Month: Tháng Sáu 2020

Sứ đồ Phaolô

Sứ đồ Phaolô

Phaolô thành Tarsus (còn gọi là Saolô theo chữ Saul, Paulus, Thánh Phaolô Tông đồ, Thánh Phaolồ hoặc Sứ đồ Phaolô, Thánh Bảo-lộc hay Sao-lộc theo lối cũ (tiếng Hebrew: שאול התרסי‎ Šaʾul HaTarsi, nghĩa là “Saul thành Tarsus”, tiếng Hy Lạp cổ đại: Σαούλ Saul và Σαῦλος Saulos và Παῦλος Paulos[2]), là “Sứ đồ của dân ngoại.” [3] Cùng các sứ đồ Phêrô, Gioan, và Giacôbê, ông được xem một trong những cột trụ của Hội Thánh Kitô giáo tiên khởi, và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Kitô giáo thời kỳ sơ khai.[4] (sinh 3–14 TCN; mất 62–69 CN).

Không giống Mười hai Sứ đồ, không có chỉ dấu nào cho thấy Phaolô từng gặp Giêsu trước khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá.[5] Theo ký thuật của Tân Ước, Phaolô là người Do Thái chịu ảnh hưởng văn minh Hy Lạp, và là công dân của Đế quốc La Mã, đến từ thành Tarsus (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Phaolô là người kiên trì săn đuổi những Kitô hữu ban đầu (hầu hết là người Do Thái) để bách hại họ, cho đến khi chính ông trải qua kinh nghiệm lạ lùng trên đường đến thành Damascus. Trong một khải tượng, ông gặp Chúa Giêsu và mắt ông bị mù trong một thời gian ngắn. Trải nghiệm này đã đem ông đến với đức tin Kitô giáo, chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Messiah và là Con Thiên Chúa.[6] Phaolô khẳng định rằng ông nhận lãnh Phúc âm không phải từ con người, nhưng từ chính “sự mặc khải của Chúa Giêsu.”[7]

Sau khi chịu lễ Thanh Tẩy, Phaolô đến ngụ cư ở xứ Arabia (có lẽ là Nabataea) cho đến khi ông gia nhập cộng đồng Kitô hữu còn non trẻ ở Jerusalem, và ở lại với Phêrô (hoặc Phi-e-rơ) trong mười lăm ngày.[8] Qua những thư tín gởi các cộng đồng Kitô giáo, Phaolô trình bày mạch lạc quan điểm của ông về mối quan hệ giữa tín hữu Kitô giáo người Do Thái với tín hữu Kitô giáo không phải người Do Thái, và giữa Luật pháp Moses (Mô-sê hoặc Môi-se) với giáo huấn của Chúa Giêsu.

Phaolô được sùng kính như một vị Thánh bởi các nhóm khác nhau như Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương, Anh giáo, và một số người thuộc Giáo hội Luther. Ông được xem là thánh quan thầy của Malta và Thành Luân Đôn, một vài thành phố khác được đặt tên để vinh danh ông như São Paulo, Brasil và Saint Paul, Minnesota, Hoa Kỳ. Đạo Mormon xem ông là nhà tiên tri.

Các thư tín của Phaolô hình thành phần nền tảng của Tân Ước (được xem là nguồn quan trọng cho nền thần học của Hội Thánh ban đầu) cùng những nỗ lực của ông nhằm truyền bá Kitô giáo trong vòng các dân tộc, là mục tiêu của nhiều khuynh hướng luận giải khác nhau. Kitô giáo truyền thống xem các thư tín của Phaolô là một phần của kinh điển Tân Ước và xác định rõ ràng rằng tư tưởng của Phaolô là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Giêsu và các sứ đồ khác.

Những người ủng hộ thần học giao ước tin rằng Hội Thánh đã thay thế dân tộc Do Thái trong vị trí Tuyển dân của Thiên Chúa, khơi mở những tranh luận hiện vẫn tiếp diễn xem xác định rõ ràng này có phải bắt nguồn từ ý tưởng của Phaolô khi ông giải thích Jeremiah 31: 31[9] và Ezekiel 36: 27[10], sau đó xác định rõ ràng này được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng Kitô giáo.

Ảnh hưởng của Phaolô trong tư tưởng Kitô giáo được xem là quan trọng hơn bất cứ tác giả Tân Ước nào, xuyên suốt hệ tư tưởng Kitô giáo cho đến ngày nay: từ Augustine thành Hippo đến những bất đồng giữa Gottschalk và Hincmar thành Reims; giữa tư tưởng Thomas Aquinas và học thuyết của Molina; giữa Martin Luther, John Calvin và Arminius; giữa học thuyết của Jansen và các nhà thần học Dòng Tên, đến các tác phẩm của nhà thần học Karl Barth, đặc biệt là luận giải của Barth về một trong những thư tín của Phaolô,Thư gởi tín hữu ở Rôma, đã tạo ra những dấu ấn về chính trị và thần học trên giáo hội Đức thế kỷ 21.

Phaolô trên đường đến Damascus,

Có thể sử dụng hai nguồn chính để tái tạo những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Phaolô: các thư tín của ông và những ký thuật trong sách Công vụ các Sứ đồ.[11] Có một vài khó khăn khi dựa vào hai nguồn thông tin này: những thư tín của Phaolô được viết trong quãng thời gian tương đối ngắn (có lẽ khoảng từ năm 50 – 58), và có những nghi vấn về một số sự kiện trong sách Công vụ.[12][13] Riêng về Thứ kinh Công vụ của Phaolô và Thecla, các học giả thường không công nhận sách này, cho đó chỉ là một tác phẩm văn học được sáng tác trong thế kỷ thứ 2, do các sự kiện được chép trong đó không phù hợp với những ký thuật của sách Công vụ các Sứ đồ và các thư tín của Phaolô.

Tuổi trẻ

Theo Công vụ các Sứ đồ, Phaolô sinh tại thành Tarsus, xứ Cilicia, thuộc Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) với tên Saul.[14] Ông là người Israel thuộc chi phái Benjamin, được cắt bì vào ngày thứ tám, là một người Pharisee,[15] và “là người sốt sắng quá đỗi về cựu truyền của tổ phụ”[16] Theo sách Công vụ, Phaolô có quốc tịch La Mã – một đặc quyền mà ông đã dùng đến vài lần để tự bảo vệ mình [17]

Quan điểm được chấp nhận rộng rãi cho rằng Phaolô chưa hề kết hôn. Chính Phaolô đã viết;”Vậy, tôi nói với người những kẻ chưa cưới gả, và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn”.[18] Không có chứng cớ lịch sử nào đề cập đến việc Phaolô đã lập gia đình. Tuy nhiên, một số người lập luận rằng tập quán xã hội thời ấy đòi hỏi người Pharisee và thành viên Toà Công luận (Sanhedrin) phải lập gia đình. Nếu Phaolô là người Pharisee và có thể là thành viên Toà Công luận, thì có lẽ ông đã kết hôn vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

Theo Công vụ 22: 3,[19] Phaolô ở Jerusalem, theo học Gamaliel, một học giả tiếng tăm thời ấy. Khi đi nhiều nơi để rao giảng Phúc âm, Phaolô thường tự lo sinh kế cho mình[20] như được chép trong Công vụ 18: 3,[21] Phaolô từng sống với nghề may trại. Theo La Mã 16:2, Pheobe là người có những đóng góp tài chính hỗ trợ ông trong sứ mạng rao giảng phúc âm.

Tiếp nhận Đức tin Kitô giáo

Bài chi tiết: Sự cải đạo của Phaolô

Theo lời tự thuật của Phaolô, ông tìm mọi cách để săn đuổi và bức hại các tín hữu Kitô giáo cho đến chết,[22] theo ký thuật của sách Công vụ, ông có mặt trong số những người chứng kiến cái chết của Stephen, người tử đạo đầu tiên của Kitô giáo,[23] nhưng về sau Phaolô đã chấp nhận đức tin Kitô giáo:

“Bấy giờ, Saul chỉ hằng ngăm đe và chém giết môn đồ của Chúa không thôi, đến cùng thầy cả thượng phẩm, xin người những bức thư đề gởi cho các nhà hội thành Damascus, hầu cho hễ gặp người nào thuộc về đạo, bất kỳ đàn ông đàn bà, thì trói giải về thành Jerusalem. Nhưng Saul đang đi đường gần đến thành Damascus, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Saul, Saul, sao ngươi bắt bớ ta? Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Giêsu mà ngươi bắt bớ; nhưng hãy đứng dây, vào trong thành, người ta sẽ cho ngươi mọi điều phải làm. Những kẻ đi cùng với người đều đứng lại sững sờ, nghe tiếng nói mà chẳng thấy ai hết. Saul chờ dậy khỏi đất, mắt dẫu mở, nhưng không thấy chi cả; người ta bèn cầm lấy tay dắt người đến thành Damascus; người ở đó ba ngày, chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống.” (Công vụ 9. 1-9; xem thêm lời giải trần của Phaolô trước Vua Agrippa ở Công vụ 26, và Galatians 1. 13-16).

Cổng Kisan, nơi Phaolô trốn khỏi thành Damascus

Sau trải nghiệm tiếp nhận Kitô giáo, Phaolô lưu lại vài ngày ở Damascus rồi đến sống ở vương quốc Nabatea mà ông gọi là “Arabia”, rồi trở lại Damascus, khi ấy đang ở dưới sự cai trị của người Nabatea. Ba năm sau khi qui đạo, Phaolô bị buộc phải rời khỏi thành phố qua cổng Kisan trong ban đêm do phản ứng của giới cầm quyền Do Thái đối với lời giảng của ông. Về sau Phaolô đến Jerusalem, gặp James Người công chính (Giacôbe hoặc Gia-cơ) và Peter, ông ở với Peter trong 15 ngày.

Sau chuyến viếng thăm Jerusalem, Phaolô đến thành Antioch, từ đó ông bắt đầu cuộc hành trình qua Cộng hòa Síp và miền nam vùng Tiểu Á để rao giảng Phúc âm của Giêsu – được biết đến với tên “Hành trình Truyền giáo Thứ nhất của Phaolô”.[24] Tại Derbe, Phaolô và Barnabas bị ngộ nhận là “thần linh… trong hình dạng loài người”.[25] Những thư tín của Phaolô nhắc đến việc ông giảng dạy tại Syria và Cilicia,[26] sách Công vụ ký thuật rằng Phaolô “trải qua xứ Syria và Cilicia, làm cho các hội Thánh được bền vững”.[27]

Trong các cuộc hành trình truyền giáo, Phaolô thường chọn một hoặc hai người cùng đi với ông, đó là Barnabas, Silas, Titus, Timothy, John còn gọi là Mark, Aquila, Priscilla và thầy thuốc Luca. Ông nếm trải nhiều điều khổ ải dưới các hình thức khác nhau như bị giam cầm ở Philippi, bị roi vọt và ném đá, chịu đói khát, và suýt thiệt mạng vì một âm mưu sát hại ông.[28]

Thành lập các Giáo đoàn

Trong những năm kế tiếp, Phaolô đi khắp phía tây của vùng Tiểu Á, lần này ông tiến vào xứ Macedonia và thành lập cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên tại thành Philippi, tại đây ông phải đối diện với nhiều khó khăn. Phaolô thuật lại kinh nghiệm của mình:”Sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Philippi, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Thiên Chúa, cứ rao truyền Phúc âm của Thiên Chúa cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến”.[29] Sách Công vụ, từ góc nhìn của một nhân chứng, thuật lại việc Phaolô đuổi quỷ khỏi một phụ nữ nô lệ, làm người ấy mất khả năng bói toán và vì vậy làm giảm trị giá của người nô lệ; do đó, chủ nô cho ông là “kẻ cắp”, và nộp ông cho quan quyền.[30] Sau khi được trả tự do vì không có chứng cứ buộc tội,[31] Phaolô đi đến thành Thessalonica, lưu lại ở đây một thời gian trước khi vào Hy Lạp. Trước tiên ông đến Athens, nơi ông có bài thuyết giảng đã trở thành huyền thoại trên đồi Areopagus khi ông soi dẫn cho những người có mặt ở đây biết ai là “Chúa Không biết” mà họ vẫn thờ phụng.[32] Kế đó, Phaolô đến thành Corinth, lưu trú ở đó ba năm và viết thư nhất gởi tín hữu ở Thessalonica.

Một lần nữa, Phaolô lại vướng vào vòng lao lý ở thành Corinth khi một nhóm người Do Thái cáo buộc Phaolô “xúi giục dân chúng thờ Thiên Chúa cách trái nghịch với luật pháp”. Phaolô bị kéo đến trước quan trấn thủ Gallio, nhưng ông này cho đây là việc không đáng quan tâm và bác bỏ cáo trạng.[33] Một di chỉ ở Delpphi có nhắc đến tên Gallio, giúp xác định sự kiện này xảy ra trong năm 52, góp phần tái tạo bảng niên đại về cuộc đời của Phaolô.

Phaolô tiếp tục công cuộc rao giảng Phúc âm, thường được gọi là “Hành trình Truyền giáo Thứ ba”,[34] trải qua khắp vùng Tiểu Á và Macedonia, đến Antioch rồi quay trở lại. Nỗ lực thuyết giáo của Phaolô gặp phải những phản ứng giận dữ tại một hí viện ở Ephesus, khi lợi tức của giới thợ bạc ở đây bị thiệt hại do ảnh hưởng từ những lời thuyết giảng của ông. Thu nhập của những người này phụ thuộc vào nghề làm tượng nữ thần Artemis được cư dân địa phương sùng bái; hệ quả là đám đông bạo động vây phủ Phaolô khiến ông và những người bạn suýt bị mất mạng.[35] Về sau, khi Phaolô trên đường đến thành Jerusalem, có đi qua thành Ephesus nhưng không lưu lại ở đó vì ông phải đến Jerusalem cho kịp Lễ Ngũ Tuần. Dù vậy, Phaolô đã triệu tập các trưởng lão của hội Thánh tại Ephesus đến gặp ông tại Miletus. Tại đây, Phaolô giãi bày với họ những trải nghiệm cá nhân cũng như khuyên bảo và khích lệ họ.[36]

Giam cầm

Khi đến Jerusalem, Phaolô đối diện với lời đồn đại cho rằng ông chống lại luật pháp Moses. Để chứng minh việc tuân giữ luật pháp, Phaolô giữ lời thề Nazarite với bốn người khác.[37] Sau bảy ngày cho kỳ lễ tinh sạch gần trọn, Phaolô bị bắt giữ và hành hung ngay bên ngoài Đền thờ bởi một đám đông cuồng loạn kêu la: “Hỡi người Israel, hãy đến giúp với! Kìa, người này giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp, và nghịch cùng chốn này nữa, đến nỗi hắn dẫn người Hy Lạp vào trong đền thờ, và làm cho nơi Thánh này bị ô uế”.[38] Khi một đội binh La Mã đến cứu Phaolô khỏi đám đông đang giận dữ, họ kéo đến cáo buộc Phao lô là kẻ mưu phản, “kẻ xách động thuộc phe Nazareth”, kẻ rao giảng sự sống lại của người chết. Phaolô cố gắng giải thích và trình bày đức tin của mình với đám đông bằng ngôn ngữ của họ, có lẽ là tiếng Aram, nhưng đám đông càng bất bình kêu to, “Hãy cất người dường ấy khỏi thế gian, nó chẳng đáng sống đâu!”[39] Phaolô viện dẫn quyền công dân La Mã để xin được xét xử tại Rôma, nhưng do sự trì trệ của tổng đốc Antonius Felix, ông bị giam giữ hai năm ở Caesarea cho đến khi quan tổng đốc mới, Porcius Festus, đến nhậm chức, nghe giải trình và cho giải Phaolô bằng đường biển đến La Mã, tại đây ông bị quản chế thêm hai năm, với điều kiện sống tốt hơn.[40]

Đến đây chúng ta bị buộc phải dựa vào các truyền thuyết nếu muốn có thêm thông tin chi tiết về những ngày cuối cùng của Phaolô. Theo một truyền thuyết, Phaolô đã đến Tây Ban Nha và Anh quốc. Có lẽ Phaolô đã có ý định ấy, nhưng vẫn không có chứng cớ ông đã thực hiện chuyến đi. Theo một truyền thuyết khác, Phaolô đã chết ở La Mã. Eusebius thành Caesarea (khoảng 275 – 339) cho rằng Phaolô đã bị xử chém đầu trong thời trị vì của Nero, Hoàng đế La Mã, có thể là năm 64, khi thành La Mã bị thiêu rụi bởi một cơn hoả hoạn, hoặc vài năm sau đó, khoảng năm 67.

Đến La Mã, những ngày sau cùng

Sách Công vụ các Sứ đồ ký thuật chi tiết hành trình chuyến đi của Phaolô từ Caesarea đến La Mã. Quản cơ Julius giải giao Phaolô và những tù nhân khác bằng thuyền, có lẽ Luca và Aristarchus cùng đi trên tàu. Vì đang mùa giông bão, cuộc hành trình vừa chậm vừa gian khổ. Họ đi dọc bờ biển Syria, Cicilia và Pampylia. Đến thành Myra trong xứ Lycia, tù nhân được chuyển sang một tàu khác để đến Ý. Phải khó nhọc lắm tàu mới cập bến Mỹ Cảng trên đảo Crete.[41] Phaolô đưa ra lời khuyên nên nghỉ đông ở đây, nhưng họ không chịu nghe theo và tiếp tục cuộc hành trình.[42] Tàu bị bão, trôi giạt trong mười bốn ngày, sau cùng bị mắc cạn trên bờ biển Malta.[43] Đoàn người phải lưu lại trên đảo suốt ba tháng, ở đó Phaolô chữa lành bệnh sốt và bệnh lỵ cho thân phụ của tù trưởng của đảo, Publius, và những người khác. Khi mùa xuân đến, đoàn người lại lên đường.[44]

Sách Công vụ ký thuật cuộc đời của Phaolô cho tới khi ông đến La Mã, lúc ấy ước chừng 61 tuổi. Cuốn sách kết thúc với những lời cáo trách của Phaolô khi nói chuyện với một nhóm người Do Thái tìm đến để tra hỏi và chế giễu ông về Phúc âm:

Hãy đến nơi dân này và nói rằng;

Các ngươi lấy tai nghe mà chẳng hiểu chi;

Lấy mắt xem mà chẳng thấy gì;

Vì lòng dân này đã nặng nề;

Họ bịt tai; Họ nhắm mắt;

E rằng mắt mình sẽ thấy,

Tai mình sẽ nghe,

Lòng mình sẽ hiểu,

Và họ sẽ trở lại,

Để ta chữa lành chăng.

Vậy, hãy biết rằng

Sự cứu rỗi này của Thiên Chúa đã sai đến cho người ngoại;

Những người đó sẽ nghe theo vậy.[45]

Tác phẩm

Phaolô viết nhiều thư tín gởi các hội Thánh và những cá nhân. Tuy vậy, có lẽ có một số đã không còn được lưu giữ. 1Cor 5: 9[46] có thể được xem như là một gợi ý về thư tín trước đó ông đã gởi các tín hữu thuộc giáo đoàn Corinth nhưng nay không còn. Những thư tín vẫn còn lưu giữ đều được đưa vào Tân Ước, theo thứ tự từ dài đến ngắn. Có một ít thư tín được viết trong khi ông bị giam giữ, thường được gọi là “thư viết trong tù”, theo truyền thuyết những lá thư này được viết ở La Mã.

Những thư tín có được sự đồng thuận về quyền tác giả của Phaolô:

Thư gửi tín hữu Rôma

Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô

Thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô

Thư gửi tín hữu Galát

Thư gửi tín hữu Philípphê*

Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica

Thư gửi ông Philêmon*

Những “thư tín giống như của Phaolô” (nhiều học giả tin rằng như thư này không phải do chính Phaolô viết, nhưng thường được cho rằng ông là tác giả)

Thư gửi tín hữu Êphêsô*

Thư gửi tín hữu Côlôsê*

Thư thứ hai gửi tín hữu Thêxalônica

Những thư tín mục vụ của Phaolô:

Thư thứ nhất gửi ông Timôthê

Thư thứ hai gửi ông Timôthê

Thư gửi ông Titô

Ghi chú: Những thư tín có dấu * thuộc nhóm những bức thư viết trong tù.

Thần học

Tư tưởng của Phaolô ảnh hưởng đậm nét trên thần học Kitô giáo trong những lãnh vực như đức tin, sự xưng công chính, cứu rỗi, mối quan hệ giữa Kitô hữu và luật pháp Moses, Kitô học (Christology), Thánh Linh học, nguyên tội, chung thời học (eschatology) và bản chất của đời sau, cũng như vị trí của Kinh Thánh Do Thái trong Kitô giáo.

Đức tin và Sự xưng công chính

Phaolô tập chú vào vị trí trọng tâm của đức tin trong sự cứu rỗi được ban cho qua sự chết chuộc tội của Chúa Giêsu, và khả năng được xưng công chính qua đức tin ấy.[47] Một trong những điều Phaolô xác định rõ ràng đã trở nên rất nổi tiếng: “Vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm theo luật pháp”,[48] luôn luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sự xưng công chính và đức tin.

Xưng công chính là một ý niệm về pháp chế.[49] Được xưng công chính nghĩa là được tuyên bố trắng án. Vì mọi người đều là tội nhân, chúng ta chỉ có thể được trắng án khi Chúa Giê-xu thế chỗ chúng ta bằng cái chết đền tội thay trên cây thập tự. Như thế, theo cách nói của Phaolô tội nhân “được xưng công chính bởi đức tin,” ấy là bằng cách hiệp nhất với Chúa Kitô, tội nhân đồng chết và đồng sống lại với ông. Tuy nhiên, cần biết rằng được xưng công chính không có nghĩa là vì chúng ta hiệp nhất với Chúa Kitô trong sự vô tội của ông, mà vì sự chết hiến tế của đấng vô tội mang lấy hình phạt của chúng ta là tội nhân xứng hiệp với sự đoán phạt thiên thượng.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của đức tin, nhờ đó mà tội nhân được xưng công chính, Phaolô nhắc đến Abraham, người đã tin tưởng lời hứa của Thiên Chúa rằng ông sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc. Phaolô giải thích rằng, “Phúc âm đã được rao truyền trước cho Abraham.”[50] Điều này cũng phù hợp với luận điểm của Phaolô về sự hiện hữu từ trước vô cùng của Chúa Giêsu, nghĩa là ông là Thiên Chúa.[51]

Cùng với sự dạy dỗ của Phaolô về sự phục sinh và sự sống vĩnh hằng, cái nhìn thấu suốt của Phaolô về thần học đức tin và sự xưng công chính là chủ đề của nhiều sự luận giải, dẫn đến những tranh luận về việc xưng công chính chỉ bởi đức tin đối nghịch với sự xưng công chính bởi đức tin và công đức. Hầu hết các giáo hội Kháng Cách khẳng quyết rằng tư tưởng Phaolô đã giúp hình thành định nghĩa cho rằng sự cứu rỗi đến chỉ từ đức tin mà không bởi bất cứ nỗ lực bên ngoài nào của tín hữu (xem Năm Tín lý Duy nhất), bất đồng với quan điểm của Công giáo Rôma và Chính Thống giáo cho rằng ý tưởng của Phaolô đã bị hiểu sai và không phù hợp với lời dạy của James (Giacôbê hoặc Gia-cơ): “Nhơn đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.”[52]

Sự Cứu rỗi và Luật pháp Moses

Vấn đề có còn cần thiết phải tuân giữ Luật pháp Moses để được cứu rỗi đã được nêu lên trong thời kỳ Hội Thánh tiên khởi tại Giáo hội nghị Jerusalem, ở đó quan điểm của Phaolô đã tạo ra ảnh hưởng đáng kể. Những tác phẩm của Phaolô trình bày giáo thuyết cho rằng có được sự cứu rỗi không phải bởi nỗ lực tuân giữ luật pháp Moses nhưng do đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu. Phaolô xác định rõ ràng rằng không có sự phân biệt nào hết giữa người Do Thái và các dân tộc khác “vì mọi người đều phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Thiên Chúa.”[53] Vì vậy Phaolô được xem là nhân tố chính thúc đẩy việc chấp nhận người “ngoại bang” (không phải dân Do Thái) gia nhập Kitô giáo mà không có bất cứ yêu cầu tuân giữ nghi thức Do Thái như phép cắt bì hoặc kiêng cữ một số thức ăn.

Nguyên tội

Trong Tân Ước, giáo lý nguyên tội (tội tổ tông) được luận giải mạch lạc bởi Phaolô. Ông viết: “Bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội….”[54] Về sau giáo lý này được trình bày cặn kẽ bởi các nhà thần học Kitô giáo, nổi bật nhất là Augustine thành Hippo. (Xem Nguyên tội)

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Linh

Chúa Giêsu

Trong các thư tín của mình, Phaolô có nhắc đến các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu như bữa ăn cuối cùng của ông với các môn đồ,[55] sự chết trên thập tự giá,[56] và sự sống lại.[57] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là người Do Thái thuộc dòng dõi Vua David.[58] Ông tập chú vào bản chất của mối quan hệ giữa tín hữu Cơ Đốc với Chúa Giê-su, nhất là sự chết chuộc tội của ông. Phúc Âm Máccô chép rằng Chúa Giêsu đã “phó sự sống mình là giá chuộc cho nhiều người.”[59] Trong các thư tín của mình, nhất là trong Thư gửi tín hữu Rôma, Phaolô đã triển khai mạch lạc và cặn kẽ ý niệm về hành động cứu chuộc của Chúa Giêsu.

Theo luận giải của Phaolô, dưới luật pháp mọi người đều là tội nhân, nhưng những ai tiếp nhận Chúa Giêsu thì “nhờ ân điển ông mà được xưng công chính bởi sự cứu chuộc đã làm trọn trong Chúa Giêsu Kitô.” Họ được “cứu chuộc” vì Chúa Giê-xu đã đền tội thay cho họ; bởi sự chết của ông mà họ được phục hòa với Thiên Chúa. Như thế, sự chết của Chúa Giêsu là sự hiến tế chuộc tội cho con người nhằm làm dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Ấy là ân điển của Thiên Chúa, và chỉ bởi đức tin mà con người mới có thể nhận lãnh ân điển ấy.[60]

Phaolô luận giải xác tín của ông trong giáo lý về thần tính của Chúa Kitô. Ông viết: “Vì muôn vật đã được dựng nên trong ông (Chúa Kitô), bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi ông và vì ông mà được dựng nên cả. ông có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong ông”.[61] Phaolô cũng miêu tả Chúa Giêsu là “ảnh tượng của Thiên Chúa” (“Ấy chính ông là hình ảnh của Thiên Chúa không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên.”)[62][63]

Chúa Thánh Linh

Tương tự, Phaolô cũng trình bày một học thuyết vững chắc về Chúa Thánh Linh. Phần lớn Thư gởi tín hữu ở La Mã và phần cuối Thư thứ hai gởi tín hữu ở Corinth miêu tả Chúa Thánh Linh bình đẳng với Chúa Cha và Chúa Con, giúp hình thành giáo lý Ba Ngôi. Trong thư gởi tín hữu ở Galatia, Phaolô giải thích rằng việc tín hữu nhận lãnh Chúa Thánh Linh là do lời hứa Thiên Chúa dành cho Abraham thể hiện qua sự chết cứu chuộc của Chúa Giêsu,[64] và xác chứng rằng, “Nếu anh em thuộc về Chúa Cơ Đốc, thì anh em là dòng dõi của Abraham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.”[65]

Khi xem xét đến việc thực hành các ân tứ được ban cho từ Chúa Thánh Linh, Phaolô đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong thư gởi tín hữu ở Corinth.[66] với lời cảnh báo cần cẩn trọng với khả năng nói tiếng lạ trong trạng thái xuất thần, ngược lại vị sứ đồ khuyến khích những lời khuyên bảo có thể thông hiểu và gây dựng đức tin, ông cũng đặc biệt quan tâm đến việc duy trì trật tự trong hội Thánh.[67]

Dựa trên nguyên tắc vàng “Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích và làm gương tốt”[68] ông đưa ra lời khuyên chớ nên ăn thịt hiến tế cho các thần linh. Theo tập tục thời ấy, thịt thường được hiến tế trong các đền thờ trong những ngày lễ hội tôn giáo linh đình và trác táng.[69]

Phaolô miêu tả Chúa Thánh Linh là sức mạnh hiệp nhất, dù có nhiều ân tứ khác nhau nhưng tất cả đều là sự ban cho của Chúa Thánh Linh.[70] Ông ví von hội Thánh giống như thân thể con người, có chân tay và các cơ quan khác nhau nhưng chỉ là một thân thể; mọi thành viên của hội Thánh “đều đã chịu phép báp têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.” Như thế, để gây dựng và phát triển hội Thánh, tín hữu được ban cho các ân tứ khác nhau như giảng dạy, an ủi khích lệ, chữa bệnh, nói tiên tri và làm phép lạ.[71] Phaolô cũng liệt kê các phẩm chất cần có cho mỗi Kitô hữu mà ông gọi là “Trái của Thánh Linh”: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ.[72] Song, Phaolô gọi tình yêu thương là “sự ban cho lớn hơn hết”, và ông khuyên mọi tín hữu cần ước ao ân tứ này.[73]

Mặc khác, Phaolô cũng dạy về sự sống mới trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh,[74] và sự xác tín trong lòng của tín hữu để họ có thể tin quyết vào địa vị làm con Thiên Chúa.[75]

Các Vấn đề Xã hội

Quan điểm của Phaolô về các vấn đề xã hội cũng có ảnh hưởng lớn trên nền văn hoá Kitô như những quan điểm thần học của ông.

Trong thư gởi tín hữu ở Colossae, Phaolô cho biết người theo Chúa cần phải có cuộc sống tích cực như thế nào – ấy là theo đuổi những chuẩn mực của thiên đàng, không phải của trần thế. Trong suốt nhiều thế kỷ, những chuẩn mực ấy có ảnh hưởng đáng kể trên xã hội phương Tây. Phaolô kết án những hành vi như bất khiết, dâm dục, tham lam, giận dữ, vu khống, phỉ báng, dối trá và phân biệt chủng tộc trong khi ông đề cao những đức hạnh như nhân ái, tử tế, nhẫn nại, tha thứ, yêu thương, hòa bình, và biết ơn.[76]

Phaolô kết án sự dâm dục và việc thực hành đồng tính luyến ái, ông viết “Hãy tránh xa sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình.”[77][78]

Phaolô cũng dạy về sự tự do trong Chúa Kitô,[79][80][81] sự thờ phượng đúng cách và kỷ cương trong hội Thánh,[82][83] sự hiệp nhất của các tín hữu,[84][85] và hôn nhân.[86][87] Phaolô khuyến khích tín hữu theo đuổi cuộc sống độc thân “vì cớ tai vạ hầu đến”, nhưng cảnh báo rằng cả cuộc sống hôn nhân và cuộc đời độc thân đều có thể không tốt nếu không thuận phục ý Chúa. Ông nhắc nhở, “Vậy tôi nói với những kẻ chưa cưới gả và kẻ góa bụa rằng ở được như tôi thì hơn. Song nếu họ chẳng thìn mình được, thì hãy cưới gả; vì thà cưới gả còn hơn để cho tình dục un đốt.”[88]

Về việc sở hữu nô lệ, Phaolô dạy rằng vì ngày Chúa Giêsu tái lâm đã gần kề, tín hữu nên chú tâm vào đời sống đức tin hơn là vào địa vị xã hội.[89] Phaolô khuyên nhủ người nô lệ nên trung tín phục vụ chủ mình và người làm chủ phải tôn trọng và đối đãi tử tế với nô lệ hoặc người làm công “vì biết rằng cả hai đều có một chủ chung trên trời, và trước mặt ông chẳng có sự tây vị ai hết.”[90] Phaolô cũng tìm cách chuộc Onesimus, một nô lệ bỏ trốn, và yêu cầu người chủ xem Onesimus “không phải là nô lệ nữa, nhưng như anh em rất yêu dấu.”[91] Nhiều người xem đây là một hành động biểu thị tinh thần chống sở hữu nô lệ của Phaolô, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thời ấy, xem việc sở hữu nô lệ là một quyền công dân.

Nguồn gpcantho

Chia sẽ bài viết này trên:

Theo Gương Thánh Phêrô Và Phao-Lô Tông Đồ

Theo Gương Thánh Phêrô & Phaolô Tông Đồ

Lễ Kính Thánh Phêrô và Thánh Phaolô

Thiên Chúa là một mầu nhiệm, mà việc Ngài làm cũng là một mầu nhiệm con người không tài nào hiểu 29/6

Thiên Chúa là một mầu nhiệm, mà việc Ngài làm cũng là một mầu nhiệm con người không tài nào hiểu nổi. Thánh Phaolô gọi sự khôn ngoan của Thiên Chúa là “sự khôn ngoan mà không một thủ lãnh nào của thế gian này đã biết” (1 Cor 2:8). Việc Thiên Chúa chọn một ngư phủ thất học và bồng bột làm thủ lãnh Hội Thánh, và một người bắt đạo cuồng tín để truyền giáo là một việc điên rồ trước mặt thế gian, “vì thế gian đã không dùng sự khôn ngoan mà nhận ra Thiên Chúa trong sự khôn ngoan của Ngài, nên Ngài đã có ý dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu những người tin” (1 Cor 1:21). Chúng ta chỉ có thể hiểu được Thiên Chúa nhờ ân sủng và qua cặp mắt Đức Tin. Tin rằng Ngài làm được tất cả mọi sự. Tin sắt đá như hai Thánh Phêrô và Phaolô.

  1. Thánh Phêrô và Thánh Phaolô

Thánh Phêrô và Thánh Phaolô là hai người hoàn toàn khác nhau được Đức Kitô gọi trong hai hoàn cảnh cũng hoàn toàn trái ngược nhau để cùng rao giảng cùng một Tin Mừng tình yêu và cứu độ.

Thánh Phêrô có tên là Simon trước khi gặp Đức Kitô. Người đã đồi tên ngài thành Kêpha (Phêrô). Ngài là một ngư phủ sinh trưởng tại Galilêa, đã có gia đình. Chúa Giêsu đã gọi ngài để biến ngài từ “người đánh cá” thành “đánh cá người”. Tính tình ngài năng động, nông nổi, hay nói thẳng, đầy tự tin và nhiệt huyết, nhưng cũng nhát đảm. Vì nói thẳng và hay nói nên dễ lỡ lời đến nỗi bị Chúa gọi là “Satan” (x. Mt 16:23 ). Vì đầy tự tin và nhiệt huyết nên đã thề là không bao giờ bỏ Chúa (x. Mt 26:33-35; Mc 14:31). Nhưng sau đó vì nhát đảm nên đã chối Chúa ba lần (x. Mt 26:69-75; Mc 14:66-72; Lc 22:54-62; Ga 18:15-27). Ngài là một người theo đạo Do Thái theo truyền thống, đơn sơ, không được học hành sâu sắc. Tuy sống chung với nhiều người Hy Lạp ở Galilêa, nhưng có lẽ ngài không rành tiếng Hy Lạp lắm, nên khi đi rao giảng ngài cần Thánh Marcô làm thông dịch cho ngài.

Thánh Phaolô trước khi trở lại có tên là Saulô. Quê quán ở Tarsô, Cilicia, là con của một người Do Thái lưu vong. Ngài là một người có học thức, thông thạo cả tiếng Hy Lạp lẫn tiếng Do Thái và tiếng Aram, hiểu biết cả thần học của Do Thái lẫn triết học Hy Lạp. Vì con một gia đình thế giá, là công dân Rôma, nên ngài cũng được thừa hưởng quyền công dân ngay từ nhỏ, nhưng cũng là một Biệt Phái. Được cha mẹ gửi về Giêrusalem để học về Lề Luật theo Thầy Gamêliên. Vì lòng nhiệt thành với Đạo Do Thái, ngài đã bắt bớ những người theo Chúa Giêsu thành Nazareth (Tđcv 8:3-9:2). Nhưng trên đường đi Đamascô để tróc nã các tín hữu, Chúa đã quật ngã ngài và hỏi ngài: “Saulô, Sao người bắt bớ Ta?” (Tđcv 9:4). Khi đó ngài đã nhận ra rằng Đức Kitô vẫn còn sống và thật sự là Đức Kitô. Chính Người đã cho Thánh Phaolô hiểu rằng Người và Hội Thánh là một. Từ sự hiểu biết ấy, Thánh Phaolô gọi Hội Thánh là Nhiệm Thể của Đức Kitô. Sau khi trở lại và chịu phép Rửa, Thánh Phaolô đã hết lòng phục vụ Chúa và Hội Thánh bằng chính nhiệt huyết sẵn có của mình.

Cách hai vị được mời gọi làm tông đồ nhưng nhiệm vụ của hai vị khác nhau. Thánh Phêrô được gọi ngay từ những ngày đầu cuộc đời công khai của Chúa. Thánh Phaolô được gọi sau khi Chúa đã về trời. Thánh Phêrô là một trong những tông đồ được gọi trước hết và được Chúa đặc biệt trao phó nhiệm vụ hướng dẫn Hội Thánh (x. Mt 6:19; Ga 21: 15 -17) cùng nâng đỡ các tông đồ khác (x. Lc 22:32 ). Thánh Phaolô được gọi sau cùng và được trao nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại. Việc Chúa chọn hai Thánh Phêrô và Phaolô cho thấy chương trình mầu nhiệm và quyền năng vô biên của Thiên Chúa trong việc biến đổi những người tầm thường nhất hoặc cứng đầu nhất thành những tông đồ nhiệt thành của Ngài nếu họ biết hợp tác với ân sủng của Ngài.

  1. Các Ngài giống nhau ở điểm gì?

    a) Tâm hồn khiêm nhường biết hoán cải. – Cả hai vị đều là những người yếu đuối và tội lỗi biết khiêm nhường hoán cải. Thánh Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng sau đó hết lòng ăn năn và trung thành với Người cho đến chết. Thánh Phaolô cố tình tiêu diệt Hội Thánh ngay từ lúc phôi thai, nhưng sau đó đã đem cả cuộc đời ra để làm cho Hội Thánh được lan rộng khắp nơi, mà không sợ đói khát, nguy hiểm, tù đầy, kể cả cái chết.b) Niềm tin chắc chắn rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa. – Trong khi những người Do Thái đồng thời với các ngài đang mong chờ một Đấng Kitô [theo kiểu thế tục] đến để giải phóng họ khỏi ách nô lệ ngoại bang, hai Thánh nhân đã nhận ra Chúa Giêsu chính là Đức Kitô. Thánh Phêrô là người đầu tiên đã tuyên xưng Chúa Giêsu: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16:16 ). Còn Thánh Phaolô thường gọi Chúa Giêsu là “Chúa” hoặc là “Đức Kitô”. Trong các thư của ngài, ngài đã gọi Chúa Giêsu là “Con Thiên Chúa” (x. 1 Thes 1:10; Rom 5:10; 8:3; 2 Cor 1:19 ).

    c) Lòng yêu Chúa và Hội Thánh thiết tha và làm tất cả vì Chúa. – Một khi đã trở lại, hai vị đã hoàn toàn quên mình và hiến trọn đời cho Chúa. Cả cuộc đời còn lại của Thánh Phaolô được Ngài tóm tắt vào câu: “tôi sống, nhưng không còn là tôi, nhưng là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gal 2:20 ). Ngài khuyên chúng ta: “dù anh em ăn, uống, hoặc làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh danh Thiên Chúa” (1 Cor 10:31 ). Còn Thánh Phêrô thì nhắc nhở chúng ta: “Hãy tôn thờ Ðức Kitô là Chúa trong lòng anh em, và luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ người nào hỏi anh em về lý do của niềm hy vọng nơi anh em” (1 Phr 3:15), và “vì chính Ðức Kitô đã chịu đau khổ trong thân xác, nên anh em cũng hãy tự trang bị bằng cùng một tâm tưởng ấy, vì ai chịu đau khổ về thể xác thì ngừng phạm tội, để thời gian còn lại trong thân xác, người ấy không còn sống theo những tình dục con người, nhưng theo thánh ý của Thiên Chúa” (1 Phr 4:1-2). Cả hai vị đã làm gương trước bằng cách hy sinh chính mạng sống cho Chúa và Hội Thánh

    d) Khiêm nhường, ý thức được giới hạn của mình và phó thác cho Chúa. – Mặc dù cả hai vị được Chúa ban cho nhiều quyền năng, kể cả quyền làm cho người chết sống lại, nhưng hai vị rất khiêm nhường. Đọc Tông Đồ Công vụ cũng như hai thư của Thánh Phêrô chúng ta không bao giờ thấy ngài tỏ ra hãnh diện vì quyền năng Thiên Chúa ban cho ngài. Khi chết ngài xin được đóng đinh ngược vì thấy mình không xứng đáng được đóng đinh như Chúa Giêsu. Còn Thánh Phaolô thì nhận mình trước kia là “một tên phạm thượng, khủng bố và ngạo mạn.” Ngài nhận mình là “một đứa bé sinh non, là người bé nhỏ nhất trong số các Tông Đồ, không đáng được gọi là Tông Đồ” (x. 1 Cor 15:8-9). Vì thế mà Thánh Phêrô khuyên chúng ta: “Tất cả anh em hãy mặc lấy đức khiêm nhường trong cách đối xử với nhau, vì ‘Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường.’” (1 Phr 5:5) và “anh em hãy hạ mình dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Ngài nâng anh em lên trong giờ đã định. Hãy trút hết mọi âu lo cho Ngài, vì Ngài chăm lo cho anh em” (1 Phr 5:6). Còn Thánh Phaolô thì nói: “Nếu tôi phải khoe khoang, thì tôi sẽ khoe về những gì liên quan đến sự yếu đuối của tôi” (2 Cor 11:30), đồng thời ngài khuyên chúng ta: “Vì nhờ ân sủng đã được ban cho tôi, tôi xin từng người trong anh em, đừng nghĩ tốt về mình quá mức, nhưng hãy nghĩ về mình cách khiêm nhường, mỗi người tuỳ theo mức độ đức tin mà Thiên Chúa đã ban phát cho” (Rom 12:3).

    e) Không ghen tương, ganh tị, nhưng tận tình giúp đỡ nhau. – Tuy có nhiều kiến thức hơn Thánh Phêrô, nhưng Thánh Phaolô đã đến ở với Thánh Phêrô 15 ngày để học cùng Thánh Phêrô những gì ngài đã học từ Đức Kitô (Gal 1:18). Để chắc ăn, Thánh Phaolô lại lên Giêrusalem một lần nữa với mục đích trình bày Tin Mừng mà ngài rao giảng giữa các Dân Ngoại riêng với các vị đáng kính, “vì sợ rằng bằng cách nào đó tôi đã xuôi ngược, và đã xuôi ngược vô ích” (Gal 2:1-2). Ngài khuyên bảo chúng ta: “Ðừng làm gì vì ganh tị hay hư danh, nhưng trong tinh thần khiêm nhường, mỗi người hãy coi người khác là hơn mình” (Phil 2:3). Còn Thánh Phêrô đã bị Thánh Phaolô chỉ trích một lần cách công khai trước mặt mọi người, nhưng ngài đã không bào chữa (x. Gal 2:11 -14). Sau này chúng ta thấy chính Thánh Phaolô cũng làm nhiều điều để tránh mất lòng người Do Thái, như cắt bì cho Timôthê (Tđcv 16:1-3)…. Dù bị chỉ trích như thế, nhưng hai Thánh nhân vẫn tương đắc với nhau như Thánh Phaolô diễn tả trong Galatê 2:9-10. Thánh Phêrô cùng thánh Giacôbê và Gioan đã đưa tay phải cho Thánh Phaolô để tỏ dâu hiệp thông. Còn Thánh Phaolô thì đi đâu cũng lo quyên góp để giúp đỡ cộng đoàn Kitô hữu ở Giêrusalem.

    f) Giảng dạy bằng gương sáng chứ không chỉ bằng lời nói. – Thánh Phaolô bảo chúng ta hãy bắt chước Ngài: “tôi xin anh em, hãy bắt chước tôi” (1 Cor 4:16 ; Phil 3:17 ) như Ngài “theo gương Đức Kitô” (1 Cor 11:1). Còn Thánh Phêrô thì khuyên các mục tử: “Ðừng thi thố quyền hành trên phần gia tài đã được trao cho anh em, nhưng hãy trở nên gương lành cho đàn chiên” (1 Phr 5:3).

    g) Can đảm đương đầu với thế gian và quyền lực. – Thánh Phêrô đã can đảm đứng trước Công Nghị mà tuyên bố rằng: “Các ông hãy xét xem có phải là điều đúng trước mặt Thiên Chúa không khi nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa? vì chúng tôi không thể không nói ra những gì chúng tôi đã nghe, và đã thấy.” (Tđcv 4:19-20). Còn Thánh Phaolô cũng “chịu đựng trong gian khổ, cùng quẫn, lo âu, đòn đánh, tù ngục, xáo trộn, lao nhọc, mất ngủ, đói khát” (x. 2 Cor 6:4-5), nhưng nhất định không nhượng bộ và giữ vững đức tin cho đến cùng (2 Tim 4:7).

  1. Các ngài dạy chúng ta điều gì?

Qua cuộc đời các ngài, Thánh Phêrô và Phaolô đã dạy chúng ta rất nhiều điều. Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chúng ta theo gương các ngài thực hành được hai điều chính thôi thì chắc các ngài cũng vô cùng vui sướng trên trời.

a) Làm mọi sự vì vinh danh Chúa. – Ngày nay sở dĩ chúng ta có nhiều chia rẽ trong Hội Thánh, trong các cộng đoàn, các giáo xứ vì nhiều người trong chúng ta đang làm việc vì tư lợi và hư danh. Nếu chúng theo gương hai Thánh Tông Đồ, quên mình và làm tất cả mọi sự để Thiên Chúa được vinh danh thì chắc chắn chúng ta sẽ thắng vượt được mọi khó khăn và sẽ dễ lôi kéo nhiều người khác về với Chúa. Muốn như thế, chúng ta phải “không còn sống theo những tình dục con người, nhưng theo thánh ý của Thiên Chúa” (1 Phr 4:2). “Nếu có ai chịu khổ như một Kitô hữu, thì đừng xấu hổ, nhưng hãy tôn vinh Thiên Chúa vì danh hiệu đó” (1 Phr 4:16 ).

b) Can đảm đứng lên bảo vệ và rao truyền chân lý. – Giống như thời đại các ngài, con người thời nay cũng đang thờ ngẫu tượng là tiền tài, danh vọng và những thú vui xác thịt. Họ đang “theo những dục vọng của lòng họ, theo những điều ô uế, để họ cùng nhau làm nhục thân thể của họ. Họ đã đổi chân lý của Thiên Chúa để lấy sự giả trá. Họ đã tôn kính và thờ phượng những loài thụ tạo, thay vì Ðấng Tạo Hoá” (Rom 1:24 -25). Họ cũng “theo dục tình đồi bại. Phụ nữ của họ đã đổi những liên hệ tự nhiên lấy những liên hệ trái tự nhiên. Ðàn ông cũng thế, bỏ liên hệ tự nhiên với phụ nữ để nôn nao thèm muốn lẫn nhau. Ðàn ông làm việc tồi bại với đàn ông” (Rom 1:26 -27). Họ đang tìm cách đạp đổ gia đình là nền tảng của xã hội bằng cách gán cho nó một định nghĩa mới. Họ đang nhân danh “quyền chọn lựa của phụ nữ” để giết hại hàng triêu trẻ em trong lòng mẹ mỗi năm. Không những thế họ còn muốn dạy những điều này cho trẻ em, và thay đổi luật pháp để biến những điều này thành những quyền căn bản ngõ hầu khoá miệng những ai muốn vạch rõ chân lý cho họ. Là Kitô hữu chúng ta có nhiệm vụ chống lại “nền văn hoá sự chết này” dù phải chịu mọi thiệt thòi hay phải chết như các ngài đi nữa.

Kết luận.

Để kết thúc tôi xin mượn chính lời của Thánh Phêrô: “Anh em hãy tiết độ và tỉnh thức, vì kẻ thù của anh em là ma quỷ, như một con sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi để cắn xé. Anh em hãy chống lại nó, hãy đứng vững trong đức tin, vì biết rằng các anh em của mình đang sống trên trần gian đều phải trải qua cùng những thống khổ như thế. Thiên Chúa của mọi ân sủng, là Ðấng đã mời gọi anh em vào vinh quang vĩnh cửu của Ngài trong Ðức Kitô, sẽ làm cho anh em được nên hoàn hảo, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cố sau khi anh em đã chịu đau khổ một thời gian ngắn. Nguyện chúc Người vinh quang và uy quyền đến muôn muôn đời. Amen” (1 Phr 5:8-11).

Phaolô Phạm Xuân Khôi

Chia sẽ bài viết này trên:

Khi cho Đi Là Lúc Nhận Lãnh – Chúa Nhật 13 TN A

Khi cho Đi Là Lúc Nhận Lãnh
Chúa Nhật 13 TN A

1. Một trong những thói quen tốt lành mà nhiều Họ Đạo tại Việt Nam còn giữ được, trong khi hầu hết Giáo Xứ Âu Mỹ không còn. Đó là bổn đạo đi nhà thờ sớm một chút trước Thánh Lễ, cùng nhau đọc kinh Ngày Chúa Nhật hôm nay, chúng con hợp nhau, kính lạy thờ phượng Chúa… Phần đầu là để khong khen cảm tạ Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban xưa nay … và phần sau lập lại những giáo lý căn bản mà Chúa Giêsu răn dạy khi còn tại thế và đã được chi lại trong Thánh Kinh. Trong đó có kinh thương người có 14 mối, thì thương xác bảy mối đi trước theo câu tục ngữ “có thực mới vực được đạo”: thứ nhất cho kẻ đói ăn, thứ hai cho kẻ khát uống … thứ năm cho khách đổ nhà…

2. Ăn ở mặc là ba nhu cầu căn bản của con người. Bà Sunem đã hiểu và thực hành. Chính lòng tốt của Bà trong Sách II vua: 4-8, 14-16 luôn sẳn sàng và đã vui lòng cung cấp nơi ăn chốn ở cho tiên tri Elisê và tiểu đồng Giêkhadi. Bà không muốn, như đa số người đời xưa nay “lấy con tép nhử (dụ) con tôm” là nhờ cậy môi giới của Tiên Tri tới những chổ chống lưng quyền lực như Đức Vua hay tướng chỉ uy quân đội. Nên Bà được phần thưởng cao qúi, qua lời chúc phúc từ Người của Thiên Chúa, là bồng con trai năm sau dù ông chồng đã già.

3. Đây là món quà to lớn nhất để hóa giải dư luận chua cay độc địa của người đời muôn thuở: “cây khô không lộc, gái độc không con”. Bà Sunem là mẩu gương về lòng rộng rải với những người của Chúa và được đáp đền vượt quá lòng mong ước trong một đời người, như lần kia Chúa nói: Cây tốt, kết quả sinh trái tốt (Mt. 7:17a).

4. Qua tới Thư gởi tín tín hữu Roma 6:3-4, 8-11 Thánh Phaolô nhắc lại cho mọi người ý nghĩa của Bí tích Rửa Tội, gốc Hy lạp là Baptizein: submerge: dìm xuống. Cũng cùng một thể thức như Phép rửa giúp thống hối của Thánh Gioan Tẩy Giả, thời Giáo Hội sơ khai dự tòng được nhấn chìm dưới mặt nước, coi cùng đã chết cùng với cái chết của Chúa Kitô, cho tội lỗi quá khứ. Rồi khi nhô lên khỏi nước là phục sinh cùng Đức Kitô trong đời sống mới. Để làm gì?

5. Xin thưa, qui chiếu về tiêu điểm Đức Kitô trong Mt. 10:37-42, là để can đảm chấp nhận Chúa làm số 1 trong những nấc thang giá trị của đời mình. Vậy thì Điều răn thứ 4, Chúa ra lệnh phải thảo kính cha mẹ để được sống lâu trong Sách Xuất Hành 20:12 là số mấy? Cũng xin thưa, Chúa dựng nên tổ tiên ông bà cha mẹ. Qúi Ngài đại diện Chúa chăm sóc mình. Chúa ở trong các Ngài. Chúa là Đấng hoàn toàn sung mãn, đầy đủ không cần hay không tranh dành địa vị nầy nọ như loài người. Nhưng lời Chúa nói ra vì lợi ích chung, tùy căn cơ trình độ hoàn cảnh của từng người.

6. Chúa đặt ra vấn đề bên trên, là vì trong cuộc sống đời thường, bên ngoài và ngay cả bên trong nội bộ gia đình ruột thịt, riêng thời buổi nầy, không phải là không có thành phần ngược dòng Lời Chúa dạy, do thói đời đen bạc ham mê danh lợi thú và quyền lợi thế gian. Lúc đó xin giúp cho con lựa Chúa hơn lựa tình người là như vậy. Trong trường họp nầy, cũng xin giúp con can đản vác thập giá bằng chì, dù hình dáng nhỏ xíu ít ai trông thấy. Đó là chưa kể muôn nghìn thánh giá là khó khăn, bất tiện, không vừa ý nhỏ lớn hàng ngày, mà không mấy ai không gặp phải. Nên cũng hãy vui lòng ít nhiều vác lấy để thăng tiến đời mình về thể lý, đặc biệt là tu luyện tinh thần.

7. Trong những dòng cuối bài Tin Mừng Chúa Nhật 13 A nầy Chúa Giêsu dùng từ “ngôn sứ” và “người công chính” để nói về các Tông đồ và cả những người hầu việc Chúa mãi sau nầy nữa, cũng được coi là ngang hàng với ngôn sứ và người công chính trong Thánh Kinh. Vì thế, tiếp đón các vị coi như là tiếp đón Chúa Giêsu, cũng là đón chính Cha, Đấng đã sai Ngài. Và phần thưởng cho việc đón tiếp cũng liên kết vào các chức vụ tiên tri hay người công chính.

8. Kết thúc đoạn Phúc Âm, Chúa chỉ cho một việc dễ ợt không mất tiền mua, mà ai cũng có thể làm được, là cho một kẻ bé mọn một chén nước lã, vì người ấy là môn đệ thì người cho cũng không mất phần thưởng. Từ ngữ “bé mọn” hay người nghèo, bần nhân, tôi tớ dùng để chỉ về Tiên Tri hay Ngôn Sứ mà Ki tô hữu nào cũng được thông phần vào chức vị cao qúi đó.

9. Trong thực tế, thực hành mấy điều bên trên khó lắm Chúa ơi! Một người bạn gốc Khmer của con mới đây về xứ Trà Vinh cho biết, người ta trong và nhất là ngoài nước, chỉ muốn giúp những vị tu hành đủ thứ để được phước, mà không xu nào cho người nghèo chung quanh cơ sở thờ tự, vì cho rằng kẻ nghèo thiếu phước thì giúp để làm gì hay được gì. Con chỉ muốn cho mượn gạo sau khi đã coi họ có bồ lúa hay không. Con cũng chỉ muốn giúp đỡ những Bill Gates là hạng người không cần ai giúp gì.

10. Nhìn ra thêm vài lối khác, lại có vị tu hành tự ý gom (đồng đô) gió thành bão nên đụng tới sở Thuế. Khi bị moi ra thì bốn phương thiên hạ mới lại hay, như tại San Jose, CA. Hoa Kỳ vài năm trước mà trên Google News cũng có. Điều nầy làm cho những vị Lảnh Đạo tinh thần cao cấp địa phương và đó đây dè chừng với dân Việt mình.

11. Vài năm trước đây, Đức Giám Mục Bắc Ninh có đến giáo xứ của mình dâng lễ. Trong bài chia xẻ lời Chúa, Ngài thuật lại câu chuyện thuộc nhà Chùa rằng:
Lần kia, một nữ tín đồ hỏi vị Cao Tăng:
– Tại sao cả đời con gặp tai hoạ đủ thứ như vậy, riêng bệnh nhức đầu kinh niên?
Vị Cao Tăng ngộ đạo, có thể trông mặt mà bắt hình dong, hỏi lại:
– Con có làm gì ích lợi cho ai chưa?
Bà nầy liền đáp:
– Từ nhỏ tới nay, con chưa làm cho ai một cái gì.
Vị Cao tăng mở cái tráp ra, lấy một muỗng dừa, trao cho bà:
– Con xuống bờ sông, múc cho Ta miếng nước.
Sau việc làm dễ dàng nhẹ nhàng đó, nữ thí chủ khỏi bệnh nhức đầu nhiều năm mà bà không biết tại sao.

12. Câu chuyện khác, giúp hiểu thêm lời Chúa từ trên cho xuống:

Tế công Đại Pháp Sư, Tế Ðiên Hòa Thượng hay Tế Điên Hoạt Phật 1140- 1209, tên thật Lý Tu Duyên là một nhân vật có thật và cũng là nhân vật trong tác phẩm văn học dân gian Trung Quốc. Kể lại sự tích, lần kia Hoà Thượng bị bắt vì phản đối quan Tể Tướng cướp gỗ xây chùa để làm Cung Lạc Lầu. Trong phiên xử do Tể Tướng chủ toạ, Ngài Tế Điên khẳng khái chỉ vào mặt tể tướng:
– Đáng lẽ làm lớn, là trung tâm của mọi phúc lợi, phải làm như máng xối chuyển những phúc lợi đó xuống cho dân chúng, chớ lẽ nào gom góp cho mình và phe nhóm đặc quyền.

13. Nguyễn Thị Thanh Dương 2014/12/13 http://hoangdieuucchau.blogspot.com/2014/12/truyen-cam-ong-baby-sit-nguyen-thi.html có ghi câu chuyện Nghề Baby Sit. Nữ nhân vật chính trong truyện, không thấy nói là đạo nào, nhưng đã hiểu và thực hành bài phúc âm hôm nay 90% theo căn cơ và trình độ. Xin tóm gọn.

Cô giữ trẻ không cha từ lúc còn trong bụng mẹ. Năm 12 tuổi thì mẹ mất. Được chủ hãng nước mắm ở bến Chương Dương nuôi và cho theo chuyến chính thức vượt biên 1980, sang Hoa Kỳ. Vì cô vô sinh nên cho chồng đầu tự do có vợ khác. Gặp chồng sau, ông chết bệnh tim đột ngột, để lại món nợ tín dụng. Cô đi làm nghề giữ trẻ trong tâm tình thèm khát một mái gia đình với trẻ thơ để săn sóc và yêu thương chúng.

Nhà rộng 4000 sf (khoảng 371 m2), sân trước vườn sau có người chăm sóc cây cảnh của ông bà chủ nhà hàng bận rộn không có giờ ngó ngàn tới thứ gì khác ngoài việc buôn bán và thu tiền và ngủ khi về tới nhà. Cô chăm sóc 3 đứa trẻ ranh quậy phá, thành tử tế, ngoan ngoãn. Coi như cô làm chủ căn nhà và đàn trẻ. Có giờ nghe nhạc, ngắn cây cảnh, đọc sách, xem phim. Bên dưới xin trích nguyên văn:

” Một hôm cô An (chủ nhà) mang về một tờ báo xuất bản ở Việt Nam , do người Bạn Cô mới đi chơi Việt Nam và mang về . Cô An chỉ cho tôi bài viết về một bà người Việt sống ở Mỹ có lòng từ tâm , hàng tháng gởi cả ngàn đô về Việt Nam để giúp các trẻ em nghèo .
Cô An chặc lưỡi :
– Làm điều thiện mà dấu tên , ngu thật . Người ta đâu biết mình là ai , thì hãnh diện với ai đây ?
Rồi Cô so sánh , nửa đùa nửa thật :
– Chắc Bà Này giàu lắm mới chi ra như thế . Mà có giàu hơn tôi được không ?

Còn tôi, lương tháng 1200 đồng , không kiếm thêm được đồng nào như Vợ Chồng cô chủ . Nhưng nếu so sánh giữa tôi và họ ai giàu hơn ? Thì … tôi chứ ai ! Vì tôi còn có tiền phân phát cho người khác . Và ai sướng hơn ? Thì … cũng tôi chứ ai ! vì tôi có niềm vui khi đã mang lại niềm vui cho người khác …

14. Để kết thúc, xin ghi lại câu chuyện có thật trong lịch sử Y khoa Hoa Kỳ.
Ngày kia, cậu bé bỏ báo cho một căn nhà, móc ra chỉ 2 xu hỏi mua 1 ly sữa, thì một cô gái trong nhà bước ra, trao cho cậu một ly và nói:

– Ly sữa free, không trả tiền. Mẹ tôi dạy không nhận gì khi làm việc tốt.

Cậu rời căn nhà trên. Lòng tốt của con người giúp cậu bé nghèo thêm nghị lực sau nhiều lần có ý bỏ học.

Nhiều năm sau, cô gái trên mắc bệnh hiểm nghèo. Cô phải đến thành phố lớn tìm thầy chuyên môn chữa trị. Bác sĩ Howard Kelly (February 20, 1858 – January 12, 1943) nhận ra cô thân chủ và hết lòng chữa cho cô. Ông dặn phòng tài chính trao hoá đơn cho ông xem trước khi chuyển cho bệnh nhân. Cuối cùng, cô cũng được hoá đơn và để ý đến hàng chữ bên lề: “Đã thanh toán đầy đủ bằng một ly sữa!”. Ký tên: Bác sĩ Howard Kelly.
Mắt cô đẫm lệ vui mừng, không thể ngờ việc làm quá nhỏ năm xưa, đưa tới kết quả vô cùng lớn lao sau nầy.

Cậu bé ngày xưa được tặng một ly sữa khi đói, đã trở thành Tiến Sĩ y khoa Howard Kelly, một bác sĩ lỗi lạc tài ba. Năm 1895, ông là người sáng lập Johns Hopkins Division of Gynecologic Oncology (Phân khoa Ung Thư Phụ Sản) tại Đại Học Johns Hopkins, Đại Học đầu tiên của Hoa Kỳ, nghiên cứu y khoa năm 1876 tại Baltimore, Maryland.

Ông bà cha mẹ chúng con thường dặn dò con cháu và cũng riêng cho mọi người hôm nay nữa: thi ân bất cầu báo. Nhưng Chúa công bằng rộng lượng, tính kỷ, nhớ dai hơn máy vi tính thượng hạng rằng: cho ai 1 chén nước, cũng không mất phần thưởng. Chúa khích lệ chúng con biết chia xẻ cho nhau mà tránh trường hợp như dụ ngôn nhà trọc phú đối với Lagiarô nghèo khó bên dưới bàn ăn (Luca 16:19-31).

15. Cuối cùng, xin cho con cùng hát, suy tư và thực hành vài ba điều nào đó trong tầm tay, mà kinh Hoà bình của Thánh Phaxicô Assisi đã dạy:

“Lạy Chúa từ nhân. Xin cho con biết mến yêu và phụng sự chúa trong mọi người.

Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu. Lạy Chúa xin hãy dạy con: Tìm an ủi người hơn được người ủi an. Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết. Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

[Ôi Thần Linh thánh ái, Xin mở rộng lòng con. Xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí Ơn an bình.” ]

vô hạ

Chia sẽ bài viết này trên:

Tất Cả Cho Một Tình Yêu – CN XIII TN A

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN NĂM A 2020
Tất Cả Cho Một Tình Yêu

Người ta chỉ biết Họa sĩ Trịnh Cung là một trong những tên tuổi hàng đầu của làng mỹ thuật Việt Nam trước năm 1975, ít ai biết ông còn là một thi sĩ tài ba. Ông chính là tác giả của ca khúc nổi tiếng “Cuối cùng cho một cuộc tình” được Trịnh Công Sơn phổ nhạc. Hoàn cảnh ra đời của ca khúc đã làm cho nhiều danh ca trở thành bất hủ thật đặc biệt. Một lần đến thăm bạn trong một căn phòng chật hẹp chỉ vừa cho 3 người nằm trên một chiếc chiếu, Trịnh Công Sơn nghe Trịnh Cung khóᴄ mới bật dậy, thấy bạn đốt tập thơ mới ᴄhụp lại ᴠà giữ đượᴄ 1 bài thơ, đó là bài Cuối Cùng Chᴏ Một Tình Yêu, Trịnh Công Sơn đã phổ nhạᴄ bài thơ đó. Trịnh Cung đã bộc bạch: “Sự ᴠiệᴄ tôi đốt tập thơ là ᴄó thật bởi ᴠì đó là một thái độ mà tôi ᴄần ᴄó để tôi tập trung ᴄhᴏ hội họa, tôi không muốn dính líu đến thơ ᴄa, ᴠì ᴄó một quan niệm là làm ᴄái gì làm ᴄhᴏ tới nơi, hai ba thứ nó lôi thôi lắm, ᴄhᴏ nên tôi quyết định hủy bỏ làm thơ để tập trung ᴄhᴏ hội họa.” Thơ là tình của Trịnh Cung, nhưng ông đã hy sinh mối tình đó trong đau đớn và nước mắt để toàn tâm toàn ý cho hội họa, nên ông đã trở thành tên tuổi hàng đầu của làng mỹ thuật Việt Nam.

Khởi đi từ câu chuyện đó để chúng ta đi vào sứ điệp lời Chúa hôm nay, cũng là lời mời gọi mãnh liệt cho sự từ bỏ để trở thành môn đệ Đức Kitô.

Nhưng trước hết chúng ta cần nhận biết chính Đức Giêsu đã từ bỏ địa vị Con Thiên Chúa của mình để đến trần gian sống với nhân loại hầu đem đến ơn cứu độ cho con người. Thánh Phaolô đã viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá.” (Pl 2, 6-8). Ngài đã làm tất cả cho một cuộc tình, Ngài đã hy sinh mọi sự để Sống Cho Tình Yêu (ca khúc của Lm. Thái Nguyên) Vì thế mà “Chúa gọi con vào đời, không phải để làm điều chi, nhưng là để sống tình yêu”. Tất cả cho một tình yêu!

Tình yêu đó “là tình yêu Chúa đã một chiều, thương con nên liều mạng sống, để cho con mối tình sắt son”. Tình yêu đó là ơn cứu độ, là hạnh phúc đời đời, là Thiên Đàng, Nước Trời của chúng ta.

Để có được Tình Yêu đó, Thầy Giêsu đòi buộc các môn đệ của mình phải có sự từ bỏ và sự quyết liệt. Từ ngữ cụ thể trong Tin Mừng Matthêu là: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 37). Như vậy có phải cha mẹ là xấu, con trai con gái là xấu nên Đức Giêsu đòi buộc phải bỏ? Thưa không, ngược lại còn rất tốt; giống như nàng thơ của Trịnh Cung không phải là xấu, nhưng ông phải bỏ đi dù đau đớn để toàn tâm toàn ý cho nét vẽ của mình.

Những tình cảm ở trần gian này là tốt, nhưng để sống cho một Tình Yêu trọn vẹn, Đức Giêsu muốn các môn đệ của mình phải chọn Chúa là số một. Đó chính là điều răn thứ nhất mà Thiên Chúa đã truyền cho Môsê: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự. Nghĩa là vì Chúa, vì Nước Trời, vì Tình Yêu thực sự mà ta sẵn sàng hy sinh, từ bỏ tất cả.

Thánh Phanxicô Assisi đã cởi cả áo choàng trả cho cha ngài để bước đi theo Chúa với một sự dứt khoát, không quyến luyến.

Nhiều những linh mục, tu sĩ đã hy sinh tình cảm riêng tư của mình để sống cho một tình yêu với Thầy Giêsu. Như câu chuyện cảm động của 3 chị em quê ở Hậu Giang giữa đêm khuya, chèo ghe vượt đồng, trốn nhà, vượt qua sự ngăn cản của cha mẹ, đi theo tiếng gọi của Thầy Giêsu để dâng mình cho Chúa trong ơn gọi tu trì, sau này cả 3 đều trở thành những nữ tu tốt lành.

Và cũng không thiếu những Kitô hữu tốt lành đã dám hy sinh nghề nghiệp không phù hợp vì tôi là người Công giáo ; Không thiếu những Kitô hữu trẻ từ bỏ những cám dỗ của đồng tiền để sống trọn vẹn theo điều răn của Chúa ; vẫn còn những người dù làm ăn bận rộn nhưng luôn luôn dành ưu tiên ngày Chúa Nhật để đến nhà thờ với Chúa ; và rất nhiều người hy sinh tiền bạc, vật chất, thời giờ, cả những ưu tư… cho Giáo hội.

Thực ra tất cả đều là cuộc chiến sinh tử, nhưng nếu người nào nhận ra được giá trị sâu xa hơn, họ sẽ chiến thắng. Và để chiến thắng thì đòi hỏi phải chọn lựa ; và chọn lựa hệ tại ở chỗ nhận ra điều nào quan trọng hơn.

Ngoài sự từ bỏ, đòi hỏi của Tin Mừng còn là sự quyết liệt: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 38). “Thập giá mình” là chính con người bất toàn của chúng ta. Vì thế phải luôn luôn ý thức mỗi người đều có những bất toàn của mình để lo sửa đổi, chỉnh đốn làm cho nó trơn tru, tốt đẹp hơn. Khi ý thức những bất toàn của chính mình, người ta sẽ khiêm tốn hơn để học hỏi chứ không phải dạy đời, thông cảm cho những thiếu sót của người khác chứ không phải chua cay gắt gỏng… Vác thập giá mình là chấp nhận những giới hạn của mình và của người khác để dìu dắt nhau, nâng đỡ nhau đi trên đường đời, như ông Simon vác đỡ thập giá Đức Giêsu lên đỉnh đồi Golgotha.

Thánh Phaolô đã dạy cho các tín hữu của mình: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe… Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô. (Ep 4, 29-32) Những ai biết “vác thập giá mình”, thì sẽ luôn luôn có những tâm tình như thế.

Xin Chúa cho con biết từ bỏ những gì không phù hợp, hoặc phù hợp mà không xứng, không vừa tầm với Nước để sống cho một Tình Yêu; và cũng xin cho con biết vác thập giá mình hằng ngày để biết sửa đổi bản thân và thông cảm với người khác.

Lm. Giuse Nguyễn

Chia sẽ bài viết này trên:

Thánh Thể – Lương thực của tình yêu Thiên Chúa

Thánh Thể – Lương thực của tình yêu Thiên Chúa

Dẫn vào Phụng vụ Thánh Thể

Năm 1264, Đức Giáo Hoàng Urbanô ra sắc dụ lập lễ kính Thánh Thể trong toàn Giáo Hội mà chúng ta mừng kính hôm nay, đó là lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô. Mục đích của việc thiết lập lễ này là để long trọng tạ ơn Chúa Giêsu Kitô đã dùng quyền năng siêu việt mà lập Bí tích Thánh Thể để ban bánh trường sinh cho nhân loại.

Trong ngày lễ trọng tôn vinh Mình Máu Thánh Chúa Kitôhôm nay vốn được gọi là bí tích Tình yêu: Thánh Thể, tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô; Thánh Thể diễn tả mầu nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh để mời gọi Kitô hữu sống tình bác ái huynh đệ.

Thánh Thể, Tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô:

Trong bài đọc thứ nhất trích sách Đệ Nhị Luật, kể lại dân Itrael sau khi rời đất Ai Cập đã lâm vào tình cảnh đói khát, liền kêu than với Môsê. Môsê vừa trình bày thì Chúa tỏ lòng thương dân bằng cách cho bánh Manna từ trời rơi xuống, cho nước từ tảng đá vọt ra, dân hết đói hết khát trong suốt thời gian rong ruổi trong sa mạc.

Bài Tin Mừng trong Thánh Lễ hôm nay, Thánh Gioan đặt bài diễn từ dài của Đức Giêsu về bánh sự sống vào phép lạ hoá bánh ra nhiều (Ga 6, 35-58). Bài diễn từ này gồm 2 phần. Phần thứ nhất gồm các câu 35-50, phần thứ hai gồm các câu 51-58. Trong phần thứ hai này diễn từ về chủ đề Thánh Thể được Chúa Giêsu làm nổi bật khi liên kết bánh hằng sống với thịt và sự sống của Người, để làm nên lời loan báo và hình dung trước về mầu nhiệm Thánh Thể mà Người sẽ thiết lập.

Khởi từ nguồn mạch tình yêu của Chúa Cha, Chúa Giêsu đến để công bố và trao ban tình yêu ấy cho nhân loại. Cho nên mọi hành vi và lời nói của Người đều thể hiện một mục đích duy nhất ấy. Chúa giảng dạy vì thương con người đi trong u mê lầm lạc của tội lỗi cần được khai sáng; Chúa chữa lành vì thương muốn giải thoát bệnh nhân khỏi gánh nặng của đau khổ; Chúa hóa bánh ra nhiều vì thương, Chúa muốn cho người đói khát được no nê. Và trên hết Người đã dâng hiến chính bản thân mình, chính máu mình như lời Người dạy: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống.Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (cc54 – 56). Lương thực này tặng hiến cho nhân loại để họ được sống và sống dồi dào như lời hứa của chính Người. Để thể hiện lời hứa, Người đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho nhân loại để nuôi sống thể xác lẫn tâm hồn, cùng với đời sống tâm linh của dân Người. Sự dâng hiến xác thân của Con Thiên Chúa được gọi là Bí tích Thánh Thể, đó là sự dâng hiến tình yêu cho đến tận cùng của Thiên Chúa qua Người Con Một yêu dấu là Đức Giêsu Kitô.

Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn trao ban tình yêu của Thiên Chúa Cha cho chúng ta trong hiến tế Thánh Thể. Đón nhận Thánh Thể là đón nhận tình yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, là sống mối tình của Thiên Chúa, để rồi sẽ trải lòng ra yêu thương mọi người.

Thánh Thể mời gọi Kitô hữu sống hiệp thông và bác ái huynh đệ:

Khi các môn đệ đề nghị Chúa Giêsu giải tán dân chúng để họ đi tìm kiếm thức ăn thì chính Người đã nói với các ông: “Các con hãy cho họ ăn đi”. Điều này cho thấy Chúa Giêsu muốn mời gọi sự cộng tác của con người vào trong công việc của Người. Trong Bí tích Thánh Thể cũng thế, Mình Thánh Chúa được biến đổi từ chính của lễ do con người dâng hiến là bánh và rượu, là hoa màu ruộng đất, là sản phẩm của cây nho và lao công của con người. Xin dâng lên để bánh và rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa.

Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo” (Lumen Gentium). Vì thế, Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ yêu thương và hiệp nhất là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Tiệc Thánh Thể là cuộc họp mặt của các tín hữu. Cộng đoàn phụng vụ hiện diện, mặc dù, bao gồm nhiều thành phần đa dạng, nhưng với tiệc Thánh Thể chúng ta trở nên duy nhất trong Chúa Kitô. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côrintô đã viết: “Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm bánh ấy, nên tuy nhiều người chúng ta cũng chỉ là một thân thể”. Do đó còn gì gần gũi hơn, thân thiết hơn khi trong chúng ta đều luân lưu một của ăn và một thức uống, đều có chung một nguồn sống là Chúa Kitô. Nhưng từ đó, nguồn suối mang sự sống của Chúa Kitô cũng phải được chuyển thông cho anh chị em đồng loại của mình. Thế giới chung quanh ta ngày nay có rất nhiều tiến bộ, với những phát minh khoa học kỹ thuật tiên tiến; nhưng thống kê của cơ quan lương thực thuộc Liên Hiệp Quốc cho biết mỗi ngày có khoảng 400.000.000 người phải đi ngủ với bụng đói, không có gì để ăn và 15.000 người phải chết đói hàng ngày. Những người này cần được thương xót tinh thần lẫn vật chất, cần có cơm ăn, áo mặc, cần có nơi cư trú, cần tình thương, cần nâng đỡ ủi an. Vậy “hãy thương xót như Cha trên trời”.

Để thể hiện tình yêu thương của Chúa đối với nhân loại, người tín hữu hãy cầu xin Chúa Thánh Thần đến đốt cháy lửa mến yêu trong lòng chúng ta, để chúng ta nhận ra chúng ta đói khát Mình Chúa và Lời Chúa, là quà tặng vô giá Chúa ban cho nhân loại. Và xin Chúa Thánh Thần đào luyện con tim chúng ta trở nên con tim biết “chạnh lòng thương” như Chúa Giêsu, để chúng ta cũng trở nên tấm bánh bẻ ra cho muôn người.

Xin Chúa giúp mỗi người tín hữu trở nên giống Chúa mỗi ngày một hơn nhờ việc tham dự vào tiệc Thánh Thể, cũng như qua việc được chia sẻ sự sống của Chúa. Xin Chúa giúp mỗi người chúng con được lớn lên, được trưởng thành trong đức ái, sẵn sàng đóng góp phần của mình để phục vụ anh chị em, để rồi trong cuộc đời lữ hành trần gian chúng con sẽ được no đủ và vững bước tiến về quê trời mà không lo sợ phải mệt lả dọc đường.

Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

Chia sẽ bài viết này trên:

Bí Tích Thánh Thể, Đường Cao Tốc Đến Thiên Đàng

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA NĂM A 2020
“Bí Tích Thánh Thể, Đường Cao Tốc Đến Thiên Đàng”

Môsê đã nói với dân Israel: “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã dẫn anh em đi” (2 Đnl 8, 2). Hành trình trong sa mạc là câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và dân Israel, là một quãng đường mà dân phải vượt qua để tiến về vùng Đất Hứa. Con đường này “Tuy xa mà gần, tuy gần mà xa”. Xa, rất xa mỗi khi dân không đi theo đường lối của Thiên Chúa qua sự dẫn dắt của các tổ phụ và các tiên tri. Gần, rất gần mỗi khi dân đi theo con đường của Đức Chúa. Vì thế xa hay gần không hệ tại ở khoảng cách thể lý, mà hệ tại ở việc dân có Chúa hay không.

Trên hành trình dương thế, Thiên Chúa không bỏ con người đơn độc một mình, Ngài làm mọi cách để luôn hiện diện bên họ. Đức Giêsu là hiện thân của Lòng Thương Xót Chúa cho nhân loại chúng ta. Và Bí tích Thánh Thể chính là sáng kiến độc đáo để được ở với con người “mỗi ngày cho đến tận thế”.

“Christus Vivit-Chúa Kitô đang sống”. Ngài đang hiện diện thực sự giữa chúng ta qua Bí tích Thánh Thể. Vì thế, những ai càng cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời là họ đang ở rất gần với Thiên Đàng.

Trong Tông Huấn gửi những người trẻ “Christus Vivit-Chúa Kitô đang sống” của Đức Thánh Cha Phanxicô ngài có nhắc đến tấm gương của Đấng đáng kính Carlo Acutis. Sinh ngày 03-05-1991 tại Luân Đôn, sau đó gia đình chuyển về Milano và tại đây, cậu bé bắt đầu có một mối liên hệ đức tin ngày càng mạnh mẽ hơn cho đến hết tiểu học. Yêu thích các trang Internet, Acutis đã biến nó thành phương tiện truyền giáo. Triễn lãm ảnh về phép lạ Thánh Thể mà cậu đã thực hiện vào năm 14 tuổi làm chứng cho điều này. Trung tâm của cuộc đời Acutis chính là Thánh Thể, “đường cao tốc đến thiên đàng” của anh. Acutis là một cậu bé sống như tất cả mọi người nhưng yêu mến Chúa Kitô cho đến khi qua đời bởi bệnh bạch cầu vào ngày 12/10/2006 khi mới 15 tuổi.

Như vậy sống Bí tích Thánh Thể là sống giây phút hiện tại với đức Giêsu tại đây, lúc này. Khi nào có Chúa, con đường ta đi rất nhanh, như trên một con đường cao tốc. Và ngược lại khi không có Chúa, con đường ta đi chỉ là đường mòn, lối mở, đầy dẫy những quanh co, gập ghềnh, làm ta khó hoặc lâu lắm mới về đến đích, thậm chí sẽ không bao giờ.

Ngay lúc này đây “Đức Kitô đang sống và Người muốn con cũng được sống” (Christus Vivit Số 1) “Người ở trong con, Người ở với con và không bao giờ bỏ rơi con. Dù con có rời xa Người, Đấng Phục Sinh vẫn ở bên con… Khi con cảm thấy mình già đi vì buồn sầu, thù hận, vì lo sợ, nghi ngờ hay thất bại, Người vẫn luôn ở đó để ban lại cho con sức mạnh và hy vọng” (Christus Vivit Số 2)

Với ý thức Chúa Kitô đang sống bên tôi, đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể, tôi sẽ trỗi dậy để đến với Bí tích Hòa Giải, tôi sẽ siêng năng tham dự Thánh Lễ để được rước Chúa, và  sẽ cố gắng để sống theo Lời Chúa dạy vì Chúa Giêsu Thánh Thể đang ở trong tôi. Tôi sẽ ý thức hơn với những điều kiện để được Rước Chúa như sạch tội trọng, có ý ngay lành, giữ chay 1 giờ trước khi rước lễ.

Khi ý thức Chúa Kitô sống trong tôi, tôi gặp gỡ Ngài thì con đường lữ thứ trần gian của tôi sẽ êm trôi vì “Chúa dắt dìu con luôn luôn không thôi, có Chúa cùng đi con không đơn côi. Ôi tình tuyệt vời!” (Bao la tình Chúa, Giang Ân). Con đường tôi đang đi dù có như thế nào đi chẳng nữa, tôi vẫn thấy nó rất nhanh như đang đi trên con đường cao tốc, vì sức mạnh của Bí tích Thánh Thể là như thế.

Ngoài ra khi ý thức sống với Chúa, nhất là khi rước Chúa thường xuyên, tôi sẽ có động lực để cùng đoàn kết với mọi người vượt con đường cao tốc đó để về nhà Cha, nghĩa là để sống tốt cuộc sống của tôi. Có Chúa Giêsu Thánh Thể, tôi sẽ yêu mọi người nhiều hơn, tôi sẽ hy sinh nhiều hơn cho những việc chung, tôi sẽ góp phần vào công cuộc truyền giáo của Giáo hội…

Nói tóm lại có Chúa Giêsu Thánh Thể là có tất cả. Các bạn trẻ có được sức trẻ nhờ sự trẻ trung của Chúa Giêsu ; những người già có được sức mạnh nhờ con đường thập giá của Chúa Giêsu ; những người tội lỗi có được sự hoán cải nhờ tình yêu thông cảm tha thứ của Chúa Giêsu.

Chúng ta cùng nhau quyết tâm tham dự Thánh Lễ thường xuyên, dọn mình kỹ lưỡng hơn trước khi rước Chúa, thường xuyên đến với Bí tích Thánh Tẩy vì tin rằng Chúa Giêsu yêu tôi, sống bác ái yêu thương nhiều hơn, cộng tác với Ho đạo với những việc chung nhiều hơn… Hãy đến với Chúa để được biến đổi cuộc đời!

Lm. Giuse Nguyễn

Chia sẽ bài viết này trên: