đồng không có ý dạy Đức Mẹ sinh ra Chúa Cha hay Chúa Thánh Thần.Đức Mẹ chỉ sinh ra Đức Giêsu, Mà Đức Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể,Nên Mẹ thực sự là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos).

Chắc Mẹ Ma ria không thể hiểu hết và hiểu ngay Màu nhiệm lớn lao mà Mẹ đang cưu mang trong dạ.Khi các mục đồng kể lại những điều huy hoàng họ nghe thấy ở Belem,Mẹ Maria ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong tim mình.Để đi vào mầu nhiệm cách sâu xa, cần ơn soi sáng của Chúa,Nhưng cũng cần thái độ chiêm niệm, nghiền ngẫm trong lặng thinh.

Chúng ta thường để ý đến biến cố Truyền Tin và biến cố Giáng Sinh,biến cố Ngôi Lời bắt đầu hiện hữu trong lòng mẹ và biến cố chào đời.Nhưng chúng ta không được quên chín tháng Mẹ cưu mang người Con.Con Thiên Chúa đã lớn lên từ từ trong lòng Mẹ như các thai nhi khác.Muốn sinh Đức Giêsu cho thế giới hôm nay,Chúng ta cũng cần nhiều thời gian để cưu mang Ngài trong cuộc đời ta, để Ngài trở nên đủ cứng cáp khi chào đời.Chúng ta cũng phải chấp nhận cả sự đau đớn khi sinh hạ.

Bước qua một Năm Mới, mở trang đầu của cuốn lịch mới,Chúng ta mong những điều mới mẻ tốt lành xảy đến cho mìnhVà muốn tặng cho nhau một câu chúc đầy ý nghĩa :“Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!”(Ds 6, 26).

Cầu nguyện:

Lạy Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa,xin gìn giữ nơi con quả tim của trẻ thơtinh tuyền và trong ngần như dòng suối.Xin ban cho con quả tim đơn sơ,mau quên những nỗi buồn phiền.Một quả tim hào hiệp dám hiến thân,dịu dàng để cảm thông.Một quả tim trung thành và quảng đại,không quên ơn, không báo oán.

Xin tạo cho con quả tim hiền từ và khiêm tốn,yêu mà không mong được yêu lại,hân hoan xóa mình điđể Con của Mẹ có chỗ trong lòng người khác.

Một quả tim vĩ đại và bất khuất,không khép lại trước những kẻ vô ơn,không chán nản trước người lạnh nhạt.Một quả tim khắc khoảilo tìm vinh danh Chúa Giêsu Kitô,quả tim mang vết thương vì yêu Ngài,vết thương chỉ lànhkhi được sống với Ngài trên trời. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Chia sẽ bài viết này trên: