Month: Tháng Tư 2020

GANH ĂN TỨC Ở MUÔN ĐỜI NÁT – Phút Cầu Nguyện, Thứ Bảy 25/04/2020

GANH ĂN TỨC Ở MUÔN ĐỜI NÁT – Phút Cầu Nguyện, Thứ Bảy 25/04/2020

Kính thưa quý vị, các bạn thân mến!

Trong bài viết “Các Kitô hữu trợ giúp nhau nên Thánh, linh mục Phan Long có kể câu chuyện như sau:

Có hai chú diều bay trên bầu trời, chúng quyết định mở cuộc tỷ thí để xem ai sẽ bay cao hơn. Cạnh chúng có hai con chim ưng cũng đang mở cuộc thi tài. Chỉ trong chớp mắt, chúng bay vút lên trời. Nhưng hai chú diều thì cứ đảo bên này đảo bên kia, và không sao bay lên cao được.

Sau này, diều hỏi chim ưng: “Chúng ta mở cuộc tỷ thí dưới cùng một bầu trời, nhưng vì sao các anh có thể bay lên cao, còn chúng tôi thì không?”

“Đó là vì nguyên tắc tỷ thí của chúng ta khác nhau!”, một chim ưng nói: “Nguyên tắc của chúng tôi là phải vượt thắng đối thủ; trong khi nguyên tắc của các anh lại là ngăn không cho đối thủ thắng mình. Theo nguyên tắc của chúng tôi, nếu đối thủ bay vượt hơn mình, thì mình phải cố gắng hết sức để có thể đuổi kịp và thắng; còn nếu mình vượt hơn, đối thủ cũng phải nỗ lực nhiều hơn để có thể bằng mình. Do đó, cả hai chúng tôi đều có thể bay vút lên giữa trời xanh. Còn theo nguyên tắc của các anh, thì nếu đối thủ bay cao hơn mình, mình phải tìm cách kéo đối thủ xuống. Nếu ta không thể bay lên được, thì mi cũng đừng hòng! Hai sợi dây của các anh cứ xoắn vào nhau như thế, làm sao bay lên cao?… Đó là cách nghĩ của các anh, và lẽ đương nhiên là cả hai đều thất bại”.

Quý vị và các bạn thân mến!

Cạnh tranh hay ganh đua là một yếu tố tích cực và cần thiết để giúp một cộng đoàn, một xã hội được phát triển mạnh mẽ. Với quyền năng của mình Đấng Tạo Hóa có thể  tạo nên những con người có những khả năng, trình độ, sức khỏe ngang bằng với nhau, nhưng nếu Ngài làm như thế thì cuộc sống con người sẽ đơn điệu và tẻ nhạt biết bao! Vì người ta không còn gì phải cố gắng, phải vươn lên vì chẳng có ai hơn mình. Trong các câu chuyện kiếm hiệp thời danh, đã có nhiều tay kiếm sau khi khổ luyện để trở thành tay kiếm siêu quần, bá chủ trong thiên hạ lại trở nên cô đơn trong ngôi vị độc tôn của mình. Họ buồn vì không còn ai xứng đáng là đối thủ. Thanh kiếm của họ trở nên cô đơn vì không còn cái đích để nó cố gắng vượt qua.

Thế nhưng, sự cạnh tranh chỉ mang lại lợi ích nếu đó là sự cạnh tranh lành mạnh. “Nếu mình vượt hơn, đối thủ cũng phải nỗ lực nhiều hơn để có thể bằng mình. Do đó, cả hai chúng tôi đều có thể bay vút lên giữa trời xanh”. Ngược lại, cạnh tranh không lành mạnh là khi “đối thủ bay cao hơn mình, mình phải tìm cách kéo đối thủ xuống” thì sẽ không mang lại hiệu quả tích cực cho cá nhân cũng như cộng đồng, xã hội.

Trong hoạt động tông đồ của người Kitô hữu chúng ta cũng thế. Nhiều khi chúng ta cũng bị cám dỗ bởi những danh phận, địa vị trong một hội đoàn, một tổ chức đạo đức và như thế, chúng ta sẽ trở nên rất khó chịu, cảm thấy như bị tổn thương danh dự khi trong cộng đoàn bỗng xuất hiện một ai đó tỏ ra xuất sắc, tài giỏi hơn chúng ta. Và do sự ganh tỵ, do lo sợ sẽ bị mất ảnh hưởng, vì uy tín năng lực của mình có thể bị lu mờ trước ngôi sao vừa xuất hiện đó, từ cõi vô thức, chúng ta bắt đầu có những suy nghĩ và hành động mang đầy tính đố kỵ. Nhân danh sự ổn định cộng đoàn, bảo vệ những bài bản chính thức của tập thể, chúng ta khéo léo tìm mọi cách để loại trừ hoặc làm cho nhiệt tình của năng lực mới giảm dần, họ trở nên chán nản và tự nguyện rời bỏ hội đoàn mà ta đang có ảnh hưởng nhất.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, việc Thiên Chúa trở nên người phàm và yêu thương con người đến nỗi bằng lòng chịu chết trên Thập Giá đã khiến ma quỷ ganh tỵ, gieo rắc hận thù và cái chết trên khắp thế giới. Xin Chúa giữ chúng con đừng sa vào chước cám dỗ của ma quỷ để sự ghen ghét, đố kị và cạnh tranh xâm nhập vào con tim mà ngược lại, hãy biết chung sống hòa bình như anh chị em với nhau. Amen.

Bình Minh

Chia sẽ bài viết này trên:

Xin Ngài ở lại với chúng con! – SN Chúa Nhật III Phục Sinh năm A

Xin Ngài ở lại với chúng con! – SN Chúa Nhật III Phục Sinh năm A

Thầy đồ viết một chữ “nhất” dạy học trò. Hôm sau, thầy cầm cái khăn ướt tự tay lau bàn, thấy trò đứng bên, bèn dùng cái khăn ướt viết một chữ “nhất” thật lớn trên mặt bàn rồi hỏi trò đó là chữ gì. Trò không thuộc mặt chữ, đứng đần ra, thầy nói:

– Hôm qua chẳng phải thầy đã dạy con chữ “nhất” hay sao?

Trò tròn xoe mắt, ú ớ:

– Sao mới cách có một đêm mà chữ đã lớn đến như thế hả thầy!

Các bạn thân mến, hai môn đệ trên đường Emmau cũng chẳng khác chi cậu học trò trong câu chuyện trên. Tuy đã được Thầy Giêsu dạy dỗ, huấn luyện trên những nẻo đường loan báo Tin Mừng. Thầy cũng đã nhiều lần tiên báo về sứ mạng thiên sai của mình, Thầy phải vượt qua đau khổ mới tới vinh quang. Các ông tưởng mình đã hiểu, đã ghi nhớ, nhưng thực ra các ông còn rất mù mờ. Và khi thấy người ta “đóng đinh Người vào thập giá” các ông mới chưng hửng. Hóa ra các ông chẳng hiểu gì!

Chúa Giêsu Phục Sinh đã không bỏ cuộc, Ngài đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau để giải thích lại Kinh Thánh “Đức Kitô chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Chính lúc nghe Lời Chúa, lòng họ đã bừng cháy lên, nhất là khi “Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (c.30) thì họ mới thực sự nhận ra Ngài, không chỉ bằng con mắt xác thịt mà bằng cả con mắt đức tin. Giờ đây họ đã hoàn toàn xác tín rằng Đức Giêsu phải trải qua đau khổ mới bước vào buổi bình minh vinh quang bất diệt. Cuộc khổ nạn của Ngài là chương trình cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa.

Người Kitô hữu đã được học hỏi về Chúa rất nhiều, nhưng khi những gian nan thử thách tới, chúng ta mới thấy mình hiểu Chúa quá ít, yêu Chúa chẳng được bao nhiêu. Từ đó, đức tin của chúng ta bắt đầu chao đảo theo con sóng cuộc đời. Như hai môn đệ trên đường Emmau, chúng ta cần phải bám lấy Lời Chúa như “ngọn đèn soi cho con bước, ánh sáng chỉ đường con đi”, hầu có thể vượt qua những khó khăn ấy. Xin Chúa Phục Sinh cũng hãy cùng đồng hành với chúng ta trên muôn nẻo đường đời, nhờ đó đức tin của chúng con sẽ được nâng đỡ và bản thân chúng con sẽ trở thành chứng nhân cho Niềm Vui Tin Mừng.

Gợi ý suy niệm:

1. Đã bao nhiêu lần trong cuộc sống chúng ta đã chán nản, buông xuôi và đánh mất niềm tin vào Chúa? Động lực nào giúp chúng ta lấy lại niềm trông cậy vào Ngài?

2. Lời Chúa có thật sự trở nên “kim chỉ nam” cho hành trình đức tin của chúng ta không?

Lm. Joseph Lưu Trung Kiên

Chia sẽ bài viết này trên:

Thiên Chúa đang đi với con người trong đại dịch – Suy niệm CN III Phục Sinh

Thiên Chúa đang đi với con người trong đại dịch – Suy niệm CN III Phục Sinh

Thiên Chúa không phán một lời từ trời cao để cứu con người. Chính Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người và ở với chúng ta. Ngài muốn đồng hành với cuộc sống của từng người. Đó là cách Thiên Chúa đã chọn để đem con người về với hạnh phúc. Nếu nhân loại đang phải chịu nhiều thách đố trong thời gian này, thì chính Thiên Chúa vẫn luôn chọn cách đồng hành để từ từ đưa con người về với nhau và với Thiên Chúa.

1. Con đường Emmau năm 2020

Tin Mừng Chúa Nhật thứ 3 phục sinh kể về một câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau. Đó là con đường nối giữa thành phố Giêrusalem nguy nga tráng lệ và ngôi làng nhỏ bé nghèo hèn. Số là hai môn đệ này nuôi giấc mộng đổi đời khi đi theo Đức Giêsu. Các ông có lý khi bỏ mọi sự để đi theo một Đức Giêsu nổi tiếng. Kể từ khi Đức Giêsu chết và được chôn trong lòng đất, giấc mộng của các ông cũng bị chôn vùi. Mộng vỡ mơ tan. Các ông không còn con đường nào khác là lủi thủi đi về lại chốn xưa. Hẳn là các ông cũng không thiếu hoang mang, buồn phiền và lo lắng.

Tâm trạng của hai ông nếu chắp nối vào tâm trạng của mỗi người thời Covid–19 chắc cũng không khác nhau nhiều. Trước đại dịch, người ta mơ về một viễn tượng huy hoàng của biết bao dự án. Phát triển kinh tế đang tăng mạnh, mọi lãnh vực đời sống dường như khấm khá hơn xưa nhiều. Ai cũng tự tin để thực hiện ước mơ của mình. Công danh sự nghiệp hứa hẹn cho nhiều người. Bỗng dưng Covid–19 xuất hiện, mọi thứ bị đảo lộn và bức tranh kinh tế cũng phủ màu đen tối. Nhiều dự báo không mấy sáng sủa ở phía trước. Nếu như hai môn đệ vỡ mộng vì thầy Giêsu đã chết, thì nhiều người thời nay cũng rơi vào cảnh khó khăn chồng chất vì Virus. Đây hẳn là con đường chông gai đòi người ta phải bước đi nặng nề.

Nếu cụ Nguyễn Du viết rằng “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, thì chúng ta cũng chẳng vui gì trong hoàn cảnh này. Hầu hết mang tâm trạng lo lắng. Nhất là những ai là nạn nhân trực tiếp của virus. Thật khó để vượt qua nỗi đau này. Chẳng thế mà nhiều dự báo cho rằng sau thời đại dịch, sẽ có nhiều khủng hoảng kéo theo: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức, v.v. Đó thực sự là con đường gồ ghề khiến không ít người đuối sức. Nếu có mặt với hai môn đệ trên đường Emmau năm xưa, họ cũng đã không vượt qua được những thất vọng ê chề.

2. Có lý do để hy vọng

Trên con đường vô vọng đó, hai môn đệ gặp một vị khách bộ hành. Chúng ta biết đó là Đức Giêsu phục sinh, nhưng khi ấy các ông đâu biết gì. Đức Giêsu chọn cách đi cùng với họ. Dạo bước để từ từ tiếp chuyện. Ngài hỏi, các ông trả lời; Ngài lắng nghe, các ông hăng say kể; Ngài giải thích, các ông chưa hiểu gì; Ngài đi tiếp, các ông mời ở lại, vì trời đã xế chiều. Đó là tóm tắt ngắn gọn, nhưng thực tế câu chuyện của ba người này chắc đủ dài để cho thấy: Thiên Chúa luôn đồng hành với con người.

Trong câu chuyện trên, Đức Giêsu đang trao cho họ niềm vui Phục Sinh, khơi lên hy vọng trong lòng của họ. Ngài không nói ngay cho các ông rằng Ngài đã phục sinh. Ngài nhẹ nhàng đi cùng và muốn trò chuyện như những người bạn. Đó là con đường sư phạm của Đức Giêsu. Nhờ đó, mà “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24,30–31). Họ đã thấy và tin vào Chúa Phục Sinh. Lúc này, hai ông rộn ràng vui mừng trở về Giêrusalem để báo tin.

Kể ra chút chi tiết như thế để chúng ta thấy Thiên Chúa, qua Giáo Hội, cũng đang đi cùng với con người. Chưa bao giờ Giáo Hội muốn phớt lờ nỗi đau của con cái mình. Nhất là khi chúng ta gặp nạn, Thiên Chúa không bỏ rơi. Ngược lại, Ngài đến để ủi an, lắng nghe và chuyện trò. Tiếc là còn quá nhiều người chẳng tiếp chuyện với Ngài. Kết quả là không ít người mất hy vọng vào cuộc sống. Ai có thể trao ban bình an và hy vọng lớn lao bằng Thiên Chúa? Thay vì chạy đi tìm hy vọng nơi tạo vật hoặc chính mình, hãy chạy đến Thiên Chúa. Nói đúng hơn, chính Thiên Chúa cũng đã muốn được đi cùng con người. Vấn đề còn lại là người ta có hoan hỷ tiếp chuyện với Chúa hay không mà thôi.

Là người Công Giáo, chúng ta có kinh nghiệm ít nhiều về Thiên Chúa đồng hành. Ngài đang hiện diện trong tâm hồn mỗi người, nơi Giáo Hội, Xã Hội và chính trong những biến cố đang diễn ra. Ngài đang khơi lên hy vọng cho từng người. Biết bao lần Thiên Chúa nói qua vị đại diện của Ngài trên trần gian là Đức Giáo Hoàng:

“Niềm tin Phục Sinh nuôi dưỡng hy vọng của chúng ta. Tôi muốn chia sẻ điều ấy với anh chị em. Đó là hy vọng về một giai đoạn tốt đẹp hơn, chúng ta có thể tốt hơn, và sau cùng là được giải thoát khỏi sự ác và khỏi đại dịch này. Đó là một hy vọng: hy vọng không làm chúng ta thất vọng; hy vọng không phải là ảo tưởng, nó là một hy vọng.”[1]

3. Cho Chúa một cơ hội

Hai môn đệ trên đường Emmau năm xưa đã cho Đức Giêsu cùng dạo bước. Khi gần gũi Thiên Chúa, các ông thấm dần ngọn lửa hy vọng vào Đức Giêsu Phục Sinh. Lòng các ông sáng lên từ khi Đức Giêsu ngỏ lời với các ông. Đó là không gian của nguyện cầu, là nhịp cầu để Thiên Chúa bước vào trong tương quan của các ông. Hơn nữa, các ông còn mời Đức Giêsu vào nhà mình. Đó không chỉ là hành vi hiếu khách, nhưng các ông ít nhiều cảm thấy vị khách này có cái gì đó đặc biệt. Dọc đường trong câu chuyện, các ông bớt chán nản sầu não hơn.

Hôm nay cũng thế, trên đường đời của mỗi người còn đó biết bao thách đố. Thay vì oán trời trách đất, thở ngắn than dài, hãy cho Chúa một cơ hội bước vào nhà mình. Đã có nhiều người để Đức Giêsu chi phối đời họ; kết quả là cuộc sống họ được đổi thay. Cứ nhìn các vị thánh vốn hằng để Thiên Chúa đồng hành. Họ hạnh phúc dường bao! Thực ra trong bình an và nhất là trong giai đoạn khốn khó, ai để Thiên Chúa đồng hành, người ấy hẳn là tìm thấy ánh sáng từ nơi bóng tối. Thiên Chúa của chúng ta thì gần gũi. Gần kề con người, Thiên Chúa có thể trao ban cho chúng ta một con đường của sự sống và hy vọng. Đó là Tin Mừng Phục Sinh đã vực các môn đệ đứng lên loan báo cho muôn dân: Đức Giêsu đã chết và nay đã sống lại!

Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau luôn có tính thời sự. Đó không chỉ xảy ra cho hai ông, nhưng còn là câu chuyện của mỗi người. Nhất là trong hoàn cảnh lúc này, Đức Giêsu vẫn đang “hiện ra”, Ngài vẫn hỏi, vẫn lắng nghe và trò chuyện với mỗi người. Có khi nhiều người đi nhanh quá bỏ Thiên Chúa lại đằng sau, nhiều người sống vội nên quên mất bên mình còn Thiên Chúa, hoặc nhiều lúc người ta hoảng loạn quá cũng quên mất Thiên Chúa. Thật tốt khi đứng lại một chút để thấy Thiên Chúa đang ở đâu. Ngài đang gõ cửa! Mong sao mỗi người can đảm đón Ngài vào đường đời của mình. Khi đó, chắc chắn người con của Chúa sẽ vượt qua mọi khó khăn, kể cả trong và sau đại dịch virus cũng thế.

Lạy Chúa Giêsu, mời Ngài ở lại với con, với gia đình chúng con, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn. Bóng đêm đang buông dần, chúng con cần Ngài đỡ nâng, trợ giúp và đồng hành. Amen.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ  

[1] Thông điệp video của Đức Thánh Cha Phanxicô trong dịp Tuần Thánh 2020.

Chia sẽ bài viết này trên:

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng – Lễ Thánh Mác-cô

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng – Lễ Thánh Mác-cô, Tác Giả Sách Tin Mừng (Mc 16, 9-18)

 15 Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án.17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ.18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.”

19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

  1. Kinh nghiệm lắng nghe

Thánh sử Mác-cô trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ mừng kính ngài hôm nay, kể lại biến cố Đức Ki-tô Phục Sinh tỏ mình ra cho Nhóm Mười Một và sai các ngài đi loan báo Tin Mừng:

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.

(c. 15)

Tuy nhiên ngay trước khi Người sai các Tông Đồ đi rao giảng Tin Mừng, Đức Ki-tô Phục Sinh, theo lời kể của Thánh Sử Mác-cô, đã khiển trách các ông đã không tin và cứng lòng, đối với các chứng nhân.

Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy.

(c. 14)

Như thế, Đức Ki-tô coi trọng việc chúng ta làm chứng cho nhau biết bao : lời của của người khác dành cho chúng ta, lời chứng của chúng ta dành cho người khác. Trước khi trở thành chứng nhân, chúng ta được mời gọi mở lòng ra để lắng nghe các chứng nhân. Và điều này phải làm chúng ta ngặc nhiên : kinh nghiệm này cũng phải có, ngay cả đối với các tông đồ, vốn là các chứng nhân ưu tuyển ! Thật vậy, trước khi trở thành chứng nhân, chính các tông đồ cũng đã phải trải qua kinh nghiệm lắng nghe các chứng nhân khác, vốn đã được ban ơn nhận ra Đức Ki-tô phục sinh trước. Đó là chứng từ của bà Maria Magdala (Mc 16, 11 và Ga 20, 18), chính vì thế bà được Truyền Thống Giáo Hội tặng ban tước hiệu « Tông đồ của các Tông Đồ » ; và đó cũng là chứng từ của hai môn đệ từ Emmau trở về :

Người tỏ mình ra dưới một hình dạng khác cho hai người trong nhóm các ông, khi họ đang trên đường đi về quê. Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người này.

(c. 12-13)

  1. Kinh nghiệm gặp gỡ

Tuy nhiên, để trở thành chứng nhân được sai đi loan báo Tin Mừng, lắng nghe lời chứng vẫn chưa đủ, bởi vì đó mới chỉ là lời mời gọi hướng đến, chứ không thay thế được, kinh nghiệm đích thân nhận ra sự hiện diện sống động của Đức Ki-tô phục sinh ; nhưng niềm tin mà chúng ta đặt để lời chứng của các chứng nhân là điều kiện không thể thiếu dẫn chúng ta đi vào kinh nghiệm đích thân gặp gỡ Đấng Phục Sinh.

Đức Ki-tô phục sinh bày tỏ mình ra cách trực tiếp, đó là ơn đặc biệt Ngài dành cho các chứng nhân đầu tiên, để các ngài có thể thực hiện sứ mạng lớn lao và khó khăn. Về phần chúng ta hôm nay, chúng ta không nên đòi hỏi Đức Ki-tô hiện ra, vì những lí do khác nhau. Hơn nữa, không « thấy » Chúa cách hữu hình, đó chính là điều Chúa ước ao : « Phúc cho những ai không thấy mà tin » (Ga 20, 29). Đòi hỏi Chúa hiện ra, là làm khó Chúa rồi, nếu không muốn nói là thử thách Chúa, vì làm sao sự sống mới hoàn toàn khác lại có thể hiện hiện trong sự sống này được, nếu không phải trở lại như cũ.

Chính vì thế, Chúa ước ao chúng ta không thấy mà tin, nghĩa là nhận ra Chúa qua những dấu chỉ Lời Chúa, bí tích Thánh Thể, các chứng nhân, và nhất là hoa trái phong phú do Đức Ki-tô phục sinh đem lại cho nhân loại, cho Giáo Hội, cho Hội Dòng, cho cộng đoàn, cho gia đình chúng ta. Như hai môn đệ Emmau, chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa sống động ngang qua việc hiểu Kinh Thánh dưới ánh sáng của Mầu Nhiệm Vượt Qua và dấu chỉ « bẻ bánh », trong cuộc sống và trong cử hành Thánh Thể.

  1. Đi loan báo Tin Mừng

Như thế, để trở thành chứng nhân được sai đi loan báo Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, cần phải có hai kinh nghiệm nền tảng, liên kết chặt chẽ với nhau : kinh nghiệm lắng nghe các chứng nhân khác và kinh nghiệm đích thân nhận ra sự hiện diện sống động của Đức Ki-tô phục sinh. Đó là con đường của các tông đồ và của những chứng nhân đầu tiên ; nhưng trong con đường của các ngài, chúng ta sẽ tìm ra những kinh nghiệm nền tảng làm nên con đường dành riêng cho mỗi người chúng ta hôm nay.

Dù vừa mới khiển trách các môn đệ « không tin và cứng lòng », Đức Ki-tô phục sinh vẫn tin tưởng các môn đệ của mình, ngang qua việc trao sứ mạng. Chúng ta hãy dừng lại suy gẫm từng lời của Đức Ki-tô:

  • “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Như thế, Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô có tầm mức sáng tạo, bởi vì sứ điệp của Tin Mừng và sứ điệp của sáng tạo là một, vì cả hai đều có cùng một nguồn gốc là Ngôi Lời Thiên Chúa. Để hiểu điều này chúng ta có thể đọc Rm 10, 18 dưới ánh sáng của Tv 19, 5.
  • « Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án ». Khi không tin, người ta đã tự kết án chính mình, như Đức Giê-su nói trong Tin Mừng theo thánh Gio-an : « kẻ không tin, thì bị kết án rồi » (Ga 3, 18). Và thực tế cuộc sống cho thấy, khi không tin vào sự sống, người ta sẽ chẳng mấy chốc làm việc cho sự chết, sống cho sự chết và thuộc về sự chết, bởi vì đối với họ chết là mạnh nhất, là cùng đích. Ngược lại, lòng tin mang lại cứu độ, như Đức Giê-su hay tuyên bố : « lòng tin của con đã cứu con ».
  • « Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ. »

Thế hệ dầu tiên đã được ơn đặc biệt như thế, để khai sinh ra Giáo Hội. Còn chúng ta, những ơn này bây giờ vẫn được ban, nhưng dưới những hình thức khác, tuy không ngoạn mục, nhưng sâu xa và bền vững hơn :

  • Nhận định thần loại, nghĩa là phân biệt và nhận ra cách hành động của Chúa và các hành động của Sự Dữ, dưới ánh sáng của Lời Chúa, và nhất là ngôi vị của Đức Ki-tô trong mầu nhiệm Vượt Qua.
  • Thông truyền đức tin và kinh nghiệm, cho dù có rất nhiều khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa… (kinh nghiệm của các nhà truyền giáo)
  • Con rắn, thuốc độc, biểu tượng của sự dữ và bạo lực. Chúng ta có thể chiến thắng nhờ Thập Giá Đức Ki-tô ; như lời Tv 8 : « Chúa cho miệng con thơ trẻ nhỏ, cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù, khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan ».
  • Hiện diện, quan tâm chăm sóc bệnh nhân, là điều không thể thiếu bên cạnh các biện pháp chữa trị y khoa, và sẽ là điều còn lại sau cùng giúp người bệnh tín thác vào tình yêu Thiên Chúa ngay trong thử thách bệnh tật và sự chết.

Nhưng trên hết là, chúng ta được mời gọi thi hành sứ mạng « nhân danh Đức Ki-tô », chúng ta chỉ là tôi tớ, là nữ tì ; và vì thế, phải để cho Chúa hành động.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Mẹ và đại dịch Covid-19

Đức Mẹ và đại dịch Covid-19

Đức Mẹ vốn được ca ngợi là Đấng “phù hộ các giáo hữu” (Kinh Cầu Loreto). Cho nên, trong bất cứ cơn khốn khó nào, tín hữu cũng chạy đến với ngài, tha thiết xin ngài cầu bầu cùng Chúa “cho chung con”. Cơn đại dịch Covid-19 trùm phủ khắp hoàn cầu với lưỡi hái tử thần quét nhanh quét mạnh càng làm họ chạy đến với ngài nhiều hơn, tin cậy hơn, trìu mến hơn.

Gương Đức PhanxicôNhưng không hình ảnh cảm động nào bằng hình ảnh vị đại diện Chúa Kitô thân hành tới Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả ở Vatican để cầu xin cùng Mẹ cho thành phố và cho thế giới trước bức ảnh Salus Populi Romani hay làm phép lạ và đã cho cung nghinh bức ảnh này về Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô để từ đó bức ảnh luôn hiện diện trong bất cứ buổi phụng vụ nào do ngài cử hành tại Vương cung Thánh đường này và quảng trường của nó.

Hình như Hội đồng Giám mục Ý chậm chạp hơn vị giáo chủ của họ. Trong khi đất nước chìm ngập trong chết chóc đau thương, các ngài chỉ những chăm chút sao cho giáo dân tuân theo các biện pháp của chính phủ: đóng cửa nhà thờ, giữ khoảng cách xã hội…

Theo Hannah Brockhaus của CNA, chỉ sau khi nhận được hơn 300 thỉnh nguyện thư của giáo dân, các giám mục Ý mới chịu dâng hiến nước Ý cho Đức Mẹ. Buổi lễ sẽ diễn ra ngày 1 tháng Năm tới tại một đền thánh ở miền Bắc Ý.

Trong một sứ điệp video ngày 20 tháng 4, Đức Hồng Y Gualtiero Bassetti, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ý, nói rằng ngài nhận được “hơn 300 lá thư, đầy tình yêu, và lòng sùng kính đối với các ủi an của Trinh Nữ Maria”.

Ngài cho biết các lá thư trên đặt câu hỏi “ tại sao Đức Hồng Y không dâng hiến đất nước chúng ta cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria? Mọi người đang khốn khổ vì trận đại dịch này, tất cả những ai đang làm việc tại các bệnh viện và phải chăm sóc người lân cận của họ, tại sao lại không phó thác toàn bộ quốc gia cho Đức Maria?”

Đức Hồng Y Bassetti nhận định rằng nhiệm vụ của các chủ chăn là hướng dẫn đoàn chiên của các ngài, “nhưng thường thì chính đoàn chiên, chính dân Kitô giáo, thúc đẩy các chủ chăn của họ, như đã diễn ra trong trường hợp này”.

Các Giám Mục Ý dâng quốc gia cho Đức Mẹ

Việc phó thác nước Ý cho Đức Mẹ sẽ diễn ra chiều tối ngày 1 tháng 5 tại Vương cung Thánh đường Santa Maria del Fonte, một đền thánh dâng kính Đức Mẹ Caravaggio thuộc tỉnh Bergamo, một trong các khu vực bị Covid-19 tác hại hơn cả.

Ngày 1 tháng 5 được chọn vì là ngày đầu tháng Mân Côi, và cũng là ngày kính Thánh Giuse Thợ, ngày cầu nguyện cho các công nhân, những người đang hết sức lo âu và sợ hãi cho tương lai của họ.

Trong thư gửi tín hữu, các Giám Mục Ý cho rằng trong ngày trên “Giáo hội trao phó cho Đức Mẹ người bệnh, các nhân viên y tế, các bác sĩ, các gia đình, và người quá cố”.

Các ngài viết thêm rằng buổi cầu nguyện được tổ chức tại đền Santa Maria del Fonte ở Caravaggio, Ý, vì nó được bao quanh bởi “các đau khổ và đau đớn trong một lãnh thổ bị thử thách nặng nề bởi tình trạng khẩn trương về y tế”. Đền này được xây trên địa điểm Đức Mẹ hiện ra với một thiếu nữ vùng quê tên là Giannetta Varoli, vào ngày 26 tháng 5 năm 1432.

Trong sứ điệp của ngài, Đức Mẹ thúc giục người ta ăn năn thống hối, ăn chay các ngày thứ sáu. Ngài cũng được gọi là Đức Mẹ Suối Nước vì 1 suối nước đã xuất hiện dưới tảng đá nơi Đức Mẹ đứng và trên đó, ngài để lại dấu chân.

Cùng năm ấy, một đền thánh nhỏ đã được xây tại địa điểm. Hơn 100 năm sau, tức năm 1575, Thánh Charles Borromeo, lúc ấy là Giám Mục Milan, đã thuê một kiến trúc sư để khởi đầu diễn trình mở rộng đền thánh cho có hình dạng giống như bây giờ.

Mỹ và Gia Nã Đại dâng hiến quốc gia cho “Đức Maria, Mẹ Giáo Hội”

Cũng theo tin CNA, Đức Tổng Giám Mục Jose Gomez, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, đã lên tiếng mời mọi Giám Mục Hoa Kỳ tham gia với ngài vào ngày 1 tháng 5 để dâng Hoa Kỳ cho Đức Mẹ như một đáp ứng trước đại nạn Covid-19. Việc dâng mình này cũng trùng hợp với việc các Giám Mục Gia Nã Đại dâng nước họ cho Đức Mẹ.

Trong thư gửi các Giám Mục Hoa Kỳ, Đức Tổng Giám Mục Gomez cho biết việc dâng mình cho Đức Mẹ được thực hiện dưới tước hiệu “Maria, Mẹ Giáo Hội”.

Ngài viết “mọi năm, Giáo Hội vốn tìm kiếm sự cầu bầu đặc biệt của Mẹ Thiên Chúa trong tháng năm. Năm nay, chúng ta tìm sự giúp đỡ của Đức Mẹ một cách càng khẩn thiết hơn nữa khi chúng ta cùng nhau hứng chịu các hiệu quả cuả đại dịch hoàn cầu”.

Công bố trên tiếp theo công bố tương tự của các Giám Mục Gia Nã Đại. Các vị này cũng sẽ dâng Lãnh Thổ Nữ Hoàng cho Đức Mẹ dưới cùng một tước hiệu.

Đức Tổng Giám Mục Gomez xác nhận sự hợp tác giữa hai Hội Đồng Giám Mục Gia Nã Đại và Hoa Kỳ trong việc dâng hiến này. Ngài viết “Dựa trên cuộc thảo luận với giới lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo Gia Nã Đại, Ban Điều Hành của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã họp và khẳng định sự thích hợp của ngày 1 tháng 5, 2020 như một dịp để các Giám Mục Hoa Kỳ dâng hiến quốc gia chúng ta cho Đức Mẹ và làm thế dưới tước hiệu ‘Maria, Mẹ Thiên Chúa'”. Ngài viết thêm: các ngài làm thế “cùng một ngày với ngày các Giám Mục anh em ở phía bắc dâng hiến Gia Nã Đại dưới cùng một tước hiệu”.

Tước hiệu “Maria, Mẹ Thiên Chúa” do Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI dâng kính Đức Mẹ tại Công Đồng Vatican II và ngày lễ kính Đức Mẹ dưới tước hiệu này được chính thức thêm vào lịch phụng vụ từ năm 2018.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên bố rằng thứ hai sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống sẽ được cử hành như lễ nhớ kính “Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa”. Đức Hồng Y Sarah, bộ trưởng Bộ Phụng Thờ Thiên Chúa và Kỷ luật Bí tích, nói rằng việc thêm ngày lễ nhớ này nhằm khuyến khích sự tăng trưởng của “lòng sùng kính chân chính đối với Đức Mẹ”.

Cử hành lễ nhớ này năm 2018, Đức Tổng Giám Mục Gomez từng nói rằng: “khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và về trời, Đức Mẹ trở thành trái tim mẹ hiền của Giáo Hội Người”.

Đây cũng là dịp cầu nguyện cho qua nạn dịch Covid-19. Đức Tổng Giám Mục nói: “Điều này giúp Giáo Hội cơ may để cầu xin Đức Mẹ tiếp tục che chở người dễ bị tổn thương, chữa lành người đau yếu, và ban ơn khôn ngoan cho những ai đang cố gắng chữa trị thứ virút khủng khiếp này”.

24 quốc gia được dâng hiến cho Đức Mẹ Fatima

Theo gương Đức Phanxicô nhanh hơn cả, theo tập san The Tablet của Anh, là sáng kiến của các vị Giám Mục Bồ Đào Nha trong việc dâng hiến quốc gia họ cho Đức Mẹ Fatima. Thông tấn xã Portuguese Ecclesia cho hay: buổi lễ, do Hội Đồng Giám Mục Bồ Đào Nha tổ chức, được sự tham gia qua làn sóng truyền hình, truyền thanh và các phương tiện truyền thông xã hội của các vị Tổng Giám Mục tại các nước Albania, Hung Gia Lợi, Moldova, Ba Lan, Romania, Slovakia, Tây Ban Nha, cũng như Bolivia, Colombia, Costa Rica, Cuba, the Dominican Republic, East Timor, Guatemala, Ấn Độ, Kenya, Mễ Tây Cơ, Nicaragua, Panama, Paraguay, Peru, Tanzania và Zimbabwe.

Hãng này nói thêm “nhiều nhóm tín hữu khác” cũng tham gia các lời cầu nguyện cùng một lúc này để chấm dứt đại dịch coronavirus đang sát hại tới lúc đó là 34,000 người trên khắp thế giới, theo số liệu của WHO.

Lời cầu nguyện dâng hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria nói rằng tất cả các quốc gia tham gia, như thành phần của “Giáo Hội lữ thứ trần gian”, nay chờ mong lòng thương xót và cứu thoát của Thiên Chúa.

Lời cầu nguyện tiếp tục: “Trong giờ phút đau khổ độc đáo này, xin Chúa trợ giúp Giáo Hội Chúa, soi sáng cho các nhà cai trị các quốc gia, lắng nghe người nghèo và người bị giáng họa, đề cao ngừơi khiêm nhường và bị áp bức, chữa lành người bệnh và người có tội, nâng dậy những người bị bác bỏ và làm cho ngã lòng, giải phóng người bị giam giữ và ngồi tù, và giải thoát chúng con khỏi cơn đại dịch đang giáng xuống chúng con. Xin Chúa nâng đỡ con cái Chúa, người cao niên và dễ bị tổn thương nhất, khuyến khích các bác sĩ, y tá, các nhà chuyên môn y tế và các người chăm sóc thiện nguyện, xin củng cố các gia đình, trợ giúp chúng con trong tư cách công dân và tình liên đới, xin Chúa trở thành ánh sáng cho người hấp hối và nghinh đón người chết vào nước của Chúa”.

Tưởng cũng nên biết, theo Derry Journal, người dân Ái Nhĩ Lan cũng đã được Đức Tổng Giám Mục Eamon Martin cùng với các giám mục và linh mục cả nước dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ vào cùng ngày 25 tháng 3 nhân lễ Truyền Tin đề xin “sức mạnh và che chở khỏi Coronavirus, Covid-19”.

Vũ Văn An
Nguồn:  Vietcatholic
Chia sẽ bài viết này trên:

NÓNG GIẬN LÀ DO Ở TÂM MÀ RA – Phút Cầu Nguyện, Thứ Sáu 24/04/2020

NÓNG GIẬN LÀ DO Ở TÂM MÀ RA – Phút Cầu Nguyện, Thứ Sáu 24/04/2020

Có một người đàn ông thường hay nổi giận, nếu không vừa ý thì lập tức giận dữ liền. Ông ta tích trữ nguyên nhân ghen ghét cho rằng, mỗi lần giận dữ đều do người khác mà ra. Vì vậy mà ông tránh xa con người ở phố thị, rồi một mình đi vào trong núi tu thân dưỡng tính.

Một hôm ông ta vác cái lu bằng đất sét đi múc nước, vì một chút bất cẩn mà ông ta làm đổ lu nước đầy, tất cả nước đều chảy ra nên ông ta chỉ còn cách là đi múc nước lại. Nhưng khi đi được nửa đường thì lại để lu nước đổ giữa đường. Liên tục 3 lần như thế nên ông nổi giận đem lu nước đập vỡ vụn.

Ông ta nhìn những mảnh lu vỡ tự trách: “Trước đây nếu ta giận dữ đều cho rằng vì người khác, bây giờ dù chỉ ở có một mình trong núi, vậy mà ta vẫn còn giận dữ sao. Như vậy ta đã hiểu ra rồi: giận dữ là do ở trong tâm mình mà ra”

Quý vị và các bạn thân mến!

Con người chào đời bằng tiếng khóc, như một báo hiệu cho một kiếp sống trầm luân và khổ ải. Dù ở bất cứ địa vị nào, giai tầng nào thì sự hiện hữu của những góc tối, những nghịch cảnh như là điều tất yếu của con người trong cuộc đời trần thế này. Những điều đau khổ và bất hạnh của cuộc đời chẳng khác nào những hạt muối nguyên chất với vị mặn chát. Tuy nhiên, số lượng những đắng mặn mà cuộc sống của chúng ta phải nếm trải phụ thuộc vào thái độ, vào cái tâm của chúng ta đối với những thử thách, đau buồn ấy vào. Nếu nhận thức của chúng ta đối với sự việc là cái ly, chúng ta sẽ uống vào cuộc đời mình những dư vị mặn chát, nhưng nếu nhận thức của chúng ta đối với sự việc là cái hồ, mọi phiền muộn, khó khăn sẽ được hóa giải, chúng ta sẽ uống vào đời mình những ngụm nước ngọt mát, trong lành. Do vậy, khi chúng ta biết tu tâm dưỡng tính, để mở lòng ra bao la như biển hồ thì những nắm muối đầy bất ưng của cuộc đời vẫn không thể làm lòng chúng ta bừng lên những ngọn lửa của sự bực bội, giận dữ.

Thánh Ê-phê-sô 4:26 cũng nhắc nhở rằng:  “Nếu tức giận cũng đừng phạm tội”. Với bản tính mỏng giòn của con người, rất khó để chúng ta tránh được cảm xúc nóng giận. Thế nhưng nóng giận một cách có kiểm soát là điều chúng ta có thể thực hiện được. Rõ ràng, chúng ta thường dễ nổi giận với những người dưới quyền hành hay nhỏ bé hơn mình và ngược lại, với cấp trên hay với người có quyền thế, chúng ta có kiểm soát cảm xúc nóng giận rất tốt, thậm chí còn có khả năng triệt tiêu nó. Như vậy “giận dữ là do ở trong tâm mình mà ra”.

Lời dạy của Thánh Giacôbê rất chí lý rằng: “ Ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” và “ mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa”. “Người hay nổi giận khơi dậy xung đột. Kẻ dễ nổi nóng vi phạm nhiều thay.” (Châm Ngôn 29:22). Thực tế cũng cho thấy biết bao tội ác tày trời mà con người có thể gây ra nếu không biết kiềm chế cơn nóng giận. Ngay cả khi lý do khiến chúng ta nổi giận là chính đáng hay được phép đi nữa thì cũng không nên kéo dài cảm xúc tiêu cực đó, vì điều đó sẽ khiến chúng ta “không được thừa hưởng Nước Đức Chúa Trời”. Ga-li-ti 5:12-21

Lạy Chúa Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh, trong cuộc Thương Khó, dù “bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bằng” (1 Pr 2,23). Xin cho chúng con biết noi gương hiền lành và khiêm nhượng của Ngài và cũng xin Thần khí thánh của Ngài giúp chúng con tu dưỡng tâm tính để kiểm soát cơn giận. Amen.

Bình Minh     

Chia sẽ bài viết này trên:

Đường Ánh Sáng: Suy Ngắm 14 Chặng Đường Phục Sinh

ĐƯỜNG ÁNH SÁNG:
SUY NGẮM 14 CHẶNG ĐƯỜNG PHỤC SINH

Trong Mùa Chay, các tín hữu có thói quen suy ngắm cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu qua 14 chặng đàng thánh giá (Via Crucis). Dựa theo tục lệ ấy, một việc đạo đức khác đã được phổ biến trong những thập niên gần đây, đó là suy ngắm mầu nhiệm Phục sinh của Chúa qua 14 chặng đàng ánh sáng (Via Lucis), dựa theo châm ngôn nổi tiếng Per crucem ad lucem : “từ thập giá đến ánh sáng” (hoặc: từ thập giá đến vinh quang). Qua việc đạo đức này, các tín hữu suy ngắm biến cố trọng tâm của đức tin – cuộc sống lại của Đức Kitô – mà chúng ta được thông dự nhờ bí tích Thánh tẩy. Từ đó chúng ta nhớ đến ơn gọi của Kitô hữu là làm chứng nhân cho ánh sáng. Việc chiêm ngắm các mầu nhiệm hiển vinh của Chúa – bao gồm từ cuộc Phục sinh đến lễ Hiện xuống – sẽ dạy chúng ta hãy tiến bước như là “con cái ánh sáng”, gieo rắc niềm hy vọng vào một thế giới bị xâu xé vì hận thù tang tóc.

Cũng như trên Đường Thánh giá, người tín hữu dừng lại ở 14 “chặng” (statio trong tiếng Latinh có nghĩa là: trạm dừng) để suy niệm cuộc thương khó, thì Đường Ánh sáng cũng được chia làm 14 “chặng”, dựa theo các trình thuật của sách Tin mừng và Tông đồ công vụ. Đó là:

1/ Đức Kitô sống lại từ cõi chết (Mt 28,5-6).

2/ Các môn đệ nhận thấy mộ trống (Ga 20,8).

3/ Chúa hiện ra với bà Mađalêna (Ga 20,16).

4/ Chúa hiện ra với các môn đệ trên đường đi Emmaus (Lc 24,2-27).

5/ Chúa bẻ bánh cho các môn đệ (Lc 24,38-39).

6/  Chúa hiện ra với các tông đồ (Lc 24,38-39).

7/ Chúa ban cho các tông đồ quyền tha tội (Ga 20,22-23).

8/ Chúa củng cố đức tin cho ông Tôma (Ga 20-27-28).

9/ Chúa hiện ra cho các môn đệ trên hồ Tiberia (Ga 21,7.13).

10/ Chúa trao quyền thủ lãnh cho thánh Phêrô (Ga 21,15).

11/ Chúa sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng (Mt 28,19-20).

12/ Chúa lên trời (Cv 1,11).

13/ Các môn đệ cầu nguyện với Mẹ Maria để chuẩn bị đón Thánh Linh (Cv 1,14).

14/ Chúa Phục sinh cử Thánh Linh đến với Hội thánh (Cv 2,2-4).

Cấu trúc của “Đàng Ánh sáng” cũng tương tự như việc đi “Đàng Thánh giá”:

1/- Mở đầu: Làm Dấu Thánh giá. Lời chào

2/- Điệp ca: “Lạy Mẹ Maria, nhờ cuộc phục sinh của Đức Kitô, xin giữ gìn chúng con trong ánh sáng”. Hoặc: “Lạy Đức trinh nữ Maria, hãy vui mừng, vì Chúa đã sống lại thật, Alleluia”.

3/- Suy gẫm 14 mầu nhiệm:

a). Đọc đoạn Tin mừng

b). Chú giải (hoặc đọc bài suy niệm)

c). Một kinh Lạy Cha (hoặc: dâng ý chỉ cầu nguyện)

d). Lời nguyện

e). Điệp ca

4/- Kết thúc. Phép lành. Kinh Lạy Nữ vương thiên đàng. Giải tán.

Có nhiều cách thức suy ngắm Đàng Thánh giá. Tại Rôma, các bài suy ngắm tối thứ 6 Tuần thánh thay đổi hằng năm. Một cách tương tự như vậy, có nhiều cách thức suy ngắm Đàng Ánh Sáng. Mẫu sau đây trích từ đền Chúa Cứu Thế ở Andria (Bari, Italia).

C: Chủ tế

T: Tất cả cộng đoàn

X: Người xướng bài đọc hay kinh nguyện.

***

MỞ ĐẦU

C: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

T: Amen

C: Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em.

T: Và ở cùng cha.

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Đời là một cuộc hành trình. Trên con đường đời, chúng ta không lẻ loi. Chúa Phục Sinh đã hứa: “Thầy sẽ ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế”. Cuộc đời phải là một sự sống lại liên tục. Chúng ta sẽ khám phá sự phục sinh như nguồn của bình an và hân hoan.

X: Sau khi sống lại, Chúa Giêsu lại lên đường với chúng ta. Chúng ta hãy ôn lại những chặng đường ấy để xác định hướng đi. Cuộc đời người Kitô hữu là làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh, nghĩa là mỗi ngày một thêm vui tươi, can đảm, tích cực hơn.

Chúng ta hãy cầu nguyện

  1. Lạy Thiên Chúa là Cha, xin đổ xuống trên chúng con Thần khí ánh sáng của Cha, để chúng con hiểu biết mầu nhiệm cuộc Phục Sinh của Con Cha. Xin ban cho chúng con Thần khí của Đấng Phục sinh ngõ hầu chúng con có khả năng yêu thương, nhờ thế chúng con trở thành những chứng nhân của cuộc sống lại của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
  2. Amen.

Kinh Lạy Cha, Điệp ca

CHẶNG THỨ NHẤT:
CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI TỪ CÕI CHẾT
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Matthêu:Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên;, diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy (Mt 28,2-7).
  2. Dẫn giải. Cuộc đời chúng ta thường bị đè nặng bởi biết bao thứ đêm tối của lo lắng, sợ hãi, ức chế, bất động, thất vọng, chán chường. Nhưng lời của thiên thần đã vang lên: “Đừng sợ, Người đã trỗi dậy”. Các Kitô hữu cần trở nên những người loan báo tin mừng trọng đại ấy, để giúp cho anh chị em mình thêm can đảm và hy vọng.
  3. Chúng ta biết rằng cuộc sống mới của Đức Kitô là nguồn hy vọng cho chúng ta. Vì thế chúng ta sống trong hân hoan, và chúng ta hãy xin Người: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  4. Chúa là Đấng đã thắng tội lỗi và sự chết:  Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  5. Chúa đã không bị tan rã trong nấm mồ: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  6. Chúa đã hiện ra với các môn đệ bàng hoàng: Xin hãy đến và sống giữa chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Kitô phục sinh. Thế giới đang cần được nghe Tin mừng của Chúa. Xin hãy gợi lên những người hăng say với cuộc Phục sinh của Chúa. Xin ban cho tất cả các Kitô hữu một con tim mới và một sức sống mới. Xin làm cho chúng con nghĩ như Chúa, yêu mến như Chúa, và biết phục vụ như chính Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca

CHẶNG THỨ HAI:
CÁC MÔN ĐỆ NHẬN THẤY MỘ TRỐNG

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan:Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. (Ga 20,3-9).
  2. Chú giải. Chúa Giêsu đã giết cái chết. Có như vậy thì niềm vui mới bộc phát được. Tình yêu chiến thắng tất cả. Nếu chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã thắng cái chết và tất cả mọi hình thức chết chóc, thì chúng ta sẽ hiên ngang tiến bước.
  3. Ngôi mộ đã không thể cầm giữ thân xác của Chúa Giêsu. Các khăn liệm không còn công dụng gì nữa. Sau cuộc thử thách đau thương, Con Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết. Chúng ta hãy tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô phục sinh: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  4. Lạy Chúa Giêsu, là Đấng được Chúa Cha sai đến để giải thoát thế giới khỏi tội lỗi, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  5. Lạy Chúa Giêsu là Đấng đã mang lại sứ điệp cứu độ vĩnh viễn, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  6. Lạy Chúa Giêsu, là Đấng đổ tràn niềm vui cho những ai tin vào Chúa, chúng con tin tưởng tung hô: Chúa đã sống lại và ở giữa chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, duy chỉ có Chúa mới mang lại niềm vui sự sống, duy chỉ có Chúa mới cho thấy ngôi mộ trống rỗng. Xin cho chúng con thầm tín rằng, nếu không có Chúa thì chúng con thúc thủ trước cái chết. Xin cho chúng con tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của tình yêu thắng vượt cái chết. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ BA:
CHÚA PHỤC SINH HIỆN RA VỚI BÀ MAĐALÊNA
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. Đức Giê-su nói với bà: “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” Đức Giê-su gọi bà: “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri: “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là `Lạy Thầy“). Đức Giê-su bảo: “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: `Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em“.” Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. (Ga 20,11-18).
  2. Chú giải. Bà Maria Mácđala mời gọi chúng ta hãy tiếp tục tìm kiếm Chúa kể cả trong lúc nghi nan, khi thiếu vắng mặt trời, khi con đường trở nên gồ ghề. Chúa Giêsu đã kêu tên của  chị. Chị cảm thấy xúc động. Tim chị tràn ngập niềm vui. Chúa Giêsu cũng ở bên cạnh bạn, và uỷ thác cho bạn một trọng trách: “Hãy loan báo rằng Chúa Kitô đang sống, và Người muốn cho tất cả chúng ta được sống”.
  3. Khi gặp nguy nan, ta cần phải bám chặt vào lời cầu nguyện, và kêu cầu Chúa Giêsu với tất cả lòng tin: Lạy Chúa, xin  chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa
  4. Khi bóng đêm của nghi nan đè nặng trên chúng con khiến chúng con không có khả năng nhìn thấy ánh sáng, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  5. Khi tội lỗi làm lu mờ tâm trí chúng ta khiến chúng con không đủ sức trỗi dậy, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin  chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  6. Khi những biến cố làm chúng con chao đảo khiến chúng con khó tin vào tình thương của Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa, xin chiếu sáng cho chúng con nhờ sự hiện diện của Chúa.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa phục sinh, Chúa gọi chính tên của con vì Chúa yêu con. Chúa nói: “hãy đi loan báo Tin mừng cho các anh chị em”. Xin Chúa giúp con nhận ra Chúa trong mọi chuyện xảy ra hằng ngày, và giúp con đi khắp mọi nẻo đường trên thế giới, trong gia đình, trong trường học, trong xí nghiệp, trong các nơi lao động và giải trí, để chu toàn sứ mạng loan báo niềm vui của sự sống. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca

CHẶNG THỨ BỐN:
CHÚA PHỤC SINH ĐI TRÊN ĐƯỜNG VỀ EMMAUS
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca. Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy.” Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? (Lc 24,13-26).
  2. Chú giải. Câu trả lời của hai môn đệ trên đường Emmáus cho thấy nỗi chán chường vì đã mất niềm hy vọng. Thế nhưng Chúa Giêsu đã đến, đi bên cạnh những con người lạnh lùng. Dần dần, ngọn lửa đã đánh tan sự lạnh lùng, ánh sáng đã loé lên trong đêm tối. Thế giới đang cần đến ngọn lửa hăng say của các tín hữu. Chúa Phục sinh đang ở bên cạnh chúng ta, giải thích ý nghĩa của cuộc đời, nhắc nhở chúng ta rằng sự sống đã chiến thắng cái chết.
  3. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể trỏ cho chúng ta thấy con đường của sự sống. Vì thế chúng ta hãy tin tưởng van nài: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  4. Khi đám mây của những dục vọng che khuất lối đi, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  5. Khi tính thờ ơ và ngu muội làm cho nhiều người không thấy đường ngay nẻo chính, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống
  6. Khi chán nản, do dự làm tê liệt mọi hoạt động và ngăn chặn con đường về với Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Xin chỉ cho chúng con đường dẫn tới cõi sống.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin rằng Chúa đồng hành với chúng ta mặc dù chúng con không nhận ra Chúa. Xin tiếp tục ngỏ lời với chúng con, soi sáng cho chúng con và khích lệ chúng con, cách riêng khi cơn nguy nan, sợ hãi, buồn phiền bóp nghẹt trái tim chúng con, chặn đứng niềm hy vọng. Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con vì trời đã tối. Xin biến chúng con thành những chứng nhân của cuộc Phục sinh của Chúa, là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.


CHẶNG THỨ NĂM:
CHÚA PHỤC SINH TỎ MÌNH KHI BẺ BÁNH
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca. Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”(Lc 24,28-32).
  2. Chú giải. Các môn đệ mời Chúa vào bàn. Và họ đã chứng kiến cảnh một chiếc bàn mộc mạc trong quán trọ nhỏ bé trở thành bàn Tiệc Ly. Cặp mắt của họ được mở ra. Họ đã tìm thấy ánh sáng và sức mạnh để trở về Giêrusalem. Mỗi khi chúng ta đón tiếp người nghèo cơm bánh, người nghèo tình thương là chúng ta chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón tiếp Chúa Kitô và rảo quanh khắp mọi nẻo đường để loan báo Tin vui mừng là Đấng chịu đóng đinh hiện đang sống.
  3. Cần có đức tin mạnh mẽ để nhận ra nơi bí tích Thánh Thể lương thực ban sự sống. Chúng ta hãy nguyện cầu: Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  4. Chúa là nguồn sự sống và tình yêu, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  5. Chúa là nguồn mọi ân sủng tuôn tràn xuống Hội thánh, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  6. Chúa là hy vọng của Nước Trời bất tận, Lạy Bánh hằng sống, xin hãy đến!
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu, trước cuộc Tử nạn, Chúa dạy cho chúng con ý nghĩa của bí tích Thánh Thể qua việc rửa chân cho các môn đệ. Trong bữa tối ngày Phục sinh, Chúa đã cho thấy sự tiếp đón như là con đường hiệp thông với Chúa. Xin giúp chúng con sống bí tích Thánh Thể bằng việc rửa những đôi chân rã rời của những kẻ thấp hèn bằng cách đón tiếp họ vào lòng chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

T- Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ SÁU:
CHÚA PHỤC SINH TỎ MÌNH CHO CÁC MÔN ĐỆ
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Luca.Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em !” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói : “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi : “Ở đây anh em có gì ăn không ?” Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông. (Lc 24.36-43).
  2. Chú giải. Chúa Giêsu mời các môn đệ: “Cứ rờ xem”. Nhưng họ ngỡ ngàng vì không thể tin nổi. Chúa Giêsu lại nói tiếp và yêu cầu dùng bữa với họ. Thế rồi niềm vui bùng lên: Thật thế sao? Giấc mơ có thể thành sự thật sao? Có thể mơ rằng tình yêu thắng thù hận, sự sống thắng sự chết, kinh nghiệm thắng thách thức. Thật vậy, Đức Giêsu đang sống đây. Chúng ta có thể tin tưởng  rằng Người đã phục sinh. Để duy trì đức tin tươi trẻ, chúng ta cần phải sinh lại mỗi ngày trong Chúa Kitô, chấp nhận vượt qua sợ hãi để đến an toàn, vượt qua rụt rè để đến mạnh dạn, giống như các thánh tông đồ.
  3. Lạy Chúa Giêsu, ước chi các linh mục của Chúa nói được ngôn ngữ của Chúa. Xin cho các ngài nhắc nhở cho chúng con những lời của các tiên tri, những lời Chúa Cha đã hứa sẽ phái Đấng Cứu tinh đến, những chứng cớ mà Chúa đã ban cho các môn đệ khi sai họ đi truyền giáo. Vì thế chúng con hết lòng nài xin Chúa: Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  4. Lạy Chúa Giêsu, xin cho các gia đình đừng ngăn trở các bạn trẻ đi theo tiếng Chúa gọi:Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  5. Lạy Chúa Giêsu, xin cho những kẻ được kêu gọi hãy đáp lại cách quảng đại và mau mắn. Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  6. Lạy Chúa Giêsu, xin cho các linh mục thi hành chức vụ cách tận tâm và  tài khéo. Xin ban cho Hội thánh nhiều linh mục thánh thiện.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con nhìn nhận Chúa là Đấng hằng sống, và dẹp tan những bóng ma làm chúng con xa cách Chúa. Xin giúp chúng con có khả năng trình bày những dấu chỉ của Chúa, ngõ hầu thế giới tin nhận Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen, Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ BẢY:
CHÚA PHỤC SINH BAN QUYỀN THA TỘI

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”(Ga 20, 19-23).
  2. Chú giảiSự sợ hãi thì khép kín, tình yêu thì cởi mở. Và tình yêu thâm nhập vào nơi cửa đóng then cài. Tình yêu của Đấng Phục sinh đã bước vào, khích lệ, trao ban. Người trao ban hơi thở của sự sống là Thánh Linh. Người trao ban một luồng khí mới, làm tươi trẻ linh hồn, phá vỡ bức tường mà tội lỗi đã dựng lên. Ngày nay, chúng ta có thể lãnh nhận hơi thở của Chúa Phục sinh qua bí tích giải tội: “con là một thụ tạo mới, hãy ra đi và mang luồng khí mới cho mọi người”.
  3.  Chỉ sau khi đã sống lại Chúa Giêsu mới thông ban cho các thánh tông đồ quyền tha tội. Trước đó, Người cần dang đôi tay trên thập giá. Thập giá là cái giá của tội lỗi; thập giá là cái chết mang lại sự sống cho chúng ta. Với lòng biết ơn sâu xa, chúng ta hãy cầu xin: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  4. Khi làn sóng của cơn cám dỗ nổi lên và đe doạ nhận chìm chúng con, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  5. Khi số tội lỗi nặng nề khiến chúng con đâm ra nghi ngờ ơn thứ tha của Chúa, chúng con cầu xin Chúa: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  6. Khi ý nghĩ về cuộc sống vĩnh cửu khiến chúng con lo sợ sự phán xét của Chúa, chúng con tin tưởng thưa lên: Lạy Chúa Giêsu, nhờ cây thánh giá của Chúa, xin cứu độ chúng con!
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Thánh Thần là sức sống mãnh liệt do Chúa Cha phái đến thế trần, xin thổi lên làn gió để thúc đẩy chúng con đến bờ biển công lý và an bình, xin thổi lên sự sống trên những đám xương khô cằn của chúng con, và biến chúng con thành những chứng nhân cho Chúa Kitô phục sinh. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ TÁM:
CHÚA PHỤC SINH CỦNG CỐ ĐỨC TIN CỦA THÁNH TÔMA 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông : “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tô-ma : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tô-ma thưa Người : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”(Ga 20,24-29)
  2. Chú giải.Ông Tôma vẫn còn nghi ngờ về Chúa Phục sinh. Nhưng chính nhờ mối nghi ngờ ấy mà Chúa Phục sinh đã đến để chữa lành ông cũng như chúng ta: “Tôma, hãy đặt ngón tay vào đây … hãy đưa tay ra”. Ông đã khuất phục và đã để cho Chúa Thánh Thần giục ông thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Tin là chấp nhận mầu nhiệm: tin vào thái dương khi trời tối đen, tin vào tình yêu giữa cảnh hận thù. Tin là lao mình vào trong tay của Chúa. Cuộc đời của ta có ý nghĩa nhờ đức tin vào Thiên Chúa của sự sống, tin rằng dù khi mọi sự sụp đổ thì Ngài vẫn bền vững.
  3. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã kiên nhẫn giải thích cho các tông đồ về ý nghĩa của sự chết và sự sống. Chúng con vẫn còn cần đến Chúa. Chúng con xin lặp lại lời tuyên xưng của tông đồ Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”
  4. Chúng con cầu xin khi gặp nguy nan, khi tâm trí chúng con bị chao đảo trước những học thuyết thách đố đức tin, chúng con thưa lên rằng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  5. Chúng con cầu xin khi gặp khô khan, khi Chúa xem ra xa vắng đang khi chúng con mong cảm thấy Chúa gần gũi, cùng với tông đồ Tôma, chúng con thưa lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  6. Chúng con cầu xin khi bị lầm lẫn, khi khó nhận ra sự thật, và khi gặp nguy cơ rơi vào những kết luận sai lạc, chúng con thưa lên cùng với tông đồ Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, chúng con biết rằng đức tin đưa chúng con đến sự sống đời đời, nhưng không phải lúc nào đức tin cũng dễ dàng, Tin là phó thác cho Chúa trong những cơn thử thách. Lạy Chúa của sự sống, xin tăng thêm đức tin cho chúng con, đức tin là hoa trái của cuộc Phục sinh. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ CHÍN:
CHÚA PHỤC SINH GẶP CÁC MÔN ĐỆ Ở HỒ TIBERIA

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan.Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông : “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp : “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả. Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. Người nói với các ông : “Này các chú, không có gì ăn ư ?” Các ông trả lời : “Thưa không.” Người bảo các ông : “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô : “Chúa đó !” Vừa nghe nói “Chúa đó !”, ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước. Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giê-su bảo các ông : “Đem ít cá mới bắt được tới đây !” Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói : “Anh em đến mà ăn !” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai ?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. (Ga 21,2-13)
  2. Chú giải. Chúa Phục sinh đến gặp gỡ chúng ta giữa những hoàn cảnh sinh sống thường nhật: trong nhà, ngoài đường, trên đường phố, dọc theo bờ biển. Người xâm nhập vào những niềm vui nỗi buồn, những hy vọng và lo âu của nhân loại. Người mang lại luồng gió trẻ trung khi làm tăng thêm những điều tốt lành, tựa như những con cá, những bữa ăn. Bên bờ hồ Tibêria, Người dạy một bài học mới về sự sống: hễ càng chia sẻ thì càng tăng thêm. Chúa Giêsu vẫn còn đói nơi một nửa nhân loại trên địa cầu. Tin vào Chúa Giêsu là có khả năng làm gợi lên niềm hy vọng nơi những nấm mồ.
  3. Đấng đang xin miếng ăn là Chúa tể vạn vật. Đấng chìa tay xin chiếc bánh là chính Đấng Toàn năng. “Ta đói và các ngươi đã cho ta ăn”. Chúa Giêsu tỏ lộ sự hiện diện của mình nơi những người nghèo đang đói khổ. Với lòng tin, chúng ta hãy thưa với Người: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  4. Những người nghèo không có gì trong tay, những em bé chết vì không có gì để ăn, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  5. Những gia đình không nhà ở, những bạn trẻ không có công ăn việc làm, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  6. Những người bệnh không ai chăm sóc, những người già cả lâm cảnh neo đơn, chúng con nghĩ đến họ và cầu xin: “Lạy Chúa xin biến chúng con thành những kẻ phục vụ tình thương của Chúa”.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, Chúa không hiện ra oai phong lẫm liệt giữa sấm chớp, nhưng đã tỏ lộ như là Thiên Chúa của cuộc sống bình dị, trên bờ hồ. Chúa ngồi vào bàn những người đang thiếu thốn chứ không dư dật. Chúa ngồi vào bàn những người nghèo, thiếu niềm hy vọng. Xin biến chúng con thành những chứng nhân của Chúa Phục sinh trong cuộc sống thường ngày, và thế giới sẽ được biến đổi theo khuôn mẫu của cuộc Phục sinh của Chúa. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI:
CHÚA PHỤC SINH TRAO QUYỀN THỦ LÃNH CHO ÔNG PHÊRÔ

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Gioan. Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : “Anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”.(Ga 21,15-17).
  2. Chú giải.Chúa Phục sinh hỏi ông Phêrô đến ba lần: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?”. Chúa Giêsu là chàng rể của nhân loại mới. Người muốn chia sẻ với cô dâu tất cả: Cha của Người, Thân mẫu, Mình và Máu của Người trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta cũng được kêu gọi đích danh giống như ông Phêrô: “con có yêu mến Thầy không?”. Và chúng ta cũng thấy lúng túng để trả lời. Tuy nhiên, cùng với ông, cùng với lòng can đảm của do Thần khí mang lại, chúng ta hãy thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết hết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Yêu là trao hiến mình, trao hiến mãi mãi.
  3. Chúa Giêsu đã đặt tình yêu làm trung tâm của sứ điệp Tin mừng, tình yêu dành cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu thì cần chứa đầy tình yêu trong trái tim. Chúng ta hãy cầu nguyện: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  4. Tình yêu chiến thắng sự chết. Chúng ta hãy thưa với Chúa: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  5. Tình yêu của Chúa đã được trút đổ xuống tâm hồn chúng ta, vì thế chúng ta hãy nguyện xin: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  6. Tình yêu thắng tất cả và chịu đựng tất cả. Vì thế chúng ta khẩn nài: Xin đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu, chúng ta tạ ơn Chúa vì hồng ân Hội thánh, được thiết lập trên đức tin và lòng yêu mến của tông đồ Phêrô. Mỗi ngày, Chúa chất vấn chúng con: “Con có yêu mến Thầy hơn những người này không?”, và mời gọi chúng con góp phần vào việc xây dựng Hội thánh. Xin cho chúng con xác tín rằng chỉ nhờ tình yêu mà  chúng con mới  có thể trở thành những viên đá sống động của Hội thánh, và chỉ nhờ hy sinh thì chúng con mới có thể làm cho Hội thánh tăng trưởng trong chân lý và bình an. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI MỘT:
CHÚA PHỤC SINH UỶ THÁC CHO CÁC MÔN ĐỆ SỨ MỆNH PHỔ THẾ

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Tin mừng theo thánh Matthêu. Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”(Mt 28,16-20).
  2. Chú giải. Thật là một vinh dự được Chúa tuyển chọn và kêu gọi. Ơn gọi kèm theo một nhiệm vụ được uỷ thác. Nhiệm vụ Chúa trao cho các môn đệ thật là nặng nề, bởi vì họ phải hành động nhân danh Người. Tuy nhiên, Người đã hứa sẽ ở lại với họ, để nâng đỡ họ. Trong Hội thánh có nhiều công tác khác nhau, nhiều chỗ đứng khác nhau, nhưng chỉ có một sứ mạng duy nhất, đó là: loan báo Tin mừng của công lý, tình yêu, hoà bình. Chúng ta hãy mang tin vui này cho hết mọi người đang mong chờ.
  3. Vâng theo lời dạy của Chúa Giêsu, chúng ta hãy nguyện xin Chúa Cha: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  4. Xin cho các giám mục và linh mục không ngừng loan báo và dạy dỗ đức tin, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  5. Xin cho các nhà truyền giáo không thối chí trước những khó khăn, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  6. Xin cho tất cả các tín hữu ý thức nhiệm vụ loan báo Tin mừng khắp nơi, chúng ta hãy nguyện cầu: Xin Cha sai thợ gặt đến đồng lúa của Cha.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã hứa với các môn đệ: “Thầy ở với các con mọi ngày”. Chúng con là những người yếu ớt, không thể gánh vác những nhiệm vụ được uỷ thác. Những lời trấn an của Chúa mang lại sức mạnh cho những kẻ yếu đuối, kiên trì cho những kẻ bấp bênh, can đảm cho những kẻ sợ sệt, hân hoan cho những kẻ sầu buồn. Xin Chúa hãy trở thành ánh sáng dẫn đường cho chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI HAI:
CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ. Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” Người đáp : “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.”Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói : “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1,6-11).
  2. Chú giải. Trời và đất gắn chặt với nhau. Nhờ mầu nhiệm Nhập thể, trời đã xuống đất. Nhờ mầu nhiệm Thăng thiên, đất được đưa lên trời. Chúng ta xây dựng thành phố của con người ở dưới đất, để được cư ngụ trong thành phố của Thiên Chúa ở trên trời. Chúng ta thường dồn hết tâm lực vào thế giới ở dưới đất này, muốn xây dựng một thế giới hạnh phúc ở đời này, nhưng chúng ta không tìm thấy hạnh phúc. Chúng ta cần tìm cách đưa thế giới này lên trời, bằng cách giúp cho những kẻ nghèo hèn, những kẻ bị gạt ra lề xã hội được ngẩng đầu lên, khôi phục lại phẩm giá của mình.
  3. Chúng ta là thành phần của Hội thánh là đoàn dân được Chúa Kitô cứu độ. Chúng ta hãy đặt niềm tin tưởng nơi Người và tha thiết nài xin: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  4. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho các con”. Trong niềm mong đợi, chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  5. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu nguyện với Chúa Cha để tất cả chúng con được đoàn tu với Chúa trên thiên quốc. Với niềm hy vọng ấy, chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  6. Lạy Chúa Giêsu, các thiên sứ đã đoan chắc rằng Chúa sẽ trở lại để kết liễu lịch sử cứu độ. Chúng con hy vọng ngày ấy sẽ là ngày hân hoan trọng đại, vì thế chúng con nguyện cầu: Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn cứu độ cho chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đã đi trước để dọn chỗ cho chúng con. Xin cho chúng con cắm mắt nhìn về nơi hoan hỉ đích thực. Đang khi nhìn về cuộc Phục sinh viên mãn, chúng con cố gắng thực hiện lễ Phục sinh ở dưới trần gian này cho tất cả mọi người. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI BA:
HỘI THÁNH CÙNG VỚI MẸ MARIA CHỜ ĐỢI CHÚA THÁNH THẦN
 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ.Bấy giờ các ông từ núi gọi là núi Ô-liu trở về Giê-ru-sa-lem. Núi này ở gần Giê-ru-sa-lem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát.  Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông : Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê, Phi-líp-phê, Tô-ma, Ba-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa con ông Gia-cô-bê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su. (Cv 1,12-14).
  2. Chú giải. Trong kinh Magnificat, Đức Mẹ đã ca tụng Thiên Chúa của sự phục sinh vì đã ban cho lịch sử một khuôn mặt con người: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm người. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng”. Giờ đây cùng với các môn đệ của Chúa, Mẹ tỉnh thức trông chờ khai nguyên của buổi bình minh mới. Các Kitô hữu cũng được mời gọi tỉnh thức cùng với Mẹ Maria. Mẹ dạy chúng ta hãy chắp tay lại để biết mở tay ra, những bàn tay dâng hiến, những bàn tay trong sạch, những bàn tay bị thương tích vì yêu thương giống như Chúa Phục sinh.
  3. Lạy Chúa Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, Chúa đã mang lại ý nghĩa cho những khát mong của nhân loại trong suốt dòng lịch sử, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện:Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  4. Lạy Thần khí khôn ngoan, Đấng gợi lên những lựa chọn thích đáng cho đời sống, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  5. Lạy Thần khí dũng mạnh, Đấng củng cố các ý chí mỏng giòn để chống đối sự dữ, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  6. Lạy Thần khí sùng mộ, Đấng gợi lên những tâm tình sốt sắng với công việc của Thiên Chúa và thuận theo ý của Ngài, cùng với Mẹ Maria, chúng con khẩn nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện. Lạy Chúa Kitô phục sinh, hằng hiện diện trong cộng đoàn Hội thánh, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin hãy đổ tràn Thánh Thần xuống trên chúng con, Thần khí sự sống, Thần khí vui tươi, Thần khí bình an, Thần khí dũng mạnh, Thần khí yêu thương. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
  8. Amen. Lạy Cha. Điệp ca.

CHẶNG THỨ MƯỜI BỐN:
CHÚA PHỤC SINH PHÁI THÁNH THẦN ĐẾN CÁC MÔN ĐỆ 

C: Lạy Chúa Kitô, chúng con thờ lạy và chúc tụng Chúa.

T: Vì nhờ cuộc Phục sinh mà Chúa đã ban sự sống cho nhân loại.

  1. Trích sách Công vụ các tông đồ. Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình.(Cv 2,1-6).
  2. Chú giải. Chúa Thánh Thần đến, và Ngài biến đổi những gì mà Ngài chạm đến. Ngài chạm đến cũng lòng của một trinh nữ, và người ấy trở thành bà mẹ. Ngài chạm đến một thân xác bị vùi dập, và thân xác ấy được phục sinh. Ngài chạm đến một đám đông, thế rồi nảy sinh một đoàn các tín hữu sẵn sàng hiến mạng để làm chứng cho đức tin. Lễ Ngũ tuần là luồng gió thổi vào một thế giới tầm thường và thiếu niềm hy vọng. Lễ Ngũ tuần là lửa hăng say nhiệt thành. Mặt trời lặn xuống hôm nay thì ngày mai sẽ mọc lên huy hoàng. Thiên Chúa không đặt vào bàn tay chúng ta những giải đáp cho các vấn đề, nhưng Ngài ban cho chúng ta những bàn tay để giải quyết các vấn đề.
  3. Chúa Thánh Thần là sự sống của Hội thánh. Hội thánh do Chúa Giêsu thiết lập, bắt đầu sinh sống và bành trướng vào ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần gìn giữ ngọn lửa yêu mến luôn cháy sáng trong lòng Hội thánh. Chúng ta tin tưởng cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  4. Khi lòng hăng hái đã suy giảm và niềm phấn khởi trở nên yếu kém, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  5. Khi chân đã chùn bước , và bóng tối nghi nan không cho thấy lối đi, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  6. Khi tính uể oải muốn dừng lại hoặc lòng nhút nhát xóa bỏ mọi quyết tâm, chúng con cầu xin: Lạy Chúa Thánh Thần, xin nhóm lửa yêu mến trong lòng chúng con.
  7. Chúng ta dâng lời cầu nguyện.Lạy Chúa Thánh Thần là mối liên kết giữa Chúa Cha với Chúa Con, Chúa là Đấng kết hợp chúng con với Đức Kitô Phục sinh; Chúa là Đấng liên kết chúng con trong Hội thánh. Chúng con nài xin Chúa. Xin Chúa thở hơi trên chúng con để chúng con nghĩ đến điều thánh thiện; xin Chúa thúc đẩy chúng con để chúng con làm điều thánh thiện; xin Chúa thu hút chúng con, để chúng con yêu mến điều thánh thiện”. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
  8. Amen, Lạy Cha. Điệp ca.

***
LỜI NGUYỆN KẾT THỤC

Lạy Thiên Chúa là nguồn mạch an vui và hy vọng, chúng con đã sống những biến cố của cuộc sống lại và lên trời của Con Cha cho đến lúc Thánh Thần ngự xuống. Xin cho việc suy gẫm những mầu nhiệm này mang lại cho chúng con ân sủng tràn đầy của Cha, và giúp chúng con có khả năng làm chứng cho Tin mừng của Đức Giêsu Kitô giữa lòng thế giới. Chúng con cầu xin cho Hội thánh biết phản chiếu trung thực những bước chân của Đức Kitô trong lịch sử. Nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nguyện xin cho Hội thánh tỏ bày cho thế giới những kho tàng phong phú của tình yêu của Cha qua việc cử thành các bí tích, và giúp cho hết mọi người đạt đến sự phục sinh vĩnh viễn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

  1. Amen
  2. Xin Thiên Chúa toàn năng là Cha và Con và Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em.
  3. Amen
  4. Chúc anh chị em ra về bình an.
  5. Tạ ơn Chúa.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Nguồn: 
daminhvn.net

Chia sẽ bài viết này trên:

Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát – Thứ Sáu Tuần II Phục Sinh

Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát – Thứ Sáu Tuần II Phục Sinh

I. LỜI CHÚA: Ga 6, 1-15

1 Sau đó, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a.2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm.3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ.4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây? “6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi.7 Ông Phi-líp-phê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.”8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người:9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu! “10 Đức Giê-su nói: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn.11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.”13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng.

14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian! “15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

                                                            

II. SUY NIỆM

“Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái”. Như thế, bầu khí của của trình thuật “Bánh hóa nhiều” trong Tin Mừng theo thánh Gioan tái hiện lại bầu khí của Xuất Hành; Đức Giê-su tái hiện lại bầu khí này, nhưng tái hiện lại một cách mới mẻ, chứ không lập lại như cũ: bánh ăn là khởi điểm, là dấu chỉ của bánh đích thật: đó là Lời và Ngôi Vị của Ngài. Đức Kitô là như thế đối với lịch sử dân Chúa, cũng như đối với lịch sử cuộc đời của chúng ta.

  • “Bấy giờ, Đức Giê-su sang bên kia biển hồ Ga-li-lê”. Hành trình của Đức Giê-su nhắc nhớ hành trình vượt Biển Đỏ của dân Do thái.
  • “Có đông đảo dân chúng đi theo Người”. Chúng ta thể so sánh hình ảnh với biến cố lịch sử Dân Israel vượt Biển Đỏ đi vào sa mạc dưới chăn dắt của Đức Chúa qua trung gian Môsê.
  • “Bởi vì họ đã từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ ốm đau”, nghĩa là dấu lạ phục hồi sự sống. Như xưa kia, Đức Chúa cũng phục hồi sự sống cho dân Do thái, khi giải thoát Dân khỏi kiếp nô lệ.

Tuy nhiên, nơi những gì sách Tin Mừng kể lại cho chúng ta, có một điểm khác tuyệt đối: họ, đám đông và các môn đệ, đi theo chính Đức Ki-tô, Ngôi Lời Thiên Chúa, thay vì Môsê.

1. Đức Giêsu “thử thách” Philiphê

Đức Giê-su hỏi ông Phi-líp-phê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” Và thánh sử Gioan thêm: “Người nói thế là để thử ông!” Trong các Tin Mừng nhất lãm, lí do Đức Giêsu muốn cho dân chúng ăn là vì họ đã theo Ngài suốt ngày và lúc đó trời đã xế chiều, họ đang đói lả. Với Tin Mừng theo thánh Gioan, lý do khác hẳn, và có tầm mức lịch sử cứu độ: đó là trong bầu khí của Lễ Vượt Qua, Đức Giê-su muốn tái hiện lại ơn huệ Đức Chúa nuôi dưỡng dân chúng bằng Manna, bánh ban xuống từ trời, và dâng hiến chính bản thân mình để làm cho viên mãn ơn huệ lương thực trong lịch sử cứu độ và cả trong sáng tạo nữa (x. St 1, 29).

Thực vậy, xưa kia Đức Chúa thử thách Dân của Ngài trong sa mạc, ở đây Đức Giêsu thử thách đích thân môn đệ Philiphê! Chúa cũng thử thách đích thân mỗi người chúng ta. Chúa thử thách chúng ta, tùy chúng ta hiểu Chúa thử thách để làm gì. Nhưng kinh nghiệm tưởng nhớ và nhận ra ơn huệ mang tính quyết định, nhất là ơn huệ tha thứ và tái tạo. Thánh I-nhã cho chúng ta một giải đáp: “để chúng ta cảm nhận cách sâu xa tất cả là ơn huệ và là ân sủng của Thiên Chúa, Chúa chúng ta” (Linh Thao, số 322).

Chúa thử thách chúng ta, đó là quyền của Đấng Tạo Dựng, của Đấng Sinh Thành; nhưng chúng ta là tạo vật, là tôi tớ, là con cái, là môn đệ, chúng ta có quyền thử thách Chúa không? Nhà Dòng thử thách chúng ta trong thời gian huấn luyện, nhưng chúng ta có thể thử thách Nhà Dòng không? Thế mà, Dân Chúa xưa kia đã thử thách Đức Chúa tới 10 lần (Ds 14, 22), nghĩa là lúc nào cũng thử thách, không chịu tin. Ở đây, dường như các tông đồ Phi-líp-phê, Anrê và các môn đệ cũng thử thách Đức Giêsu khi nêu ra vấn đề tiền bạc và khả năng eo hẹp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”. Trong khi kho lương thực chỉ có “năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá”, hơn nữa không phải của nhóm các môn đệ, nhưng của một em bé!

Trước một nhu cầu lớn như thế, các môn đệ nghĩ ngay đến tiền. Chúa mời gọi họ làm nhưng lại không cho tiền ! « Tiền » ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các phương tiện và điều kiện để làm việc, nhằm đáp ứng nhu cầu của người khác cách nhanh chóng và hiệu quả. Nhưng sống tương quan với Chúa, và nhất là khi cộng tác với sứ mạng của Chúa, nghĩa là làm chứng cho Tin Mừng qua đời sống gia đình, đời sống tu trì, việc phục vụ, việc tông đồ, mục vụ…, chúng ta không thể chỉ suy xét trên bình diện phương tiện, nhưng còn trên bình diện thần nhiệm nữa, như thánh Phaolô đã kinh nghiệm : « Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi : Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối » (2Cr 12, 8-9). Sống chiều kích thần nhiệm là kết hợp với Đức Kitô và để sức sống Phục Sinh của Ngài tỏ hiện ra nơi con người giới hạn, mỏng dòn, yếu đuối của chúng ta, và nơi những phương tiện hạn hẹp và nghèo nàn của chúng ta. Năm chiếc bánh và hai con cá diễn tả con người thật của chúng ta.

2. Lời tạ ơn trên bánh

Chúng ta hãy dừng lại để nhìn và nghe từng cử chỉ là lời nói của Đức Giêsu : Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Các Tin Mừng Nhất lãm kể rằng, Ngài trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Các môn đệ phân phát bánh, nhưng không còn là bánh của mình nữa, nhưng là từ bàn tay của Chúa. Chúa không làm cho bánh rơi xuống từ trời ào ào, như xưa Đức Chúa cho Manna đổ xuống từ trời như mưa rào, nhưng Đức Giêsu làm cho những gì có sẵn, dù rất nhỏ bé và giới hạn sinh sôi nẩy nở đến vô hạn. Đó lạ dấu lạ cả thể, nhưng lại được thực hiện ngang qua một hành động rất đỗi bình thường nhưng ý nghĩa thật lớn lao: Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó.

Bánh đến từ đất trời và công lao của con người: “Lạy Chúa, là Chúa Cả Trời Đất, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này, là hoa màu của ruộng đất và công lao của con Người, chúng con dâng lên Chúa để trở nên Bánh Trường Sinh cho chúng con”. Và Bánh chưa hóa nhiều, nhưng Đức Giêsu đã tạ ơn rồi; cũng như trong cuộc thương khó, Đức Giêsu chưa được cứu thoát khỏi sự chết, Ngài đã tạ ơn rồi, ngang qua Bí tích Thánh Thể (Eucharistie), vốn là Bí Tích Tạ ơn. Đó là lời Tiền Tụng (Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta – Thật là chính đáng…) trước khi truyền phép trên bánh và rượu, hiện thân của cuộc Thương Khó. Tạ ơn trước khi dấu lạ xẩy ra, tạ ơn trước khi được Thiên Chúa cho trỗi dậy từ cõi chết, đó là diễn tả lòng tín thác vào quyền năng Thiên Chúa ở mức độ tột cùng. Chúng ta được mời gọi tạ ơn hằng ngày, dù còn đang ở trên đường đi đầy thách đố. Chúng ta có thể dừng lại thật lâu để chiêm ngắm từng cử chỉ của Chúa, và để những cử chỉ này đánh động, gợi mở, soi sáng ơn gọi và những băn khoăn của chúng ta. Có ba cấp độ ý nghĩa của phép lạ bánh hóa nhiều.

(1) Bánh lương thực. Bánh ăn hằng ngày đã hóa nhiều thực sự, và trong những năm thi hành sứ vụ, Đức Giêsu thực hiện hai lần (1 lần theo Tin Mừng Gioan). Điều này cho thấy, Đức Giêsu đến không để giải quyết nạn đói cho con người. Vì con người có khả năng lo cho nhau no đủ, nếu biết chia sẻ. Phép lạ là những « dấu chỉ » của một thực tại khác.

Tuy nhiên, dấu chỉ “Bánh Hóa Nhiều” vẫn mời gọi chúng ta nhận ra “bánh” chúng ta dùng hằng ngày trong suốt cuộc đời chúng ta, thực sự đến từ hồng ân lạ lùng Chúa ban: “Người ban bánh cho tất cả chúng sinh” (Tv 136).

(2) Bánh Lời Chúa. Dấu lạ « Bánh Lời Chúa » được Chúa thực hiện cho chúng ta mỗi ngày cách dư tràn trong Thánh Lễ và nhất là khi chúng ta cầu nguyện với Lời Chúa và chia sẻ Lời Chúa. Và Bánh Lời Chúa hướng chúng ta đến Bánh Thánh Thể, bởi vì Chúa vừa gieo Lời và vừa gieo Mình (x. Ga 12, 24); và Lời và Mình Chúa là một.

(3) Bánh Thánh Thể. Thiên Chúa ban cho chúng ta bánh hằng ngày (x. Tv 136, 25) chính là để hướng chúng ta đến Bánh Hằng Sống; nói cách khác, bánh hằng ngày đã chứa đựng lời hứa ban bánh Hằng Sống rồi (x. St 1, 29). Vì thế, ngay sau khi thực hiện dấu lạ bánh hóa nhiều, Đức Giê-su nói về Bánh Hằng Sống là chính Người (x. Ga 6, 22-58).

Bánh Hằng Sống được trao ban cho chúng ta một cách quảng đại mỗi ngàynơi Bánh Thánh Thể trong Thánh Lễ ; chúng ta chỉ cần mở tay và mở lòng ra để đón nhận. Tuy không có sự dư tràn vật chất, nhưng lại có sự « dư tràn » về ơn huệ sự sống và ngôi vị của Đức Ki-tô.

Bánh hằng ngày, Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể được trao ban cho chúng ta cách nhưng không, chính là để làm cho chúng ta trở thành “Tấm Bánh” theo khuôn mẫu của “Tấm Bánh Giê-su”. Thật vậy, Chúng ta được mời gọi dâng cho Chúa « tất cả », tất cả những gì chúng ta có và những gì chúng ta là ; và cái « tất cả » của chúng ta thì nhỏ bé và giới hạn như « 5 cái bánh và 2 con cá », nhưng chúng ta được mời gọi trao vào tay Chúa. Đây là cử chỉ mang chiều kích Thánh Thể : « năm chiếc bánh và hai con cá », là chính con người chúng ta, đã trở thành chính Chúa ; tương tự như bánh là « hoa mầu của ruộng đất và công lao của con người » nhưng được dâng cho Chúa, để trở thành « Bánh Trường Sinh » nuôi dưỡng chúng ta. Và chúng ta được mời gọi cộng tác để chia sẻ và trao ban chiếc « bánh đời tôi », đã được trao vào tay Chúa và Chúa làm cho trở thành chính Chúa, cho nhiều người.

 3. Ơn huệ dư tràn

Xưa kia, Đức Chúa không cho để dành Manna cho hôm sau: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử thách chúng như vậy để xem chúng có tuân theo luật của ta hay không” (Xh 16:4). Lệnh truyền này mời gọi Dân sống bởi ân huệ Thiên Chúa ban cách trực tiếp từng ngày một, không được ham muốn. Và khi họ không giữ lời Chúa dặn, và biến dấu chỉ Manna thành một tài sản, thì khi đó: “dòi bọ sinh sôi và phần để dành bốc mùi hôi thối” (Xh 16:20). Điều này có nghĩa là ơn huệ sẽ trở nên vô nghĩa, bốc mùi sự chết, nếu bị ham muốn, bị giữ làm của riêng.

Ơn huệ bánh của Đức Kitô được ban dư tràn, và Ngài còn mời gọi thu lượm lại. « Dư Tràn » nhưng không chính là dấu vết của Thiên Chúa (mẻ cá lạ, gấp trăm, 70 lần 7, 6 chum nước trở thành rượu ngon, chữa bệnh gắn liền với tha tội, nước hằng sống..). Bánh tiếp tục được ban cho dân của Chúa, cho từng người chúng ta mỗi ngày, mỗi ngày cách dư tràn. Bánh diễn tả hồng ân, hồng ân Thiên Chúa được ban ngang qua đất trời và bàn tay của con người của anh chị em, đó là những bữa ăn hàng ngày ; bánh diễn tả sự sống đời đời, đó là bánh Thánh Thể ; và cả hai đều diễn tả chính Chúa, chính Ngôi vị của Chúa. Đấng chúng ta khát khao và chỉ mình Ngài mới làm chúng ta no thỏa, dư tràn mà thôi.

*  *  *

Qua ơn huệ bánh được ban dư tràn, thay vì đón nhận như một dấu chỉ và nghe ra Lời yêu thương của Thiên Chúa, họ lại muốn tôn Đức Giêsu làm vua. Đây chính là một cách thức khác để giữ lại bánh, nhưng nghiêm trọng hơn vì, Đức Giêsu mà làm Vua, thì ta sẽ có tất cả: quyền bính, tiền tài và danh vọng, tương lại bảo đảm. Có phải chúng ta đi theo Chúa là vì vậy không? Có phải chúng ta sống đời tu, vì ham muốn những chuyện này không? (x. Mt 20, 17-28)

Đức Giêsu lánh mặt, nhưng khi họ bắt Ngài đi đóng đinh thì Ngài chịu. Và trên thập giá họ viết: INRI (Iesus Nazarenus, Rex Iudaeorum), Giêsu Nazareth, Vua Dân Do Thái. Bởi vì, Đức Giêsu không muốn làm vua theo kiểu loài người, bắt người khác phải phục vụ và trao ban; Đức Giêsu muốn làm vua theo cách thức của Thiên Chúa, đó là phục vụ và trao ban chính mình cho muôn người.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

MÓN QUÀ CỦA NIỀM TIN -Phút Cầu Nguyện, Thứ Năm 23/04/2020

MÓN QUÀ CỦA NIỀM TIN – Phút Cầu Nguyện, Thứ Năm 23/04/2020

Một trận động đất xảy ra tại một trường học ở Mỹ. Khung cảnh hoang tàn của ngôi trường học sau cơn động đất làm những cha mẹ học sinh bật khóc vì tuyệt vọng.

Trong khi đội cứu hộ cố gắng cứu những em bé trong những lớp học ít bị đổ nát, một người đàn ông cứ xông vào những nơi nguy hiểm vì những bức tường có thể sập xuống bất cứ lúc nào, và luôn miệng gọi tên con. Mọi người lo sợ ông phát cuồng vì mất con và làm cản trở công việc cứu hộ nên khuyên ông ra ngoài, nhưng ông nói: “Tôi đã hứa với Paul rằng lúc nào tôi cũng ở bên con, cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra”.

Khi đội cứu hộ bắt đầu dừng tay và họ đinh ninh rằng họ đã cứu hết những người còn sống ra khỏi đống gạch vụn thì ông vẫn kiên nhẫn tìm kiếm. Bỗng ông nghe tiếng gọi thật yếu ớt ngắt quãng vọng từ đâu đó: “Bố ơi! Chúng con đây này”. Ông điên cuồng đào bới. Mọi người xung quanh thấy thế vội chạy tới hỗ trợ ông. Như một phép lạ, dưới đống đổ nát là một khoảng trống. Trong đó khoảng gần chục đứa trẻ đang nhìn ông với ánh mắt hy vọng, chờ đợi. Ông lần lượt kéo từng đứa lên và Paul, con trai ông là người lên sau cùng.

Khi đã trong vòng tay của bố, cậu bé nói trong nước mắt: “Con biết bố không bao giờ bỏ con mà. Các bạn không tin con và sợ lắm nên con chờ bố đến và để các bạn lên trước, vì con tin rằng bố sẽ không bao giờ bỏ con đâu”.

Quý vị và các bạn thân mến!

Niềm tin có lẽ là một trong những món quà quý giá nhất mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người trong cuộc sống này. Bởi nhờ có niềm tin giúp chúng ta vượt qua những trở ngại của cuộc sống, biến cái không thể thành có thể. Tuy nhiên, sống niềm tin không phải là điều dàng, bởi cuộc sống của chúng ta luôn được xây dựng trên những dữ liệu cụ thể, những lập trình có thể tiên liệu được. Chúng ta không thể phó thác cuộc sống tương lai của mình vào những gì mà mình không thể nhìn thấy trong hiện tại.

Nhưng Chúa lại nói với chúng ta rằng: “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Và đúng là nếu chúng ta sống được bằng niềm tin thì đó quả là mối phúc cho mỗi chúng ta. Cậu bé đã vượt qua nỗi sợ hãi và giúp những đứa bạn của mình giữ bình tĩnh đợi người tới cứu, vì cậu tin vào lời hứa của người bố rằng lúc nào ông cũng ở bên cậu, cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra. Và quả thật cậu và các bạn đã được cứu sống nhờ vào niềm tin đó.Vì thế,  khi chúng ta hoàn toàn bất lực trước những bế tắc của cuộc đời mà vẫn có được niềm tin vững vàng rằng chắc chắn Chúa không bỏ chúng ta thì niềm tin ấy là sự giải thoát tuyệt vời.

Thời gian qua, nhân loại đang oằn mình trong cơn đại dịch. Hằng ngày, tràn ngập trên các phương tiện truyền thông là những tin tức nói về sự bùng phát của dịch bệnh ở khắp nơi. Số người chết càng lúc càng gia tăng. Hoảng loạn, bế tắc, lo âu là tâm trạng của con người trong cơn đại dịch. Thế nhưng, là tín hữu Kitô giáo, hơn lúc nào hết, chúng ta cần được mời gọi để nhìn lại niềm tin của mình vào Thiên Chúa lớn như thế nào và vững vàng ra sao? Đây là lúc chúng ta thấy được cái phúc khi sống bằng niềm tin cho dù những gì đang xảy đến với chúng ta là tốt hay xấu. Niềm tin sẽ giúp chúng ta nhìn thấy được những thông điệp Chúa muốn gửi gắm qua những gì mà virus Corona đang làm với chúng ta. Và, khi sống bằng niềm tin, ta sẽ có được sự bình an tuyệt đối, vì biết rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Khổ Nạn và Phục Sinh! Trong khi chịu nạn, Ngài cũng từng thốt lên rằng: “Ôi Chúa ôi, ôi Thiên Chúa, sao Chúa đành bỏ con?”, thế nhưng chính niềm tin vào Thiên Chúa Cha đã giúp Ngài chiến thắng đau khổ và cái chết để hoàn thành sứ mạng Cứu Độ loài người mà Chúa Cha đã giao phó. Trong khi đối diện với thử thách đầy khắc nghiệt của cơn đại dịch chết người, xin cho chúng con vững lòng trông cậy, luôn “ngước trông về Chúa phù trì cứu giúp. Xin Chúa đừng đứng xa mặc kiếp thân này.” Amen.

Bình Minh

Chia sẽ bài viết này trên:

Ba ‘thị chứng nhân’ và Bí mật Fatima

Ba ‘thị chứng nhân’ và Bí mật Fatima

Sắp đến tháng Hoa đặc biệt trong đại dịch corona, người ta bắt đầu nhắc đến Bí mật Fatima cùng với các thị chứng nhân: Nữ tu Lucia, Thánh Franciso và Thánh Jacinta. Đây cũng là các mẫu gương sống của thời đại dịch.

Nữ tu Lucia

Hồng y Jose Saraiva  Martins – từng là Tổng trưởng của Bộ Phong Thánh và quen biết Lucia trong những năm cuối đời của chị – đã nhận xét Lucia là một nữ tu rất thông minh và giản dị, rất cụ thể và hài hước, rất dễ chịu và đôn hậu…

Là con út trong một gia đình có 7 người con – 6 gái và 1 trai, Lucia đã được cha mẹ là Antonio và Maria Rosa dos Santos  sinh ra vào ngày 28-3-1907, tại làng Aljustrel thuộc giáo xứ Fatima, Bồ Đào Nha.

Lucia được rửa tội ngày 30-3-1917, và rước lễ lần đầu khi lên 6 tuổi. Từ lúc 8 tuổi, cô bé đã suốt ngày ở ngoài đồng chăn chiên cùng với những mục đồng khác trong làng.

Và chính trong thời điểm này – khi Lucia đang chăn chiên cùng với hai em họ của mình là Jacinta và Francisco Marto, thì một vị thiên thần đã vài lần hiện đến với ba trẻ này, để chuẩn bị cho các em một sứ mạng đặc biệt: đón tiếp một vị khách lớn sẽ đến từ trời. Đó là Đức Trinh nữ Maria.

Vào ngày 13-5-1917 (lúc ấy Lucia được 10 tuổi), cô và hai em họ đang chăn chiên ở  Cova de Iria thì Mẹ Maria đã hiện ra lần đầu với ba em. Mẹ tiếp tục hiện ra với các em vào ngày 13 hằng tháng cho đến tháng Mười năm 1917 (trừ tháng Tám, các em đã không đến được vì bị những viên chức chống Giáo hội ngăn cản và nhốt tù). Trong những lần hiện ra này, Đức Trinh Nữ khuyến khích ba trẻ cầu nguyện, đặc biệt là lần chuỗi Mân Côi, và hy sinh hãm mình. Mẹ cũng truyền đạt một số lời tiên tri về tương lai (kết thúc Thế chiến I, sự gia tăng lầm lạc ở Nga lan rộng khắp thế giới, một số quốc gia bị hủy diệt, một cuộc đại chiến với dấu hiệu báo trước vì con người không sửa đổi, tín hữu bị bách hại…) Vào ngày 13-10-1930, Đức Giám mục José Alves Correia da Silva của Leiria-Fatima đã tuyên bố những lần Đức Mẹ hiện ra ở Fatima là sự kiện đáng tin và cho phép cử hành lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ với danh hiệu Đức Mẹ Mân Côi Fatima.

Jacinta và Francisco đã qua đời trong đại dịch Cúm Tây Ban Nha năm 1919. Còn Lucia tiếp tục sống để thực hiện nhiệm vụ Đức Mẹ giao cho mình. Năm 14 tuổi, Lucia vào nội trú trường Các Nữ tu Thánh Dorothée ở Vilar, gần Oporto ở phía bắc Bồ Đào Nha. Vào ngày 24-10-1925, Lucia vào tập tu ở Dòng Thánh Dorothée ở Tuy, vùng Galicie (Tây Ban Nha), cách biên giới Bồ Đào Nha không xa. Tại đây, nữ tu Lucia tiếp tục được Đức Mẹ hiện ra giải thích các thông điệp của Fatima. Lucia khấn lần đầu vào ngày 3-10-1928, và khấn trọn đời vào ngày 3-10-1934 với tên dòng là Nữ tu Maria của Mẹ Sầu Bi.

Vì mong có đời sống chiêm niệm sâu xa hơn, năm 1946, với sự cho phép của Đức Giáo Hoàng, Lucia gia nhập dòng kín Thánh Têrêsa ở Coimbra, và khấn dòng vào ngày 31-5-1949 với tên dòng là Maria Lucia của Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ.

Năm 1967, nữ tu Lucia đến Fatima để tham dự buổi lễ cử hành kỷ niệm 50 năm Đức Mẹ hiện ra, do ĐTC Phaolô VI chủ tọa. Chị Lucia cũng trở lại Fatima vào ngày 13-5-1982, khi ĐTC Gioan Phaolô II đến đây để cảm ơn Mẹ Maria đã cứu sống ngài trong cuộc ám sát ngày 13-5-1981. Chị Lucia còn trở lại đây đây hai lần nữa: khi ĐTC đến Fatima vào năm 1991; rồi năm 2000, khi ĐTC phong chân phước cho Jacinta và Francisco.

Nữ tu Lucia đã viết hai cuốn sách: sách “Hồi Ký” – kể lại các lần hiện ra của Đức Mẹ Fatima, và sách “Lời Kêu Gọi Từ Thông Điệp Fatima”- trả lời cho nhiều câu hỏi về cách sống thông điệp Fatima.

Trong cuộc hiện ra lần thứ hai ngày 13-6-2017, khi Lucia hỏi “Mẹ có đưa chúng con lên trời không?”,  Đức Maria đã trả lời: “Mẹ sẽ sớm đưa Jacinta và Francisco về trời. Nhưng con sẽ còn ở lại trái đất này lâu hơn, vì Chúa Giêsu muốn con làm cho người ta hiểu biết và yêu mến Mẹ nhiều hơn nữa. Chúa cũng muốn con cổ động lòng tôn sùng Trái tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ”.

Như vậy, Lucia là một thị chứng nhân khá lâu dài của Đức Mẹ Fatima. Hồng y Jose Saraiva  Martins – từng là Tổng trưởng của Bộ Phong Thánh và quen biết Lucia trong những năm cuối đời của chị – đã nhận xét Lucia là một nữ tu rất thông minh và giản dị, rất cụ thể và hài hước, rất dễ chịu và đôn hậu: “Nếu Lucia không phải là một người cụ thể, thông minh, thì chắc tất cả các tài liệu quan trọng về Fatima đã không được viết ra. Nhờ những tài liệu đó mà chúng ta biết được toàn bộ câu chuyện về Đức Mẹ Fatima”.

Sứ mạng thị chứng nhân tại thế của vị nữ tu này đã kết thúc vào ngày 13-2-2005: Lucia qua đời sau nhiều tuần bị suy nhược vì tuổi già sức yếu (thọ 98 tuổi). Một ngày sau khi Lucia về với Chúa, trong lá thư đề ngày 14-2-2005 gửi ĐGM Albino Mamede Oleto (giáo phận Coimbra), ĐTC Gioan Phaolô II [1] viết:

“Nữ tu Lucia để lại cho chúng ta một tấm gương tuyệt vời về lòng trung thành với Chúa và tuân theo ý Chúa với tràn trề niềm vui. Tôi rất xúc động khi nhớ đến những lần gặp gỡ và mối liên hệ thân hữu thiêng liêng ngày càng được được tăng cường thêm với vị nữ tu này. Tôi luôn được những lời cầu nguyện của chị hỗ trợ, đặc biệt là trong những giai đoạn chịu thử thách và đau khổ khắc nghiệt. Nguyện xin Chúa ân thưởng dồi dào cho chị vì đã phục vụ Giáo Hội cách âm thầm mà rất tuyệt vời…” [2]

Thánh lễ an táng nữ tu Lucia được cử hành tại nhà thờ chính tòa Coimbra và linh cữu của chị được chôn cất tại tu viện, sau đó được chuyển đến Vương cung Thánh đường Fatima, bên cạnh mộ phần của Francisco và Jacinta.

 Thánh Francisco Marto

Trong bài giảng lễ phong chân phước cho Francisco và Jacinta[3] vào ngày 13-5-2000, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ví Francisco như Môsê, thấy ngọn lửa bốc cháy mà không bị thiêu rụi. 

Chúa đã cho Francisco thấy nỗi “buồn sầu” lớn lao của Chúa! Nên chân phúc đã chỉ có một nguyện ước là “an ủi Chúa Giêsu và làm cho Người vui” bằng cách luôn cố gắng sống tốt, không ngừng dâng lên các hy sinh và lời cầu nguyện.

Francisco sinh ngày 11-6-1908, là người con thứ sáu trong số 7 đứa con của ông bà Manuel và Olimpia Marto.

Khá đẹp trai với mái tóc sáng, Francisco thích các trò chơi, thích gặp gỡ bạn bè, nhưng không thích cạnh tranh. Cậu không hề phàn nàn khi bị đối xử bất công, sẵn sàng từ bỏ một sở hữu quý giá (nhường một chiếc khăn tay đóng dấu hình Đức Mẹ cho một cậu bé, không muốn tranh đấu để giữ lấy nó). Cậu thích hòa hoãn, nhưng lại rất can đảm, ví dụ như khi phải đối đầu với cuộc thẩm vấn của ông thị trưởng. Cậu đã từng là một đứa trẻ nghịch ngợm, có lần đã bỏ những vật lạ không ăn được vào miệng anh trai đang ngủ! Cậu yêu thiên nhiên và động vật, chơi với thằn lằn và rắn, rồi mang về nhà, khiến mẹ cậu phải khó chịu. Có lần, tài sản chỉ có một xu thôi, cậu đã dùng tất cả tài sản nhỏ nhoi đó mà chuộc lấy một con chim trong tay bạn mình, rồi thả cho chú chim được bay tự do. Cậu hay thổi sáo cho Lucia và Jacinta múa hát. Tóm lại, cậu là người tử tế, hiền lành, chưa phải là thánh, nhưng sẵn sàng đón nhận những ân sủng sớm được ban cho cậu.

Khác với Lucia và Jacinta, Francisco chưa bao giờ nghe được những lời của Mẹ Fatima, mặc dù cậu đã nhìn thấy Mẹ hiện ra và cảm nhận sự hiện diện của Mẹ.

Sau khi Đức Mẹ hiện ra lần đầu, Lucia đã truyền tải thông điệp của Mẹ, rằng cậu sẽ được lên thiên đàng nếu siêng năng lần hạt Mân Côi.

Khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ hai, Lucia xin Mẹ cho mình được lên thiên đàng, Đức Mẹ đã trả lời rằng Francisco và Jacinta sẽ được sớm đưa về trời, nhưng Lucia sẽ phải đợi một thời gian (Lucia qua đời ngày 13-2-2005 ở tuổi 97).

Khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ ba, các em được cho biết một bí mật – trông thấy hỏa ngục – khiến các em thay đổi, trở nên như những người lớn hơn là trẻ em.

Vào thời điểm ấy, ông Artur de Oliveira Santos – là thị trưởng thành phố cũng là một thành viên Tam Điểm – đã đưa ra kế hoạch khủng bố các em. Ông bắt các em phải tự nhận mình nói dối, đe dọa bỏ các em vào chảo dầu sôi. Ông nhốt các em lại khiến ba trẻ không đến được điểm hẹn khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ tư (ngày 13-8-1917). Khi ấy Francisco đã tỏ ra hết sức dũng cảm, sẵn sàng chịu chết để được về trời.

Sau đó, các em vẫn tiếp tục đến điểm hẹn với Đức Mẹ trong hai ngày 13 của hai tháng kế tiếp.

Khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ năm, bất chấp những lời đe dọa của ông Thị trưởng được đăng trên báo chí, hàng chục ngàn người đã kéo đến xem. Trong số những người tò mò ấy, có giáo sư tiến sĩ Manuel Formigao, người sau đó sẽ thẩm vấn ba trẻ em và đã tin vào tính xác thực của các em.

Khi công chúng biết Đức Mẹ hứa thực hiện một phép lạ trong lần hiện ra kế tiếp, nhiều người quyết định ở đó, và vào ngày 13-10-1917, khoảng 70 ngàn người đã có mặt để chứng kiến phép lạ “mặt trời quay”.

Sau các lần Đức Mẹ hiện ra, cậu bé Francisco đã đến tuổi đi học. Tuy nhiên, cậu cũng dành rất nhiều thời gian cầu nguyện với Chúa Giêsu ẩn mình trong Nhà Tạm. Mối quan tâm lớn của cậu là an ủi cho Chúa được bớt ưu phiền và an ủi Trái Tim Đức Mẹ. Khi được hỏi cậu muốn gì khi lớn lên, Francisco trả lời: “Tôi không không muốn gì cả. Tôi muốn chết và lên trời.”

Tháng 8-1918, khi Thế chiến I sắp kết thúc, cả Francisco và Jacinta đều mắc dịch bệnh cúm Tây Ban Nha. Bệnh trở nặng chỉ trong thời gian ngắn. Vào tháng Tư năm sau, Francisco – biết mình không còn sống được bao lâu – đã xin được rước lễ lần đầu. Sáng hôm sau, lúc 10g ngày 4-4-1919, cậu đã từ trần với ánh sáng rực rỡ trên khuôn mặt. Francisco được mai táng vào ngày hôm sau trong nghĩa trang nhỏ ở Fatima, phía bên kia nhà thờ giáo xứ, và sau đó được đưa đến chôn trong Thánh đường ở Cova da Iria.

Thánh Jacinta Marto

Bé Jacinta cảm nhận sâu sắc nỗi buồn đau của Đức Mẹ, nên đã anh dũng hiến thân làm của lễ hy sinh đền tội thay cho các tội nhân.

Một ngày kia, em và Francisco ngã bệnh liệt giường… Đến lúc Francisco hấp hối, Jacinta nói với anh trai: “Cho em gửi lời kính chào Chúa và Đức Mẹ, và thưa với các Đấng rằng em chịu mọi sự các Đấng muốn để các người tội lỗi ăn năn trở lại”.

Jacinta đã từng xúc động sâu xa vì thị kiến hỏa ngục trong cuộc hiện ra ngày 13-7-1917 đến nỗi, để cứu các người có tội, không một việc hãm mình hay đền tội nào bị em coi là quá lớn… (Trích bài giảng lễ của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong dịp phong chân phước cho Francisco và Jacinta [4] vào ngày 13-5-2000)

Jacinta là em út của Francisco, sinh vào ngày 11-3-1910. Cô luôn chiếm được cảm tình của những ai quen biết cô. Xinh đẹp và tràn đầy sức sống, cô bé rất có duyên, thích khiêu vũ, và yêu các loài hoa. Và cô yêu Chúa cách đặc biệt. Lúc 5 tuổi, rớt nước mắt khi nghe kể về cuộc Thương khó của Chúa, cô thề sẽ không bao giờ phạm tội khiến Chúa phải đau buồn.

Jacinta có nhiều bạn, nhưng cô yêu người chị họ Lucia nhiều nhất. Khi Lucia lên mười tuổi, phải đi chăn chiên, không đến chơi với cô được nữa, Jacinta đã năn nỉ mẹ cho cô và Francisco dắt vài con chiên đi ra đồng mà chăm sóc chiên với Lucia. Chiên cũng đã trở thành bạn bè của cô. Cô đặt tên cho chúng, ôm những chiên con trên đùi, và cố vác một con trên vai, giống như những hình ảnh về mục tử nhân lành mà cô đã trông thấy.

Những ngày sống của Jacinta luôn vui tươi và hân hoan, vì cô luôn cùng với Lucia và Francisco thích thú thưởng thức mọi sự chung quanh mình. Các em gọi mặt trời là “ngọn đèn của Đức Mẹ” và gọi những ngôi sao là “lồng đèn của các thiên thần”, rồi ra sức đếm những vì sao khi trời về tối. Các em thường hay la lớn những tên gọi để nghe được giọng nói của mình vang vọng qua thung lũng, và cái tên vang vọng rõ nhất chính là “Maria”.

Các em đọc Kinh Mân Côi hằng ngày sau khi ăn trưa, nhưng để có thời gian vui chơi nhiều hơn, các em đã rút ngắn Kinh Mân Côi lại: Kinh Lạy Cha chỉ còn vài chữ “Lạy Cha chúng con” đọc vào đầu mỗi chục kinh, tiếp theo là vài chữ “Kính mừng Maria” được đọc mười lần! Việc ‘tầm phào’ này sẽ sớm được thay đổi.

Vào mùa Xuân năm 1916, khi bọn trẻ đang chăn chiên, một thiên thần đã hiện ra với chúng trong một khu rừng ô liu. Thiên thần yêu cầu các em cùng cầu nguyện với ngài. Thiên thần hiện ra một lần nữa vào mùa Hè tại một cái giếng trong vườn nhà Lucia, thúc giục các em hy sinh để đền tội thay cho các kẻ tội lỗi. Trong lần hiện ra cuối cùng vào cuối mùa Hè, thiên thần cầm Bánh thánh bên trên một chén thánh, rồi trao Mình Chúa cho các em. Trải nghiệm này đã tách các em ra khỏi các bè bạn khác và chuẩn bị cho các em biết đón nhận những cuộc hiện ra sắp tới của Đức Mẹ.

Các chuyến viếng thăm sau đó của vị Nữ vương thiên đàng đã làm cho ba trẻ hoàn toàn thay đổi. Jacinta, đôi khi bép xép, đã trở nên điềm đạm và ý tứ hơn. Sau khi Đức Mẹ hiện ra lần đầu, Lucia và Francisco đã thề giữ bí mật và đã thực sự giữ kín, không cho ai biết. Nhưng Jacinta, quá phấn khích, buột miệng kể hết những gì mình nhìn thấy cho người nhà, và sau đó người nhà kể lại cho cả làng. Nhiều người tiếp nhận tin tức này với sự hoài nghi, nhạo báng. Riêng mẹ của Lucia thì rất tức giận. Vì thế, Jacinta hết sức ân hận, cô hứa sẽ không bao giờ tiết lộ thêm bất kỳ bí mật nào khác nữa.

Việc nhìn thấy hỏa ngục trong lần thứ ba Đức Mẹ hiện ra, dường như đã ảnh hưởng nhiều nhất trên Jacinta. Để giải cứu những người tội lỗi khỏi lửa hỏa ngục, cô bé là người đã tự nguyện hãm mình hy sinh nhiều nhất trong ba trẻ: khi thì nhịn ăn trưa, nhịn uống nước trong những ngày nóng nực, lúc thì đeo một sợi dây thừng có nhiều nút thắt rất khó chịu chung quanh bụng. Những hy sinh đau đớn khác mà Jacinta – cùng với Lucia và Francisco – phải gồng mình đón nhận, chính là những nhạo báng của những kẻ không tin, những quấy rầy của những giáo sĩ hoài nghi, và những khiêu khích của những tín đồ muốn ba trẻ phải tiết lộ bí mật.

Sau phép lạ mặt trời quay, Jacinta đã nhận được nhiều ơn đặc biệt. Có một lần cô bé dường như ở hai nơi cùng một lúc để giúp cho một chàng trai trẻ tìm thấy đường về nhà. Lạc trong một khu rừng rậm, anh đã quì gối cầu xin, và Jacinta đã xuất hiện để cầm tay chàng trai dắt đi, trong khi cô bé cũng vẫn đang ở nhà cầu nguyện cho chàng trai này.

Khi mắc dịch bệnh Cúm Tây Ban Nha, Jacinta đã phải rời gia đình đến một bệnh viện cách đó vài dặm. Cô không phàn nàn, vì Đức Mẹ đã báo trước với Jacinta rằng cô sẽ đi đến hai bệnh viện, không phải để được chữa trị, mà để chịu đau khổ vì yêu Chúa và đền tội thay cho những kẻ tội lỗi. Cô ở lại bệnh viện thứ nhất trong hai tháng, chịu những cuộc điều trị đau đớn, sau đó, trở về nhà. Rồi bị lao phổi, cô được gửi tới Lisbon, trước tiên vào một cô nhi viện Công giáo. Ở đó, cô cảm thấy thật hạnh phúc vì có thể tham dự Thánh lễ và viếng Chúa. Nhưng chỉ ở đấy một thời gian rất ngắn, cô bé đã nhanh chóng được chuyển đến một bệnh viện thứ hai như Đức Mẹ đã báo trước, nơi đó Jacinta đã đón nhận một hy sinh cuối cùng là chết cô đơn một mình vào ngày 20-2-1920. Thân xác cô được nghỉ yên trong Thánh đường ở Cova da Iria, nơi Đức Mẹ đã từng hiện ra với cô.

Bí mật Fatima

Trong 6 lần hiện ra của Đức Mẹ tại Fatima, từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1917, Đức Trinh Nữ Maria đã giao phó ba bí mật cho ba trẻ chăn chiên.

Bí mật đầu tiên là nhìn thấy hỏa ngục, khiến các em vô cùng sợ hãi để rồi sau đó đã không ngừng gia tăng lời cầu nguyện, mong xin được ơn sám hối cho kẻ có tội. Lucia đã kể lại cảnh rùng rợn này của hỏa ngục: “Có những quỷ dữ và những linh hồn chìm trong biển lửa mênh mông… giữa những tiếng kêu đau đớn và rên rỉ tuyệt vọng. Cảnh đó khiến chúng tôi hết sức kinh hoàng và run rẩy sợ hãi.”

Bí mật thứ hai mang tính tiên tri. Đức Mẹ nói với ba trẻ rằng nếu con người không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, thì sẽ có Thế chiến II. Mẹ cũng báo trước những lầm lạc ở nước Nga sẽ lan rộng, dẫn đến việc bách hại Giáo hội và Đức Giáo hoàng. Để tránh bớt những tệ nạn này, Đức Mẹ đã kêu gọi siêng năng lần hạt Mân Côi, sám hối và thực hiện trên toàn thế giới việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.

Bí mật thứ ba liên quan đến Giáo hội và Giáo hoàng. Ba trẻ trông thấy một giám mục mặc áo trắng, được xác định là Đức Giáo hoàng, bị bắn giết cùng với nhiều tu sĩ, linh mục và giáo dân thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Bí mật này được diễn giải như là những cuộc bách hại mà Giáo Hội đã phải trải qua trong thế kỷ 20. Chính Đức Gioan Phaolô II đã được nhận ra trong thị kiến của bí mật này – khi ngài bị bắn ngã gục vào ngày 13-5-1981, bị thương nặng và nhờ Đức Mẹ ra tay cứu chữa mới thoát chết trong gang tấc.

Mặc dù có tới ba bí mật Fatima, nhưng chỉ có ‘một sợi chỉ đỏ’ xuyên suốt tất cả, đó là lời mời gọi sám hối tội lỗi, thay đổi cách sống mỗi ngày một tốt hơn, vì chính những hành vi xấu xa của con người là nguyên nhân gây nên tất cả những điều tồi tệ được nhắc đến trong ba bí mật của Fatima.

Vi Hữu chuyển ngữ và tổng hợp từ PIERCED HEARTS, EWTN (Eternal Word Television Network ) và CNA (Catholic News Agency) / Nguồn: Sách Nhịp Sống Tin Mừng 10.2017

 


[1] ĐTC Gioan Phaolô II cũng qua đời sau chị Lucia khoảng 2 tháng (ngày 2-4-2005), thọ 85 tuổi.

Chia sẽ bài viết này trên:

Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời

“Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời”

Sống trong đại dịch này, mọi người đều đụng tới phận người monh manh, mỏng dòn, dễ vỡ và rất nghèo nàn của mình, đến nỗi không ai có thể mạnh miệng nói tôi giàu có, tôi quyền lực, tôi mạnh mẽ và tôi rất đạo đức, đến nỗi chú virus nhỏ bé kia đừng hòng đụng đến tôi được.

Giữa lòng của đại dịch Coronavirus, tất cả chúng ta đều nghèo như nhau, tất cả chúng ta đều mang trên mình một thân xác, một phận người nghèo và bất cứ lúc nào cũng có thể bị đe doạ và bị lây nhiễm virus.

Càng ý thức về sự mỏng dòn này, càng ý thức về phận nghèo đích thực của mình tước tôn nhan Thiên Chúa, chúng ta lại càng được chúc phúc. Đó là nghịch lý của Thánh Kinh, của Đức Tin.

Vâng, kẻ bần cùng, người khiêm cung, những tấm lòng tan vỡ được Thánh Vịnh tuyên bố là những người hạnh phúc, trong khi kẻ giàu sang phải bần cùng đói khổ.

Hình ảnh người nghèo trong Thánh Kinh luôn được nhắc tới với tình thương đặc biệt của Thiên Chúa dành cho họ.

Chúa Giê-su nhắc đến mối Phúc cho kẻ nghèo vì Nước Trời là của họ.

Với tâm tình hướng về người nghèo, người bé mọn, Chúa Giê-su cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10,21).

Hơn hết, Chúa Giê-su còn mặc lấy thân phận nghèo hèn của kiếp người. Từ biến cố Giáng Sinh của Chúa trong nghèo nàn, cho đến cái chết thê lương trên Thánh Giá dành cho các tội nhân.

Thánh Phao-lô còn diễn tả Chúa Giê-su mặc lấy thân nô lệ, một thân phận không ai trên trần gian muốn đón nhận.

Ngoài ra, thánh tông đồ dân ngoại còn cho chúng ta nhận ra một hành động tuyệt vời của Chúa Giê-su: Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cr 8,9).

Về lời của thánh Phao-lô, thánh Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã suy tư như sau: “Ôi mầu nhiệm nào đối với tôi là mầu nhiệm của sự nghèo khó. Nhưng mầu nhiệm đó sẽ được sáng tỏ, khi tôi chiêm nghắm Chúa Giê-su, Đấng là Thiên Chúa và đã từ bỏ sự giàu sang để trở nên nghèo khó cho chúng ta và với chúng ta”.

Thánh Tông đồ viết cho các Ki-tô hữu ở Cô-rin-tô để khuyến khích họ quảng đại giúp đỡ các tín hữu ở Giê-ru-sa-lem đang túng thiếu. Những lời này của thánh Phao-lô có ý nghĩa gì?

Đại dịch chúng ta đang trải nghiệm, đi từ Mùa Chay đến mùa Phục Sinh. Thời gian này đánh dấu cuộc vượt qua của Chúa Giê-su, Ngài vượt qua thứ sáu tuần thánh để đến với Chúa Nhật Phục Sinh.

Vâng, dù vẫn còn sống trong bối cảnh của dịch bệnh, nhưng chúng ta vẫn thấy sự giàu có mà con người nhận được qua Chúa Giê-su được khám phá dưới ánh sáng của biến cố vượt qua. Biến cố này vừa tỏ lộ viễn tượng về cuộc đời Đức Giê-su, vừa là tiêu chuẩn đặc thù để hiểu sự khó nghèo của Ngài. Biến cố Phục Sinh đã hiển lộ sự thật về Chúa Giê-su Na-da-rét: Ngài không chỉ là ngôn sứ, mà còn là Đấng Mê-si-a, là Con Thiên Chúa và là Chúa của mọi loài vì Chúa Cha đã trao cho Ngài mọi quyền năng trên trời dưới đất.

Thật vậy, Chúa Giê-su, vốn là Đấng giàu có, đã trở nên nghèo để làm cho nhiều người trở nên giàu có. Khi sống giữa chúng ta Ngài đã không dùng những đặc quyền vốn thuộc về mình; Ngài đã không xuất hiện như Chúa, mà như người tôi tớ, như kẻ nô lệ. Ngài đã không biểu lộ những đặc quyền vốn thuộc Thiên tính của Ngài. Hơn nữa, Ngài mặc lấy thân xác như thân xác của chúng ta (x.Rm 8,3tt), và mang lấy gánh nặng của tội và án phạt của chúng ta.  

Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ về tâm tình này như sau: “Thiên Chúa không tỏ mình nơi quyền lực và giàu sang của trần thế, nhưng nơi sự yếu đuối và nghèo nàn: ‘Người vốn giàu sang, nhưng đã trở nên nghèo vì anh chị em…’. Chúa Ki-tô, Người Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, đồng quyền năng và vinh quang với Chúa Cha, đã chọn trở nên nghèo khó; Người đã đến giữa chúng ta và trở nên gần gũi với mỗi người chúng ta; Người đã trút bỏ vinh quang và huỷ mình ra không, để trở nên giống chúng ta trong mọi sự (x.Pl 2,7; Dt 4,15). Thiên Chúa làm người là một mầu nhiệm thật cao cả! Và nguyên nhân của tất cả những điều ấy là tình yêu của Người, một tình yêu là ân sủng, lòng quảng đại, ước muốn trở nên gần gũi, một tình yêu chẳng do dự hiến thân hy sinh cho người mình yêu. Bác ái, tình yêu, có nghĩa là chia sẻ số phận của người mình yêu trong mọi sự. Tình yêu làm cho chúng ta nên giống nhau, kiến tạo sự bình đẳng, phá đổ các bức tường và loại bỏ những ngăn cách… Khi tự ý trở nên nghèo, Chúa Giê-su không tìm kiếm cái nghèo vì chính nó, nhưng như thánh Phao-lô đã nói: ‘để anh chị em trở nên giàu sang nhờ cái nghèo của Người’.

Đây không phải là một kiểu chơi chữ hay một khẩu hiệu! Nhưng là tóm tắt lô-gíc của Thiên Chúa, lô-gíc của tình yêu, lô-gíc của Nhập thể và Thánh giá. Thiên Chúa không làm cho ơn cứu độ từ trời cao rơi xuống cho chúng ta, như ai đó làm phúc bố thí từ của dư thừa, chẳng có ý nghĩa vị tha và đạo đức. Tình yêu của Chúa Ki-tô thì khác! Khi Chúa Giê-su bước xuống sông Giô-đan để cho Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa, Người làm thế không phải vì cần thống hối hay hoán cải; Người làm điều ấy để ở giữa dân chúng là những người cần ơn tha thứ, ở giữa chúng ta là những người tội lỗi, và gánh lấy tội lỗi của chúng ta. Người đã chọn con đường ấy để an ủi chúng ta, cứu rỗi chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi tình trạng khốn khổ. Thật là ấn tượng khi Thánh Tông Đồ nói rằng chúng ta được giải thoát không phải nhờ sự giàu sang của Chúa Ki-tô, nhưng nhờ cái nghèo của Ngài.

Cái nghèo của Chúa Ki-tô làm cho chúng ta nên giàu có là ở chỗ Người đã làm người, mang lấy những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta để bày tỏ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa đối với chúng ta.

Hơn nữa, qua mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Phục Sinh, Chúa Giê-su đã cho chúng ta được phép trở nên giống Chúa hơn và được tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Chúa. Đó cũng là nét giàu có, và cũng là một ân sủng lớn lao mà chúng ta nhận được.

Ngoài ra, thánh sử Gioan nói rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban cho Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Ý thức thân phận mình là những người nghèo thật sự, chúng ta đọc những lời này, và chúng ta hướng nhìn lên trời cao, hướng nhìn lên Cha trên trời, Đấng yêu thương chúng ta, chúng ta có thấy mình xứng đáng được yêu thương không?

Làm sao Cha trên trời lại có thể ban cho chúng ta, những kẻ nghèo hèn, Con Một của Ngài, là Chúa Giê-su. Đó là người con yêu dấu của Ngài. Một tình yêu cao quý, một tình yêu vô điều kiện, một tình yêu lớn hơn tất cả mọi tưởng tượng của con người.

Trong thân phận nghèo hèn, đầy giới hạn và thật hư vô của mình, chúng ta chẳng xứng đáng được như thế, nhưng Cha trên trời vẫn ban tặng cho chúng ta “Món Quà” quý giá trên hết mọi món quà của trần gian.

Ôi, kẻ nghèo hèn luôn được Chúa đoái nhìn và trân trọng.

Cuối cùng chúng ta cùng cất cao lời Thánh Vịnh:

2 Tôi sẽ không ngừng chúc tụng CHÚA,
câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.
3 Linh hồn tôi hãnh diện vì CHÚA
xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên.

4 Hãy cùng tôi ngợi khen ĐỨC CHÚA,
ta đồng thanh tán tụng danh Người.
5 Tôi đã tìm kiếm CHÚA, và Người đáp lại,
giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.

6 Ai nhìn lên CHÚA sẽ vui tươi hớn hở,
không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi.
7 Kẻ nghèo này kêu lên và CHÚA đã nhận lời,
cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn.

8 Sứ thần của CHÚA đóng trại chung quanh
để giải thoát những ai kính sợ Người.
9 Hãy nghiệm xem CHÚA tốt lành biết mấy:
hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!”

(Tv 33,2-9).

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Chia sẽ bài viết này trên:

MỖI NGƯỜI MỘT VAI TRÒ – Phút Cầu Nguyện, Thứ Tư 22/04/2020

MỖI NGƯỜI MỘT VAI TRÒ – Phút Cầu Nguyện, Thứ Tư 22/04/2020

Một nhà khoa học già và một ca sĩ trẻ gặp nhau trên cùng một chuyến bay. Khi xuống máy bay, rất nhiều người hâm mộ vây quanh chàng ca sĩ, còn nhà khoa học thì chẳng mấy ai để ý đến.

Chứng kiến điều này một người quen của nhà khoa học bất bình, nhưng khi vừa định lên tiếng thì liền bị nhà khoa học ngăn lại:

Ca sĩ thì phục vụ trước mặt công chúng, còn chúng tôi thì làm việc một cách thầm lặng. Do đó mọi người tất nhiên sẽ chào đón những ca sĩ và âm thầm kính trọng chúng tôi. Trước mặt biết bao nhiêu người, các ca sĩ có thể hát; còn chúng tôi trước mặt nhiều người làm sao có thể thí nghiệm hay nghiên cứu được? Thật sự không thể đâu …

Quý vị và các bạn thân mến!

Đức Cố Hồng Y PX Nguyễn Văn Thuận có viết: “Thiên hạ mua vé lên đỉnh nhà chọc trời Manhattan, khen ngợi kiến trúc tân kỳ, nhưng mấy ai nhớ đến từng thanh sắt, từng viên sạn, từng hạt cát nhỏ làm nền móng vững chắc cho ngôi nhà ấy”. (Câu 819-Đường Hy Vọng). Thường chúng ta chỉ quan tâm đến những lời nói, những đóng góp của những người nổi tiếng, những ngôi sao trong các lĩnh vực điện ảnh, ca nhạc, thể thao, những người có tần suất phủ sóng dày trên các phương tiện truyền thông, ngược lại chúng ta lại ít để ý đến công sức của những người làm việc âm thầm cho dù những cống hiến của họ cũng mang lại lợi ích cao cho cộng đồng hay xã hội chúng ta đang sống.

Nhưng rõ ràng, cuộc sống của mỗi người trong chúng ta được hoàn thiện là nhờ sự đóng góp của mọi người, không trừ ai. Những người làm cho cuộc sống tinh thần của con người thêm tươi đẹp với những sắc màu phong phú trong nghệ thuật cho đến những người thực hiện những công việc gian khổ mà âm thầm, sự hiện diện của tất cả mọi người đều rất cần thiết để xây dựng một xã hội an bình và hạnh phúc. Một ngày không nghe tiếng hát của các ca sĩ chắc hẳn chúng ta sẽ buồn, nhưng cuộc sống của chúng ta sẽ bất an nếu thiếu những người miệt mài trong các phòng thí nghiệm luôn tìm ra những cách thức để bảo vệ sự sống của con người.

Trong cơn đại dịch của nhân loại, hình ảnh được loan truyền nhiều trên các trang mạng xã hội chính là hình ảnh của các y, bác sĩ, những người đã rất vất vả trong công tác theo dõi, chăm sóc người bệnh, cũng như đối diện trực tiếp với nguy cơ lây nhiễm cao dịch bệnh. Tại một số bệnh viện, có y, bác sĩ phải tham gia ứng trực 24/24 giờ chống dịch xuyên đêm, nhiều ngày không thể về nhà, phải gửi các con cho người thân chăm sóc. Không ít bác sĩ đã không về nhà trong mấy tuần để nỗ lực cứu chữa bệnh nhân, thực hiện nghiêm quy trình cách ly không để lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Dù không tránh khỏi áp lực kỳ thị của một số người xung quanh, những họ vẫn âm thầm cống hiến cho nghề nghiệp. Đó là chưa nói đến các nhà khoa học, nghiên cứu sinh đang âm thầm miệt mài tìm kiếm phương thuốc chữa bệnh trong các phòng thí nghiệm.

Một nhà nghiên cứu sinh học Tây Ban Nha đã nói: “Các bạn đã trả lương cho các cầu thủ bóng đá 1 triệu Euro một tháng và các nhà nghiên cứu sinh là 1.800 Euro mỗi tháng, vậy thì bây giờ các bạn muốn tìm kiếm một phương pháp chữa trị Coronavirus, thì đi mà tìm Ronaldo hay Messi nhờ họ chữa trị đi”. Trộm nghĩ, câu nói trên không có ý phủ nhận vai trò của những người hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao nhưng là chỉ có ý nhắc nhở chúng ta nên nhận thức đúng đắn vai trò, sự đóng góp, đừng để danh lợi, tiếng tăm làm lệch chuẩn giá trị cống hiến của mỗi người trong xã hội.

Lạy Chúa Thánh Thần là nguồn sức mạnh tình yêu,

xin soi sáng các vị hữu trách và những người có khả năng,

giúp họ sớm tìm ra phương thuốc chữa trị dịch bệnh,

xin ban cho các bác sĩ và nhân viên y tế

sức mạnh của tình thương và lòng nhiệt thành quảng đại,

luôn tận tâm tận lực phục vụ các bệnh nhân. 

Chúng con xin trao vào đôi tay từ mẫu của Mẹ Maria,

những lời khẩn nguyện trong cơn đại nạn,

nhờ lời Đức Mẹ chuyển cầu,

xin Chúa nhận lời chúng con. Amen

Bình Minh

Chia sẽ bài viết này trên:

Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời – Thứ Năm Tuần II Phục Sinh

Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời” – Thứ Năm Tuần II Phục Sinh

(Ga 3, 31-36)

 31 Đấng từ trên cao mà đến thì ở trên mọi người; kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ trời mà đến thì ở trên mọi người.

32 Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người.33 Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật.34 Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn.

35 Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người.36 Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.”

***

  1. Mầu nhiệm Vượt Qua

Chúng ta đang ở trong Tuần II mùa Phục Sinh ; và chúng ta có thể nhận ra rằng, bắt đầu từ thứ hai cho đến ngày hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta nghe lại trong Thánh Lễ, gần như toàn bộ chương 3 của sách Tin Mừng theo thánh Gioan. Đó là một cuộc đối thoại dài giữa Đức Giê-su và ông Ni-cô-đê-mô. Chúng ta có thể tự hỏi : tại sao phải nghe lại những lời của Đức Giê-su, đã được Người nói từ lâu rồi, mãi ở giai đoạn đầu của cuộc sống công khai, trong khi chúng ta đang ở trong niềm vui của mùa Phục Sinh ?

Đó là bởi vì, trong cuộc đối thoại này, Đức Giê-su đã loan báo mầu nhiệm Vượt Qua của Người rồi, nghĩa là cuộc thương khó dẫn đến cái chết và sự phục sinh ; và ngược lại, mầu nhiệm Vượt Qua hoàn tất và làm cho sáng tỏ không chỉ tất cả những gì Ngài đã nói và làm trước đó, nhưng kể cả mọi chuyện đã xẩy ra cho Ngài. Và trong những ngày này, chúng ta còn được mời gọi bởi chính Đức Ki-tô Phục Sinh nhận ra rằng, mầu nhiệm Vượt Qua làm sáng tỏ và hoàn tất mọi sự : sáng tạo và lịch sử, và qua đó cuộc đời của mọi người chúng ta.

 

  1. Ơn tái sinh

Vì thế, khi chiêm ngắm cuộc đời của Đức Giê-su dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua, sẽ giúp chúng ta biết chiêm ngắm cuộc đời của chúng ta, cuộc đời trọn vẹn chứ không phải chỉ một phần mà chúng ta nghĩ là « xứng đáng », dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua.

Thậy vậy, trong cuộc đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su nói về ơn tái sinh bởi Thần Khí (bài Tin Mừng của Thánh Lễ thứ hai). Nhưng để sinh lại, thì phải chết đi. Đó là cái chết chấm dứt một đời người, để « sinh lại » trong sự sống mới trong Thiên Chúa, cùng với Đức Ki-tô ; nhưng cũng là « cái chết » mỗi ngày, những « nỗi đau chết người » mỗi ngày, bởi Thánh Thần, để tái sinh và sống trong Thánh Thần, thay vì sống trong xác thịt và theo xác thịt.

Như thế, chúng ta được mời gọi sống mầu nhiệm Vượt Qua mỗi ngày. Cũng giống như hạt lúa mì trong thiên nhiên, như dòng thời gian và sự luân phiên của các mùa, như tấm bánh (biểu tượng của lương thực) ở trên bàn ăn và như bánh Thánh Thể. Phải chấm dứt, phải chết đi để bắt đầu một giai đoạn mới, một cuộc đời mới. Cũng là như thế, đối với đời sống hàng ngày của chúng ta : chúng ta được mời gọi chết đi, để tái sinh bởi Thiên Chúa.

Nhưng trong thực tế, hành trình tái sinh khó khăn biết bao. Nhưng thực ra, đâu có cuộc sinh ra nào là dễ dàng đâu ; ngược lại, trước khi được sinh ra, người con đã phải được cưu mang lâu dài và đầy khó khăn và đớn đau. Và như chúng ta vẫn nói và nói rất đúng : mang nặng đẻ đau, tiếng khóc chào đời. Nhưng rốt cuộc, ơn tái sinh đâu phải là công việc của riêng chúng ta : đó là « ơn trên », là sức mạnh của Chúa Thánh Thần, nhằm đáp lại lòng khát khao Thiên Chúa của chúng ta, khát khao sự sống mới đến từ Thiên Chúa.

  1. « Tin vào Người Con »

Chúng ta hãy trở lại bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay, trong đó, Đức Giê-su đã nói về thái độ không tin phổ quát, đối với lời chứng và ngôi vị của Ngài rồi :

Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người.

(c. 32)

Đó chính là điều đã xẩy ra trong cuộc hành trình rao giảng Nước Trời, và nhất là trong cuộc Thương Khó của Ngài. Và đó cũng là điều đã xẩy ra đối với các môn đệ đầu tiên mà sách Công Vụ Tông Đồ kể lại cho chúng ta. Và đó cũng là điều đang xẩy ra cho chúng ta hôm nay. Thực vậy, trong thế giới và xã hội của chúng ta, chúng ta đang phải đối diện với thái độ không tin thật lớn lao đối với lời chứng Tin Mừng mà chúng ta đón nhận, sống và làm chứng. Thế mà, làm chứng cho Tin Mừng của Đức Ki-tô, cho mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài, chính là sứ mạng của chúng ta, của mọi Ki-tô hữu, và nhất là của các tu sĩ nam nữ.

Có thể nói, đó cũng là khó khăn, trong đó, chúng ta được mời gọi « chết đi », bởi vì chúng ta không thấy rõ kết quả, không thấy rõ tương lai của những công việc tông đồ, của đời sống dâng hiến. Nhưng Thiên Chúa lại có quyền năng làm trào vọt ra sự sống, từ sự bất lực, nhỏ bé, yếu đối, giới hạn và « cái chết » của chúng ta, từ những hoàn cảnh tưởng như là vô vọng hay ngõ cụt. Đó chính là công trình của Đức Chúa, công trình vĩ đại của Đức Chúa trong lịch sử cứu độ, trong cuộc thương khó của Đức Ki-tô, trong lịch sử Giáo Hội. Và chúng ta được mời gọi trao ban lòng tin, như chính Đức Giê-su mời gọit :

Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.

(v. 35-36)

Không tin Thiên Chúa ban sự sống, thì tất yếu người ta sẽ làm việc cho sự chết, thuộc về sự chết. Thực vậy, việc từ chối tin sẽ khởi động cách nhanh chóng một tiến trình tăng tốc của sự chết: người không tin vào sự sống sẽ đòi hỏi những bằng chứng về sự sống và, từ đó rất nhanh đi đến chỗ tự mình đưa ra những bằng chứng về điều trái ngược với sự sống. Ai không tin vào sự sống sẽ chẳng mấy chốc làm việc cho sự chết (Kn 1, 16 – 2, 24). Và theo cách nói của Kinh Thánh, lựa chọn tự do này của con người, được gọi là « cơn thịnh nộ của Thiên Chúa » (x. Rm 1-2).

* * *

Xin cho sự sống mới của Đức Ki-tô phục sinh lôi kéo chúng ta trong cuộc đời, trong hành trình ơn gọi và mỗi ngày sống, để chúng ta bình tâm với mọi sự và định hướng mọi sự. Và vì là sự sống của Đức Ki-tô phục sinh là có thật, xin được nhận ra sự sống của Chúa tràn sang bờ bên này của cuộc sống chúng ta để biến đổi sự sống hôm nay và chóng qua của chúng ta, và tái sinh chúng ta bởi Thánh Thần cho sự sống mới.

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên:

Sống Yêu Thương Thời Covid-19

Sống Yêu Thương Thời Covid-19

Đang trong những khó khăn của tình hình dịch Covid-19, dù là người có niềm tin vào Thiên Chúa hay không, chúng ta không thể phủ nhận rằng trong lòng chúng ta đầy ắp nỗi buồn và lo lắng. Chúng ta buồn vì có biết bao người thiệt mạng, buồn vì tình hình dịch bệnh càng ngày càng lây lan mạnh và rộng trên khắp thế giới, buồn vì gia đình ly tán, người còn khỏe mạnh thì có nguy cơ rơi vào đói kém và thất nghiệp…Chúng ta cũng lo lắng vì sợ bản thân, gia đình và những người mình yêu thương cũng có thể bị mắc bệnh bất cứ lúc nào, lo vì thiếu lương thực, lo vì những tệ nạn xã hội xảy ra trong thời dịch, vân vân và vân vân. Nhưng trong đó, điều làm chúng ta ấn tượng đó là tình yêu thương nổi lên trong khó khăn. Tình thương của vị cha chung Giáo hội, tình thương của các bác sĩ và nhân viên y tế, của các linh mục và tu sĩ đang phục vụ tuyến đầu, của những người hảo tâm giúp đỡ cho anh chị em thiếu thốn trong mùa dịch,…So với khó khăn và lo lắng thì tình thương đã được thể hiện không hề thua kém trong đại dịch Covid-19. Tình thương yêu của họ sưởi ấm lòng chúng ta, cho chúng ta thêm hy vọng và động lực để vượt qua khó khăn và lo lắng. Vậy chúng ta sẽ đóng góp yêu thương của chúng ta như thế nào để mang động lực đến với những người khác và làm bừng cháy yêu thương cũng như niềm hy vọng chấm dứt đại dịch với tinh thần của những con người văn minh, nhân ái và biết ơn trong xã hội của chúng ta?

Xin được mạo muội đơn cử 3 điều rất dễ thực hiện vì nó nằm trong khả năng của từng cá nhân.

Thứ nhất, yêu thương bằng cách tuân thủ quyết định cách ly. Các bạn biết không, từ khi có lệnh cách ly toàn quốc, có nhiều bạn trẻ nơi tôi đang phục vụ là vùng đất Phú An chia sẻ rằng họ chỉ thấy cây cỏ, rừng núi và những người thân trong nhà. Các bạn ấy vừa có cơ hội để sống biết giúp đỡ và sẻ chia trong gia đình, vừa thể hiện được sự cảm kích và lòng biết ơn các bác sĩ, dược sĩ, y tá, nhân viên y tế và tất cả những ai đang hi sinh cho các bạn. Họ đã cống hiến thời gian, sức khỏe, gia đình và cả mạng sống của họ cho sự an toàn của chúng ta. Chúng ta có nên không việc ở nhà, đừng du lịch, hay tụ tập vui chơi? Nếu chúng ta kiên nhẫn ở nhà thì những người đang hy sinh ở tuyến đầu ấy sẽ có cơ hội được về nhà sớm hơn để đoàn tụ với gia đình của họ. Chúng ta cũng giảm bớt lo âu cho những người có trách nhiệm trong Giáo hội và xã hội. Chúng ta có nỡ ích kỷ tận hưởng niềm vui riêng của bản thân và của gia đình mình và khinh thường hạnh phúc của người khác mặc kệ ai đang hy sinh và thậm chí mất mạng vì sự an toàn cho chúng ta không?

Thứ hai, yêu thương bằng cầu nguyện. Lời cầu nguyện chân thành của chúng ta có sức biến đổi thế giới. Nó cũng có sức biến đổi lòng người. Trên MXH đang truyền nhau video bé gái người Mỹ mời mọi người cùng cầu nguyện. Em nhớ đến tất cả mọi thành phần trong xã hội. Khi nhìn và nghe em cầu nguyện, chúng ta không khỏi xúc động và cũng thêm động lực để dâng lời cầu nguyện cho thế giới, cho Giáo hội, cho các nạn nhân và gia đình của họ. Ngay nơi tôi đang phục vụ, và có lẽ cũng như thế ở rất nhiều nơi khác, các bạn GLV và nhiều giáo dân chia sẻ là rất nhớ nhà thờ, nhớ những ngày cầu nguyện bên nhau. Hơn bao giờ hết, thế giới cần những lời cầu nguyện của chúng ta, không cần phải đến nhà thờ hay tụ họp với nhau, nhưng lời cầu nguyện chân thành và thổn thức đến từ tâm hồn trước tình hình của thế giới sẽ nối kết chúng ta và nối kết với Chúa hiệu quả hơn. Nếu yêu thương, hãy cầu nguyện như cách thể hiện tình yêu và lòng biết ơn với những gì chúng ta đang nhận được. Chúng ta có thể thinh lặng lắng đọng tâm hồn đôi chút ngay giây phút này để dâng lên Chúa lời nguyện chân thành và đang tan nát vì đau khổ của thế giới. Chúng ta cùng nhắm mắt lại và thưa với Cha yêu thương của chúng ta.

Thứ ba, yêu thương bằng đồng hành sáng tạo động lực nâng đỡ người khác. Tình yêu thương có nhiều sáng kiến. Ở nơi giáo xứ tôi đang phục vụ, chúng tôi có nhóm Facebook cho GLV và Giới trẻ. Chúng tôi chia sẻ cầu nguyện, thông tin, những hình ảnh, những video để khích lệ nhau và duy trì tình đoàn kết và yêu thương nhóm trong thời gian cách ly toàn quốc này. Các bạn à, trong bối cảnh hiện nay, đây là phương pháp hiệu quả để chúng ta có thể đồng hành với nhau. Khi nhận được những tin nhắn, những cuộc gọi hoặc những danh ngôn, châm ngôn, video khích lệ, cám ơn hoặc đơn giản chỉ để thư giãn, tôi cũng cảm thấy trong lòng mình ấm lên. Có thể tất cả chúng ta cũng cùng chung tâm tình như vậy phải không ạ? Vậy hãy để trái tim của chúng ta mách bảo những kiểu sáng tạo để chúng ta có thể trao gửi yêu thương và nâng đỡ cho nhau, nhất là trong thời gian mà chúng ta bị hạn chế về thể lý trong thời gian này nhé!

Những điều ở trên không quá khó để chúng ta thể hiện tình yêu thương và lòng biết ơn đối với những người đã trao gửi tình thương yêu cho chúng ta trong thời gian này phải không ạ? Giờ thì đến lượt chúng ta trao gửi tình yêu và sự trân quý với những ai đã cống hiến cho chúng ta bằng 3 điều rất đơn giản:

  • Yêu thương bằng cách tuân thủ quyết định cách ly
  • Yêu thương bằng cầu nguyện
  • Yêu thương bằng đồng hành sáng tạo động lực nâng đỡ người khác.

Và chúc tất cả những ngày thật vui, hạnh phúc và ý nghĩa!

Nt. Têrêsa Mai Hường, OP.

Chia sẽ bài viết này trên:

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một – Thứ Tư tuần II Mùa Phục Sinh

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một” – Thứ Tư tuần II Mùa Phục Sinh

(Ga 3, 16-21)

16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.

17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.19 Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa.20 Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.21 Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”

***

Chúng ta được mời gọi đọc Lời Chúa được nói cho chúng ta trong phần Cựu Ước của Kinh Thánh, kể về lịch sử cứu độ, để hiểu và cảm nếm sự tương hợp với Đức Ki-tô, nghĩa là lịch sử cứu độ loan báo Đức Ki-tô và Đức Ki-tô hoàn tất lịch sử cứu độ.

Và những lời của Người trong bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay sẽ dẫn chúng ta vào tâm điểm của sự tương hợp, bởi vì không ai giúp chúng ta hiểu và cảm nếm sự tương hợp hơn là chính Người.

  1. Tình yêu Thiên Chúa

Sự sống là một ơn, nhưng cũng đầy thử thách thuộc về thân phận và số phận con người. Thử thách lớn đến độ, tương quan với Thiên Chúa trở nên không dễ dàng, và như chúng ta đã có thể nhận ra khi đọc các bản văn Cựu Ước. Con người bị sự dữ chi phối ở ngay trong nội tâm, vốn là nguồn của mọi hành động: thay vì tín thác nơi tình thương và kế hoạch truyền thông sự sống viên mãn của Thiên Chúa, thì con người nghi ngờ Thiên Chúa. Trình thuật Tội Nguyên Tổ và kinh nghiệm của Dân Chúa trong sa mạc mặc khải cho chúng ta sự thật này, một sự thật có ở nơi mọi người trong mọi thời.

Chính vì thế, Thiên Chúa ban Con Một của Ngài cho chúng ta, để thay đổi, để điều chỉnh hình ảnh lệch lạc con người chúng ta có về Thiên Chúa: nơi Đức Ki-tô, Thiên Chúa muốn bày tỏ tình yêu đến cùng của Ngài cho con người. Và tình yêu đến cùng được ban một cách thật quảng đại và nhưng không: chúng ta được mời gọi tin vào Đức Ki-tô, Con của Người, để có thể sống sự sống của Thiên Chúa, không chỉ ở đời sau, mà ngay hôm nay, với ân huệ Thánh Thần, làm cho chúng ta được tái sinh, sống bằng sự hiện diện, sức mạnh, sức sống mới của Đức Ki-tô phục sinh.

Tại sao Thiên Chúa lại hành động như thế, lại yêu con người đến thế? Đơn giản là vì Ngài sinh ra nhân loại. Giống như cha mẹ sinh con, con nó nên người thì vui, nó hư đốn thì buồn, nhưng luôn luôn yêu con, dù nó như thế nào. Vì thế Lời này của Đức Giêsu thật dịu dàng như lời của người Mẹ Hiền, an ủi vỗ về chúng ta, và nhất là làm cho chúng ta có can đảm trở về với Thiên Chúa. Có thể nói, đây là một trong những lời của Đức Giêsu, nói cho chúng ta rõ nhất về khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa, về con tim của Thiên Chúa, về cõi lòng của Thiên Chúa:

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một,
để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết,
nhưng được sống muôn đời.

(c. 16)

  1. Lòng tin

Cuộc Thương Khó của Đức Kitô mà chúng ta đã tưởng niệm cách trọng thể vào Tuần Thánh, bí tích rửa tội, bí tích hòa giải và nhất là bí tích Thánh Thể, tỏ bày cho chúng ta tình yêu cho đi chính Con Một, chính bản thân mình của Thiên Chúa. Vấn đế là chúng ta có chịu tin hay không?

Tin có nghĩa đón nhận, đón nhận tình yêu Thiên Chúa, đón nhận Đức Giêsu Con Thiên Chúa vào cuộc đời mình với những may rủi, với những thuận lợi cũng như khó khăn, với những biến cố vui buồn, những thành công và thất bại; tin vào Con Thiên Chúa, là đón nhận ánh sáng của Ngài vào ơn gọi của mình, ơn gọi hôn nhân hay tu trì, vào hướng đi của mình, vào cách sống của mình; tin vào Con Thiên Chúa là để cho Lời của Ngài hướng dẫn những lựa chọn lớn trong cuộc đời của chúng ta, cũng như những lựa chọn nho nhỏ hằng ngày.

Tin vào Con Thiên Chúa như thế, chúng ta sẽ sống sung mãn, sống bình an, sống hạnh phúc thực sự, không phải ở đời sau, nhưng ngay hôm nay.

  1. “Không bị lên án”

Vì thế, chúng ta cần ghi lòng tạc dạ lời này của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian…”; chúng ta đừng bao giờ nghi hoặc, hay đừng để cho bất cứ ai hay lời nói hoặc lời dạy nào làm cho chúng ta nghi hoặc tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, bày tỏ ra cho chúng ta nơi Đức Kitô, và nhất là Đức Kitô chịu đóng đinh.

Khi chúng ta nghi ngờ tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, đó là lúc chúng ta bị rắn độc cắn. Bị rắn độc cắn, thì đương nhiên là chết, không cần phải ai bắt mình ra xét xử, lên án và thi hành án phạt. Như chính Đức Giêsu nói:

“Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa”.

(c. 17-18)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Chia sẽ bài viết này trên: